Trang ChínhTìm kiếmLatest imagesVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Trang Họa thơ Phương Nguyên 2 by buixuanphuong09 Today at 15:13

VẮNG by buixuanphuong09 Today at 15:09

LỀU THƠ NHẠC by Thiên Hùng Today at 14:55

TÌNH YÊU LAN 3 by buixuanphuong09 Today at 11:26

TÌNH YÊU CÂY CỎ ĐV 10 by buixuanphuong09 Today at 10:49

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Today at 09:00

HỎI by Phương Nguyên Today at 08:56

Cầu cơ by Ai Hoa Today at 07:45

Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác - Nhật Tiến by Ai Hoa Today at 07:29

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG by Ai Hoa Today at 07:25

4 chữ by Tinh Hoa Today at 00:54

Tranh Thơ Viễn Phương by Viễn Phương Today at 00:53

TRỌN NHỞ ƠN THẦY by Phương Nguyên Yesterday at 21:50

Thơ Nguyên Hữu 2022 by Nguyên Hữu Yesterday at 20:47

CHUYỆN NGHỀ .. by Phương Nguyên Yesterday at 15:34

Những người thích đùa - Aziz Nesin by Trà Mi Yesterday at 09:38

Chúc Mừng Lưu by mytutru Yesterday at 04:31

GÓC VƯỜN ĐÀO VIÊN THI CÁC LUYỆN ĐƯỜNG THI by mytutru Yesterday at 03:45

5 chữ by Tinh Hoa Yesterday at 01:36

Nó thế thì đã sao! by buixuanphuong09 Mon 05 Dec 2022, 11:26

Lục bát by Tinh Hoa Mon 05 Dec 2022, 06:45

ĐÔNG VỀ by Phương Nguyên Sat 03 Dec 2022, 23:50

TA (Lê Thu Trang) by buixuanphuong09 Sat 03 Dec 2022, 14:05

Người Em Gái Da Vàng by Viễn Phương Sat 03 Dec 2022, 08:27

Lịch Âm Dương by mytutru Fri 02 Dec 2022, 13:44

Đường Trăng Đi Về Mytutru 2013 - 2022 by mytutru Thu 01 Dec 2022, 19:32

Trà Mi ơi! by buixuanphuong09 Thu 01 Dec 2022, 14:27

Tây Sương Ký - Nhượng Tống dịch by Trà Mi Thu 01 Dec 2022, 09:16

Song thất lục bát by Tinh Hoa Thu 01 Dec 2022, 00:01

DICH BỆNH & CHIẾN TRANH - ĐƯỜNG TRẦN đường thi by mytutru Tue 29 Nov 2022, 23:14

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu

Share | 
 

 CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Sun 03 Jul 2022, 08:35

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ

Lời giới thiệu của TCTP:

Xuân Ất Mùi (2015), Cụ thân sinh HTC mừng thọ Tám mươi. Bài thơ “Tự trào tuổi Tám mươi” với lời đề “tặng bạn Nguyễn Khôi-Nhà văn Hà Nội” (trước đó đã có thơ mừng)(1):


“Trăm tuổi tiêu hoang tám chục rồi,
Cười mình sách vở mải rong chơi.
Sờ râu lão Tí tay còn nhớp,
Chạm vía cụ Mèo mạng suýt toi.(2)
Bóng xế vườn văn, tay vẫn cuốc,
Chợ trưa mẹt sách mặt còn phơi.
Nếu còn trăm tuổi ta chơi tiếp,
Canh bạc văn chương góp với đời.”
                                      HTP/Xuân Ất Mùi 2015

Thời gian trôi nhanh quá. Còn nhớ mới Xuân năm nào (2005), cụ Phổ “Tự trào tuổi 70”:

“Góp mặt cùng làng cái Bảy mươi,
Người ta lên thật lão lên chơi.
Đất khuyên chân bước không nên gậy,
Trời hỏi tay cầm có phải roi?
Tuổi Hợi sướng đời rau với cám,
Năm Gà khoái mỏ Chuột cùng dơi.
Không bằng, không cấp, không không cả,(3)
Nhá chữ nhai văn vỗ bụng cười”.
                                      (Xuân năm Dậu 2005)

       Cụ Phổ đã "tiêu hoang tám chục" tuổi đời vào những gì? Các cụ xưa đã phạm vào tội gì, để rồi cái lí lịch "địa chủ phản động" cứ đè nặng lên đầu đời con, đời cháu, đời chắt...? Quả thực, ngay cả tôi cũng chỉ thỉnh thoảng nghe loáng thoáng lời ông cụ qua những mẩu chuyện ngắt quãng, không đầu, không cuối mà thôi. Vốn yêu thích những câu chuyện "ngoài chính sử", nên nhiều lần tôi gợi ý ông cụ viết hồi ký, nhưng cũng từng ấy lần ông cụ gạt đi, nói: "Giờ còn nhiều việc phải làm, phải viết... Vả lại, đời mình toàn chuyện buồn, ngang trái, oan ức... Không khéo lại mang tiếng thù hằn, nhắc lại chuyện cũ".

        Vài năm gần đây, nhân viết về chuyện này chuyện kia do các báo, tạp chí đặt bài, ông cụ thân sinh tôi cũng đã kể lại vài chuyện "sóng gió" trong đời.

        Nay, ông cụ đã ngoài tám mươi. Sức khoẻ mỗi ngày mỗi yếu. Sợ rằng, câu chuyện "Trăm tuổi tiêu hoang tám chục rồi" của cụ sẽ mãi mãi là bí mật, ngay với cả chúng tôi. Lại nữa, nhân chứng câu chuyện cũng mỗi năm mỗi vắng.

         Giữa năm 2016, trong một bình luận trên FB, GS Nguyễn Huệ Chi có nhắc đến chuyện ngày xưa (những năm "sáu mươi") biên tập bài (trên Tạp chí Văn Học), cho Hoàng Tuấn Phổ (khi ấy đang làm ruộng ở quê nhà); GS lại gọi một vài bài viết đơn lẻ của ông Phổ kể chuyện đời mình trên Tuấn Công thư phòng là "hồi ký Hoàng Tuấn Phổ". Nhân đây, tôi gợi lại,...Lần này, ông cụ thân sinh đã "xuôi tai", nói: "Có dịp nhớ, ghi lại những chuyện từ thuở ấu thơ cũng thú vị..."

         "CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)" không viết theo trình tự thời gian, mà theo kiểu hồi tưởng, nhớ tới chuyện gì, ghi lại chuyện đó, chuyện nọ liên quan đến chuyện kia. Nhưng chuyện gì rồi cuối cùng cũng quay lại chủ đề-"Chạy trời không khỏi nắng"- một thành ngữ dân gian-như vận vào cuộc đời đội đất, cầm cày, cầm bút, cầm dao cầu...đến cuối đời, vẫn "không khỏi nắng" của Hoàng Tuấn Phổ.

         "Tuấn Công thư phòng" xin trích đăng, chia sẻ cùng bạn đọc và những ai quan tâm, thích mua vui, giải trí qua những trang "Hồi ký viết lúc hoàng hôn" của Hoàng Tuấn Phổ.

Chú thích:

(1) Nguyên Nhà văn Nguyễn Khôi có bài thơ “MỪNG NHÀ MỚI BÁC HOÀNG TUẤN PHỔ” như sau:


Nhà mới khang trang mái đỏ au
Cột Trụ chống Trời quả nhiệm mầu
Xanh vòm Khế ngọt xum xuê trái
Bõ thời "chìm nổi" để thương nhau.
                    *
Sống đẹp cho nên khỏe lúc già
Trời cho cái "được" có ông bà
Con cháu đề huề vui tuổi thọ
Thư phòng thanh thản thẩm thơ ca.
                    *
Ấy thế, mới hay cuộc xoay vần
Cái tâm, cái chí mãi thanh tân
Nghiên bút mười năm đâu có phí
Nghĩa tình dung dưỡng  một dòng Văn.
                                                         Góc thành Nam Hà Nội 9-2-2015
                                                                                                                                                                                                                          Nguyễn Khôi (1938)
                                                                  (Nhà văn Hà Nội)

(2)-Ý nói về Vụ án văn chương “Năm Tý nói chuyện chuột”, tác giả Hoàng Tuấn Phổ bị treo bút và buộc thôi việc.

(3)-Hoàng Tuấn Phổ là người tự học, không có bất kỳ giấy chứng chỉ hay bằng cấp nào. Năm 2005 ông còn tá túc tại Khu tập thể Hội văn học nghệ thuật Thanh Hóa, chưa có nhà riêng. Bảy mươi tuổi ông Phổ mới đi làm chứng minh thư. Bên công an hỏi đến hộ khẩu, hóa ra ông không hề có sổ hộ khẩu, không địa phương, phường xã nào quản lý hay thừa nhận có một người là Hoàng Tuấn Phổ. Thật là “Không bằng, không cấp, không không cả.”

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Mon 04 Jul 2022, 08:59

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ


           Năm 1953, đói vừa,
           Năm 1954, đói lắm!

         Cánh đồng Phần Tiền bên cạnh làng tôi có lịch sử 600 năm, do cụ tổ thứ 2 của làng khai phá, khi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được vua cha và Trần Thái tông phân phong Thanh Hoá làm thái ấp, và vùng này-hương Ngọc Sơn-là điền trang. Chưa bao giờ như vài năm nay, đồng Phần Tiền đất bùn khô nẻ toác, sâu hoắm, đút lọt bàn chân. Thử đào một hòn lên, to bằng cối đá giã gạo, thấy chú cá rô đã khô cứng trong bùn đất từ bao giờ. Người ta thả vào chậu nước để xem còn ăn thịt được không. Thật kỳ lạ! Chú cá rô khe khẽ động đậy thân mình, mấy bọt tăm từ miệng phun lên, rồi đôi vây phe phẩy, cái đuôi ve vẩy như vẫy chào sự sống!

         Trong khi ấy, trên bờ ruộng Phần Tiền, những cái lá rau má tròn tựa đồng tiền đã hết trụi sạch trơn từ đời nào! Nghe các cụ nói Phần Tiền là mả chôn tiền từ thời "loạn Văn Thân" (1885). Vì sợ Tây đốt phá, cướp của, giết người nên nhà giàu đem tiền ra đây cất giấu. Chẳng ai nghĩ chuyện đào những cồn, những mả ấy lên để tìm tiền, vì Nhà nước đã cho dùng bạc giấy được đến dăm năm rồi!

         Nguyên nhân đồng Phần Tiền bị khô hạn, "cổ lai" chưa từng thấy, vì giặc Pháp ném bom phá đập Bái Thượng (Thọ Xuân)-một con đập quy mô đầu tiên ở Trung Kỳ do chính người Pháp xây dựng từ 1920 để khai thác đồn điền-khiến cả hệ thống nông giang tưới nước bị tê liệt! Lại thêm nỗi ông trời bỗng dở hơi trái chứng, cứ một niềm nắng mãi, nắng hoài, cóc kêu, lợn hộc khan cổ họng cũng chẳng thấy một giọt mưa! Hoá ra ông Trời cũng làm phản động mất rồi! Trị bọn phản động đã có cuộc đấu tranh chính trị long trời lở đất, "bắt nhầm hơn bỏ sót"! Còn để trị ông Trời, người ta chưa nghĩ ra cách đấu tranh thế nào.

         Gia đình tôi chỉ còn ba người: Bố, mẹ và tôi (anh Nậu đã ở riêng). Tôi thôi học từ cuối năm 1951. Bố tôi mới ra tù sau Hiệp định đình chiến "Giơ neo". Mẹ tôi chỉ quen với sào ruộng thước nương, bây giờ chẳng biết làm gì, rau không còn để hái, củ chuối không có để đào! Chính phủ phát gạo cứu tế cho nhân dân Thanh Hoá, cả làng đều được chia phần, riêng gia đình tôi là phú nông phản động thì gạch tên! Chúng tôi nhìn những hạt gạo trắng ngần trong thúng mủng của dân làng, kẻ khiêng người gánh, mà ứa trào nước mắt! Mẹ tôi, không biết mua ở đâu được hai bò cám thô, chia đôi nấu hai bữa. Không phải cám thô thật mà trộn đến một phần ba trấu cành (tức trấu giã nát)! Thứ cám "xưa nay hiếm" này, cho lợn, lợn đủn máng sùng sục; cho chó, chó ngoảnh mõm quay đi; cho gà, gà xoạc cẳng bới tung toé; chỉ có cho người, loại người phản động như gia đình tôi, "ăn cám vào mồm hay sao mà chỉ điểm cho tàu bay giặc Pháp ném bom phá hoại Bara Bàn Thạch để giết dân hại nước!" Người ta chửi rủa chúng tôi kể cũng đáng! Ai bảo bố tôi, chú tôi thời Tây học tiếng Tây, để bây giờ biết tiếng Tây, viết thư cho Tây, đề nghị Tây phá đập nước Bái Thượng?.

         Bố tôi thế mà cũng nuốt trôi những hai nắm cám. Có lẽ nhờ thời gian ở trong tù, ông được rèn luyện, cải tạo! Mẹ tôi cứ từ từ, nhỏ nhẹ, nhai dần dần, rồi giướng cổ lên mà nuốt. Còn tôi, bụng đang đói veo đói vắt, xơi ngay một miếng to, nuốt đánh ực, mắc ngay ở cổ họng. Nuốt không vào, nôn cũng khó ra. Tiếng nôn oẹ khiến bên hàng xóm giật mình, tưởng có ai bị đau ốm, nhưng không ai dám bận tâm. Mình là phú nông phản động, ra đường phải cúi mặt chào quần chúng từ đứa trẻ trở lên. Không ai thèm chào hỏi lại mình, đến cái gật đầu cũng không. Đó là lập trường quan điểm cách mạng. Nếu quần chúng cơ bản trung, bần, cố nông chào hỏi, chuyện trò với thành phần bóc lột lớp trên, là mất quan điểm lập trường, sẽ bị đưa ra kiểm thảo trong cuộc họp. Huống hồ gia đình chúng tôi là "phú nông phản động"! Phú nông chỉ có tội bóc lột, cho vay nặng lãi. Phản động tội to hơn gấp bội, ngang tội địa chủ cường hào, gian ác, có nợ máu với nhân dân. Nếu phú nông cường hào, gian ác, có nợ máu, phải đưa lên thành phần địa chủ để xử tội, nhẹ thì tù, nặng thì bắn! Cái tư tưởng từ Tàu truyền bá sang ta. Việt Nam đã trải qua ngàn năm đấu tranh chống Trung Quốc để thoát vòng nô lệ, đến nay lại mất cảnh giác. Một số cán bộ chức quyền "rước voi giày mồ" từ Giảm tô đến Cái cách, khiến Đảng phải "sửa sai"!

         Gia đình tôi giàu có cỡ nào mà thành phần phú nông? Chưa được 3 mẫu ruộng, một con bò, ngôi nhà trên 3 gian cột gỗ, mái kè, đằng sau phên nứa, đằng trước cửa bướm, "hương án giữ mặt tiền"! Gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên 4 đời, gian bên kê giường khách, bàn học của chú tôi, và giường ngủ của ông nội tôi. Lại nối ra hai chái, chái Nam thờ Phật và các Thánh sư của đạo phù thuỷ (đạo Ngoại), chái Bắc là buồng ngủ của bà nội tôi, kê bồ thóc, các loại chum, vại đựng khoai,...Nối vào chái Bắc là 3 gian nhà dưới (nhà ngang) gồm 1 gian chuồng bò, 2 gian của bố mẹ tôi và tôi. Từ lúc lọt lòng đến năm 12 tuổi, tôi đều ngủ chung với mẹ, vì tôi là con hiếm, ngoài tôi, không có anh chị em nào cả.

         Cụ Tổ họ Hoàng tôi, vốn quê tỉnh Hưng Yên. Năm 13 tuổi, cụ mồ côi cha mẹ, không có chỗ nương tựa, phải ở nhờ người cô ruột (họ Hoàng) lấy ông Bùi Quảng, làm quản tượng trong đội Tượng binh nhà Tây Sơn, đóng ở phủ Hiến Nam (nay là Thành phố Hưng Yên). Cụ Tổ ở với cô được hai năm, lệnh triều đình nhà Tây Sơn điều đội Tượng binh vào Thuận Hoá để bảo vệ kinh thành Phú Xuân. Không thể mang theo cụ Tổ tôi, bà cô gửi lại con trai là Bùi Nam làm thủ kho Trấn thành tỉnh Thanh Hoá. Thời gian sau, nhà Tây Sơn bị chúa Nguyễn Ánh đánh bại, vua Quang Toản, Tổng trấn Bắc thành Quang Thuỳ, Tổng trấn Thanh Hoá Quang Bàn đều bị bắt giết. Thủ kho Bùi Nam khiếp sợ trốn chạy về làng Văn Đoài, xã Văn Trinh, huyện Quảng Xương (Thanh Hoá).

         Nhờ tiền của đút lót lý hương, gia đình ông Bùi Nam được giúp đỡ cho cư trú, nhưng phải đổi họ. Bấy giờ, họ Lê Văn chiếm số đông nhất làng. Cụ tổ họ Lê này là ông tổ thứ nhất Lê Văn Bìu, người đầu tiên khai phá đồng Bèo, được Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cho phép lập làng Đoài (về sau mới thêm chữ Văn, thành Văn Đoài). Ông Bùi Nam đồng ý đổi họ Bùi sang họ Lê, chỉ xin thay chữ lót "Văn" thành "Danh", tức họ Lê Danh...ngày nay. Còn cụ Tổ tôi, ông Bùi Nam không thể cưu mang, nên gửi nhờ gia đình ông Trưởng họ Lê Văn...

         Cụ Tổ tôi đức tính hiền lành, siêng năng, chịu khó, khiến ông Trưởng họ Lê Văn nhà giàu có, con ăn đứa ở đầy cửa cũng phải khen ngợi. Hai năm sau, ông Trưởng họ Lê Văn bảo ông Tổ tôi: "Sang năm mi 18 tuổi, đến tuổi vô làng, tau sẽ vô làng cho mi, nhưng mi phải làm con nuôi tau, không còn được nhớ cái tên họ hàng nghèo nghèo khổ của mi, cũng phải quên cả cái làng khốn khổ mi đã sinh  ra...". Cụ Tổ tôi không bằng lòng. Ông Trưởng họ Lê nói: "Thôi được, lúc mô mi nghĩ lại, ưng thuận thì bảo tau để kiếm be rượu, chục trầu ra đình làng là xong. Ở làng ni, ai cũng kính nể tau, Lý trưởng cũng không dám bày vai ví tau..."

         Năm 30 tuổi, cụ Tổ tôi mới lấy vợ. Ông Trưởng họ Lê Văn, thường được dân làng cung kính gọi là "ông Tộc" (Tộc trưởng) hỏi: "Nội làng ni ai dám lấy mi?". Cụ Tổ tôi thưa: "Con Thậy..." (Thậy là thị, tên lót). Ông Tộc nghĩ ngợi giây lát rồi gật đầu.

             Cụ Tổ bà hơn cụ Tổ ông hai tuổi, "gái hơn hai, trai hơn một", được dân gian xem là tốt. Cụ Tổ bà họ Nguyễn-họ mới đến ngụ cư-gia đình xin cho con gái được làm kẻ ăn người ở (không công sá) kiếm miếng cơm nhà ông Tộc. Trai quá lứa gặp gái lỡ thì, kẻ ở đậu gặp người nằm nhờ, ông trời thật khéo xe duyên!

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Wed 06 Jul 2022, 08:43

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Htp0210

Cây đa đầu làng Đoài (Ảnh: HTC)


            Nhà ông Tộc trưởng ở đầu làng, trên khu đất rộng thênh thang do chính cụ Tổ Bèo (Bìu) lựa chọn. Vây bọc chung quanh rất nhiều cồn luỹ. Họ hàng phát triển quây quần ngày càng đông. Ông Tộc bảo cụ Tổ tôi: "Nhà tau ở đất ni đẹp nhất làng, giờ thời thế loạn lạc, thấy ông Tộc có máu mặt, tưởng béo mỡ lắm, đứa gian phi mắt la mày lét dòm ngó, rình mò. Nay cho vợ chồng mi ra ở cồn tre đầu ngõ, nghe thấy có động đạt chi thì đánh mõ báo hiệu, tau ở trong ni sẽ liệu cách"...


         Cụ Tổ tôi được giao tận tay chiếc mõ gốc tre già cực lớn, tiếng kêu to vang chỉ thua mõ làng; một con dao phát sắc bén (dao này là dụng cụ phát cỏ rậm và rạ sác ngoài đồng); một cây giáo sào dài bằng tre ngọn vót nhọn bịt sắt. Đó là hai thứ khí giới, đánh gần có dao phát lia một nhát đứt cổ; đánh xa là cây giáo sào, nếu khoẻ tay, rèn luyện tốt phóng trúng mục tiêu xa đến năm chục thước ta...

         Cụ Tổ tôi sinh hạ 5 con trai, tất cả đều làm con ăn đứa ở nhà ông trưởng họ Lê, tất cả đều lập gia đình riêng trong cảnh tôi tớ bần hàn. Do bị đói khát, ốm đau, bệnh tật, năm người con chết hai còn ba. "Của đau con xót", cụ Tổ tôi buồn thêm cảnh ngụ cư, bị cả làng khinh bỉ, 60 tuổi vẫn phải đầu đội vai vác việc quan, việc làng, ai cũng gọi mình là "thằng". Cứ một "thằng ngụ cư" hai "thằng ngụ cư", mặc dù mình có tên có họ hẳn hoi! Cụ Tổ nghĩ cách tìm cho con cái một nghề, "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh". Con Cả, cụ cho hầu ông phó mộc, thứ Hai cho theo ông phó may, thứ Ba cho ở với bác thợ sơn (Những nghề này ba chi họ Hoàng còn truyền nối đến trước 1945).

         Riêng người con Cả được cụ Tổ tôi đặc biệt ưu tiên cho học chữ Nho với thầy đồ trong làng, dẫu đã cao lớn sừng sững mới bắt đầu ê a Tam tự kinh. Nhờ thời gian xách cưa đục hầu điếu đóm ông phó mộc, chú "phó nhỏ" con trai đầu cụ Tổ tôi, bản tính thông minh chăm chỉ, cũng đã học mót thêm được chút ít ở ông Phó cả già vui tính, có cái "sách" gọi là "Tứ tự kinh giắt lưng". Ông thường ngâm nga: "Xuống sác mò cua-chữ nhi là mà, Trèo lên mái nhà-là con ve ve...con ve kêu gia ấy mà!". Không có tiền tết lễ thầy đồ, con trai đầu cụ Tổ tôi học hết "Tam tự kinh", đành phải xin thôi, tiếp tục làm "phó nhỏ" vác đục cưa theo hầu ông phó cả.

         Một lần chùa Tuyết Phong tiểu tu, gọi thợ mộc, con trai đầu cụ Tổ tôi cũng được đi theo học nghề. Một hôm, ông sư nhà chùa thấy con trai cụ Tổ tôi vừa lau chùi câu đối trên cột, vừa bập bẹ tập đọc, gật đầu nói: "Muốn học thêm chữ thì ở lại bản tự làm tiểu quét bệ, thỉnh chuông...".

         Về sau mới biết ông sư ấy là Đạo sĩ Pháp Đăng quê ngoài Bắc vào Thanh truyền đạo ở chùa Tuyết Phong, một trung tâm đạo tràng của đạo Đông. Đạo này kế thừa và phát triển môn phái Pháp Lục của đạo Lão Việt Nam thời Lý Trần chủ trương Phật-Lão hoà đồng, sư tăng cũng là đạo sĩ. Đạo sĩ khác sư tăng ở chỗ nhập thế, không xuất thế, có gia đình, vợ con như người trần tục. Người đắc đạo được gọi là Pháp sư, đặt pháp danh, lập tĩnh thờ riêng, thờ cả Phật Tổ và Lão Quân. Đạo Đông lại chia ra hai chi phái: Đạo Nội, Đạo Ngoại. Gia đình tôi suốt 4 đời, cha truyền con nối, từ kỉnh cố đến ông, bố tôi đều làm pháp sư đạo Nội, thầy pháp kiêm thầy thuốc. Riêng người chú bố tôi (em trai ông nội tôi) đi theo chi phái Đạo Ngoại, chủ yếu hành đạo chuyên dùng ấn quyết, bùa chú và các phép thuật khác như: Lội hoả thang, leo thang dao bầu, xiên lềnh, trún bùa, đánh phản ác,v.v...(Ông chú chết lúc chưa đến bốn mươi, gia đình bị tuyệt tự). Vấn đề đạo Nội, đạo Ngoại rất phức tạp, tôi sẽ nói trong những đoạn sau.

         Mục đích cụ Tổ tôi như vậy đã thành công. Từ đời kỉnh tôi (chú tiểu chùa Tuyết Phong) đã được làm thầy: thầy pháp kiêm thầy cúng, nhân dân trong làng ngoài xã, ai cũng phải gọi  là "thầy", mặc dù vẫn là kẻ ngụ cư, làng có thể đuổi đi bất cứ lúc nào, vì bất cứ lý do gì. Những kẻ xấu bụng đôi khi hăm doạ, mạt sát, nói ra miệng, còn làng tuyệt đối không, bởi các cụ nhà tôi luôn luôn tôn trọng lệ làng phép nước, và ai cũng thấy trong làng mình có thầy pháp, cả thầy thuốc, khi cần có thể mời ngay, rất tiện lợi.

         Trên đây là tiểu sử cụ Tổ tôi, mà bố tôi được nghe ông nội tôi kể, ông nội tôi lại nghe cố nội tôi, ông cố tôi lại nghe ông kỉnh tôi, ông kỉnh tôi được chính cụ Tổ tôi nói cho biết...

         Cụ cố tôi, Hoàng Hữu V. lúc nhỏ đi ở cho một gia đình giàu có, họ Lê ở làng Đông, giáp làng tôi. Ông tổ họ này làm võ quan Vệ uý triều Lê Cảnh Hưng, một ngày đánh giặc thắng liền hai trận, được ban hai đạo sắc (hiện còn) phong thưởng Thiên hộ. Không rõ vinh phong, hay thực phong mà gia tư trở thành một điền chủ, ruộng đất khắp xứ, trâu bò đầy chuồng, tôi tớ chật cửa. Sau nhà quan Vệ uý giảm sút dần vì phải chia năm sẻ bảy cho con cháu. Đến đời cụ Lê công may còn giữ được vài ba chục mẫu ruộng, mươi con trâu, bò. Cố tôi trước đi ở, sau cụ Lê công quý mến gả con gái cho, được ở rể luôn trong nhà. Qua 3 năm làm rể, đã sinh một trai (tức ông nội tôi). Cụ Lê công cho con gái cùng chồng con 5 sào cuộng, một con bò mang về nhà chồng. Từ chỗ không tấc đất cắm dùi, bỗng nhiên gia đình có ruộng, có bò, ai cũng mừng lắm, cứ ngỡ nằm mơ! Nhờ số của hồi môn làm vốn liếng vô cùng quan trọng này, đời ông nội tôi phát triển lên 5 mẫu ruộng, một con trâu. Ông bà nội có hai trai (bố tôi, chú tôi), ba con gái gả chồng trong xã. Theo cách chia ruộng ngày xưa: Con cả phần nhiều, con thứ ít hơn, các o chỉ tính sào trên đầu ngón tay làm "của ra ở riêng". Bố tôi được hơn hai mẫu, chú tôi một mẫu năm, các o mỗi người vài sào để "nhớ" giỗ tết (không gọi của hồi môn).

         Chú Thuyết tôi lấy thím A. ở miếng đất sát ngay cạnh nhà tôi, với một căn nhà luồng mái kè, sinh hạ hai con gái. Vì năm 60 tuổi ông nội tôi mất (1946), nên bà nội tôi giao thừa kế cho bố mẹ tôi, rồi ở với chú, thím tôi. Chú tôi đi tù cùng vụ án với bố tôi. Năm 1954, sau Hiệp định Đình chiến vẫn ở trong trại giam. Năm 1955, vì mắc bệnh ngã nước, chú tôi mới được tha về. Nhưng cũng như gia đình tôi, thành phần phản động không thể thoát cái án "treo niêu"! Vì không có tiền thuốc thang, không cả nắm gạo nấu cháo, nên chú Thuyết về được vài tháng thì chết!

         Mấy năm sau, thím tôi tái giá với ông từ Nghệ người xóm trại Cồn và đem theo con gái thứ hai. Con gái cả (bị chứng viêm tai nên nghe kém), gả cho Lê Văn Nhì (thành phần bần nông) người xóm trại Bái Cốc. Lê Văn Nhì ở rể chịu trách nhiệm chăm sóc bà nội tôi và thờ cúng bố vợ (chú ruột tôi) Khi còn sống, bà nội tôi đã giao tất cả gia sản nghèo cho cháu, rồi hai cháu Nhì-Ất lại trao lại cho con trai Lê Văn Nhất làm chủ sở hữu đất đai nhà cửa (có giấy chứng nhận) đề phòng sau này xảy ra chuyện không hay. Lê Văn Nhất thừa hưởng cơ nghiệp vốn nghèo khó của cha mẹ để lại, kèm theo đứa em trai Lê Văn Tâm tàn tật (không biết lấy vợ), cuộc sống gia đình ngày càng bần cùng. Suốt 7 năm trời, Lê Văn Nhất mang vợ con vào Biên Hoà làm thuê, năm 2015 mới trở về. Trong thời gian Nhất đi vắng, cậu em tàn tật (Lê Văn Tâm) do gia đình tôi trông nom. Hằng năm cháu Nhất vẫn dành dụm tiền gửi về làm giỗ tết đầy đủ. Chú tôi ở dưới suối vàng hẳn cũng được an ủi, vì các cháu nghèo khó mà hiếu nghĩa, nhưng vẫn hàm oan cái án phản động 8 năm tù hồi còn ở dương gian, không cách gì giải toả!

         Viết đến đây, tôi bồi hồi nhớ lại mình thời nhỏ được người chú ruột (chú Thuyết) đặc biệt chăm sóc chuyện học hành. Chính chú Thuyết đã bàn với bố mẹ tôi cho tôi lên huyện Nông Cống học lớp đệ nhị trường tư thục trung học Na Sơn. Chuyện tiền gao khó khăn, chú tôi tìm cách giải quyết. (Lớp đệ nhất tôi học trường Trung học tư thục Hoài Văn cách nhà 6km, do nhà văn Trần Thanh Mại làm Hiệu trưởng. Được một năm, trường chuyển ra huyện Hoằng Hoá, quá xa nên tôi phải nghỉ học).

             Phải nói thật rằng bố tôi không thiết tha lắm việc học của tôi, chỉ vì một lý do: Lúc tôi mới sinh, các cụ đã "chấm lá số tử vi" cho tôi, thấy "không có số công danh"! Tôi chỉ học đến thế là đủ. Thời thế đổi thay, tôi không thể nối nghiệp làm thầy (pháp sư kiêm lương y), thì ở nhà lấy vợ sinh con, vài mẫu ruộng với bốn cẳng con bò, không giàu cũng đủ ăn. Sự thực, nhà không còn được hai mẫu ruộng, vì trước năm 1945, bố tôi thích chơi cờ bạc, mỗi khi thua, bán đi dăm bảy thước, một sào. Bố tôi còn vay cả tiền của nhà ông từ Đệp giàu có trong làng, nợ nần cứ "lâm tí lâm sửu" không biết đến bao nhiêu mà tính! Mẹ tôi trả nợ được một ít, còn lại nhờ Cách mạng Tháng Tám xoá sạch.

         Được học trường Tư thục Trung học Na Sơn, trí óc tôi mở mang thêm nhiều. Bấy giờ phố chợ Cầu Quan đông vui như một đô thị, chỉ cách trường chừng mấy cây số. Đặc biệt Cầu Quan có hai hiệu sách đều của người ngoài Bắc tản cư vào.

         Hiệu sách tiếng Pháp, bán toàn sách cũ, nhiều quyển dày cộp. Với vốn liếng Pháp văn quá ít ỏi khiến tôi không thể đọc, chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào bằng con mắt ngưỡng mộ. Nghe nói chủ hiệu sách này là ông Phùng Quang Nhiên, Hiệu trưởng trường Trung học Tư thục Quang Trung.

         Hiệu sách thứ hai tôi năng lui tới, toàn sách Quốc Ngữ, đủ loại mới cũ, mỗi thứ bày ra một tập. Tiểu thuyết của NXB Đời Nay, báo Tiểu thuyết Thứ Bảy, báo Đuốc Tuệ, tạp chí Viên Âm, Từ Âm, tạp chí Tri Tân, có cả cuốn Phê bình văn học của Kiều Thanh Quế,v.v...Sách báo mới (xuất bản trong thời kỳ kháng chiến) Văn chương bình dân của Trương Tửu, Quyền sống con người phương Tây của Đặng Thai Mai, Những nguyên lý sơ giản về triết học của Goóc-giơ Pô-lit-zê (BS Đỗ Đạo Tiềm dịch), Tìm hiểu chiến tranh của Trường Sơn, Tài liệu nghiên cứu chủ nghĩa Mác của Phân hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Liên khu IV, kịch Màn cửa vàng của Huyền Kiêu,v.v...

         Đọc hết tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, tôi đọc sang các tác giả khác, như Chiều của Nguyễn Xuân Huy, Đứa con của Đỗ Đức Thu, loại sách đường rừng của Lan Khai, trinh thám của Thế Lữ, kinh dị của Phạm Cao Củng,...tôi thấy dần dà nhàm chán, chuyển sang loại sách nghiên cứu, mượn được thứ gì, xem thứ ấy, dù hiểu hay không hiểu. Không có tiền mua sách, tôi mượn của bạn bè, người thân quen.

             Nhà sư Thích Trí Độ tản cư ở chùa Phúc Quả gần Cầu Quan, không rõ chức vụ gì, có rất nhiều sách (sau mới biết cụ làm đại biểu Quốc hội nhiều khoá). Tôi và một số anh em ban học, ngày chủ nhật rủ nhau đến chùa chơi xem sách tại chỗ. Cụ đang dịch kinh Lăng Nghiêm. Các cụ nhà tôi nói kinh này khó lắm, dùng trong đàn tràng, các cụ xưa cũng chỉ dám tụng đến kinh Pháp hoa, kinh Dược sư, kinh Bát nhã...Cụ Trí Độ đã chứng tỏ trình độ giáo lý uyên thâm ở tạp chí Từ Bi Âm (Sài Gòn) in rất nhất nhiều bản kinh Phật do cụ dịch. Có lẽ bởi trình độ Quốc văn của cụ bị hạn chế, cách diễn đạt nhiều câu không được sáng tỏ khiến người đọc dễ chán.

         Tôi trọ học ở nhà bà Thoả, làng Cầu Nhân,  mình tôi ba gian nhà trên vắng vẻ, tha hồ đọc sách. Tôi học văn với thầy Nguyễn Trác. Thầy hay nhắc đến Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, và luôn ca ngợi Chiếc lư đồng mắt cua, tôi chưa được đọc bao giờ, vì không thấy ai có để hỏi mượn. Thầy thường nói: Ba bốn năm sau, các anh sẽ biết tôi là ai! Thầy đưa ra lối hành văn rất ngắn gọn. Ví dụ: Bác nông dân xắn quần lên lội xuống ruộng, thầy bảo thừa chữ "lên", bởi đã xắn quần, tất phải "lên" rồi, có ai xắn quần xuống bao giờ?

         Năm đệ nhất, trường Hoài Văn, tôi học thầy Trần Thanh Địch (Nhà văn), bài văn thường được 11, 12 điểm (thang điểm 20), năm đệ nhị, trường Na Sơn, thầy Nguyễn Trác chỉ cho điểm 6/20, có bài tụt xuống mức thảm hại 03/20! Nhưng tôi không hề chán môn Văn, vẫn thích ngang môn toán. Thầy giáo dạy Toán trẻ lắm, con  thầy Phan Thế Roanh dạy môn Vật lý, cháu cụ Phan Mạnh Danh, tác giả tập thơ chữ Hán Bút hoa thi thảo, được đương thời mến mộ.

         Tôi rất kính mến thầy Nguyễn Trác. Nghe nói hoà bình, thầy chuyển về Hà Nội dạy học. Tôi chú ý tìm đọc trước tác của thầy, nhưng không thấy. Hình như thầy viết phần Giới thiệu cho quyển Truyện Phan Trần khảo thích? Không rõ danh tính Nguyễn Trác, ngoài thầy ra còn có ai không?

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Tue 12 Jul 2022, 09:12

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Img_1610


            Học hết lớp đệ nhị, tôi phải chuyển sang hệ phổ thông 9 năm, chia 3 cấp; Cấp I: lớp 1,2,3,4; cấp II: lớp 5,6,7; cấp II: lớp 8,9, rút ngắn hai năm so với trước. Tôi xin thi vào lớp 7, Trường Sư phạm tiểu học Hoàng Văn Thụ, đặt tại làng Thành Tín, bên cạnh trường Đào Duy Từ ở làng Cốc Thuận. Thi vào lớp 7, nhưng không đủ tuổi, tôi phải xuống lớp 6. Khi nhà trường kiểm tra sắp xếp lớp, lại tụt thêm một bậc nữa: lớp 5! Học được một thời gian, tôi thấy chán, vì thầy giảng kiến thức cũ, cộng thêm đường sá quá xa xôi những năm, sáu chục cây số, mỗi khi về nhà lấy tiền gạo quá vất vả. Tôi về nhà xin học lớp 7 Trường cấp II dân lập Quảng Ninh, đặt tại làng Dụ Côn, đi bộ mất một tiếng trên quãng đường chừng 6km.

         Tôi học không hào hứng lắm. Các môn Toán, Lý, Hoá đều không thích, chỉ ham môn Văn, thứ đến môn Sử. Vì thế, tới nay tôi không còn nhớ tên các thầy giáo. Riêng thầy Lê Như Ứng dạy văn, tôi không quên, mặc dù không phục bằng thầy Trần Thanh Địch, Nguyễn Trác. Khi thầy Ứng giảng bài "Chơi chùa Quán Sứ" của Hồ Xuân Hương, tôi đã dám cãi lại thầy. Hành vi vô lễ này chả biết thế nào lại biến thành cuộc tranh luận với chủ đề Duy tâm hay duy vật suốt gần một giờ giữa tôi và thấy giáo. Cả lớp chỉ biết lẳng lặng ngồi nghe. Sắp hết tiết học thầy giáo Lê Như Ứng bảo tôi: "Anh có biết nhưng chưa biết đến nơi đến chốn, để hôm nào tôi sẽ đưa thêm tài liệu anh xem!". Nhưng sau đó, tôi không nhận được tài liệu gì của thầy Ứng!

         Bây giờ không nhớ rõ mình đã cãi lại thầy giáo dạy văn Lê Như Ứng những gì, có lẽ không tránh khỏi những lời cãi sai, vì mình chỉ là con ếch ngồi đáy giếng thơi, con dơi ở trong lỗ cột hổng. Tuy nhiên, bạn học trong lớp lại hoan nghênh tôi, cổ vũ tôi. Tôi biết mình phải cố gắng học thêm nhiều, nhiều lắm, nhưng thực tình tôi thấy bài học thô tục quá, sao thầy lại chọn bài thơ này?

         Gia đình tôi bị quy thành phần phú nông với một mẫu năm sào ruộng, trong đó mất hai sào Cồn Hỏng bên rìa đồng Bèo, bông lúa xấu như bông may (cỏ may)! Ruộng này thuộc loại chân chua. Nhìn gốc lúa đám nào cũng vàng khè, nước đóng màu gạch cua, đủ biết nó bị chua phèn nặng. Mẹ tôi đi tìm mua mãi mới được mấy chục cân vôi, ném tung ra ruộng. Thế mà chất chua cũng đỡ ít nhiều, chỉ có cỏ cứt nhán (gián) chết sắp lượt. Cần nhiều vôi hơn nữa nhưng lò vôi trên Nhồi không dám đốt lò, vì sợ tàu bay Pháp bắn đạn "rốc kết", hoặc ném bom. Ngày bào cũng thấy "bà già" của nó bay ù ù trên đầu, không thám thính thì làm gì?

         Nói ruộng nhiều, nhưng thu hoạch kém, phải chắt chiu lắm mới tạm đủ ăn, sao gọi là giàu được? Ừ, mình không "phú" nhưng chính quyền bảo mình "phú" là mong điều tốt lành cho mình cũng chẳng sao. Nào ngờ sau cái việc "nâng lên thành phần phú nông", là cái vụ "đánh thuế nông nghiệp theo khả năng", rồi đến cuộc "Đấu tranh chính trị" trời sầu đất thảm!

         "Đánh thuế theo khả năng" là thế nào? Những nhà có ruộng, ai cũng nghĩ tuỳ theo khả năng, mà mình có nhiều đóng nhiều, có ít đóng ít. Nhưng bất ngờ như bị một búa ông thiên lôi giáng xuống giữa đình đầu: Trong nhà tôi chỉ còn ba tạ thóc mà mức thuế phải đóng "Mười lăm tạ!". Một con số giết người, ghê gớm, kinh khủng! Không thấy nhân dân được họp hành gì. Mức thuế từ trên trời giáng xuống này căn cứ vào đâu gọi là "khả năng"? Thì ra chỉ do Lê Quang Lời, Lê Quang Cán lúc bấy giờ làm cán bộ xã thôn, nắm quyền sinh sát "dựng lên" "bộ thuế" theo ý muốn riêng mình! Gia đình tôi biết kêu ai, kêu ai, ai biết mà kêu? Đành cúi đầu nhận bản án chết đói! Trong lúc ấy, bố tôi làm gì? Ông chỉ biết nhìn vào  hai bồ thuốc, kiếm đủ mỗi ngày hai cút rượu, mượn "tửu binh giải phá thành sầu"! Nửa đêm tỉnh dậy, ông hát vang nhà! Bố tôi có giọng hát rất hay, cũng yêu thơ ca. Tính ôn thích giao du, khi xuống Cầu Nhân giải thơ tiên do ông tiên Xa Thư giáng bút, lúc lên phủ Thanh Lâm (Thanh Hoá) làm cung văn. Đêm khuya thanh vắng trong cảnh nhà khốn khổ, nghe tiếng hát chầu văn của người chồng, người cha bất lực, lại cảm thấy đời mình còn le lói hy vọng:

"Gió thổi rung cây
Trên đồi ngàn gió thổi rung cây
Dưới khe con cá lặn, đàn  chim bay về ngàn
Chim bay về đến đền Hàn,
Sòng Sơn, Phố Cát lại sang Phủ Giầy..."

         Mẹ tôi dốc ngược đít bồ, vét nhẵn như chùi cả chum lẫn vại. Con bò để đi cày, đi bừa cũng phải bán, nộp tiền thay thóc, theo quy định của hai vị Nam Tào, Bắc Đẩu hay Diêm vương ở làng tôi. Tiếp đến là những đồ đạc: Mâm, nồi, giường, tủ,...đều phải đội nón ra đi để cứu giúp chủ nhà! Cuối cùng vẫn bị thiếu năm tạ thóc!

         Có "trát quan" đòi! Mẹ tôi đến nhà ông Lê Quang Cán, gặp cả ông Lê Quang Lời đang ở đó, tay lăm lăm cái bút như đang cầm con dao nhọn, xem lại những con số thuế của các gia đình. Mẹ tôi ngồi bệt xuống đất, chắp tay vái lấy vái để rồi bật lên khóc nức nở...Bà mẹ Quang Cán ở dưới bếp nghe tiếng khóc, chạy lên mắng: "Nhà mợ định ăn vạ ở nhà tôi chắc?"  Quang Cán liền bảo mẹ: "Thôi, việc của cách mạng, bà biết chi mà bàn vô?" (Mẹ Cán có anh em xa với nhà tôi, nên gọi mẹ tôi là mợ, và chính Cán cũng là "con bán khoán" ở Tĩnh thờ nhà tôi). Trong khi mẹ Cán trở xuống bếp, Quang Lời nói: "Cách mạng khoan hồng tạm tha cho nhà chị. Chúng tôi đáng lý phải gõ vô đầu chồng nhà chị...". Mẹ tôi gạt nước mắt, khom lưng cúi gục đầu lạy chào hai ông ra về, bên tai như còn vẳng nghe mấy tiếng "khoan hồng tạm tha"! Muôn vàn đội ơn hai vị "quan làng"!

         Mẹ tôi tấm tức kể lại chuyện xin giảm bớt thuế, rồi vội vàng cắp mủng chạy về bên ngoại.

         Ông bà ngoại tôi ở làng Quần Lực, tục gọi làng Cồn, cách làng tôi hai quãng đồng (đồng Phần Tiền, đồng Mả Mụa) và một quãng đường vắng vẻ, phải đi qua hai chỗ mà người yếu bóng vía như tôi thường bị rùng mình: Cây đa chùa Cồn và cây móc lách nghè Cồn. Năm học lớp đệ nhất Hoài Văn, tôi trọ học ở nhà ông Trình hai tháng rồi đi với mấy người anh em cuốc bộ thường xuyên về quê ngoại. Làng nhỏ, dân ít, sống quây quần thành đông vui, có hai tiểu chi giang lượn qua, nước chảy trong vắt, phong cảnh đôi chút nên thơ.

         Ông ngoại tôi người phúc hậu, tính hiền lành, năm 1916 đi lính sang Pháp đánh nhau với quân xâm lăng trong Thế giới chiến tranh lần thứ nhất. Ngoại tôi đi lính đợt đầu. Một bài vè sưu tầm ở Quảng Xá (Thành phố Thanh Hoá) kể chuyện:

"Nhớ năm Duy Tân thập niên
Kén binh sang Tây hơn nghìn
Mười ba phủ huyện, đi trình thật đông
Kén rồi nhốt ở Hoàng cung
Rạng ngày mười tám đưa chân lên tàu
Vợ con kêu khóc âu sầu
Bây chừ thấy mặt, mai sau có về?!..."

         Ông ngoại tôi được về đợt 1919-1920, vì phải đi đường tàu thuỷ chậm hơn rùa. Khi mới sang, Tây phát cho một cái ba lô, vài bộ quần áo, một khẩu súng trường, một cái xẻng. Học mấy tháng thì biết bắn súng. Ăn toàn bánh mì đen mổ bụng rắc muối bột sẵn bên trong, kèm theo bi-đông nước lã. Hễ đánh thắng, Tây thưởng, được ăn bánh bì "pa-tê", uống nước chè Tây. Khi ra trận, Tây bắt đào "tăng-xê" để ngồi nấp bên trong, chừng mươi phút lại nhô đầu lên bắn một phát, bấm cò xong phải thụp ngay xuống, nếu chậm rất dễ bị vỡ sọ. Có cái mũ sắt nhưng luồng đạn mạnh cũng bị thủng. Ông ngoại nói, ông ngồi rụt cổ lại dưới "tăng-xê", cứ nghe đạn nó bay vèo vèo trên đầu cũng đã sợ thấy ông bà!

         Năm 1941, ông ngoại tôi được triều đình tặng bằng Cửu phẩm (võ giai), đúng dịp kén lính sang Tây bảo vệ mẫu quốc trong Đại thế chiến thứ hai! Từ nay, ông ngoại tôi được dân làng gọi là ông Cửu, ra đình mỗi khi làng làm cỗ tế thần cứ bàn nhất mà ngồi. Dĩ nhiên trước hết phải khao vọng làng thì làng mới công nhận.

         Bà ngoại tôi hay ốm, do các dì tôi phải chăm sóc thuốc thang, cơm cháo quanh năm, kinh tế trong nhà chỉ tạm đủ ăn. Ông bà ngoại tôi sinh 5 người con gái liền. Dì cả lấy Mụ Hào, tức Bửu Hào, dòng Tôn Thất nhà Nguyễn, nhưng vì ít chữ, phải đi quản lý ấp làng Tiền (nay thuộc xã Quảng Bình, huyện Quảng Xương) cho Thượng Dinh (hàm Thượng thư), tên chính Tôn Thất Ưng Dinh-Tổng đốc Thanh Hoá. Người thứ hai là mẹ tôi. Người thứ ba lấy chồng Bến Cốc (Thị xã Thanh Hoá cũ). Ông chồng mặt rỗ xấu xí, to béo ục ịch, gia đình làm nghề buôn luồng, nghe nói giàu có lắm, nhưng coi khinh dì tôi đồ quê mùa, chậm chạp. Người thư tư muộn chồng. Người thứ năm đã trưởng thành, xinh xắn nhất nhà mà chưa thấy ai hỏi. Hai dì tôi ưa làm dáng, váy dài đến mắt cá chân, hai dải khăn thắt lưng buông thả quá đầu gối, yếm trắng cổ xuây, khuyên bạc, khuyên vàng trên tai sáng lấp loáng...Miệng đời thường chê hai dì tôi lười nhác, quanh quẩn ở nhà, chẳng mấy khi ra đến ngoài đồng ruộng.

         Nhà nuôi được một con lợn to để dành bán lấy tiền nộp thuế điền thổ (ông ngoại tôi được miễn thuế đinh, vì đi lính Tây). Được bằng Cửu phẩm, ông ngoại tôi kéo ngay con lợn trong chuồng ra, nhờ anh em trong họ làm cỗ mời làng. Ăn uống rình rịch ba ngày. Ngày thứ ba dỡ rạp, suýt phải dỡ luôn cả nhà. Bà ngoại tôi đâm ốm nặng, không có tiền cắt thuốc. Dì cả, chồng làm quản ấp, kinh tế gia đình dư dật. Tất cả đều trông chờ sự giúp đỡ của dì.

         Mấy tháng sau, ông ngoại tôi xin Tây cho làm đại lý muối ở làng Vồm, có bến Giàng tiện đường buôn bán. Nhưng ông ngoại không biết kinh doanh, phải thuê người  giúp việc, bị họ tìm cách ăn bớt. Muối bán ra, mua về, sổ sách lèm nhèm, tẩy xoá lung tung, lời lãi chẳng được mấy đồng. Chiếc cân bàn  Tây nó sản xuất khá chính xác, chỉ cần kê miếng bã trầu, bị sai số hàng tạ muối. Hè năm 1943, ông ngoại gọi mẹ tôi lên Vồm trông nhà, trông hàng giúp để cụ đi Quảng Nam chơi thăm họ hàng.

         Trong thời gian ở đại lý muối của ông ngoại, tôi thấy họ còn cố ý kê lệch bàn cân, hoặc đặt bàn cân chỗ đất không bằng phẳng. Họ bán ra nhiều, ghi sổ ít là thường. Có hoá đơn nhưng xuất, lưu, con số khác nhau. Mẹ tôi nóng ruột chờ ông ngoại, đứng ngồi không yên.

         Ông ngoại tôi đi mãi tới gần hai tuần lễ mới về. Cụ thuỷ tổ họ Lê Trọng của ông ngoại vốn người Quảng Nam, làm võ quan triều Lê Cảnh Hưng, chức Phó Vệ uý. Cụ về xã Văn Trinh tuyển lính, lấy người con gái thôn Quần Lực làm vợ, được hai con trai. Đời Lê Chiêu Thống, vua đi theo quân Mãn Thanh, Tây Sơn làm chủ Bắc Hà. Lúc này, cụ đã được thăng lên Vệ uý, phải trốn vào Thanh Hoá, rồi về quê vợ chia con, đứa nhỏ để lại, đứa lớn ngồi một đầu thúng, bên kia là đồ đạc, gánh chạy miết ngày đêm nhằm hướng quê nội Quảng Nam. Hai đứa bé ấy, nay đã thành tổ hai chi họ: Anh ở Quảng Nam, em ở Thanh Hoá.

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Thu 14 Jul 2022, 07:38

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Img_1611

Đứng ở cuối làng nhìn ra cánh đồng Cồn Hỏng. Ảnh: TC


             Năm 1944, Nhật đảo chính Pháp, nó tịch thu cả đại lý muối, nên ông ngoại tôi về nhà với hai bàn tay trắng. Ở nhà, tài sản ông mua sắm được chỉ có hai cái tủ gỗ đứng, đóng kiểu Tây, bên trong có cánh cửa rỗng tuếch, trên nóc bày mấy pho tượng bằng sứ: Trưng Trắc, Trưng Nhị đứng trên bành voi, tay cầm kiếm trỏ thẳng về phía trước, trông cũng đẹp; Quan Vân Trường râu dài đến rốn, ngồi giữa, Quan Bình, Trương Bào đứng hầu hai bên với thanh long đao và cây bát xà mâu. Năm lớp đệ nhất trường Hoài Văn, trưa, tối, tôi cuốc bộ về ở nhà ngoại.

           Mẹ tôi tìm về ông bà ngoại (bà ngoại đã mất năm 1947) để tìm lối thoát nghèo đói, chưa thật đúng địa chỉ. Bà ngoại tôi đẻ một loạt năm gái, khiến ông ngoại tôi thất vọng, vẫn khao khát đứa con trai. Vụ đói năm 1945 đem đến cho ông ngoại tôi một người vợ hai. Bà dì tôi quê Phát Diệm, cảnh nhà túng đói, đành tìm đường vào Thanh xin ăn. May mắn khăn gói gió đưa, lạc tới nhà ông ngoại, được giữ lại làm vợ. Tôi gọi là bà dì Việt (bà sinh đứa con đầu lòng đặt tên Việt). Bà dì Việt siêng năng chịu khó, ít nói, hay làm dấu thánh giá trên đầu, trên cả hai vai. Nhưng bà dì quê đất chiếu cói, không biết làm ruộng, việc gì cũng cần học, hai dì tôi đều phải dạy bảo, kèm cặp. Khi bà dì chửa đẻ, nhiều thứ cần chi tiêu, nhà đông miệng ăn thêm, kinh tế bắt đầu sút kém dần, mẹ tôi chỉ xin tạm được mấy ống gạo.

           Mẹ tôi nghĩ đến nhà bà dì cả, tôi thường gọi là bác. Nhà bác T. cũng đang vướng vào đấu tranh giảm tô, giảm tức. Nhưng ông chỉ làm quản lý ấp cho cụ Thượng Dinh, mỗi năm được trả công mươi tạ thóc. Chủ ấp Thượng Dinh đã về Huế từ Cách mạng Tháng Tám, giao việc quản lý ấp làng Tiền cho bác tôi. Bây giờ chính quyền xã Quảng Bình bắt trả ruộng, trả ấp, bác tôi bàn giao hết, kể cả kho thóc tô thu của tá điền. Bác về ở thôn Quần Lực với vợ và ba con, một trai, hai gái, chị đầu đã lấy chồng trên làng Phương Khê huyện Nông Cống, nhà giàu có.

           Hai ông bà bác T. đối với gia đình tôi rất tốt, thương yêu tôi như con đẻ. Mẹ tôi vay được ở nhà bác hai gánh thóc, gánh về ban đêm, vì sợ người làng trông thấy, và một đấu thóc giống cho vụ chiêm năm sau. Nhà không còn bò cày, nếu không đổi công được, phải cuốc. Lao động nhà tôi chỉ có hai người: Mẹ tôi và anh Nậu, con nuôi.

           Nhà anh Nậu quê đâu ở tận ngoài Bắc, bố mất sớm, mẹ con ở đỗ làng Quần Lực. Từ nhỏ, mẹ đã cho anh Nậu đi ở nhà ông cố Thúy, có nhà kiểu Tây, ruộng nương nhiều lắm. Anh Nậu tính thích nghịch ngợm, trời mưa hay nắng đi chăn trâu đều mặc áo tơi kè nằm ngủ trên lưng trâu, để trâu ăn lúa nhà người ta, nên thường bị đánh đòn. Đã nhiều lần nhân lúc đồng điền vắng vẻ, anh Nậu hễ gặp đàn vịt đang ăn, thế nào cũng từ trên lưng trâu nhảy xuống tóm cổ một vài con, vặt lấy vài ba nắm lông, rồi thả ra.

        Lông vịt này, anh Nậu đem về giấu phơi ở túp lều của mẹ, góp dồn bán cho ông hàng lông vịt hay qua làng cất tiếng rao to: "Ai lông vịt, tóc rối đổi chuông hô ô ông"! Bọn trẻ rất thích loại chuông đất nung bé bằng cổ tay, lắc kêu leng keng. Nghe tiếng chuông reo, bọn trẻ cũng reo hò "lông vịt tóc rối đổi chuông không" chạy theo ào ào. Tóc rối chúng gom, do mẹ chúng mỗi khi chải đầu, vò vò lại giắt trên rui nhà. Lông vịt thì hiếm lắm, năm thì ba họ, nhà có giỗ tết mới thịt đến con vịt. Anh Nậu bán lông vịt cho ông hàng đổi chuông, lấy chuông chơi hoặc có tiền đánh đáo. Anh rất thích chơi trò đáo lỗ. Được tiền thì mua kẹo kéo.

         Ông hàng kẹo kéo, đâu từ Bắc kỳ vào, đeo bàn kẹo dạo hết làng này sang làng khác, vừa đi vừa hát: "Có tiền thì để làm gì, không mua kẹo kéo Bắc kỳ mà xơi?". Tiếng rao nghe ngọt lịm như cái kẹo kéo, cả trẻ em người lớn đều nuốt nước dãi. Mỗi đồng tiền ông bán cho một gang kẹo kéo. Ồ, một gang tay người lớn thì dài lắm, không chán miệng cũng đã thèm. Nhưng thực ra, ông lấy tiền xong, chỉ bấu ra một mẩu kẹo nhỏ, đặt lên cái thước đo trên bàn kẹo, tay xoa xoa ít bột, kéo một cái, nó giãn ra còn hơn dây chun, dài đúng một gang thật!

           Mỗi lần vặt lông vịt, anh Nậu bị một trận đòn bò lê bò càng, nhưng chứng nào vẫn tật nấy. Nhà giàu lắm việc. Đêm đêm anh còn phải thức khuya dậy sớm, băm bèo thái rau cho lợn. Thấy con ốm yếu như con mèo hen, mẹ anh Nậu không cho ở nhà cố Thúy nữa, xin về làm con nuôi bố mẹ tôi. Cảnh nhà hiếm hoi, mẹ tôi chỉ đẻ được mình tôi. Bố tôi lấy thêm lần lượt hai người vợ nữa, nhưng đều không có con. Sau ba năm, họ xin về lấy chồng khác. Đó là theo luật lệ thời phong kiến quy định. Chẳng qua do cái số tôi không có anh, không có em, mẹ tôi bằng lòng nhận "cu Nậu" làm con nuôi cho "đáng đầu đáng số". Khi khôn lớn, anh Nậu được bố mẹ tôi lấy cho hai đời vợ đều không thành! Nhưng chính vì gia đình tôi nuôi con nuôi, con mày, mà bị quy cho cái tội "thành phần bóc lột"!

           Năm 1947, tôi học xong lớp nhất tiểu học trường xã, xin học lớp đệ nhất Trung học tư thục Huỳnh Thúc Kháng do thầy Lưu Ngọc Lan làm Hiệu trưởng, nhưng học được một tháng thì xin nghỉ, vì sức khỏe không đủ để ngày ngày đi bộ.

           Bố tôi thích nuôi vịt. Ông nuôi 50 con vịt gốc (vịt đẻ) gửi nhờ ở trại Bái Quang, cách nhà khoảng hơn hai cây số. Đến mùa vịt đẻ, bố tôi giao cho tôi trông nom đàn vịt. Sáng sớm, tôi đuổi đàn vịt ra đồng Bèo cho chúng nhặt thóc rơi rụng, mò dam, ốc đủ no. Mặt trời xuống vàng vàng đỉnh núi Nưa, chúng biết chừng rủ nhau ăn dần về phía Cồn Hỏng gần bờ đường. Tai sao đặt tên Cồn Hỏng? Ở đây có một cái cồn đầm, người xưa nhân một gò đất nhỏ, đào rất sâu ở giữa hình ngoắt ngoéo chữ chi, để nhử cá vào trú ẩn sau gặt vụ mùa, bà con nông dân đánh nơm, đánh nhủi, thả lưới quần thảo khắp mọi ruộng. Chỉ cấy được vụ chiêm, nhưng chân đất chua lòm. Vụ mùa, mưa nước đầy dễ mất trắng, ít ai dám cấy gặt. Cấy mùa xong, nhà có ruộng đào khăm quanh đầm, cá tìm đường vào cửa đầm, nhảy xuống khăm sâu, nằm chịu chết! Thế là chủ ruộng mất ăn lúa, chủ đầm cũng mất ăn cá, nên gọi Cồn Hỏng.

           Tôi ra cánh đồng Cồn Hỏng, cất tiếng gọi "coóc cocóc" để vịt nhe quen tiếng mình, mấy buổi đầu, tôi ném xuống ruộng sát ven đường ít ống bơ thóc. Vịt mò được thóc ăn quen, quen luôn cả tiếng người kêu. Chớ nghĩ thóc ném xuống ruộng chúng không mò được. Sở trường của vịt là mò. Mỏ con nào cũng to bẹp, bên trong có "dăm kèm" để đãi bùn lấy thóc, nhanh nhẹn, tài tình hơn bội  phần so với tay thợ đãi cát tìm vàng! Chẳng thế mà thóc rụng ở đồng Bèo, bị trộn lẫn vào bùn đất, chúng vẫn mò hết hết tinh không còn một hạt!

           Trại Bái Quang mới vỡ khoảng năm 1920, với bốn nóc nhà: ông Nhu, mụ Vang, ông Tâm Xiềng và ông Hẩy.

            Nhà ông Nhu có ruộng, có bò đến ở sớm nhất, vì ruộng đất nhà ông toàn ở đồng Đám, đồng Sòng giáp Lộc Long, Lộc Xá, tiện canh tác. Gia đình ông nền nếp, làm ăn tằn tiện, nhà gỗ xoan lợp kè vững chắc, vườn trồng chè, rào dậu kín mít, trồng nhiều cây sắn vỏ sơn thuyền nan. Nhà ông với nhà tôi có họ hàng xa, thỉnh thoảng bố tôi ra trại thăm vịt, thường bữa trưa ăn cơm uống rượu tại nhà ông, tôi cũng được theo bố đến dùng bữa. Cơm nhà ông chẳng mấy khi không có món dấm tép, hoặc tép rang hành, gia vị lá chanh, đôi khi nấu om cá mè kéo dưới ao lên, chấm rau muống luộc. Tôi thích nhất món này. Còn bố tôi chỉ vui với chén rượu nhắm rau thơm các loại: tía tô, kinh giới, rau dấp cá, húng quế, mùi tàu, tỏi, hành...vườn nhà ông nhu có sẵn.

           Các gia đình khác đều nghèo túng, cày thuê cuốc mướn, tất cả bốn nóc nhà tranh tre, gặp bão to, dễ "gãy chân què tay", bốc gọn mái tranh ra cùng xám xịt ném tung lên trời.

           Mụ Vang goá chồng, hai đứa con trứng gà, trứng vịt ra ngõ chơi nghịch suốt ngày, mùa hè cởi truồng, mùa đông chỉ một manh áo vải, ngắn cũn cỡn, vá chằng vá đụp, mặc ban ngày, ban đêm phải cởi ra, sợ rách! Chúng nằm ổ rạ, đắp chiếu rách, ôm nhau ngủ suốt đêm. Mụ Vang đói nghèo nhất xóm, nhưng lắm mồm nhất trại. Chỉ cần mất một con gà nhép, mụ đóng ghế ngồi chửi ngày, chửi đêm, giọng cứ vang vang, nghe mãi phát nhức đầu, người ta đặt cho biệt danh mụ Vang, rồi thành tên thật của đứa con đầu.

           Nhà ông Tâm Xiềng ở sát rìa đồng, hướng đông, nhìn ra cánh đồng Bái Đốt, thấy xa tít có cồn Vườn Nới, nghe truyền có mả tổ họ Lê Hữu lắm đinh, nhiều điền nhất làng. Người ta nói nhà ông Tâm Xiềng ở hướng ấy không tốt. Nhưng ông quan tâm gì cái hướng nhà ấy. Ông thấy ở hướng tiện nhìn ra cánh đồng Bái Đốt để đánh câu. Ông sống bằng nghề câu cặm. Cần câu dài không đến một mét, đầu to vót nhọn, đầu ngọn vót nhỏ, mỏng, cật tre dễ uốn cong, buộc dây bằng dây nhợ (sợi gai xe săn), lưỡi câu đúc, mua cả hộp bán ở ngoài hàng xén chợ Nguyễn. Chiều muộn, ông xách giỏ tre đi bắt nhái, lấy chân xua xua bờ ruộng, nhái lớn, nhái nhỏ nhảy lên rào rào. Vì tầm này nhái ra khỏi hang, nấp trong bờ cỏ, tìm mồi ăn là lũ kiến đen, đàn muỗi mắt...Ông chỉ bắt nhái cỡ ngón tay.

           Ông Tâm Xiềng rất khéo mắc mồi câu, lại nhanh tay thoăn thoắt. Lưỡi câu chỉ quắc vào da lưng con nhái để chúng sống bơi bơi trên mặt nước khiến loài cá chuối bị lôi cuốn, dễ mắc lừa. Ông có đến non một trăm cần câu cặm, cắm la liệt khắp đồng. Chập choạng tối ông cắm câu trên các bờ thửa hoặc bờ mốc, mô án, rìa bái. Xong, ông trở về nghỉ lưng trên chiếc chõng tre rồi ngủ luôn một giấc.

         Giấc ngủ ông rất có chừng, thường choàng thức dậy vừa lúc nửa đêm. Ông xăm xăm ra đồng thăm câu với cái mủng câu khảm sơn bằng vỏ sắn trộn lẫn cứt bò, đựng sẵn ít nước để trống cá. Ông lần lượt đi thăm câu, chân bước nhanh mà nhẹ nhàng, êm ái, sợ cá nghe tiếng động. Ông đánh cá chuối (cá quả). Có con mới cắn câu đang quẫy mạnh, tiếng nước xao động. Có con mắc mồi lâu, quẫy chán, vừa đau vừa mệt, im lặng chịu chết. Ông khéo léo gỡ nhẹ lưỡi câu ra khỏi hàm cá, hết sức tránh bị tổn thương nặng, cá chóng chết. Có con, ngạnh câu đóng sâu vào tận mép, đành cầm cả cần về nhà, cắt đứt dây, chịu mất lưỡi. Rất nhiều cần câu không được gì, chỉ còn trơ cái lưỡi, mồi nhái đã bị cá mương, cá ngạo rỉa ăn hoặc lôi đi mất. Phải thay mồi khác.

        Ông đem cá về, thả vào vại, nằm ngả lưng tiếp, đến gà gáy báo sáng lại ra thăm câu. Hết một lượt, trời vừa gần sáng. Có cắm câu nữa cũng vô ích. Cá đã no mồi, trở ra giữa ruộng, giữa đồng. Chúng bắt đầu một ngày mới nhàn hạ thơ thẩn dạo chơi khắp chốn. Ông Tâm Xiềng bỏ hết cá vào mủng câu quẩy lên vai đem chợ Nguyễn bán lấy tiền mua gạo, mắm muối...

           Chợ Nguyễn gần ở trong xã, trên bờ sông Lý, họp phiên ngày lẻ. Gặp phiên chẵn, ông Tâm Xiềng phải xuống tận chợ Hội, xa 7km. Chợ Nguyễn nhiều cá biển, bán được giá, chợ Hội lắm cá đồng, cá sông, giá rẻ mấy cũng phải bán, ông sợ đem về, cá dễ chết, có ăn cá trừ cơm hay khoai được đâu!

           Nhà ông Hẩy ở phía Nam xóm trại, từ nhỏ, ông không biết dạ ai bao giờ. Đáng lẽ có thể hả, hoặc hở, hay hử theo tiếng địa phương, thì ông nói hẩy. Thực ra ông nói hơi ngọng, cũng có lúc líu lưỡi, đang nói phải ngừng lại mấy giây rồi mới tiếp tục...Nhà ông không có ruộng, vợ chuyên làm thuê, chồng quanh năm kiếm cá. Nghề cá của ông là đi man.

          Tối tối ông xách đèn đi man, tay trái cầm quai đèn, tay phải cầm nơm, để bắt loại cá vừa, không to, không nhỏ. Ông quét quét ngọn đèn quang có tán bôi vôi trên mặt ruộng. Cá đi ăn đêm chợt thấy ánh sáng giật mình, chúi đầu xuống bùn, hoặc chạy dài. Cá chúi nổi bọt tăm, cá chạy có vệt sóng nước. Đôi mắt ông là mắt nhà nghề tinh tường đặc biệt, nhận ra tất cả, cầm nơm úp cái "xụp", ấn mạnh xuống bùn rồi thò tay mò, thế nào cũng tóm cổ được một chú cá, không chuối thì giếc, không giếc thì rô, "lớn bùi, bé mềm", bỏ tuốt vào cái giỏ sề đeo bên lưng. Hai con trai ông Hẩy cũng "sát cá" như bố, đều theo các nghề đặt lừ, đánh cá giếc, đặt bơ lơ bẫy cá rô, đặt trúm đơm tép, đặt ống nhử lươn, đào khăm lừa cá chuối...Chúng cởi trần chang nắng suốt ngày ngoài đồng, người đen như cột nhà cháy, đầu tóc bù xù vàng hoe tựa lông bò vàng, trong cái giỏ tre đeo lủng lẳng bên hông đủ thứ: Ốc, dam, tôm, cà cuống, cá mại, cá sắt, cá rô, lươn, chạch,...

           Nhà ông Hẩy đào hai cái Hầm trống cá trong bếp, có vừa đủ nước cho chúng sống, Cá chuối, cá hẻn nhốt riêng một hầm. Một hầm nhốt lươn chạch. Cá rô dữ, vây nhọn bỏ vào một nồi. Cá gáy, cá diếc yếu cho nên cho riêng một chậu...Chờ hôm động trời không có cá biển, bà Hẩy mang ra chợ bán cho được giá.

           Gia đình ông Hẩy mang tiếng ăn hoang nên nghèo. Thực ra nhà ông không hề hoang phí. Bữa ăn toàn dùng loại cá rẻ tiền: Cua, ốc, tôm tép, cá mại, cá sắt, diếc đèn, rô dăm,...còn cá lớn dành bán chợ để mua khoai, gạo. Nhà những năm miệng ăn, đến bữa rào rào chẳng khác nào tằm ăn rỗi. Riêng ông Hẫy mỗi bữa độ một bát cơm, nhưng lại uống cả chai ba rượu. Ông chê rượu chợ lạt, tự cất lấy rượu ngon để uống cho vừa miệng. Đến bữa một mình ông riêng một mâm, cái mâm gỗ cóc gậm, chuột khoét quanh rìa nham nhở, đặt chính giữa giường, còn vợ con ngồi dưới bếp lấy sàng kê làm mâm, ghế ngồi là gốc tre, gốc gỗ, hoặc đánh bệt ngay dưới đất. Ai cũng cần cơm khoai, rau no cái bụng, quan trọng gì chỗ ngồi!

           Ông Hẩy ngồi xổm trên cái giường tre cũ kỹ, cha mẹ thuê thợ đóng bằng tre ngâm từ ngày mới cưới vợ. Trên mâm chỉ có một cái bát đàn nhỏ, lòng cạn,  miệng loe để đựng rượu và đầy chờm lá đu đủ đực. Nhà ông không có sân, chỉ có mảnh vườn con con trồng toàn đu đủ đực. Cây đu đủ đực hoa có cuống thả dài đeo lủng lẳng dăm ba quả nhỏ tí, ăn không ngon. Ông bảo lá đu đủ đực chát đắng hơn lá đu đủ cái, dùng nhắm rượu đưa cay thứ rượu ngon cháy cổ mới "phải mùi". Chẳng mấy khi ông đụng đến cá thịt. Thế mà nước da ông vẫn đỏ lựng, gân săn, thịt chắc. Ông và ông Tâm Xiềng cùng làm nghề đánh cá. Ông hơn hẳn nước da. Ông Tâm Xiềng mặt vàng bủng, da phinh phính vẻ ốm yếu như người mắc bệnh sốt rét kinh niên. Bàn chân ông lại bị chín dạn, đi cà nhót cà nhắc. Người ta bảo nguyên do ông làm nghề đánh câu cặm, đêm đêm dầu dãi sương gió nên nhiễm chứng phong hàn...

           Tôi biết rõ ông Tâm Xiềng vì thời gian chăn vịt ở bên cạnh, cách nhau một bờ rào không thành rào. Với ông Hẩy lại bởi nhà tôi cùng nhà ông làm bạn thông gia. Anh Nậu nhà tôi lấy chị Vượng, con ông Hẩy. Hồi chưa cưới, mỗi năm phải ba lần tết lễ: Tháng 5, tháng 9, tháng chạp. Trên đường từ nhà, qua Cống Đồn, Cồn Hỏng có ruộng nhà tôi gần trại Bái Quang, thì nhà ông Hẩy ở cuối xóm.

          Bố tôi dẫn đầu, quần trắng, áo lương vắt vai, anh Nậu mặc bộ quần áo mới, đầu đội cái mủng đựng thủ lợn sống, mẹ tôi bưng rá, bên trong có trầu cau và chai bố rượu. Còn tôi bước chậm theo sau. Ai thấy cũng biết gia đình tôi đi tết vợ cho anh Nậu.

           Đến nơi, ông bà Hẩy vội vàng ra đón. Cái thủ lợn được đưa xuống bếp. Trầu cau, chai rượu đặt lên giữa giường. Mâm cơm dọn ra nhanh chóng. Chỉ có món thịt thủ luộc, còn cá thì đầy mâm. Chuối, gáy, hẻn, rô, giếc... chọn những con to nhất, bày ra đủ giống. Có lẽ nhà ông Hẩy hết mỡ lợn nên chỉ có hai món kho lạt và om mẻ. Hai ông khề khà nâng bát rượu. Ông Hẩy nói, đã uống rượu, phải uống vào bát mới ngon. Ông ngồi xổm, quần dài kéo lên quá đầu gối. Bố tôi áo cánh, quần chùng ngồi xếp bằng nghiêm chỉnh. Ông Hẩy luôn đưa cả bàn tay to xù xì lên trên mâm: "Mời ông bà cầm đũa đưa cay" rồi cố gắng cắn một miếng nhỏ lá đu đủ đực. Bố tôi ậm ờ không hài lòng vì thấy thiếu món rau thơm. Mẹ tôi và anh Nậu chỉ ngồi chống đũa vào bát để hầu chuyện chiếu lệ. Bà Hẩy không được phép ngồi tiếp khách. Chỗ của bà là ở dưới bếp cùng con cái.

           Mẹ tôi thấy tôi không biết xoay trở thế nào với bát cá đầy có ngọn, do ông Hẩy xếp tầng tầng lớp lớp. Mẹ tôi thương con, gắp đỡ sang bát bà và anh Nậu mỗi người mấy miếng to. Bát cá vừa vơi vơi, lại đầy có ngọn như cũ! Tôi xuýt phát khóc! Mẹ tôi nói "Để mẹ xin vô phép hai ông cho con ăn cơm trước!". Ông Hẩy liền quát to: "Xới cơm!" Bà Hẩy đang chờ chực dưới bếp "Dạ!" thật to, mấy đứa con cũng dạ theo.

           Lần đầu tiên trong đời trẻ con, tôi được ăn cá nhiều hơn cơm. Mẹ tôi nhắc: "Khéo không hóc!"

           Rượu đã ngà ngà say, ông Hẩy không chú ý đến ai, và cũng như mọi lần, ông cứ ê ê, a a nửa như ngâm, nửa như hát không biết nhàm chán mỗi một câu:


Người ăn người ở người đi
Ta ăn ta ở cùng...thì hôm mai

           Bố tôi tủm tỉm cười: "Cùng dì hôm mai chứ!" Ông Hẩy gật gật gù gù: "Ờ ờ, thì ở cùng dì, nhưng mà cái con mẹ hĩm nhà tôi hắn hay ngứa ghẻ hờn ghen lắm!"

           Mọi người bật cười to. Ông Hẩy không cười, lại tiếp tục ê ê a a: "Người ăn người ở người đi, Ta ăn ta ở cùng thì..."

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Mon 18 Jul 2022, 09:07

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Img_1611

Đứng ở cuối làng nhìn ra cánh đồng Cồn Hỏng. Ảnh: TC


              Cuối năm 1947 tôi đi chăn vịt ở trại Bái Quang không ghé qua nhà ông Hẩy lần nào, phần vì trái đường, phần khác là chủ yếu: Anh Nậu không lấy chị Vượng nữa. Có lẽ do cái duyên cái số, lắm khi ông trời dở hơi trái tính không xe dây nữa chăng?

           Thời gian chăn đàn vịt gốc cho ông bố, tôi ở nhờ nhà chú Côi, liền kề nhà ông Tâm Xiềng, phía sau vườn là cánh đồng Cồn Hỏng, có con đường đất nhỏ qua Cồn Hỏng về làng Đoài, có nhà tôi ở cạnh bóng đa đầu làng.

           Chú Côi cha mẹ mất sớm, làm con nuôi ông nội tôi, lấy vợ tên Uyển người làng Chào cùng xã, ở tạm căn nhà luồng làm cho chú Thuyết tôi. Hai vợ chồng chưa kịp chuyển về trại Bái Quang thì chú Côi tôi mất thì bệnh thương hàn. Cả nhà thương tiếc chú, con người siêng năng, khỏe mạnh, hiền lành, ít nói. Thím Uyển ở với ông bà nội tôi độ một năm thì lấy anh Tấn, em ông Sấn Miện, mới ra ở trại Bái Cốc, đi qua đồng Phần Tiền thì đến nơi. Người chị ruột chú Côi là Ngoét, lấy chồng ở trại Bái Sắn, bên kia xứ Đồng Bèo, bỏ lại ba gian nhà trồng hoác, một chiếc giường tre cũ kỹ, ọp ẹp, bà ông núc bếp vỡ đầu gẫy chân. Bố tôi mượn người nối thêm cái chái thấp lè tè đằng tây, quây quỳnh nứa cho vịt ở đêm.

           Tháng mười âm, thời tiết chưa rét, ban ngày nắng ấm, ban đêm, trời về sáng hơi lạnh, Mẹ tôi đánh hai cái tranh mang ra trải giường và một chiếc chiếu chẻ để nằm, một chiếu đàn (sợi to, cói xấu, dệt cả cây) để đắp. Sang tháng một (11) trời bắt đầu rét, tôi nằm ổ rạ, trải chiếu đàn cho được bền, đắp chiếu chẻ ấm hơn. Tối tối, tôi rủ anh Xiềng sang nằm ngủ cho có bạn. Ngày hai bữa, anh Nậu mang cho tôi hai bát cơm nắm chắc, đựng trong lá chuối hột, mấy lát củ cải nấu với cá nục chạch. Đang mùa dưa cải cũng là mùa cá nục. Vùng mấy làng duyên hải Bùi, Đai, Bào...đồng đất cát trồng dưa cải nhiều, phiên chợ nào cũng gánh lên bán ở chợ Nguyễn xã tôi. Mẹ tôi mua về, thân cải thái muối dưa, củ nấu với cá nục.

           Tháng chín (âm) trời hết bão, thuyền gỗ giương buồm ra khơi xa, thường gặp những tía cá nục đông tới hàng nghìn, hàng vạn con, nhưng vì lưới hẹp, cũ rách vá, mỗi mẻ lái không đánh được nhiều. Phải đi xa dài ngày, ngư dân mang theo nồi trách đất nung (đáy cạn, hông phình, miệng loe) để kho cá ngay ngoài biển...Tôi thích món củ cải kho cá nục chạch. Có mấy loài cá nục. Các nục bạc má màu da trắng bạc, mình to bè, ăn ngon béo, hơi hiếm, kho không chắc. Cá nục ván nhỏ hơn cá bạc má, cũng kém giá trị hơn. Cá nục lầm dễ nhầm với cá nục chạch, không tròn mình, nhỏ con như cá nục chạch. Đặc điểm nó tròn chắc tựa con chạch, kho với củ cải, có nước, vẫn săn chắc, để lâu, ngày này qua ngày khác vẫn không gẫy nát. Miếng củ cải kho mềm nhừ, ngọt vị ngọt mặn của cá, mà cá không bị kém ngon. Cải củ (cây) muối dưa chấm với nước kho cá nục củ cải cũng rất ngon. Tôi có thể ăn như thế suốt mùa đông không biết chán.

           Tháng chín, tháng mười, những cánh đồng cạn bao bọc quanh xứ đồng Bèo cấy được lúa mùa đã gặt xong, người ta tranh thủ cắt rạ, nếu để chậm bị nơm, nhủi, đào khăm, tát vũng phá nát.

           Mùa gặt hái, đàn vịt gốc của tôi không lo thiếu thức ăn. Chúng bơi luồn trong ruộng rạ, len lỏi qua các gốc rạ mò nhặt thóc rơi rụng, với vô khối ốc quắn. Nửa buổi, non trưa, đàn vịt lên bờ đầm Cồn Hỏng nghỉ ngơi, chải chuốt bộ lông kém mượt mà do đang thời kỳ sinh đẻ. Quá trưa, cả đàn lại tiếp tục công việc đãi bùn đen tìm thóc vàng của chúng.

           Đề phòng kẻ gian bắt trộm, thính thoảng tôi trèo lên cây sắn bờ vườn phía sau nhà chú Côi trông chừng về Cồn Hỏng. Mặt trời vàng vàng đỉnh Ngàn Nưa, tôi ra gọi đàn vịt về nhà. Chúng đã quen tiếng tôi, hễ nghe gọi "coóc coóc" là "cạc cạc" lạch bạch rủ nhau vào bờ. Con nào con nấy no vác diều, đôi chân trở nên ngắn ngủn vì cái bụng xệ xuống do quả trứng trong đó chỉ còn mấy  giờ nữa là đòi ra "góp mặt với đời"...

           Nghề chăn vịt gốc thú nhất đối với tôi là sáng dậy thật sớm, mở quỳnh thả chúng đi ăn rồi vào chuồng nhặt trứng. Chao ôi! Trứng bày la liệt sáng rực lên một màu trắng lóa trên lớp rơm cũ nhàu nát lót chuồng. Nhưng vào chuồng vịt đẻ, bước chân phải hết sức cẩn thận, thật nhẹ nhàng, êm ái. Tôi đã mấy lần dẫm lên trứng mà không biết, vì một số con vịt rất khôn, đẻ xong là dùng mỏ cào rơm phủ lại kín mít. Nếu trứng vỡ dập vỏ còn ăn được, vỡ nát thì vứt. Năm mươi ba con vịt, mỗi đêm thu được hơn bốn chục quả trứng, bởi thế nào cũng có một số con đẻ cách nhật, nhác đẻ, hay bị nồn, người ta cho rằng béo quá, tích ruột không đẻ được. Thỉnh thoảng có đêm chỉ thu được không đầy bốn mươi quả, chắc chắn do lũ quạ đen.

           Tôi biết hàng ngày thường có mấy con quạ đen, chiều đến cất tiếng kêu "quạ, quạ!" xúm nhau lại đè lên lưng vịt mẹ để mổ vào đít. Thế là vịt bị "động thai" rồi "sảo" (đẻ non). Khi vịt ì ạch bò lên bờ ruộng để về chuồng, quả trứng non mới có lớp vỏ mỏng rơi ra, lũ quạ nấp trên cồn đầm lao đến dùng mỏ cắp lấy bay đi tìm nơi vắng vẻ mới ăn. Nòi quạ tinh quái là thế! Vì làm thằng bù nhìn trên tay phơ phất ngọn cờ rách, đàn quạ cũng không sợ, chẳng còn cách gì khác, tôi đành cứ chiều muộn vác cái sào chăn vịt ra đứng gần bờ đầm Cồn Hỏng canh chừng lũ quạ. Khoảng vài tuần như thế, lũ quạ thấy chẳng xơ múi gì, rủ nhau kiếm ăn nơi khác.

           Chẳng bao lâu Tết đến, đàn vịt nhà tôi "hết đồng" ăn, nghĩa là đồng lúa không còn hạt thóc rơi, con ốc đá, phải xúc thóc bồ đổ cho chúng ăn, mỗi ngày đến một đấu (khoảng 8kg). Mẹ tôi xót quá nói: "Tháng hai, tháng ba coi chừng không đủ gạo ăn mất!" Bố tôi hỏi: "Răng tiền bán trứng không góp lại đong lúa?". Mẹ tôi đáp: "Tiền trầu, chè, con cá, bó rau, nay thày mi đòi tiền đi họp, mai lại đi hành, nay thì tiền sắm Tết nữa, lấy mô ra?". Bố tôi muốn bán đàn vịt, nhưng sau gần ba tháng đẻ, con nào cũng thay lông xơ xác, gầy như cái bọ trốp, ai mua?

           Tết Nguyên đán sắp đến nơi, mẹ tôi sai anh Nậu ra trại Bái Quang thay tôi trông đàn vịt, ngày nào bận, gửi ông Tâm Xiềng. Mẹ tôi thấy tôi mười hai, mười ba tuổi đầu mà người nhỏ troắt, nhỏ troéo như đứa lên chín, lên mười, da đen nhẻm, mốc thếch đại vương vì bùn đất, thì thương con lắm, rầy la bố tôi hết lời. Bố tôi gắt lại: "Không thể nâng như nâng trấng (trứng) hấng (hứng) như hấng hoa mãi, phải để cho hấn quen mùi bùn đất, dày dạn sương gió cho cứng cáp con người mới được!". Mẹ tôi cáu tiết: "Thứ bộ dạng thày mi thì được cái đổng đềnh chi, quanh năm suốt tháng lang bạc (bạt) cầy (kỳ) hồ, rồi xơ xác như xác mướp lúc mô không biết!" Bố tôi nổi hung: "Hừ, tao làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt xã, kiêm Hội trưởng Phật giáo xã mà mi dám biểu tau lang bạc cầy hồ? Đồ lăng loàn! Ông thì thì..." Bố tôi giơ nắm đấm lên. Mẹ tôi tính ương thách: "Đó, cứ đánh đi!" Thế là đánh nhau thật! (Đây cũng là những cảnh thường thấy trong xóm làng tôi thời ấy).

           Bát đũa đựng trong sọt kêu loảng xoảng. Mấy cái nồi đất bị ném ra sân vỡ bồm bộp! Bố tôi túm lấy tóc mẹ tôi, chỗ yếu nhất của người phụ nữ. Mẹ tôi phải dùng kế sách la làng "Ố làng!" Bố tôi sợ hàng xóm nghe biết chê cười, liền buông tay. Mẹ tôi đầu tóc xổ tung, vội tìm nhặt cái khăn, nước mắt cháy ràn rụa. Tôi túm lấy mẹ kéo vào buồng, miệng an ủi: "Thôi thôi mẹ!" Tôi vốn nhút nhát, sợ nhất cảnh đánh nhau, không bao giờ dám xông tới can ngăn. Nhưng rồi sóng gió, sấm sét cũng tan. Rồi chuyện làm ăn trong gia đình lại đâu hoàn đó.

           Ra Giêng, ăn Tết xong, mẹ tôi quyết định tôi ở nhà, "kệ xác mấy con vịt", để nghỉ ngơi cho khỏe, chỉ việc giở sách ôn bài, chờ hết hè tìm thầy học tiếp. Mẹ tôi mượn ở bên ngoại được mấy quyển sách, toàn tiểu thuyết. Chiều của Nguyễn Xuân Huy, Nỗi lòng của Nguyễn Khắc Nhẫn, Nắng thu vàng của Vũ Trọng Can, Người nghìn mặt của Phạm Cao Củng. Đã hơn 70 năm trôi qua, bây giờ tuổi già lấp ló miệng lỗ mới hồi tưởng lại, có thể trí nhớ không thật chính xác, nhưng vẫn đoan chắc một điều rằng tất cả đều không hay. Tôi không thích!

           Mẹ tôi mang sách đi trả, lại ôm một bọc về, mở ra toàn tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, quyển nào cũng bọc giấy bóng kính cẩn thận. Tôi thích nhất tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Năm học lớp nhất (tương đương lớp bốn tiểu học phổ thông nay), thầy giáo Ngô Sĩ Ngạn quê Đông Hương, TP Thanh Hóa, bảo ban chúng tôi đến nơi, đến chốn. Tôi học đều cả 3 môn, nhưng không thấy hào hứng nhất môn nào, văn hay toán, hoặc sử. Thi tốt nghiệp xong thì vứt sách vào đâu đó không nhớ. Có lẽ sau khi đọc xong Hồn bướm mơ tiên, tôi mới cảm thấy văn là một thứ rất kỳ lạ, đầy mơ tưởng...

           Đó là cơ sở ban đầu khiến tôi say sưa môn văn khi học lớp đệ nhất trường Trung học Tư thục Hoài Văn, thầy giáo là Nhà văn Trần Thanh Địch. Hết niên khóa, môn Việt văn, thầy Trần Thanh Địch phê "Khá", Toán-Lý-Hóa thầy Lê Đức Tứ nhận xét: "Thông minh nhưng lười", môn Pháp văn, Anh văn học với thầy Lê Văn Diệm cũng vậy. Năm Đệ nhị trường Trung học tư thục Na Sơn, tôi đọc nhiều sách, thế mà bị thầy Nguyễn Trác phệt cho chữ "kém"! May môn lý, hóa, thầy Phan Thế Roanh phê "trung bình", thầy Phan Trừng Thanh, con trai còn rất trẻ của thầy Roanh, cháu nội Nhà thơ chữ Hán Phan Mạnh Danh (Tác giả Bút hoa thi thảo) dạy Toán rất dễ hiểu, cho chữ "khá". Ngoài ra, cũng cần nói tới cái món  ngoại ngữ tôi vốn không ham thích. Từ năm cắp sách đi học đồng ấu, tôi đã bắt đầu học tiếng Tây, sau ba năm chẳng được mấy hột chữ. Cách mạng tháng Tám thành công, tôi học tiếp lớp Nhì, lớp Nhất bậc Tiểu học, bỏ môn tiếng Pháp, nhẹ nhõm cả người. Lên bậc Trung học, khôi phục Pháp văn, lại thêm Anh văn, thêm một gánh nặng đối với tôi. Một buổi nói chuyện với học sinh về ngoại văn, ông Hiệu trưởng Trần Thanh Mại khuyến khích học sinh chuyên sâu Pháp văn để đủ trình độ thưởng thức văn chương Pháp, còn Anh ngữ rất cần thiết cho ngoại giao, buôn bán...Tôi nghĩ ông hiệu trưởng nói đúng, vì tôi được học mấy trích đoạn của văn sĩ Pháp nổi tiếng.

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Thu 21 Jul 2022, 14:00

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Img_0310

Đường lên đình núi Nưa. Ảnh: Phương Mai Blog


               Tôi học xong lớp bảy (Hệ thống giáo dục phổ thông mới) trường cấp II Quảng Ninh, vào đúng thời gian gia đình tôi lên thành phần phú nông, trong nhà "quăng dùi đục không mắc"! Tôi không biết làm gì, nên xin xin thày mẹ tiếp tục học lên lớp tám (Hệ phổ thông chín năm). Cái khó duy nhất là không có tiền gạo. Thày mẹ tôi băn khoăn khó nghĩ. Nhà chú tôi không bị thành phần phú nông, không phải "đóng thuế khả năng", bồ thóc chưa cạn, chum khoai còn đầy. Bố tôi gọi chú tôi ngỏ ý vay mượn một ít. Chú tôi nói: Thế nào cũng phải cho cháu học tiếp, nhưng chuyện gạo thóc để chú lựa lời với thím tôi. Mẹ tôi bảo: "Chú để tôi bàn với thím tiện hơn. Đến tháng tư sang năm có lúa chiêm, tôi trả lại." Tính thím tôi tốt. Tối hôm ấy, mẹ tôi vay được mười đấu thóc (mỗi đấu xay được 6kg gạo). Còn nơi ăn chốn ở, cũng phải tìm nơi quen thuộc, để có thể nhờ vả được người ta.

               Nghe nói ông Nguyễn Nhuận, Hiệu trưởng trường Na Sơn xin mở thêm lớp tám hệ phổ thông chín năm cho học sinh học xong lớp bảy (Bấy giờ không gọi trường tư thục mà đổi tên thành trường dân lập), địa điểm làng Cổ Định, nên tôi quyết định học. Bố tôi và chú tôi bàn đi tính lại vẫn chưa tìm được nơi trọ học cho tôi. Ông Kiểm Thị, ông Cựu Tuở, ông Lý Vách chắc chắn đều lên phú nông. Nhà anh Mậu vốn là học trò ông nội tôi, chồng hiền lành, vợ rất tốt, nhưng gia cảnh quá nghèo. Nhà ông Nầy làm nghề nuôi vịt, cha con đều ít học, tuy đủ bát gạo ăn, nhưng trong cửa ngoài sân bầy biện đủ thứ, ngồi đâu mà học?

               Thái độ bố tôi trước lừng chừng bao nhiêu, bây giờ sốt sắng bấy nhiêu. Ông bắt đầu nhận ra thời thế đang xoay chiều đối hướng, nhiều chuyện bất ngờ. Vì thành phần phú nông, bố tôi bị cách chức Chủ tịch mặt trận Liên Việt xã, chỉ còn cái chân hờ Hội trưởng Phật giáo hữu danh vô thực, chẳng qua một số người phong cho thôi. Bố tôi thấy tiếc năm 1947, anh bạn cũ người Mật Sơn (thành phố Thanh Hoá) ngày trước cùng làm ở Sở địa chính thời Pháp, vào rủ đi công tác kháng chiến lại không đi. Chuyện này mẹ tôi cũng hay kể cho tôi nghe: "Anh bạn rủ mãi, bố con bùi tai nhận lời. Cơm rượu xong, anh bạn biểu sửa soạn đi ngay bữa nay, nhưng tôi nói trước với bác, đi công tác kháng chiến không được ngồi gật gù tay đũa tay chén, gõ bát gõ mâm, mà phải chịu đựng gian khổ. Cụ Hồ đã dạy "Kháng chiến trường kỳ gian khổ tất thắng", thắng lợi rồi, anh tha hồ con cà con kê...Bố con ngồi thừ ra nghĩ ngợi một lúc rồi khẽ lắc đầu: Thôi, anh để tôi đi sau, còn phải thu xếp việc nhà việc cửa...Mẹ tức quá nói liền: Cửa nhà để mặc tôi lo. Thày mi chưa thu xếp được mấy hẩu rượu chứ chi! Rứa mà vẫn không chịu đi. Anh bạn gắt lên: Giặc đánh đến đít rồi, anh còn ung dung ngồi rung đùi nảy cẳng thì lạ thật! Nói rồi anh cứ đi thẳng một mạch, không thèm trở lại. Bây chừ bố con mới biết là dại, rõ thật con mọc răng, nói năng chi nữa! Rứa mà vẫn cứ còn khề khà chén rượu, gõ đũa gõ bát!"

               Đó là những thói quen không thể thay đổi của bố tôi, từ trẻ đã hay rượu, tuy uống không nhiều, chỉ độ nửa chai ba, nhưng ngồi hàng tiếng đồng hồ. Đến lúc ăn cơm, bố tôi cứ bưng bát lên lại đặt bát xuống, tay cầm đũa gõ vào miệng bát cơm cành cạch như đánh nhịp cho bài ca "tửu nhập ngôn xuất" bất tận. Có lẽ chỉ có mẹ tôi là chịu đựng được cái cảnh ấy, ngày hai bữa cơm rượu phục vụ bố tôi chu tất, mặc dù gia đình lâm vào cảnh túng bấn.

               Cả nhà đều quyết tâm phải lo cho tôi đi học tiếp để tìm lối thoát cho tương lại. Vì tôi là con trai độc nhất của gia đình. Thím tôi đẻ 3 lần, giờ chỉ còn hai đứa con gái. Đời chú tôi  cũng long đong lắm, muốn tìm một công việc gì ổn định, chắc chắn mà không được. Cảnh dạy học tư, nay nơi này, mai chỗ nọ, cuộc sống bấp bênh lắm, thà về nhà làm ruộng cho yên. Chú tôi suy nghĩ lại, tiếc công cha mẹ nuôi dưỡng cho mình học đến đệ nhị niên trường Nord'Annam Thanh Hoá, biết mấy cơm gạo? Gia đình chỉ còn trông vào một thằng cháu này...

               Lần đi tính mãi rồi cũng tìm ra được lối thoát: Nhà anh chị Đỗ Lượng Định! Anh chị ấy nhà hơi nghèo mà tính tình rất cởi mở, tuy chỉ mới xuống lễ ở Tĩnh thờ thời ông nội tôi một hai lần để cầu tự. Bố tôi bảo chú tôi dẫn lên thưa chuyện trước. Anh chị Đỗ vui vẻ nhận lời ngay, nhưng thông cảm trước, nhà chỉ có cơm rau dưa muối sợ rằng anh Phổ học trò con một, kham khổ không quen. Chú tôi  cười, kể thực tình hình nhà tôi hiện nay. Anh chị Đỗ đầy vẻ ngạc nhiên: "Ở đây nhà ông Bản Hớn giàu có nhất làng Lượng Định lên thành phần phú nông, đóng thuế nông nghiệp tuỳ theo ruộng, chỉ có cái giảm tô, giảm tức thì thu bằng lúa cũng nhiều..." Chú tôi nói: "Nhà anh chị Phổ không phát canh thu tô, không cho vay nặng lãi, mà sạch cửa sạch nhà!"

               Tôi trở về sửa soạn sách vở, bút, mực và một khăn bao gạo. Sách vở vài ba quyển, mực thì một lọ đầy mua của người buôn chợ vùng Tề (vùng Pháp tạm chiếm) mang bán lại ngoài chợ Nguyễn giá đắt nhưng không có cặn, mực chảy thông, viết dễ, không như mực gói màu tím dạng viên hay bột, dùng ngòi bút sắt cũng bị vón cục ở đầu ngọn.

               Nhà anh chị Đỗ tuềnh toàng, bắt cong chỗ hồi làm cái xối nối thêm một gian rưỡi thành nhà ngang. Cả nhà nằm ngủ trong buồng, gian ngoài làm nơi làm hàng bánh tráng. Căn nhà chính 3 gian. Cái giường anh nằm trước đây giờ nhường lại cho tôi, còn hai gian anh đan đồ nứa trên nền đất nện nhẵn, bị vết dao lỗ chỗ. Ở ngoài cứ tưởng căn nhà yếu ớt, bão khẽ quật cũng bị đổ lăn quay, nhưng vào trong mới biết nó vững chãi ra phết. Vách dừng phên nứa, nhưng cột nhà làm  toàn bằng gỗ trẳng chôn chân, bão không thể lay, mối đừng hòng gậm. Nhà nông nghèo rất chuộng gỗ trẳng, giá rẻ mà bền. Cây trẳng thuộc loài lim đỏ sống lâu năm trong rừng, bị cây to tranh giành đất đai, không thể phát triển, cứ nhỏ quắt lại. Gian bếp tráng bánh của chị Đỗ, anh Đỗ mua được mấy cây trẳng lè bò (con queo như cẳng sao con bò) rất xấu, để chôn thật sâu làm cột phên vách.

               Nhà anh Đỗ chỉ có một sào ruộng, bốn nhân khẩu. Anh không cao lắm, vóc đậm đà, khoẻ mạnh cần cù, hiền lành, hay cười, ít nói. Anh làm nghề đan bồ nứa, phên nứa, cách ba bốn hôm lại đi rừng một hôm để tự đánh lấy nứa về đan, không phải mua đắt của người làng. Nứa đan bồ, đan phên cần loại nứa to bằng cổ tay thân cao, lóng dài, mắt thưa, phải qua ngọn Nưa, trèo năm sáu cái đông, lội ba con mau vào tận ngàn sâu, rừng già, không như đánh nứa trầu, nứa củi để rào dậu, đun nấu, đi gần hơn. Anh dậy từ lúc canh ba, sao hôm mọc đỉnh đầu, trong làng lẻ tẻ dăm ba tiếng gà gáy, đòn gánh trên vai buộc cơm nắm muối vừng, tay cầm con dao cấu, lưng đeo quả bầu già đựng nước đầu trần chân đất ra đi.

               Công đánh nứa không nhiều, đường đất đi về mới muôn phần vất vả. Gánh nứa dài trên vai, len lỏi trên lối mòn, qua cây rậm, rừng núi cứ níu vai giữ chân lại. Phải đánh vật với chúng, phải thắng tất cả, dù cái nóng hầm hập đốt lửa, hay cơn mưa rừng xối xả vào mặt, ai cũng đội trời đạp đất mà đi:

Đi núi thì phải treo đông
Liền bà cuộn  váy, liền ông cổi truồng


               Đó là câu ví hát của dân đi núi, luồn rừng đốn củi đánh nứa. Cho nên đàn ông cởi trần, mặc quần cộc sát bẹn. Đàn bà vùng Nưa, khi các nơi bỏ váy, họ vẫn mang "Cái trống mà thủng hai đầu, bên ta thì có, bên Tàu thì không"!

               Đi từ lúc sao hôm vượt quá đỉnh đầu, đến khi mặt trời chếch bóng, anh Đỗ cùng bạn đi núi mới về. Anh lăn ra giường, thở đánh phào trút hết hơi thở mệt nhọc, giang hai cánh tay gân bắp săn chắc, duỗi thẳng đôi chân dài đen trũi như cột nhà cháy rồi đánh thẳng một giấc không trở mình. Chiều tối, anh thức dậy, vừa lúc chị Đỗ đi chợ về, gánh hàng lịch kịch. Chị đem bánh tráng sống ra chợ Ngẵn quạt than bán bánh tráng chín. Tục ngữ nói: "Sớm chợ Nưa trưa chợ Ngẵn", hai chợ chỉ cách nhau khoảng một cây số. Chợ Nưa lớn, mặt hàng nhiều thứ, bán cả trâu bò, không phải chợ huyện Cầu Quan, mà nổi tiếng ngang chợ huyện:

Đồn rằng Cổ Định mở hội chợ Nưa
Ông cống, ông cử ra lo việc làng
Chự Nưa là chợ giữa đàng
Quan sang khách trọng cũng thường vãng lai

(Ca dao dân gian)


               Chợ Ngẵn nhỏ tí, họp ở rìa đàng cái, đầu làng Ngẵn nhỏ con, chừng mươi suất đinh. Không có lều quán, thế mà bày mặt nhiều loại hàng hoá, hầu hết nhu yếu phẩm phục vụ dân quê mấy làng xung quanh: Định Kim, Cầu Nhân, Lượng Định, Thanh Y, Bình Doãn, Lai Thôn. Chị Đỗ làm bánh tráng ngon, xay bột kỹ, tráng vừa lửa, quạt khéo tay, chào mời xởi lởi...Người chị cao lớn, hơi gầy, mặt xương xương không xấu, không đẹp, nét tươi vui trên khoé mắt, miệng cười dễ gây cảm tình. Chị bán đắt hàng, chẳng mấy phiên bị ế.

               Chị Đỗ quảy gánh nhẹ tênh về nhà. Hai đứa con chạy ra đón, miệng reo hò. Hôm nào cũng vậy, quanh quẩn gạo, rau, dưa, mắm, muối...Năm thì mười họ mới mua được dăm con cá nục khô, hay chục cá trích kho, đem từ kẻ bể lên bán, bữa cơm gia đình vui như bữa tiệc. Ở nhà, anh Đỗ đã nấu cơm xong, chỉ còn luộc rau, hay nấu nồi canh là xong. Tôi ăn bữa cơm đầu tiên ở nhà trọ mới, đại khái như vậy. Nhớ năm học lớp đệ nhị, tôi trọ ở nhà bà Thoả làng Cầu, được ăn sướng. Bà thường mua cá chuối đồng rán lên rồi mới kho. Tháng 7 tháng 8, mùa mưa lũ, khe hón núi Nưa nước chảy ào ào, những con cá gáy to bằng bàn tay xoè bị tù túng mãi trong mau, ngỡ sắp được hoá rồng, vượt qua bờ cỏ. Người ta mang đinh ba, chườm sắc đón đợi chúng trên khe, dưới hón. Cá cả lợn lớn giá đắt, chỉ nhà giàu mới có tiền mua. Bà Thoả mua loại cá này lược bỏ xương và đầu, chỉ lấy phần thịt để cả tảng bỏ vào vại ướp muối, nén chắc như nén cà. Ngày đông tháng giá khan hiếm thức ăn, mỗi lần một tảng cá muối lấy ra thái miếng nhỏ bằng ngón tay, kho ăn dần. Cả nhà ăn uống ngon lành. Riêng tôi tạng người yếu, ăn uống lẻo khẻo như mèo. Cá gáy ướp muối ăn có vị chua chua, ngon ngon, nhưng mặn chát đầu lưỡi, mà tôi lại không quen ăn mặn, trong khi mọi người, đã là nông dân, ai cũng thích ăn mặn. Chính anh Nậu nhà tôi, mỗi bữa ăn hết cả bát to cà muối mặn chát. Nông dân nói chung ưa ăn mặn, vì họ lao động vất vả, ra mồ hôi lắm, lượng muối trong cơ thể hao hụt nhiều, cần được bù đắp.

Nhưng thời thế đã đổi khác, buộc tôi phải thích nghi. Nhà tôi thường xuyên ăn cơm độn khoai, tôi được ưu tiên nhặt bớt khoai, bữa nào cũng rau muống chấm nước cáy. Nước cáy nhà tự làm lấy, ăn cạn lần này, lại đổ nước muối thêm vào. Đổ mãi thành nước muối, trong như mắt mèo, nhưng vẫn gọi là nước mắm cáy chỉ để đánh lừa "thần khẩu". Tuy biết mà không ai dám nói ra nói vào, vì nói ra cũng vô ích. Lắm bữa không có rau muống luộc, phải ăn cả rau muống sống, nhai sồn sột, chát lè lè. Mẹ tôi bảo: Rau muống luộc hao lắm, lại tốn củi lửa! Thấy tôi không nuốt nổi miếng cơm, nước mắt ứa ra, mẹ tôi thương lắm, nhà con một, đáng lẽ phải được chiều chuộng...Hôm sau mẹ tôi đi chợ Nguyễn mua về chục cá trích kho, bỏ thêm muối kho lại, mỗi bữa chia cho tôi nửa con, rồi 1/3 con, lại giảm xuống 1/4 con. Mỗi con cá trích to bằng ngón tay, thì 1/4 con chỉ bằng đốt tay.  Dần dần về sau, mẹ tôi đi chợ về, cái rổ nhẹ tênh, đặt xuống đất, nói to để cả nhà nghe: "Bữa nay chợ được một nhúm người, chả có lấy một vảy cá!"

               Ăn uống kham khổ mãi rồi không quen cũng phải quen. Bây giờ tôi rất nhanh chóng hoà nhập sinh hoạt gia đình anh  chị Đỗ: Trường kỳ rau muống luộc chấm nước mắm! Tuần sau tôi về nhà xin thêm tiền gạo. Mẹ tôi hỏi, tôi kể lại chuyện ăn uống ở nhà chị Đỗ. Mẹ tôi bảo: "Không phải nước mắm cá. Đó là nước muối nấu với lá chuối hột khô làm giả nước mắm!" Tôi cãi lại: "Nhưng mà con thấy hắn ngòn ngọt chứ không chát sì sì như nước mắm nhà ta!" Mẹ tôi im lặng không nói gì.

               Trường tư thục hay dân lập hồi ấy không tổ chức thi tuyển sinh. Ông hiệu trưởng thu nhận tất cả những ai muốn học, cốt đủ tiền trả lương giáo viên. Để tránh máy bay địch oanh tạc, chúng tôi phải học buổi tối. Mỗi học sinh tự sắm một cái bàn gỗ xếp thấp và ghế con ngồi với ngọn đèn chai. Chập choạng tối, tôi bắt đầu một tay cắp bàn ghế, một tay xách đèn chai, cuốn vở mỏng đút túi quần cùng cái bút máy tòng tọc, "vặn cổ đổ mực". Đường đi từ Lượng Định để Cổ Định qua cánh đồng Nấp Nưa chừng hơn một cây số. Làng Lượng Định tên Nôm là làng Vặng: "Làng Càu vặn giắng, làng Vặng đan bồ". Huyện Nông Cống có hai làng Vặng. Người ta gọi làng Vặng có nghề dệt chiếu cùng xã Tế Độ, bên sông Hoàng là Vặng Cách (tiếng dệt chiếu cóc cách), làng Vặng chuyên đan bồ là Vặng Nứa, Vặng Bịch (nay thuộc xã Tân Khang) dưới chân núi Nưa. (Nhiều nơi gọi cái bồ là "cái bịch").

               Ở Lượng Định, cũng có mấy anh học trường Cổ Định, hẹn nhau tại Cầu Trắng, cùng đi cho vui, cảm thấy chẳng mấy bước chân đã đến lớp. Lớp học mượn nhà dân. Bàn ghế học sinh tự túc. Thầy giáo đứng. Ngọn đèn chai ám muội khói tù mà tù mù trông xa như con đom đóm đực, chẳng soi rõ mặt ai với ai. Bấy giờ có bán đèn măng-xông sáng hơn đèn điện, nhưng nhà trường không đủ tiền dùng. Khoản chi phí rất cao: Dầu xăng hiếm, mạng đèn phải mua của Trung Quốc giá đắt, bị thủng rách luôn. Hơn nữa, đề phòng máy bay địch, hễ nghe tiếng kẻng báo động, đèn chai còn phải tắt ngay, huống chi đèn măng-xông. Chờ kẻng báo yên, đèn đóm mới được thắp lại. Mọi thứ đều dễ, riêng măng xông phải bơm hơi, nhiều khi bơm mỏi rời tay, bị trục trặc chỗ nào, tự mày mò sửa lấy, cả tiếng đồng hồ chưa chắc đã xong. Đành cứ đèn chai vậy! Bây giờ, tôi sống ở nông thôn đã mấy năm rồi, mất điện là chuyện cơm bữa. Tìm nến, nến đã cháy lụi, sờ đèn pin Rạng Đông, pin chóng hết quá, tù mà tù mù, lại nhớ đến ngọn đèn chai kháng chiến, soi tỏ lớp học, soi sáng cả đường dài chiến dịch, từ hậu phương ra tiền tuyến.

               Tôi nhớ nhất giờ giảng văn của thầy giáo Trần Lê Văn. Nghe nói thầy là nhà thơ. Như vậy, tôi đã được học Việt văn với một nhà văn (Trần Thanh Địch), một nhà thơ (Trần Lê Văn) liệu tôi có thành cái gì, hay rốt cuộc tôi vẫn chỉ là tôi? Thầy Nguyễn Trác (lớp đệ nhị) thì sao? Thầy phê học sinh không biết làm văn (trong đó có tôi).

Thầy giáo Nhà thơ Trần Lê Văn dạy văn hay, phân tích kỹ, so sánh hình ảnh anh bộ độ chống Pháp qua những câu thơ:

-Tây tiến đoàn quân không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(Tây tiến)

-Các anh bộ đội
Sao hiền như lúa xanh?

(Qua sườn Tam Đảo)

-Này anh pháo binh  ơi!
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo nhầm nhà tôi
Nhà tôi ở dưới chân đồi
Có giàn hoa lý, có người tôi thương.

(Nhà tôi)

               Thầy Trần Lê Văn giảng bài không có sách, hai tay chắp lại sau lưng, vừa đi vừa vung tay theo nhịp bước chân, chúng tôi ngồi im phăng phắc há miệng ra nghe. Những câu thơ, tên bài, trích dẫn trên, tôi ghi theo trí nhớ, có thể sai khác chút ít, bây giờ hồi tưởng lại vẫn thấy nguyên vẹn cảm nhận của mình lúc ấy, mặc dù thời gian đã 65 năm sóng vùi gió dập!

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Thu 28 Jul 2022, 10:13

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG 5-d3ba10

Đường vào khu vực núi Nưa-Cổ Định. Ảnh: ST


                Trong số bạn học ở Lượng Định, người tôi thân nhất là anh Đỗ Đăng Hiển. Gọi là anh, vì anh hơn tôi vài tuổi. Hiển là con trai thứ hai ông Bản Hớn, nhà giàu nhất làng, nhưng chỉ có mươi mẫu ruộng, vì dân Lượng Định sống chính bằng nghề đan. Khi nhà anh lên thành phần phú nông, phải đưa bớt ruộng, còn lại 5 sào, gia đình cũng không ảnh hưởng mấy, bởi biết nghề thủ công. Anh trai Hiển là Đỗ Đăng Vinh, học hết đệ tam rồi thôi, ở nhà với vợ con. Hai cha con cùng làm nghề đan. Nhà không đánh được nứa, phải mua lại của người làng, chịu ăn ít, lấy công làm lãi. Làm được hàng, mẹ chồng, con dâu gánh lên bán chợ Sim, chợ Mốc (nay thuộc huyện Triệu Sơn). Cho nên kinh tế gia đình không đến nỗi khó khăn, Hiển vẫn được tiếp tục học lên.


Những buổi tối nghỉ học, tôi và Hiển rủ nhau lên cầu Trắng ngồi chơi. Cầu trắng bắc trên sông nông giang nối liền con đường rải đá từ huyện lỵ Cầu Quan, Nông Cống lên huyện lỵ Thọ Xuân, xây bằng xi măng cốt sắt, quét vôi trắng, năm 1946 quét lại, nước vôi hãy còn bền. Chúng tôi kể lại cho nhau nghe những quyển sách mình đã đọc. Anh Hiển đọc nhiều tiểu thuyết của Lan Khai: Cái hột mận, Bóng cờ trắng trong sương mù...Nhà văn Lan Khai tôi nghe danh từ lâu. Trên báo Ngày nay có mấy câu thơ nửa đố, nửa bình rất hay về ông, tác giả ký tên Lê Ta thì phải?:

Tên đâu trái ngược lạ đời
Là hoa mà lại có mùi không thơm
Tài trông anh Mán phi gươm
Chú Mèo lãng mạn, cô Mường ngâm thơ


Rất tiếc, tôi chỉ được đọc một số tiểu thuyết đề tài lịch sử của Lan Khai, cũng hấp dẫn, còn những truyện nhân vật chính là anh Mán, chú Mèo, cô Mường thì chưa từng biết. Chúng tôi kể lại nội dung sách kiếm hiệp hay lịch sử dịch của Tàu, như Hoàng Giang nữ hiệp, Càn Long hạ Giang Nam, Bàng Quyên Tôn Tẫn,v.v...kể mãi cũng chán, nghe nhiều thấy nhàm.

Dù sao đó cũng là những ngày tháng thú vị nhất của Hiển và tôi, ngoài việc đến lớp học hành còn chuyện vui bên lan can cầu Trắng.

Một hôm, Hiển rủ tôi đến nhà anh chơi. Nhà anh ở giữa làng, không to lớn lắm. Nhà trên ba gian bằng gỗ, vợ chồng con cái anh Vinh ở gian chái. Ba gian nhà trên rộng rãi và khoảng sân gạch bày la liệt các loại nứa đã pha nan hoặc đập dập. Hiển dẫn tôi vào nhà dưới, ngồi chơi trên cái phản gỗ, vạc nứa, trải chiếc chiếu đàn. Em gái anh là Vũ đang ngồi sàng gạo. Hiển giới thiệu bạn với cô em (gái có lần nhân chuyện gia đình anh đã kể với tôi). Vũ mỉm cười, khẽ chào tôi. Tôi vốn tính nhút nhát, lí nhí chào lại, không rõ thành lời. Anh hỏi tôi: "Cậu biết sàng gạo không?" Tôi lắc đầu: "Tôi đã tập sàng mà không được, cầm sàng cứ lắc ngang, không thể nào quây tròn được!" Vũ mủm mỉm cười. Anh Hiển nói: “Mình cũng thế. Thì ra sàng gạo khó thật!".

Anh đem quyển sách mới mượn ra cho tôi xem. Đó là quyển Mấy vần thơ của Thế Lữ, có bài Tiếng sáo Thiên Thai, tôi đã được học. Sách in rất đẹp, không phải bằng giấy báo, mà trên giấy dó. Tôi lật lật tờ giấy, hỏi: "Anh mượn ở mô?" Hiển đáp: "Mượn của thằng Vĩ, con ông huyện Nhiển". Tôi "à" lên một tiếng.

Thằng Vĩ này tôi biết, nó ra dáng công tử con quan lắm, mặt mũi hắn trắng trẻo khôi ngô, cùng học đệ nhị với tôi, nhưng nó không thèm ngó đến bọn tôi, kể cả thằng Lê Đình Trù con ông Bản Đức giàu có nổi tiếng, có những hai cái nhà Tây to tướng, một cái cho trường Na Sơn mượn đặt lớp. Tôi kể chuyện hồi học lớp đệ nhị ở làng Nhiển cho Hiển nghe, học văn với thầy giáo Nguyễn Trác, trông dáng trí thức lắm, có vẻ rất tự phụ.

Hình như cố ý trùng trình để nghe chúng tôi nói chuyện học hành, nên Vũ sàng mãi cối gạo không xong. Rồi cũng phải sàng xong, nhưng Vũ không sảy trấu mà úp sấp cái nia vào thúng gạo, đứng dậy đi vào phía cửa bếp. Có lẽ Vũ sợ sảy trấu lúc này bụi bặm bay về phía chúng tôi chăng?

Chiều tối hôm ấy, tôi và Hiển lại hẹn gặp nhau ở cầu Trắng để đi học. Trên đường đi, thấy tôi không nói gì, Hiển cũng im lặng. Đến chợ Nưa, chỗ rẽ vào làng Cổ Định, tôi bật lời: "Chiều nay lúc ở chỗ nhà anh ra về, tôi quên không chào Vũ". Hiển cười: "Tưởng chuyện chi. Nó là em út, nhớ thì dặn một câu, mà quên thì thôi. Không lần này thì lần sau, cậu đến nhớ đừng quên". Tôi nghĩ hình như anh Hiển chủ ý nhấn mạnh hai từ nhớ và quên. Tôi đáp lời Hiển: "Tôi nhớ chứ không bao giờ quên!" Đó là câu hứa hẹn hay lời nói gở? Bố tôi bảo: "Xuất khẩu thành trái". Mẹ tôi thường bảo: "Mồm miệng ăn mắm ăn muối dễ nói độc lắm!".

Những buổi tối nghỉ học, tiết trời trăng sáng, chúng tôi đứng tự thành cầu trông về Tây, thấy núi Nưa rõ mồn một. Anh Đỗ đi đánh nứa, phải trèo qua đỉnh núi Nưa cao vòi vọi, leo tiếp mấy cái đông (đèo cao) lội mấy cái mau, thế mà cứ như cơm bữa.

Đàn ông Lượng Định vất vả hơn đàn bà. Đàn bà Cầu Nhân đen như hòn than vì hàng ngày họ cũng đi rừng, đi núi, được cái gần hơn. đánh nứa trầu, nứa, tép, bứt dây rọ, lấy củi. Do đó người ta nói: Đàn bà con gái Lượng Định hay làm dáng, thích làm dáng. Nhà nghèo đến mấy cũng đeo khuyên vàng, mặc yếm lụa, váy sồi...ra đường thiên hạ cứ ngỡ con nhà giàu. Tôi thấy chỉ đúng một phần. Còn phần đông không đúng, bởi những người như chị Đỗ, dậy từ gà gáy xay bột, sáng ra tráng bánh, chiều hôm gánh hàng ra chợ mỏi rời tay quạt bánh. Tráng bánh ra, gặp hôm trời mưa không phơi được nắng, bánh thiu, mốc thì chết dở, không khéo đổ cho lợn ăn mà người treo niêu.

Tôi chỉ đến Cổ Định buổi tối. Nghe nói ở đây có đường lên Am Tiên. Hồi trọ học ở nhà bà Thoả, đôi khi thấy bà lên Am Tiên xin thuốc tiên của ông Tiên Nưa. Tôi hỏi: "Tại sao bà không lấy thuốc của ông tiên làng ta cho gần?" Bà lắc đầu cười: "Kể chi xa gần. Có tội thì vái thập phương, không tội đồng hương không mất!"

Tôi cũng biết ít nhiều chuyện ông Tiên làng Cầu và ông Đồng cũng ở làng Cầu. Đặc điểm làng Cầu: Đầu làng ông đồng, cuối làng ông tiên. Nhà ông đồng nghèo. Điện thờ thánh của ông cũng nghèo, bàn thờ trải nứa đánh dập, bát hương nặn bằng đất, trên bờ vách treo tấm vải điều viết một chữ "Thánh" to tướng. Mỗi khi có tín chủ đem lễ đến cầu cúng việc gì, ông lập mảnh vải đỏ, đảo thiên đảo địa một hồi rồi nhảy lên bàn thờ ngồi, tay đấm ngực thùm thụp. Ấy là lúc ông thượng đồng và thánh nhập đồng. Ai cầu xin việc gì ông phán việc ấy. Thường ông cho tàn hương, nước thải, vẽ bùa lên giấy loằng ngoằng, đốt cháy thành than hoà vào bát nước, hoặc cầm nén hương ngoáy ngoáy phía trên bát nước làm phép, bảo tín chủ mang về cho con bệnh uống. Lễ vật nhà giàu xôi gà, nhà nghèo chỉ có trầu rượu, hương vàng.

Nhà ông tiên ở cuối làng Cầu (gần chợ Ngẵn) thì khác hẳn. Ông thờ tiên trên mấy hòn đá đặt dưới gốc cây bồng bồng, thường bảo đó là "Bồng lai tiên cảnh". Lễ vật cúng tiên nhất thiết phải có rượu, "phi tửu bất thành lễ" mà! Có người hiếm con, đến làm lễ cầu tự, ông rót rượu ra uống trước, chén hết xôi gà rồi bảo người ấy đem đến chiếc chiếu mới để ông đổi cho chiếc chiếu cũ của nhà ông, mang về trải ra, hai vợ chồng cùng nằm, ắt sẽ sinh con! Nếu cầu con trai chỉ mất bảy tiền (bảy mươi đồng tiền), cầu con gái chín tiền (chín mươi đồng tiền), vì nam "thất phách", nữ "cửu phách", ta thường nói nôm na đàn ông bảy vía, đàn bà chính vía. Ông giải thích do đàn bà nặng vía hơn đàn ông.

Bà chủ nhà tôi trọ bị ốm, mời ông đến cúng lễ. Ông uống rượu trước rồi mới cúng sau. Cúng xong ông ngậm rượu phun vào người ốm ba lần. Sau đó ông lại bảo: “Trên thượng giới năm nay loạn, có con “thiên cẩu hạ thực”, nó vào nhà nào nhà ấy phải cho nó ăn, ai không cúng nó, nó bắt tội. Ngày mai phải cúng nó một miếng thịt lợn sống, bệnh nhân sẽ không bị quấy rầy nữa!”

Thuốc tiên của ông đơn giản, chỉ là bát nước lã được ông thổi "phù" ba cái liền, tức đã phù phép, ai uống vào cũng "bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ"! Với cách chữa bệnh khác thường ấy, ông tiên làng Cầu nổi danh khắp vùng Nam Thanh Hóa.

Có lần tôi nói chuyện về ông đồng, ông tiên làng Cầu với bố tôi:

-Tại sao thày không ưa ông tiên Cầu Nhân, chỉ đánh bạn với ông Tiên Xa Thư? Các ông ấy đều là tiên cả?

-Ông tiên Cầu Nhân hay nói bạy. Ông tiên Xa Thư nói có chữ nghĩa, điển tích.

-Thế nào là cửu phách với thất phách?

-Liền bà có thêm huyết phách và thai phách để sinh đẻ nên thành cửu phách. Hai phách ni do bậc thánh y dược thêm vào.

Tôi hỏi cụ thể từng phách của cửu phách, bố tôi nói trong sách Nho Đạo đều có cả nhưng ông không nhớ rõ.

-Còn ông đồng làng Cầu thế nào?

Bố tôi cười:

-Bàn thờ của ông ấy treo chữ "Thánh", nhưng bậc thánh gì không rõ. Chẳng qua đồng cốt quàng xiên, tao không tin.

-Thày nói thế là thày báng bổ thần thánh nhà ông ấy, thày không sợ hay sao?

-Tao là Pháp sư phù thuỷ cai quản cả vạn âm binh âm tướng, trên có Phật tổ Như lai chứng giám, dưới có Đại đức thiên tôn phù hộ, tao kinh gì thánh vô danh nhà ông ấy!

Bố tôi tính thích ngao du, chơi thân với ông tiên Xa Thư. Ông này không phù phép chữa bệnh, mà chỉ “bói thơ tiên”. Trong nhà ông lập điện thờ các tiên thánh, tiên sư, ai muốn cầu xin điều gì viết ra trên giấy, bỏ vào phong bì dán kín đặt lên bàn thờ với lễ vật rồi lầm rầm khấn vái, xuýt xoa gì đó, không ai nghe biết. Ông tiên Xa Thư ngồi xếp bằng tròn giữa chiếu trải trước bàn thờ. Trước mặt ông một chiếc mâm đồng, trong lòng mâm đựng đầy gạo và một cái bút Nho bằng gỗ to chừng ngón tay cái. Đầu ông lập khăn đỏ phủ kín cả mặt. Bỗng ông lắc lư đầu và rung rung người. Biết tiên thánh ngài đã nhập đồng, tín chủ quỳ vái lia lịa. Ông tiên Xa Thư quờ tay cầm đúng cái bút gỗ, gạt ngang một cái, mâm gạo thành một mặt phẳng. Ông viết rất nhanh những chữ Nho lên mâm gạo. Bố tôi ngồi chếch bên cạnh đoán chữ, chép lại từng chữ một trên giấy, rồ chép lại thành bài thơ. Ông tiên Xa Thư ban thơ xong, lật tấm khăn điều, miệng khẽ mỉm cười với tân khách chung quanh, coi như không có chuyện gì quan trọng xảy ra. Bố tôi đọc to bài thơ lên, vừa đọc vừa ngâm nga thú vị rồi cắt nghĩa cho tín chủ nghe. Nếu tín chủ không cần cắt nghĩa tại chỗ, thì bài thơ bỏ vào phong bì để họ mang về tự suy ngẫm hoặc nhờ ai đó giảng giải, tùy ý.

Ông tiên Xa Thư học Nho không bằng bố tôi, nhưng ông có tài làm thơ Đường luật và ứng tác rất nhanh. Người ta cho rằng cái tài ấy nhờ tiên thánh ứng nhập mà có. Bởi vì bình thường, ông không hề làm thơ, và những gì khi ông viết lên mâm gạo lúc tiên nhập, sau đó, ông quên hết. Cho nên người ta bảo thơ ông là thơ tiên, thơ tiên cũng là thơ ông và việc xin thơ ông là “bói thơ tiên”.

Bố tôi kể rằng: Một lần, khách đến bói thơ tiên là ông “Cử đom đóm”. Ông này quê Thượng Vạn, Nông Cống, đậu cử nhân Hán học. Ông mang biệt danh “Cử đom đóm” vì bài thi có gặp chữ "khinh húy", đáng lẽ phải bỏ bớt đi một nét, ông lại cứ viết đầy đủ như thường. Ban đêm, các quan khảo chấm bài, thấy một con đom đóm từ ngoài bay vào đậu trên trang giấy và cứ bám chặt lấy nét chữ đúng ra phải bỏ đi. Mọi người nghĩ là thí sinh âm đức tốt nên được âm phù, bèn chấm cho đỗ.

Ông tiên Xa Thư vốn nghe tiếng ông Cử-đom-đóm tài cao học rộng tính lại nghiêm khắc, cũng hơi chờn. Trong khi trò chuyện, ông Cử rất kín đáo, không hé ra chút nào về công việc gia đình nhà mình. Cả anh đầy tớ của ông miệng cũng câm như hến. Ông tiên Xa Thư bàn với bố tôi: “Bác lấy một cái phòng bì bỏ vào ống tay áo, khi thắp hương, bác tìm cách đánh tráo giúp tôi để xem ông Cử cầu xin gì. Xem xong, bác lại tìm cách trả phong thư vào chỗ cũ” (Phong bì để sẵn từng xếp trên bàn thờ tiên, tín chủ phải xin phong bì này mới linh nghiệm. Vì thế, trông bề ngoài các phong bì đều giống nhau). Bố tôi đánh tráo được phong thư, mới biết ông Cử-đom-đóm bị mất con dê đực đầu đàn, cầu xin tiên thánh cho biết đứa bắt trộm dê!

Nhưng sự việc vẫn còn khó khăn: làm sao chỉ ra được kẻ gian? Mà nói sai thì chết với người ta chứ chẳng chơi! Ông tiên Xa Thư vốn thông minh nhanh trí, chợt nhớ ra bên Tàu có chuyện Tô Vũ chăn dê, bèn ngồi đồng và viết lên mâm gạo bài thờ Đường luật tám câu vịnh Tô Vũ. Bố tôi đã quen dựa vào đường nét mà đoán chữ, vừa chép vừa hoàn chỉnh thành một bài thơ (cố nhiên ông Cử không thể hoàn chỉnh trên mâm gạo):

Kìa chàng Tô Vũ bấy nhiêu công,
Há biết cùng ai giãi mối lòng?
Nghĩa đởm chưa tan lò sắt đá,
Tiết mao đành gửi áng non sông.
Cuộc cờ bích động chờ khi hội,
Chén rượu bàn đào hẹn uống chung.
Ơn chúa còn mong ngày báo đáp,
Thương đàn trẻ dại đứng mà trông!

Ông Cử-đom-đóm bảo bố tôi: “Chữ thầy viết tốt lắm! Thầy có giải được bài thơ này không?” Bố tôi lễ phép thưa: “Dạ bẩm, đối với cụ cử, con không dám!” Ông cử-đom-đóm gật đầu: “Để ta về coi lấy cũng được. Hẹn tuần sau, ta sẽ tạ lễ.”

Đúng mười ngày sau, ông Cử-đom-đóm đến tạ lễ thật. Ông tiên Xa Thư và bố tôi cứ lo ngay ngáy, bây giờ thở phào nhẹ nhõm. Thì ra, theo ông cử, bài thơ tiên hay lắm, ngài đã báo tất cả. Hai câu thơ đầu là nói về công lao nuôi đàn dê của ông đã lên tới mấy chục con. Bọn gian bắt trộm dê của ông làm thịt trong hang núi, đốt lửa nướng, còn dấu than củi và mùi thịt dê (Nghĩa đởm chưa tan lò sắt đá). Tiết và da lông chúng chôn ở chân núi kề bờ sông (Tiết mao đành gửi áng non sông). Chúng họp nhau trong hang đá đánh chén (Cuộc cờ bích động chờ khi hội, Chén rượu bàn đào hẹn uống chung). Cầm đầu bọn trộm lại là tên đầy tớ tin cẩn của ông, vẫn nói xoen xoét một ông chủ, hai ông chủ. (Ơn chúa còn mong ngày báo đáp). Vì con dê bị trộm là con dê đực đầu đàn, hàng ngày dẫn đàn dê bơi qua sông vào núi kiếm ăn, chiều tối lại trở về chuồng, nay nó mất đi cả đàn ngơ ngác như gà mất mẹ (Thương đàn trẻ dại đứng mà trông!).

Từ đó, ông Cử-đom-đóm đi đâu, ngồi nói chuyện với ai cũng ca ngợi ông tiên Xa Thư, khiến tiếng ông tiên Xa Thư càng thêm danh tiếng. Nhưng ông càng danh tiếng, khách tới lui càng đông, nhà ông càng nghèo vì thu không đủ bù chi. Nghề bói toán thờ tiên đối với ông là thú vui hơn là mục đích kiếm sống. Sau 1945, ông giải nghệ, chuyển làm giáo viên bình dân học vụ.


Câu chuyện tiên thánh giữa hai bố con diễn ra đã lâu, nay nhớ lại, tôi lại muốn biết ông tiên Nưa thế nào.

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Fri 29 Jul 2022, 08:53

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG 5-d3ba10

Tam quan đền Nưa. Ảnh: Tân Ninh Blog


                 Câu chuyện tiên thánh giữa hai bố con diễn ra đã lâu, nay nhớ lại, tôi lại muốn biết ông tiên Nưa thế nào.

         Tôi và anh Hiển bắt đầu cuộc hành trình từ sáng. Ban ngày tàu bay tàu bò cũng hay hoạt động, nhưng không sợ. Hễ chúng nó đến, chúng tôi nằm rạp xuống sườn núi giả làm hòn đá hoặc nấp sau tảng đá. Lớp học, chợ búa sợ máy bay oanh tạc chỗ đông người, còn dân đánh củi, đánh nứa vẫn rải rác leo núi trèo đèo, đi lại làm ăn như thường.


         Chừng nửa buổi, chúng tôi đã lên đến đỉnh Am Tiên, nhìn bao quát núi ngàn trượng thật hùng vĩ. Riêng chốn Am Tiên thì hoang sơ tiêu sái. Cái Am Tiên nơi tu tiên đắc đạo của ông tiên Nưa chỉ còn mấy tảng đá chỏng chơ. Bàn cờ tiên vẫn còn đó, nhưng quân cờ bị gió mưa quét sạch, để lại những dấu vết không thể xoá mờ trên phiến đá. Giếng tiên trong vắt, nhìn thấu đáy rõ những đồng tiền to nhỏ đè lên nhau. Tiền này tín chủ ném xuống xin nước. Ai không có tiền cũng được, chỉ cần thắp ba nén hương vào bát hương đá, miệng lầm rầm khấn khứa, tay chắp lại vái vái lậy lậy, nói rõ bệnh tật đau ốm thế nào xin tiên ông ngài phù hộ độ trì, rồi ra vườn hái thuốc. Bước chân tín chủ đến đâu hái đến đó, không cần hái nhiều, mỗi cây chỉ cần đôi ba lá, khi cảm thấy đã đủ thì đến giếng tiên, thả chai, lọ buộc dây vào cổ xin nước về hoà với lá thuốc giã nát cho con bệnh uống. Bà Thoả nhà tôi trọ ở làng Cầu đôi khi tôi thấy cũng làm vậy.

         Hôm chúng tôi lên Am Tiên cũng gặp vài người đến đây cầu Tiên xin thuốc. Thì ra Am Tiên là như vậy. Cái giếng Tiên kia, chúng tôi khát nước cũng xin uống được, ngọt và mát, đâu phải huyệt đạo đế vương hay khoa danh, chức tước gì như chuyện tuyên truyền đồn nhảm, nhử mồi câu khách thời nay!

         Chúng tôi được thấy tận mắt vườn cây thuốc tiên, chỉ tiếc quang cảnh có phần xơ xác, tiêu điều vì những kẻ phàm tục quen thói tham lam, vơ lá bẻ cành, lầm tưởng có thể mang về nhà dùng dần!

         Làng Cổ Định có dòng sông Lãng Giang chảy qua giữa làng tạo nên phong cảnh trù phú. Đây là đất học hành, khoa bảng, truyền thống văn  chương mở đầu từ thời Trần, dĩ nhiên không phải do long mạch huyệt đạo Am Tiên dẫn xuống...

         Buổi tối hôm ấy, chúng tôi đi học bình thường. Hôm sau, ngày chủ nhật, tôi về nhà lấy gạo. Gặt mùa mới xong. Mấy sào ruộng cạn thiếu nước vì trời mưa ít nên thóc kém. Tuy vậy, tôi cũng được dăm sáu cân gạo bỏ vào bao vải để hôm sau mang đi. Tôi đến nhà trọ vừa kịp cơm trưa. Anh Đỗ đi núi như thường lệ. Tôi chỉ xách theo được một trái dừa vườn nhà đã vạc bỏ vỏ, để làm quà cho hai đứa trẻ nhỏ.

         Buổi chiều, tôi đang nằm xem sách, nghe tiếng con gái ngoài ngõ: “Mự ơi, anh Phổ trọ ở đây phải không?”

         Bà hàng xóm trả lời: “Anh Phổ về huyện Quảng mới lên, chắc có ở nhà.”

         Tôi vùng dậy, đứng trong bờ phên nứa, hé mắt qua lỗ hổng nhìn ra. Sân nhà chị Đỗ gần tiếp giáp rìa đường làng, con đường đất cát nhỏ hẹp, hai bên trồng hai hàng cây dứa dại, lá vươn dài đầy gai góc toả ra xùm xoà. “À, Vũ!” Tôi thầm reo.

         Vũ đang đứng đầu ngõ, chỉ bước vài bước là vào đến sân, cái sân đất cát pha, không thể nói nó rộng, mà chỉ bằng một phần tư sân nhà Vũ. Vũ mặc áo nhuộm màu nâu tây, may vừa khít thân mình nhỏ nhắn xinh xắn, nổi bật trên chiếc quần vải đen nhánh, trông thật nền nã mà giản dị. Vũ đội nón nhìn nghiêng, không rõ mặt, tay bưng cái rổ, chắc mới đi chợ về hay giờ mới đi? Đáng lẽ tôi phải mừng rỡ chạy ra nhưng lại cứ nấp sau bức rèm thưa, trống ngực hồi hộp kêu thình thịch!

         Vũ đứng yên lặng ở đầu ngõ, tay bứt bứt cái lá dứa dài nhọn vươn ra như trêu chọc em. Thấy tôi không ra đón, cũng chẳng lên tiếng, Vũ đứng tần ngần một lát, nghiêng nón nhìn vào nhà, rồi quay lại bước thẳng! Tôi ra sân nhìn theo bóng Vũ đang mờ dần rồi nhoè đi hướng phía đầu làng...

         Khi bình tĩnh, tôi cũng trở lại, trở lại với chính mình. Vũ là em gái bạn cùng như em gái mình, có gì mà e thẹn? Đó là do cái bản tính nhút nhát của tôi. Tôi đã từng đi với một người con gái hỏi thăm đường về bến đò Sòng mà suốt dọc đường gần 10 cây số từ Cầu Quan về đến làng Bến, tôi không dám hé môi nói một lời nho nhỏ!

         Chưa đầy một tuần, anh Nậu lên nhà bà Thoả nhờ chỉ đường sang nhà chị Đỗ. Anh bảo tôi phải sắp xếp về nhà ngay, tiền gạo thiếu nhiều ít xin khất anh chị Đỗ sẽ trả sau. Tôi giật mình kinh  ngạc, mới tuần trước, tôi về nhà chưa thấy có chuyện gì mà? Tôi lo lắng hỏi anh Nậu. Anh đáp gọn lỏn: “Không biết!”. Chị Đỗ đang tráng bánh dưới bếp, mời hai anh em ở lại ăn cơm rồi hẵng về. Tôi nói: “Phải về ngay chị ạ!”. Chị Đỗ ngừng tay đổ gáo bột đang múc trong chậu: “Anh về, nhà có chuyện chi...tin báo cho bay tôi biết ví!”. Dường như linh tính báo trước, tôi run run, cố nói thành lời: “Vâng. Tôi gửi lời chào tất cả!” Vừa dứt lời, tôi biết ngay mình lỡ lời nói gở. Cứ như lời chia tay vĩnh biệt!

         Chị Đỗ ngửng lên tròn xoe mắt nhìn tôi, đôi mắt đầy ngạc nhiên trên gương mặt trăng trắng dài dài, xương xương. Chị chưa đến tuổi bốn mươi, anh Đỗ gần năm chục. Đường con cái muộn màng, nên anh chị đã xuống nhà tôi một vài lần để “thuốc tra ma cầu”. Anh chị sống với nhau rất hoà thuận, thuỷ chung. Thế mà người ta nói con gái Lượng Định làm dáng, mà làm dáng không khỏi có tính lẳng lơ:

        Trèo lên chót vót sây soài
        Những người làm dáng là người lẳng lơ

        ( Ca dao dân gian)

         Bây  giờ đôi mắt của chị Đỗ ngước lên tròn xoe đầy vẻ ngạc nhiên, tôi thấy phụ nữ Lượng Định giàu tình cảm mà đoan chính như ai. Chúng tôi ra về. Đồ đoàn không có gì nhiều: Dăm quyển sách và một bộ quần áo. Tôi là con một của gia đình “phú nông”, nhưng đời học sinh của tôi, học xa như học gần, chưa bao giờ có nổi ba bộ quần áo, chỉ một bộ mặc trên người, một bộ để thay.

         Chúng tôi ra về đến giữa sân, chị Đỗ còn dặn với theo: “Ở nhà xong việc, anh Phổ nhớ lên sớm nhá!”. Tôi ân hận đã vội nói lời: “Chào tất cả!”, “Chào tất cả!”, cố nhiên là chào mọi người, những người tôi  biết hoặc họ biết tôi. Thực ra, dụng ý tôi là Hiển và Vũ. Thấy tôi chậm lên hay không lên nữa chắc chắn hai anh em sẽ hỏi anh chị Đỗ về tôi.

         Từ  ngày ấy ba chúng tôi bặt tin tức nhau. Nghe nói tất cả những nhà tôi quen biết như bà Thoả, ông Lý Vách, ông Bản Hớn,...trong cách mạng cải cách ruộng đất đều bị qui thành phần địa chủ. Bà Thoả tự thắt cổ vì bị tra khảo của cải, nhưng không thể khai nhận vàng bạc của nhà mình cất giấu ở đâu, cuối cùng đành phải dùng cái chết oan ức để được thoát kiếp trần ai khổ ải! Tôi chợt nhớ câu kệ nhà Phật:

         Ái hà thiên xích lãng,
         Khổ hải vạn trùng ba...
         (Sông tình sâu nghìn trượng
         Biển khổ sóng muôn trùng)


         Gia đình bà Thoả, tôi biết rõ không giàu lắm như người ta tưởng. Ông chồng bà, thường gọi là ông Kiểm Thị, hiền lành như đất, mấy năm được làng bầu làm cái chức Hương kiểm, nhưng “nội hương ấp, ngoại đồng điền” ông biết gì mà kiểm!

         Do cảnh hiếm hoi, ông phải lấy thêm vợ hai, vợ ba. Bà cả không sinh đẻ gì. Bà hai hai đứa. Bà ba ba đứa. Nếp và tẻ đều có cả. Thế là toại nguyện. Gia đình do bà cả làm chủ. Bà hai, bà ba chỉ biết đi làm lụng ngoài đồng. Thói thường, nam hay nữ, cái tính ghen tuông ít nhiều đều có cả. Bà Thoả phải khôn khéo, kiên quyết lắm mới giữ được gia đình mình trong ấm ngoài êm.

         Ông Thoả tối lại bao giờ cũng vào giường bà Cả nằm trước. Bà phải bảo chồng đi lại với bà nào đó, ông mới đi. Bà cố gắng phân chia thật công bằng. Nhưng bà Hai tính đành hanh, cứ muốn giành cho mình, nếu không tất cả cũng phải là phần hơn. Thấy chồng vào với bà Ba, bà chẳng biết làm thế nào, điên tiết múc ngay gáo nước đổ lên đầu bà Ba, bà này phải trở dậy lau đầu hoặc gội tóc, khiến ông mất cả hứng.

         Một lần bà Hai đổ lầm nước lã sang đầu ông, vì ông thường nằm ngoài, bữa ấy thay đổi “chiến thuật”, lại nằm trong. Ông chưa kịp làm gì, bỗng đâu bị dội gáo nước lạnh vào đầu. Ông lập tức lồm cồm bò dậy mách bà Cả. Bà Cả thắp đèn lên, đem con dao cấu, cái thớt gỗ ra, gọi ngay dì Hai, dì Ba lại. Bà lăm lăm con dao trong tay, cố nén tiếng gầm trong cổ họng, chỉ nghiến răng nghiến lợi hỏi: “Còn phải mần răng nữa mới thật là công bằng...?”. Bà túm quần ông kéo lại gần cái thớt: “Ông lại đây, đi lại gần đây, để tôi chặt làm đôi, chia cho mỗi người một nửa!”. Bà sấn sấn sổ sổ, hung ha hung hăng, ai cũng tưởng bà làm thật! Ông Thoả cố túm giữ chặt lấy quần. Dì Hai, dì Ba vội vội vàng vàng ôm lấy cánh tay phải bà Cả đang lăm lăm con dao cấu thường ngày chém nứa chặt củi. Hai dì phải xin mãi bà mới tha cho.


         Câu chuyện có vẻ “tiếu lâm” này chính bà Thoả kể với mẹ tôi, vì mẹ tôi cũng trong cảnh vợ cả, vợ lẽ, dì hai, dì ba, nhưng sau ba năm không con cái, họ đều lần lượt xin về đi lấy chồng khác. Một người ngay thẳng, cứng rắn như bà Thoả, dám tự treo cổ lên xà nhà bởi nhục nhã, đoạ đầy, không có gì đáng ngạc nhiên.

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6406
Registration date : 01/04/2011

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13Mon 01 Aug 2022, 12:26

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG (Hồi ký viết lúc hoàng hôn)

Hoàng Tuấn Phổ



CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Img_1710


                 Có lẽ Hiển và Vũ hết sức bất ngờ khi thấy tôi về quê đột ngột, không một lời chia tay. Đúng! Chính tôi cũng bị bất ngờ, hoàn toàn bất ngờ trước sóng gió cuộc đời nổi lên dữ dội trong bão táp đấu tranh(*).

         Tôi và anh Nậu về đến nhà, mẹ tôi đang nấu cơn trưa. Cảnh nhà vắng vẻ. Bố tôi như thường lệ đi chợ Muôn bán thuốc Đông y từ sáng sớm. Mẹ tôi ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Chả biết có chuyện chi, chó cắn suốt đêm văng vẳng, như có người rình mò đằng sau nhà, còn qua lại dò la trước ngõ. Chú Thuyết đã bị bắt rồi, nghe nói đưa lên huyện...”

         Tôi nói để trấn an mẹ tôi, cũng là để trấn tĩnh lòng mình: “Mặc họ. Mình không làm gì nên tội thì lo chi tội!”. Mẹ tôi lắc đầu: “Nhà ta giàu có chi mô mà mắc tội phú nông, sạch cửa sạch nhà!” Tôi nói lảng: “Con còn ba tháng nữa mới hết niên khoá. Năm học kéo dài vì máy bay máy bò, còn đi vác gạo lên Thọ Xuân, Yên Định...”. Mẹ tôi bảo: “Thày con biểu con phải về nhà vì lo cháy...cháy cái chi nhờ...à, “cháy thành vạ lây”, con ở trên Nông Cống lỡ xảy ra chuyện chi, ở nhà biết mô mà lần”. Tôi im lặng không nói gì, lên võng nằm thở dài.

         Chiều muộn, bố  tôi đi chợ Muôn về, đặt phịch cái gánh có đôi bồ con xuống cửa. Ông lấy ra gói lá chuối, bên trong có mấy lạng thịt bò và một chai ba rượu, rồi tự mình vào bếp đun nấu. Chập choạng tối, bố tôi dọn mâm, lên ngồi giữa giường, trước mặt là cái mâm gỗ (mâm đồng cùng nhiều thứ khác đã bán lấy tiền nộp “thuế khả năng”). Trên mâm có đĩa thịt bò xào, chai ba rượu, món rau thơm không bao giờ thiếu. Bố tôi ngồi xếp bằng tròn, nâng chén rượu uống một ngụm, rồi tay cầm đũa gõ bát cành cạch, gật gù nói: “Con về sớm là phải. Tình hình ở nhà có nhiều...thay đổi lắm!”.

         Hai con chó bắt đầu lên tiếng sủa vang đằng sau nhà. Chừng đã ngấm hơi men, bố tôi tự nói một mình: “Tao không nói thuế nông nghiệp là thuế thất nghiệp! Tao cũng không nói thuế khả năng liền bà mất váy, liền ông không quần! Ai lại dại mồm dại miệng nói càn nói bậy đến rứa!”. Ngừng một lát, ông nói tiếp: “Tao chưa từng thấy cái ba-ra Bàn Thạch mặt ngang mũi dọc ra răng, mà đứa mô tố cáo tao đề nghị thằng Tây ném bom phá hắn đi để nhân dân chết đói!”. Lúc sau, ông lại nói: “Tao có vô hội Phật giáo vì nhà ta bốn đời thờ Phật cứu nhân độ thế, răng lại có chuyện tao làm phản động?”.

         Tiếng chó vẫn sủa văng vẳng. Ông vẫn lè nhè giọng say rượu: “Nói có Phật trời chứng giám, tao mà phản dân hại nước thì chết cả nhà!”

         Mẹ tôi, anh Nậu và tôi đều thức cả. Mãi đến khuya, bố tôi vẫn tiếp tục nói, trở đi trở lại từng ấy câu. Ông nói mãi, như thể để chúng tôi hay mấy con chó nghe. Đêm đã khuya, ba mẹ con mệt mỏi và buồn ngủ lắm rồi!

         Rạng sáng hôm sau, tiếng hai con chó sủa dữ dội. Tôi giật mình tỉnh giấc. Anh Nậu thì thào với mẹ tôi (hai mẹ con thức dạy từ lâu): “Hình như quanh nhà ta có người canh gác. Lúc con đi tiểu thấy ai như ông Từ Nhen cứ lảng vảng qua lại ngõ nhà ta”. Mẹ tôi xua xua bàn tay: “Mặc họ...”.

         Tôi nhìn ra sân, thấy người đứng lố nhố. Bố tôi cũng vừa thức dậy, liền bò khỏi giường. Lập tức có mấy người tiến lại. Hai người túm giữ chặt hai cánh tay ông. Một người đeo súng lục xệ bên hông. Anh ta lấy trong túi ngực ra tờ giấy và đọc to: “Lệnh bắt người!”. Tai tôi ù đi, không còn nghe được nội dung lệnh viết gì. Anh đeo súng lục đọc dứt lời, họ liền mở cuộn dây thừng trói giật cánh khỉ bố tôi lại, ra sức xiết thật chặt! Tiếp theo tờ “Lệnh bắt người” là tờ “Lệnh khám nhà”. Lúc này trời đã sáng rõ. Bao nhiêu sách vở họ lục hết ném tung ra sân. Chữ Nho, chữ Tây, Quốc ngữ, sách in hay chép tay, họ đều lật lật, giở giở xem qua rồi ném dồn lại một nơi. Trong nhà, một nhóm người sục sạo khắp xó xỉnh, móc cả kẽ vách, bươi cả đống tro bếp, nhà trên, nhà dưới, không thiếu chỗ nào. Họ tìm tài liệu bí mật của bọn phản động, nhưng chả thấy gì. Họ tìm lại rất kỹ trong sách vở, cũng không tìm được thứ cần tìm.

         Anh đeo súng lục tuyên bố: “Sách Nho của phong kiến, sách Tây của đế quốc, sách quốc ngữ của phản động, tất cả đều phải đốt cháy ra tro! Chúng ta đánh đổ phong kiến đế quốc, tiêu diệt phản động không được nương nay!”

         Có  nhiều tiếng vỗ tay lộp bộp. Họ dồn tất cả sách vở ra giữa sân, chất cao như đống rơm, đụn rác rồi phóng lửa đốt!

         Mắt tôi nhoà đi! Kho tri thức này mấy đời nhà tôi tích luỹ, phút chốc hoá thành tro bụi. Trong đó có cả tài liệu Mác Ăng ghen - Lê nin của Phân hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác của Liên khu IV!

         Anh công an huyện lấy trong xắc cốt cái cùm bằng sắt, cùm tay bố tôi quặt ra đàng sau. Bố tôi kêu: “Tôi tê liệt cả hai tay rồi! Xin ông nới lỏng cho cái dây trói!” Ông Từ Nhen, ông học trò của bố tôi trước Cách mạng tháng Tám, quát vào mặt người thầy học cũ: “Tội mi đáng tùng xẻo, cùm với trói đã ăn thua gì!”.

         “Giải đi!”. Một người theo lệnh buộc dây thừng vào cổ bố tôi dắt đi. Thì ra ranh giới giữa con người với con vật chỉ ở sợi dây thừng, chỉ cách nhau một sợi dây thừng!

         Mẹ tôi bật khóc, cố nén lại trong cổ họng, chỉ nghe tiếng “ức! ức!”
       
(hết phần I)

                                                                                         HTP/9/2016



           (*) Sáng ngày mùng ba Tết (1995) tôi bảo Tuấn Kiên đưa bố lên Cầu Quan để xem Hội bơi thuyền mới khôi phục. Bởi lễ hội mới khôi phục, lễ không còn lễ, mà hội chưa đúng lề lối xưa, thiếu không khí hội hè. Tôi bảo Tuấn Kiên tiện đường đưa bố thăm lại mấy nơi hồi niên thiếu còn đi học.

           Chạy dọc bên dòng sông Lãng Giang nước đục ngầu, uể oải, lờ đờ trôi, con đường từ Cầu Quan lên chợ Nưa rải đá vẫn như cũ. Qua nhà ông Bản Đức, tôi bảo Tuấn Kiên dừng xe lại. Đây là nơi tôi đã học năm đệ nhị. Cảnh nhà vắng vẻ tiêu điều. Ông Bản Đức đã bị xử bắn năm 1956 cải cách. Cái tội của ông là nhà có quá nhiều ruộng đất, và từ mấy chục mẫu ruộng đã đẻ ra tô tức, tô tức lại đẻ ra nợ máu với nông dân! Nợ máu phải trả bằng máu, có gì lạ!? Chiếc cầu ao bằng gạch chỉ gắn xi măng, bắc xuống ao hẹp, xưa kia chúng tôi thường rửa chân, thế mà đến nay vẫn còn. Nhưng rêu bám và bậc nào cũng nghiêng lệch như sắp đổ xuống ao. Cái nhà dài dằng dặc, mấy hộ bần cố nông được chia “quả thực”, bị lở lói xám ngắt...Tôi bảo với Tuấn Kiên: “Chúng ta đi tiếp!”.

           Xe phóng thẳng một mạch đến đầu làng Lượng Định, vào ngay nhà anh chị Đỗ. Anh chị đã mất lâu, con cháu dĩ nhiên không biết tôi là ai. Tôi vào trong nhà, muốn thắp lên bàn thờ ba nén hương để kính viếng âm hồn anh chị Đỗ. Nhưng bàn thờ lạnh ngắt, hương không có, bát nhang cắm xiêu vẹo mấy chân hương. Tôi đành vái ba vái, cúi đầu làm lễ, khấn nôm vài câu, hy vọng “tâm động quỷ thần tri”.

           Bố con tôi lên cầu Trắng. Thành cầu mới quét vôi trắng toát. Tôi nói: “Đây là nơi năm 1951, bố học trường Cổ Định thường cùng anh bạn thân tối tối cùng nhau ngồi trên bờ thành cầu nói chuyện rất vui...”

           Nhìn phía cánh đồng Nấp Nưa, khoảng giữa đồng nổi lên một lùm cây xanh xanh, tôi hỏi ông lão chăn bò: “Lùm cây xanh xanh giữa đồng kia là gì hả bác?”. Ông trả lời: “Nhà anh Vinh con ông Bản Hớn”. Tôi lại hỏi: “Bác  có biết nhà ông Bản Hớn bây giờ thế nào không?” Ông lão ngạc nhiên: “Anh ở mô mà cũng biết nhà ông Bản Hớn?” Tôi đáp: “À hồi nhỏ tôi có trọ học ở vùng này.” Ông già là người hay chuyện. Ông  kể cho tôi nghe nhiều về chuyện ở làng quê ông.

           Tôi được biết anh Vinh hồi cải cách ruộng đất, đem vợ con chạy trốn một thời gian, đến khi nghe nói chủ trương sửa sai, anh cùng vợ con lại dắt nhau về. Nhưng nhà cửa đã chia cho nông dân, mọi thứ đồ đạc, tài sản đều là “quả thực”. Anh lên gặp UB xã xin nhà ở, họ trả lời: “Đã là quả thực, Đội chia rồi, không thể trả lại. Hơn nữa, chỉ “sửa sai” về tinh thần, không “sửa sai” về vật chất!” Anh Vinh xin nơi cư trú, họ nói: “Tại anh bỏ đi, mắc tội trốn cải cách, không hỏi tội là may phúc!” Anh Vinh nói cứng: “Xã không giải quyết, tôi buộc lòng phải kêu lên huyện!”  Họ “hừ” một tiếng: “Thì anh đi mà kêu huyện!”

Anh Vinh không có chỗ ở, đành che túp lều bằng ni lông ở đầu cầu Trắng cho vợ con trú mưa nắng tạm thời. Chẳng biết xã bàn nhau thế nào, gọi anh Vinh lên cấp cho một cái nhà nát nông dân đã chuyển đến nhà quả thực. Anh từ chối, bỏ lên làm lều ở miếng đất bái hoang rậm kia, nằm giữa ranh giới địa phận đồng Nấp Nưa, phía này thuộc Lượng Định, bên kia của Cổ Định, không bên nào quản lý...

           Tôi rất muốn đến gặp anh Vinh để hỏi thăm tin tức Hiển và Vũ. Nhưng suy đi nghĩ lại thấy có điều bất tiện. Thứ nhất, tôi với anh chỉ biết mà không quen. Riêng tôi, chưa chắc anh đã nhớ tên. Thứ hai, anh ra giữa cánh đồng không mông quạnh kia để ở, khác nào người ẩn cư muốn xa lánh đời, nay mình đến hỏi tin tức em anh, chắc anh không dám nói thật. Thôi, cứ hãy biết như vậy là tạm đủ.

           Hôm nay, ngày mồng ba Tết, ở tuổi 60, tôi mới được trở lại ngồi trên cầu Trắng, sờ lên mái tóc, biết đầu mình cũng đã ngả màu bạc trắng! Nhẩm tính gần 45 năm tôi mới có dịp đứng trên cầu Trắng để ôn lại kỉ niệm bạn bè. Bây giờ hai bạn đang ở đâu? Hiển có chữ nghĩa, hẳn cũng kiếm được công ăn việc làm. Vũ có nhan sắc chắc phải chồng con  tử tế. Lời dân gian thường nói: Con cái như hạt mưa sa, hạt rời gác tía, hạt ra ngoài đường!” Ai biết được lòng trời thế nào? Trong cảnh thất cơ lỡ vận ở nơi đất khách quê người, tôi e rằng...Nhưng trong thâm tâm tôi hằng mong, luôn tin tưởng cả hai anh em đều hạnh phúc, không như tôi....

(Nguồn: Tuấn Công Thư Phòng)
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG   CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG I_icon13

Về Đầu Trang Go down
 
CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 5 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện Sưu tầm :: Hồi ký, tuỳ bút-