Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Tình thầy mãi thắm by Phương Nguyên Yesterday at 21:48

Sắc tím hoàng hôn by buixuanphuong09 Yesterday at 19:31

Tập Thơ Chọn Lọc - Nhất Lang (Nguyễn Thành Sáng) by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 18:29

Tập thơ Thao Thức - Nhất Lang (Nguyễn Thành Sáng) (2) by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 15:22

CHUYỆN VỤN (Phương Nguyên) by Phương Nguyên Yesterday at 12:52

LỀU THƠ NHẠC by Phương Nguyên Yesterday at 12:26

Tình yêu cây cỏ ĐV2 by buixuanphuong09 Yesterday at 11:24

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Yesterday at 11:22

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 09:53

ĐÀO VIÊN THI CÁC by buixuanphuong09 Yesterday at 09:46

Lục bát by Tinh Hoa Yesterday at 05:52

Nguyễn Thái Học 1902- 1930 (Nhượng Tống) by Ai Hoa Tue 27 Jul 2021, 15:23

GÓC VƯỜN ĐÀO 2021 by mytutru Tue 27 Jul 2021, 14:59

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Tue 27 Jul 2021, 10:14

Chút tâm tư by tâm an Tue 27 Jul 2021, 10:11

Ngừa Dịch Siêu Vi Kỷ Niệm by mytutru Tue 27 Jul 2021, 09:18

Rong Ruổi Đường Xa by Việt Đường Mon 26 Jul 2021, 18:06

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Mon 26 Jul 2021, 11:41

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng by Trà Mi Mon 26 Jul 2021, 09:19

HOÀI MONG by buixuanphuong09 Mon 26 Jul 2021, 09:11

Họa thơ Phương Nguyên by buixuanphuong09 Mon 26 Jul 2021, 09:09

Lan Hữu - Nhượng Tống by Trà Mi Mon 26 Jul 2021, 08:32

Chúa tàu Kim Quy by Trà Mi Mon 26 Jul 2021, 07:53

7 chữ by Tinh Hoa Mon 26 Jul 2021, 01:31

NGÀY VỀ (hoạ thơ Duy Vuong Dinh) by Phương Nguyên Sun 25 Jul 2021, 21:44

PÉ LÍ ĐI BIỂN (hoạ thơ Lí Lắc) by Phương Nguyên Sun 25 Jul 2021, 21:36

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Sun 25 Jul 2021, 11:12

Đường luật by Tinh Hoa Sun 25 Jul 2021, 05:25

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Sat 24 Jul 2021, 16:06

Tập thơ "Bà & Cháu" by Tú_Yên tv Sat 24 Jul 2021, 16:01

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1 ... 8 ... 12, 13, 14
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5267
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 I_icon13Wed 14 Jul 2021, 12:01

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 97)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (7)

Chàng Dư mừng hết biết, mới gặp chặp tối, sáng sớm hôm sau đã được ôm người đẹp, một cuộc tình, một hôn nhân tốc độ còn chớp nhoáng hơn cả mấy ông Đài Loan sang Việt Nam lấy vợ thời nay. Dĩ nhiên, suốt đêm hôm đó chàng Dư sao mà “đánh một giấc ngon lành” được, cứ phấp phỏng đốt nến ngồi chờ tiếng chim Anh Vũ đón nàng. Khổ nỗi chàng cứ chờ hoài, chờ hoài chẳng thấy chim lẫn người đâu ra:

“ Ta về mái tây, không hề nhắm mắt
Mấy lần đốt nến lên, mấy lần thổi tắt
Nào hay Anh Vũ chẳng hót cho
Tin mừng chẳng có
Có phải trời đã ngủ quên
Đất không thức dậy ?”


Vậy là chưa hết đêm, bình minh chưa tới chàng Dư đã than trời trách đất, “nghi ngờ” lòng tốt ân nhân , thật chẳng “quân tử” chút nào. Thế rồi có tiếng chân động ngoài thềm, mặc dù chưa đúng “ám hiệu”, chàng cũng “vội đứng dậy, cài áo sửa khăn bước ra” hoá ra là…gió. Lại thấp tha thấp thỏm chờ đợi. Bỗng có tiếng chim hót. Dư lại một lần nữa cài áo sửa khăn. Nhưng khi nhận ra không phải tiếng chim Anh Vũ, Dư lại một lần nữa bàng hoàng thất vọng:

“ Tiếng hót sao nghe như rối rít bàng hoàng
Mà đâu phải tiếng chim Anh Vũ…”


Mới chưa qua một đêm chờ đợi, tính cách chàng nho sinh họ Dư đã bộc lộ cái phần “kém trượng phu” trong nhân vật chính vở kịch “Bình Minh Anh Vũ” làm người coi ngờ rằng nó phản chiếu chính ông tác giả.

Thế còn nàng Tuý Tiêu?

Xuất thân nhà nghèo nơi thôn dã, bố chết sớm năm 17 tuổi, lọt vào tay một gã thuyền chài, sau được quan Nguyên soái chuộc về dạy múa, dạy ca…theo kiểu “đào tạo” kỹ nữ làm vui trong phủ. Trong tối hội thơ, vừa nhìn thấy Dư Sinh lần đầu nàng đã ưng trong bụng, đã “nhấm nháy”, ngầm đánh “tín hiệu” đủ thấy gốc gác chẳng phải gia giáo. Tan hội, đêm về, được quan Nguyên soái báo tin gả nàng cho Dư sinh, lại được đọc bài thơ chàng làm có ghép tên mình, nàng mừng rỡ OK liền và xin vâng theo đúng kịch bản quan nguyên soái đề ra khi có tiếng chim anh vũ cất lên nàng sẽ đi “tìm cọc” ở phòng chàng Dư.

Đêm đó, cũng giống chàng thi sĩ, nàng bồn chồn, sốt ruột chẳng ngủ được, chờ hoài chẳng thấy chim chóc nào cất tiếng hót. Thế là nàng đành phớt lờ “kịch bản”:

“Băng sương vượt lối
Ta đến với người
Chân không bước mạnh
Sợ động hồn mai…”


Xăm xăm tới phòng Dư Sinh, chàng lại đang… ngủ khì, nàng đành đánh động tự giới thiệu mình là “người áo xanh” trong tối hội và tên Tuý Tiêu trong bài thơ chàng mới làm. Những tưởng chàng sẽ mừng quớ, ai ngờ lại vô tâm, hỏi cắc cớ: ”Áo nào? Thơ nào?”, rồi còn nghi ngại:

“ Nguyên soái đã dặn
Khi nắng sớm trên cành
Và Anh Vũ hót inh
Thì nàng sẽ đến…”


Tới nước này, nàng Tuý Tiêu đành phải giải thích chắc là chim anh vũ… ngủ quên nên:

“Chẳng ngại sương đêm
Thiếp đến với chàng tưởng như đi trong bình minh rạng rỡ…”


Có lý do chính đáng “chim ngủ quên”, lúc này chàng Dư mới như người ngủ dậy nghe tin trúng số, vội vàng:

“ Tuý Tiêu !Tuý Tiêu!
Chuyện trong mơ, mà quả người đã đến thật…”


Thế là tình lớn gặp nhau, đồng lòng gặp gỡ khỏi chờ tiếng chim anh vũ như lời dặn quan nguyên soái, chàng nàng tranh nhau kể lể . Nàng than vãn “12 bến nước lênh đênh, không cội không cành, dạt đâu là phận đó, kể sao cho hết nỗi niềm”.
Còn chàng lại khoe chí khí nam nhi:

“ Lòng ta chỉ muốn được rong chơi
Ném quản bút tre vào mực đen thế sự
Giấy nhân tình nhoè đỏ
Cười khóc chuyện người…”


Í trời , giá thi sĩ Lưu Trọng Lư cũng “ném bút vào thế sự” thì nay người đọc hẳn đã được hưởng di sản thơ giàu có chứ chẳng phải trắng tay như ông để lại. Tỏ vẻ lấy bút chống trời xong, chàng dùng nó chinh phục người đẹp:

“ Nghe lời ca ai não nuột
Nhìn điệu múa ai uốn đau
Ruột này cũng quặn héo…”


Và chàng thề thốt:

“Hãy sáng lên hỡi ngọn đèn
Ta nguyện vì em làm phên che gió…”


Chàng nàng đang nỉ non tình sự, hốt nhiên Nguyên soái xuất hiện tay xách lồng chim. Người ta tưởng đòn trừng phạt tội cãi lời quan, không chịu chờ chim anh vũ lên tiếng sẽ giáng xuống đôi tình lang, may thay ông quan là người tử tế, chẳng những không bắt lỗi mà còn cho ngựa, cho kiệu để chàng rước nàng về quê lại kèm theo quà tặng cưới chiếc lồng chim anh vũ ghi lại kỷ niệm ngày quan đi săn loại chim này, chuộc nàng về.

Tuy nhiên chẳng phải ông quan nào cũng tử tế như quan nguyên soái. Cái ông quan thứ hai làm thay đổi cuộc đời Dư Sinh và Tuý Tiêu lại là một bạo quan – Thân Trụ Quốc từng khoe khoang:

“ Trong triều ngoài quận đều biết tiếng ta
Có trầm quý nào trong rừng mà ta không kiếm được
Tội nặng như núi, một chữ của ta còn xoá được nữa là…”


So với ngày nay, ông quan này có khả năng “chạy án” phải ngang cỡ…. Uỷ viên Bộ chính trị. Nghe tin chùa Phổ Tế mới có ni cô xinh đẹp, ngài cũng dẹp việc quan, mò tới coi. Cô này được nho sinh ca ngợi:

“Hôm nay thỉnh chuông mới thì nhà chùa cũng thỉnh về một cô tiểu thư mới. Cứ nghe cô cất giọng kệ thì Phật có cho vào Niết Bàn cũng chẳng thiết vào nữa. Còn quan to quan nhỏ trong triều, cứ thấy mặt cô một lần, cũng không muốn rời khỏi cửa tam quan…”

Không may cho vợ chồng Dư Sinh, cũng đi vãn cảnh chùa trong tuần trăng mật đúng lúc đó. Vừa nhìn thấy Tuý Tiêu đứng bên hồ tay cầm đoá sen, tướng công đã hồn xiêu phách lạc, quên bẵng mất ni cô trong chùa. Ngài lệnh: ”Cứ cho lên kiệu về kinh ngay. Gấm vóc sẽ ban sau cho cha mẹ. Bọn lính dạ ran. Trong nháy mắt , chúng làm theo ý Thân Quốc Trụ. Tuý Tiên kêu la, chống lại nhưng chúng đã ép nàng lên kiệu khiêng đi. Mọi người chỉ biết nhìn theo. Đây đó một vài tiếng niệm :” A di đà Phật…”

Chứng kiến cảnh bắt người ngay trước cửa Phật, thiện nam tín nữ chỉ biết niệm kinh. Thế còn Dư Sinh, người chồng mất vợ, chàng thi sĩ mất người yêu? Không chạy theo kiệu quan mà giải thoát Tuý Tiêu, không vạch mặt chỉ tên quan cướp ngày Thân tướng công, chàng chỉ ngửa mặt kêu trời:

“Xanh xanh! Xanh xanh! Trời rất xanh
Gíó như không gió vẫn dưa cành
Ta đi đi về đâu? Lội xuống hồ sen hay vào Tây Trúc?
Miệng ta mắc niệm Phật
Ai khóc cho ta nỗi bất bình?”


Cái kiểu cam chịu trước cường quyền bạo ngược, chỉ biết “khóc” và hỏi “trời xanh” này, chẳng riêng nhân vật chàng Dư mà ngay ông tác giả đẻ ra nó và cả sĩ phu Bắc Hà ngày nay, hỏi ai là không có? Bởi vậy nàng Tuý Tiên còn mong gì được giải thoát?

Quả nhiên sống trong dinh Trụ Quốc Công, ngày đêm nàng chỉ còn biết giữ chặt “chữ trinh” khiến quan lớn trong triều phải đặt mình…. ngoài vòng chăn gối của nàng tới đêm thứ…109 và “chiến công“ đó làm nàng thích chí.

Nhưng rồi một trăm đêm, một ngàn đêm, liệu giữ mãi được không, nàng than:

“ Thảm thương số kiếp hoa cành
Làm sao giữ mãi hương trinh hở trời?”


Vậy là nàng chỉ còn biết trông vào trời, chứ còn cái anh chồng Dư Sinh chỉ đánh võ mồm “Ném quản bút tre vào mực đen thế sự”, chỉ “cười khóc chuyện người…” chứ còn chuyện của chính mình thì… thua, lại đành phó thác cho trời chứ biết sao?

Quả nhiên suốt trong thời gian đó, chàng Dư mất vợ chỉ quẩn quanh xó nhà “áo để buông không thắt giải, trên đầu đội một cái mũ cỏ, dáng đi thất thểu“ và than vãn:

“ Một ngày xa vợ hết khôn
Ta đi lùng hoa dại
Vò nát giữa bàn tay
Máu trong hồn rỉ mãi…”


Rồi gặp vợ ngồi kiệu đi trên đường, chàng cũng chỉ đành trố mắt:

“Ngồi trên kiệu đúng người thương
Người vũ nữ, chính áo vàng đau chưa ?
Nhìn lên chẳng thấy mắt xưa
Ta đành cúi mặt, miệng và lệ thương…
Rõ ràng ta đó, ai kia?
Tay nào xé rách trăng thề đó ai ?”


Hoá ra không những chàng quên phứt lời thề làm phên liếp che mưa cho cuộc đời nàng mà còn trách móc nàng “đã khác xưa”. Thói cam chịu, than vãn trời đất của chàng Dư Sinh khiến người bõ già của chàng cũng phải bực mình. Ông mượn lời mắng chim anh vũ, nhưng chính là nhằm vào chàng:

“Lão nói cho mà biết
Làm chim thì phải bay
Có cánh thì phải đạp mây.
Ngày hai buổi tốn công lão…”


Vậy đó, làm đàn ông phải vẫy vùng trời đất, chống lại tham quan, bạo quyền, làm chồng phải bao bọc, cưu mang được vợ, tiếc thay những lời răn chí tình đó chẳng lọt lỗ tai chàng thi sĩ Dư Sinh, ngày ngày chàng cứ điên điên:

“Cơm bữa chẳng thành cơm
Gặp hoa nào cũng hái…”


Lạ thay, điên vậy mà từ miệng chàng chẳng khi nào thốt ra được một lời oán trách, chửi bới Thân tướng công – kẻ đã cướp vợ, gây cho chàng nỗi thống khổ “máu trong hồn rỉ mãi”. Hoá ra không dám vạch mặt chỉ tên những kẻ gây nên bao đau đớn khiến thế gian này ngập tràn nước mắt chính là nỗi khiếp sợ thâm căn cố đế chẳng riêng thời nào, cho tới tận bây giờ cố tật đó vẫn còn ăn sâu vào những người cầm bút.

(còn tiếp)


Được sửa bởi Trà Mi ngày Mon 19 Jul 2021, 09:33; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5267
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 I_icon13Thu 15 Jul 2021, 08:07

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 98)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (8)

Trong lúc chàng Dư nửa điên nửa khùng, lầu phía đông dinh quan Thân Trụ Quốc, nàng Tuý Tiêu vẫn dựng “thành đồng vách sắt“ cố thủ không cho quan xâm phạm “cái ngàn vàng”. Tới đêm thứ 100 nàng doạ treo cổ tự vẫn, quan mới dỗ dành:

“ Việc gì mà khinh sinh uổng mạng?
có việc gì mà ta không làm được để chiều ý nàng?”


Cho dù là gái có chồng bị quan bắt sống giữa ban ngày ban mặt ngay cổng chùa, nàng cũng phải nói thác:

“ Từ buổi đầu gặp Dư Sinh…vì lời thơ tiếng hát mà chăn gối mặn nồng…
“Nay lầm đường lạc lối sa vào cửa tướng công
Hoạ phúc hợp tan đều ở tay tướng công cả…”


Thân tướng công cười thâm hiểm:

“Ngỡ là chuyện gì, đêm nay ta sẽ xuống trát tìm “chàng bán thơ”, triệu về dinh này. Nàng ở mái đông, chàng ở mái tây, đông tây tha hồ… xướng hoạ…”

Nàng Tuý Tiêu được lời như cởi tấm lòng, nào trang điểm, nào thay áo mới, nào đòi tấu nhạc. Riêng cô hầu tên Thuý Bình cảnh giác:

“Chị tin rằng trát đòi “người thơ” sẽ đến ư? Lại đoàn viên chăn gối ư?”

Thật chẳng ngờ, được trát đòi vào dinh chàng Dư Sinh vội vàng khăn gói ra đi, chỉ có lão bộc nhận ra chân tướng quan Thân Trụ Quốc. Nhưng nỗi niềm riêng chẳng dám tỏ bày với ai, lão đành trò chuyện với con chim anh vũ:

“ Mình đổ máu đánh giặc, giữ giang sơn nhà nó, cho nó vợ đẹp con khôn, cho nó nhà cao cửa rộng. Đánh được giặc rồi, đứa nào đứa ấy phong ấp có hàng nghìn mẫu. Chú mày bay cũng xoạc cánh. Trốn đâu cũng là ấp chúng nó. Ruộng tay người ta canh phá ra, nó cướp làm ấp của nó…”

Lời lẽ này đặt vào miệng một cụ cựu chiến binh thời bây giờ xem ra vẫn còn tươi roi rói. Ông lão bộc lại vạch ra cái mặt quan nham hiểm:

“ Lại vợ người ta nó cướp làm vợ nó không cheo không cưới. Cái giống đó đã kẹp vào tay rồi đừng có hòng. Tao hỏi chú mày, có ai đời vào tận hàm con ly con long mà đòi lại ngọc trai? Thò tay vào, nó không ngoạm cả tay đó ư? Ấy thế mà thấy trát đòi ba chân bốn cẳng chạy ngay vào trấn…”

Lão bộc thật sáng suốt và chí lý. Chỉ có điều ông không ngờ tới là chàng Dư vào dinh quan, được khoản đãi ở lầu tây, ngày đêm có cô Thuý Hường hầu hạ, nên chẳng có đòi “ngọc trai”, cũng chẳng yêu cầu trả vợ, chẳng đòi gì hết ngoài… uống rượu say tít cung thang suốt tháng ngày. Một tối, Thân tướng công sai Thuý Hường trang điểm thật lộng lẫy, bày tiệc chờ chàng Dư. Đi uống rượu về ngà ngà say, nhìn thấy cô hầu gái xinh đẹp, cầm lòng chẳng đậu, chàng “ôm đại“ làm cô ta giãy nảy:

“Em đây mà. Thuý Hường đốt nến chờ chàng từ đầu hôm. Thuý Hường chớ nào phải ai khác. Chàng quá say nên lầm lẫn đó thôi…”

Lẽ ra chàng Dư phải xấu hổ, xin lỗi rối rít, vợ đang bị giam cầm mà lại “vồ“ hầu gái còn gì đểu cáng cho bằng, nào ngờ chàng giở giọng tán tỉnh:

“Cho ta được giây phút lầm lẫn…”

Đến đây mới thấy văn chương chữ nghĩa như tấm gương hiện rõ chân tướng người viết, thi sĩ Lưu Trọng Lư cố vẽ cho được một chàng nho sinh tiết nghĩa, chung thuỷ nhất mực, khổ nỗi đôi khi cứ lộ ra chất “đểu giả”. Nghe vậy, Thuý Hường ỡm ờ:

“ Hà tất chơi trò lầm lẫn…”

Hoá ra đây là âm mưu hiểm độc của Thân tướng công, dùng sắc đẹp con hầu mê hoặc làm chàng mất mặt khỏi đi tìm vợ cũ. Mang rượu cho chàng uống, Thuý Hường lại báo trước:

“nửa đêm nay sẽ có tin mừng…”

Chàng Dư giả bộ ngây thơ:

“Tin mừng gì đây? Nào ta uống nữa! Uống nữa đi!”

Quả nhiên tới nửa đêm Thân tướng công cho người mang tới tặng chàng một cành hoa quỳnh trong chậu nhỏ phủ khăn điều làm chàng Dư mừng rối rít:

“ Xin người về trình lại Tướng công, khách mái Tây muôn vàn cảm tạ tướng công…”

Ôi chao ôi, lẽ ra đúng tính cách nho sinh, chàng phải quăng trả chậu quỳnh, lớn tiếng chửi quân cướp ngày, đòi trả lại cô vợ yêu, ngược lại, đã không phản kháng còn ‘tri ân” rối rít khác gì lãnh đạo đảng và nhà nước vẫn ca ngợi 16 chữ vàng trong khi thằng Trung Quốc bắn giết ngư dân ta trên biển Đông.

Đêm hôm đó Thuý Hường nào ca, nào đàn, nào dâng rượu cho chàng Dư ngắm hoa quỳnh nở. Đúng nửa đêm, nàng đến bên chàng suồng sã:

“ Hương quỳnh toả ngát trời
Nào chàng cùng em cạn chén …”


Rồi nàng dắt Dư Sinh “nửa tỉnh nửa say lên giường, vừa quạt màn cho chàng vừa hát ru:

Ru người tình, ấp người say
Hai tay đưa quạt đã rời cánh chim…”


Quạt mỏi tay rồi nàng xoay qua…tắt nến. Có 12 cây nàng đã tắt tới cây thứ 11 , chỉ còn một cây nữa thôi là sáng sớm mai chàng Dư chỉ còn nước khăn gói về quê, mặt mũi nào mà dám đòi vợ. May thay tới “phút 89”, nàng Thuý Hường lại nổi máu …lương tâm:

“Bốn điều Tướng công ra, ta đã làm xong ba
Duy còn một điều nữa, cuốn tóc trăm vòng
Ta xin chịu tội
Trời đất quỷ thần soi sáng lòng dạ này…”


Nói rồi nàng ra khỏi màn, gài cửa đi sang phòng khác. Vậy là nhờ lòng tốt của cô hầu gái, chàng Dư vẫn giữ được lòng “thuỷ chung son sắt“ với nàng Tuý Tiêu yêu quý chứ chẳng phải gan vàng dạ sắt gì. Rõ đẹp mặt “anh hùng”. Điều này hẳn ngoài ý định ông tác giả kịch bản, nếu không ông đã chẳng bôi bác “hình tượng nhân vật” của mình đến thế.

Gần sáng, thật bất ngờ, nàng Tuý Tiêu bên mái đông sốt ruột sốt gan, đang bệnh cũng liều mình đi tìm chồng bên mái tây. May mắn thay chắc vì “miếng ăn đến miệng còn tuột mất”, sau lúc Thuý Hường rút khỏi màn, chàng Dư hẳn “tiếc của trời” chẳng ngủ được mới mò dậy làm thơ dán lên vách, chứ không, nàng Tuý Tiêu bước vào chứng kiến cảnh chồng mình đang ngủ với hầu gái chắc nàng tự tử thiệt chứ chẳng còn doạ.

Khá khen thay chàng nho sinh, Tuý Tiên vừa xuất hiện trong màu áo xanh, tay cầm bông sen, chàng ca ngay được bài ca thương nhớ:

“ Chết lòng trong ngóng đợi
Người vẫn đến bất ngờ
Đúng màu xanh đêm trước
Đối mặt vẫn là mơ…”


Vợ chồng gặp lại chưa kịp hàn huyên, bên ngoài đã có tiếng dặng hắng rồi hầu gái của Tuý Tiêu là Thuý Bình chạy vào báo: ”Kiệu tướng công đã xịch trước cổng, xin chàng…”. Rồi cô ta nhìn Dư Sinh như cầu khẩn chàng đưa vợ trốn ngay. Lạ thay chàng cứ đứng như bụt mọc, cô hầu gái thương chủ quá khóc nấc lên. Chàng Dư vẫn trơ mắt ếch đứng nhìn; hai người đành dắt díu nhau trở về mái đông. Vợ đi rồi chàng mắm môi mắm lợi cầm bút làm thơ dán lên vách:

“ Trăng đến tận giường múa
Chưa hát trọn bài ca
Nỗi đau không câm mãi
Tức nước phải vỡ bờ…”


Ái chà chà, có áp bức là có đấu tranh đây, tinh thần quật khởi hẳn đã thức dậy, phen này chắc chàng đâm chết tên quan dâm đãng đã phá tan hạnh phúc đời chàng. Nào ngờ khi Thân tướng công bước vào, chàng lại cung kính:

“ Cũng là duyên đưa đẩy
Đêm trăng lại quá nhàn rỗi. Đang mong ân nhân đến…”


Ôi chao ôi, chàng “tri ân” con cọp dữ đã cho rượu, cho hoa quỳnh, cho gái đẹp mà quên mất thù bị cướp mất vợ sao? Tính cách này phải chăng bộc lộ từ phẩm chất tác giả dễ dàng “hoà đồng với cái ác” miễn sao được yên thân, tiềm ẩn sâu bên trong con người thi sĩ họ Lưu? Nó cũng chính là “chủ nghĩa cầu an”, sao cũng được miễn cứu được “bộ da” của chính mình, căn bệnh trầm kha của “trí thức Bắc Hà“.

Cái hành động phản kháng cao nhất chàng Dư có thể đạt tới là rụt rè mời ông quan:

“ Vào dinh tướng công lâu ngày
Hôm nay cũng như ngày hôm trước
Quá nhàn rỗi, có bốn câu thơ
Xin trình tướng công …”


Đọc liếc câu thơ “tức nước phải vỡ bờ” Dư Sinh “trình” lên, ông quan coi như tiếng muỗi vo ve, cười khảy:

“ Chị Hằng từ cung Quảng sa xuống để chú Cuội trơ thân Cuội một mình, nhưng chú Cuội có giận người giận mình mà chặt mất cành đa thì cũng chỉ thiệt mất cành đa thôi…”

Rồi bất chợt phát hiện ra mùi hương quen thuộc của Tuý Tiêu, vợ chàng Dư phảng phất đâu đây, lão sầm mặt, phảy tay ra lệnh :”mãn trà”. Đây là giây phút cuối cùng để chàng Dư có thể bộc lộ sự kiên cường phản kháng của mình, vậy mà không ,” Dư sinh tiến vội đến trước mặt Thân, cung kính bái biệt”. Thật đúng là một cử chỉ hèn đớn khán giả ai cũng nhận ra, chỉ riêng ông tác giả kịch bản là không thấy.
Chờ cho viên quan đi khuất , chàng Dư mới dám “cởi áo, xé thơ” theo đúng phép “thắng lợi tinh thần” của dân Mít chỉ dám xì xào sau lưng người ta, chàng cầm bút làm bốn câu thơ khác dán lên tường và ngâm lớn:

“ Đọc hết vạn kinh sách
Mà nhân nghĩa vẫn cúi đầu
Hỏi thần thánh ở đâu?
Hay đã bị vùi dưới đất…”


Nghe thơ chàng Dư, hốt nhiên nhớ tới mấy câu thơ chân dung hoạ phê bình gia Hoài Thanh của nhà thơ Xuân Sách:

“ Bình thơ đến thủa bạc đầu
Cũng chưa thể tất nổi câu nhân tình…”


Vâng, ngày nay có biết bao sĩ phu đọc vỡ tới cả vạn cuốn sách, liệu đã có mấy ai ngẩng cao đầu đòi cho được chữ “nhân”, chữ “nghĩa’ cho đám dân đen con đỏ?

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5267
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 I_icon13Fri 16 Jul 2021, 10:49

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 99)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (9)

Ngay sáng hôm sau, quan Thân Trụ Quốc lôi ngay gã “mật vụ phòng” ra đánh đòn tan xương nát thịt về tội không kịp thời báo cáo việc nàng Tuý Tiêu lẻn tới tìm chàng Dư . Quan vứt ngay bộ mặt giả nhân giả nghĩa, nói toẹt ra rằng:

“Ta đón hắn về mái Tây này chẳng phải là để chúng lén sau lưng ta. Sao trong dinh ta, việc lớn việc nhỏ lại dám để  lọt khỏi tai mắt ta? Ta cho hai đứa được gần mà chẳng được xáp mặt. Thể như con mèo trước bóng mỡ chớm mãi mà không bắt được. Hoa mắt sùi mép mà phải buông…”

Nói xong làm liền, quan bày trò dã man, đêm trước ngày Dư Sinh bị đuổi về “địa phương”, quan cho chăng một sợi dây ngay trước cửa phòng nàng Tuý Tiêu, cho phép chàng Dư tới từ biệt vợ nhưng cấm … bước qua dây và chỉ được tới khi đèn  phòng thắp sáng. Thắt buộc nhau vậy khác nào “đặt mỡ miệng mèo mà chỉ cho ngửi”. Lẽ ra đạo làm người quân tử đời nào chịu làm phận ‘con mèo”. Ấy thế mà đêm đó chàng Dư  vẫn vâng lệnh quan theo chân con hầu Thuý Bình mon men tới phòng Tuý Tiêu ở “mái đông”. Vừa nhìn thấy đèn còn sáng chàng đã hí hửng : “Đèn còn sáng, hẳn nàng có ý đợi?”. Con hầu lắc đầu: “Việc đường đột này tuyệt nhiên chị tôi không được báo trước. Ngày mai chàng về nơi cũ, đêm nay quan cho giáp mặt người xưa…”. Gọi là “giáp mặt” nhưng chỉ đến chỗ căng dây mà ngó lên thôi, chàng Dư đâu dám trái lệnh quan vượt qua, đành đứng bên “giới tuyến” ngước cổ than vãn:

         “ Ôi người bước trước cửa buồng
         mà chân đành chôn đất lạnh”


Khi vợ xuất hiện cửa sổ, chàng Dư  cũng chỉ dám đứng bên dây thừng mà kêu:

         “ Tuý Tiêu! Tuý Tiêu!
         Dẫu đất trời tan tác
         Nàng ơi ta không thể nào quay bước
         Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”
         Về nhìn đôi gối đêm nay, buốt lạnh..”
         “Tuý Tiêu! Tuý Tiêu ! Người khuất đâu rồi?
         Khoan đừng lay động , ngọn đèn ơi…”


Vậy là chàng chỉ sợ bên trong vợ tắt đèn phải quay lui theo đúng lệnh quan mà thôi, không hề dám có ý định  vượt qua “vạch dây thừng” mà lao tới với nàng. Đến khi con hầu báo tin:

         “Chàng trông ! Đèn đã lụi dần
         Dám xin chàng hãy kịp lui chân…”


Cũng đành, chứ biết làm sao ? Chơi cái trò “mỡ quệt mũi mèo” này, quan Thân Trụ Công quả là cao mưu. Chàng Dư  cam tâm làm “chú mèo ngoan”, đứng bên sợi dây chăng mà vuốt bụng thở dài:

         “ Đau lòng thân nam tử
         Chân cóng giữa vòng vây…”


Tấm thân ngọc ngà của vợ yêu chỉ trong gang tấc mà người “quân tử” ngày xưa của Lưu Trọng Lư cũng chẳng dám vượt rào đón lấy huống hồ ngày nay, các bậc hiền nhân quân tử  “chân ấm giữa tiền dự án, tiền tài trợ” Nhà nước rót dài dài, đời nào dám “vượt dây thừng” nói chuyện đa nguyên  đa Đảng?

Quay về nhà, chàng Dư  mang lòng căm thù, trút giận vào..đôi chim Anh Vũ, quà tặng cưới của quan Nguyên soái, người đã tác hợp Tuý Tiêu với chàng:

         “ Chém cha cái giấc mộng
         Tưởng đôi chim nhỏ chết rồi
         Thế mà vẫn nguyên đó
         Nhảy đi hót đi…”


Thật đúng y tính cách “trí thức lưu manh” khi “mộng không thành” chẳng dám vạch mặt kẻ phá thối mà chửi ngay mộng tưởng đẹp đẽ của chính mình. Rồi đến đêm, nằm mơ thấy quan Nguyên soái, ân nhân ngày trước, chàng vội vàng kể lể sự tình, nhờ quan ra tay giải cứu nàng Tuý Tiêu. Thực chẳng ngờ khi nghe xong, Nguyên soái cũng chân giò lảng ra:

         “ Ta chỉ biết điều tác hợp
         Còn như giữ trọn lứa đôi
         Là tự ở các ngươi
         Quả điều ta không liệu nổi…”

       
Vậy là vô phương cứu…vợ, chàng Dư chẳng còn biết trông đợi vào ai, lại đành chỉ ngồi nhà kêu trời:

         “ Thần thánh hết thiêng khôn
         Chữ nghĩa văn chương như của thiu đốt sạch
         Trăm sách muôn nghìn sách
         Hỏi còn sách nào hơn ?”


Trời Phật, thánh thần, văn chương chữ nghĩa rồi cả quan Nguyên soái chẳng cứu được chàng, rốt cuộc chính những người dân đen lại ra tay nghĩa hiệp. Ông lão bộc đã tuyển mộ được hơn 20 nghĩa sĩ, móc nối với con hầu của nàng Tuý Tiêu hẹn ngày hội đốt cây bông nàng sẽ mặc đồ trắng nhường cho con hầu mặc đồ xanh, khi kiệu đi vào đám đông, thừa cơ lộn xộn  sẽ cướp nàng Tuý Tiêu trả về cho chàng Dư. Kế hoạch sắp xếp xong xuôi , chàng Dư chẳng mất công mất sức gì, cứ ngồi nhà chờ nghĩa sĩ khiêng kiệu nàng Tuý Tiêu trở về:

         “ Lòng ta bồn chồn
         Rối rít tiếng chim Anh Vũ
         Canh đà chuyển sang canh
         Sao kiệu nàng chưa về tới
         Hay đường đi nhiều trở ngại ?”


Rồi đang nước sôi lửa bỏng, chẳng nghĩ gì tới những người vì mình xả thân nơi đao kiếm, chàng chỉ nghĩ tới nỗi sung sướng gặp lại vợ:

         “ Hót inh lên anh vũ ơi
         Kiệu hoa đã đến rồi
         Nến ơi bừng sáng
         Đào ơi, khoe hết màu tươi…”


Thế rồi đúng ý nguyện của chàng, kiệu hoa đã đến, nàng áo xanh  cũng bước xuống, chàng Dư mừng rỡ:

         “ Tuý Tiêu…Tuý Tiêu…”

Nhưng hỡi ôi không phải Tuý Tiêu vợ chàng mà là con hầu mặc áo của nàng theo kiểu “Lê Lai liều mình cứu chúa”. Cô ta cho biết:

         “ Chị Tuý Tiêu trong cơn xô xát hỗn loạn
         Bị một nhát thương
         Qua dòng nước trong
         Chị gieo mình tuẫn tiết…”


Hay tin dữ, chàng Dư chưa kịp thắp cho nàng nén hương đã vội vàng khăn gói  xuống đò theo chân lão bộc chạy trốn khỏi địa phương. Kết thúc vở kịch tác giả ca ngợi:

         “ Tuý Tiêu! Tuý Tiêu! Ngọn đèn không tắt
         Lửa hồn đốt kiếp
         Trao nhau trọn xác trọn hồn…”


Còn nhân vật chính, chàng Dư Sinh, dẫu có làm cả ngàn bài thơ nghĩa khí, rút cuộc vẫn lộ ra chàng nho sinh hèn nhát và hám gái.

Rút cuộc Lưu Trọng Lư cố tô vẽ chân dung người quân tử nhưng vô tình cứ lộ ra chân tướng kẻ tiểu nhân. Mô tả người anh hùng lắm khi cứ thò ra tính cách một “thằng đểu” thực ra chẳng phải căn bệnh của riêng thi sĩ Lưu Trọng Lư  mà là cố tật chung cho mọi văn nhân thi sĩ  một  khi đã cam chịu viết văn chương phải đạo, răm rắp tuân thủ những yêu cầu tức thời của chính trị. Trên trang thờ thi sĩ Lưu Trọng Lư tại nhà lưu niệm ở ngoại thành Sàigòn có treo bài thơ di cảo tự tay ông viết:

         “ Đi dưới vườn nhân dạ ngẩn ngơ
         Vì thương người lắm mới say thơ
         Phên thưa đã có bàn tay đỡ
         Đêm lạnh phăng lần những mối tơ

         Đẹp lắm trên đời những vấn vương
         Chao ôi thiên lý một con đường
         Đi trong trời đất từ duyên ấy
         Sớm tối không rời một chữ thương…”


Vậy là chẳng sám hối quyết liệt được như Chế Lan Viên trong bài thơ “Bánh vẽ”, Nguyễn Khải trong “Đi tìm cái tôi đã mất”…đến tận cuối “con đường thiên lý” thi sĩ họ Lưu vẫn thương trời, thương đất, thương người chung chung mà chẳng dám buông một tiếng thở dài , tự vấn về con đường mình đã đi.

Cũng trong nhà lưu niệm này, có treo một tấm liễn ghi bút tích Lưu Trọng Lư:

“ Tôi thà bị lừa còn hơn không tin vào con người…”

Than ôi, bằng chữ nghĩa và sự nghiệp lãnh đạo văn hoá văn nghệ  của mình, chính ông đã lừa biết bao thế hệ độc giả mà ông đâu có biết. Bởi thế, nhiều năm qua, thân nhân và tỉnh uỷ Nghệ An  cố dựng lên “Giải thương văn học Lưu Trọng Lư” mà chẳng mấy ai biết tới.

         “ Con nai vờ ngơ ngác
         Nó ca bài cải lương…”


Lưu Trọng Lư chẳng  ca “cải lương” đâu ông Xuân Sách ơi, ông ấy ca bài “khôn ngoan” đó…

                               HẾT PHẦN LƯU TRỌNG LƯ

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5267
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 I_icon13Mon 19 Jul 2021, 09:37

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 100)


Đất nước đứng lên – Tây Nguyên ngày ấy…

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC (1)

Trong kho tàng văn học cách mạng chống Pháp, như Giáo sư Phong Lê nhìn lại, “tới “Đất nước đứng lên “ của Nguyên Ngọc thì bức tranh kháng chiến mới thực sự được mở rộng trong một cảnh quan vừa có chuyện vừa có người, có quê hương và đất nước, có gắn nối giữa chất trữ tình và sử thi, có hài hoà giữa chủ thể và khách thể…”.

Vậy là văn học chống Pháp, tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc đứng đầu sổ.

Thời đó, làng Kông Hoa gần An Khê có anh chàng Núp cùng thanh niên trong buôn nghe già làng bok Sung kể rằng ngày trước có một ông tên là “Tú người to lớn, râu lưa thưa, con mắt ướt mà ngó thẳng, trên khố giắt một cái gươm dài. Đất nước mình không có ai có cái gươm đó. Gươm ông Tú không phải gươm thường,  đó là một cái gươm giàng, đem ra đánh Pháp, Pháp thua chạy hết. Nhưng có một bữa, trời mưa to gió lớn sấm sét… nước sông Ba lên to, chút nữa ngập hết làng. Ông Tú đem gươm ra múa, đánh mưa gió cứu dân…”

Thế rồi ông Tú cao hứng, múa gươm văng mạng, chẳng may lưỡi  gươm bị văng ra rơi xuống sống, trôi tuột về xuôi, lọt vào tay người kinh.

Từ đó “người Kinh giữ cái lưỡi, người Thượng giữ cái cán, hai người ở xa nhau, Pháp tới không có cái gì đánh nên phải thua… Bởi vậy muốn đánh Pháp phải đi tìm người Kinh, chắp lại cái gươm mới đánh thắng…”

Bài học đoàn kết Kinh Thượng vậy kể cũng ghê, nhưng với đám thanh niên trong buôn xem ra lại  phản tác dụng vì thằng Pháp là ma là Giàng, không có gươm của Giàng đánh sao được?  

“ Không khí nhà rông trở nên ồn ào. Người  nói Pháp như hòn đá, như cái cây, nó là Giàng. Trên trời nó đi cũng được, dưới nước nó đi cũng được, đánh trúng nó, nó không chảy máu… Ngày trước bok Klăng đánh, nó đem máy bay tới bay trên làng, bok Klăng lấy ná bắn trúng máy bay, cũng không thấy chảy máu, cũng không thấy chết…” .

Mang tên mà bắn trúng máy bay thì đúng là “thần diệu” hơn cả súng trường hạ máy bay Mỹ sau này.

“ Nhẽ đâu có  thế?”

Nghe chuyện Núp tức trong bụng, có thiệt thằng Pháp bắn không chảy máu? Phải đi “điều nghiên” coi sao. Anh bèn nói dối mẹ xuống thị trấn An Khê mua muối, nhưng chính để “Tao đi coi mày cho kỹ, mai mốt phải đánh mày chảy máu mới được…”.  

Thế rồi đi mấy ngày mới tới An Khê,  không thấy ông nhà văn kể Núp làm những gì, chỉ thấy anh về kể với mẹ:

” Con đi coi Pháp cho biết, bữa sau đánh Pháp. Con coi nó kỹ rồi, cái súng nó, cái xe nó, cái tàu bay nó giỏi thật, nhưng con người nó cũng giống con người mình thôi, không phải ông trời. mai mốt con bắn thử xem có chảy máu không?”

Hoá ra  chàng Núp mới chỉ xuống phố …đứng coi súng ống, tàu bay, tàu bò thôi, người ngợm Tây ra sao chưa biết, vẫn phải chờ coi bắn có chảy máu không?  Vậy nhà văn bắt nhân vật lặn lội từ trên núi cao xuống mãi tận  nơi “ngó lên thấy ông trời đất rộng, núi bốn phía thấp xuống”  để làm gì? Nắm tình hình địch tơ lơ mơ như vậy mà về buôn vẫn hạ quyết tâm tiêu diệt Pháp?
Thế rồi một hôm “Buổi sáng đi rẫy, bỗng nghe tiếng súng nổ. Thôi, khổ rồi. Pháp đánh tới rồi. Súng nổ xa. Súng nổ gần. Súng nổ nhỏ, rồi súng nổ to..Không còn kịp dọn cái nhà, không kịp bắt con heo, con trâu, không kịp lấy cái áo, cái khố…”. Thế là tất cả buôn chạy dạt lên rừng. Mẹ Núp già nua, yếu đuối vẫn phải cõng em Núp trên lưng, giao cho Núp cõng gùi gạo. Ở gia đình người Thượng, gùi gạo nặng phải trên 50 kí lô, là thực phẩm sống còn, là sinh mạng của cả gia đình. Người con trai trụ cột trong nhà như Núp, khi có biến lẽ ra phải cõng em, gùi gạo, dắt mẹ chạy lên rừng. Nhưng không, anh ta mang gùi gạo…gửi hàng xóm cõng đi, làm “mẹ ra tới đầu làng, quay lại không thấy Núp đâu, vừa kêu vừa khóc:
“ Ới  Núp ơi, Núp ơi…”


Núp chạy đến:

“ Mẹ đi đi, con gởi gùi gạo cho Xíp mang vô núi trước rồi. Con không đi đâu, con ở lại đánh Pháp thử đã. Mẹ đi trước, đánh Pháp chảy máu rồi con đi theo sau…”

Than ôi, giữa cảnh nhà cháy, người chết, súng ống nổ ầm ầm, thật tội nghiệp cho bà mẹ Núp, có con trai lớn lại bỏ em nhỏ, bỏ mẹ già, bỏ cả miếng ăn của cả nhà để ở lại đánh Pháp. Có thằng con cột trụ , lúc biến lại xử sự thế, người mẹ vẫn không oán trách, vẫn  lo:

“ Ố ố…một mình con đánh nó không được đâu…”

Vậy nhưng ông con vẫn bướng bỉnh vẫn như bị “ma ám“:

“ Được mẹ ạ. Con đánh thử trước, lũ làng bắt chước sau…”

Bà mẹ nhìn Núp.  Bà biết rằng “cái miệng  người già không nói được thanh niên đâu...”.  Thế là bà đành chùi nước mắt đi theo lũ làng để con ở lại. Chẳng  biết anh chàng Núp căm thù giặc Pháp tới đâu, trong tay chỉ có mỗi cái ná, dám một mình ở lại chọi với cả đại đội lính Pháp có đầy đủ cả súng ống, mọoc-chi-ê…

“Nhẽ đâu có thế?”


Dường như đãng trí, mau quên là cố tật của mấy ông nhà văn lớn. Mới vài trang trước, Nguyên Ngọc kể Núp xuống An Khê gặp cách mạng “Đi một ngày, ở một đêm, về một ngày….”, trang  sau Nguyên Ngọc đã lại cho Núp lang thang cả ban ngày giữa phố An Khê sạch bóng quân thù: “người nào cũng đổ về chật ních. Núp chỉ thấy toàn đầu tóc đen lố nhố và cờ đỏ. Người kinh cũng đông, người Thượng cũng đông, lần đầu tiên Núp thấy người kinh, người Thượng đi chung với nhau, nắm tay nhau, ào ào như nước sông Ba chảy qua thác, người nào cũng nói, nghe không hiểu gì cả, nhưng vui lắm, thích lắm…”

Ngày hội cách mạng trong con mắt Núp chỉ có nhiêu đó, riêng bok Hồ thì …chưa có gì. ”Núp cứ nghĩ mãi: bok Hồ là người thế nào? Sao bok Hồ giỏi thế?”.

Rồi  nhà văn cho chàng Núp ví von:

”  Bữa nay nhờ có bok Hồ mới biết đất nước mình rộng quá (rõ khổ, chàng mới về tới phố An Khê thôi, đã đi được tới đâu) có nhiều con suối quá, nhiều con suối nhỏ, được bok Hồ khơi dòng cho, bây giờ đã chảy chung lại thành con suối lớn, càng ngày càng lớn. Pháp có như một trăm hòn đá lớn giữa dòng sông cũng cứ chảy qua hết…”.

Hình ảnh rất hay, rất đẹp, chỉ tiếc ông nhà văn quên mất rằng suối nhỏ nào rồi cũng chảy vào suối lớn rồi suối lớn nào cũng phải chảy vào sông mà chẳng cần tới…bok Hồ khơi dòng. Từ một anh dân tộc  Ba Na đầu óc hoang sơ, lo lắng ngớ ngẩn ”sợ bắn thằng Pháp không chảy máu” bỗng chốc chỉ sau một đêm gặp cách mạng, trí tuệ đã được khai sáng có ngay khả năng trừu tượng hoá, ví von “trước kia làng Núp chống Pháp như dòng suối chảy giữa rừng, nay nhờ bok Hồ khơi dòng…” thì quả thực “Nhẽ đâu có thế?”.

Vậy “bok Hồ là người thế nào? Sao bok Hồ giỏi thế?

Anh chàng Núp nghĩ mãi không ra, sau  nhớ già làng kể chuyện ông Tú, anh đắc ý:

” Chắc bok Hồ cũng như  ông Tú vậy …”.

Ông Tú theo già làng là người “to lớn, râu lưa thưa…” thì đúng bok Hồ rồi.

“Khi giặc Pháp tới, ông Tú đem gươm ra đánh Pháp, Pháp thua chạy hết cả…”

thì lại càng giống bok Hồ. Nhưng khi mưa gió sấm sét, ông Tú lại mang gươm ra múa, “múa mạnh quá, rớt mất cái lưỡi gươm xuống sông Ba, trong tay chỉ còn cái cán, còn cái lưỡi trôi về dưới  xuôi, người Kinh lấy được…” thì lại không được phép giống bok Hồ.

Bởi lẽ bok Hồ bao giờ cũng sáng suốt, cẩn thận không khi nào bốc đồng múa gươm mạnh đến văng cả lưỡi xuống sông. Mà nếu lỡ tay, nhất định bok Hồ sẽ  tìm bằng được lưỡi gươm trả người Ba Na chứ chẳng bao giờ để lọt vào tay người kinh.

Ấy là chưa kể không biết lưỡi gươm nặng vầy có trôi được theo sông vượt cả trăm kilômét thác ghềnh để về tới tận dưới xuôi không, hay là vẫn còn mắc dưới đáy sông trên núi. Tuy nhiên đó không phải lỗi của anh chàng Núp, chẳng qua tại nhà văn quên mất tinh thần trách nhiệm cao cả của bok Hồ cũng như quên mất thanh gươm bằng sắt chứ không phải bằng gỗ để có thể nổi lềnh bềnh trên sông đó thôi.

Sau cùng chàng Núp và dân làng Kông Hoa cũng được gặp bok Hồ, nhưng không phải…”người thiệt, chỉ thấy người trên tờ giấy…”. Đó là vật thể vật chất duy nhất cách mạng mang tới cho dân Ba Na. Vậy mà ông nhà văn cũng để lũ làng “tưng bừng chào đón như chào đón mặt trời…”.

Cái chỗ này cũng là lỗi nhà văn, bởi lẽ dân Ba Na đang đói gạo, đói muối, cách mạng tiếc gì không gửi kèm vài chục ký lô theo ảnh bok Hồ làm quà cho dân hồ hởi phấn khởi mà cứ để cán bộ tay không trèo lên bản  thế?  

Đã không cho dân được ký lúa, lại hứa lèo “bộ đội bok Hồ sắp lên” làm dân mỏi mắt “đợi mãi, đợi ,mãi vẫn không thấy bộ đội đâu cả. Đê cán bộ cũng không thấy nữa”.

Thế rồi cũng tới lúc bộ đội về làng thật, nhưng không phải đoàn quân chiến thắng mang quả thực về cho lũ làng mà là toán người “có khiêng người trúng đạn …Gặp lúc lúa chưa chín không có chi ăn cả. Núp đem cho bộ đội một rổ bắp. Lũ làng bắt chước đem cho rất nhiều. Bộ đội không ai biết nói tiếng Ba Na. Chỉ chào rồi đi ngay…”.

Chưa giúp được dân cái gì đã nhiễu dân túng đói thế, bác Hồ mà biết tất các chú bộ đội phải kỷ luật. Buồn cười nhất là ông nhà văn tả tình quân dân “có bộ đội bị trúng đạn phải khiêng. Người đó không nói được, nhưng không khóc. Chỉ có các bà mẹ Kông Hoa khóc, sợ người đó đau…”. Hi hi, chồng chả phải, con trai thì không, thấy người lạ hoắc, lần đầu tiên khiêng qua làng mà các mẹ lại…khóc được mới tài.

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5267
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 I_icon13Wed 21 Jul 2021, 09:58

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 101)


Đất nước đứng lên – Tây Nguyên ngày ấy…

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC (2)

Pháp chiếm An Khê và các vùng xung quanh. Cán bộ cũng trốn mất hút luôn. Dân Kông Hoa lại “chờ hết một mùa lúa nữa mới có đê cán bộ của bok Hồ lên”. Anh cán bộ người kinh tên Cầm này cũng tay không lên bản và… kể chuyện bok Hồ:

” Bok Hồ chống Pháp từ khi còn nhỏ, cũng bị Pháp bỏ tù. Sau trốn ra được , đi khắp đất nước bày đất nước đứng lên chống Pháp, chống Nhật…”.

Í trời, chỗ này ông nhà văn quên cả tiểu sử Hồ Chủ tịch. Chẳng lẽ hồi đó Pháp bỏ tù bác ở… ngõ Compoint, thủ đô Paris bắt làm nghề thợ ảnh? Rồi lại từ đó trốn ra bày cho dân “chống Pháp, chống Nhật”.

“Đất nước đứng lên” là tiểu thuyết lớn nhất thời chống Pháp, lầm lẫn thế mà bao năm Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng không phát hiện để cải chính thì thật đúng là “cơm chúa múa tối ngày”.

Từ ngày có cán bộ Cầm ở bản, tinh thần chống Pháp của lũ làng lên cao hẳn, cao nhất phải kể đến… bà mẹ của Núp. Một hôm Núp dẫn bộ đội đi đánh đồn Pháp, chạy về khoe mẹ:

“Mẹ ơi, Pháp chết mười lăm đứa…”

Thế là Mẹ Núp, giận luôn trong hai ngày? Vì sao thế? Nghe tin Pháp chết phải vui mừng chớ sao lại giận Núp? Sau này Mẹ mới giải thích:

“Mày thương Pháp lắm sao? Mẹ có hỏi mày Pháp chết mấy đâu. Chết mấy đứa kệ Pháp, nó chết hết cũng được… Sao bộ đội chết mấy người mày không nói, mày thương Pháp hơn bộ đội rồi…”

Ối trời, Mẹ thương bộ đội thì Mẹ chỉ cần hỏi: ”Thế ta chết mấy người ?” là…xong. Ép uổng Mẹ giận con những… hai ngày liền làm gì cho rắc rối cuộc đời? Chắc ông nhà văn muốn xây dựng tính cách nhân vật cho “phong phú và đa dạng” đây mà. Chỉ tiếc, cảm hứng ca ngợi người dân tộc quá đà gây nên những cái “lỗi chính tả” như thế nhan nhản trong truyện làm người đọc cứ ngờ ngợ: ”có nhẽ đâu thế?”

Anh cán bộ Cầm và bộ đội ở bản ít ngày rồi lại rút đi, để Kông Hoa lại rơi vào thảm cảnh. “Nắng như cầm lửa đổ xuống. Dưới suối nước trốn gần hết, dân phải dỡ từng hòn đá ra mới tìm được nước. Rẫy muốn cháy. Cây lúa thấp lè tè, hột cứng ít, lép nhiều…”.
Kinh hoàng hơn cả là cái đói ….muối.

“ Con nít khóc kêu mẹ:” Mẹ ơi, mẹ ơi, cho con cái mặn…”. Nước da người nào cũng tái lét, bủng rẹt. Hai ông già không có muối ăn, thở không nổi, rồi chết…”

Trong cơn hoạn nạn, ông Chủ tịch Pok Pa và chỉ huy Núp muốn cứu dân thì chỉ việc cho phép lũ làng xuống phố An Khê làm thuê lấy tiền mua muối, đong gạo là vượt qua được mọi chuyện. Nhưng không, Núp khăng khăng ngăn không cho về: ”Không được đâu.. Về càng chết…Thà chết thôi..”.

Ấy đấy, mới nho nhoe lên làm lãnh đạo, anh hùng Núp đã coi mạng người như cỏ rác? Viết tới đây chắc ông nhà văn cũng cảm thấy cái lý do “không cho dân xuống phố An Khê mua muối” là không được… chính đáng lắm, ông bèn cho mấy người trốn xuống núi và vài hôm sau họ trở về khóc to:

“ Pháp lấy dao cắt lỗ mũi, cắt lỗ tai, chặt tay, chết hết bốn người rồi, ba người sợ quá trốn về đây…”

Oi chao ôi, Pháp nào mà ngu quá, bỏ công bỏ sức ra vận động người Thượng về với mình; khi dân trở về lẽ ra phải mở rộng cửa mà đón vào, tặng gạo muối chớ ai lại đi cắt tai, xẻo mũi, chặt chân… thì thực là chuyện chỉ có trong…tưởng tượng của ông nhà văn.
Bịa ra cái lý do “đầy thuyết phục“ ấy rồi, từ nay tác giả tha hồ “nhốt“ dân Ba Na trên làng Kông Hoa để “xây căn cứ địa” chống Pháp bất chấp nạn đói đủ thứ. Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người xem ra cũng còn có giới hạn, khi chỉ huy Núp kêu gọi mọi người bỏ làng lên núi cao lập làng mới để chống Pháp cho chắc ăn bị bà con phản đối:

“Không có muối ăn làm sao? Chân Núp thanh niên khoẻ, Núp leo núi được. Chân tôi không có muối, không biết leo núi đâu.. Ở đây không đi đâu cả. Đấy con nít đấy, đem nó lên núi, chết trên đó, chôn trên đó à…”.

Phản đối thì phản đối, nhưng Núp nhớ lời anh Cầm dậy:

” Mình phải đứng dậy cầm giáo mác, cung tên đánh lại Pháp mới lấy lại đất nước được…”.

Bởi vậy dân đói cơm đói muối, con nít chết…mặc kệ, cứ phải là “lấy lại đất nước cái đã”, Núp quyết định cứ chuyển hết làng lên núi bất chấp “bốn phía tiếng con nít đòi muối khóc ồn ào, tiếng bà già ông già chửi người xui bậy, tiếng thanh niên phản đối Núp nói to. Giải tán hết. Mỗi người đi một ngả…”

Lúc này mới thấy cái bản tính sắt đá, kiên quyết mục tiêu cách mạng dẫu hy sinh tính mạng của dân cũng cứ mặc kệ mà đê cán bộ Cầm gieo vào tâm hồn anh thanh niên người Thượng nay đã sớm đơm hoa kết trái, bám chắc vào cái đầu vốn nguyên sơ trong trẻo như nước suối đầu nguồn của anh ta. Thế là anh quyết không chịu nhân nhượng dân làng mà đi từng nhà vận động:

“ An tro tranh thay muối khổ lắm. Tôi cũng biết khổ. Nhưng ăn tro tranh khổ một đời mình thôi. Còn ăn muối của Pháp khổ hết đời mình, đời con mình khổ nữa, đời cháu mình khổ nữa…”

Kỳ lạ thay , cái triết lý “sống cho tương lai”, “sống là để sửa soạn sống cho mai sau” – cốt lõi của nhân sinh quan cộng sản chẳng hiểu đã thấm sâu vào anh thanh niên Thượng này từ bao giờ mà anh “vận dụng” xuất sắc đến như vậy?

Ngay khi cán bộ còn chưa mang “cái ánh sáng của Đảng“ tới cho lũ làng, chẳng hiểu sao, anh chàng Núp đã đứng lên kêu gọi vanh vách:

”Đánh đến khi hơn Pháp, hết Pháp ở đất nước mình mới thôi. Đánh đời mình chưa xong, thì đánh đến đời con, đời cháu mình nữa…”.

Ôi chao, cán bộ cao cấp cỡ Uỷ viên Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn dân trường kỳ kháng chiến chắc cũng chỉ hùng hồn bằng anh thanh niên người Thượng này. Với tinh thần đó, quyết không chịu sống trong vùng tạm chiếm, Núp kéo luôn cả bản Kông Hoa chạy tuốt lên núi cao lập làng “tự do” thiếu gạo, ăn tro thay muối, khoác vỏ cây thay quần áo, thiếu cả rìu dựa bằng sắt phải thay bằng đá để chặt cây, phá rừng dựng nhà làm rẫy.

Có ai chặt được cây lớn bằng đá không? Có đấy, ông nhà văn kể:

” Đêm nay Núp phải ngả cho được cây này. Núp lại ôm hòn đá, lấy sức bửa vào gốc cây, hai cái, ba cái …làm mãi, làm mãi không nghỉ. Cho đến khi con gà thức giấc kêu ò ó o. Núp leo lên ngọn cây , cột một sợi dây rừng rồi ra sức kéo. Cây gẫy răng rắc, đổ ào xuống…”.

Ngày nay nếu trở lại Tây Nguyên, ông Nguyên Ngọc thử treo giải thưởng trăm triệu đồng cho anh thanh niên nào khoẻ nhất làng dùng hòn đá trong có một đêm mà chặt được cây lớn “gẫy răng rắc” thì mới thật là không…bốc phét.

Suốt ba năm 90 con người làng Kông Hoa sống trong khổ cực vậy để làm gì?

Xin thưa rằng chỉ là để… ”…chờ bộ đội Bok Hồ, chờ anh Cầm, dài không biết bao nhiêu. Hòn đá dưới suối Đất Hoa trước kia nhọn, bây giờ nước đã mài tròn cả đầu nó rồi. Chín mươi người vẫn lầm lì đi theo Núp”.

Sống cả ngàn ngày như trong thời đại đồ đá vậy mà không mong ăn no, không cầu mặc ấm mà lại chỉ “mong mãi lưỡi gươm ông Tú, mong mãi người Kinh, người của Bok Hồ lên” thì lũ làng Kông Hoa quả thực là mắc bệnh tâm thần cả rồi. Ấy thế nhưng chờ đợi trong khổ cực, mỏi mòn vậy mà cách mạng cũng vẫn chưa chịu lên cho, sau cùng anh chàng Núp đành phải tự mình đi tới rừng Ba Lang tìm gặp cán bộ chứ còn biết chờ tới bao giờ ?

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5267
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 14 I_icon13Fri 23 Jul 2021, 08:39

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 102)


Đất nước đứng lên – Tây Nguyên ngày ấy…

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC (3)

Không thấy tác giả kể cuộc gặp gỡ ấy ra sao, chỉ thấy Núp “đi gặp người Kinh“ về khoe với cả làng:

” Ô…người kinh này tốt lắm. Con mắt hiền lành đen lắm. Ít nói …Cái áo mầu đen, thường thôi, không đẹp đâu. Đi dép làm bằng bánh xe lấy được của Pháp…”.

Cũng giống lần trước đi gặp cách mạng , Núp chẳng mang được nắm gạo, hạt muối nào về, lại vẫn chỉ những câu chuyện về bok Hồ.

“Thế bok Hồ ở đâu?”- lũ làng hỏi.

Núp nhìn quanh , suy nghĩ, rồi đứng dậy đi ra cửa quay về phía ông sao giống cái bánh lái của người Kinh , đưa tay chỉ vào đêm tối mờ mịt:

“ Bok Hồ ở phía này…”
Tất cả đều ra cửa nhìn. Ông sao bảy cái nhấp nhánh và rất sáng.
“ Bok Hồ ở phía này”
“ Phía này có một ông sao quanh năm không bao giờ thay đổi chỗ ở. Sáu ông sao lớn chạy quanh ông sao đó…”


Ông sao đó chính là bok Hồ “không bao giờ lặn nữa trong lòng đồng bào Kông Hoa.”. Lạ nhỉ ! “Ông sao 7 cái“ thì đúng “đại hùng tinh rồi”, nhưng tìm đâu ra “một ông sao quanh năm không đổi chỗ” và lại có những “sáu ông sao lớn chạy quanh” để tượng trưng cho bok Hồ? Lỗi kiến thức này không thuộc anh thanh niên người Thượng mà chính do tác giả đã nhét vào đầu anh ta. Vả lại, hình ảnh “ngôi sao dẫn đường” chỉ dành nói về Đảng thôi, còn nói về Bác thì phải dùng hình ảnh “cha gìa dân tộc” kìa, vậy mới đúng là kiểu nói chính thống.

Nói chuyện bok Hồ xong rồi, tất nhiên phải nói tới chuyện…Đảng. Chuyện này “trừu tượng” chứ không cụ thể như chuyện bok Hồ, làm sao nhét được vào đầu anh thanh niên “bán khai” đây ? Cái sự “giác ngộ về Đảng“ cho người dân tộc này xem ra khó quá, nên tác giả đành lờ đi cái quá trình mà chỉ trình bầy cái kết quả.

Anh cán bộ Thế nói:
“ Người mình đánh Pháp cứ thua mãi, thua mãi. Cho đến khi có Đảng chỉ huy mới thắng được tới bây giờ. Đánh Pháp ngày nay là do Đảng chỉ cho đấy…”
“ Ô…thế Đảng là Bok Hồ phải không ?”
“ Bok Hồ cũng là người Đảng đấy. Nhưng còn nhiều người Đảng khác…Ai người nghèo khổ , căm thù Pháp, căm thù người bóc lột , làm ăn tốt…người đó là người Đảng…”


Chỉ có thế thôi, anh chàng Núp đã “giác ngộ Đảng“ rồi.

“ Suốt đêm đó Núp không ngủ. Chung quanh thấy toàn sao là sao…”.

Vậy là “mặt trời chân lý” đã “chói qua tim” anh người Thượng, thức trắng đêm là phải rồi, thật chẳng bù cho mấy anh trí thức, học đi học lại mãi mấy kỳ chỉnh huấn mà vẫn tơ lơ mơ chưa hiểu Đảng là gì.

Thế rồi sau “gần bốn năm sương mặn của núi Chư Lây đã làm đen sạm hết chín mươi khuôn mặt lũ làng. Gần bốn năm nay, chưa một ngày nào chín mươi người đó được ăn đủ no, đủ mặn. Thịt trong người teo lại. Má hóp xuống…”, sau cùng anh Thế, người của Đảng cũng đã trèo lên bản mang theo…9 cái rìu rựa tặng lũ làng. Ôi chao ôi, quà của bok Hồ chỉ có bấy nhiêu thôi, mà già làng đã “múa tay, trợn tròn hai con mắt”:

“ Bok Hồ gửi anh Thế mang lên cho bốn cái rựa, năm cái rìu …ơ cái nào cũng mới tinh cả, sáng như là ông trăng, như thế cũng bằng cho người Kông Hoa…mấy cái?Hai cái à…cũng chưa phải đâu…ba bốn năm sáu bảy…một trăm cái tay đấy…hà hà hà…”

Anh chàng Núp cũng cầm cả 9 cái rìu rựa đưa lên cao mà rằng:

“ Bây giờ có anh Thế mang rìu rựa của người kinh, của bok Hồ gửi cho mình đây, mình càng làm rẫy giỏi nữa, ăn no nữa, nhất định thằng Pháp phải chết trước mình…”

Chỉ mất có 4 con dao và 5 cái rìu mà đã lôi kéo được cả làng người Thượng đi theo cách mạng, đánh Pháp đến cùng thì “công tác vận đồng quần chúng trong các dân tộc ít người” quả thực là quá…”siêu”.

Viết như thế, người Pháp đọc được chắc phải tiếc hùi hụi vì đã bỏ ra biết bao tiền của cho các sắc tộc Tây Nguyên mà vẫn bị họ căm thù, đánh cho tơi tả thì là sao? Ở đây ông nhà văn không muốn vạch ra cái “bí kíp” của cách mạng đó, chắc sợ người Pháp học được dùng nó lôi kéo lại người Thượng thì rầy rà hay là trong thực tế chuyện giác ngộ Đảng cho anh thanh niên dân tộc không diễn ra xuôi xẻ như ông nhà văn tưởng tượng khiến ông phải làm qua loa chiếu lệ vậy thôi.

Cảm hứng ca ngợi quá đà tình cảm “Kinh-Thượng” cũng đã đưa ngòi bút Nguyên Ngọc diễn tả một thằng bé người Thượng lưu luyến anh cán bộ người Kinh chỉ về huyện họp có dăm ngày đến mức…”buồn cười”:

“Bữa nay anh Thế về huyện. Nói ngồi trong mãi. Tay nó cầm sợi dây có cột nhiều gút. Anh Thế hẹn đi về huyện năm ngày thì trở lên. Mỗi ngày thằng Ngứt thắt một gút trên sợi dây. Sáng nay ngủ dậy, nó đem ra đếm, thấy đã đủ năm gút, nó ra ngồi chờ mãi, sao anh Thế không thấy lên? Nó ngồi trên ngưỡng cửa, ai hỏi gì cũng không nói, chị Liu đi ra rẫy cũng không đi theo, con mắt cứ ngó chăm chăm phía suối Đất Hoa…”

Ôi chao, cái thứ nhớ nhung “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi đống rơm“ thế này là thứ tình cảm trai gái đang yêu, ông nhà văn nỡ lòng nào nhồi nhét cho một thằng con nít người Thượng đang tuổi ham chơi?

Cứ phải chịu đựng một thứ cảm hứng “ca ngợi quá đà” như thế, người đọc phải kiên nhẫn lắm mới theo được Nguyên Ngọc dẫn dắt câu chuyện anh chàng Núp đi vận động các làng xung quanh: Đê ta, Đê ô, Đê mô, Đê lanh, Kông giàng…đi theo cái làng Kông hoa của anh đứng dậy đánh Pháp. Rồi Núp vào Đảng, Núp thành cán bộ xã, cán bộ huyện, thành Chiến sĩ thi đua, thành Anh hùng Quân đội…và đi ra Bắc tập kết để tiếp tục đánh Mỹ- Diệm và được gặp bok Hồ.

Anh chàng Núp và mọi nhân vật trong “Đất nước đứng lên” được vẽ bằng toàn một mầu hồng đỏ chói không mảy may gợn một chút bụi trần của con người phàm tục. Đó toàn là những con người “nghe theo người Kinh” cam chịu đóng đanh trên cây thập giá của chiến tranh với nỗi ham muốn tột bực chỉ là gặp…bok Hồ. Nguyên Ngọc đã nhào nặn tuốt luốt những con người Thượng nhỏ bé, đầu óc giản đơn, chất phác, sống hoà hợp với thiên nhiên thành những kẻ say máu, chém giết bằng những vũ khí dã man như tên độc, chông đất, chông trời…và đưa họ vào bảng phong thần thành những thánh nhân của cách mạng.

Tại sao vậy? Đó là vì:

“Tháng 8-1955, tôi được triệu tập về trại sáng tác về Anh hùng Quân đội, ở đây tôi được phân công viết về đồng chí Núp. Tôi viết “Đất nước đứng lên“ trong dịp ấy, trong sách đó, tôi gửi tất cả những mong ước ca ngợi những người anh hùng Tây Nguyên mà từ trước đến nay tôi chưa thực hiện được qua mấy lần thất bại…”
( Nguyên Ngọc – Thư gửi ngày 9-11-1960 cho Tổ văn học hiện đại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội)

Vậy đã rõ, “Đất nước đứng lên” được viết trong “trại sáng tác về anh hùng quân đội, chỉ nhằm ca ngợi những người anh hùng chứ không nhằm phản ánh hiện thực các sắc tộc Tây Nguyên trong những năm chiến tranh của thập kỷ 1950.“ Và bởi mục tiêu rõ ràng và rành mạch như vậy nên bức tranh mà Nguyên Ngọc dựng lên trong suốt hơn 200 trang giấy còn lâu lắm mới tiếp cận tới những sự thực dữ dội của đời sống người Thượng trên cao nguyên mà chỉ không đầy nửa thế kỷ sau đã rùng rùng nổi lên chống thu đất, thu rừng.

Và như vậy, suy cho cùng, “Đất nước đứng lên“ cũng chỉ thuộc loại bút ký dùng để giáo dục chính trị tư tưởng trong một thời kỳ lịch sử.

Các sinh viên khoa văn chắc không ai là không biết truyện ngắn “Trao kiếm” cũng của Nguyên Ngọc bởi lẽ nó đã được đưa vào giáo trình giảng dậy.

“ Trao kiếm” viết vào những năm đầu thập kỷ 50 vào lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang loang rộng. “Cụ Cư, 58 tuổi, nghèo xơ xác, chân lại có tật ở một thôn đất cát…” . Vì nhà nghèo, cụ được coi là nòng cốt cách mạng, nhà cụ được chọn để du kích dùng làm nơi “thảo luận tổ” trong khoá học “du kích gương mẫu của Tỉnh mở”. Từ lúc đó, “cụ ngồi nép một bên phản nghe anh em thảo luận”, rồi mải mê quá, lúc đầu cụ còn ngồi một góc phản, lần lần anh em thảo luận hăng quá, cụ rút một chân lên, rồi rút cả hai chân lên ngồi nghe…”. Cứ như thế, cụ tự biến thành học viên và cũng giơ tay “Tui xin có ý kiến”. Cụ kể rằng năm 1949 giặc đổ bộ lên Tam Quan, cụ nằm dưới hầm nhìn thấy “4,5 thằng đi qua, xí lô xí là lia bừa cả súng, giựt nhau một miếng dừa mà ăn…giành nhau trã cá…ngủ bỏ cả súng …tui xin ý kiến là giặc sở hở lắm…”.

Lính Tây mà giựt nhau cả một miếng dừa, tranh nhau ăn trã cá thì không hiểu “khẩu phần lê dương” của nước Cộng Hoà Pháp thằng nào ăn mất, các vị du kích chẳng cần đánh đấm, cứ ho một cái là địch bỏ chạy, khỏi cần tiến lên chính quy hiện đại. Từ đó cụ Cư biến thành học viên của khoá đào tạo “du kích gương mẫu”, lên lớp cho tất cả mọi người:

” Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, nghèo giàu gì cũng kháng chiến cả, chỉ có số ít nhà giàu chưa giác ngộ…”

làm anh em du kích cứ há cả mồm ra nghe. Nắm vững sách lược “đoàn kết toàn dân“ vậy, không khéo ông cụ Cư là bác Hồ cải trang chăng? Nhưng mà không, hàng ngày cụ vẫn đi cuốc đất, luộc khoai, bưng nước cho anh em, chỉ có buổi tối cụ mới tham gia “có ý kiến”. Thế rồi hôm kết thúc lớp học, thật bất ngờ, cụ vào buồng lấy ra một thanh kiếm trao cho một anh du kích:
”Ai? Ai nói không có kiếm giết Tây?…Cây kiếm này, lần trước nó vô đổ bộ Chợ Cát, sau tôi mới sắm đây. Tôi giữ rất kỹ, thường ngày lau chùi luôn, định chờ địch đổ bộ lên đây lần thứ hai, chặt đứt đầu nó…”.

Cụ Cư trao kiếm cho du kích còn căn dặn:

” Tôi nghèo chớ giàu thì mua cho anh khẩu súng. Anh cứ về, nếu địch lên anh chặt đầu nó cho tôi. Nếu thắng tôi sẽ thưởng anh, nếu đánh không được tôi cũng xuống coi tại sao anh đánh không được?”.

Ông lão nhà quê mà ghê chưa, thật đúng là nhân dân ta rất anh hùng? Nhà nghèo toàn ăn khoai, ngủ đất chẳng hiểu cụ già lấy tiền đâu ra mà sắm hẳn một cây kiếm để chặt đầu Tây?

Trong chuyện cổ nước ta, có một anh bốc phét: ”tôi nhìn thấy một con trâu khổng lồ, liếm một cái hết ba sào mạ…” làm người nghe phải kêu lên: ”Có nhẽ đâu thế?” Đọc truyện ngắn “Trao kiếm” nghe nhà văn Nguyên Ngọc tả lính Tây, cụ lão nông bỏ tiền mua kiếm, người ta cũng phải tự hỏi :” Có nhẽ đâu thế ?”

HẾT PHẦN NGUYÊN NGỌC

Về Đầu Trang Go down
 
Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 14 trong tổng số 14 trangChuyển đến trang : Previous  1 ... 8 ... 12, 13, 14

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: BIÊN KHẢO, BÌNH LUẬN THƠ VĂN-