Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Today at 20:32

MÃI NHỚ ƠN THẦY by buixuanphuong09 Today at 16:44

Ông Đồ Bể by Trà Mi Today at 10:43

Chiện bấm lỗ tai by Trà Mi Today at 08:14

Chúc Mừng Lưu by mytutru Today at 02:13

TÌNH YÊU CÂY CỎ ĐV 7 by buixuanphuong09 Today at 01:59

Tranh Thơ Viễn Phương by Viễn Phương Today at 00:58

Người Em Gái Da Vàng by Viễn Phương Today at 00:55

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Yesterday at 21:19

HỌC THEO HẠNH PHẬT MỖI NGÀY ĐƯỜNG THƠ VÀ CÁC THỂ THƠ KHÁC by mytutru Yesterday at 20:29

Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân by Phương Nguyên Yesterday at 13:12

Sự Tích Các Loài Hoa by Trà Mi Yesterday at 11:06

Những người thích đùa - Aziz Nesin by Trà Mi Yesterday at 10:39

Sách Hồng-Một chủ trương “Xây Dựng” của Tự Lực Văn Đoàn by Trà Mi Yesterday at 10:26

Nguyễn Thái Học 1902- 1930 (Nhượng Tống) by Ai Hoa Yesterday at 09:21

LỀU THƠ NHẠC by Phương Nguyên Yesterday at 09:20

TÂM SỰ by Ai Hoa Yesterday at 09:01

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Yesterday at 08:13

Nó thế thì đã sao! by buixuanphuong09 Yesterday at 08:08

Bài Giảng Của Sư Toại Khanh Thích Giác Nguyên by mytutru Tue 24 May 2022, 11:00

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê by Trà Mi Tue 24 May 2022, 10:51

Cái Chết Oan Khiên Của Văn Nghệ Sĩ Miền Nam by Trà Mi Tue 24 May 2022, 10:38

Trang họa thơ tỷ Mytutru by buixuanphuong09 Mon 23 May 2022, 10:40

Trang Họa thơ Phương Nguyên 2 by buixuanphuong09 Sun 22 May 2022, 18:02

TRANG ALBUM GIA ĐÌNH KỶ NIỆM CHUYỆN ĐỜI by mytutru Sat 21 May 2022, 23:46

CÂY LÁ THUỐC TUYỆT VỜI (HÓA ĐƯỜNG THI) by mytutru Sat 21 May 2022, 23:31

BỐN CHỮ GHÉT by Phương Nguyên Sat 21 May 2022, 12:15

Trang thơ Quang Dự by quangdu Fri 20 May 2022, 19:42

ĐƯỜNG THƠ MÁI ẤM ĐÀO VIÊN by mytutru Fri 20 May 2022, 17:12

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Fri 20 May 2022, 14:37

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu

Share | 
 

 Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Wed 22 Dec 2021, 13:13

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Chế Lan Viên


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1212



Chế Lan Viên được chính Khái Hưng giới thiệu trên Ngày Nay số 75 (5-9-37) với bài: Một thi sĩ Chàm Chế Lan Viên, với những lời như sau:

Một hôm tôi đọc trong báo Tràng An, một bài phê bình thơ Chế Lan Viên với những đoạn thơ của tác giả trích ở tập “Điêu tàn”.
Tôi rùng mình và cảm động vì tôi thấy ở trong thơ hết cả cái đau đớn, cái thảm sầu, cái ghê sợ của một nòi giống sắp tuyệt diệt, và tự biết mình sắp tuyệt diệt: giống Chiêm Thành.
Tôi tưởng ngay tới vua Chế Bồng Nga, một vua Chàm oanh liệt thời xưa: Hẳn ông Chế Lan Viên thuộc dòng dõi vua ấy.


Khái Hưng cho biết thêm: Những bài thơ của Chế Lan Viên ông nhận được đã lâu nhưng không đăng, chỉ khi tác giả viết thư cho biết, là tập thơ sắp in chứ chưa in, ông bèn cho đăng liền một lúc bốn bài: Hai đêm sầu não, Cái sọ người, Mơ trăngXương vỡ, máu trào….

Và trong hai số kế tiếp, hai bài nữa: Xuân về, số 76 (12-9-37) và Trên đường về, số 77 (19-9-37). Rồi ngừng.

Bốn bài thơ được giới thiệu trên Ngày Nay số 75, bài nào cũng có đoạn rất rùng rợn:

Vẳng đâu đây rùng rợn dưới trăng mờ
Tiếng xương người mạnh va sườn quách gỗ
Rùng rợn như tiếng vỡ sọ dừa ta
(Hai đêm sầu não)

Này chiếc sọ người kia mi hỡi!
Dưới làn xương mỏnh mảnh của đầu mi
Mi nhớ gì tưởng gì trong đêm tối?
Mi trông mong ao ước những điều chi?
(Cái sọ người)

Ai đổi đầu lâu trong nấm mộ
Tiếng khua vang rạn khớp đầu ta?
Có ai rên rỉ nơi thôn lạnh
Như tiếng xương người rên rỉ khô?
(Mơ trăng)

Ta sẽ cắn lưỡi ta cho rỏ huyết
Phun lên nền xương trắng rợn hơi ma
Để thức tỉnh bao giác quan tê liệt
Sẽ truyền cho sức điện của hồn ta
(Xương vỡ, máu trào)

Chỉ rặt đầu lâu và xương người, vậy mà không biết sao có thể làm cho Khái Hưng “rùng mình và cảm động thấy hết cả cái đau đớn, cái thảm sầu, cái ghê sợ của một nòi giống sắp tuyệt diệt”. Kỳ thật. Rồi Hoài Thanh cũng rập theo Khái Hưng, khen lấy khen để.

Cả sự đang đăng, tự dưng dừng, cũng kỳ.

Hoàng Diệp giải thích:

Hồi đó nhóm Tự Lực Văn Đoàn rất cẩn thận đến nghiêm khắc trong việc chọn các bài thơ, truyện để đăng trên tuần san Ngày Nay. Quyền ưu tiên hình như thuộc về đoàn viên trong nhóm. Nhiều độc giả của Ngày Nay rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy Khái Hưng giới thiệu thơ Chế Lan Viên một cách rất đầy đủ. Về sau, chúng tôi mới biết lý do. Khái Hưng đã lầm tưởng Chế Lan Viên là một người dòng dõi Chàm thật, có bà con hoặc liên hệ với Chế Bồng Nga vì Lan Viên quê quán ở thành Bình Định[11], thuộc phần đất của người Chàm thời trước. Mãi đến khi Khái Hưng biết chắc chắn Chế Lan Viên là một thi sĩ Việt mang bút hiệu người Chàm, thì trên tuần san Ngày Nay, người ta không thấy xuất hiện một dòng chữ nào nói về thi ca của Chế Lan Viên nữa“.[12]

Việc này đúng vì Khái Hưng và Thạch Lam đều tuyệt đối chú ý đến sự thành thật của nhà văn. Khái Hưng viết: “Thành thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn” (Tựa Gió đầu mùa của Thạch Lam). Thạch Lam viết trong Theo giòng: “Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực, không bao giờ trở nên môt nhà văn giá trị (…) Một đôi khi người khác có thể nhầm được, nhưng chính ta, ta không bao giờ nhầm cả. Và không có gì đáng bỉ cho một nhà văn hơn là mình tự dối mình”.


Hàn Mặc Tử


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1213



Ngày Nay số 24 (6-9-36) đăng bài thơ Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử in nhầm tên là Hàn-Mạc-Nữ. Một bài thơ duy nhất. Rồi thôi.

Hàn Mặc Tử là trung tâm của bất hạnh, như ta đã biết.

Nhưng tại sao Ngày Nay có trách nhiệm vào bi kịch này?

Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan, thường dựa vào sự đánh giá của Tự Lực Văn Đoàn, để định vị các nhà văn, nhà thơ. Hàn Mặc Tử ngày ấy, là một vì sao khuất. Hàn không được Tự Lực Văn Đoàn in thơ (một bài Bẽn lẽn, in nhầm thành tên con gái Hàn-Mạc-Nữ) không ai chú ý.

Hàn không được giải thơ Tự Lực Văn Đoàn. Tập Gái quê, in năm 1936 là một khai phá với những bài thơ mới lạ về ý cũng như về lời như: Nụ cười, Tình quê, Bẽn lẽn, Uống trăng… nhưng vẫn bị Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đánh giá rất thấp. Tập thơ sau, Đau Thương có thân phận như tên gọi của nó, sẽ bị người ta đánh mất.

Nay ta có thể chắc chắn rằng: vì Hàn Mặc Tử không được Tự Lực Văn Đoàn giới thiệu, nên bị hai nhà phê bình lớn coi thường, Vũ Ngọc Phan viết:

“Cũng như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ luôn luôn ca ngợi ái tình, nhưng cái quan niệm về tình yêu của của Hàn Mạc Tử không được thanh cao như của Thế Lữ. Cái tình yêu của Hàn Mặc Tử tuy diễn ra trong tập Gái quê còn ngập ngừng… nhưng đã bắt đầu nghiêng về xác thịt:

…Ống quần vo xắn lên đầu gối,
Da thịt trời ơi! trắng rợn mình….
(…)

Đến bài Hát giã gạo (Gái Quê, trang 31) của ông thì lời suồng sã quá, thứ tình yêu ở đây đặc vật chất, làm cho người ta phải lợm giọng”[13]

Chẳng biết trong bài Hát giã gạo, Hàn Mặc Tử viết gì mà bị họ Vũ chê là “lợm giọng”, đến nỗi trong các bản in sau, bài này bị xoá sổ.

Còn Hoài Thanh xếp Hàn Mặc Tử đứng áp chót trong tuyển tập Thi Nhân Việt Nam. Thế Lữ đứng đầu, dĩ nhiên. Hoài Thanh phê Gái quê như sau:

“Gái quê- Nhiều bài có thể là của ai cũng được” Tức là xoàng. “Còn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị” Tức vẫn xoàng. “Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi”[14] Tức là đồi trụy.

Tóm lại cả hai nhà phê bình lớn đều dị ứng với thơ Hàn Mặc Tử.

Sau tập Gái quê, Hàn muốn in Đau thương, tác phẩm chính của Hàn. Hoàng Diệp, một trong những người bạn thân của thi sĩ, thuộc nhóm Trường Thơ Loạn ở Quy Nhơn, kể lại:

“Thi phẩm Gái quê xuất bản năm 1936.

Suốt ba năm kế tiếp 1937, 1938 và 1939, ngoài sự sáng tác Hàn Mặc Tử phải mất nhiều thì giờ trong việc kiếm tìm lại tất cả những bài thơ chàng làm, để chuẩn bị việc ấn hành. Chàng viết thơ đến các ấn quán, các nhà xuất bản trong nước, mặc cả và nêu lên những điều kiện in sách (…)

Chế Lan Viên và tôi xuất bản các tập Điêu Tàn và Xác Thu
[15] trong những điều kiện kinh tế thật ngặt nghèo. Do đó, chúng ta cũng có thể biết được tình trạng gia cảnh của Hàn Mặc Tử lúc bấy giờ ra sao.

Hàn Mặc Tử hoàn toàn thất vọng trong công việc in thơ chàng. Cuối cùng Thế Lữ xuất hiện và hứa giúp chàng hoàn thành việc ấy. Thế Lữ là một thi sĩ có danh vọng bậc nhất, thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn ở Hà Nội (…) Hơn nữa, thơ Hàn Mặc Tử (bài Bẽn lẽn) đã được chọn đăng trên báo Ngày Nay (…) Sau nhiều ngày theo dõi, thúc giục, Hàn Mặc Tử nhận được tin đầy tang tóc kết thúc công việc in thơ chàng. Thế Lữ vừa cho chàng biết rằng trên một chuyến tàu xuôi về Hải Phòng, tập thơ của chàng đã bị bỏ quên và không tìm lại được nữa”.
[16]

Việc bỏ quên bản thảo của người nhờ mình in thơ, phải hiểu như thế nào? Lúc đó chưa có photocopie. Nhưng thôi, chuyện đã qua rồi.

Hàn Mặc Tử mất tại Tuy Hòa ngày 11-11-1940. 28 tuổi.

Trong một thư gửi cho Bích Khê, lúc ấy đang bị lao nặng, Hàn viết:

“Bích Khê ơi! Bao giờ thì chết. Tôi cũng đang chết đây nhưng vẫn thản nhiên lắm. Tôi mong anh sống đã, sống để đọc tập thơ Đau thương của tôi trước khi chết”. Thư viết 1938. Nhưng 1940 thì Tử không còn.”[17]

Vậy năm 1938, Hàn vẫn còn hy vọng Thế Lữ sẽ in Đau thương cho ông.

Nhiều bài thơ Hàn tặng cho người bán quán trong bệnh viện cùi Qui Hòa, hay cho Hàn uống trà ăn kẹo. Khi Trần Thanh Mại đi tìm tài liệu, mới hay, sau khi Hàn chết, người ấy đem thơ ra gói kẹo, một số tờ khác phải nhặt ra từ thùng xia.

Trần Thanh Mại, dùng tư liệu của Trần Thanh Địch (em ông) và Trần Tái Phùng (cháu ông) cả hai đều là bạn thân của Hàn, viết cuốn sách đầu tiên về Hàn Mặc Tử. Quách Tấn, người đã giúp đỡ tiền bạc để Hàn chữa bệnh, sau khi Hàn mất, được gia đình giao phó việc in thơ.

Sách Trần Thanh Mại ra đời tháng 2 năm 1942. Quách Tấn kiện. Vụ kiện xẩy ra ở Huế, do Nguyễn Tiến Lãng, Phủ doãn Thừa Thiên, xử. Nguyễn Tiến Lãng dàn xếp khéo léo, mọi việc êm đẹp.

Nhưng Quách Tấn đã không làm được việc in thơ Hàn Mặc Tử. Khi chiến tranh xẩy ra, ông đánh mất hết toàn bộ bút tích bản thảo của Hàn. Nhờ tác phẩm của Trần Thanh Mại, mà những phần hay nhất trong thơ Hàn được phổ biến từ 1942.

Năm 1942, có Tập Thơ Hàn Mạc Tử do Quách Tấn và Chế Lan Viên sưu tập, Đông Phương xuất bản tại Sài Gòn. 1959 Tân Việt tái bản, nhưng vẫn còn thiếu nhiều.

Năm 1987, nhờ chế độ đổi mới, Chế Lan Viên sưu tập lại và viết bài tựa cho Tuyển tập Hàn Mạc Tử, (nxb Văn học Hà Nội). Tuyển tập này đầy đủ hơn những tập thơ trước, gồm một số thơ Đường luật, và trích các tập thơ Gái quê, Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Chơi giữa mùa trăng. Nên có thể nói Chế Lan Viên là người đã có công lớn trong việc sưu tầm và giới thiệu thơ Hàn Mặc Tử, nhất là ông đã ghi lại được hai câu tuyệt bút của Hàn, làm từ khi chưa bị bệnh, không tìm thấy ở đâu:

Mở cửa nhìn trăng trăng tái mặt
Khép phòng đốt nến, nến rơi châu


Hàn Mặc Tử là một trong những người đầu tiên bước vào thơ mới, nhưng ta không thể gọi thơ Hàn là thơ mới, mà thơ Hàn là thơ, đơn giản là thơ, chỉ là thơ.

Ngày 11-10-1931, trên Thực Nghiệp Dân Báo có in ba bài thơ Đường luật, tựa đề : Chùa hoang, Gái ở chùaThức khuya, ký tên P.T (Quy Nhơn), đã báo hiệu một phong cách thơ hoàn toàn mới, với hai yếu tố chính: nhục cảm và thân xác, gần như cấm kỵ thời ấy.

Chùa không sư tụng cảnh buồn teo
Xác Phật còn đây, chuỗi phật đâu ?
(Chùa hoang)

Hai câu thơ này gây sốc: Chùa hoang, chùa không sư, gợi sự hoang vu, hoang đàng, tội lỗi. Bài thơ tả cảnh chùa như một lầu xanh vắng khách. Xác Phật gợi án mạng, một sự phạm thượng ghê gớm. (Tuyển tập sửa thành Cốt Phật, người sửa thật chẳng hiểu gì!)

Bài Thức khuya (tuyển tập đổi tên thành Đêm không ngủ, chả biết ai sửa mà dở thế, chắc Quách Tấn, vì thơ Quách Tấn cổ mà không hay), có hai câu bất hủ:

Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn


Hai câu tiêu biểu cho cách dùng chữ trong thơ Hàn (tuyển tập sửa rờ rẫm thành sờ sẫm, vẫn sửa dở hơn: rờ rẫm có độ gồ ghề, sexy hơn sờ sẫm).

Hàn tả cảnh: trăng leo song vào rờ rẫm gối. Gió lọt vào cửa cọ mài chăn. Đủ bộ: gió, trăng, chăn, gối, rờ rẫm, cọ mài. Chỉ với tám chữ, Hàn đã để lộ trái cấm trong thơ qua hai câu tuyệt bút xác định quan niệm nhục thể chưa từng có trong thơ Việt.

Bài Bẽn lẽn, in trên Ngày Nay số 24 (6-9-36), càng lộ rõ hơn:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi!
Trong khóm vi lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe…
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm…
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em
(Bẽn lẽn).

Sự cám dỗ xác thịt, lần đầu tiên được lột trần, nằm khoả thân trong thơ. Thơ của một người hình như vẫn còn trinh nguyên đến chết, vì người ấy viết: Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?

Và người ấy cũng là nhà thơ lớn nhất vượt lên trên tất cả các bạn đồng hành, vì không ai xử dụng tiếng Việt như Hàn, không ai đi đến tận cùng mọi ngả đau-thương-chữ, cho đến giây phút cuối như Hàn:

Máu đã khô rồi thơ cũng khô
Tình ta chết yểu tự bao giờ
Từ nay trong gió – trong mây gió
Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ
(Trút linh hồn).

Thơ Hàn Mặc Tử không thể vài dòng mà nói hết được.

Bài này mục đích nêu lên cái công của Tự Lực Văn Đoàn trong việc giới thiệu và phổ biến thơ mới. Nhưng đồng thời cũng muốn nói rằng Tự Lực Văn Đoàn sẽ phải gánh chịu cái “tội” của mình. Ở đây là tội vô tình đối với [Hàn Mạc Tử]–một tài năng lớn của thi ca, dù chỉ do một thành viên vi phạm.


(Còn tiếp)

Thụy Khuê

_________________________________

[1] Con người vơ vẩn Tặng Trần Bình Lộc, PH số 31, 24-1-33; Lựa tiếng đàn, số 37, 10-3-33; Người phóng đãng, số 42, 14-4-33; Tiếng chuông chùa, số 44, 28-4-33; Trước cảnh cao rộng, số 54, 7-7-33; Hồ xuân và thiếu nữ, số 55, 14-7-33; Hoài Xuân, số 57, 28-7-33; Miả mai, số 59, 11-8-33; Tiếng trúc tuyệt vời, số 69, 20-10-33; Mộng ảnh, số 70, 27-10-33; Tình bâng khuâng, số 73, 17-11-33; Nhan sắc, số 76, 8-12-33; Tiếng gọi bên sông, số 77, 15-12-33; Bông hoa rừng, số 79, 29-12-33; Mấy vần thơ ngây, số 81, 12-1-34; Hổ nhớ rừng, số 95, 27-4-34; Bóng mây buồn I, II, III, số 100, 1-6-34, 101, 102; Một giấc mơ dữ dội, số 103, 22-6-34. Bên sông đưa khách, số 112, 24-8-34.

[2] Theo bản Phong Hóa, sau này in thành sách sẽ sửa lại là: Trong giây phút lạnh lùng tê tái ấy. Hay hơn.

[3] Đứa trẻ ăn mày (PH số 50, 9-6-33), Cô hàng bán lá sim (PH số 98, 18-5-34), Chiêu Quân (số 105, 6-7-34), Lòng thương (số 108, 26-7-34) Thân tàn ma dại (số 111, 18-8-34), Ngày khai trường (số 114, 7-9-34) và Tiếng hát ru (số 115, 14-9-34).

[4] Quần lá tọa là quần thắt bằng dây ngoài để cạp xòe xuống.

[5] Hôm nay ngày khai trường / Ngoài phố vui như hội / Rộn rã trên vệ đường / Tiếng guốc giày inh ỏi … (PH số 114, 7-9-34).

[6] Sống (PH số 62, 1-9-33), Vọng hương ca (số 63, 8-9-33), Cùng mặt trời (số 65, 22-9-33) Nguyễn DuRạng đông rồi (số 66, 29-9-33), Ngày xuân (số 96, 4-5-34), Tiếng rừng (số 106, 13-7-34), Tiếng hát buổi chiều (số 107, 20-7-34) Tiếng họa mi ca (số 120, 19-10-34), Chiều hôm qua (số 121, 26-10-34) Nhớ không (số 124, 16-11-34).

[7] Với bàn tay ấy (PH số 158, 18-10-35), Nụ cười xuân (PH số 182, 10-4-36) và Vì sao (PH số 185, 1-5-36).

[8] Hoàng Trung Thông, trong Lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu I; thơ, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1986, trang 17.

[9] Những bài thơ đầu của Huy Cận trên Ngày Nay: Chiều xưa, Ngày Nay số 96, (30- 1-38), Chiều xuân, số 102 (20-3-38), Họa điệu, số 107 (24-4-38), Đẹp xưa, số 120 (24-7-38), Trông lên, số 121 (31-7-38), Tắm giòng người, số 122 (7-8-38) Nhớ hờ, số 123 (14-8-38), Lời dịu, số 124 (21-8-38); Đi giữa đường thơm, số 127 (11-9-38), Hối hận số 36 (12-11-38).

[10] Đạc: lục lạc nơi cổ ngựa, chú thích của tác giả.

[11] Thành Bình Định là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định lúc bấy giờ ở cách Quy Nhơn 18 cây số, về phiá Bắc.

[12] Hoàng Diệp, Vụ kiện trích thơ Hàn Mặc Tử trong cuốn Hàn Mặc Tử của Hoàng Diệp, nhà sách Khai Trí xuất bàn, Sài Gòn, không đề năm, in lại trong Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay, Vương Trí Nhàn biên soạn, Nxb Hội Nhà Văn, 1996, trang 485-499

[13] Nhà Văn hiện đại, trang 762-763.

[14] Thi nhân Việt Nam, trang 205-206.

[15] Xác thu của Hoàng Diệp do Hàn Mặc Tử viết tựa.

[16] Hoàng Diệp, Vụ kiện trích thơ Hàn Mặc Tử trong cuốn Hàn Mặc Tử của Hoàng Diệp, nhà sách Khai Trí xuất bàn, Sài Gòn, không đề năm, in lại trong Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay, Vương Trí Nhàn biên soạn, Nxb Hội Nhà Văn, 1996, trang 485-499.

[17] Theo Lời giới thiệu của Chế Lan Viên, tuyển tập Hàn Mặc Tử, nxb Văn Học, Hà Nội, 1987, trang 15.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Thu 06 Jan 2022, 08:58

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1214


Khái Hưng xây dựng truyện ngắn hiện đại

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học. Nhưng tiến trình ấy đã diễn ra như thế nào? Ai trong Văn Đoàn là người chủ động? Khảo sát sự hình thành truyện ngắn và tiểu thuyết trên Phong Hóa Ngày Nay, chúng ta sẽ tìm được câu trả lời.

Có thể nói rằng: Phong Hóa là đất thực nghiệm, Ngày Nay là nơi dấn thân, và hệ thống truyện ngắn và tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn được dựng nên từ hai nền móng ấy.

Đại cương

Trong hai năm đầu 1933-1934, Hoàng Đạo và Thế Lữ chưa có đóng góp quan trọng về tiểu thuyết và truyện ngắn trên Phong Hóa, còn Thạch Lam viết phóng sự văn chương.

Hoàng Đạo, trong thời kỳ này, viết 3 truyện ngắn: Nùng Chi Lan, Bông hoa thủy tiênCánh buồm trắng[1]. Đáng giá nhất là Bông hoa thủy tiên và loạt Tuồng Cổ Tân Thời[2] mà chúng tôi đã giới thiệu trong chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam.

Thế Lữ là nhà văn có tay nghề, nhưng sau tuyệt tác Vàng và máu, đăng trên Ngọ Báo, ông không có tác phẩm nào nổi bật. Chín truyện ngắn: Thây ma xuống gác, Con châu chấu ma, Cô Bụt, Giòng máu đứt quãng, Cái ví da đen, Hai lần chết, Cái xác đuổi người, Bên đường Thiên Lôi[3], đăng trên Phong Hóa trong khoảng 1933-1934, không có gì đặc sắc. Để tạo không khí ghê sợ, Thế Lữ hay dùng câu chữ, chi tiết rùng rợn, đưa đầu lâu, xác chết và ma vào, rồi tìm cách giải thích một cách “khoa học”, nên truyện của ông thường giả tạo, khó tin. Ông nổi tiếng về trinh thám, nhưng trinh thám thuộc địa hạt giải trí. Về mặt truyện ngắn, Thế Lữ không chịu tìm hiểu kỹ về con người, mà thường chú ý đến động tác bề ngoài, nên truyện ngắn của ông ít khi để lại ấn tượng sâu xa trong lòng độc giả. Cho nên, Thế Lữ không có vai trò quan trọng trong truyện ngắn trên Phong Hóa Ngày Nay, mặc dù ông viết đều đặn.

Thạch Lam là một cây bút quan trọng về truyện ngắn, nhưng phải đến Phong Hóa số 63 (8-9-33), mới có truyện ngắn đầu tiên Một cảnh quê, ký Việt Sinh, chưa có gì đặc biệt. Một năm sau mới có bài tùy bút Sóng lam cát trắng ký Thạch Lam (PH 109, 3-10-34) và tới PH 117 (28-9-34) lần đầu tiên có truyện ngắn Cung Hằng lạnh lẽo ký bút hiệu Thạch Lam. Nhưng những sáng tác này chưa có gì nổi trội. Trong thời kỳ Phong Hóa, Thạch Lam, dưới bút hiệu Việt Sinh đã tạo ra thể loại phóng sự văn chương, và phải đến Ngày Nay số 7 (9-4-35) Thạch Lam mới viết Đói, truyện ngắn hay đầu tiên, chúng tôi sẽ đề cập đến phóng sự và truyện ngắn của Thạch Lam trong phần viết về Ngày Nay.

Truyện ngắn Nhất Linh

Về hành trình tìm kiếm của Nhất Linh, tôi đã viết khá rõ trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, ở đây chỉ xin nhắc lại: Nhất Linh trong thời kỳ đầu của Phong Hóa viết 4 truyện trinh thám, ký tên Ngô Tâm Tư: Giết chồng… báo thù chồng, Tiếng chó sủa, Cái hoa chanh, Tiếng gọi cõi âm[4]. Rồi ngừng. Từ PH số 24 (2-12-32) đến số 62(1-9-33), ông viết 13 truyện ngắn, ký tên Bảo Sơn: Con hai bố, Vết máu, Nước chảy đôi giòng, Cô áo tím, Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng), Ngọc có vết, Hồn hoa, Bóng người trên sương mù, Gái vùng Lim, Nắng mới trong rừng xuân, Đầu đường só chợ, Tháng ngày qua, Ngày thu[5].

Sau đó ông ngừng sáu tháng để viết chung hai tiểu thuyết với Khái Hưng: Gánh hàng hoaĐời mưa gió[6] rồi viết thêm 4 truyện ngắn ký tên Nhất Linh: Thế rồi một buổi chiều, Cô hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh), Nắng thuLan rừng[7].

Trên Ngày Nay, Nhất Linh viết 7 truyện ngắn nữa:

Nghèo, Hai buổi chiều vàng, Tối tăm, số 23, (30-8-36), Chết dở, Hai chị em, Vết thương, Con đường quê[8]

Để giải thích qua cách viết của Bảo Sơn trong những truyện ngắn trên đây, tôi xin lấy thí dụ Bóng người trên sương mù.

Bóng người trên sương mù là một truyện ngắn hay, được Bảo Sơn bắt đầu như sau:

   Ở ngoài đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Đỗ Thạch, một người bạn cũ, tình cờ gặp nhau vì đi một chuyến xe lửa. Mười năm trước, bạn tôi còn là người cầm lái xe hỏa, cũng hàn vi như tôi, mà bây giờ lại gặp nhau trong toa hạng nhì, nên hai người càng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.

   Lúc nói chuyện, tôi thấy bên cạnh bạn có một cái hộp khảm rất đẹp, liền cầm lấy xem…


Ta thấy Bảo Sơn chưa bỏ được kiểu kể chuyện và giới thiệu nhân vật theo lối cổ điển. Nếu đoạn này viết trực tiếp theo lối mới, lối hư cấu, sẽ ngắn gọn hơn nhiều: “Trời đêm tối như mực, trong toa hạng nhì, Đỗ Thạch ngồi cạnh một cái hộp khảm…” không còn những giải thích dài dòng của nhân vật xưng tôi, người kể chuyện. Phải tới Thế rồi một buổi chiều, Nhất Linh mới dứt hẳn được lối kể chuyện này.

Khuynh hướng xã hội tả chân cũng được Nhất Linh thử nghiệm nhưng chưa thành công, thí dụ truyện Đầu đường só chợ:

Đầu đường só chợ (PH số 51, 16-6-33) viết theo lối hiện thực xã hội, bắt đầu như sau:

   Đầu đường só chợ!

   Từ năm thầy tôi mất, anh chị tôi rời bỏ chốn quê nhà đi tha phương cầu thực, đến ở một túp nhà tranh ở ngay đầu chợ C… Bắt đầu từ đó, tôi bỏ cái đời cũ là cái đời một cậu con quan ăn sung mặc sướng mà bước chân vào một cuộc đời riêng mới cho tôi: tôi gọi là cái đời đầu đường só chợ. Năm ấy tôi mới 13 tuổi.


Lời mở đầu trên đây cho thấy sự vụng về của tác giả: Ông không biết rằng khi một ông quan mất đi, gia đình vẫn được hưởng một số ruộng đất và giữ nhà riêng để ở, tuy có nghèo đi vì không được lĩnh lương nữa, nhưng nếu chịu khó làm việc, cấy cấy ruộng vườn, thì không ai phải đi “tha phương cầu thực” hoặc ra ở túp nhà tranh đầu chợ cả. Sau đó ông lại đưa ra một nhận xét chủ quan “Thật là một cái xã hôi xấu xa, mà xấu xa vì nghèo khổ quá”, trước khi trình bày nhân vật chị Hiên, quá nghèo phải ăn cắp gà và tấm lòng tốt của cậu bé 13 tuổi đối với người đàn bà cùng khổ ấy, đều là những chi tiết giả tạo. Sau đó Nhất Linh viết thêm một truyện nữa là Nghèo trên Ngày Nay số 17 (19-7-36) về một gia đình rất giầu, sau bị khánh kiệt, anh chồng phải đi làm thợ sửa xe, cũng không tự nhiên. Cùng đề tài: gia đình con quan sau bị sa sút, Khái Hưng trong Hai cảnh trụy lạc, viết hay và chính xác hơn nhiều. Truyện ngắn Tối tăm trên Ngày Nay số 23 (30-8-36), viết về tình cảnh chị Dậu, người đàn bà nhà quê dốt nát bị chết oan trong cảnh tối tăm vô học, cũng vậy.

Thế rồi một buổi chiều là một trong những truyện ngắn hay nhất của Nhất Linh, tôi đã giới thiệu trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, có mấy đặc điểm sau đây:

Đánh dấu việc Nhất Linh thoát khỏi lối viết cũ (bỏ cổ điển để bước vào hiện đại). Tác phẩm bắt đầu như sau:

   Lê Dũng rảo bước trên con đường làng.

   Ban trưa, đường vắng, tiếng gió thổi kẽo kẹt trong những rặng tre già lẫn với một vài tiếng gà gáy xa xa đưa lại và tiếng trong trẻo của mấy đứa trẻ nô đùa dưới ánh nắng ấm áp. Dũng cắm đầu bước liều, tuy chàng vẫn biết rằng lần này khó lòng mà thoát được: từ nửa đêm đến giờ chàng đã chồn chân, đi hết làng này sang làng khác, nhưng không có một nơi nào để chàng tạm ẩn.


Nhất Linh đã bỏ được cái tôi kể chuyện trong Bóng người trên sường mùĐầu đường só chợ.

Nhất Linh đã tạo được một không khí hiện thực lãng mạn riêng: tình yêu thầm kín dưới mái chùa, với những nhận xét tế vi, văn phong tuyệt đẹp, thơ mộng và giản dị.

Nhất Linh đã cấu tạo Dũng: sẽ là nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông, trở thành mẫu người lý tưởng cho thanh niên thời bấy giờ: Dũng theo cách mạng, bị lùng bắt, chạy về một làng quê yên bình thơ mộng; trên bước đường cùng, dừng lại ở cửa thiền, chàng được ni cô giấu vào gác khánh sau chùa. Một mối tình câm nở giữa hai người.

Tất cả những yếu tính trong truyện Nhất Linh hầu như đã hiện rõ trong tác phẩm này: Ông dùng chính mình để tạo nên Dũng, và ông đã thành công, bởi vì không có sự thực nào hiển nhiên bằng cách dùng nội tâm của mình để diễn tả ý nghĩ của nhận vật. Tác phẩm cũng xác định lần đầu tiên phong cách Nhất Linh: hướng nội.

Nắng thu ra sau nhưng nghệ thuật thua kém Thế rồi một buổi chiều, viết về cuộc tình giữa Phong và Trâm, một cô gái câm, mồ côi. Trâm đẹp, nết na nên bị mọi người trong gia đình mẹ nuôi ganh ghét, muốn đuổi đi. Phong yêu Trâm, dạy Trâm chữ quốc ngữ, biết rõ nỗi khổ của Trâm, vậy mà chỉ cần vài lời dèm pha của Viễn (anh nuôi, đã có vợ, mê Trâm, dùng bạo lực chiếm đoạt nhưng bị cự tuyệt) và bà mẹ nuôi độc ác, buộc tội nàng chửa hoang, là Phong tin ngay. Đã câm, làm sao biện hộ? Bao thư nàng viết để giảng giải nỗi oan, Phong đều không thèm đọc, xé đi… Nắng thu văn phong thực vững vàng, nhưng chi tiết giả tạo, vô lý, đọc rất bực mình: Tại sao Phong lại có phản ứng dã man hơn bọn gia đình mẹ nuôi tàn ác? Phong không một lần tìm hiểu nỗi oan của người yêu? Đến cái kết có hậu: Viễn bị bệnh nặng, trước khi chết, thú tội với Phong, nên Phong đi tìm Trâm: châu về hiệp phố. Lại càng giả tạo nữa.

Tóm lại, về truyện ngắn, Nhất Linh viết không nhiều, nổi trội trong đề tài tình yêu lãng mạn, như Thế rồi một buổi chiều, Lan rừng, Hai buổi chiều vàng, Câu chuyện mơ trong giấc mộng… và vài truyện ngắn hay như Cái tẩy, Vết thương, chiếu vào nội tâm nhân vật, đều được in lại trong tập Hai buổi chiều vàng.

Riêng loại hiện thực xã hội nghèo khổ, ông không thành công. Phải đến cuối đời, trong trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, được cấu trúc như những truyện ngắn ghép lại, ông mới đạt tuyệt đích: mô tả xóm Cầu Mới với những gia đình nghèo ở quê hương ông, và ông đã khắc họa được những chân dung hiện thực tuyệt bút. Còn trong thời kỳ Phong Hóa Ngày Nay, những truyện ngắn hay nhất của ông đều thuộc khuynh hướng tình cảm lãng mạn.

Lực viết của Khái Hưng

Trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, tôi đã nói qua về nghệ thuật Khái Hưng trong hai truyện ngắn đầu mà nhân vật chính là người Nhật: Kong-Ko Đai-Jin và Ada Kwaben, in trên PH số 14 (22-9-32) và PH số 19 (27-10-32). Và dưới đây ta cũng sẽ thấy, Khái Hưng, có lẽ là người đầu tiên dịch Trà Đạo của Okakuza Kakuzo sang tiếng Việt.

Với sức viết phi thường, trên Phong Hóa-Ngày Nay, chưa kể truyện dài, Khái Hưng đã viết khoảng 122 truyện ngắn, 24 vở kịch, 36 truyện vui, và 8 bản dịch.

Xin kê khai danh sách dưới đây để làm tư liệu:

Phong Hóa

– 67 truyện ngắn trên Phong Hóa, gồm: Kong-Ko Đai-Jin, Đi Nam Kỳ, Cái thù ba mươi năm, Sóng gió Đồ Sơn, Cái thống đời Tống, Tình tuyệt vọng, Ada Kwaben, Lãng mạn, Bạn…! Chỉ là bạn!.., Dưới bóng hoa đào (viết chung với Bảo Sơn), Lên sĩ xuống sĩ, Hai linh hồn, Bên giòng sông Hương, Ý Lan, Véo von tiếng địch, Nghiã cái cười, Anh phải sống, Hai cái áo quan, Tình điên, Con lợn lài, Hất báo, Lời thề, Giọc đường gió bụi, Yêu, Con số 08430, Ai đẹp, Bên đường dừng bước, Tình lưu luyến, Hoàng Oanh, Yên lặng, Cô hàng nước (viết chung với Nhất Linh), Gói bạc rơi, Một tập thư, Chúa Thao, Con Mán, Hương gây mùi nhớ, Một nhà thông thái, Cái đồng hồ đeo tay, Linh hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ Thị Kim Dung, Một nhà hiền triết, Bắt trộm, Giặc bể, Con chim vành khuyên, Tiệc tranh, Không BẢ..A..Án, Trăng suông, Tình yêu thứ nhất (viết chung với P.N.Thọ), Cầm vườn, Cái áo đan, Lá rụng, Hoa thuỷ tiên, Hoa anh đào, Ngày xuân lễ chùa, Trong rừng mai, Chén trà mạn sen, Ô Quy Hồ, Trúng số và Bãi sậy vườn cam, Biến đổi, Cháu Tạ, Vú Kim, Trong nhà thương, Hai cảnh trụy lạc, Có đi có lại, Thưa chị, Cái máy ảnh [9]

– 23 truyện vui: Ba Ếch Vô Huế, Một đám ma, Quýt ngọt, ruốc ngon, Gật, gật hoài, Hảo hớn, Võ Thái Hà, Để của bí mật, Yêu đời, Đãng trí, Cai thuốc phiện, Những bóng người trên bãi biển, Ông cứ giã cho nó! Chụp gà hóa cáo, Thả vỏ quýt ăn mắm ngấu, Liều thuốc độc, Mãn đình hồng (Nhị Linh), Ăn miếng trả miếng, Bảng công ty, Chơi ô tô, Tờ giấy bạc, Bàn việc làng, Cờ quạng, Bảo hiểm[10]?

– 15 vở kịch: Kiêng 1, Tôi là Khái Hưng, Ghen, Nửa cái thỏ bò, Ông Đồng Phương, Kiêng 2, Tục Lụy, Con mèo, Chữ nho, Bói Kiều, Không hề gì mà. Kiêng, Ở hiền gặp lành, Quần tiên tụ hội, Kịch không người[11].

Ngày Nay

– 55 truyện ngắn: Trên Ngày Nay, Khái Hưng viết khoảng 55 truyện ngắn:

Đợi chờ, Bến đò năm xưa, Phong lan và Nước hoa phong thổ, Cái ve, Lòng tốt, Linh Hồn, Trăng thu, Người vợ mù, Dưới ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu), Nhà phê bình, Đồng xu, Đêm giao thừa, Cô áo trắng, Vui tính, Hội kín, Tống tiền, Nguồn thơ, Ngày giỗ, Bến Hòn Gay, Cháu nhà quan, Sung sướng, Cô dâu, Cây tre trăm đốt, Vợ cóc, truyện cổ tích, Ai mua hành tôi, truyện cổ tích, Mười năm yêu dấu, Người hầu sáng, Sếnh Sáng, Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa), Đào Mơ, Tập ảnh, Thời xưa, Chùa Hương, Xanh cà bung, TVBAVOKVVEAV tức Tiếng khèn, Điếu thuốc lá, Lưu Bình Dương Lễ, Một buổi chầu, Hai người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó hiểu (số 148, 4-2-39), Chàng thi nhân (số 149, 15-2-39), Gán vợ, Tình địch, Tế thành hoàng, Cái duyên của Tản Đà, Vài truyện vui về thi sĩ Tản Đà, Ông Đồng, Thời chưa cưới, Tương tri, Hai người bạn, Sư Tuệ, Hai con mắt, Biển, Ái tình, Nghiện [12]

– 9 vở kịch: Chết, Cờ điên thoại, Cậu Cả, Tiền, Người chồng, Kiêng V, Đồng bệnh, Chén trà đầu năm, Không đèn, Khúc nghê thường.[13]

– 13 Truyện vui: Hổ, Thâm nho, Trả thù, Thoát, Bà chủ nhà của tôi, Bá cáo việc riêng, Cách cho, Chợ trời, Đi ra thôi, Cây “Thần tiên”, Người bán dầu, Lỡ quá ga, Nghỉ mát[14].

– 8 bản dịch: Mưa của Somerset Maugham. Cô gái thành Arles của A. Daudet. Bệnh viện của Somerset Maugham. Trà đạo của Okakuza Kakuzo. Ý nghiã nghệ thuật của Okakuza Kakuzo (Trà thư). Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên). Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), trích dịch. Các trà sư của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), trích dịch.[15]

Khái Hưng xây dựng truyện ngắn hiện đại

Tuy Khái Hưng phải viết những truyện vui, kịch ngắn, để trám chỗ tờ báo, nhưng những thứ này đều đọc được, chứ không dở. Đó là những mẩu truyện, kịch ngắn, có duyên, không vô lý, bởi vì Khái Hưng nắm chắc những yếu tố: văn hay, đối thoại điêu luyện, cấu trúc chặt chẽ. Truyện của ông không sa vào tình tiết lâm ly, thường “chẳng có chuyện gì” tức là rất mô-đéc.

Sở dĩ truyện ngắn của Khái Hưng chưa được khám phá và đánh giá đúng mức bởi vì phần lớn các nhà phê bình đều chỉ dựa trên những sách đã in, mà phần truyện ngắn của ông in thiếu rất nhiều, kể cả những sách của nhà Đời Nay cũng vậy. Một thí dụ, tập Tiếng suối reo, chỉ in những truyện, kịch vui nhỏ, loại ông viết trám chỗ trên báo, tuy không dở, nhưng cũng không có gì là tiêu biểu. Tập Đợi chờ, tái bản ở miền Nam, bỏ hẳn hai truyện ngắn vào loại hay nhất của Khái Hưng: Điếu thuốc láTiếng khèn. Vì vậy, nhiều truyện hay của Khái Hưng vẫn còn nằm ngủ trên Phong Hóa-Ngày Nay, chưa mấy ai đọc.

Khái Hưng viết đủ loại đề tài, loại nào ông cũng rành, vì đã khảo sát môi trường qua sách vở hoặc nhờ nhận xét thực tế đời sống, vì thế ông nhập truyện rất tự nhiên, nói giọng ai cũng được. Ông lại có óc tưởng tượng và óc quan sát tinh vi không bỏ sót một cử chỉ, dáng điệu của bất cứ loại người nào, từ cô công chúa đời Hùng Vương đến người thợ mộc đời nay, từ mặt trái cuộc chơi cờ người (Lên sĩ xuống sĩ, Ai đẹp), đến tâm lý phức tạp của kẻ nhặt được tiền (Gói bạc rơi), từ lời khóc giả vờ trong đám ma ở miền Bắc (Một đám ma) đến tâm sự thầm kín của người con gái hát rong (Giọc đường gió bụi).

Trước khi viết Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưng đã sáng tác ba truyện ngắn dã sử hay: Véo von tiếng địch (PH số 42, 14-4-33) viết về công chúa Ly Nương con vua Hùng Vương thứ mười bốn, phỏng theo truyền thuyết Trương Chi.

Hoàng Oanh (PH số 97, 11-5-34) công nương Chiêm Thành họ Số, đợi chờ thái tử Chế Mân, đang bị làm con tin ở Thăng Long, trở về làm lễ cưới. Nàng thêu đôi chim nhạn. Hai năm sau, Thái tử hồi hương với Vương phi Huyền Trân Công Chúa, nàng trao đôi chim nhạn làm quà cưới vương phi, những giọt nước mắt đã rơi vào trong mừng chồng vui duyên mới!

Chúa Thao (PH số 122, 2-11-34), tức hoàng tử Mạc Thao, con thứ năm vua nhà Mạc, thường được gọi là Hoàng Năm hay Chúa Thao, đẹp trai, anh dũng, cầm quân đương đầu với chúa Trịnh ở trận Đồ Sơn, thua, bị bắt. Công chúa họ Trịnh đem lòng yêu mến rồi ốm tương tư.

Ba truyện dã sử này, như ba bản nhạc dạo dầu, thử bút trước khi Khái Hưng vào Tiêu Sơn tráng sĩ, đã ngỏ cho ta thấy cách ông tạo không khí lịch sử và kết cấu bi đát như thế nào.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Fri 07 Jan 2022, 09:24

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG


Véo von tiếng địch, trước tiên là văn Khái Hưng:

   Dưới chân rặng đồi, con sông Bạch Hạc quanh co lượn khúc, ẩn hiện dưới những chòm cây rườm rà lả ngọn.

   Ly Nương tỳ lan can, rời cảnh vật bao la, cúi nhìn xuống cái hồ bán nguyệt mới thấp thoáng nhô lên một vài nõn sen mềm mại.

   Bỗng nàng hé cặp môi mỉm cười, vì nàng vừa nhìn thấy bóng xinh đẹp của mình in trên mặt nước trong xanh im lặng. Nàng giơ tay trắng nuột vin cành liễu xanh bẻ mấy chiếc lá, thong thả sẽ bỏ rơi xuống hồ. Mặt nước rung động, hình công chúa cũng rung động, gợn nước vòng tròn, rộng lan mãi ra, rồi dần dần biến đi như chìm xuống đáy nước mà trả lại hình cho công chúa. (…)

   Mấy giọt nước mưa đọng trên lá liễu từ từ rơi bám vào mái tóc búi lỏng để chĩu xuống gáy trông lấp lánh như những ngôi sao ló trong đám mây đen.


Khái Hưng đi từ cái vĩ mô: cảnh vật bao la vùng núi đồi Bạch Hạc nơi Hùng Vương dựng kinh thành, chuyển dần sang cái vi mô: mấy chiếc lá Ly Nương xé ném xuống nước, đánh tan hình mình; rồi những vòng tròn nước tự tan đi, trả lại tấm hình xinh đẹp cho công chúa nguyên vẹn dưới đáy hồ. Ống kính tinh vi ấy quay lại chiếu vào mấy giọt sương lấp lánh đọng trên mái tóc búi lỏng chĩu xuống gáy nàng. Không dùng một chữ nào có âm hưởng hoàng gia, nhưng tất cả những chữ bình dân họp lại, tạo thành hình ảnh tuyệt vời của nàng công chúa cao sang quyền quý. Đó chính là nghệ thuật: nhà văn không tả mà để thiên nhiên tả hộ. Bút pháp thơ cũng ở đó: Khái Hưng luôn luôn làm thơ mà không dùng đến âm, vận.

Kết thúc bi đát, là một sở trường khác: văn Khái Hưng trong sáng, vui tươi, hồn nhiên, nhưng thường dẫn đến cái chết.

Anh phải sống (PH số 45, 5-5-33) là truyện hiện thực xã hội đầu tiên của Khái Hưng. Truyện khá ngắn. Mở ra trên cảnh đê Yên Phụ trời bão, nhưng khác với những lần trước ông thường dừng lại tả cảnh, ở đây tất cả đều vắn tắt:

Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy như muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng đi.

Rồi: “những cành khô trôi ở rừng về, nổi lềnh bềnh giống như những chiếc thuyền chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến”.

Cơn bão chỉ được tả bằng hai câu ngắn, nhưng sự dữ dằn đã rõ: “lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng”“những thân cây, cành khô như những chiếc thuyền chạy thực nhanh về nơi không bờ không bến”.

Đối diện với một tạo hóa vĩ đại và hung hãn như thế, hai vợ chồng Thức, nhỏ nhoi, đứng trên bờ đê, thèm thuồng “nhìn theo những cây gỗ đương trôi phăng phăng ở giữa giòng nước đỏ“.

Bỗng Thức bảo vợ: “Liều! Vợ lắc đầu không nói.”

Tất cả đều nhanh, ngắn, gọn, hai vợ chồng đã có sự đồng nhất tư tưởng, không cần nói mà hiểu nhau. Toàn bộ tác phẩm dựa trên sự đồng nhất tư tưởng này. Hết gạo. Cả nhà đói. Không ai cho vay. Những khúc củi này vớt lên bán, là của trời ban.

Thức đánh lừa “đuổi” vợ về nhà trông con trước, anh sẽ về sau. Rồi người vợ cũng lại hiểu rất nhanh rằng chồng mình đang làm gì, chị đặt đứa con vừa thiu thiu ngủ xuống giường, trở lại bờ sông. Thức quay lại nhìn thấy vợ, gắt:

“Lạc! Sao mày không ở nhà với con?” Tất cả xoay quanh chữ mày. Từ chữ mình, anh vừa âu yếm nói với vợ: “Này! Mình về nhà, trông thằng Bò” ban nãy, anh chuyển sang chữ mày, độ giận đã lên tới cực điểm. Nhưng chị Thức nhất định không về, chị khóc “em không sợ, em biết bơi”, Thức mềm lòng. Đành chịu.

Khi chiếc thuyền đã bị đánh chìm, hai vợ chồng cố gắng bơi vào bờ, người vợ đuối sức dần, Thức một tay bơi, một tay xốc vợ. Tay anh rã rời, bảo vợ bám vào mình. Một lúc, anh lại hỏi: Lạc ơi, Mày liệu có cố bơi được nữa không?

Hai lần Thức gọi vợ bằng mày. Hai thái cực: lần đầu là sự tức giận cực điểm, lần sau là sự tuyệt vọng, cả hai đều là tình yêu tột đỉnh.

Và cuối cùng, chỉ một câu: “Thằng Bò, cái Nhớn, cái Bé!… Anh phải sống!” đủ diễn tả sự hy sinh tối hậu. Sự kiệm chữ này là nền móng của nghệ thuật bội phân bi đát trong giây phút cuối mà chỉ Khái Hưng nắm rõ bí quyết.

Anh phải sống là kiệt tác truyện ngắn đầu tiên của Khái Hưng và của truyện ngắn Việt Nam.

Hai cái áo quan (PH số 46, 12- 5-33) được viết một tuần sau, bộ mặt bi đát lần này hoàn toàn đổi khác: trong khung cảnh nhộn nhịp của một căn nhà đang xây dở: thợ thuyền tấp nập, cười nói ồn ào, ông phó Cả âm thầm vuốt nước mắt, cúi xuống bào nắp quan tài cho con trai vừa chết để lại cho ông thằng “Cu con”, cháu nội. Chôn con hôm qua, hôm nay cất nóc, phó Cả phải có mặt. Mọi người chờ đợi. Ông phó già đến trễ, mặt đỏ gay tiến vào, cười nói ha hả, lảo đảo bước lên thang… Rồi một tiếng rầm…

   – Con đấy à! ... Thế mà cha cứ tưởng con chết!

   Rồi ông tắt thở.

   Ánh nắng vẫn gay gắt. Trong làn không khí hoàn toàn tịch mịch, buổi giữa trưa ở nơi thôn dã, thằng Cu con, vận quần áo đại tang, núp dưới bóng cái phên nứa, lúi húi bào gỗ để đóng săng cho ông nó.

   Nét mặt nó thản nhiên như đang làm các việc hàng ngày mà người ta trả nó năm xu một công nhật.

   Rồi bỗng như hôm qua, con gà trong xóm cất tiếng gáy. Nhưng thằng Cu con nó chẳng giật mình như ông nó, chỉ lẳng lặng quỳ gối bào cho thật nhẵn. Khi nó ướm cái nắp lên trên cái áo quan thấy vừa vặn ăn khớp, thì nó lạnh lùng nói một mình:

   Thế là xong!


Câu kết này làm ta rùng mình. Vì sao? Vì sự vô cảm của thằng bé 12 tuổi. Sau hai cái chết, nó chai đi, không còn cảm giác. Nó không khóc như ông nó, nó không cười ha hả như ông nó, nó không nghe tiếng gà gáy mà giật mình như ông nó, nó hoàn toàn vô cảm.

Còn lại một mình trên đời, thằng bé không phản ứng. Điều đó mới thật dị kỳ và làm ta kinh sợ nghệ thuật của Khái Hưng, bậc thầy.

Con lợn lài xuất hiện bốn tuần sau, trên Phong Hóa số 50 (9-6-33), truyện này cho thấy nghệ thuật châm biếm-bi đát, sở trường thứ ba của ông.

Khái Hưng chỉ chép lại lời kể của một anh phu xe, kể rằng anh hầu nhà quan Hàn, từ năm 10 tuổi:

   Ông chủ tôi là một quan Hàn bệ vệ, oai nghiêm, hách dịch như một ông quan lớn, một ông quan thật ấy. Thế mà so với bà chủ tôi thì sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch ấy, còn kém xa. Giá ông trông thấy bà Hàn tôi ngồi xếp bằng trên sập gụ, một tay tì lên chiếc gối xếp nhiễu, một tay bắt cong cái xe điếu ống xuống hút lách tách rồi vừa thở khói, vừa lên giọng lè dè mà gọi: “Có đứa nào đấy không, mày?” thì ông cũng phải kính cẩn chắp tay mà chào: “Lạy bà lớn ạ”. Vì thế nên những quân con, đệ tử, dân sự, nghiã là những người đến vay nợ kính sợ ông tôi mười phần thì kính sợ bà tôi đến trăm phần.

   Mồng năm ngày tết họ tới tấp đến trước mặt bà tôi, họ đặt buồng cau, con cá, hoặc thùng gạo, mâm cam xuống đất, họ khúm núm gãi đầu, gãi tai, rồi sẽ run run bẩm báo:

   – Bẩm bà lớn chúng con vi thiềng.

   Bà tôi liền lên giọng dõng dạc gọi người nhà:

   – Có đứa nào đấy không, mày. Cất đi cho nó.

   Một tiếng dạ vang nhà, tôi vội vàng ra cất lễ. Có lắm bác lại khéo nịnh hót, khom lưng lậy hai lậy cẩn thận rồi kính bẩm cụ lớn chững chạc nữa kia, tuy bà lớn tôi chỉ là một bà vợ lẽ của quan Hàn tôi, mà xin ông đừng cười, chỉ xuất thân là một con ở hầu bà Hàn cả tôi, và nhẩy lên thay chân chánh thất, sau khi bà cả tôi đã về chầu trời.


Vẫn giọng ấy kể: ông chủ rất tốt, nuôi thằng nhỏ từ lúc nó mới 10 tuổi, ở không công. Nó không hé môi phàn nàn nửa lời vì được ông chủ tin cậy, mỗi năm may cho một bộ cánh trắng và hai bộ cánh nâu, thỉnh thoảng nó có dăm ba xu, một hào, tiền “chè lá” của những người đến khất nợ đút lót để được nó đưa vào hầu.

Rồi bà lớn gả con sen cho thằng nhỏ, hai vợ chồng ở không công. Con sen suốt đêm phải hầu quạt và đấm bóp cho bà lớn, còn thằng nhỏ, chồng nó, ngủ dưới bếp. Mùa xuân năm ấy được mùa, tổ tôm kéo dài mấy tháng, tiền hồ[16] có đến linh trăm bạc[17], nhưng nhà quan, ai lại lấy tiền hồ, nên bà lớn chia cho bọn người làm. Lại sợ chúng nó tiêu bậy, nên bà lớn cất dùm, mua lợn lài, là thứ lợn quý có chấm đen, để gây vốn cho chúng nó. Thế là bao nhiêu tiền “chè lá” thằng nhỏ dốc hết ra mua cám, vỗ béo lợn. Bốn con lợn lài lớn như thổi, một năm sau bán được ba bốn trăm bạc như chơi.

Một hôm, bỗng dưng mất đứt một con: hóa ra bà lớn “vay” để làm cỗ thết làng, rồi con thứ hai, bà lớn “mượn” để biếu cụ lớn thân sinh, hai con sau cùng bà lớn bán lấy tiền giữ hộ chúng nó. Con sen xui chồng lên xin trước bà lớn chút đỉnh để mua cho nó bộ xà tích[18]. Thằng nhỏ lên kêu van khóc lóc bị bà lớn tống ra cửa, thế là mất việc, mất vợ, mất tiền, phải đi kéo xe.

Giọng người phu xe kề cà, giống như giọng khàn khàn của ông Toà trong truyện La Chute (Sa đọa) của Albert Camus. Lối kể của anh ta, theo một tiến trình, mà tôi gọi là tập kích giật lùi, cũng thấy trong truyện của Camus, dù Khái Hưng viết trước Camus mấy chục năm và hai người ở xa nhau vạn dặm.

Đầu tiên, anh phu xe tả chân dung bà chủ: Từ sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch, xác định tư cách bà lớn, bà tiến lên cụ lớn, rồi đùng một cái, cụ lớn lộ chân tướng con ở. Đó là lối đột kích tụt hậu. Truyện của Camus cũng thế: đường đường là ông Tòa xử tội, quyền sinh sát trong tay, bỗng một đêm qua cầu sông Seine, có tiếng người rớt xuống nước, kêu cứu, nhưng ông lờ đi như không nghe thấy… ông trở thành kẻ sát nhân vô cố.

Toàn truyện Con lợn lài, Khái Hưng đều dùng lối tập kích giật lùi như thế: bà lớn luôn luôn đi từ tấm lòng tốt rồi lùi dần tới lúc lộ ra bộ lòng xấu. Giọng anh phu xe mới tuyệt diệu: anh ta không kết án bà lớn mà lại bào chữa cho bà bởi anh luôn luôn tin tưởng vào lòng tốt của bà:

“Ông phải biết mấy anh em chúng tôi vui mừng, sung sướng cảm ơn bà chủ biết chừng nào, thi nhau xuất lực ra mà hầu hạ để được sứng với cái lòng tốt ấy.” Cái bi đát là ở chỗ đó.

Con lợn lài là truyện ngắn đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn chống lại sự bóc lột của bọn phú hào ở thôn quê. Nhưng Khái Hưng không viết theo lối hiện thực xã hội phê phán, nên tác phẩm của ông không thể bị lỗi thời. Giọng văn này, bây giờ đọc lại, và có lẽ muôn đời đọc lại, ta vẫn thấy lạ, vẫn mô-đéc: nó pha trộn bi-hài một cách toàn bích. Khái Hưng vẫn làm ta giật mình ở câu kết.

   Anh xe mỉm cười nói tiếp:
   – Nhưng thế mà lại sướng ông ạ. Từ nay đến ngày xuống lỗ, chắc chả bao giờ phải mất công không nuôi lợn lài cho nó béo nữa.


Một giọng triết lý tự nhiên của người không có học. Hiểu thế nào cũng được: Người phu xe không thèm chấp những thấp hèn bỉ ổi mà anh đã trải qua, hay anh không có một chút ý thức nào về tấm thân nô lệ của mình?

Tôi cho rằng Khái Hưng muốn nói trường hợp thứ nhì, và không chỉ riêng cho người dân quê, mà cho cả dân tộc mình, dưới thời Pháp thuộc.

Dọc đường gió bụi (PH số 65, 22-9-33), một truyện tình lãng mạn, nhưng dưới ngòi bút Khái Hưng, chuyện tình này khác hẳn những gì ta thường thấy. Đào Mơ yêu tha thiết, yêu say mê yêu không thể dứt ra được, đêm nào nàng cũng phải hiến hồn xác cho người yêu: hát chèo. Thủa bé, Mơ hát hay, theo cha mẹ hát xẩm ở bến đò Tân Đệ, được bác Hai Truyện mua về, nuôi dạy nghề ca hát. Mơ trở thành đào chính của gánh hát rong và cái nghiệp cũng nhập vào nàng. Một ngày kia, tới ấp Đông Hà, chủ ấp là một trang thanh niên tài hoa lỗi lạc, đủ nghề cầm kỳ thi họa, yêu hát chèo và say đắm Mơ. Mơ đáp lại tình yêu của chàng, bỏ gánh hát ở lại. Nhưng đêm sau, tiếng chầu lại vang lên ở làng bên, Mơ choàng dậy, khoác vội tấm áo vào mình, lẻn bước ra đi, người như còn mê man trong giấc ngủ “tiếng địch véo von, rền rĩ, làm rung động lòng Mơ, làm tiêu tan cả ái tình mới mẻ. Ngồi xẹp xuống đất Mơ bưng mặt khóc hối hận. Tiếng địch vẫn sang sảng, khi lên bổng, lúc xuống trầm như miả mai, như chế giễu kẻ lià phường phản bạn. Mơ đứng phát dậy lau nước mắt hốt hoảng chạy một mạch vào trong rạp”. Khái Hưng đã viết không phải một chuyện tình mà hai chuyện tình lồng một, một đoá hoa kép đẹp và đau, kết hợp tình yêu và nghệ thuật, và nghệ thuật đã chiếm thế thượng phong trong trái tim Mơ: tính chất bi đát đã đạt đỉnh của cái đẹp.

Đào Mơ (Ngày Nay 89, 12-12-37): Năm năm sau, Khái Hưng viết lại truyện đào Mơ dưới dạng tự thuật:

   Năm năm, cứ sang xuân, trong thời còn được nghỉ học, tôi lại mong nhớ Mơ, sự mong nhớ âm thầm buồn bã của một tâm hồn ngây thơ. Quả nhiên, trong mấy tháng sau Tết, những phường chèo kế tiếp nhau đến, tựa bày chim én trở về cùng với những ngày quang đãng, ấm áp, vui tươi. Tim tôi hồi hộp khi thấy những gánh hòm vuông sơn đen, sơn đỏ qua cổng huyện tiến vào trong sân“. Mơ đã vào đời cậu bé con quan như thế. “Rồi sau một, hai hay ba hôm, Mơ lại theo phường bạn rời đi nơi khác… Tôi ngơ ngẩn như người mất linh hồn. Anh tôi thấy thế cười bảo tôi:- Dễ Linh nó ốm tương tư cái Mơ đấy.

Rồi phải ra tỉnh học, Linh không còn gặp Mơ nữa. Mười năm sau, tình cờ gặp lại người kép hát cùng với Mơ năm xưa, Linh mới hay: Mơ lấy lẽ một ông chủ đồn điền, rồi quen nghề cũ, Mơ không ở được lâu với ai, sau cùng với người chồng mù, Mơ đi lang thang hát xẩm… Mơ đã đi một vòng đời và trở về chốn cũ của ngày thơ. “Từ đó mỗi lần xuống phà hay qua hè phố, gặp một cặp vợ chồng, chồng kéo nhị, vợ hát chèo, tôi lại tưởng nhận được tiếng Mơ”.

Đào Mơ là một trong những hình tượng đẹp nhất trong văn học Việt Nam về hát chèo, về nếp sống tự do, nghệ sĩ. Sau đào Mơ, Khái Hưng cùng với Nhất Linh tạo ra Tuyết trong Đời mưa gió, một tuyệt tác khác. Nhưng hình ảnh đào Mơ hay phong thái cụ tú Sầm Sơn (trong Tương tri)… sẽ lung linh trong các nhân vật của Nguyễn Tuân, Mai Thảo, qua cái đẹp của một ván cờ, một nét chữ, một sự đợi chờ, một vết chém treo ngành…Tất cả đều chịu ảnh hưởng Khái Hưng, nhưng có lẽ tác giả của nó, cũng không biết là mình chịu ảnh hưởng, bởi chính họ cũng là những thiên tài.

Hương gây mùi nhớ

Khi Hồn bướm mơ tiên chấm dứt trên Phong Hóa số 29 (6-1-33), gần một năm sau, Khái Hưng viết Hương gây mùi nhớ in trên PH số 127 (7-12-34), đề tặng chú Lan. Hương gây mùi nhớ chỉ là lá thư của người con gái tên Nga, trốn cuộc hôn nhân áp đặt, đi tu mong “tìm quên trong lòng phật Tổ”. Chú tiểu Nga, tưởng đi tu là lánh được cuộc đời trần tục. Nhưng không. Chú đã lầm. Chú viết thư cho người yêu cũ:

   Một hôm, hôm ấy, phút ấy, chỉ vì trong một phút ấy, tâm hồn em đã thay đổi khác hẳn, nghĩa là đã trở nên nồng nàn với tình yêu, nồng nàn gấp trăm gấp nhìn lần khi em chưa dấn thân vào đời tôn giáo, khi em chưa từng nếm qua mùi thiền (…) Em tưởng tượng đức Như Lai ra một chàng trai trẻ, có tấm lòng tha thiết với tình yêu. (…) Em cầu cứu, em gọi đức Phật tổ, nhưng đức Phật tổ chỉ lãnh đạm thờ ơ. Mùi hương ngào ngạt em ngửi vẫn thấy khoan khoái, nhưng sự khoan khoái này là sự khoan khoái đầy nhục dục. Tiếng chuông em nghe như những lời thề thốt ái ân. (… )

   Chẳng phòng khuê nào có thể so sánh được với một nơi am vắng đầy mùi hương và tiếng kệ nó nhắc ta mơ màng tưởng tới những nơi bồng lai tiên cảnh”.
(PH số 127, 7-12-34).

Lời chú tiểu Nga làm đảo lộn mọi nguyên tắc đạo đời và có lẽ xưa nay ở Việt Nam chưa nhà văn nào dám viết như thế, nghiã là dám cho rằng cửa Phật “gợi tình” hơn chốn khuê phòng, dám “tưởng tượng đức Như Lai như một chàng trai trẻ“, dám cảm thấy mùi hương hoa, tiếng chuông, kinh kệ, “gợi sự khoan khoái đầy nhục dục“

Hương gây mùi nhớ phản biện hoàn toàn Hồn bướm mơ tiên, đánh đổ mọi lập luận cho rằng Khái Hưng là nhà văn lý tưởng, và lộ ra một Khái Hưng đầy nhục cảm, đi trước thời đại, cho chú Nga yêu hoa, yêu hương và… yêu Phật. Khái Hưng muốn chứng minh “lửa tâm càng dập càng nồng“, chữ tâm ở đây không ứng vào cái ghen Hoạn Thư mà ứng vào tình yêu, ở chú Nga, bị dập vùi, dồn nén, đã lên tới cực điểm: sự đòi hỏi của thể xác làm tê dại tâm hồn, đốt cháy mọi cơ năng, nghiền nát lý trí. Khái Hưng đã đi tới dứt điểm khi khám phá được nội tâm con người, con người say mê cùng cực.

Sư Tuệ (Ngày Nay số 182, 7-10-39): Năm năm sau Hương gây mùi nhớ Khái Hưng viết Sư Tuệ. Sư Tuệ chùa Hàm, một trang thanh niên khôi ngô tuấn tú, thân hình vạm vỡ, yêu thể thao, học vấn uyên thâm, thích đọc sách triết học và thần học, thông bác tư tưởng đông tây. Khánh, tên tục nhà sư, đã từng sống cuộc đời trần, yêu say mê trong tuyệt vọng vợ một người bạn thân, yêu trong yên lặng. Một hôm Khánh điên cuồng ngỏ lời với nàng, mới hay người ấy cũng cùng cảnh ngộ. Đã thấu lòng nhau, họ quyết định hy sinh: gắng quên nhau, và Khánh chọn lánh xa người yêu, lánh xa hẳn, lánh xa trong một thế giới khác. Thế giới ấy, nếu không phải là thế giới của người chết; thì chỉ có thể là thế giới của người thế phát quy y. Và chàng trở thành một vị chân tu, Sư Tổ hy vọng chàng sẽ cảm hóa được phái trẻ, tân học mà Người ví như cây không rễ một ngày kia linh hồn sẽ héo uá. Sư Tổ muốn cứu vớt linh hồn họ, đưa họ tới cõi niết bàn, công cuộc đó chỉ Sư Tuệ là có khả năng làm nổi.

   Nhưng một đêm giữa lúc đương tụng kinh, sự Tuệ ngước mắt nhìn lên bàn thờ và bỗng chú ý đến khuôn mặt pho tượng Ngọc Nữ. Cả một thời dĩ vãng vụt lờ mờ hiện ra trong ký ức kẻ tu hành. Sư Tuệ sợ hãi vội cúi xuống quyển kinh và cất cao giọng, gõ mạnh tiếng mõ như cố xóa lấp cái hình ảnh quá khứ. Nhưng vẻ mặt tươi cười, đôi mắt sắc sảo, cặp môi đỏ thắm của pho tượng mà sư ông nhớ từng nét vẫn như vẽ ra trên trang giấy chữ lớn. Sư ông nhắm mắt lại và tụng thuộc lòng luôn mấy trang kinh; cái khuôn mặt xinh tươi càng rõ rệt hơn và sau cùng, sáng lòa một cái tên chữ quốc ngữ, tên người đàn bà xưa.

Từ đấy, bất kể làm gì, tụng niệm, ngồi thiền, cuốc xới, trồng cây, nhà sư chỉ nghĩ đến nàng, khi mệt quá thiếp đi, nàng xuất hiện lại trong mộng. Người ấy như thành yêu quái ngày đêm hiện về ám ảnh… Chịu đựng cực hình trong một tháng. Rồi một hôm bỗng sư Tuệ bỏ chùa trốn đi…

Tác phẩm hoàn tất khái niệm lửa tâm càng dập càng nồng, mà Khái Hưng đã đưa ra năm năm trước đấy trong Hương gây mùi nhớ, để phản bác lại Hồn bướm mơ tiên, viết cách đấy 11 năm. Ông cũng là một trong những nhà văn đầu tiên không tin và nói ra vấn đề tìm quên trong đạo, với câu trả lời dứt khoát: Cửa thiền không phải là nơi giải thoát, chỉ là một ngục tù mới, trói buộc con người một cách giả trá và khốc liệt hơn.

Ô Quy Hồ (PH số 175, 21-2-36) ở trong không gian núi rừng mạn ngược, hẻm núi Chapa. Quang và Kay trốn xuyên rừng về Lao Kay. Lao Kay nghiã là yêu Kay. Ta Cao đã xin cưới Kay nhưng nàng không thuận, đuổi theo.

Hai người đã đến gần Ô Quy Hồ:

   Trăng trong lẩn vào ngọn một cây pê-mu, thân to đế, năm, sáu người ôm và cao chót vót như chọc thủng da trời màu xanh nhạt. Ánh sáng chiếu xuống một đám mây mỏng vắt ngang sườn núi bên kia như một tấm lụa trắng bay theo chiều gió vướng vào rừng sặt, ngọn tua tuả đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng.

   Quang kìm ngựa lại ngắm nghía bảo Kay:

   – Chúng ta đi trên mây.

   Kay cười khanh khách. Bỗng nàng rùng mình im bặt, vì tiếng cười vang đáp lại làm cho nàng kinh hoảng, nhớn nhác, trông trước trông sau. Tiếng vang nàng vẫn thường nghe thấy, nhưng lần này nàng nhận ra như tiếng chế nhạo khiêu khích của ma quỷ.


Văn Khái Hưng cực kỳ điêu luyện: không bỏ sót một chi tiết nào, tất cả đều như đã được sắp xếp từ trước để tạo không khí cạm bẫy, rùng rợn bằng mấy chữ: với cây pê-mu, chọc thủng da trời, rừng sặt ngọn tua tuả đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng; hoặc khi Kay cười, nghe núi vọng lại một thứ tiếng chế nhạo khiêu khích của ma quỷ.

Chúng ta trót theo Quang, Kay đến đây, không biết cây pê-mu là cây gì, chỉ biết nó vĩ đại, năm sáu người ôm. Rồi cây sặt cũng vậy, nhọn như gươm dáo, lại cả một rừng sặt, ta đã lạc vào một rừng gươm. Rồi chính tiếng cười của Kay cũng bị ma quỷ nhái lại.

Ô Quy Hồ là hồ rùa đen mang một huyền thoại dữ. Kay nằm mơ bị rùa đen khổng lồ chặn đường, tát chết ngựa, bóp cổ nàng. Nàng vụt quất ngựa phóng nước đại. Là người của núi rừng, nàng phi như gió trên hẻm núi cheo leo. Quang phi theo sau, chàng trai thành thị… Một tiếng rầm… nàng quay lại, đã trễ, và như ngọn gió, ngựa nàng phi thẳng xuống vực…

Về truyện đường rừng, Lan Khai và Thế Lữ là hai cây bút chuyên nghiệp, nhưng họ không thể nào sánh với Khái Hưng.

TVEAVQKVVEAV (Ngày Nay số 112, 29-5-38) sau in thành sách đổi tên là Tiếng khèn, một truyện lạ lùng nữa trong khung cảnh kỳ dị của núi rừng:

   Ba gian nhà rộng. Ở gian giữa, trên một cái dá [giá] cao và dài kê sát vách, người chết-một người thiếu phụ-nằm ngửa, hai tay buông xuôi, mặt che miếng vải xanh. Khách trịnh trọng lại gần, cầm cái phất trần lông gà phe phẩy; tức thì đàn ruồi đen bay tản ra. Tôi ghê sợ lùi lại một bước, đầu chạm vào một vật nhũn. Ngửng lên nhìn thì đó là một miếng thịt lợn sống, máu còn nhỏ giọt, mà họ buộc vào cái sào gác ngang từ cửa tới chỗ cái thây ma.

   Cặp mắt mờ lệ của người Mèo trẻ tuổi đưa nhìn từ đầu đến chân thiếu phụ. Rồi từ từ, run run, tay hắn nhấc miếng vải che mặt người chết ra. Một lần nữa đám ruồi bay lên tua tủa, khiến tôi kinh hoảng lảng ra phía cửa.

   Trong lúc người trẻ tuổi vừa khóc vừa kể lể từng đoạn rất lâu, giọng lên xuống như lời ca than vãn, thì một người Mèo lom khom nhảy và thổi khèn ở trước linh sàng, và một người nữa cầm dùi gỗ nện vào cái mặt trống căng chùng để gõ nhịp.


Người trẻ tuổi chính là anh chàng thổi khèn trong phố đêm Chapa, mà tác giả–đây là một tự truyện–mấy lần lên Chapa đều được nghe tiếng khèn của anh ta trong đêm khuya, lần này anh ta đi đám ma, bèn xin đi theo. Đêm ấy, trời mưa không trở về được, tác giả dù đã ớn lắm, đã nổi da gà, cũng đành ở lại, ngủ nhờ một người trong xóm. “Bên nhà tang, tiếng khèn, tiếng trống vẫn gióng một kéo dài: “tsè tsè tsè…phình! tsè tsè tsè phình!” như không bao giờ sẽ dứt”.

Ngủ chung với con lợn, trên miếng da ngựa hôi hám, tác giả thiếp đi, bỗng tỉnh dạy vì “một thứ âm nhạc rất lạ lùng, rời rạc và mọi rợ: “Ưn, … Ưn ưứt!… Ưn…ưn ưứt!…”

Tất cả những khủng khiếp tác giả đang trải qua, chứng tỏ sự khác biệt kinh hồn giữa người kinh và người thượng, giữa “văn minh” và “mọi rợ”.

Nhưng cuối cùng, như Khái Hưng thường có ma thuật, giao hòa hai đối tác, để hợp lại trong giác ngộ, đưa đến tình yêu và sự giao cảm giữa người và người, dù sự khác biệt văn hóa có sâu xa là chừng nào: trên đường về, qua cái lều cối giã gạo, mới hay “tiếng ưn ưứt chỉ là tiếng cái cần mà sức nặng của nước làm rơi xuống và tiếng cái chày gỗ giã trong không“.

“Và từ đó, tiếng khèn trong chiều tà, tôi nghe như ai oán, như than khóc của một linh hồn trơ trọi“.

Điếu thuốc lá (Ngày Nay số 114, 12-6-38), Khái Hưng đã đạt tời đỉnh cao nghệ thuật tả chân.

Mỗi chữ đều có phận sự của nó và mỗi câu đều có thể diễn vài ý khác nhau:

   Thỉnh thoảng cặp môi mỏng và thâm của ông ta lại bỏ rơi nụ cười hầu bất tuyệt để kéo một hơi thuốc lá, rồi khi điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son, nụ cười lại trở về đậu trên cái miệng hé mở, tựa con chuồn chuồn trên mặt ao không bao giờ chịu rời hẳn bông hoa muống sau mỗi cái giật mình bay đi.

Đấy là nụ cười của ông thày bói Cửu Thầy. Mù. Mù một trăm phần trăm. Vì cậu bé tác giả đã nhìn thấy: “Hai con mắt ông ta không có con ngươi và lõm hẳn vào, hai mép mi như khâu liền lại nhau.”

Đây cũng là một tự truyện, tác giả (hồi đó) là cậu bé độ chín mười tuổi, bị lôi cuốn vì đôi mắt mù thánh của ông Cửu Thầy: không cái gì qua “mắt” ông được. Cậu bé tinh nghịch muốn thử: khi điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son; bèn giấu điếu thuốc là đi xem ông ta có biết không, nhưng vụng về không làm kịp nên phải bỏ lại, đặt ngược cái đầu có lửa cháy quay vào trong. Ông Cửu Thầy không để ý, đưa lầm đầu có lửa vào môi, suýt bỏng. Nhưng nụ cười của ông không vì thế mà héo rụng. Và ông đã quyết trả thù đứa bé bằng nụ cười. “Cái mỉm cười lặng lẽ, bí mật, ghê sợ nữa,” theo thằng nhỏ ngày đêm, làm cho nó kinh hoảng không ngừng. Hôm ấy, Cửu Thày quyết định ra tay, ông gọi thằng con ruột có lỗi lại gần. “Thằng con chừng biết mình có lỗi, rụt rè chưa dám vâng lời ngay. Nhưng về sau như bị đôi kính đen của cha thôi miên, nó mon men lại gần… Ông Cửu Thầy vẫn mỉm cười, đợi. Bỗng nhanh như con bói cá, bàn tay trái ông bổ xuống nắm lấy cái đầu tóc rối trong khi bàn tay phải tát hai cái cực mạnh trên hai má thằng con khốn nạn”.

Sự trả thù “hàm thụ” của Cửu Thầy tàn ác và kinh rợn hơn sự trả thù trực tiếp, vì cậu bé con quan suốt đời sẽ không bao giờ quên được hai cái tát trên má đứa bé khốn nạn kia.

Khái Hưng luôn luôn thay đổi bối cảnh và cách viết, nhưng ông thường chỉ nhắm vào một đối tượng duy nhất như một vật, một dáng điệu, một thói quen, một âm thanh… rồi chiếu vào thực thể ấy bằng sự thôi miên xuyên suốt, cho tới khi nào nó “thua”, nó phải hạ màn. Đó là kỹ thuật truyện ngắn của Khái Hưng.

Các nhà phê bình của ta, thường có lối nhận định đầy mặc cảm bị trị: cái gì hay cũng học Tây, ví dụ Vũ Ngọc Phan, đọc truyện Đồng xu thấy hay, bèn khen: Gravoche! Rồi Điếu thuốc lá, ông bảo gần bằng Cain! Cung Giũ Nguyên thấy Hai vẻ đẹp của Nhất Linh hay, thích lắm, nhưng ông lên giọng kẻ cả, khen rằng Nhất Linh có giọng một trăm phần trăm giống Gide, trong cuốn Nouvelle Nourriture. Khiến Khái Hưng phải chú thích: nỗi băn khoăn ấy Nhất Linh đã có từ bốn năm trước khi đọc Gide[19] [ý nói từ khi Nhất Linh học trường mỹ thuật, đã có ý so sánh cái đẹp trong tranh với đời thực khốn cùng, vì thế ông bỏ mỹ thuật] Tiêu Sơn tráng sĩ cũng được người ta cũng khen rằng sắp theo gót Ba người ngự lâm pháo thủ!

Lối phê bình tự hạ này rất kỳ cục, bởi ta nên biết: nền văn chương của một nước, như văn chương quốc ngữ của chúng ta, không phải vì ra đời sau mà nó kém văn chương Tây phương. Văn chương không phải là văn bằng, cũng không phải là cái ô tô hay một phát minh khoa học. Tác phẩm văn chương khi ra đời nó không có bố mẹ, mà có giá trị riêng của nó, độc nhất, không giống ai, trước sau cũng vậy. Tôi ở Pháp đã lâu, mà nghiệm thấy mình ít có may mắn được đọc những nhà văn Pháp viết truyện ngắn như Khái Hưng hay Nguyễn Huy Thiệp.

__________________________

[1] Nùng Chi Lan ký Tống Lương (PH số 14, 22-9-32); Bông hoa thủy tiên ký Tứ Ly (số 31, 24-1-33) và Cánh buồm trắng, ký Tứ Ly (số 34, 17-2-33).

[2] Tuồng cổ tân thời đăng trên Phong Hóa, từ số 38 (17-3-33) đến số 42 (14-4-33).

[3] Thây ma xuống gác (PH số 27, 23-12-1932), Con châu chấu ma (số 30, 13-1-1933) Cô Bụt (số 44, 28-4-1933), Giòng máu đứt quãng (số 53, 30-6-1933), Cái ví da đen (số 60, 18-8-1933) Hai lần chết (số 63, 8-9-1933), Cái xác đuổi người (số 66, 29-9-1933) Bên đường Thiên Lôi (số 70, 27-10-1933) Ngây thơ (số 103, 22-6-1934) và cũng trong số bào này bắt đầu phóng sự Lê Ta làm báo.

[4] Giết chồng… báo thù chồng, số 14, 22-9-32, Tiếng chó sủa, số 15, 29-9-32, Cái hoa chanh, số 16, 6-10-32, Tiếng gọi cõi âm, số 17, 13-10-32.

[5] Con hai bố (PH số 24, 2-12-32); Vết máu… (số 26, 16-12-32); Nước chảy đôi giòng (số 28, 30-12-32); Cô áo tím (số 29, 6-1-33); Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng) và Ngọc có vết (số 31, 24-1-33), Hồn hoaBóng người trên sương mù, (số 32, 3-2-33), Gái vùng Lim (số 33, 10-2-33), Nắng mới trong rừng xuân (số 37, 10-3-33), Đầu đường só chợ, (số 51, 16-6-33), Tháng ngày qua (số 52, 23-6-33), Ngày thu… (số 62, 1-9-33).

[6] Gánh hàng hoa từ PH số 66 (29-9-33) tới số 88 (9-3-34); Đời mưa gió từ số 89 (16-3-34) tới số 112 (24-8-34).

[7] Thế rồi một buổi chiều, phụ trương số 91 (30-3-34), Cô hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh) số 107 (20-7-34), Nắng thu từ số 113 (31-8-34) đến số 122 (2-11-34), Lan rừng, số 162 (15-11-35).

[8] Nghèo, NN số 17 (19-7-36) Hai buổi chiều vàng (NN số 19, 2-8-36), số 20, 9-8-36, số 21, 16-8-36 và số 22, 23-8-36, Tối tăm, số 23, (30-8-36), Chết dở, số 24 (6-9-36), Hai chị em, số 34 (15-11-36), Vết thương, số 35 (22-11-36), Con đường quê, số 138 (20-11-38).

[9] Kong-Ko Đai-Jin ký Trần Khánh Giư (PH số 14, 22-9-1932); Đi Nam Kỳ ký T.K.G và Cái thù ba mươi năm ký T.Khái Hưng (PH số 15, 29-9-1932); Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng (số 16, 6-10-1932); Cái thống đời Tống ký T. Khái Hưng ( số 17, 13-10-1932); Tình tuyệt vọng trong có bài thơ Tình Tuyệt Vọng (dịch thơ Arvers) (số 18, 20-10-1932); Ada Kwaben (PH số 19, 27-10-1932); Lãng mạn ký Trần Khái Hưng, số 21 (11-11-1932); Bạn…! Chỉ là bạn!… (số 23,25-11-1932); Dưới bóng hoa đào của Khái Hưng và Bảo Sơn (số 31, 24-1-1933); Lên sĩ xuống sĩ (số 33, 10-2-1933); Hai linh hồn, số 35, 24-2-1933); Bên giòng sông Hương (số 40, 31-3-1933); Ý Lan (số 41, 7-4-1933); Véo von tiếng địch (số 42, 14-4-1933); Nghiã cái cười (số 43, 21- 4- 1933); Anh phải sống (số 45, 5-5-1933); Hai cái áo quan (số 46, 12-5-1933). Tình điên (số 48, 26-5-1933) và số 49 (2-6-1933); Con lợn lài (số 50, 9-6-1933); Hất báo số 56, 21-7-1933) số 57, 28-7-1933) và số 58, 4-8-1933); Lời thề (số 64, 15-9-1933); Giọc đường gió bụi (số 65, 22-9-1933); Yêu (số 77, 15-12-1933); Con số 08430 (số 78, 22-12-1933; Ai đẹp (số 79, 29-12-1933); Bên đường dừng bước (số 85, 11-2-1934); Tình lưu luyến (số 96, 4-5-1934); Hoàng Oanh (số 97, 11-5-1934); Yên lặng (số 106, 13-7-1934); Cô hàng nước của Khái Hưng và Nhất Linh (số 107, 20-7-1934); Gói bạc rơi (số 120, 19-10-1934); Một tập thư, (số 121, 26-10-1934); Chúa Thao (số 122, 2-11-34). Con Mán (số 125, 23-11-34), Hương gây mùi nhớ (số 127, 7-12-34), Một nhà thông thái (số 128, 14-12-34), Cái đồng hồ đeo tay (số 133, 18-1-35), Linh hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ Thị Kim Dung (số 134, số Xuân, 30-1-35), Một nhà hiền triết (số 139, 8-3-35), Bắt trộm (số142, 29-3-35), Giặc bể (số 144, 12-4-35), Con chim vành khuyên (số 154, 20-9-35), Tiệc tranh (số 158 (18-10-35), Không BẢ..A..Án (số 159, 25-10-35), Trăng suông (số 161, 8-11-35), Tình yêu thứ nhất của Khái Hưng và P.N.Thọ (số 164, 29-11-35), Cầm vườn (168, 27-12-35), Cái áo đan, Lá rụng, Hoa thuỷ tiên, Hoa anh đào, Ngày xuân lễ chùa, Trong rừng mai (số 171, Xuân 21-1-36), Chén trà mạn sen (số 174, 14-2-36), Ô Quy Hồ (số 175, 21-2-36), Trúng sốBãi sậy vườn cam (số 176, 28-2-36), Biến đổi (số 177, 6-3-36), Cháu Tạ (số 178, 13-3-36), Vú Kim (số 181, 3-4-36), Trong nhà thương (số 185, 1-5- 36), Hai cảnh trụy lạc (số 187, 15-5-36), Có đi có lại (số 188, 22-5-36), Thưa chị, (số 189, 29-5-36), Cái máy ảnh ( số 190, 5-6-36).

[10] Ba Ếch Vô Huế, ký Khái Hưng (số 41,7-4-33); Một đám ma, ký Nhị Linh số 46 (12-5-33); Quýt ngọt, ruốc ngon, ký Khái Hưng (số 49, 2-6-33); Gật, gật hoài ký Khái Hưng, số 50 (9-6-33); Hảo hớn ký Nhị Linh, số 52 (23-6-33); những chuyện sau đây ký Khái Hưng: Võ Thái Hà, số 53 (30-6-33); Để của bí mật, số 54 (7-7-33); Yêu đời, số 73 (17-11-33); Đãng trí, số 89 (16-3-34); Cai thuốc phiện, số 91 (30-3-34); Những bóng người trên bãi biển, truyện phóng sự của Nhị Linh, số 109 (3-10-34); Ông cứ giã cho nó! ký Khái Hưng, số 118 (5-10-34). Chụp gà hóa cáo số 124 (16-11-34) Thả vỏ quýt ăn mắm ngấu (số 125, 23-11-34), Liều thuốc độc (số 129, 21-12-34) Mãn đình hồng của Nhị Linh (số 130, 28-12-34), Ăn miếng trả miếng (số 131, 4-1-35), Bảng công ty (số 152, 6-9-35), Chơi ô tô ( số 160, 1-11-35), Tờ giấy bạc (số 161, 8-11-35), Bàn việc làng (số 165, 6-12-35), Cờ quạng ( số 182, 10-4-36) Bảo hiểm (số 184, 24-4-36).

[11] Kiêng 1 (PH số 31, 24-1-33) ký Khái Hưng; Tôi là Khái Hưng (số 39, 24-3-33); Ghen, số 46 (12-5-33) ký Nhị Linh; Những vở kịch ký Khái Hưng: Nửa cái thỏ bò, số 51 (16-6-33), Ông Đồng Phương, số 81 (12-1-34); Kiêng 2, số 85 (11-2-34); Tục lụy; số 88 (9-3-34), 89 (16-3-34) và 90 (23-3-34); Con mèo, số 115 (14-9-34); Chữ nho, số 116 (21-9-34); Bói Kiều, số 119 (12-10-34); Không hề gì mà, số 120 (19-10-34), Kiêng (số 134, số Xuân, 30-1-35), Ở hiền gặp lành (số 172, Xuân II, 31-1-36), Quần tiên tụ hội, (số 185, 1-5-36), Kịch không người (số 190, 5-6-36).

[12] Đợi chờ, NN số 17, 19-7-36), Bến đò năm xưa (số 21, 16-8-36), Phong lanNước hoa phong thổ (số 22, 23-8-36), Cái ve (số 23, 30-8-36, số 24, 6-9-36, số 25, 13-9-36 và số 26, 20-9-36), Lòng tốt (số 26, 20-9-36), Linh Hồn (số 28, 4-10-36), Trăng thu (số 29, 11-10-36), Người vợ mù (số 31, 25-10-36), Dưới ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu) (số 32, 1-11-36, số 33, 8-11-36, số 34, 15-11-36 và số 35, 22-11-36), Nhà phê bình (số 39, 20-12-36), Đồng xu, (số 41, 3-1-37), Đêm giao thừa, (số 46, 7-1-37), Cô áo trắng (số 51, 14-3-37), Vui tính (số 53, 4-4-37), Hội kín (số 58, 9-5-37), Tống tiền (số 59, 16-5-37), Nguồn thơNgày giỗ (60, 23-5-37), Bến Hòn Gay (số 63, 13-6-37), Cháu nhà quan (số 64, 20-6-37), Sung sướng (số 65, (27-6-37), Cô dâu (số 66, 4-7-37), số 67, 11-7-37) và số 68, 18-7-37), Cây tre trăm đốt (số 70, 1-8-37), Vợ cóc, truyện cổ tích (số 71, 8-8-37), Ai mua hành tôi, truyện cổ tích (số 72, 15-8-37), Mười năm yêu dấu (số 76, 12-9-37), Người hầu sáng (số 86, 21-11-37), Sếnh Sáng (số 88, 5-12-37), Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa) và Đào Mơ (số 89, 12-12-37), Tập ảnh (số 96, 30-1-38), Thời xưa, (số 103, 27-3-38), Chùa Hương (số 109, 8-5-38), Xanh cà bung (số 110, 15-5-38), TVBAVOKVVEAV tức Tiếng khèn (số 112, 29-5-38), Điếu thuốc lá, (số 114, 2-6-38), Lưu Bình Dương Lễ (số 125, 28-8-38) số 126, 4-9-38) số 127, 11-9-38) và 129, 24-9-38), Một buổi chầu (số 146, 21-1-39), Hai người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó hiểu (số 148, 4-2-39), Chàng thi nhân (số 149, 15-2-39), Gán vợ (số 151, 4-3-39), Tình địch (số 154, 25-3-39), Tế thành hoàng, (số 156, 8-4-39), Cái duyên của Tản Đà (số 166, 17-6-39), Vài truyện vui về thi sĩ Tản Đà (số 167, 24-6-39), Ông Đồng (số 172, 29-7-39), Thời chưa cưới, (số 173, 5-8-39), Tương tri, (số 175, 19-8-39), Hai người bạn (số 181, 30-9-39), Sư Tuệ, (số 182, 7-10-39), Hai con mắt (số 205, 30-3-40), Biển, (số 209, 25-5-40), Ái tình, (số 216, 13-7-40), Nghiện, (số 218, 2-7-40).

[13] ChếtCờ điên thoại (NN số 16, 12-7-36), Cậu Cả (19, 2-8-36), Tiền (số 20, 9-8-36), Người chồng (số 36, 29-11-36), số 37 (6-12-36) và số 38 (13-12-36), Kiêng V (số 46, 7-1-37), Đồng bệnh (số 80, 10-10-37), số 83, 31-10-37, số 84, 7-9-37) số 85,14-11-37), Chén trà đầu năm (số 96, 30-1-38), Không đèn (số 153, 13-3-39), Khúc nghê thường (số 198, 3-2-40, số 200, 24-2-40).

[14] Hổ (NN số 145, 14-1-39), Thâm nho (số 151, 4-3-39), Trả thù (số 159, 20-4-39), Thoát (số 161, 13-5-39), Bà chủ nhà của tôi (số 164, 3-6-39), Bá cáo việc riêng (số 202, 9-3-40), Cách cho (số 203, 16-3-40), Chợ trời (số 204, 23-3-40) Đi ra thôi (số 206, 6-4-40) Cây “Thần tiên” (số 215, 6-7-40) Người bán dầu (số 217, 20-7-40), Lỡ quá ga (số 218, 27-7-40), Nghỉ mát (số 221, 17-8-40), số 222, 24-8-40) và số 223, 31-8-40).

[15] Mưa của Somerset Maugham, Khái Hưng dịch NN số 43, 17-1-37, số 44 (24-1-37), số 45 (31-1-37), số 46 (7-1-37), số 48 (28-2-37) và số 49 (7-3-37), Cô gái thành Arles của A. Daudet, Khái Hưng dịch (số 50, 14-3-37), Bệnh viện của Somerset Maugham, Khái Hưng dịch, số 167 (24-6-39) số 168 (1-7-39), 169 (8-7-39) và 170 (15-7-39); theo bản chũ Pháp của bà ER Blanchet, Trà đạo của Okakuza Kakuzo, Khái Hưng dịch theo bản chữ Pháp của Gabriel Mourey (số 209, 25-5-40), Ý nghiã nghệ thuật, của Okakuza Kakuzo (Trà thư), Khái Hưng dịch, số 210 (1-6-40), Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng dịch (NN số 212 (15-6-40), Hoa, của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng trích dịch (NN số 213 (22-6-40), Các trà sư của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng trích dịch (NN số 214 (29-6-40)

[16] Tiền hồ là tiền trả cho nhà chứa bạc.

[17] linh là lẻ, có nghiã là trên dưới trăm bạc.

[18] xà tích: dây bạc để đeo thià khoá.

[19] Cung Giũ Nguyên, Les Cahierrs de la Jeunesse số 4 Décembre 1936, in lại trong NN số 52).
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Wed 19 Jan 2022, 09:12

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Thuỵ Khuê

Tứ Ly và nghệ thuật trào phúng

Nghệ thuật trào phúng khởi đầu trên Phong Hóa từ số 19 và 22 với hài kịch của Hoàng Tích Chu.[1] Nhưng Hoàng Tích Chu mất sớm, người đứng lên tiếp tục là Tứ Ly (Hoàng Đạo) với loạt Tuồng cổ tân thời, thuần túy trào phúng, đăng trên Phong Hóa từ số 38 đến số 42.

Bẵng một thời gian, đến Phong Hóa số 124, trào phúng xuất hiện lại trên Phong Hóa, vẫn dưới ngòi bút Tứ Ly, nhưng lần này, dưới hình thức châm biếm có chủ đích, sức công phá mãnh liệt hơn, kéo dài đến Phong Hóa số 190, số cuối cùng.

Tứ Ly mở đầu việc chống đối quan trường dưới thời nhà nước bảo hộ với những loạt bài: Tam quốc tân thời diễn nghĩa, Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu – Đi xem mũ cánh chuồn, Đi xem mũ niĐi xem mũ giấy.

Về mặt hý họa, Tô Ngọc Vân thay Nguyễn Gia Trí trình bày Phong Hóa từ số 129 (21-12-34) đến số 160 (1-11-35), rồi ông đi Nam Vang, Nguyễn Gia Trí trở lại phụ trách Phong Hóa từ số 160 đến số chót 190 và tiếp tục trên Ngày Nay.[2]

Với hý họa Nguyễn Gia Trí, việc chống phá bằng tranh mới thực sự khởi sắc. Sự kết hợp văn và vẽ của Tứ Ly và Gia Trí làm gai mắt chính quyền thuộc địa, Phong Hóa luôn luôn gặp khó khăn, cũng vì tác phẩm của hai người, nhưng không phải vì họ mà Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, như người ta vẫn tưởng.

Tứ Ly và thể văn hài hước

Tứ Ly bắt đầu viết kịch hài hước trên Phong Hóa rất sớm, với Tuồng cổ tân thời, đăng trên PH từ số 38 (17-3-33) đến số 42 (4-4-33). Đây là một vở tuồng cổ, mô tả trận chiến hai phe: Một bên là Hoàng Tăng Bí tiên sinh[3], oai phong lẫm lẫm, bên tả có Nguyễn Khắc Hiếu, bên hữu có Nguyễn Văn Vĩnh, phò tá, cầm đầu đạo quân tiền bối ra trận. Một bên là bọn tiểu yêu Phong Hóa nhố nhăng, cùng với chủ soái Nhát Dao Cạo (Khái Hưng) rầm rộ ra khiêu chiến. Hoàng tiên sinh và lực lượng nho phong, sau một hồi tỷ thí, thua trận chạy có cờ (Xem chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam). Tuồng cổ tân thời là một thành công, sáng tạo lối kịch hài hước mới mẻ, trẻ trung, lần đầu tiên ở Bắc. Trước đó có kịch Chén thuốc độc (1921) của Vũ Đình Long, thuộc loại tân-cổ giao duyên. Nhưng Tuồng cổ tân thời chỉ có mục đích mua vui, chế giễu các cụ cổ, chưa chống Tây.

Một năm rưỡi sau, trên Phong Hóa, Tứ Ly đưa ra ba loạt hài hước mới: Cổ tích tân thời, Tam quốc tân thời diễn nghĩa, và nhất là loạt bài phỏng vấn giả tưởng, với tít: Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu- Đi xem mũ cánh chuồn.[4]

Sau số 150, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng (lý do sẽ nói sau). Khi báo ra trở lại, Tứ Ly bắt đầu loạt phóng sự tòa án: Trước vành móng ngựa[5], và loạt bài Đi xem mũ cánh chuồn còn thêm hai kỳ nữa, với bài phỏng vấn Phạm Lê Bổng và Bùi Bằng Đoàn[6]. Rồi loạt phỏng vấn Đi xem mũ ni[7] và Đi xem mũ giấy.[8] Tất cả những sáng tác này thuộc vào loại hài hước hoặc bi hài, sở trường của Tứ Ly Hoàng Đạo.

Cổ tích tân thời là truyện đầu tiên, đăng trên PH số 125 (23-11-34), lấy giọng Tam quốc kể “tích” Lãng Nhân Phùng Tất Đắc. Chuyện rằng: Lãng Nhân “đánh” Tùng Viên (một nhà báo già), rồi hơi ngượng, tự giận mình, quyết đi tìm một tên nhà báo trẻ đánh cho đỡ ngượng. May thay, về nhà soi gương thấy một tên ngờ ngờ đứng trước mặt: Mộng Ngư [bút hiệu Lãng Nhân] bèn lấy ba-toong nện cho y một trận, vỡ tan gương!

Cổ tích tân thời chỉ có tính cách mua vui, có lẽ vì còn e dè mũi dùi kiểm duyệt, chưa dám thực sự “vào đề.” Bỗng một chuyện không ngờ xẩy ra: nhà nước bảo hộ quyết định bỏ ty kiểm duyệt!

Bỏ ty kiểm duyệt

Tháng Giêng năm 1935, một tin cực kỳ hấp dẫn được đưa lên đầu trang nhất báo PH số 131 (4-1-35), và được long trọng đóng khung như ai tín với tít “Bỏ ty kiểm duyệt”: “Bắt đầu từ 1 Janvier 1935; ty kiểm duyệt không còn nữa.” Kèm với “tin buồn” này, toàn ban biên tập “nhất trí” cùng gửi lời điếu lâm ly tiễn đưa Ty duyệt về cõi vĩnh hằng, dưới ký 11 tên: Tứ Ly, Nhất, Nhị Linh, Tú Mỡ, Thế Lữ, Lê Ta, Thạch Lam, Khái Hưng, Chàng thứ XIII [Lê Thạch Kỳ], Đông Sơn và Nhát Dao Cạo.

Sau màn nước mắt cá sấu là màn xuất quân: Tứ Ly viết Tam Quốc tân thời diễn nghĩa, lấy tích cổ: Lưu Bị, Vân Trường, Trương Phi kết nghĩa vườn đào [ám chỉ việc thành lập Tự Lực Văn Đoàn] cộng với tích tân: Đốc bưu [đốc học Phạm Văn Thư, thanh tra chính trị ăn hiếp quan huyện]. Truyện thế này: Bị là viên quan huyện nhỏ mà không chịu đút lót quan lớn, nên Bưu khai man cho Bị tội hiếp dân.

Trương Phi nghe tin cả giận, đôi mắt tròn xoe, hàm răng nghiến chặt, tức tốc cưỡi xe đạp đến quán dịch, chạy thẳng vào hậu đường; thấy Đốc Bưu đương ngồi chĩnh chện trong phòng giấy mà đề lại thì bị trói dưới đất.
Phi thét lớn lên rằng:
– Thằng mọt dân kia có biết ta là ai không?
Đốc Bưu chưa kịp với tê-lê-phôn cầu cứu đã bị Trương Phi túm cổ lôi tuột ra ngoài quán dịch, kéo thẳng về trước huyện, trói vào cột đèn rồi lấy “ba-toong” phết mãi vào hai mông đít.


Lưu Bị lòng vốn nhân từ, thấy “cụ lớn khâm sai” [đốc Bưu] kêu la đau đớn quá, bèn quát em xá tội cho.

Tam Quốc tân thời diễn nghĩa là đòn đầu đánh vào bọn quan trường tham nhũng, đúng lúc được tin nhà nước bỏ kiểm duyệt.

Tứ Ly nhập cuộc

Màn dạo đầu Tam Quốc Tân thời diễn nghĩa hấp dẫn như vậy mà không bị cắt xén gì cả, nhất là lúc đó đang dưới thời Toàn quyền Robin, có tiếng hà khắc. Vậy vụ bỏ kiểm duyệt không phải là tin vịt, Phong Hóa số 132 (11-1-35) bèn thừa thắng xông lên, công khai đánh vào chế độ quan trường và các vấn đề hủ lậu khác. Bìa in tranh: Kiểm duyệt và báo chí của Tô Tử (Tô Ngọc Vân), bức tranh này mang tính cách “lịch sử” bởi là hý họa đầu tiên công khai chống kiểm duyệt, tức chống Pháp, tượng trưng tư tưởng con người như một dòng sông hay con đường, bị kẻ kiểm duyệt cầm kéo cắt xoẹt từng đoạn, tạo cảnh đường đứt, cầu trôi, sông vỡ, người bị đắm chìm, ngăn sông, cách núi.

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1215

Kiểm duyệt và báo chí của Tô Ngọc Vân, PH 132

Bên trong tờ báo, Tứ Ly khuấy loạn với ba bài: Bỏ quách đi, Than ôi kiểm duyệt, Đất nứt con… mọt dân và truyện Tam quốc chí diễn nghĩa.

Bài Bỏ quách đi tấn thẳng vào Hoàng Trọng Phu, quan Tổng đốc, kẻ vừa tuyên bố với nhà báo: “Nếu bỏ quan đi thì lấy gì thay thế vào”, Tứ Ly phản bác: Nhà nước nào cũng cần phải có nhà cầm quyền, tức là lớp người cai trị, nhưng ở những nước khác, người ta không gọi lớp người này là quan, ví dụ ở Pháp ông Herriot là thượng thư, khi ông ở văn phòng, khi về nhà ông là ông Herriot. Còn ở Việt Nam, ông Huyện Giai lúc nào cũng là “quan lớn” cả. Vậy xin đề nghị xổ toẹt chữ “quan” đi, nên gọi “ông huyện, ông phủ, ông tổng đốc, ông thẩm phán, ông án sát, ông thượng thư… là ông tuốt”.

Bài thứ hai Than ôi khiểm duyệt! Giọng khác hẳn, đây là một bài văn tế hết sức lâm ly:

Thôi từ nay âm dương cách ngả, chúng ta không được thấy mặt phòng kiểm duyệt nữa: phòng kiểm duyệt đã bãi hẳn rồi.
Tôi tưởng tượng đến cảnh phân ly của những viên chức phòng kiểm duyệt, người về Mật thám, kẻ lên Toàn quyền, mà tôi không khỏi ngăn được giọt lệ thương tâm, bất giác buột mồm mà than rằng:
Than ôi kiểm duyệt
Đã biệt nhau rồi
Còn nói chi nữa
Thế là xong đời.
Xong đời kiểm duyệt, còn đời báo. Tôi nửa mừng nửa lo.
Lo cho vận mệnh của tờ báo vẫn như trứng để đầu đẳng.
Mừng là mừng cho cái hy vọng sẽ được quyền tự do ngôn luận theo báo chí tây, mừng là mừng có thể giãi bầy ý kiến về những vấn đề quan hệ mà không phải bôi xoá.


Bài điếu văn lộ sự tinh nhạy của kẻ khóc, hé mở cho biết sự thật: nhân viên ty kiểm duyệt rặt bọn Mật thám và công chức phủ Toàn quyền.

Bài thứ ba Đất nứt con… mọt dân có tính xã thuyết, giọng chính luận mạnh mẽ, đánh vào bọn quan lớn sâu mọt mô-đéc:

Ở các nước khác chỉ có dân, ở nước ta, không những có dân mà còn có mọt dân nữa (…) Họ ở toàn những địa vị ăn trên ngồi chốc, chỗ nào có thể chấm mút được là có họ (…) Luân lý đối với họ chỉ là một cách để lừa dối bọn ngu dân, pháp luật đối với họ chỉ là cái lưới để họ chăng [bắt] lũ dân đen, họ dùng để thu tiền tài của hàng vạn con người thật thà, chỉ biết làm lấy mà ăn.(…) Phải khéo léo, xu phụng người trên để mượn lấy oai hùm, phải tìm lấy nơi quyền quý mà nương tựa. Chẳng thế mà có nhà “mọt dân” phải bỏ tiền hàng trăm, hàng nghìnlo lấy một chức… đầy tớ, chẳng thế mà biết bao nhiêu người luồn lụy, nịnh hót để mong lên chức… chân tay.” (PH số 132, 11-1-35).

Những bộ mặt “mọt dân” này, sẽ xuất hiện lại trên hý họa của Nguyễn Gia Trí một cách trắng trợn và rùng rợn hơn.

Tam quốc diễn nghĩa


Với Tam quốc diễn nghĩa, Tứ Ly “diễn nghĩa” trực tiếp cảnh tham nhũng “hiện đại”:

Có ông thư ký phải mất tới vạn bẩy mới được bổ làm chức huyện lệnh: thiên hạ gọi ông ta là ông huyện vạn bẩy.
Cách chọn lọc quần thần như vậy, nên quan sinh ra tham, lại sinh ra nhũng. Ai ai cũng đòi ăn tiền cả. Những khoé ăn tiền càng ngày càng nhiều, thôi thì cái khố rách của thằng đánh rậm, cái váy đụp của mụ bán thịt lợn, quan nào ăn được đều có tiếng khen là tài giỏi. Những quan thanh liêm đều bị thải về quê quán, còn nịnh thần thì mỗi ngày mỗi đông và mỗi lần gặp tham tang là một lần thăng chức.
Hoàng phủ Tụng, Chu Tuấn, có công đánh giặc khăn vàng ngày trước, không chịu lễ đút đều bị cách. Quan Gián nghi Đại phu Lưu Đào, quan Tư đồ Lưu Đàm vì can vua đều bị bỏ ngục.


Trong Tam quốc diễn nghĩa, vấn đề nào cũng được đề cập và tranh luận, cả đến chuyện “nam nữ bình quyền” cũng được hai bà thái hậu đem ra võ trường tỷ thí:

Hà thái hậu nói: “Chúng ta là lũ đàn bà, không nên tham dự đến chính quyền.”

Đổng thái hậu nổi giận lôi đình,

“Mi nói vậy thì hủ lắm. Chúng ta cũng tai mắt, cũng trí thức như bọn đàn ông thì ta phải bình đẳng bình quyền với họ mới phải chứ! Mi thử dương mắt ra mà xem: phụ nữ ta bây giờ khác xưa nhiều rồi. Đi bộ, đánh quần vợt, nhảy đầm, đá bóng đều được cả: vậy về mặt thể dục ta không kém gì bọn tu mi. Về mặt trí thức cũng vậy, đàn bà cũng có người đỗ đến tú tài, cử nhân, cũng biết diễn thuyết như đàn ông. Vậy bắt tù ở trong cung cấm, chẳng hóa ra trái với sự văn minh lắm sao?”
Hà hậu cãi: “Đàn bà cốt nhất là biết nấu cơm cho ngon, canh cho ngọt, giúp đỡ cho chồng. Thế nào là tam tòng từ đức.”
Đổng thái hậu bèn mắng át: “Ta đã gói ghém tam tòng lại như cô Kiêm
[phụ nữ mới nhất bấy giờ] và vất só rồi. Mi hủ lắm!”[9]

Những đại phu nhân trong Tam quốc diễn nghĩa, không chỉ ăn nói tân tiến như Đổng thái hậu, mà họ còn ăn mặc cực kỳ tân thời, tiến bộ, theo đúng mốt mới nhất: “Điêu Thuyền tha thướt trong bộ y phục Lemur mầu xám, đôi mắt long lanh dưới làn tóc vấn theo lối Huế.” Và sống theo đúng nhịp như Tây bên Tây:

Một chốc tiệc tan, mở cuộc khiêu vũ, Lã Bố ôm Điêu Thuyền nhảy theo điệu Fox-trott [sic] lấy làm khinh khoái vô cùng. Khiêu vũ xong, Điêu Thuyền lại ngồi xuống trước cây đàn piano, vừa đánh vừa lên tiếng hát theo điệu “J’ai deux amours”:

“Giò này giò nóng
Ai có mua thì xin cứ
Bỏ một hào ra
Ai muốn mua thì mua”.
[10]

Sau ba số Tam quốc diễn nghĩa cực kỳ hấp dẫn, có lẽ Tứ Ly nhận được “dấu hiệu” gì đó, nên ngòi bút trở lại “ngoan ngoãn” hơn, không đem chuyện thời sự bản xứ ra “diễn nghĩa” nữa, mà chỉ chép lại một số xen tam quốc cổ điển như: tam cố thảo lư, Lưu Bị tán Tôn phu nhân rồi ngừng, để bắt sang loạt bài phỏng vấn giả tưởng tức là Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu– Đi xem mũ cánh chuồn, mang họa cho Phong Hóa.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Fri 21 Jan 2022, 09:38

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Thuỵ Khuê

Đi xem mũ cánh chuồn

Đi xem mũ cánh chuồn là một thể nghiệm hài hước mới, bắt đầu từ PH số 139 (8-3-35), với cuộc phỏng vấn giả tưởng ông Tôn Thất Quảng, Công bộ thượng thư kiêm Mỹ thuật bộ thượng thư. Phóng viên hỏi ngài Thượng thư có ý kiến gì về chiếc áo dài Lemur, nên để cổ bờ thành (cổ kín) hay cổ áo bánh bẻ (cổ bẻ) và quần tân thời nên may một nếp hay hai nếp, thường dân có nên cạo răng trắng không? Xây dinh thự nên dùng kiểu “nhà bánh khảo,” “nhà Khai Trí” hay kiểu gì khác? Nói chung, phóng viên chỉ hỏi những câu vớ vẩn, không có mầu sắc chính trị gì. Tôn đại nhân cũng trả lời hoà nhã.

Người thứ hai được chiếu cố là Lại bộ thượng thư Thái Văn Toản (PH số 140- 15-3-35), lần này phóng viên tiến dần hơn tới “chính trị,” hỏi ý đại nhân về đề nghị bỏ chữ “quan,” và đưa ra nhận xét: tay áo thụng vướng quá, nhất là lúc cầm đũa hay múc canh, vậy có nên cắt ngắn đi cho gọn chăng? Các quan đi công cán nên đi xe bình-bịch cho nhanh? Vận quốc phục thì nên đi giầy ban [giầy tây] hay giầy ta?

Đến cuộc phỏng vấn hai ông Phạm Quỳnh (PH số 141-142) và Nguyễn Văn Vĩnh (PH số 143), và một số vị có tên tuổi khác,[11] tất cả những bài này thuộc loại cò mồi, làm ô dù che cho những bài phỏng vấn “thứ thiệt.” Nhất là bài phỏng vấn Phạm Quỳnh, dàn trải trên hai số báo, giọng lịch sự tương kính như một môn sinh đến thăm thầy. Bài phỏng vấn Nguyễn Văn Vĩnh cũng vậy, giọng vui vẻ trẻ trung hơn. So với hai bài phỏng vấn hai quan lớn Hoàng Trọng Phu và Vi Văn Định, như ta sẽ thấy ở dưới, thì có sự khác biệt một trời một vực. Sở dĩ có sự tương kính này vì hai ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là người có công lớn với nền văn học quốc ngữ, lại là bậc đàn anh và chỉ khác Hoàng Đạo về đường chính trị: Phạm Quỳnh theo chế độ quân chủ lập hiến, chủ trương hòa hiếu với Pháp để làm văn hóa, nâng cao dân trí, Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương Bắc Kỳ tự trị dưới chế độ dân chủ trong khối Liên Hiệp Pháp; còn Tự Lực Văn Đoàn chủ trương chống Pháp, giải phóng dân tộc. Khi Nguyễn Văn Vĩnh mất, Phong Hóa có bài ai điếu vô cùng xúc động để khóc một người thầy.

Tóm lại, hai bài phỏng vấn Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh chỉ để che mắt thế gian, ô dù cho buổi phỏng vấn quan lớn Hoàng Trọng Phu, Vi Văn Định, hai vị bồi Tây chính hiệu, được nhận hàm Thái Tử Thiếu Bảo của triều đình, nên thường được gọi là quan Thiếu.

Phỏng vấn Hoàng Trọng Phu

Người ta thường cho rằng vì bài phỏng vấn Hoàng Trọng Phu mà Phong Hóa phải đóng cửa ba tháng. Nhưng khảo sát kỹ văn bản, thì nguyên do không phải bài này, mà bài sau, tức là bài phỏng vấn Vi Văn Định.

Quan lớn Hoàng Trọng Phu vốn ba đời làm tôi trung mẫu quốc: cụ thân sinh là Hoàng Cao Khải và người cháu là Hoàng Gia Mô, tri huyện Vĩnh Bảo. Cụ lớn Hoàng Cao Khải là vị Kinh lược sứ cuối cùng ở Bắc Kỳ, có công truy kích cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, viết thư dụ Nguyễn Thiện Thuật ra hàng năm 1889. Năm 1894, lại cầm quân đánh Phan Đình Phùng và viết thư dụ họ Phan ra hàng. Cả hai việc đều không có kết quả. Nhưng công to của họ Hoàng là ở chỗ khác: làm tay sai đắc lực cho Toàn quyền Paul Doumer trong việc thực hiện chính sách thuộc địa hóa nước Nam. Khái Hưng viết:

Hắn có công với người Pháp là để cho người Pháp tha hồ xuyên tạc, tha hồ thực hành sai hiệp định 1884 ở Bắc kỳ. Bỏ phủ Kinh lược, dồn cả quyền bính viên Kinh lược vào cho viên Thống sứ Bắc kỳ; để các công sứ Pháp cướp hết quyền các quan tỉnh Việt Nam, trước còn nguyên trong việc hành chính, sau lấn sang cả quyền Tư pháp; cắt đứt hẳn Bắc Kỳ, Trung kỳ ra thành hai nước nhỏ, chịu mỗi bên một chính thể một luật pháp, nói tóm lại, làm cho Bắc kỳ thuộc thẩm quyền trực trị của Pháp, đó mới là cái công to của hắn đối với người Pháp. Hoàng Gia Mô cũng là một tay thần tử rất trung thành của “Mẫu quốc” và rất tận tâm lùng bắt các tay cách mạng ở trong hạt Vĩnh Bảo. Trừ những người hắn đã nộp đi không kể, nguyên hôm huyện vỡ, anh em còn gỡ ra ở trong khám giam huyện hơn hai chục người! (Chính Nghĩa số 9, 29-7-46).

Hoàng Gia Mô, con trai Hoàng Mạnh Trí, cháu nội Hoàng Cao Khải, làm đến chức tri huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng). Năm 1930, trong cuộc tổng khởi nghĩa Yên Bái, bị Trần Quang Riệu hướng dẫn dân quân giết chết, làng Cổ Am bị Pháp ném 57 trái bom trả thù. (Xem chương: 80 Quan Thánh, phần II)

Hoàng Trọng Phu không để lại công nghiệp đẫm máu, ông chọn con đường văn hóa, hợp tác với mẫu quốc, xây dựng hội Khai Trí Tiến Đức, tụ họp các trí thức thân Pháp vào hội để “mở mang dân trí.” Vì thế ông được Tứ Ly chiếu cố cùng với Vi Văn Định, trên hai số báo liên tiếp. Bài “phỏng vấn” Hoàng Trọng Phu in trên PH số 149 (17-5-35) và bài phỏng vấn Vi Văn Định, in trên số PH 150 (24-5-35).

Bài “phỏng vấn” Hoàng Trọng Phu, mở đầu bằng câu:

Bước vào gian phòng khách, tôi cảm thấy sự yên tĩnh lạ lùng: bộ ghế gụ kiểu tây chạm trổ theo lối tầu đang ngủ im trên chiếc thảm hoa, ảnh các ông Toàn quyền Đông pháp treo trên tường yên lặng đang nhìn tôi bằng con mắt lim dim. Cả đến con mèo tam thể cũng nằm tròn trên chiếc nệm, không nhúc nhích, cả đến ông phệnh đường bằng sứ ngồi trên tủ chè cũng đương nhếch mép cười trong giấc mơ.

Lối viết này rất kín đáo và hàm súc nên ít ai nhận ra sự phạm thượng: Cách bài trí trong phòng nói lên sự lai căng của gia chủ: bầy đồ Tầu mà thờ các thánh Tây. Rồi chỉ với hai chữ lim dim phóng viên đã đồng hóa các vị Toàn quyền với con mèo tam thể.

Vào phần “nội dung phỏng vấn”, được hỏi về việc đi Pháp, Hoàng tướng công trả lời chỉ đi chơi thôi. “Vậy mà tôi cứ tưởng hội Khai Trí Tiến Đức đã đúc tượng tướng công để kỷ niệm cái công của tướng công đã lặn lội sang Pháp dạo đó.” Câu này ngụ ý nói tướng công được hội Khai Trí Tiến Đức nặn tượng vì đã có công sang tận mẫu quốc xin giấy khai sinh cho Hội, đánh đúng ý tướng công, khiến ngài không quên nhắc lại công trạng vĩ đại này: “Sự nghiệp của hội Khai Trí tức là sự nghiệp của tôi”. Ngài còn nói thêm rằng: “ta được nhờ quý bảo hộ khai phá cho ta, thì ta cũng phải lập một cơ quan để giúp đỡ chánh phủ về đường giáo dục,” câu này tỏ rõ bụng dạ quan lớn: chỉ canh cánh nghĩ đến công ơn chính phủ bảo hộ và một lòng phục vụ hội Khái Trí Tiến Đức để báo đáp ơn trên. Đến đây phóng viên hỏi xỏ:

– Bẩm, thế trong vòng 13 năm nay, tướng công thấy xã hội Việt Nam đức tiến và trí khai được chừng nào rồi? (…)
– Ông cứ xem công việc của hội Khai Trí thì đủ biết.
– Bẩm, những công cuộc lớn lao của hội Khai Trí thì chúng tôi người trần, mắt thịt, quả không nom thấy. Duy chiều chiều đi hóng mát trên bờ hồ Gươm, thì thường thường chúng tôi nghe thấy tiếng hô tổ tôm điếm, hoặc tiếng bát đũa chạm nhau ở trong nhà hội đưa ra mà thôi.” (…)
– Chơi tổ tôm bắt ta phải nghĩ ngợi lắm, có lẽ cũng là một cách khai cho trí của người annam ta vậy.
Gật gù, Hoàng tướng công không nói gì, ý chừng ngài còn mải nghĩ đến cách làm tiến đức cho người Việt Nam nữa.


Bài phỏng vấn này tuy có phạm thượng chút đỉnh nhưng nhẹ nhàng, nên đã qua mắt các quan mật thám (bấy giờ Ty kiểm duyệt đã đóng cửa rồi, nhưng nhân viên chắc vẫn còn làm việc không chính thức). Tuy vậy, ngòi bút của phóng viên không phải là thiếu sâu sắc. Lúc vào đầu đã giới thiệu ngay: phòng khách của quan lớn treo đầy ảnh các vị toàn quyền Đông Pháp lim dim nhìn tôi, cùng với hình ảnh mập phệ của ông phệnh đường, ý ám chỉ các vị đại diện mẫu quốc có đôi mắt súc vật và thân hình lợn ỷ, như đã nói ở trên. Ngoài ra, phóng viên còn nêu bật được hai yếu tố đặc biệt của Hội Khai Trí Tiến Đức, mà dân chúng đi qua bờ Hồ đều nghe thấy: là tiếng sát phạt tổ tôm điếm và tiếng bát đĩa chè chén. Tổ tôm điếm là một thứ tổ tôm có luật chơi hơi khác tổ tôm (thường), nhưng chữ điếm ở đây có dụng ý sâu sắc, chắc bạn đọc đã thấy. Bài phỏng vấn quan lớn Hoàng Trọng Phu, được thông qua, có thể là do lỗi của vị quan mật thám ngủ gật khi duyệt, nhưng đến số sau, bài phỏng vấn quan lớn Vi Văn Định thì ác quá, “trên” không thể làm ngơ, bèn bắt tờ báo đóng cửa ba tháng.

Phỏng vấn Vi Văn Định – Bị đóng cửa ba tháng

Ngày nay, nếu ai đọc tiểu sử Vi Văn Định in trên Wikipédia tiếng Việt, sẽ thấy một công thần, xuất thân trong gia đình quý tộc Việt-Tày ở Lạng Sơn: Cao tổ là một vị khai quốc công thần theo Lê Lợi khởi nghĩa… dòng dõi nhiều đời trấn vùng biên ải. Ngài còn là vị quan lớn yêu nước, đã đem cả gia đình lên Việt Bắc theo kháng chiến, có con rể là trí thức hàng đầu như Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và cháu rể như Tôn Thất Tùng.

Vậy tại sao hồi đó Tứ Ly lại dám phạm thượng đến nỗi Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng?

Số là lúc Tứ Ly nghĩ ra chuyện “phỏng vấn” này, thì quan lớn họ Vi đang làm Tổng đốc Thái Bình (1929-1937). Sự thăng quan tiến chức rất nhanh trong quan trường thời ấy, thường nhờ công lao phục vụ chính quyền thuộc địa. Mà công lao lớn nhất của quan lớn là việc tiễu trừ Quốc Dân Đảng, được Hoàng Văn Đào ghi lại: “Mỗi khi bắt được một đảng viên VNQĐ, Vi Văn Định liền ra lệnh đốt nhà, rồi bắt người về tra tấn rất dã man. Tú tài Nguyễn Đức Triệu 84 tuổi, chi bộ trưởng chi bộ Phụ Dực bị Vi Văn Định dùng chầy giã giò tra khảo đến bỏ mạng.”[12]

Việc Hoàng Văn Đào ghi trên đây, sẽ có các sử gia kiểm lại, nhưng những ai (như chúng tôi) sinh ở vùng Nam Định, Thái Bình, hồi bé, thường được người nhà nêu tên quan lớn ra dọa như dọa ngáo ộp, mặc dù quan lớn đã rời địa hạt Thái Bình từ lâu. Mà theo tài liệu của Phủ toàn quyền, thì quan lớn đã nhận những huân chương sau đây:

– Grand officier de la légion d’Honneur (Đệ nhị đẳng bắc đẩu bội tinh).

– Grand officier du Dragon d’Annam (Đệ nhị đẳng Long bội tinh Annam).

– Grand officier de l’Ordre du Million d’Éléphants et du Parasol Blanc (Đệ nhị đẳng huân chương Vạn Tượng và Bạch Lọng).

– Officier de l’Ordre Royal du Cambodge (Đệ tứ đẳng huân chương Hoàng gia Cam Bốt).

– Officier du Mérite Agricole Annamite (Đệ tứ đẳng huân công Canh nông Annam).

– Kim Khánh de 1ère Classe (Kim khánh hạng nhất).

– Kim Tiền hors classe. (Kim tiền ngoại hạng).

– Palmes académiques (Hàn lâm huân chương).

– Ngân Tiền de 1ère classe. (Ngân tiền hạng nhất) .

– Médaille coloniale avec agrafe du Tonkin (Huy chương thuộc địa Bắc kỳ).

– Médaillle d’honneur en or de 1ère classe. (Huy chương vàng hạng nhất)[13].

Với ngần ấy huân chương của mẫu quốc và Nam triều [Nam triều do khâm sứ Pháp chủ tọa Cơ mật viện, tức hội đồng bộ trưởng], chả trách quan lớn bị Tứ Ly Hoàng Đạo đem ra “phỏng vấn” và ngay sau bài đó, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng.

Bài này nếu xét về ý tưởng thì không có gì phạm thượng, nội dung rất trong sáng: phóng viên chỉ hỏi sơ qua quan lớn những việc không đâu, mở bài bằng đoạn văn tả cảnh khá mơ mộng:

Một anh mán Bạch miêu đầu trọc lốc, đỉnh sọ phất phơ cái chỏm con, mời tôi vào ngồi đợi lệnh quan lớn Vi Văn Định trong một gian phòng khách, kiểu nửa ta nửa tây. Bỗng nghe thấy tiếng nói bên cạnh cửa sổ:– Noọng đây slao lai. Cố đíp noọng lai (Cô em đẹp lắm tôi yêu cô em lắm).
Tôi nhìn ra thấy một cô gái Thổ vừa kêu vừa đuổi con mèo tam thể đương cong đuôi chạy.
Câu tiếng Thổ nhẹ nhàng, gợi trong tôi những giọng… gió gào ngàn, những cảnh rừng sâu, cây cả, đầy một không khí mãnh liệt gớm ghê…
Tôi đương vơ vẩn tìm cái chân tướng của người Thổ, Mán, không biết họ ngây thơ hay dữ tợn, hay vừa ngây thơ vừa dữ tợn như cô gái Thổ trong truyện “Một đêm trăng” của Thế Lữ, thì bỗng cửa phòng hé mở, rồi thấy ló ra cái đầu trơn trụi, bóng loáng của một anh mán sơn đầu. Tôi rợn mình tưởng như sắp lạc vào nơi lạnh lẽo, thâm u… Anh mán nhoẻn miệng cười, vẫy tôi sang gian phòng bên cạnh.
Gian phòng này cũng là gian phòng khách, song bầy biện toàn lối Thổ: thảm ngũ sắc bầy khắp nơi, nỏ và ống đựng tên treo la liệt trên tường. Trên một cái sập gụ–cái sập có cái đặc điểm là chân kê rất cao–chỉnh chện quan lớn Tổng đốc Vi Văn Định ngồi bắt chân chéo kheo. Quan lớn chạc chừng tứ ngũ tuần chi gian, bảnh bao trong chiếc áo gấm lam, đẫy đà phì nộn như một ông quan annam chính thức, ba chòm râu xanh rũ xuống che cái thẻ ngà lõng thõng trước ngực như ba cái đuôi chủ của các nhà đạo sĩ Tầu xưa. Đứng bên cạnh bàn quan lớn, có một chị ngây thơ như mán rừng, đầu buộc ngang một vuông vải đen, viền chỉ hoa: đích thị là một chị mán cóc.
Quan Lớn thấy tôi vào vẫn ngồi yên trên sập, vẻ hách dịch, đường bệ, tròn trĩnh …. Tôi ngả đầu chào thì quan lớn chỉ sẽ gật đầu và nhếch mép:
– Thầy ngồi chơi.
Quan lớn thật đã thành ông quan annam đặc, không còn có cái vẻ ngây thơ của những cô gái Thổ hát đúm ở lưng đèo.


Nếu bạn để ý, sẽ thấy phóng viên không coi quan lớn là ông quan annam, mà chỉ khen Quan lớn thật đã thành ông quan annam đặc, ý này muốn nói kháy: quan lớn đã mất hết sự ngây thơ trong sáng của người Tày, chỉ còn giữ lại sự dữ tợn của cô gái Thổ sát nhân trong truyện “Một đêm trăng” của Thế Lữ, quan lớn lại học thêm được tất cả mánh khoé gian tham độc ác của người Kinh. Đoạn văn ác ở lối tả và cách dùng chữ: những chữ mán Bạch Miêu (mèo trắng), mán sơn đầu, mán rừng, mán cóc… không thể hiện sự kỳ thị của phóng viên đối với người dân tộc, mà chỉ để hạ thấp giá trị quan tổng đốc phì nộn như một ông quan annam chính thức, lại được hộ giá bằng một chị ngây thơ như mán rừng, đầu buộc ngang một vuông vải đen, viền chỉ hoa: đích thị là một chị mán cóc. Giọng điệu quan lớn trong bài phỏng vấn, đối với mẫu quốc, càng tỏ rõ phong cách tôi đòi và công bình địa miền châu thổ của ngài:

“Dân được an cư lạc nghiệp là công của nhà nước bảo hộ. Còn bản chức, bản chức chỉ mong nối gót quan Từ, Tổng đốc xưa” [Hoàng Cao Khải?]

“Quan lớn họ Vi cười tủm, hai cái môi của quan cong lên như cái vành móng ngựa, trong lúc ba chòm râu tốt rung rung vì cảm động và hai con mắt nhỏ híp lại một cách oanh liệt“.

“– Tướng quân thích làm quan miền đồng bằng hay làm quan miền thượng du?

– Một nụ cười mỉm bí mật lộ ra sau mấy chòm râu thuôn tuột, quan lớn Vi trả lời tôi một cách thâm thúy:

– Bản chức thì nhà nước đặt đâu xin ngồi đấy. Bản chức dẫu ngồi ở trung châu, mà bao giờ cũng còn những mỹ tục của cố hương. Ngài có thấy cái sập này kê cao không? (…)

– Kê cao sập có ý nghĩa sâu xa lắm. Cái sập này tiêu biểu cho cái nhà sàn trên chúng tôi…”


Mới đọc qua những lời này, bạn tưởng là vô thưởng vô phạt, nhưng kỳ thực đầy ẩn ý:

Hỏi: Tướng quân thích làm quan miền đồng bằng hay làm quan miền thượng du? Là muốn nhắc đến công nghiệp bình định vùng đồng bằng, vây bắt bọn “phản loạn” Quốc dân đảng, giúp nhà nước bảo hộ tiêu diệt mầm mống nội loạn để dân cư được sống thái bình an lạc, đó là giá những mề-đai của mẫu quốc.

Khi vẽ chân dung ngài, phóng viên cũng chỉ dùng vài nét vờn: “Quan lớn họ Vi cười tủm, hai cái môi của quan cong lên như cái vành móng ngựa, trong lúc ba chòm râu tốt rung rung vì cảm động và hai con mắt nhỏ híp lại một cách oanh liệt”, nhưng đầy hàm ý: ví môi quan lớn cong cong như cái vành móng ngựa có khác chi nói miệng ngài chuyên nghề buộc tội như miệng công tố, và hai con mắt nhỏ híp lại một cách oanh liệt để chỉ cái tướng ác ngầm trong đôi mắt ty hý mắt lươn và hai chữ oanh liệt để chiếu vào những chiến công và sự tra tấn rùng rợn mà quan lớn thực hiện trên thân thể bọn tù Quốc dân đảng.

Sau bài này, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng là “đích đáng” lắm rồi.

Nhưng không phải Tứ Ly không biết trước việc sẽ bị đóng cửa, trong bài viết Tại sao Phong Hóa phải đình bản, (PH số 152, 6-9-35) Lãng Du [Nhất Linh] kể lại:

Sau khi nhận được giấy đóng cửa báo ba tháng. Tứ Ly có bảo tôi rằng:

– Việc đó đã định từ trước!
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Thế ra anh đã biết?
– Chính vậy.
– Anh biết mà anh không bảo cho chúng tôi hay để tìm cách ngăn ngừa.
Tứ Ly Tử cười nhạt đáp:
– Vô ích, cơ trời đã định.
Ngừng một lát, Tứ Ly Tử ngửa mặt lên trời, than rằng:
– Ngày xưa Gia Cát Lượng biết nhà Hán sẽ mất mà vẫn phò Lưu Bị. Tôi biết là viết mục “cánh chuồn” sẽ có kết quả không hay mà vẫn phải viết.


Tứ Ly thừa biết khi đánh vào hai quan đại thần hàm Thái Tử Thiếu Bảo bồi Tây là sẽ có chuyện, nhưng ông cứ làm, cũng như sau này, biết rằng cầm súng chống Pháp sẽ thất bại, nhưng không thể đừng.

Sau khi được cho phép ra báo trở lại, Tứ Ly chuyển hướng, không nhắm vào các vị ngực đầy huân chương mẫu quốc nữa, mà tung ra loạt bài “nhu mì” hơn như Đi xem mũ ni[14] và nhất là loạt bài Đi xem mũ giấy[15], lần này phóng viên chịu khó xuống tận âm ty phỏng vấn ma: bài thứ nhất phỏng vấn Đức Diêm Vương, bài hai phỏng vấn Đức Khổng Tử, rồi phỏng vấn một ông nghị ma có chân trong hội Khai Trí Tiến Đức và sau cùng, phỏng vấn Đức Phật Tổ Như Lai. Loạt bài này rất lý thú, đưa Tứ Ly lên hàng đầu những nhà hoạt kê thâm thúy. Phóng viên dùng thứ ngôn ngữ hai chiều, hỏi đủ mọi thứ chuyện, từ chuyện triết học đến những chi tiết liên quan đến cuộc đời đô hộ, mà không bị nhà nước bảo hộ phong toả, bởi vì nhà nước không thể kiểm soát được cửa thiền, cũng không nghe lén được thế giới âm ty, nhất là “phát biểu” của các vị đã hóa người thiên cổ từ mấy ngàn năm nay như Đức Khổng Tử, Đức Phật.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Tue 15 Feb 2022, 09:06

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Thuỵ Khuê

Phản đối việc chia rẽ ba kỳ

Phản đối việc chia rẽ ba kỳ là một đề tài lớn của Phong Hóa.

Từ Phong Hóa số 137 (22-2-35) Tứ Ly tung ra chiến dịch phản đối việc chia ba đất nước: Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Mục Người và việc, Từ nhỏ đến lớn đóng khung câu này: Làm gì có Trung Kỳ, Nam kỳ, Bắc kỳ, và dưới tiểu tựa Phân chia Nam Bắc, Tứ Ly viết:

   Không biết tự bao giờ sinh ra tiếng Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, để cho một nước lại hóa ra ba nước (…) Nhưng bọn vô học thức nào có biết đâu xưa kia ở chốn thâm quê lặng lẽ, đã có câu hát:
   Nhiễu điều phủ lấy giá gương
   Người trong một nước thì thương nhau cùng
   Họ có biết đâu xưa kia, dân ta cùng một lòng mở mang bờ cõi, từ bắc xuống nam, phá Chiêm Thành, thị oai với Ai Lao, Diến Điện, bảo hộ nước Cao Miên…
   Ngày nay, chính làng báo ta, tuy nát bét, phải tự cho nghĩa vụ mình là bảo cho họ biết…
   Cho họ biết rằng Nam Bắc không khác gì nhau, và những tiếng “xứ Nam kỳ”, “xứ Bắc kỳ” và “xứ Trung kỳ” là những tiếng nên bỏ “quách” như tiếng “quan” (…)
   Cho họ biết rằng những đội ban Gia Định, Victoria, Eclair, Seph, không phải là những đội ban đứng đại diện cho “nước Bắc kỳ” hay “nước Trung kỳ” để tranh tài với “nước Sài gòn”, cho họ biết rằng cả nước Nam chỉ là một, quyền lợi, nghĩa vụ, đều chung, mà người Nam hay Bắc toàn là người nước Nam cả, không khác nhau mảy may.
   Nếu không, nước Nam không phải là… nước Nam mà làng báo ta chỉ là làng báo xôi thịt mà thôi.
(PH 137, 22-2-35).

Chữ kỳ có từ bao giờ?

Chữ kỳ có từ thời Minh Mạng. Sau khi đại thắng quân Thanh, Quang Trung đổi Thăng Long thành Bắc Thành. Gia Long giữ nguyên tên Bắc Thành, nhưng chữ Bắc Thành thời Gia Long vừa chỉ Thăng Long, vừa chỉ miền Bắc, cũng như chữ Gia Định thành vừa chỉ Sài Gòn vừa chỉ miền Nam; còn Kinh kỳ hay kinh sư chỉ Thừa Thiên Huế.

Sang đời Minh Mạng, chữ Bắc kỳ xuất hiện khá sớm, Đại Nam Thực Lục năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đã có câu: “Đắp thành đất 10 phủ Bắc kỳ” (ĐNTL, tập ba, trang 10) hoặc “Định hạn ra thú cho các giặc trốn ở Bắc kỳ” (trang 49). Năm Minh Mạng 12 (1831) vua bắt đầu công trình cải tổ hành chính lớn lao: từ Quảng Trị ra Bắc, gồm 11 trấn, từ trước đến nay mỗi trấn đều do một Tổng trấn cai trị, quyền hành quá lớn. Vua quyết định phân quyền: bỏ trấn, lập những đơn vị hành chính nhỏ hơn như huyện, phủ, do Tri huyện, Tri phủ, phụ trách. Tỉnh, do Tổng đốc, Tuần phủ coi việc cai trị và Bố chính, Án sát, coi việc tài chính, thuế khoá và luật pháp. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi tên Bắc Thành là Hà Nội. Năm 1832, vua bắt đầu cải tổ hành chính phiá Nam: từ Quảng Nam trở vào Gia Định, gọi là Nam kỳ[16]. Tóm lại, dưới thời Minh Mạng, Bắc Thành đổi tên là Hà Nội, chỉ có Bắc kỳ và Nam kỳ, ở hai đầu, còn vùng giữa, thuộc kinh đô, gọi là Kinh kỳ hay Kinh sư. Hệ thống quan lại ở nước ta cho tới thời Pháp thuộc, là do vua Minh Mạng định đặt.

Chữ kỳ thời Minh Mạng chỉ có nghĩa là cõi, không có ý chia rẽ gì cả. Khi người Pháp xâm lấn nước ta, họ chiếm Nam kỳ trước, Bắc kỳ sau, rồi chia thành “ba nước” để trị. Trên nguyên tắc, miền Trung thuộc triều đình, nhưng vua đã mất quyền: viên Khâm Sứ chủ tọa Cơ Mật Viện từ thời Thành Thái, vì Toàn quyền Paul Doumer đã tự ý thay đổi các điều khoản trong hòa ước Giáp Thân 1884, để biến nước Việt Nam thành một thuộc địa toàn phần, việc này sẽ nói rõ hơn trong một chương sắp tới.

Chống lại việc chia rẽ ba Kỳ là hành động phản kháng đầu tiên trực tiếp chống lại chính sách cai trị của Pháp, trên hai số báo Phong Hóa, số 137 (22-2-35) với bài viết của Tứ Ly, đả phá việc chia rẽ ba kỳ đã trích dẫn ở trên. Và Phong Hóa số 146 (26-4-35) có tranh vẽ Nguyễn Phan Long chia rẽ Nam Bắc của Tô Ngọc Vân.


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1216

Nguyễn Phan Long chia rẽ Nam Bắc của Tô Tử (Tô Ngọc Vân), PH 146


Sau khi bị đóng cửa ba tháng, vấn đề chia rẽ Nam Bắc lại trở lại, kín đáo hơn, sâu sắc hơn với bài xã luận Chia rẽ Nam Bắc của Nhị Linh (Khái Hưng) trên PH số 151 (31-8-35), không đánh Pháp mà trách người Việt:

   Chúng tôi lấy sự chia rẽ làm đau lòng, vì chia rẽ bao giờ cũng chỉ có hại. Trong hai trăm năm họ Nguyễn, họ Trịnh chia rẽ đánh nhau chết hại nhân dân. Nói rằng nhờ sự chia rẽ của hai họ ấy, mà nước ta đã mở rộng vào phía nam, là nói mò. Đời Lý, đời Trần, đời Tiền Lê đã bắt đầu cuộc nam xâm. Nếu không có sự chia rẽ kia thì biết đâu bờ cõi nước Nam ngày nay không giáp Ấn Độ rồi.

   Một điều chắc chắn là sự chia rẽ đã làm chậm sự tiến hóa của dân tộc Việt Nam (…) Cái ý chia rẽ hình như đã in sâu vào óc người mình thì phải. Tôi còn nhớ ngày tôi ở trường, thấy anh em trong Nam họ chỉ chơi thân với nhau mà thôi. Đối với người ngoài Bắc họ rất hững hờ. Có khi đương to nhỏ truyện trò thân mật với nhau, thấy có bạn học Bắc đến, họ im ngay. Có lẽ học trò ngoài Bắc vào trong Nam cũng vậy.

   Tôi vẫn tưởng chỉ trẻ con mới có tính trẻ con ấy. Ai ngờ người lớn đầu cũng vậy. Không thế sao người cùng một nước, nói cùng một thứ tiếng, mà họ bầy vẽ lập nên những hội “Bắc kỳ tương tế” ở trong Nam và “Nam kỳ tương tế” ở ngoài Bắc. Thì sao không lập ngay ra hội “Việt Nam tương tế” có hơn không? Cùng là giống Annam cả thì giúp đỡ một người Saigon có khác gì giúp đỡ một người Hà Nội… Vậy muốn đánh đổ tư tưởng chia rẽ, trước hết phải phá bỏ những hội Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ tương tế đi. Tôi là người Annam thì dẫu tôi sống ở Bắc hay tôi sống ở Nam cũng vẫn là sống ở trong nước tôi. Tôi có sống trong một nước khác đâu mà bảo những người cùng nước tôi cứu giúp tôi. Rồi khi tôi chết, dẫu được chôn ở nghĩa địa Bắc kỳ hay nghĩa địa Nam kỳ, bộ xương của tôi cũng nát ra mà về đất, đất nước nhà.


Những gì Khái Hưng viết, thường đúng rất lâu: chuyện hội “Bắc Việt tương tế” lại tái bản sau 1954. Và đến bây giờ, khi chúng tôi có dịp nói chuyện với một số bạn người Nam, họ cũng cho biết: không thích ra Bắc, dĩ nhiên ngoài lý do chính trị, còn có cái gì khác. Gặng hỏi thì họ nói: dân Bắc “thiếu văn hóa”, nói tục, họ không tìm thấy cái gì “hay” ngoài Bắc cả! Dĩ nhiên, khi nói chuyện với một số người bạn ở Hà Nội, tôi cũng nghe được một số ý kiến tương tự, về người Nam. Vậy chỉ khi nào dân ta bỏ được sự kỳ thị Nam Bắc hỗn hợp với kỳ thị quốc cộng, thì mới không cần đến những lời răn của Khái Hưng.

Hý họa Nguyễn Gia Trí

Như trên đã nói: kể từ số 160, Tô Tử đi Nam Vang dạy vẽ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nguyễn Gia Trí–dù bận học ở trường Mỹ thuật–đã trở về Phong Hóa vài số trước khi Tô Ngọc Vân ra đi. Vì trên PH số 158 (18-10-35) có 2 bức tranh, ký bằng dấu ấn Tự Lực Văn Đoàn, nhưng qua nét vẽ, ta có thể đoán của Nguyễn Gia Trí. Tranh bìa Trong đình làng báo, tuy vẽ đình làng báo nhưng thực là vẽ đình làng, hay xã hội Việt Nam thu nhỏ, dưới thời Pháp thuộc, với một toàn cảnh cực kỳ “đồi trụy”: chiếu trên chiếu dưới, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, trong khi dân chúng xương bọc da ngồi bệt dưới đất làm tôi đòi.


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1217

Trong đình làng báo, PH 158


Trang 2, PH số 158, còn có bức tranh Ông nghị đi họp hội đồng, vô cùng mai mỉa, trình bầy sự bóc lột dân lao động của hạng nghị mập phì, sự vô nhân của lớp người dựa vào nền dân chủ nửa mùa của thực dân để đàn áp dân chúng lầm than đói khổ:


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1218

Ông nghị đi họp hội đồng, PH 158


Phong Hóa số 159 (25-10-35) bìa vẽ bức tranh Tam đa: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, vẫn ký dấu ấn TLVĐ. Chủ đề Tam đa là do Nguyễn Gia Trí đặt ra để mô tả xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, chia làm ba hạng:

1- Tham quan

2- Làng xã (nghiện, hút)

3- Dân đen (con đỏ).


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1219

Tranh Tam Đa của Nguyễn Gia Trí, PH 159


Bức tranh Tam đa trên đây vẽ Bang Bạnh biểu hiệu loại tham quan phì nộn, mọt dân mà Tứ Ly phỏng vấn trong loạt bài Đi thăm mũ cánh chuồn. Làng xã là một bầy nghiện hút được biểu hiệu bằng hai nhân vật: Lý Toét, cầm ô treo điếu (thuốc phiện) tay ôm hai chai rượu, và Xã Xệ, tay ôm, cổ đeo, dưới chân bò những đứa bé bụng ỏng, biểu hiệu dân đen con đỏ: Đó là hình ảnh nước ta dưới thời Pháp thuộc qua nét vẽ Nguyễn Gia Trí.

PH số 185 (1-5-36), trang 4, có tranh Tam đa đổi ra Tứ quý. Tranh này cùng chủ đề với Tam đa, nhưng có thêm quan Tây: 1- Quan ta, 2- Quan Tây, 3- Làng xã, và 4- Dân đen. Quan Tây tức là hạng quan mới, Tây học hoặc đi du học bên Tây, mô-đéc hơn nhưng cũng hết lòng với mẫu quốc, tranh ký G.Trí.


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1310

Tranh Tam đa đổi ra tứ quý, PH số 185 (1-5-36), ký G.TRI


Phong Hóa số 160
(1-11-35) có truyện vui Tiễn nhau của Khái Hưng viết để tiển Tô Tử đi Cao Miên, đồng thời Nguyễn Gia Trí trở lại, ký tên GT, trên bức tranh Đi xem số (trang 2) và dưới những bức minh họa truyện dài của Khái Hưng.

Phong Hóa số 161 (8-11-35) có tranh Bài Tây không ký tên chắc của Gia Trí, vẽ hai cảnh:

Cảnh 1: chủ bài là dân quê rách rưới, rao: Một hào thành hai, hai hào thành bốn, ai đánh… Cảnh 2: … thì đánh đi: Lính Tây cầm dùi cui xông vào đánh tơi bời.

Lối vẽ tranh với lời chua thâm trầm này, ngoài Gia Trí, ít ai làm được: ông vừa chơi… bút lông vừa chơi… chữ để tạo ra bức hý họa đa nghĩa: bài Tây, chống Tây, đánh Tây, Tây đánh … hiểu thế nào cũng được.


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1311

Bài Tây, PH 161


Phong Hóa số 174 (14-2-36) có tranh bìa Chiếu điện của N GIATRI, rất độc, một mũi tên bắn trúng hai đích: tham quan, ăn nhiều quá bị bội thực phải đi bác sĩ Tây chiếu điện, nội dung dạ dầy phơi bầy trên màn ảnh quang tuyến, bác sĩ Tây hoảng hốt: ông đừng “ăn” nữa thì khỏi bệnh. Ta “đọc” bức tranh này theo nghĩa đen hay nghĩa bóng đều tuyệt cả.


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1312

Chiếu điện của N GIA TRI, PH 174


Phong Hóa số 175 (21-2-36): có tranh cấm đổ rác của NGT:


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1313

Cấm đổ rác của NGT, PH 175


Đứng trước biển cấm đổ rác, ông Tây bảo một người Annam:

– Người Annam coi thường pháp luật thật, đi đổ rác vào ngay chỗ cấm.

– Đó là họ định đổ cho ngập hết cái biển cấm đi để tha hồ đổ.

Tranh này lấy tích “đồng trụ chiết, giao chỉ diệt”: người Tầu cắm cột đồng trụ ở biên giới, rồi đề câu trù ểm: cột đồng trụ mà đổ thì xứ Giao Chỉ cũng bị diệt. Vì thế, dân ta không dám nhổ cột đồng, nhưng mỗi người đi qua đều bỏ vào chân cột một hòn đá để làm vững cột đồng đồng thời lấp dần cái cột ô nhục.

Ở đây, ông Tây nói: người Annam coi thường luật pháp–nghĩa là luật pháp của Tây. Còn người Annam đứng chắp tay sau đít (tay bị trói) giải thích: Chúng tôi đổ rác cho ngập cái bảng cấm ô nhục ấy đi đấy. Ý nghĩa thâm trầm, mật thám không thể hiểu nổi.

Phong Hóa số 178 (13-3-36) tranh bià Trên sân vận động Huế, của TRI, chế giễu các quan huyện mới đỗ phải vào Huế, thi lần chót để giành chiếu trên chiếu dưới. Trang 3, vẽ tranh Lưu Quan Trương đời nay, tựa đề Tam anh chiến chai bố: mô tả cảnh rượu chè đồi trụy: lý, xã, tổng… đều nát bét rượu; tranh này cùng chủ đề với tranh Lý Toét uống rượu trên Phong Hóa số 184 (24-4-36)


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1314

Tranh bià PH số 178





Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1315Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1316

Tam anh chiến chai bố, PH 178 Lý Toét uống rượu, PH 184


Nguyễn Gia Trí không chỉ chủ trương “bôi nhọ chế độ” và còn nói lên nỗi ô nhục của triều đình, vẽ cảnh dân nghèo trụy lạc, rạc rài cờ bạc, nghiện hút, qua những bức tranh châm biếm, gần như hàng tuần, rất gai mắt, nhưng chính quyền thuộc địa chưa dứt khoát phải đối phó thế nào, bởi vì ra lệnh đóng cửa một tờ báo có khối độc giả lớn nhất trên toàn quốc, cũng cần có một lý do chính đáng.

Và lý do chính đáng ấy đã đến, để kết thúc “tội ác bôi nhọ chế độ”: Phong Hóa số 190, có tranh bià: Mưu mẹo Annam để trừ tiệt quan ôn.

Quan ôn nghĩa đen là ác thần gieo bệnh dịch, nghĩa bóng là quan tham, ác quan. Bức tranh vẽ một bên là âm binh vàng mã, một bên là quan… ôn.

Người dẫn đường giải thích với người ngoại quốc: Chúng tôi bầy tiền ra để “cúng”, rồi cung cấp súng cho cả hai bên, để chúng tranh giành đánh nhau, chết hết. Có khác gì nói: Bọn mê tín dị doan (vàng mã) và bọn quan ôn (bồi Tây) bắn nhau cho tiệt hết, là chúng tôi (dân đen) thoát nạn.


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1317Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1318

Mưu mẹo Annam để trừ tiệt quan ôn, PH190 Tam anh chiến nhất Bố, PH 190


Bên trong tờ báo, thêm bức tranh Con Lý Toét: A ha! Tam anh chiến nhất Bố, ở trang 9, cũng rất độc đáo: Tam anh ở đây rút ra từ tranh Tam đa, Nguyễn Gia Trí đã vẽ tranh Tam đa trên bià PH số 185 (1-5-36), gồm có: quan Ta, quan Tây, và (tệ đoan) Làng xã. Trong bức tranh này, Lý Toét bị ba con chó (tam anh) cắn, thằng con đứng ngoài vỗ tay cổ vũ. Tranh này cực kỳ đớn đau, cay độc: Cha bị ba bề cắn xé, con đứng hoan hô, nói lên sự ngây thơ của dân mình trước sức tàn phá của thực dân và tham quan ô lại.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Wed 16 Feb 2022, 07:08

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Thuỵ Khuê

Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn

Tuy vậy Phong Hóa bị đóng của vĩnh viễn từ sau số 190 không phải vì tranh Nguyễn Gia Trí cũng không phải vì những bài viết của Tứ Ly, mà vì lý do chính trị.

Tháng 5 năm 1936, một tin quan trọng từ chính trường Pháp: Liên minh cánh tả do đảng Xã Hội (SFIO) của Léom Blum lãnh đạo, lên nắm chính quyền. Tứ Ly mừng rỡ loan tin:

Bên Pháp hiện đã bầu cử nghị viên xong.
Liên hiệp dân đoàn thắng thế, nghị viên thiên hẳn về phía tả. Ông Léon Blum, đảng trưởng đảng Xã hội quốc tế chiếm được nhiều ghế nhất trong nghị viện, sẽ đứng ra lập tòa nội các.
Ảnh hưởng của sự thay đổi lớn ấy trong chánh giới Pháp đến thuộc địa, đến dân ta, không phải là nhỏ. Nghị viên Pháp thiên về phiá tả, thì chính kiến đối với thuộc địa sẽ rộng rãi hơn lên.
Quyền lợi của dân thuộc địa sẽ được nới rộng ra, nếu dân thuộc địa biết tự trọng.
Nhưng ta vui mừng cũng không nên quá giới hạn. Đảng Xã hội khác, mà chính phủ do đảng Xã hội bầu lên khác. Ông Léon Blum đảng trưởng đảng Xã hội chưa chắc đã giống ông Léon Blum tổng lý tòa nội các.
Có một sự chắc chắn nhất, là ta phải trông ở ta.
(PH số 189, 29-5-36)

Khi viết những dòng tin vui mừng này, Tứ Ly đâu biết, chỉ một tuần sau, Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn.

Liên hiệp Dân đoàn [Front Populaire] tức Mặt trận bình dân chiếm đa số phiếu trong cuộc bầu cử ở Pháp ngày 26-4 và 3-5 năm 1936 (Pháp bầu cử hai vòng).

Ngày 6- 6-36, Léon Blum ra lập chính phủ.

Toàn quyền René Robin lập tức ra lệnh đóng cửa báo Phong Hóa trước đó một ngày, tức là ngày 5-6-1936 Phong Hóa ra báo cuối cùng, số 190, bởi vì chính quyền Đông dương sợ Léon Blum lên, sẽ nới rộng chính sách tự do báo chí cho dân thuộc địa.

Trên Phong Hóa số 190 (5-6-36), Tứ Ly viết bài xã luận Đi tìm lý tưởng dĩ vãng, đặt kỳ vọng vào sự nới rộng tự do của Mặt Trận Bình Dân, dân ta sẽ tự giác, quét sạch những lề thói cũ, nếp sống xưa của ông cha, để lập một cuộc sống khác:

Phải, ông cha ta đã sống một cuộc đời êm lặng, một cuộc đời quá êm lặng (…) Khốn khổ, nhục nhằn đến đâu, họ cũng không mơ tưởng, mong ước một cuộc đời khác, vì họ không biết rằng có thể có một cuộc đời khác được.

Họ chỉ còn một việc: là nhắm mắt hành động theo một quy củ có sẵn, theo phép vua, theo lệ làng… họ không cần phải nghĩ ngợi nữa. Trí đoán xét vì thế mà thiên lệch hay là mất hẳn đi. Thời xưa họ không hề nổi giận lúc họ trông thấy một người làm phản mà bị chu di đến cả ba họ.(…) Họ tán dương hành động của cô Thúy Kiều bán mình chuộc cha và cho sự bán vợ đợ con là một việc hợp công lý. Họ coi là hợp lẽ những hành vi trái với lẽ phải, hay làm giảm, làm mất cả nhân cách… Ông Lý lạy ông Huyện, ông Phủ lạy ông Án, đó không phải là một sự đáng bỏ, mà lại còn là một sự hợp lễ nữa…

Những cái quái dị ấy–và ngàn vạn quái dị khác–đều ẩn nấp sau cái không khí nên thơ của đời cũ. Ông cha ta sống yên ổn trong cuộc đời ấy, nền văn hóa ấy, không phải là vì mến yêu nó, nhưng là ví tâm hồn đã bị khuôn vào những mẫu nhất định, là vì–tôi xin nhắc lại một lần nữa–không thể tưởng tượng một đời khác được.


Có bao giờ chúng ta cảm thấy việc Nguyễn Trãi hay bất cứ tù nhân chính trị nào, bị chu di tam tộc là dã man, tàn ác không? Có bao giờ chúng ta cho rằng việc Kiều bán mình chuộc cha là vô lý, vô nhân, không thể chập nhận được? Chúng ta không có phản ứng trước những sự kiện này, tức là chúng ta chấp nhận, mà chấp nhận tức là đồng lõa.

Những lời thống thiết của Tứ Ly báo hiệu một sự dứt khoát tư tưởng trên con đường tranh đấu của Tự Lực Văn Đoàn: việc cải tổ xã hội, cải tổ chính trị, đổi mới tư tưởng, phải đến từ chính chúng ta, từ trong lòng người dân mong muốn và thể hiện, chứ không thể trông cậy vào người khác, bất cứ người ấy là ai. Kêu gào, van xin người ta bố thí cho tự do dân chủ là điều không tưởng khi chính mình không muốn thay đổi. Ngày xưa hay ngày nay cũng vậy.

(Còn tiếp)

Thụy Khuê


[1] Phong Hóa số 19 (27-10-32) có vở hài kịch D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem, và Phong Hóa số 22 (18-11-32), có hài kịch Mọt đục cứt sắt của Hoàng Tích Chu (Xem chương: Đổi mới ngôn ngữ).

[2] Lúc đó, vì Nguyễn Gia Trí trở lại học trường Mỹ thuật, nên Tô Ngọc Vân thay Gia Trí phụ trách việc trình bày Phong Hóa từ số 129 (21-12-34) đến số 160 (1-11-35). Sau đó Tô Ngọc Vân đi Nam Vang dạy vẽ, và chỉ trở lại với Ngày Nay từ số 147 (28-1-39) đến số chót, để thay Nguyễn Gia Trí, lúc đó đã đi làm cách mạng.

[3] Cụ Hoàng Tăng Bí, thành viên xây dựng Đông Kinh Nghĩa Thục, sau viết báo Trung Bắc Tân Văn.

[4] Cổ tích tân thời, PH số 125 (16-11-34), Tam quốc tân thời diễn nghĩa, từ PH số 131 (4-1-35) đến số 138 (1-3-35) và Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu- Đi xem mũ cánh chuồn, Phong Hóa từ số 139 (8-3-35) đến số 150 (24-5-35).

[5] Trước vành móng ngựa đăng từ PH số 151 (31-8-35) đến số 190 (5-6-36) rồi tiếp tục trên báo Ngày Nay.

[6] Bài Phạm Lê Bổng trên PH 151 (31-8-35) và Bùi Bằng Đoàn, trên PH số 152 (6-9-35).

[7] Từ PH số 153 (13-9-35) đến PH số 154 (20-9-35).

[8] Từ PH số 155 (27-9-35) đến PH 158 (18-10-35).

[9] Tam quốc diễn nghĩa, PH số 132 (11-1-35).

[10] Phong Hóa số 133 (18-1-35).

[11] như ông Trần Bá Vị, hội trưởng hướng đạo đoàn Trung kỳ (PH số 144); hay vào Nam phỏng vấn ông Nguyễn Phan Long, lãnh tụ đảng Lập Hiến (PH số 145), trở lại Huế phỏng vấn cụ Thượng thư bộ kinh tế Nguyễn Khoa Kỳ (PH số 146), rồi vào Thanh Hóa phỏng vấn ông Nguyễn Bá Trác (PH số 147) hay ra Bắc phỏng vấn ông Bố Nguyễn Quý Toản [tuần phủ] (PH số 148).

[12] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, Cali, trang 116.

[13] Gouvernement général de l’Indochine, Service de l’Information, Souverains et notabilités d’Indochine. Notices par ordre alphabétique, Hà Nội, IDEO, trang 20.

[14] Đăng trên PH số 153 (13-9-35), phỏng vấn Tăng Cương Hoà thượng, sư cụ chùa Bà Đá, húy Đỗ Văn Hỷ, đại sư quốc doanh, cao tăng được nhà nước bảo hộ coi như bồ tát, la hán; tiếp đến PH số 154 (20-9-35), phóng viên đi vãng cảnh chùa Quán Sứ, trụ sở hội Phật Giáo, gặp tín đồ Lê Dư, chủ tịch hội Chấn hưng đạo đức.

[15] Đăng trên PH từ số 155 (27-9-35) đến 158 (18-10-35).

[16] Đại Nam Thực Lục, tập ba, từ trang 219 đến 266 và trang 392 đến 405.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Thu 17 Feb 2022, 10:16

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Thuỵ Khuê

Ngày Nay phóng sự

Thế Lữ – Trọng Lang – Thạch Lam

Ngày Nay được quyết định ra đời cuối năm 1934, khi Phong Hóa in tới số 130 (28-12-34), vì nhiều lý do:

– Phong Hóa đang ở trong thời kỳ cực thịnh, với 2 vạn độc giả [dân số lúc đó 20 triệu người][1], có đủ phương tiện tài chính để mở thêm một tờ báo mới, dưới hình thức mới: chiếu ông kính vào đời sống thực của người dân qua ngả phóng sự với hình ảnh đi kèm.

– Cùng thời điểm ấy, Nguyễn Tường Cẩm (anh Nhất Linh) về Hà Nội chữa bệnh, muốn ở lại làm báo, bỏ nghề kỹ sư canh nông thường hay phải đi xa.

– Nhất Linh giao cho Nguyễn Tường Cẩm làm Giám đốc và Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) làm Chủ bút báo Ngày Nay, với một ban biên tập trẻ: Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ), Tường Bách (em út Nhất Linh) và Trọng Lang, một cây bút mới.

Ngày Nay từ số 1 đến số 15[2] do Thạch Lam quán xuyến, có hai mục đích chính:

– Phát triển thể văn phóng sự, mô tả cuộc sống hàng ngày của người dân, chủ đích làm lộ bộ mặt trái của xã hội Việt Nam thời thuộc địa, với những hình ảnh đi kèm.

Bài xã luận trên Ngày Nay số 1, ký Tự Lực Văn Đoàn, viết:

   Mục đích của Ngày Nay là làm cho các bạn biết rõ sinh hoạt của dân ta trong buổi bây giờ, về mọi phương diện, cả hình thức lẫn tinh thần (…) Chúng tôi sẽ đưa các bạn đi từ rừng đến bể, từ thành thị đến thôn quê, xem các trạng thái hiện có ở xã hội.

– Ngay từ những số đầu, Việt Sinh (Thạch Lam) và Minh Trúc (Nguyễn Tường Cẩm) đã nhiệt thành giới thiệu những thành quả của trường Mỹ thuật Đông dương. Tờ báo là bệ phóng của Mỹ thuật và hậu thuẫn cho kế hoạch đem mỹ thuật vào đời sống của giáo sư Victor Tardieu mà chúng tôi đã trình bày trong chương Trường Mỹ thuật Đông dương.

Trong số những cây bút đầu tiên của Ngày Nay, phải kể đến Tường Cẩm và Tường Bách, anh và em ruột Nhất Linh. Nguyễn Tường Cẩm[3], trong thời kỳ làm giám đốc Ngày Nay, đã viết một số bài ký tên Minh Trúc, như La Khê dệt lụa (phóng sự, viết về nghề dệt ở La Khê, một trong những làng đầu tiên học được nghề dệt lụa từ thời Lê sơ, nhờ 12 người Tàu di cư sang lập nghiệp truyền lại); Năm mới (xã luận, mừng xuân), Nền Mỹ thuật Việt Nam (tiểu luận) và Dân quê (xã luận, nói về đời sống khốn khổ của dân quê)[4]. Sau khi ông bỏ Ngày Nay, bút hiệu Minh Trúc cũng không thấy xuất hiện nữa.


Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1319

La Khê dệt lụa của Minh Trúc, Ngày Nay số 1


Nguyễn Tường Bách, em út Nhất Linh, lúc đó còn đang đi học, thỉnh thoảng có thơ văn đăng trên Phong Hóa từ trước. Trên Ngày Nay, thời kỳ đầu, viết mấy bài sau đây: Sắm tết, Gió bấc lạnh lùng, Dưới bến trên thuyền, Thủy tiên ngày TếtTục ngày tết, và ba bài phòng sự: Ngày giỗ trận… ở chùa Đồng Quang, Trên đồi Lim hội hè đinh đám, Lạng Sơn ngày hội.[5] Phóng sự của Tường Bách hơi giống lối viết tùy bút của Thạch Lam, có tích cách văn chương nhưng chưa sâu sắc, nên không để lại dấu ấn lâu dài.

Trên Ngày Nay số 2 (10-2-35) còn có phóng sự ngắn Tết của Tù của Vũ Trọng Phụng.

Nhưng báo Ngày Nay chỉ thực sự khởi sắc nhờ loạt phóng sự của Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ), và nhất là của Trọng Lang, cùng với loạt phóng sự toà án Trước vành móng ngựa của Tứ Ly[6].

Nhưng Ngày Nay gặp nhiều khó khăn ngay từ đầu, trước hết về nhân sự:

Nguyễn Tường Cẩm làm giám đốc được 5 số thì ngừng, có lẽ vì không thạo việc quản lý và điều khiển một tờ báo, nên ông đã trở lại nghề kỹ sư canh nông.

Ngày Nay số 13 (21-5-35) in một trang quảng cáo của Tự Lực Văn Đoàn với hai ý chính:

Hết số này, Ngày Nay không ra hàng tuần nữa, sẽ ra mỗi tháng một kỳ, đóng thành tập.

Những món đặc sắc hiện có ở Ngày Nay sẽ liệt vào Phong Hóa, để làm tờ Phong Hóa trở thành hoàn toàn, đầy đủ, cho vừa lòng các bạn của Tự Lực Văn Đoàn và số hai vạn độc giả ngày một tăng thêm.


Sau số 13, Ngày Nay ngừng sáu tháng. Số 14 (13-11-35) hoàn toàn thu hẹp, rất ít bài vở.

Sau số 14, Ngày Nay ngừng 5 tháng. Có lời bố cáo trên Phong hóa số 151 (31-8-35): Dù in mỗi số 4, 5 nghìn số, nhưng tiền in hình ảnh đắt quá, mà không thể tăng giá bán, nên mỗi số bị lỗ vốn 1, 2 trăm đồng.

Ngày Nay số 15 (3-4-36), thu hẹp với những bút hiệu xa lạ. Sau đó ngừng.

Hai tháng sau Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn sau số 190 (5-6-36).

Hơn một tháng sau, Ngày Nay xuất hiện trở lại, với số 16 (12-7-36) và toàn bộ biên tập Phong Hóa như ta đã biết.

Phóng sự và hình ảnh là hai điểm chính của Ngày Nay trong thời kỳ đầu, với ý định chụp ảnh sự lầm than của xã hội Việt Nam để in trên báo. Ý định này không kéo dài được vì tiền in tốn kém, báo lỗ, nên phải ngừng sau số 15.

Ngày Nay sống lại từ số 16, nhưng chuyển qua một giai đoạn tranh đấu khác, phóng sự không còn chỗ đứng ưu tiên như trước nữa, nhưng sự hình thành thể văn phóng sự trên báo Ngày Nay đã để lại dấu ấn lâu dài.

Nguồn gốc thể văn phóng sự

Phóng sự là một thể loại rất mới lúc bấy giờ, bắc cầu giữa thông tin và văn chương, giữa nhà văn và nhà báo, và theo Tam Lang, đang là cái mốt bên Tây tràn sang[7]. Không hiểu ở trong Nam, phóng sự đã bắt đầu với ai, từ bao giờ, còn ở ngoài Bắc, Tam Lang là người được Vũ Ngọc Phan ghi nhận như tác giả phóng sự đầu tiên.

Nhưng theo sự khảo sát của chúng tôi, bài Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội của Khái Hưng ký tên Thảo Thượng Phong và Trần Đỗ in trên Phong Hóa số 3 (30-6-32) và số 4 (7-7-32), mới là bài phóng sự đầu tiên.

Tam Lang (Vũ Đình Chí) viết loạt bài phóng sự Tôi kéo xe, hoàn tất tháng 6-1932, in thành sách năm 1935[8], vậy công bố sau Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội, nhưng vì bài của Khái Hưng ký tên Thảo Thượng Phong và in trên Phong Hóa số 3 và số 4, lúc đó chưa ai để ý, nên Vũ Ngọc Phan xếp Tam Lang là người đầu tiên viết phóng sự, cũng dễ hiểu.

Tháng 3 năm 1933, Việt Sinh [Thạch Lam] viết phóng sự Hà Nội ban đêm cùng với Tràng Khanh in trên Phong Hóa từ số 37 (10-3-33) đến số 60 (18-8-33).

Và năm tháng sau, Vũ Trọng Phụng viết phóng sự Cạm bẫy người, in trên Nhật Tân số 2 (9-8-33). Đó là những thiên phóng sự đầu tiên ở Bắc.

Phóng sự là lối viết điều tra của nhà báo, nôm na là viết chuyện người thật việc thật. Dưới thời Pháp thuộc, phóng sự có nhiệm vụ phanh phui mặt trái xã hội, còn đối với chúng ta ngày ngày nay, phóng sự cho biết đời sống thực thời ấy của những người bị gạt ra ngoài lề, mất quyền sống như một con người. Thế giới ăn chơi trụy lạc ở Hà Nội thập niên 30, nằm trong hai khu: Khâm Thiên và ngõ Sầm Công mà các nhà phóng sự, đặc biệt Trọng Lang, tìm cách vén màn lên sự thật sau cánh cửa.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Fri 18 Feb 2022, 07:34

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Thuỵ Khuê

Bài phóng sự đầu tiên của Khái Hưng

Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội, là bài viết của Khái Hưng về một tiệm hút thuốc phiện, kiêm những hoạt động ám muội khác. Mở đầu như sau:

   Một gian nhà tây hai từng trong ngõ Sầm Công đường vào đi ngoắt ngéo (…) Tầng dưới có có bốn bộ ghế ngựa cạnh sập, nước sơn dầu lâu ngày đã phai, hầu như người ta lăn lộn đã nhiều lắm thì phải. Gần chỗ cái tủ “buffet” trong để những thuốc, những sái, dầu đèn, tiêm móc đủ cả, kê một bộ ghế ngựa trên chải chiếc chiếu hoa cạp điều có cái bàn đèn thực lịch sự thực sạch sẽ. Hai bên trải đôi đệm vóc hồng điều còn mới tinh, lại có đôi gối da để gối đầu. Ngọn đèn dầu lạc trong cái chụp pha lê thắp sáng chưng xuốt đêm xuốt ngày. Cái hộp đồi mồi non non ngón chân cái lúc nào thuốc cũng sấp sỉ đầy.

Tác giả chú ý đến từng chi tiết nhỏ, ông tả đứa bé gái con ông chủ tiệm hút như sau:

   Đứa con gái độ chừng ba tuổi, tóc húi kiểu ma-ni, hai má bánh đúc trắng hồng, cổ đeo chiếc vòng vàng, mình mặc áo satin hoa thêu, phủ ngoài cái quần lục soạn trắng nõn, đi đôi giầy mang cá cao gót, đương tung tăng chạy chơi với con búp bê to tướng mới mua.

Con bé này là cái đinh của màn kịch diễn ra sau đó: nó được bố âu yếm bồng lên ngồi ở cái đệm gấm cạnh mình, đoạn ông nằm xuống hút và gọi bồi tiêm hãm nước trà, chẳng may anh ta vô ý, đánh đổ nước lên đùi con bé, nước cũng không nóng mấy, nhưng làm ướt cái quần lụa của nó “mới là ngầy“! Thế là con bé tru tréo khóc oà lên, ông chủ vội vàng đứng dậy, bế xốc con lên dỗ dành, nhưng con bé “lên cơn hờn ghê gớm, cầm con bút bê đập đôm đốp mãi vào đầu cha và chửi cha chửi mẹ thằng làm ướt cái quần đẹp của nó”. Thế là loạn cả một cửa tiệm hút lịch sự, đang đông khách, tầng trên cũng đổ dồn xuống, nào những me tây, những bà phán, đang ù dở ván bài… như cái chợ vỡ. “Năm người đàn bà đổ xuống. Người đi sau rốt, lùn mà béo, mặt rỗ, mặc quần lụa trắng, ngoài mặc cái “bu-lơ-vơ”, búi tóc lộn, dáng mặt hầm hầm, chẳng nói chẳng rằng, giằng sấp ngay lấy con bé ẫm tuốt lên lầu”.

Cách viết phóng sự của Khái Hưng rất khác những nhà viết phóng sự sau đó và ông cũng chỉ viết có một bài này, nhưng đã cho thấy rõ lối tả chân của ông: động tác rất nhanh, lời lẽ chính xác, không sót một chi tiết nhỏ, không ba hoa, làm cho độc giả có cảm tưởng bịa đặt, điều mà nhiều nhà phóng sự mắc phải. Khái Hưng xây dựng phóng sự như một truyện ngắn, bố cục chặt chẽ, về một ổ thuốc phiện kiêm cờ bạc, đĩ điếm, sang trọng ở ngõ Sầm Công. Ông chủ tập thể, dẫn đầu, cù lần, bất lực; con bé ba tuổi, trung tâm, đáo để tuyệt mức; và bà mẹ rỗ huê đi đoạn hậu, nắm tất cả quyền bính trong tay. Tổ chức đồi trụy này, nằm trong căn nhà tây, là một toàn diện gia đình trị mà hai lãnh đạo là đàn bà, rất đúng đường lối “nữ trị” sẽ thấy trong tác phẩm của Khái Hưng sau này.

Tôi kéo xe của Tam Lang (Vũ Đính Chí)

Xe kéo là xe có hai bánh lớn, người phu đứng trước cầm hai càng xe kéo mà chạy, lúc đó chưa có cyclo. Cyclo ba bánh, người phu ngồi trên yên sau xe, đạp, đỡ vất vả hơn nhiều. Theo Tam Lang, hơn mười năm sau khi tác phẩm của ông ra đời, xe kéo bị bãi bỏ hẳn[9]. Tam Lang bắt đầu phóng sự như sau:

   – Ông cho nhà cháu xin chiếc xe.
   – Mày ở đâu, tên là gì?
   Soạc rộng cái mồm đầy hai hàm răng cáu bựa như những múi na, anh cai T. nới một lỗ khuy chiết thắt lưng da to–to ngang chiếc giây lưng đeo cát tút của người đi săn–tráo trợn hỏi như nhổ vào mặt người anh ta coi là lạ.
   – Bẩm, cháu ở Thái Nguyên, tên là Tý
[10]

Lối mở đầu rất khéo, đã tạo được “không khí trấn áp” từ đầu, văn Tam Lang rất sống động. Nhưng ông phạm một lỗi, là ngay đầu đã mô tả tay Cai xe như một thứ cặn bã, đồ bỏ: “hai hàm răng cáu bựa như những múi na”, “tráo trợn hỏi như nhổ vào mặt”. Đây là nhược điểm chung của nhiều người viết văn hiện thực tả chân: Nguyễn Công Hoan bảo: viết người ác thì phải tả mặt mũi như thế nào… hoặc Vũ Trọng Phụng đổ tất cả mọi xấu xa tội ác lên đầu Nghị Hách. Lối tả này ta gọi là phóng họa, Pháp gọi là caricature, rất ít tính nghệ thuật.

Cái lầm thứ hai của Tam Lang là để cho có vẻ “thành thực”, ngay chương đầu, ông kể đã được Bùi Xuân Học, chủ nhiệm Ngọ Báo, gợi ý nên đi làm phóng sự như các nhà báo bên Tây, thường sang Hồng Kông, Thượng Hải làm phóng sự. Tam Lang bèn đóng vai một anh phu xe đi kiếm việc, đến gặp ông Cai, v.v… “Sự thật” này hơi khó tin, bởi vì một “công tử Hà thành” như Tam Lang, chưa bao giờ tập kéo xe, mà chỉ một thoáng đã biến thành “cu-li” kéo xe chở một ông Cai Tây bự, chạy một cuốc dài từ Đồn Thủy lên Yên Phụ!

Tôi kéo xe là tác phẩm rất mới thời đó, người đọc dễ tính không thấy những sơ hở và họ thích vì tác giả mô tả được tất cả những cái “dã man tàn bạo” của tên Cai xe, mụ vợ nặc nô cũng ác như chồng và sự bần tiện của thằng cha Cai Tây mập ú, bắt chẹt phu xe, trả rẻ… đúng như ý họ muốn. Đó là cách viết của một số tác giả hiện thực xã hội tả chân thời ấy, nhiều tính trào phúng, phóng đại, nhưng ít sự thật, mà lại rất được ưa chuộng.

Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng

Hơn một năm sau, Vũ Trọng Phụng, viết Cạm bẫy người, ký Thiên Hư, đăng lần đầu trên báo Nhật Tân số 2 (9-8-33), được Annam xuất bản cục (nhà xuất bản đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn) in thành sách năm 1934.

Cạm bẫy người kể lại câu chuyện do một người bạn–là kẻ đánh lừa cha–thuật lại: vì có ông bố keo kiệt nhưng thích cờ bạc, y bèn dẫn về nhà một tay cờ bạc bịp, tay này lột tiền của ông bố rồi chia cho y. Cờ bạc bịp có nhiều trường phái mà lừa đảo cũng vậy… Cạm bẫy người là tác phẩm đầu, Vũ Trọng Phụng viết khá cẩn thận, tôn trọng sự thật, có lẽ vì thế mà được Tự Lực Văn Đoàn in. Nhưng Cạm bẫy người chưa phải là một phóng sự mà chỉ là câu chuyện nghe kể lại. Chất phóng sự rõ hơn, trong hai tập sau: Kỹ nghệ lấy TâyCơm thầy cơm cô[11]. Kỹ nghệ lấy Tây, ghi lại lời tâm sự của những người đàn bà lấy Tây kể về hoàn cảnh éo le của mình. Cơm thầy cơm cô mới đích thực là phóng sự, bởi vì tác giả đã nhập hẳn vào môi trường khảo sát.

Cơm thầy cơm cô, viết về “thế giới con ở” mà Vũ Trọng Phụng trà trộn vào để nghe chúng kể lại những chuyện tồi tệ của chủ. Trước hết ông giả làm người đi tìm việc, được mụ mối dẫn đến trọ ở một hàng cơm:

   Tôi không cần nói rõ hàng cơm nào, ở phố nào, làm gì. Các ngài chỉ biết rằng một hàng cơm cũng như nghìn vạn hàng cơm khác, nghĩa là khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là thấy lập tức buồn nôn. Nào là mùi cá mè, mùi thịt trâu, thịt lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng bò, mùi mẻ chua, mùi dưa khú… Thôi thì đủ một trăm nghìn thứ mùi khó chịu, mà lạ nhất là nó không hề bận tâm đến hai lỗ mũi của bà chủ luôn luôn nắm trong tay cái quạt nan, cởi trần trùng trục và thỉnh thoảng lại cao hứng vén quần lên đến bẹn và gãi sồn sột, tự nhiên như đàn ông chúng ta.[12]

Đoạn văn này khá tiêu biểu cho lối viết của Vũ Trọng Phụng: khiêu khích và phóng đại. Hàng cơm ông tả khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là thấy lập tức buồn nôn, vì những mùi cá mè, mùi thịt trâu, thịt lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng bò, mùi mẻ chua, mùi dưa khú… mà nó lại giống như nghìn vạn hàng cơm khác. Vậy tất cả những hàng cơm ở Hà Nội đều như thế ư? Hai chữ “bổn phận” có nghĩa gì? Lại còn bà chủ cởi trần trùng trục và thỉnh thoảng lại cao hứng vén quần lên đến bẹn và gãi sồn sột nữa: Bạn đã thấy ở nơi nào có hàng cơm với mụ chủ quán cởi trần trùng trục ngồi tiếp khách? Rồi phóng viên được đưa vào nhà trong, lên gác, vẫn lối tả chân sống sượng, viết phứa, sản xuất ra những câu: “Bọn cơm thầy cơm cô nằm ngổn ngang như lợn cả, bọn đực nằm phía bên kia, bọn cái, phía bên này”[13].

Vũ Trọng Phụng đẩy xa sự phóng đại gấp mấy lần Tam Lang, cho nên, dù ông có biệt tài viết rất sống động, lôi cuốn, có những đoạn hay, nhưng những câu văn như trên đã tạo ra cảm giác một thứ hoạt họa tiếu lâm tàn ác hơn là một thiên điều tra về cảnh lầm than của kiếp người.

Theo Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Trọng Phụng là người sống nghiêm túc, đạo đức, chẳng bao giờ đi chơi đêm, vậy mà ông lại viết những phóng sự “kinh hồn” như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy TâyCơm thầy cơm cô, dĩ nhiên là phải hư cấu, mà viết rất nhanh, không kịp đọc lại, nên đã có nhiều chữ gây tai hại cho tác phẩm. Tuy nhiên ông đã tạo được một “trường phái phóng họa” mà sau này Hoàng Hải Thủy là môn đệ trung thành.  
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5986
Registration date : 01/04/2011

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13Tue 22 Feb 2022, 08:48

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - VĂN HỌC VÀ CÁCH MẠNG

Thuỵ Khuê

Phóng sự của Nhất Chi Mai (Thế Lữ)

Trên Ngày Nay, phóng sự do ba người đảm nhiệm: Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ) và Trọng Lang, một cây bút mới. Cả ba đều có lối viết khác hẳn lối hư cấu của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng.

Thế Lữ, dùng lại bút hiệu Nhất Chi Mai, đã từng ký trên Phong Hóa, năm 1932[14]. Bẵng đi hai năm, ông không dùng bút hiệu này nữa[15]. Khi được điều động sang Ngày Nay, trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), Thế Lữ có làm một bài thơ trả lời độc giả hỏi: Thế Lữ ở đâu mà không thấy có mặt trên Phong Hóa? Cũng kể từ lúc này, ngoài bút hiệu Thế Lữ, ông còn lấy bút hiệu Nhất Chi Mai để trình làng trên Ngày Nay như một tác giả mới, với lối viết phóng sự sinh động, lôi cuốn, tại Hải Phòng, nơi gia đình ông cư ngụ.

Thế Lữ bắt đầu với bài phóng sự Một cái chợ người giữa nơi thành thị, ký tên Nhất Chi Mai, trên Ngày Nay số 1 (30-1-35). Tiếp đó là loạt phóng sự Buôn người[16], Tong-Hin,[17] và loạt bài Ngày Nay điều tra Ăn cướp của Trọng Lang và Thế Lữ[18]. Cũng trên Ngày Nay, Thế Lữ bắt đầu loạt tiểu thuyết trinh thám Lê Phong phóng viên trinh thám[19].

Một cái chợ người giữa nơi thành thị của Nhất Chi Mai, mô tả cảnh “chợ người” ở Hải Phòng, là nơi những người đi tìm việc tụ tập, tiếp xúc với các mụ mối chuyên kiếm việc cho kẻ thất nghiệp để lấy hoa hồng. Giọng phóng sự của Thế Lữ như sau:

Haiphong, một buổi sáng mùa đông, trên trời mây kéo đen ngòm; lác đác mấy hạt mưa lạnh buốt đến xương.
Thu mình trong chiếc áo cao-xu, tôi rảo bước trên bờ hè phố Bonnal. Bỗng có tiếng gọi giọng lanh lảnh:
– Ông tìm người làm?
Dừng bước, thấy trước mặt tôi, trên bờ hè, sế
[xế] vườn hoa bãi sông Lấp, bầy ra một cảnh tượng khiến ai thấy cũng phải chú ý.
Một bọn người vừa đàn ông, vừa đàn bà, trẻ có, già có, quần áo rách rưới, co ro, sắp hàng ngồi thành một rãy. Những khuôn mặt hốc hác, những da vàng ỏng, những con mắt sâu hoắm.


Giọng Thế Lữ thành thật, nên đã chiếm được lòng tin của độc giả. Một cái chợ người giữa nơi thành thị chỉ là bài mở đầu cho chủ đề Buôn người.

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Tlvd1410

Phóng sự Buôn người, NN số 2

Buôn người là phóng sự dài và chính của Thế Lữ, đăng trên Ngày Nay từ số 2 đến số 8, cho ta thấy lại văn tài tác giả Vàng và máu, nhất là ở những đoạn mô tả bọn lái buôn hành động trong đêm tối:

Trên mặt nước đen như mực, chiếc thuyền không đèn, không đóm cứ việc đè sóng vùn vụt chạy như bay. Một tên khách lực lưỡng, vẻ mặt dữ tợn, mắt sáng quắc như mắt vọ, lạnh lùng ngồi lái.
Tuy là đường thủy mà lại khúc khuỷu khó đi vì đá mọc ngầm dưới biển rất nhiều.
Thuộc lòng từng tảng đá, tên lái khách thản nhiên cho thuyền chạy quanh co, săm săm đâm vào trong đêm tối.…
Những tiếng gió vi vút, gầm thét trong hang, những tiếng hò não nuột của lũ chim đêm, những tiếng sóng dạt dào, những cái bóng đen lù lù của đàn cá mập bơi theo, những cảnh tượng thâm u, sầu thảm của trời nước, một đêm không có trăng sao, không đủ làm nao lòng bọn “lái thán”, bọn khách chuyên nghề chở người từ Haiphong ra Moncay.
Bọn này toàn là giặc bể trở về. Trên lương tâm mỗi đứa đếm ra cũng được dăm cái án mạng gớm ghê.
Bọn “lái thán” công ty với bọn “mẹ mìn” chở những món hàng người qua Moncay, về nẻo Đông Hưng. Mỗi chuyến đi thoát, bọn “lái thán” cũng được trăm bạc hay hơn tiền hoa hồng”.

(Ngày Nay số 2, 10-2-35).

Văn trong Buôn người có nhiều đoạn tuyệt hay như thế, nên đã lôi cuốn độc giả, khiến họ dù có nghi ngờ đôi chút về “sự thực”, cũng bỏ qua, vì cho rằng nhà văn có quyền hư cấu cảnh vật, miễn là nội dung buôn người có thật, do Thế Lữ điều tra chứ không bịa đặt.

Ngày Nay số 3, vẫn trong Buôn người, tác giả chuyển sang chuyện mẹ mìn. Theo ông, năm 1929, là năm mẹ mìn. Chuyện mẹ mìn dẫn đến chuyện người Tàu giấu của; tất những chi tiết ly kỳ này, dĩ nhiên tác giả không trông thấy mà chỉ nghe kể lại: họ mua một thiếu nữ đồng trinh, chờ lúc trăng lặn, làm lễ chôn sống người con gái Annam cùng với của cải châu báu để làm thần giữ của, tục này có từ thời Tô Định, Liễu Thăng. Còn ngày nay [1935] người ta dùng mẹ mìn trong việc “hiện đại” hơn: bán người cho bọn mộ phu đi Tân thế giới. Trước tệ nạn này, dân chúng đứng lên trừ mẹ mìn, nghiã là cứ thấy một “con mẹ” lanh lẹ mon men vào chợ, lân la hỏi chuyện là người ta xông vào đánh “cho chết bọn mẹ mìn”. Sau việc này và việc tay tổ mộ phu Bazin bị ám sát ở chợ Hôm, hoạt động mẹ mìn và buôn người mới lắng xuống. Tình cờ một hôm phóng viên Nhất Chi Mai gặp được cụ Bát, kể lại: Con gái cụ bị bắt cóc sang Tầu lúc 12 tuổi, bán cho một nhà giầu làm con ở. Năm 20 tuổi, cô gái gặp được một người [Tầu] tốt đưa cô trở về với gia đình.

Cũng có trường hợp không đi thoát, vì thuyền gặp bão đánh giạt vào đảo, bị nhà đoan vây bắt với cả “thuyền hàng” gồm mười người phụ nữ. Hoặc trường hợp bi thảm của một đứa nhỏ bị bắt, bán làm con ở, sau lớn lên làm vợ chung cho chủ, là ba tên lái lợn.

Phóng sự Buôn người để lại dấu ấn hãi hùng về một thời ở Bắc: trẻ con nào lớn lên trong thời ấy, nghe thấy hai tiếng mẹ mìn là sợ mất vía. Ngày nay đọc lại phóng sự của Thế Lữ Nhất Chi Mai, ta mới thấy rõ cảnh mẹ mìn bắt cóc ấy như thế nào.

Phóng sự Tong-Hin quê hương của Trần Tế Đường, không có gì đặc biệt: Tong Hin là một làng nhỏ bên Tầu sát biên giới. Từ Moncay sang Tong Hin phải qua cái cầu nhỏ dài 100 mét, bắc ngang sông Đông Hưng. Tong Hin là quê hương của Trần Thế Đường, Tổng đốc Quảng Đông. Sang Tong Hin phóng viên gặp kỹ nữ Xuân Đào, một người đẹp, hát hay nhưng số phận long đong.

Ngày Nay điều tra ăn cướp của Trọng Lang và Thế Lữ, đăng trên Ngày Nay từ số 6 đến số 13, là một phóng sự thành công. Hai phóng viên đi sâu vào những tổ chức ăn cướp ở thôn quê. Người dân bị cướp thường trực, nhưng không có vũ khí chống lại, chính quyền làm lơ.

Tiếng chó sủa, tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên và những tiếng cầu cứu kêu thất thanh trong đêm tối! Dân quê luôn luôn sống trong sự sợ hãi: sợ cướp và sợ bao nhiêu thứ khác nữa.

Đám cướp được tổ chức rất dễ dàng:

“Cứ một bọn hai mươi người biết cách xếp đặt hẳn hòi thì đến bất cứ nhà nào ở thôn quê cũng ăn cướp được” đó là lời tuyên bố đáng sợ của của một tên tướng cướp.

Nhờ khôn khéo và may mắn, phóng viên được tướng cướp tin cậy, cho dự một vụ đánh cướp thực sự và “trả lời phỏng vấn” nữa, tiết lộ mánh lới khảo của, cách tháo chạy như thế nào, sự trừng phạt kẻ phản bội ra sao, làng cướp cũng có kỷ luật sắt như luật mafia sau này, không ai dám tố cáo lẫn nhau, cho nên những kẻ nhúng vào tội ác, giết người, vẫn ở ngoài vòng pháp luật, cho đến khi tự ý ngừng hoạt động, về hưu, làm người hiền lành như một ông đồ!

Kèm chuyện ăn cướp, hai tác giả còn mô tả những bức tranh quê sống động trong ngày phiên chợ, cảnh đấu đô vật hấp dẫn, những lý luận đặc thù của xã hội bất lương, cả đến những người dân “vô tội”, cũng không chỉ là đáng thương, là nạn nhân mà còn, một cách nào đó, đã “đóng góp” vào tội ác. Ngày Nay điều tra ăn cướp là một phóng sự có giá trị sâu sắc, nhưng rất tiếc, không được mấy ai chú ý.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng   Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng - Page 7 I_icon13

Về Đầu Trang Go down
 
Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Similar topics
-
» Văn Thanh Trắc Nguyễn Văn (toàn tập)
» Sau 50 Năm Đọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư (GS Trần Văn Chi)
» Bài luận văn
» Tình khúc Văn Cao
» Thùy Vị Xuân Lai - Trần Văn Lương
Trang 7 trong tổng số 8 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: BIÊN KHẢO, BÌNH LUẬN THƠ VĂN-