Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Today at 06:35

TÌNH YÊU LAN 2 by buixuanphuong09 Today at 02:59

TÌNH YÊU CÂY CỎ ĐV 9 by buixuanphuong09 Today at 01:21

SỐ RUỒI BÂU by Phương Nguyên Yesterday at 17:54

Nó thế thì đã sao! by buixuanphuong09 Yesterday at 15:35

Sĩ thi by chuoigia Yesterday at 09:03

PHÁP VIỆN MINH ĐĂNG QUANG TĂNG NI & Đại Chúng by mytutru Sat 01 Oct 2022, 01:13

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Fri 30 Sep 2022, 21:41

Muốn Được Như Ý by mytutru Fri 30 Sep 2022, 18:12

Những Đoá Từ Tâm - Thơ Tình Yêu, Tình Nước by Phương Nguyên Fri 30 Sep 2022, 17:24

Bài tho phượng già by cacheptrang111 Fri 30 Sep 2022, 16:50

Funny question Park 4 by cacheptrang111 Fri 30 Sep 2022, 16:47

THAM ÁI by mytutru Fri 30 Sep 2022, 11:29

LỜI KHUYÊN TẶNG BẠN by phambachieu Fri 30 Sep 2022, 05:50

Tranh Thơ Viễn Phương by Viễn Phương Thu 29 Sep 2022, 17:04

Tây Sương Ký - Nhượng Tống dịch by Trà Mi Thu 29 Sep 2022, 11:39

Sự Tích Các Loài Hoa by Trà Mi Thu 29 Sep 2022, 11:07

Trang thơ vui Phạm Bá Chiểu by phambachieu Thu 29 Sep 2022, 08:30

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG by Trà Mi Thu 29 Sep 2022, 07:35

Những Đoá Từ Tâm by Trà Mi Thu 29 Sep 2022, 07:21

THIỀN TUỆ (diệt trừ đau khổ) by mytutru Wed 28 Sep 2022, 13:42

TÌNH YÊU LAN by buixuanphuong09 Wed 28 Sep 2022, 02:49

TA (Lê Thu Trang) by Phương Nguyên Tue 27 Sep 2022, 18:57

Truyện Tấm Cám by Trà Mi Tue 27 Sep 2022, 09:27

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Mon 26 Sep 2022, 20:31

Tản mạn by Tú_Yên tv Mon 26 Sep 2022, 11:02

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Mon 26 Sep 2022, 10:38

Nói dóc chơi by Tú_Yên tv Mon 26 Sep 2022, 10:32

Giảm Stress bằng thơ by Tú_Yên tv Mon 26 Sep 2022, 10:25

DICH BỆNH & CHIẾN TRANH - ĐƯỜNG TRẦN by mytutru Mon 26 Sep 2022, 08:25

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu

Share | 
 

 CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6319
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 I_icon13Wed 21 Sep 2022, 13:03

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Img_2514

Phong cảnh làng quê xã Quảng Hoà. Ảnh: HTC


                      Mẹ tôi gánh cói xuống chợ Nguyễn bán được lời gấp rưỡi tiền vốn, nhưng của một đồng công một nén. Vất vả quá! Các chuyến cói sau tôi cố gắng gánh 5 gù. Về đến Cung Bịch, bố tôi đi rước, kêu nặng, vai đau gối mỏi, ì ạch mãi từ nửa chiều đến chập tối mới về đến nhà. Ông đặt gánh cói xuống giữa sân, hai tay nắm lại đấm vai, đấm lưng, bảo hơi thở ra đằng tai phào phào! Mẹ tôi biết sức tôi yếu, vóc tôi gầy nhỏ, khó kham nổi cái nghề ăn no vác nặng, nhưng chưa biết tính toán đường làm ăn thế nào.

         Chú tôi vừa mới được tha tù, án 8 năm. Hiệp định đình chiến Giơ-ne -vơ đã lâu, đến nay mới thực hiện là quá muộn. Sống ở nơi rừng thiêng nước độc, chú tôi bị mắc bệnh sốt rét khá nặng, ốm yếu, nhiều lúc hai mắt trợn ngược, xều bọt mép, tưởng chừng đến phút về với ông bà, nhưng rồi lại hồi tỉnh.

         Đã xong mùa cày, thím tôi bán con bò mệ, tính hoạn lại con me để lấy tiền mua thuốc cho chồng. Tôi bàn với mẹ tôi:

         -Con đi Nga Sơn đã 5 chuyến, người ta gánh khoẻ gấp đôi mình, mỗi chuyến đủ nuôi cả vợ chồng con cái. Còn nhà ta chỉ đủ rau cháo qua bữa. Giá con có một cái xe đạp để thồ cói, vừa khoẻ người, vừa kiếm thêm được đồng dư dật. Thím Ất mới bán con bò, hay là mẹ thử vay mượn xem…

         Nghĩ ngợi một lát, mẹ tôi nói:

         -Con tính toán phải, nhưng cái khó bó cái khôn, để mẹ thử hỏi thím thử coi…

         Thím Ất tên chính là Át, con nhà ông cố Giúc xóm Bắc, người cùng làng, hơn chú Thuyết tôi hai tuổi. Năm 18 tuổi,  thím đã tỏ ra một gái quê thực thụ, to cao, khoẻ mạnh, siêng làm, tham việc, không xấu, không đẹp. Thím hơn chú tôi hai tuổi, ông bà tôi cưới về cốt lấy người gánh vác công việc đồng áng để có điều kiện cho chồng ăn học. Tính thím bạo dạn, đêm mới cưới, trò chuyện với chồng cứ oang oang, chẳng e thẹn gì cả. Ông tôi nằm nhà trên, chỉ hết đằng hắng lại e hèm. Bà tôi ngủ nhà dưới, chờ lâu không thấy chúng nó im cho, buộc phải lên tiếng: “Vợ chồng nhà đỏ…à quên, nhà nhiêu có chuyện nhỏ cho người ta nghỉ ngơi không? Đình đám cả ngày, công ni việc khác sức voi mô mà không mệt nhọc!”(*)


         Thím tôi siêng năng, khoẻ mạnh, tham công tiếc việc có tiếng trong làng, được nhiều người khen ngợi, nhưng cũng có kẻ chê “chỉ được cái ăn no vác nặng!” hoặc “ăn no ngủ kĩ”, “nằm đâu ngủ đó”…Ông bà tôi rất hài lòng về thím tôi, càng khen thím tôi bao nhiêu, càng chê mẹ tôi bấy nhiêu, rằng “yếu như sên”, rằng “váy dài tốn vải, khôn ăn dại làm”, rằng “đi bên nội, lội bên ngoại”… Đến khi cảnh nhà khó khăn mới biết mẹ tôi không vững tay chống chèo thì “giang sơn nhà chồng” khó vượt qua cơn sóng gió.

         Mẹ tôi và thím tôi giống nhau một điểm biết thương người. Năm Ất Dậu (1945) hai chị em đi chợ Thượng Cầu Quan (Nông Cống) thấy người ăn xin ăn mày chết đói hoặc ngắc ngoải nằm la liệt. Một bà mẹ bán con gái duy nhất đang lả đi vì đói. Không ai mua, rồi cho cũng không ai nhận, vì họ cũng đang đói. Bà mẹ khác có hai con, một bé trai đang cố trườn trên cái bụng lép kẹp để day đi day lại đôi núm vú đen sì, da dính sát ngực, không giọt sữa. Đứa chị xương bọc da nằm bên chân mẹ, cố chìa ra bàn tay xương xẩu run rẩy, nói chẳng còn hơi.

         Trong đám mấy đứa trẻ, thím tôi định giá, bé gái 6 tuổi 5 tiền, đứa mới lên 5 thì 6 tiền. Mẹ tôi không hiểu tai sao đứa nhỏ nhiều tiền, đứa lớn lại ít tiền. Thím giải thích: đứa lớn khôn hơn, biết đường có thể trốn về với mẹ, đứa nhỏ có vẻ còn thơ dại không biết lối nào mà lần. Quả nhiên mấy năm sau trời yên bể lặng, con lớn mẹ nó tìm được, xin mất. Còn con nhỏ mẹ nó đã chết sau đận ấy. Người làng đi chợ Thượng về nói khi mẹ nó chết thằng em vẫn nằm trên bụng mẹ lạnh ngắt, nhay nhay cái vú chỉ còn tảng da dính sát mảng ngực xám ngoét không chút hơi thở tàn.

         Lại nói, thím tôi nhận nuôi đứa lớn để sai vặt, đặt tên Ất để nhớ năm đói Ất Dậu. Đứa nhỏ mẹ tôi đặt tên Nông, ghi nhớ quê nó ở huyện Nông Cống. Có lẽ không phải nó lên 5, vì nhớ được tên bố là Bừa, tên mẹ là Mau, người làng Mẩy.

         Năm 1949, tôi trọ học ở làng Cầu Nhân (huyện Nông Cống) được biết có làng Thanh Y, Mỹ Phong, và làng Bình Doãn chỉ cách có con sông Nhà Lê về phía Tây. Làng Mỹ Phong phát âm là Mẩy Phong, nhiều gia đình chết đói năm Ất Dậu. “Bừa” là tiếng Việt Mường cổ, khi kí âm Hán Việt thành “Bình”.

         Làng Bình Doãn có nhà thờ họ Vũ thờ ông tổ Vũ Uy. Ông là con nuôi Lê Lợi, cùng Trương Chiến, Trịnh Vô, Trịnh Lỗi… cày ruộng ở động Chiêu Nghi, đất Lam Sơn. Động Chiêu Nghi nuôi nhiều bò. Các ông rèn luyện sức khoẻ bằng cách cứ sáng dậy mỗi ông vác một con bê, ngày nào cũng vác đúng con ấy từ nhỏ đến trưởng thành. Sau một năm, ông nào cũng dư sức khoẻ vác cả con bò đực chạy băng băng. Khi khởi nghĩa Lam Sơn, các ông đều là tướng bộ binh, giỏi đánh giáp lá cà, hai tay hai cây đại đao xông thẳng vào đám giặc tung hoành như cọp beo giữa bầy cày cáo. Quét sạch quân Minh, các ông đều được thưởng công, ban họ vua, tên ghi biển công thần. Vũ Uy biết ít chữ, không nhận quan tước, xin vua cho vỡ hoang lập trại. Theo gia phả họ Vũ, ông về vỡ hoang nhiều nơi trong tỉnh, chiêu tập người nghèo lập được 45 trại ấp, sau phát triển thành làng xã. Những nơi ấy đều có con cháu họ Vũ, dựng nhà thờ, đèn hương đời đời để ghi nhớ công lao cụ Tổ.

         Tôi không có em nên Nông ở nhà tôi chơi cả ngày. Nó nhớ em trai, thường gói quần áo buộc lại giả làm em đặt lên võng ru. Nó hay hát bài “Đồn rằng Cổ Đệnh mở hội chợ Nưa…” chứng tỏ nó là người Nông Cống (Thanh Hoá, phát âm inh thành ênh). Năm gia đình tôi bị quy phú nông, mẹ tôi đem Nông cho một nhà ở xã Quảng Văn nuôi để thay đổi số phận. Năm 1965, nó được làm cấp dưỡng cho cơ quan Huyện uỷ Quảng Xương. Năm 1972, chủ trương giảm nhẹ biên chế Nhà nước, Nông về nhà rồi lấy chồng xã Quảng Hải. Năm 1978, vì gia đình nghèo khó nên chuyển vào Nam xây dựng kinh tế mới. Sau nghe nói Nông bị ốm đau mất luôn trong đó.

         Em Ất thì mẹ đẻ vẫn làm ăn buôn bán vùng Cầu Quan, bị chứng “hạc tất phong”, đầu gối sưng đau, đi lại khó. Tình cờ gặp bố tôi bán thuốc đơn thấp khớp ở chợ Thượng, được ông chữa cho khỏi. Bà lân la hỏi dò mới biết con gái bà trước bán cho thím tôi làm con nuôi. Bà quê Nam Định, hồi kháng chiến chống Pháp chạy loạn tản cư vào Thanh Hoá, chồng chết, con chết, chỉ còn lại một đứa bé đặt tên Quảng (sau khi bán về cho thím tôi, được đặt tên là Ất, để ghi dấu năm đói Ất Dậu). Ất thường hát ru em, đứa con gái đầu thím tôi:

         Diều hâu mày niệng cho tòn
         Xuống đây tao gả một đoàn gà con
         Gà con tao để tao luôi
         Tao gả con chó cụt đuôi  cho mày!


         Căn cứ những từ mày, niệng, tòn, đoàn, luôi,…chắc chắn nó phải người Nam Định. Thím tôi bằng lòng cho Ất về với mẹ nó. Con gái đầu chú thím tôi chưa đặt tên, lấy luôn tên Ất đặt cho tiện.

         Thím tôi “gan” lắm. Đó là từ mẹ tôi hay dùng để chỉ người hà tằn hà tiện. Bà nội tôi, sau khi ông nội tôi mất (1946) ở với chú thím tôi, vì tính cụ cũng thấy thích hợp đường ăn nết ở của nàng dâu. Cho nên cụ đi chợ Nguyễn hay mua cá nhám khá rẻ, kho kỹ để lâu, ăn dè, và biết đâu cách dùng lá núc nác chống mùi khai của cá cũng là “sáng kiến” của bà tôi!

         Thím tôi vui vẻ cho Ất về với mẹ nó, mặc dù nhà cũng đang cần người giúp việc. Chú tôi cũng tốt tính, vợ chồng ăn ở với nhau đã hai con vẫn chưa hề lời nặng tiếng nhẹ làm “gẫy hạt gạo”. Hễ thím tôi bực mình lẩm bẩm lầm bầm, chú tôi ngồi thẩn thờ im lặng, cứ “cơm sôi bớt lửa” là êm chuyện. Có lẽ chú tôi cũng tự biết mình cố công học hành mãi mà chẳng nên cơm nên cháo gì! Những lúc nằm vắt tay lên trán, gối đầu lên cửa sổ, chú tôi thường ngâm nga:

         Văn chương phú lục chẳng hay
         Trở về làng cũ học cày cho xong…


Sao chú không về cày sớm? Có lẽ chú tiếc số vốn liếng văn hoá, đành làm nghề dạy học tư kiếm miếng cơm chín của nhà giàu để rồi chui đầu vào tù, sau 3 năm hoá thân tàn ma dại! Bây giờ vợ phải bán con bò cày, cơ nghiệp của nhà nông để lấy tiền thuốc thang chạy chữa cho chồng. Mua thuốc gì? Lúc ấy thuốc Tây hiếm, thuốc Bắc có nhưng thầy lang y khó tìm, khoai lang dễ kiếm. Đành chạy chữa nhì nhằng vậy! Bố tôi có biết thuốc Đông y cũng đành thúc thủ vô phương, vì đơn kê ra, đem đến hàng hiệu nào cũng bị “què vị”. Ông thường nói: “Phương dược cụ Hải Thượng Lãn Ông hay lắm, nhưng nặng tiền, khó mua, mình không dùng được!”. Thế thì con bệnh đành chịu chết sao? Nhiều lúc nghe tiếng thím tôi kêu la, hai cha con chạy qua bờ rào sang thấy chú tôi trợn mắt há mồm, tưởng đến phút lâm chung, chẳng còn hy vọng gì được nữa, nào ngờ sau đó lại hồi tỉnh! Có lẽ căn bệnh quái ác nó sinh ra thế!

         Buổi tối cơm nước xong, mẹ tôi hỏi vay thím tôi bốn mươi đồng để mua cái xe đạp cho tôi buôn cói Nga Sơn, sau mỗi chuyến được đồng lãi nào lại trả cho thím. Thím tôi bằng lòng cho vay ngay.

         Đang thời buổi kinh tế khó khăn, 40 đồng bạc là to lắm! Tôi rủ anh con bà dì cả biết nghề xe đạp đi thị xã Thanh Hoá. Trước kia chợ tỉnh Thanh mua bán trâu bò, nay thêm mua bán xe đạp. Xe mới, xe cũ nhộn nhịp đông đúc, nhãn mác rối tinh, sắc màu mờ tỏ, vàng thau khó phân. Xem chọn mãi, chúng tôi mua được cái xe nhãn hiệu Pháp đã tróc sơn khung, còn đọc được chữ Super giá 38 đồng, hợp túi tiền. Còn lại 2 đồng phải mua cái bơm, kể giá hơi đắt. Nhưng ông hiệu xe đạp bắt bí, thôi đành vậy, hai anh em nhịn đói ra về.

         Bố tôi mắc vó xuống ao, kẻ sục người kéo, đánh mãi được hai con cá mè ranh, nấu dấm khế, thêm đũa mẻ, lá nghệ, bắc nồi xuống mùi thơm lừng, cả nhà ăn mừng mua được xe đạp!

Chú thích:

(*)-Phong tục quê Thanh, vợ chồng mới lấy nhau không được gọi tên tục. Nếu chồng đi học học là “nhiêu”, không học hành gọi là “đỏ”, khi có con gọi tên con, chưa đặt tên, đẻ con trai là anh cò, chị cò, hoặc bố cò, mẹ cò, con gái thay bằng “hĩm”. Trường hợp hiếm muộn, chưa có cháu, không được gọi là ông, bà, phải gọi là anh chị hoặc ông mụ và dùng tên cháu của anh em trong nhà…

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6319
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 I_icon13Sun 25 Sep 2022, 13:27

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Xe_ep10

Ảnh: ST


                    Tôi không biết đi xe đạp, bố tôi phải giữ cho tôi tập hai đêm trong sân, rồi tập đi trên đường. Tất cả các buổi tập đều vào buổi tối, vì sợ ban ngày nhiều nhiều kẻ xấu bụng đặt điều này tiếng nọ rồi đến tai chính quyền xã. Khi bắt đầu thồ cói, nhà tôi phải nói dối xe mượn bên ngoại, tránh tiếng “khả năng”!

           Mẹ tôi bảo: “Buôn có bạn bán có phường. Để mẹ rủ anh con cùng đi với cho vui”. Anh, mẹ tôi nói ở đây là anh T. con bà dì cả tôi, chơi rất thân với tôi, nhưng con nhà giàu, ít học, ham chơi. Bố anh làm quản lý ấp làng Tiền cho cụ Thượng Dinh (Tôn Thất Ưng Dinh) Tổng đốc Thanh Hoá, sau Cách mạng tháng Tám, đem cả gia đình về Huế. Bố anh T. vì gia đình ruộng đất ở quê ngoại (làng Quần Lực) nên không dễ bỏ đi. Anh T. bằng lòng “đi chơi” với tôi, sau vài chuyến thấy vất vả quá, “bỏ nghề”. May lúc ấy trong xóm tôi lại có anh L. mới mua xe đạp để thồ cói. Bà nội anh L. là con gái bà Diếu chị ruột ông nội tôi. Đôi bên anh em còn gần. Thuở trời yên bể lặng nhà anh L. năm nào cũng đến nhà tôi cúng giỗ tết. Tôi gọi anh L là anh, anh gọi tôi bằng cậu. Mẹ anh L. con người khôn khéo bảo tôi: “Chỗ chị em nhà, có em đi cùng với nhau, có chuyện chi giúp đỡ lẫn nhau, có vui cùng vui, có khổ cùng khổ…”.

           Tôi đi thồ đã đến chuyến thứ ba, mỗi lần chỉ dám 10 gù. Anh L. ngay lần đầu đã gánh 12 gù! Anh hơn tôi 4 tuổi, cao to, khoẻ mạnh gấp hai lần tôi, nhưng vạn sự khởi đầu nan. Chưa có kinh nghiệm, không cậy khoẻ mà được.

          Trong kháng chiến chống Pháp, đường đất cuốc bộ từ Quảng Xương ra Nga Sơn đến Hói Đào, chúng tôi đi mất 10 tiếng, khoảng chừng 60 cây số, phải bằng 100km Quốc lộ 1A. Vì đường đất trước đây nhiều khúc quanh co, lắm đoạn ngoắt nghéo, nào dốc cánh cung, nào cống nước chảy, nổ lội bùn lầy, hết ổ gà ổ voi lại lối hẹp sống trâu chỉ vừa bước chân người, bò me đi qua phải dẫm bừa xuống ruộng lúa. Bắt đầu hoà bình, nhân dân địa phương mới đắp điếm qua loa để tiện canh tác, bảo vệ hoa màu. Rất may, thời tiết sang mùa khô, ít mưa, cảnh gánh gồng, xe cộ cũng đỡ bớt phần nào vất vả.

           Đường sá như vậy, đám gánh bộ dễ càng cơ động hơn cánh xe thồ. Tôi chỉ dám thồ mỗi chuyến 10 gù, công hơn 1 tạ, như tục ngữ dân gian “mèo nhỏ bắt chuột con”. Vậy mà đã vô cùng vất vả. Tôi cho rằng thồ cói khó nhất trong các loại gạo, thóc, than, củi, gỗ, đá, vôi, cát,… Bấy giờ dây cao su bằng xăm xe tải hiếm, đắt tiền, chúng tôi phải dùng thừng kè, mỗi lần bị xe bị xóc, dây buộc lại giãn ra, bó lác lại bị lỏng thêm một ít.

          Chúng tôi không thể không dừng xe để sửa dây thừng. Đã thế, giống cói lại rất trơn, cói luôn luôn trồi ra trụt vào. Qua vài lần xóc, gốc cói tụt đai, chọc vào bánh xe sau, cọ xát xích líp, đẩy không đi, kéo lui không chuyển. Sửa chữa được phần gốc cói khỏi chẹt bánh sau thì phần ngọn cói bị toè ra quẹt vào nan hoa bánh trước, nghe kêu lanh tanh điếc tai, sốt ruột. Sức nặng lại cứ quấn dần từng sợi, từng sợi quanh ổ, nếu không dừng xe cắt gọn chúng đi, phải nhờ ông trời đẩy mới chuyển. Cho nên, thồ cói không nên, không thể tham, cứ vừa vừa, nhè nhẹ mà đi.

         Anh L. lần đầu đã “chơi” ngay 12 gù, cói chất lên xe quá cao, không thấy rõ lối đi, tay trái cầm tay ngai chưa quen, tay phải nắm cọc thồ không vững, đường cái bằng phẳng cũng dễ lăn quay, nói gì đường đất thịt nông thôn thời kháng chiến chống Pháp. Mỗi lần xe anh L. bị đổ trên đường hoặc lăn xuống ruộng, tôi phải dùng chân chống chống xe đứng dừng, dỡ cói ra buộc lại… Chúng tôi còn phải qua 3 cái đò: Đò Thắm, đò Bút, đò Đại. Mỗi lần qua đò, một lần mở ra từng bó cói vác xuống đò, rồi lại buộc lên như cũ…Bấy nhiêu động tác đủ thấy nỗi vất vả chừng nào!

         Đã tháng 10 (âm) sang đông mà mồ hôi đổ ra như tắm, đầu tóc ướt đầm đìa. Chúng tôi ngồi bệt xuống đất, cởi phăng cái áo vứt xuống đường. Còn quần đùi chả lẽ cởi nốt! Tôi tìm cái nón mê để quạt, nón bay đi từ lúc nào. Anh L. có cái mũ cói cũng rơi đâu mất dọc đường. Tôi mệt nhoài, thở ra đằng tai phào phào. Thế mà anh L. không đến nỗi mệt lắm. Anh chỉ thở hổn hển: “Chuyến sau tôi chỉ thồ 10 gù như cậu…”. Tôi nói không ra hơi: “Trăm hay không bằng tay quen…”.

         Tuy nhiên, dù  chưa quen, lần sau anh L. vẫn cứ thồ 12 gù, trông cói nhiều như núi như non, cứ tiếc rẻ, muốn chất thêm 2 gù nữa thành 14 gù, tôi phải khuyên can mãi…

         Sau hơn hai tháng thồ cói, số tiền lãi mẹ tôi dồn dần để dành được gần 50 đồng bạc. Bà trả nợ thím Ất 40 đồng để mua con me mới vực. Được lãi cái xe đạp, và mươi đồng làm vốn. Nhưng về sức lực, tôi phải bỏ quá nhiều, không thể tính đếm được. Người tôi gầy hốc hác, vóc dáng càng quắt queo lại, mặc dù mỗi ngày tôi được ưu tiên nuốt sống hai quả trứng gà so!

          Nhà anh L. kinh tế vững, thành phần trung nông vài mẫu ruộng, con bò, nuôi thêm lợn, gà, không phải đóng thuế “khả năng”, lại thuộc diện nhà nước trợ cấp gạo khi mùa màng thất bát. Anh L. muốn nghỉ việc thồ cói xin học sư phạm để làm giáo viên. Năm lớp Bảy, anh học cùng với tôi trường dân lập Quảng Ninh do thầy Đỗ Trọng Thích làm Hiệu trưởng. Anh rất khá môn toán. Khi tôi đang say sưa đọc cuốn sách hay, nhờ anh làm thay bài tập toán ngay trong lớp. Không những bà ngoại anh là bà O tôi mà chính bà Tổ dòng họ Lê Danh nhà anh cũng là người cô ruột ông Tổ dòng họ Hoàng nhà tôi (Cách đây hơn  hai chục năm, dòng họ Lê Danh lập lại gia phả, quên mất 3 đời, kể từ ông Tổ, tôi có nói với ông Chi trưởng, nhưng ông lại có vẻ thờ ơ, chẳng hiểu ý tứ ra sao, mình không tiện tìm hiểu kĩ).

           Mẹ tôi không muốn tôi lao lực quá sức, nhỡ lại bị ốm đau thì khốn, bảo tôi: “Tết nhất sắp đến, trong làng trong xóm không ai đi Nga Sơn, con cũng nên nghỉ ngơi ở nhà, chịu khó dệt đôi chiếu đôi lác, siêng năng đỡ bữa”.

           Nghe nhắc đến Tết, bố tôi bàn: “Nên mua cân thịt lợn, gói vài cái bánh chưng…trước cúng cha sau va vô miệng!”

          Mẹ tôi nói dứt khoát: “Con cái mới kiếm được dăm ba đồng bạc, ông bày vẽ như rứa thì cụt vốn mất, ra giêng lại treo mồm!”.

         Tết năm Ất Mùi (1955) là 4 cái tết Nguyên đán gia đình tôi không có Tết. Bàn thờ tổ tiên, ông bà ông vải cũng hương tàn khói lạnh! Gia đình tôi là tộc trưởng họ Hoàng, nhưng đã lâu, không con cháu nội ngoại nào dám qua cúng giỗ làm Tết, vì sợ mắc tội “liên quan phản động”! Đúng như lời các cụ “Trưởng  bại ông vải hư”!

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6319
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 I_icon13Tue 27 Sep 2022, 10:23

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Cei_cz10


                    Lại nghe tin Thanh Hoá  sắp sửa cải cách ruộng đất!

            Nhà mình đã trải qua cuộc đấu tranh chính trị kinh thiên động địa, nay đến Cải cách ruộng đất, nghe nói còn lở đất long trời hơn. Cha mẹ, ông bà cùng các cụ liệu có trụ nổi?

            Không có thống kê chính xác về cuộc đấu tranh chính trị, nhưng chú tôi bị tù ở Nghệ An, nghe bạn tù Thanh – Nghệ - Tĩnh kể chuyện thì hàng vạn người bị đấu tố, hàng nghìn người bị bắt giam, hàng trăm người bị đưa ra toà xử án. Còn các gia đình liên quan nhiều không biết bao nhiêu mà kể!

            Hôm xử án, Toà án tỉnh dựng một cái chòi cao, trên đó nhốt hai tên nguy hiểm nhất cầm đầu đảng phản động “Liên tông diệt cộng” là Hoà thượng Tuệ Chiếu, Sư ông Tuệ Quang. Khi thẩm án, Toà hỏi thủ phạm Tuệ Chiếu, tòng phạm Tuệ Quang. Án Tuệ Chiếu xử “tử hình”, án Tuệ Quang “hai mười năm tù” hay “chung thân” gì đó. Bạn tù có người kể lại: “Vụ án này Phật giáo bị mất một cái đầu, thế mà Công giáo thì không, sao gọi là “liên tôn”? Hỏi Phật giáo “liên” với ai? Chủ trương “Độc lập tự do” mà tôi không tán thành “đảng trị” lại bị bắt tội tử hình thì còn “độc lập tự do” hay không?”. Những điều này là nghe sau đó truyền lại, chứ lúc ấy nhân dân đông ngàn ngạt, đèn đuốc như sao sa, có ai hiểu sự thể thế nào.

            Chú tôi lúc tỉnh lúc mê. Lời nói lúc mê lúc sảng cố nhiên không ai để ý. Khi tỉnh táo, chú tôi hay kể chuyện vui. Ví dụ: sư ông Tuệ Quang người Hoằng Hoá tu ở chùa Hội Đồng, thị xã Thanh Hoá chỉ là thầy chùa dốt đặc cán mai, Quốc ngữ đang học bình dân, chữ Hán không biết được chữ nhất là một. Hồi chú tôi học trường Nord’An-nam, ông mới là chú tiểu! Thế mà mới ngoài 30 tuổi đã vọt lên làm sư ông.

            Lại chuyện “đấu cung”, do mỗi người khai một cách, phạm nhân phải họp nhau lại, ai khai tương đối hợp lý, đứng lên báo cáo để anh em cùng dựa theo đó mà khai sao cho nội dung thống nhất!

            Bố tôi nói:

            -Thì cánh tao cũng phải “đấu cung” cả! Thằng mô ương bướng thì vừa cùm tréo cổ chân đằng trước, vừa khoá trái cổ tay đằng sau, chỉ cần một ngày, một đêm thì hỏi mi có giết người không cũng phải nhận rằng có!

            Chú tôi gật đầu lia lịa:

           -Có lẽ chỉ có “gan cộng sản mới” mới chống lại được thứ cực hình ấy!

            Nhân tiện tôi hỏi:

            -Còn chuyện súng đạn thế nào?.

            Bố tôi và chú tôi đồng thanh:

            -Thì cũng đều như rứa cả. Thằng mô cũng khai có, kỳ thực không tìm thấy cái cóc khô chi cả! Mà có ai đã biết thằng súng đạn mày ngang mũi dọc ra răng.

            Để chú tôi được nghỉ ngơi cho khoẻ, bố tôi tạm kết thúc câu chuyện bi thương kèm theo tiếng thở dài đau lòng: “Thì, tất cả đều zéro!”.

            Chiều 30 Tết, nhà người ta pháo nổ đì đòm, râm ran cả xóm cả làng. Tết Hoà bình, pháo Trung Quốc đưa sang bán nhiều lắm. Nhà mình một tiếng cười thay tiếng pháo cũng không có. Thím tôi mua được một phong hương, chia cho nhà tôi một nửa. Chú tôi ốm nặng, vui gì mà tết nhất, nhân đó, thím tôi hoãn lại tất, thóc lúa để dành tháng hai, tháng ba. Nhà có thuộc diện cứu tế đâu mà trông chờ nhà nước! Có hương là tốt rồi. Mẹ tôi luộc quả trứng gà, xới bát cơm đầy, tượng trưng cho cỗ xôi con gà. Mẹ tôi bảo bố tôi khấn ông bà ông vải. Bố tôi tắc lưỡi: “Tâm động quỷ thần tri. Không cần cúng vái tổ tiên ông bà cũng biết!”

            Mẹ tôi cau mặt lườm bố tôi. Bà đến đứng bên cạnh bàn thờ, khấn nôm “xin ông bà ông vải phù hộ cho con cháu năm mới mọi sự đều mới…”

            Tôi nghĩ mãi không ra con đường làm ăn năm mới. Dễ chết đói lắm! Tôi chợt nhớ một lối thoát mong manh là con đường tìm về quê xưa. Ngày xưa cụ Tổ tôi đói khát, tha phương cầu thực tìm vào Thanh Hoá, đến tôi là đời thứ 6, lại bị cơ cực phải nghĩ lối thoát ra Bắc may ra…

            Nhưng gia phả đã bị đốt cháy năm Đấu tranh chính trị. Tôi hỏi: “Thày có nhớ quê cũ nhà ta ở làng, huyện, tỉnh nào không?”

            Bố tôi nghĩ ngợi một lúc: “Đúng là thôn Nhân Lý, huyện Đồng Yên, phủ Mỹ Hào, tỉnh Bắc Ninh…”.

            Tôi hỏi lại: “Thày có chắc không?”.

            Bố tôi dứt khoát: “Chắc chứ! Chắc như đanh đóng cột!”

            Đêm ba mươi Tết cả nhà bàn bạc, thống nhất sang năm mới tôi tìm đường về quê xưa, mong có lối thoát cho gia đình.

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6319
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 I_icon13Thu 29 Sep 2022, 07:35

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Kzo10


                    Đêm ba mươi Tết cả nhà bàn bạc, thống nhất sang năm mới tôi tìm đường về quê xưa, mong có lối thoát cho gia đình.

Rất may, phương tiện giao thông tôi đã có chiếc xe đạp. Giữa tháng chạp, sau chuyến xe thồ cói cuối cùng, nhà tôi nói dối phải mang xe lên Cầu Quan bán để trả nợ, rồi thẳng đường cái đến nhà dì tôi ở làng Phương Khê, xã Nông Trường, phía trên Cổ Định, gửi nhờ cất kỹ.

           Sáng mùng ba Tết, tôi dậy thật sớm, quảy đôi quang thúng ra đi, gặp cán bộ Chư ở ngã ba đường rẽ. Chỗ ấy xưa là đất chuyên vãi mạ, rộng khoảng 6 sào. Hồi nhỏ tôi thấy xóm Nam, cứ chiều 30 Tết lại dựng cây đu để vui chơi ngày Tết. Đất chuyên vãi mạ quê tôi gọi là “nắc mạ”, hai năm hai vụ chỉ vãi mạ cấy xứ đồng Phần Tiền, Nhà Mong, Ao Sáo, vì kinh nghiệm mà nông trước kia “Khoai ưa lạ, mạ ưa quen”. Đất mạ này cao ráo, bằng phẳng, tha hồ để mọi người dịp Tết trong xóm ngoài làng đến đánh đu, cùng vui các trò chơi cổ truyền, đánh cù, đánh khẳng (khăng), đánh đáo, đánh giồi, đánh cờ que, cờ chân chó, đánh càng cua, đánh ba que xỏ lá,…Vì đang ngày Tết, hàng quà không nhiều, trẻ con bà già bán táo chua xâu lại từng chục, những tấm mía tím tiện sẵn, những bắp ngô nướng quạt than hồng tại chỗ, những khoanh quế chi, trái tầu ho ngậm chơi cho thơm miệng.

           Thông thường, sáng 30 Tết thanh niên đã dựng xong sân khấu để diễn kịch, nam nữ được tự do đứng ngồi, tha hồ bá vai, ôm cổ…

           Sau Cải cách ruộng đất, xã chia đám đất vãi mạ ấy cho anh Dần, nhà thành phần bần nông, có chị lấy Lê Quang Cán chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp thôn. Cán và Lời thét ra lửa, đốt cháy cơ nghiệp nhà tôi từ hồi quy định thành phần phú nông phải đóng thuế “khả năng” nặng, cốt cho chết đói!

           Không biết Từ Nhen sáng mùng ba Tết đi đâu sớm thế? Tôi gặp lão khác nào đụng phải hung thần quỷ sứ! Từ Nhen tên chính Lê Trí Chư. Họ Lê Trí cùng gốc tổ với họ Lê Văn – ông Lê Văn Bèo (tức Bìu) - người đầu tiên được Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cho phép khai phá cánh đồng Bèo để làm ruộng tư. Vốn xa xưa họ Lê Văn cho Chi họ Lê Trí cư trú xóm Bắc, anh em lâu đời tưởng lầm khác họ, có thời đã lấy nhau. Vợ Lê Trí Chư là Nhỏ, đẻ con đầu đặt tên là Nhen. Trí Chư có mấy năm làm Thủ từ nghè làng nên làng gọi là ông Từ ghép với tên Nhen con gái thành Từ Nhen.

           Từ Nhen sống lá mặt lá trái, đẻ toàn con gái, hay tòm tem với đàn bà, lại yêu say đắm chị M. chưa chồng, nhưng vì là đảng viên nên ông không thể hai vợ. Ông ta trước năm 1945 có theo học phù thuỷ mấy năm nhưng rất kém vì chữ nghĩa (chữ Hán) không đủ để tiếp thu tu luyện thành pháp sư đạo, dù Đông hay Tây (còn gọi Nội hay Ngoại).

           Mở đầu cuộc đi xa tìm đường thoát nạn lại gặp đúng hung thần! Tôi chưa kịp lánh mặt, đôi mắt cú vọ của lão ta đã thấy tôi, ngạc nhiên hỏi ngay: “Đi mô?”.

           Tôi lễ phép thưa: “Dạ thưa ông, tôi lên chợ Thượng Cầu Quan coi có ai thuê mướn chi không.”

           Từ Nhen vốn tối dạ, không tinh ý nghĩ ra tôi nói khó tin vì hôm nay đang mùng 3 Tết, chợ búa gì, sớm cũng phải ngày mai, mùng bốn, ngày chẵn là phiên chợ Thượng. Tại sao tôi lại chọn ngày mùng ba Tết? Dân gian có câu “Chớ đi mùng bảy chớ về mùng ba”. Bố mẹ tôi cũng bảo như vậy. Nhưng tôi nghĩ khác: Mới mùng ba Tết, có lẽ chưa nhà nào dậy sớm ra khỏi ngõ, mình đi lúc ấy chắc tránh được mọi cặp mắt. Nếu để sáng mai là phiên chợ Thượng thế nào làng mình cũng có người dậy sớm đi mua bán gì đó. Hẳn là Từ Nhen thấy tôi mặc áo vá, đầu không nón, mang đôi quang gánh trên vai thì không để ý gì cả. Các vị hương chức thời cách mạng đều biết rõ hoàn cảnh gia đình tôi sớm muộn thế nào cũng chết đói, thâm tâm họ đang mong cho chết sớm! Họ không hiểu tại sao chính  phủ lại khoan hồng để cha con chú cháu nhà hắn thoát tù tội mọt gông, trở về không thiếu một ai!?

           Tôi hoàn toàn bị bất ngờ. Không thấy Từ Nhen hỏi han gì thêm, chỉ buông ra một tiếng “Ừ!”. Tôi phải dừng lại đứng chờ lão ấy đi trước mới dám bước sau, để tỏ sự lễ độ của kẻ dưới biết an phận.

           Chú tôi có lần nhắc tới Thượng toạ Thích Mật Thể làm chức Phó chủ tịch UBHC kháng chiến Liên khu 4 cũng bị bắt giam, nghe nói án tù rất nặng. Nhà sư này có viết sách, hay nhất là quyển Lược sử Phật giáo Việt Nam. Hồi học ở Nông Cống, tôi thường qua lại chợ Thượng, Cầu Quan. Trong kháng chiến chống Pháp, dân tản cư bán nhiều sách cũ, tôi cũng có mua được cuốn sách này, nhưng mới chỉ xem lướt qua thì đã bị hoá thân cùng nhiều sách vở khác trong ngọn lửa Đấu tranh chính trị khởi đầu năm 1951 rồi bùng cháy lan rộng khắp Thanh-Nghệ-Tĩnh,…Tên chính xác sách ấy là Việt Nam Phật giáo sử lược, cách đây gần 20 năm tôi được đọc cuốn tái bản của nhà sách Minh Đức – Đà Nẵng (ấn hành thời Việt Nam cộng hoà). Sách rất phong phú tư liệu, nhiều công phu khảo cứu, Nhà khảo cứu Trần Văn Giáp đề tựa. Đúng là một cuốn sách giá trị. Tôi khâm phục kiến thức uyên bác của tác giả, mặc dù tôi không đồng quan điểm với ông rằng, Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Trung Quốc rồi từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam. Đáng tiếc, ông là một nhà tu  hành chân chính đã  không dành trọn đời cho các công trình nghiên cứu đạo pháp, lại bước lầm sang lĩnh vực chính trị! Ở đây không phải vấn đề “thiện ác đáo đầu chung hữu báo”, mà chỉ là “chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu”của luật “hiện báo”, học thuyết nhân quả nhà Phật. Đó là cái quả của cái cây chính trị ông thu hái được!

Thôi, tôi đã đi quá lan man trên quãng đường dài không bạn đồng hành.

Tôi không đi đường đá qua Cầu Quan Chợ Thượng, con đường “năm xưa” tôi đi học, mà cứ thẳng đê Nông giang đến Cầu Trắng, nơi nhiều kỉ niệm bạn bè cho tôi niềm vui và hy vọng. Tôi bước nhanh qua Cầu Trắng, một mạch thẳng hướng phía trước, trên con đường Nấp Nưa đất đá lổn nhổn, cố trốn tránh quá khứ dài dằng dặc…

Đã đến làng Phương Khê, tên cũ Lan Khê, quê hương Tiến sĩ lừng danh Nguyễn Hiệu, con trai Nguyễn Hoãn, cha sinh Nguyễn Hoàn, những bề tôi tài giỏi của chính quyền Lê-Trịnh.

Nhà Dượng Phú tôi tạm đủ ăn. Quê dượng gốc ngoài Nam, vào đây ở ấp Dược Khê, định cư Phương Khê, vợ chết sớm, được một con trai đặt tên Phú. Dượng lấy dì tôi làm vợ kế. Dì là con gái rốt ông bà ngoại tôi ở làng Quần Lực, có tiếng xinh đẹp nhất làng. Chẳng may duyên số dở dang, chồng con lỡ làng, cuối cùng đành phải chấp nhận để có nơi nương tựa. Người phụ nữ xưa chỉ lầm một bước cũng đủ lỡ cả đời! Rất tiếc dì tôi là người con gái như vậy!

Dượng Phú hiền lành, siêng năng, chỉ biết chăm chỉ làm ăn. Tôi ở chơi với dì dượng Phú một hôm. Đang mùng ba Tết, nhưng nhà dì dượng hà tiện không sắm sanh gì, chỉ có một cái bánh chưng và nồi thịt nấu đông. Bánh chưng cúng trên bàn thờ bà Cả từ chiều Ba mươi dựng nêu, trưa nay là ngày mùng Ba, qua lệ đưa ông vải mới lấy xuống, gia đình cùng ăn Tết với thịt đông.

Buồng nhà dì dượng chứa đầy thóc, tối om om, cửa đóng im ỉm suốt ngày đêm, không dám mở ra sợ người ngoài thấy.

Sáng sớm hôm sau, dượng Phú lấy trong buồng kín chiếc xe đạp của tôi ra. Nó đã được lau chùi sạch sẽ. Dì Phú phá lệ dậy nấu cơm, canh dưa từ lúc gà gáy để tôi ăn, kịp lên đường.

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG - Page 4 I_icon13

Về Đầu Trang Go down
 
CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 4 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện Sưu tầm :: Hồi ký, tuỳ bút-