Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Tình thầy mãi thắm by Phương Nguyên Today at 12:39

Album Quả Trái Các Loại Kỷ Niệm by mytutru Today at 12:10

Trang Thơ Hoa by mytutru Today at 11:59

Tại sao không nên dùng luôn một đôi giày? by Trà Mi Today at 09:25

Thơ Trào Phúng by thoduongluat.com Today at 01:04

CON Đường Tâm Mytutru TKN Đào Liên by mytutru Yesterday at 22:47

Chúc Mừng Lưu by mytutru Yesterday at 22:31

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 20:29

CHUYỆN ANH THỢ SƠN THUYỀN (Tạo đức mà không hay) by mytutru Yesterday at 13:12

Trang Họa thơ Phương Nguyên 2 by buixuanphuong09 Yesterday at 10:19

HỌC THEO HẠNH PHẬT MỖI NGÀY ĐƯỜNG THƠ by mytutru Yesterday at 09:26

TÌNH YÊU CÂY CỎ ĐV4 by buixuanphuong09 Yesterday at 06:19

Họa Thơ 2016 - 2017 - 2018 by mytutru Sat 04 Dec 2021, 13:49

CHÚC TIỂN NGƯỜI ĐI MÃI ĐẸP LÒNG by mytutru Sat 04 Dec 2021, 12:49

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Fri 03 Dec 2021, 17:17

Ghi danh tham gia lớp thơ Đường Luật by Mạc Ly Fri 03 Dec 2021, 10:46

Gieo Gió Gặt Bão- Bình Nguyên Lộc by Trà Mi Fri 03 Dec 2021, 10:22

Kim Dung tiểu thuyết bình khảo by Trà Mi Fri 03 Dec 2021, 10:14

Đố vui khoa học by Trà Mi Fri 03 Dec 2021, 09:33

Họa Thơ 2020 - 2021 by mytutru Fri 03 Dec 2021, 05:28

PHÁP VIỆN MINH ĐĂNG QUANG TĂNG NI & Đại Chúng by mytutru Fri 03 Dec 2021, 04:22

Thưa Thầy, thưa tỷ Trà Mi by Phương Nguyên Thu 02 Dec 2021, 15:41

WHAT IF by ozofe Thu 02 Dec 2021, 12:45

Tình Đời Lãng Tử by Yến Thanh Thu 02 Dec 2021, 10:27

Quán nước ven đường by cohangnuoc Thu 02 Dec 2021, 08:13

ĐÀO VIÊN THI CÁC by buixuanphuong09 Thu 02 Dec 2021, 08:10

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Thu 02 Dec 2021, 07:08

Chó con giúp bạn by Trà Mi Thu 02 Dec 2021, 06:34

Ngừa Dịch Siêu Vi Kỷ Niệm by mytutru Wed 01 Dec 2021, 22:27

BỐN MÙA XUÂN HẠ THU ĐÔNG by mytutru Wed 01 Dec 2021, 11:02

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1 ... 8 ... 12, 13, 14  Next
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Thu 10 Jun 2021, 10:01

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 87)


Người “Sống mãi với…Hội Nhà văn" (!)

NGUYỄN HUY TƯỞNG (12)

Ở nhà cụ Tĩnh Trai bất ngờ Trần Văn gặp lại đơn vị anh chỉ huy bị lạc sau đêm anh ...đi hát cô đầu và ngủ quên. Mọi người reo lên quây Trần Văn vào giữa . Người nào cũng có vẻ nai nịt như sắp đi đâu. Anh đứng tần ngần thấy mình như xa lạ. Hóa ra không có anh ở nhà cũng chẳng sao. Họ niềm nở, không lạnh lùng như anh tưởng… Mộng Xuân rỉ tai anh:

“ Đi đánh nhà Sauvage. Thôi, ta nói chuyện sau. Đi thôi, mười một giờ rồi. Các chị đã sửa soạn chờ liên hoan chúng ta thắng trận trở về. Lệnh phải tiêu diệt cho bằng được bọn lính Pháp ở đấy. Thu bằng được toàn bộ vũ khí… Khẩu súng và lựu đạn của anh , chú Lai giữ…”

Người ta thấy lạ khi đơn vị nhận nhiệm vụ chiến đấu, viên chỉ huy bỏ cả súng đạn ở nhà để đi hát… cô đầu, lạc mất đơn vị, thế mà vẫn không sao, lúc vô tình gặp lại đơn vị anh ta vẫn chỉ huy chiến đấu như không có chuyện gì xảy ra. Vậy kỷ luật chiến trường ở đâu, sắp chiến đấu mà đào nhiệm chắc chắn sẽ phải ra toà án binh lĩnh án tù.

“ Trần Văn thắt dây súng lục, giắt hai quả lựu đạn của anh. Anh nghĩ sẽ không oán thán gì nếu anh được chết trong trận đánh này để chuộc lại cái hành động đáng tiếc của anh…”


Và lúc này, lẽ ra phải nắm lại đơn vị để chỉ huy tác chiến, thật đáng ngạc nhiên, Trần Văn lại nhớ tới chuyện đâu đâu. Không phải cô người yêu cũ mà anh bỏ lại, cũng không phải cây hoa quỳnh của cụ Tĩnh Trai sắp nở mà là… ”một câu thơ của Victor Huygo đến với anh. Những người đi chết cho Tổ Quốc được quyền có quần chúng đến bên linh cữu mình khấn vái…” Lại một áp đặt khiên cưỡng của ông nhà văn lên nhân vật. Cũng may, phút cuối cùng Trần Văn cũng còn nhớ tới người yêu cũ mà anh đang cưu mang, anh cũng chẳng giúp gì được ngoài một câu từ biệt:

“ Tôi có nhiệm vụ phải đi ngay. Tôi sẽ nhờ ông cụ giữ nhà này để chị tạm nghỉ lại đây đêm nay. Nếu tôi được trở về tôi sẽ thu xếp sau…”

Chỉ thế thôi, chàng chỉ huy tự vệ bỏ lại cô người yêu cũ với đứa con nhỏ trên tay bơ vơ giữa rừng tên mũi đạn để đi… chiến đấu. Sáng hôm sau Trinh đành phải bế con cùng bà vú xách va li tìm về nhà chồng – nhà Cự Lâm . Khi về gần tới nơi, bà vú bị đạn bắn chết, “Trinh gục đầu vào cái bọc của con và lịm đi, không dám nhìn xác người vú và cũng không còn thiết gì đến xung quanh…”. Sau cùng nàng cũng ôm con lết được về tới nhà. Bố mẹ chồng đã đi tản cư, còn lại một lũ em đều là dân “lá ngọc cành vàng” từ bé chưa biết thế nào là gian khổ. Trước hết là Lan, cô em chồng của Trinh. Khi điện tắt, súng nổ “Lan nấp vào cái khe giữa thành bể cạn và bức tường ngăn với nhà bên cạnh. Cái khe đã có từ ngày Lan còn bé nhưng chưa bao giờ Lan vào đây và cũng chẳng để ý….”

Lúc súng bắt đầu nổ, “một luồng chớp xanh lẹt. Có tiếng kêu :” Núp xuống”. Mặt Lan vập vào thành bể và anh kia ngã dúi vào người Lan, như người đi tàu bị giật xô ngã vào nhau. Bỗng anh ta sát lại, hai cánh tay ghì chặt lấy ngực Lan, xoay mặt Lan lại, và hôn Lan. Lan ú ớ trong bóng tối, giãy ra, bất lực, sợ hãi, đê mê trong những vuốt ve điên dại mà Lan vừa muốn chống lại vừa muốn cho kéo dài. Rồi bóng người đàn ông ấy bị đẩy đi, người ta tranh nhau tìm những chỗ núp tốt nhất, chẳng hỏi gì Lan…”

Trong lúc lộn xộn mọi người tìm chỗ trú ẩn, nếu có ai đó tranh thủ ôm hôn, vuốt ve điên dại cô gái bơ vơ trong hoảng hốt thì kẻ đó chỉ là một gã lưu manh, tranh thủ gỡ gạc và không dễ gì buông tha con mồi một khi đã buông thả. Với một kẻ như vậy, cô tiểu thư con nhà giàu Cự Lâm sống trong nề nếp gia giáo dễ gì trao thân cho gã một cách quá “bản năng” như vậy? Những tình tiết tưởng như rất tiểu thuyết hoá ra lại đáng ngờ. Em gái của Lan là Hương – xinh đẹp, có vẻ như không sợ bom đạn, tìm sang hàng xóm tập hát. Anh của Lan là Phúc – người yêu của cô cán bộ Oanh. Mặc dầu là công tử con nhà giàu nứt đố đổ vách nhưng Phúc lại là một tự vệ chiến đấu hết sức anh dũng.

Vậy là cả nhà Cự Lâm – cho dù là tư sản, từ con trai, con gái, dâu, rể đều tham gia chiến đấu hoặc ở lại với thủ đô trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Phúc chạy về nhà gặp hai em gái là Lan và Hương , còn người yêu của anh là cô cán bộ Oanh thì bận đi chiến đấu. Một quả đạn rơi trúng nhà giết chết anh lái xe Thịnh và biến ngôi nhà thành cái địa ngục trong nỗi kinh hoàng của mọi người. Nghe tiếng cuốc đào huyệt ngay trong vườn, Trinh sợ chết khiếp, cứng người lại , lạnh như mình đang ở giữa một bãi tha ma… Trinh ôm lấy con nhưng tay cứ cứng đờ. Suốt mấy hôm nay, Trinh chỉ thấy những chết là chết.. Lù lù những xác chết đưa những cánh tay nghều ngào vồ lấy hai mẹ con Trinh. Trinh ngất đi…

Trong lúc nhà ông Cự Lâm tràn ngập không khí chết chóc và hoảng loạn, từ ngoài đường đưa vào tiếng loa dõng dạc:

“ A lô a lô ( Thưa đồng bào yêu quý, Uỷ ban kháng chiến đã thành lập, kêu gọi toàn thể chúng ta đoàn kết, nhất trí, bình tĩnh và gan dạ, quyết tâm diệt địch, ra sức phá hoại để giữ nhà, giữ phố, chống giữ thủ đô đến cùng, xứng đáng với danh hiệu là người của đất ngàn năm lịch sử. Chúng ta hãy thực hiện đầy đủ các khẩu hiệu: ”mỗi phố là một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài...”

Những câu hô hào như vậy cứ trút vào tai dân chúng bất chấp cái Uỷ ban kháng chiến ấy ở đâu ra, do ai bầu nên, cứ nghiễm nhiên là một tổ chức lãnh đạo toàn dân kháng chiến chẳng cần hỏi ý kiến ai. Tuy thế, bất chấp điều đó người dân vẫn xông lên dũng mãnh diệt địch. Như cụ già bố của nữ cán bộ Oanh đã nêu một gương sáng về lòng dũng cảm tới... đáng ngờ.

Lúc đó “cả khu phố nhà Thờ sáng rực như ban ngày. Nhà Thờ Lớn sừng sững như hai cái tháp cao ngất đen xạm giữa một hào quang đỏ. Hai chiếc xe tăng lồng lộn bò qua cái vườn hoa tròn trước mặt nhà thờ. Tượng đức Mẹ rung lên như trong đám rước. Mọi người lùi lại nhưng ông Lộc đã tiến gần cái xe trước, tay ném lựu đạn miệng hô xung phong. Cái điều mà ai nấy đều lo sợ đã xảy ra. Cái xe sau nhả đạn. Hai tay ôm ngực, chân loạng choạng, ông vẫn gượng đứng và thét to:
“ Đuổi bắt cái xe tăng...”


Bị đạn xe tăng bắn vào ngực không tan xác thì chớ, cụ già này còn đứng được và ra lệnh chiến đấu được thì thật... khó tin. Vậy mà còn hơn thế nữa “ông Lộc ngã khuỵu xuống, nhưng vẫn bò đuổi theo, tay phải giơ khẩu súng lục nhằm cái xe sau bắn luôn mấy phát...”. Tới mức này người ta đành phải hỏi ông tác giả tiểu thuyết, liệu có cụ già nào bị xe tăng bắn vào ngực còn đủ sức bò theo nó để bắn ...súng lục chăng? Vậy mà “ông vẫn cứ lết đi, để lại đằng sau một vết máu dài”. Đến khi có người tới đỡ ông đứng lên, “cái áo sơ mi phờlanen của ông đỏ lòm máu từ ngực trở xuống”, vậy mà ông vẫn còn nói:

“ Mặc tôi, chạy đi. Không phải lo cho tôi. Nếu tôi chết thì cũng đã làm tròn nhiệm vụ của tôi đối với phố của chúng ta. Anh đi đi. Để tôi nằm ở đây. Anh có gặp con Oanh nhà tôi thì nói với nó là tôi đã đánh xe tăng như tôi đã hứa với nó. Anh cầm lấy cái súng này và bảo tôi cho nó. Tôi đã cho nó lúc chiều mà nó không nhận...”

Đây không phải lời lẽ và suy nghĩ của người sắp chết, lúc đó không biết ông già nghĩ gì, có điều chắc chắn không nghĩ về chuyện “đánh xe tăng” với “súng ống“ gửi lại con gái như vậy. Và lạ thay ông còn “lảo đảo đứng dậy, thân hình cao lớn của ông trông ngang tàng với cái ngực nở và hai vai rộng, cánh tay phải giơ lên:
“ Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ chủ tịch...
Ông ngã xuống, một tảng gỗ cháy từ nóc nhà rơi xuống đè lên ông...”


Tội nghiệp ông già, lẽ ra ông đã chết toi mạng từ lúc xe tăng bắn nát ngực ông, vậy mà ông nhà văn Nguyễn Huy Tường còn bắt ông bò lê theo xe, bắn súng lục vào xe tăng, rồi trối trăng giao súng cho con gái và lại còn hô cả khẩu hiệu “Hồ Chủ tịch...” nữa. Thật là một thứ văn chương tuyên truyền khó tin đến trắng trợn.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Fri 11 Jun 2021, 09:56

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 88)


Người “Sống mãi với…Hội Nhà văn" (!)

NGUYỄN HUY TƯỞNG (13)

Trong bữa tiệc ngẫu hứng 5 người Hà Nội do Tân tổ chức chiều hôm trước ngày toàn quốc kháng chiến có nhạc sĩ Thu Phong. Trước đây anh này lưu lạc sang Tàu kéo đàn cho tiệm nhảy. Rồi thấy “ở nhà, Pháp khủng bố ở Bắc Ninh, rục rịch chiếm Hải Phòng”, chẳng hiểu sao anh lại “sốt ruột “ tìm về nước. Tác giả không nói rõ, Thu Phong “giác ngộ cách mạng” chưa mà sốt ruột “tham gia cách mạng” quá vậy? Về nước chẳng bắt mối được với ông cách mạng nào, “Thu Phương ngao ngán, không biết rồi mình sẽ đi đến đâu.. Cuộc đời anh rồi sẽ thế nào?”.

Chưa được cách mạng “giác ngộ” chẳng hiểu sao Thu Phương đã nhớ ngay lời ...Bác dậy.

“ Anh mang máng nhớ như đã có ai cho anh biết là Hồ Chủ tịch có nói: ”Nước ta là một nước nhược tiểu, phải đánh lâu dài...”.


Ghê chưa, nghệ sĩ như nhạc sĩ Thu Phương, chứng kiến bao gia đình tan nát, đầu rơi máu chảy, chẳng thấy con tim nghệ sĩ rung động chỉ thấy “Anh nắm cái bao súng lục và một quả lựu đạn Mỹ còn nguyên vẹn.Từ đây có lẽ không bao giờ anh còn được đánh đàn nữa, mà chỉ còn dùng những thứ vũ khí này...”.

Quả thực từ cây đàn tới lựu đạn, anh nhạc sĩ đã “nhảy vọt” khiến ta phải hỏi: ”có nhẽ đâu lại thế ?”. Ông nhà văn ép uổng nhân vật chăng? Thế rồi ngẫu nhiên, ông nhạc sĩ gặp lại ông sinh viên luật Vũ Minh, người cùng dự bữa tiệc “cuối cùng của người Hà Nội“ hôm đó.

Thế là cả hai ông dắt díu nhau vào “cái sân rộng của một cái nhà Tây. Chen chúc có hàng vài trăm người. Tiếng trẻ con khóc tru tréo. Tiếng đàn bà dỗ con, gắt gỏng. Tiếng phụ nữ léo xéo gọi mẹ gọi anh. Tiếng đại bác nổ rầm, người ta ngã lỏng chỏng như một cái toa tàu bị giật mạnh...”

Lẽ ra hai ông phải giúp dân chạy loạn, ngược lại “Thu Phong và Vũ Minh xéo bừa lên vai, lên đầu mọi người. mặc cho bà con chửi rủa. Họ trèo tường sang nhà bên cạnh.”.

Những tưởng hai chiến sĩ tự vệ sẽ lập ổ đề kháng chống Pháp, ai ngờ “lại cái tiếng huỳnh huỵch. Đúng Tây rồi. Tóc gáy hai người dựng đứng cả lên, mồ hôi toát ra đẫm cả sơ mi” khiến họ nghĩ tới chuyện ...tự sát. Thu Phong long trọng:

“ Đêm nay, đêm nổ súng đầu tiên, có hai thằng thanh niên chưa quen biết nhau bao giờ, mới gặp nhau trong một bữa tiệc mà cũng chẳng biết chủ là ai, hai thằng thanh niên ấy đã thề sống chết với thủ đô, nay nguyện cùng chết để khỏi sa vào tay giặc...”

Lạ chưa, mới nghe tiếng thằng Tây, tóc gáy đã dựng cả lên mà lại dám chết để khỏi sa vào tay giặc? Và lại còn ngẫm nghĩ ý nghĩa của cái chết “Anh không chết bên những gái truỵ lạc, mà bên một anh bạn sinh viên trong trắng.Từ giã cây đàn. Cái chết của hai anh tự vệ Hà Nội sẽ truyền mãi về muôn đời...”

Dựng nên vụ tự tử của hai thanh niên trí thức Hà Nội phải chăng ông nhà văn muốn truyện phong phú hơn, đặc sắc hơn, nhưng sự vô lý của nó gây phản tác dụng, người đọc mất niềm tin vào sự trung thực của ông, tác phẩm vì thế giảm hẳn giá trị.

Tất nhiên là Tây không tới và hai người sau đó lại nhận ra rằng: ”Sao chúng mình lại chết. Cộng hai đứa mới được hơn bốn mươi tuổi hay hơn một tí chứ nhiều nhặn gì cho cam. Vô lý quá. Mà có gì đâu. Nếu Tây hay thổ phỉ thì nó phải làm ầm lên chứ, sao lại câm như hến thế này? Vô lý...”. Và họ thôi không … tự tử nữa. Đọc tới đây người đọc phải hỏi: đưa ra hai nhân vật nhạc sĩ và sinh viên luật, Nguyễn Huy Tưởng xác định tính cách sao đây? Có lúc ca ngợi lòng dũng cảm; lại có lúc riễu cợt sự nhát gan. Tính cách không rõ ràng khiến nhân vật mờ nhạt.

Người ta còn nhớ từ mãi đầu truyện có một chú bé tên Thắng cứ khăng khăng đòi mẹ cho đi theo bộ đội. Từ lúc đó, chú “nhóc” trở thành liên lạc, xông pha đi trước cả tiểu đội.

“Buổi chiều, Thắng đi liên lạc trở về, thấy tiểu đội nhộn nhịp một cách khác thường. Các anh đang chia nhau những quả lựu đạn tốt nhất và ngồi nhìn nhau hát Tiến quân ca...”

Khác thường nữa là sau khi anh tiểu đội trưởng cho Thắng cây súng gỗ thì kéo Thắng lại, “ôm lấy Thắng và hôn lấy hôn để. Hôn xong anh quẳng Thắng cho anh khác hôn và Thắng bị quẳng như thế khắp mười mấy lượt anh trong tiểu đội. Thắng chóng cả mặt mũi, cười sặc sụa giữa những tiếng cười trêu ghẹo của các anh...”

Chưa bao giờ các anh trong tiểu đội vui với Thắng vậy. Rồi sau đó “các anh đứng dậy, giơ tay hô quyết chiến rồi phân chia nhau đi bố trí.“. Hoá ra họ biết trước đã đến giờ G., giờ nổ súng vào quân Pháp. Quả nhiên “một lúc thì điện tắt và súng nổ đùng đùng. Thắng sợ quá, đái tung toé ra cả ngoài quần, khóc gọi anh Dân...”

Người ta không hiểu sao giữa nơi mũi tên hòn đạn, “tác giả” không trả Thắng - đứa bé lên 8 tuổi ấy về cho mẹ nó mà cứ khăng khăng đưa nó đi theo tiểu đội chiến đấu, bắt nó xông pha giữa mũi tên hòn đạn chẳng khác gì một chiến binh già giặn: “Chợt có tiếng ríu rít trên đầu. Một viên đạn đỏ lạc vào như con đom đóm lừ lừ…”. Lẽ ra thằng bé con phải “sợ quá, đái cả ra quần, khóc gọi anh Dân“ như lúc tắt đèn vừa mới đây thôi, vậy mà không, mới qua chốc lát, thằng bé bỗng đổi khác, dũng cảm khó ngờ. “Thắng nghĩ: ”Sao nó biết mình về đây mà nó bắn?”. Thắng kêu: ”Chạy đi, các anh ơi, lộ rồi!”. Thắng nằm sấp xuống, nhưng viên đạn đã vập vào tường…”. Lạ thay, viên đạn cắm vập vào tường rồi không hiểu sao lại vẫn “xoay rít, vờn trên người Thắng…Viên đạn xì xì, Thắng chạy tới đâu viên đạn đuổi tới đó…”. Sao lại có viên đạn nào “thông minh” đến thế ? Anh tự vệ giải thích:

“ Đạn lửa đây mà. Nó đang đà, gặp sức cản, nó đứng lại, nhưng nó còn thuốc, nên nó quay như pháo. Có gì đâu?”


Lạ thật, đạn gặp sức cản đứng lại rồi…lại quay như pháo chắc là đạn…ma, chỉ có trong tưởng tượng nhà văn. Thế rồi thằng bé con 8 tuổi cầm súng lục gỗ, lưng đeo hai quả lựu đạn thật, khi một anh chàng định bỏ trốn khỏi tiểu đội, nó khăng khăng không cho đi. Anh chàng kia “đút lót” gói kẹo, “Thắng đứng thẳng người , ưỡn ngực, mặt vểnh lên như muốn sinh sự, cái trống bỏi cầm tay kêu tong tong:” Anh vào ngay. Không tôi gọi các anh ấy ấy. “Thắng khum ngón tay cái và ngón tay trỏ như cái càng cua, đưa lên miệng, huýt một tiếng còi dài, ra ý như báo hiệu…”
Thế rồi một anh vệ quốc đoàn đọc hiệu triệu của bác ông Hồ trong “thứ ánh sáng tôi tối của mùa đông, trong một gian phòng đóng cửa ….Họ đứng lấp kín cả bàn và bộ ghế bành. Bộ đội đều lặc lè lựu đạn, súng không nhiều, có người không có. Anh nào cũng quàng trên áo trấn thủ đường may hình quả trám những ruột tượng gạo như những con rắn trắng cuộn khúc. Họ đứng thế nghiêm, nhìn thẳng, chăm chú nghe lời kêu gọi…”.

Và rồi chẳng hiểu sao tiểu đội lại xuất hiện cả bà mẹ, con gái, cụ già, thanh niên để tạo nên “quần chúng” đầy đủ nam phụ lão ấu, nín thở nghe đọc lời kêu gọi của lãnh tụ:

“ Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng cương quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về ta…”

Không một ai nghĩ tới nếu phải “hy sinh tới giọt máu cuối cùng” thì cái thắng lợi giành được đó còn có ý nghĩa gì, mang lại cho ai và để làm gì? Tất cả còn đang thành kính lắng nghe anh vệ quốc đoàn cao giọng:

“ Kháng chiến thắng lợi muôn năm! Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh…”.
“ Giọng anh khẽ xuống. Nhưng tên lãnh tụ âm vang lên. Mắt anh đưa đi đưa lại trên những dòng chữ cuối cùng như tìm kiếm một vật gì. Gian phòng im một cách lạ…”


Cái giỏi của nhà văn trong việc “nâng bi” lãnh tụ là sau khi nghe đọc xong lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh đám quần chúng không sôi sùng sục máu căm thù xông lên diệt giặc, không lớn tiếng hô khẩu hiệu mà chỉ để một bà mẹ đặt câu hỏi:

“ Kháng chiến thật rồi ư, thưa đồng chí?”

Cái tài nhà văn chỗ này đây, nghe lời “Bác kêu gọi”, một bà mẹ bình thường bỗng thấy tin yêu bác Hồ, tin yêu cách mạng đến độ muốn đứng hẳn vào hàng ngũ cách mạng, trở thành “đồng chí”. Phản ứng “quần chúng” thì vậy, còn lực lượng vũ trang tất nhiên phải nhiệt thành hơn:

“ Tiếng thét của anh tiểu đội trưởng bé nhỏ lút trong đám chiến sĩ:
“ Tiêu diệt thực dân Pháp !Hồ Chủ tịch muôn năm…”


Một anh thanh niên đeo cravat đỏ “bỗng nhảy lên hô, thúc mọi người hô, quả đấm của anh giơ cao như đe mọi người; mặt đen nhuốm đỏ như say rượu, mắt điên dại. Anh reo:
“ Kháng chiến rồi. Toàn quốc kháng chiến rồi. Tôi biết. Tôi biết từ lúc nổ súng kia. Sướng quá! Hồ Chủ tịch đã ra lệnh. Hôm nay tất cả Nam bộ sẽ ăn mừng. Nam bộ không phải chiến đấu một mình nữa…”


Chiến tranh là chết chóc, nhà sập, gia đình ly tán, thật hiếm có dân tộc nào lại ăn mừng khi nó nổ ra. Hiếm ai lại “sướng quá” khi súng đã nổ. Anh ta là ai vậy? Hoá ra ông nhà văn muốn đám quần chúng lắng nghe lời Bác sao có đủ ba miền Bắc Trung Nam đã bất ngờ cho một ông miền Nam như đứt giây trên trời rơi xuống:

“ Anh thanh niên cướp lời:
“ Đúng, Nam Bộ đây. Tôi ra đây có công tác, vừa mới đến Hà Nội hôm qua. Chưa được gặp Chính phủ, chưa được gặp Hồ Chủ tịch. Nhưng được nghe lời hiệu triệu này thì cũng đã đời rồi. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm… Đúng như ở Nam Bộ. Trời! Gặp kháng chiến ngay giữa thủ đô!”


Rồi nhà văn cho anh thanh niên bày tỏ lòng yêu nước theo cách “Nam Bộ”:

“ Tôi sẽ sống chết ở đây cùng với đồng bào miền Bắc. Tôi đã trông thấy những khẩu hiệu ở đây rồi. Đã lắm! Cho nhập bọn được không? Không cũng được. Đơn thương độc mã cũng đánh…”

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Tue 15 Jun 2021, 11:59

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 89)


Người “Sống mãi với…Hội Nhà văn" (!)

NGUYỄN HUY TƯỞNG (14)

Anh lại bắt tay mọi người. Anh ôm hôn người mẹ. Anh vẫy vẫy tờ hiệu triệu. Anh lại ấp nó vào ngực , toàn thân anh rung rung. Anh khóc rưng rức, mắt đỏ hoe:

“ Đi lấy đầu mấy thằng Tây nhá. Trời ! Trời, sao Hà Nội nhiều súng thế này ?”
Anh đến với chiến sĩ này lại đến với chiến sĩ nọ, rối rít, sốt sắng…”


Thật đúng tính cách anh Hai, yêu nước kiểu nóng sốt, bộc trực người miền Nam theo cách… tưởng tượng của tác giả. Màn hưởng ứng “hiệu triệu của bác Hồ” lúc này mới nổ ra rầm rộ. Tiểu đội trưởng tự vệ phát biểu:

“ Bây giờ thì tôi đề nghị thế này. Như Hồ Chủ tịch kêu gọi thì toàn dân, toàn quốc đều phải đứng lên kháng chiến. Tất cả chúng ta ở đây đều có nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô đến cùng. Chúng ta phải giữ cái phố này…”

Một ông già mặc quốc phục nói với bà con:

“ Các đồng chí về đây, chúng tôi rất mừng. Chúng tôi như người được sống lại. Trông thấy các đồng chí như được trông thấy Chính phủ, thấy Cụ Hồ…”

Tuy nhiên, không phải ai cũng thích được gọi đồng chí; Tân, anh chàng thanh niên Hà Nôi tham sống sợ chết, đã mở tiệc ngẫu hứng 5 người hôm trước, khi được đồng chí cán bộ tên Dân hỏi:

“ Xin lỗi đồng chí nhé. Thế nào đồng chí? Đồng chí sẽ kháng chiến ngay tại nhà mình. Không ngại gì cả…”
…Tân choáng váng hơn là khi nghe tiếng cây đổ ngoài đường. Tai anh trối vì hai cái tiếng mà anh vẫn chế giễu và bây giờ người ta đem ra gọi anh. Cái tiếng ấy sẽ cột cổ anh lại. Anh nói:
“ Thưa ông, có lẽ ông nhầm. Tôi, đồng chí ?”
…Dân tới trước mặt Tân, vững như một lực sĩ, khói miệng bay ra như thở khói thuốc lá:
“ Tôi chỉ muốn được gọi rất nhiều người là đồng chí. Có lẽ khi mọi người đều gọi nhau như thế thì đời đã sướng lắm…”


Quả thực, cả ông nhà văn Nguyễn Huy Tưởng lẫn nhân vật Dân đều không tưởng tượng 50 năm sau, trong những cuộc họp nội bộ Đảng lôi nhau ra sát phạt, người ta mới lớn tiếng gọi nhau bằng hai tiếng “đồng chí”.

Trong đám nhân vật của Nguyễn Huy Tưởng, người thích được gọi “đồng chí“ nhất cô nữ sinh Quyên, người được giao theo dõi ông bác sĩ Việt kiều mới về nước. Chỉ mới nghe tin “một người về báo xe tăng đã húc đổ hàng rào sắt của dinh Chủ tịch, Quyên đã cãi lại anh ta và đuối lý, Quyên khóc. Quyên ghét cái người ấy và coi như Việt gian…”. Yêu Hồ Chủ tịch ghê gớm chưa? Ai mà báo tin Phủ Chủ tịch bị xe Pháp ủi sập hàng rào lập tức kẻ đó là… địch. Tuy nhiên, khả năng xuất sắc của cô nữ sinh Hà Nội này lại là dò xét, theo dõi người khác. Được giao nhiệm vụ “bám sát” ông bác sĩ Việt kiều, lúc tắt điện ông ta kêu: ”Thế này mà mình không biết mua sẵn một cái đèn dầu”. Chỉ thế thôi, vậy mà cô báo cáo với tổ chức là “ông ấy oán Chính phủ mình…”. Rồi khi ông bác sĩ giục: ”Une lampe, une lampe, mademoiselle*…”, cô ta tức lắm bởi lẽ “đánh nhau rồi mà vẫn nói tiếng Pháp, có vẻ như …muốn báo hiệu cho nó…”. Tinh thần cảnh giác của cô nữ sinh cán bộ này ghê gớm chưa? Sắn “máu cá” trong người chắc sau này cô phải làm tới chức… Phó Chủ tịch nước như bà Phó Doan thời bây giờ.

Thật khó hiểu vì sao Nguyễn Huy Tưởng mô tả nữ sinh Hà Nội lại cứ biến thành toàn gái “cứng cỏi” đến “sắt đá” như cái cô Quyên chuyên theo dõi ông bác sĩ Việt kiều, như chị Oanh, cán bộ phụ nữ thành.

Chị Oanh là vợ sắp cưới của con trai nhà buôn Cự Lâm giàu có, là con gái của một ông già cứ khăng khăng đòi “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Trong những ngày ly loạn, các gia đình nháo nhào chạy tản cư, chị ta chẳng ngó ngàng gì tới chồng cũng như gia đình chồng chưa cưới, cũng chẳng lo toan gì cho bố đẻ, mặc kệ hết chị cứ chạy khắp Hà Nội để đi… giết giặc.

Ông bố chị ta chính là ông già Phùng Gia Lộc, người đuổi theo xe tăng “tay ném lựu đạn miệng hô xung phong. Cái xe sau nhả đạn. Hai tay ôm ngực, chân loạng choạng, ông vẫn gượng đứng và thét to: “Đuổi bắt cái xe tăng...”. Khi hấp hối, ông vẫn còn đòi “Anh có gặp con Oanh nhà tôi thì nói với nó tôi đã đánh xe tăng như tôi đã hứa với nó. Anh cầm lấy cây súng này và bảo tôi cho nó. Tôi đã cho nó lúc chiều mà nó không nhận...”.

Khi khẩu súng của ông bố được đưa tới tận tay, lẽ ra Oanh phải rú lên mà hỏi bố chết rồi ư, vậy mà không, chị ta vẫn tỉnh bơ:

“ Sao thế? Chiều hôm qua tôi đã không nhận kia mà…Anh có thể đem về cho cậu tôi được không. Tôi cũng có rồi…”

Khi người báo tin: “Cụ mất rồi. Mất trong một trận đánh xe tăng…”, chị ta mới có phản ứng: “đôi lông mày kẻ của Oanh ríu lại. Trống ngực chị đập mạnh” – chỉ thế thôi, khơng thấy “la hoảng“ gì thêm. Người báo tin lại nhắc ”Cụ mất rồi. Cụ xông ra đánh xe tăng và bị trúng đạn vào ngực. Trước khi mất, cụ đã hô “Việt Nam độc lập muôn năm”. Cụ nhờ tôi giao lại chị vật kỷ niệm.“. Vậy rõ ràng là bố đã chết, chị cán bộ Oanh cũng chỉ: ”mím chặt môi, cái cằm hơi lẹm của chị như ngắn lại. Chị cầm lấy khẩu súng, tai văng vẳng lời của bố buổi chiều qua: ”cầm lấy súng Oanh”. Chị ngắm khẩu súng có khắc tên Phùng Gia Lộc…”

Thế rồi chắc đau thương làm chị đánh rơi khẩu súng, người khác nhặt lên, chị cũng chỉ nói: “Cám ơn Quyên”. Mặt chị trở lại tự nhiên, Oanh hỏi Thu Phong (người đưa tin): “Thưa anh, xác cậu tôi bây giờ ở đâu?”. Người nhạc sĩ nói dối: “Chúng tôi đã chôn cất cho cụ rồi…”“ Cám ơn các anh…”. Chỉ thế thôi, không hỏi bố chết thế nào, được chôn ở đâu, đánh dấu ra làm sao mà lại hỏi: ”Phố ta vẫn giữ được chứ? ”Rồi quay sang mấy cô bạn: ”Ta đi, các chị đi”. “Tay Oanh nắm chặt cái nòng súng chìa ra ngoài miệng túi. Đoàn người lặng lẽ tản đi…”

Ôi mẹ kiếp, đọc đến đây muốn văng tục quá, cái con mụ Oanh này phải chăng là mẫu người “tam vô” của cộng sản.

Thực ra ông Nguyễn Huy Tưởng muốn tả cái sự nén đau thương để biến nó thành hành động. Tiếc rằng ông đã bắt Oanh “nén chặt” nỗi đau quá khiến chị ta trở thành mụ đàn bà bất hiếu, vô tình, sắt đá, dửng dưng cả với cái chết của bố đẻ để toàn tâm toàn ý ”tập trung suy nghĩ và hành động vào việc đánh Pháp”.

Tiêu biểu cho tinh thần toàn tâm đánh giặc phải nói tới đơn vị bảo vệ dinh cụ Hồ:

“ Phần lớn họ là những đồng chí người Thổ, nhiều người đã tham gia cách mạng từ hồi bí mật, đã xa rừng núi từ ngày khởi nghĩa. Hơn một năm ở Hà Nội, họ chỉ quanh quẩn hoặc ở trong dinh hoặc ở bên phủ. Những người ít nói ít cười và không đòi hỏi. Hơn một chục đồng chí đã nằm xuống để không bao giờ trông thấy xứ sở xanh xanh nữa.”

Những người lính gốc dân thiểu số khi chiến đấu cũng như lúc hy sinh ắt phải khác những người lính gốc kinh, tiếc thay ông nhà văn không diễn tả được sự khác biệt đó. Một anh thương binh người dân tộc lúc hấp hối được cấp chỉ huy hỏi han:
“Đồng chí thế nào?”. Anh thương binh nói, giọng nói của một người còn tỉnh, nhưng đã yếu: “Báo cáo anh, cũng thường thôi. Ngoài ấy thế nào?” “Nó chuẩn bị tấn công. Tôi sẽ cho người đưa đồng chí về trong phố, có quân y.” Cái đầu lắc lắc một cách nhọc mệt, đôi mắt như cười: “Không nên. Làm gì còn người. Tôi ở đây. Đem về cũng vô ích. Tôi biết.” Anh ta nghĩ một lúc: “Tôi được đánh suốt từ chập tối đến giờ, chết cũng sướng.…”

Chưa nói tới lúc sắp chết làm sao “đôi mắt như cười” được, chưa nói tới khi chết người miền núi thường nhớ về quê hương, bố mẹ, vợ con chứ đâu có còn nghĩ tới… tình hình chiến sự, chỉ riêng một điều tiếng kinh chưa sõi, sao mà lúc hấp hối, anh lính Thổ này nói được lưu loát quá vậy?

Một anh lính dân tộc khác khi bị thương “thấy mình khong sống được nữa đã cố gượng bò lên đây để nhìn lại lần cuối cùng cái phòng khách mà Bác Hồ thường hay đi qua…”.

Có thật khi sắp về với tổ tiên, người lính Tày này đã thu hết sức tàn lực tận chỉ để nhìn cái nơi “bác Hồ qua lại” không?

Một anh lính khác lúc sắp chết “cũng nói giọng yếu dần:
“ Tôi đi đi lính cho Pháp 3 năm. Bây giờ mới biết thế nào là vui. Hồi đảo chính, tôi ở trong thành, Pháp nó chạy như chuột. Đêm ấy buồn quá. Theo nó thì không muốn, trở về thì đồng bào hỏi tội, hàng Nhật thì nhục nữa. Chẳng biết làm gì, chẳng biết đi đâu, tôi cứ ngồi nhắm cái cột đèn trước mặt mà bắn. Lúc ấy sống mà như chết. Bây giờ sướng là được bắn thực dân, không phải bắn cột đèn.Tôi không chắc đã sống được để chiến đấu nữa. Tôi biết. Anh không phải nghĩ ngợi gì về tôi cả. Tôi không ngờ lại được nằm ở dinh Hồ Chú tịch…”


Dù có là thực hay là bịa, nhưng mô tả 3 cái chết của 3 người lính dân tộc mà giống nhau y hệt, ông nào cũng chỉ nghĩ tới bác Hồ, tới niềm vinh dự được hy sinh cho cách mạng thì đủ thấy khả năng tưởng tượng của ông nhà văn nghèo tới mức nào!

Thế rồi tới anh chính trị viên đơn vị là Gia Bảo, tuy là người kinh nhưng lúc sắp quyết tử cũng lại được mô tả “nhớ tới bác Hồ” y như mấy anh chiến sĩ người Thượng:

“ Gia Bảo cũng đưa mắt quanh căn phòng đã đổ nát, nhưng vẫn như phảng phất sự có mặt của Hồ Chủ tịch mới hôm qua còn đến đây làm việc ( thực ra cụ đã lên an toàn khu từ tám đời rồi ) …Anh nhớ những tiếng ho của ông Cụ, nhớ những ngày tàu trắng và bọn Quốc dân đảng làm găng, ông Cụ làm việc không nghỉ, nhưng ăn cơm xong vẫn đi gặp bộ đội nói chuyện… Anh sẽ không rời khỏi nơi này. Trước khi chết anh sẽ không để cho cái dinh này lọt vào tay giặc. Những lời căn dặn của đồng chí Bí thư, đồng chí Khu phó trong buổi Hội nghị hôm qua văng vẳng đưa lại…”

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Wed 16 Jun 2021, 12:38

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 90)


Người “Sống mãi với…Hội Nhà văn" (!)

NGUYỄN HUY TƯỞNG (15)

Như vậy đã thành một công thức trong “nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết” của Nguyễn Huy Tưởng: mọi chiến sĩ, dù là kinh hay thượng, dù là dân thường hay bộ đội, trước khi chết đều nhớ tới bác Hồ và Đảng. Sự thực ra sao chắc chỉ những “người trong cuộc” mới biết, chỉ tiếc họ đã ra người thiên cổ nên chẳng ai kiểm chứng được huyền thoại về những cái chết trong nỗi niềm thương nhớ Bác Đảng mà ông nhà văn đã tô vẽ.

Một điều khá đặc biệt nữa là hầu hết những người lính của Nguyễn Huy Tưởng đều có “dính dáng” tới cụ Hồ.

Thí dụ như Bảo, người lính cuối cùng trong trận chiến đấu bảo vệ Bắc bộ phủ “là một thợ tiện tập sự của Sở máy nước đá. Ngày cách mạng, Bảo xin đi biểu tình, bố mẹ cấm vì Bảo còn nhỏ. Bảo trốn đi, theo anh em vào cướp dinh và được phát hai quả lựu đạn Nhật, một con dao găm. Một hôm có tin là cụ Hồ ở chiến khu về. Bảo hỏi một người đội viên Thổ “Hồ Chủ tịch là gì?” Anh Thổ nói: ”là đứng đầu nước, giữ độc lập cho dân…”. Buổi chiều, một ông già áo kaki, dép con hổ, đi với nhiều người vào. Thấy nhiều người hô muôn năm, Bảo cũng hô. Bảo đoán đấy là Hồ Chủ tịch vì anh em đã cho xem ảnh trước… Từ đấy, Bảo yên tâm ở bộ đội…”

Vậy đó, hình ảnh của cụ Hồ chẳng những ăn sâu trong tâm hồn những người lính của Nguyễn Huy Tưởng mà còn tràn lan trong những trang viết “Sống mãi với Thủ đô”.

Hầu như tất cả các trận đánh giữa ta và Pháp ở Hà Nội đều được tác giả “Sống mãi với thủ đô” thuật lại. Nhà máy đèn, Bưu điện, Bắc bộ Phủ, Chủ tịch phủ, chợ Đồng Xuân, Nhà thờ lớn… nơi nào cũng có chung một tính chất, hết sức phổ biến là quân dân ta cực kỳ anh dũng, quân địch cực kỳ độc ác và hèn nhát. Tính đơn điệu và một chiều trong những nhân vật tự vệ thủ đô như Trần Văn, Thu Phong, Tân, Bảo, ông già Phùng Gia Lộc… những anh bộ đội người Thượng, những cô nữ sinh Hà Nội như Oanh, Quyên, những người cộng sản như Quốc Vinh, Bí thư… là ở chỗ cho dù họ mang những danh xưng khác nhau, tên tuổi khác nhau, cho dù là nghệ sĩ, trí thức, tư sản, công nhân… nhưng họ giống nhau y hệt như những hạt đậu trong hũ. Cái mẫu số chung đã được quy đồng cho mọi nhân vật đó là sự bỏ quên cá nhân, quên gia đình, quên mọi thứ trên đời để toàn tâm toàn ý tập trung vào đánh giặc và trong lòng người nào cũng có một vị thánh sống là …”bác Hồ”.

Tuy thế, trong cái bức tranh rực một mầu hồng đó, đôi khi cũng lộ hé cái bệnh “ độc đoán”, ”độc quyền lãnh đạo” của những người cộng sản đủ để cho ta thấy song song với việc đánh Pháp, Đảng cộng sản đã ráo riết thâu tóm quyền hành thiết lập chế độ độc đảng ngay từ khi còn trứng nước như thế nào.

Nguyên ông Uỷ viên quân sự Văn Việt là người ngoài Đảng, chức quan trọng vậy nhưng không được họp nội bộ Đảng, không được biết những tin tức quan trọng, bởi vậy ông Uỷ viên quân sự này vẫn ấm ức về trò lén lén lút lút qua mặt ông của các đồng chí đảng viên. Khi nổ ra cuộc chiến đấu chống Pháp, ông Uỷ viên Văn Việt đưa lực lượng tự vệ tới đánh chiếm nhà Xôva của hãng tàu thuỷ Pháp. Khí thế hăng hái lắm.

“Trong đêm tối, bộ đội và tự vệ vây lấy cái hãng , bắn súng và ném lựu đạn. Giặc không dám bắn ra. Đánh mãi, đánh mãi, đến nửa tiếng đồng hồ. Ta trèo vào trong sân, tiến tới sát cửa, đập cửa ầm ầm. Người ta xông vào trong nhà, hô chiến thắng vang lừng. Người ở dưới nhà chạy lên gác, người trên gác chạy xuống dưới nhà, vào buồng này, sang buồng kia, gọi nhau í ới, ồn ào như vỡ chợ. Xục mãi không tìm được một tên giặc, không thu được một viên đạn….”

Sao lạ thế? Quân Pháp đâu hết cả rồi?

Thì ra họ đã rút từ tám đời, chi bộ Đảng biết điều đó nhưng lại không thông báo cho Văn Việt, vì anh ta là người ngoài Đảng. Bởi vậy khi có người hỏi: “Nó rút từ lúc nào?” Văn Việt buông cả hai tay, cay đắng: “Mình là quần chúng, ai cho biết mà chủ động…”

Vậy đó, dù có là Uỷ viên quân sự đi nữa, nhưng không phải đảng viên thì cũng không được biết những “tin tức nội bộ”. Thực ra ông Uỷ viên muốn “đánh một trận ra trò, tiêu diệt hoàn toàn vị trí Xôva, để cho các ông đoàn thể – tức là Đảng, biết rằng dù bị thành kiến, một thằng quần chúng khi nhận nhiệm vụ, vẫn làm đâu vào đấy, vẫn cừ. Khi biết là đã đánh vào một vị trí không người, anh choáng đi, như bị sét đánh. Anh càng giận Quốc Vinh (cán bộ Đảng đã giấu không cho biết chuyện Pháp đã rút khỏi nhà Xôva). Giặc không tiêu diệt được, đoàn thể thành kiến, mất uy tín, không lập được công trong đêm đầu. Anh khóc vì tức vì xấu hổ…” .

Thế rồi không chịu nổi đồng chí cấp uỷ Đảng chơi xỏ mình, ông Uỷ viên quân sự tìm tới tận trụ sở, xông lên phòng ông chính trị viên, “mặt tối sầm, giọng xẵng, lưỡi như rít lại:
“ Sao anh không cho tôi biết trước? Anh coi tôi là người thế nào mà phải giấu tôi? Tôi là Uỷ viên quân sự để làm vì à?”


Đồng chí cấp uỷ “đối với quần chúng bao giờ cũng giữ được cái lễ độ và mềm mỏng cần thiết:
“ Cứ bình tĩnh, anh ạ. Tôi nghĩ rằng việc thì có cái nói trước, có cái nói sau, người thì có người nói trước, có người nói sau…”


Ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng tức giận:

“ Thế nghĩa là chúng tôi là những người làm thì làm trước, biết thì biết sau chứ gì ? Anh giữ bí mật thế à?”

Không kìm nổi tức giận, ông Uỷ viên quân sự ngoài Đảng “giáng một cái tát vào một má hóp” của ông cán bộ Đảng. Nếu là người bình thường thì ông bị ăn tát này đã nhảy xổ ra trả đũa rồi, nhưng ông cán bộ Đảng vốn cáo già về chính trị, ông chỉ “cau trán, loáng một ánh sáng nơi đuôi mắt“ rồi trở lại bình thường ngay:

“ Bây giờ anh đang nóng. Để một dịp khác ta sẽ nói với nhau về chuyện này. Còn chuyện gì khác nữa không, anh Văn Việt?”

Ông cán bộ Đảng mềm mỏng nhưng mà dứt khoát, ông chỉ gọi ông Uỷ viên là “anh” thôi chứ không gọi “ đồng chí”. Vậy là ông ngầm tỏ ý sẽ không tha cho cái “tát hỗn xược“ ấy đâu, nhất định sẽ có ngày ông trả mối nhục này, nhất định sẽ có dịp cho ông “nói lại chuyện này.” Lúc đó ông sẽ phân tích trong cuộc họp nội bộ Đảng rằng quần chúng mà dám giang tay tát cả Đảng thì còn gì là uy tín đoàn thể nữa, đây không chỉ xúc phạm cá nhân mà xúc phạm cả tổ chức. Cánh cửa vào Đảng giành cho ông Uỷ viên quân sự như thế là vĩnh viễn đóng lại. Không phải đảng viên thì ông Uỷ viên quân sự cũng hết hy vọng thăng tiến theo con đường quan lộ, mai mốt leo được cái chức đại đội trưởng cũng là kịch trần rồi.

Mấy trang cuối cùng của cuốn “Sống mãi với thủ đô”, Nguyễn Huy Tưởng giành cho “chú bé Gavơrốt Việt Nam“, bé Thắng . Chú bé này mới 8 tuổi đã khăng khăng đòi mẹ theo các anh bộ đội đi đánh tây. Sau một trận đánh, lúc rút kinh nghiệm, bé Thắng cũng đòi … phê bình thủ trưởng:

“ Thắng đứng dậy, hai tay buông thẳng cứng cỏi như một chiến sĩ. Thắng nhìn thẳng vào Dân – chỉ huy, vênh mặt lên:
“ Báo cáo đồng chí. Đồng chí có một khuyết điểm. Sao đang chiến đấu, đồng chí lại đẩy tôi xuống hố…”
Thắng cau trán lườm mọi người, nét mặt nghiêm nghị, mắt quắc lên nhìn Dân bĩu môi. Một chị đẩy chén chè tới trước mặt chú bé. Thắng gạt đi giận dữ. Dân nói:
“ Tôi thấy đồng chí bò, tôi sợ nó bắn đồng chí nên phải đẩy đồng chí xuống hố. Nhưng đồng chí phê bình thì tôi chịu…”


Quả thực khó mà tin được một chú bé đang tuổi nhi đồng mà lại hăng hái, coi thường cái chết một cách hỗn xược như vậy. Tính chất “giả” , bịa đặt theo yêu cầu tuyên truyền cứ bàng bạc trong suốt cuốn tiểu thuyết cho tới tận dòng cuối cùng của cuốn sách. Năm 1961 “Sống mãi với thủ đô” ra mắt bạn đọc, lập tức nó được các nhà văn hàng đầu của cách mạng như Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Tô Hoài …“bốc “ lên mây xanh dẫu rằng nó được viết theo cảm hứng chủ đạo là ca ngợi một chiều và vì thế nó mang nặng giá trị tuyên truyền hơn là giá trị nghệ thuật.

Tổng kết về Nguyễn Huy Tưởng, nhà phê bình Phan Cự Đệ đã viết trong cuốn “Nhà văn Việt Nam 1945-1975”:

“ Nội dung tinh thần dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng càng ngày càng sâu sắc trên cơ sở lập trường giai cấp được củng cố vững chắc hơn. Anh đã thấy được nội dung của hạt nhân dân tộc là lực lượng đông đảo quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng…”


Sáng tác bám sát đường lối của Đảng vậy trách gì Nguyễn Huy Tưởng “Sống mãi trong lòng Hội nhà văn” chứ chẳng phải trong lòng độc giả.


HẾT CHÂN DUNG NGUYỄN HUY TƯỞNG

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Tue 22 Jun 2021, 09:53

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 91)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (1)

   Ngay sau khi giành được chính quyền ở Sàigòn, đảng ta tổ chức “một khoá học tập gọi là khoá bồi dưỡng chính trị dành cho văn nghệ sĩ Sàigòn”, cấp tốc đưa từ Hà Nội vào những cây đa, cây đề trong giới văn học miền Bắc như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bảo Định Giang...v..v...

Dịp này nhà thơ Lưu Trọng Lư  “đã kể lại con đường phục vụ "cách mạng" của mình và kêu gọi văn nghệ sĩ  miền Nam hãy mạnh dạn đi theo con đường mà ông đã trải qua.“

Thực ra chẳng phải chờ tới “khoá bồi dưỡng chính trị” này, ngay sau ngày Huế rơi vào tay “bộ đội giải phóng”, đứng trước cảnh nhà cháy, người chết, gia đình ly tán,  nhà thơ Lưu Trọng Lư  đã “kể lại con đường của mình” bằng những lời sảng khoái, mừng rỡ trong bài thơ “Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi“:

                       “ Đất này không phải xứ sở của thần tiên,
                       Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…
                       Đường ta đi thế đấy
                       Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi…”


Ba ngày sau khi tiếng súng đã tắt trên cố đô, đặt chân trên đường phố Huế, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã bịt tai che mắt sao mà không nhìn thấy những dấu tích máu còn lại, những thảm trạng người với người giết nhau, giành giật nhau cơ hội sống trong trốn chạy, tưởng như “Thượng đế đã chết trong thành phố”, vậy mà trái tim thi nhân của nhà thơ vẫn reo vui:

                   “ Người với người thôi, sao mà đẹp vậy…”

Phải đặt câu thơ vào thời khắc của lịch sử, người đời sau mới thấy hết được trái tim đen của thi nhân, ngòi bút của ông ta đã chấm vào mực hay máu để mà cười vui trước nỗi đau của dân tộc?

                   “Như con ngựa đường trường
                       Ta về đây gõ móng
                       Trời cao đất rộng
                       Mở phanh vạt áo của hồn ta…”


Tháng  Tư 1975, từ biệt thự cơ quan Hội nghệ sĩ sân khấu 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, “con ngựa đường trường“ Lưu Trọng Lư đã phi thẳng tới “cố đô Huế“ hỗn loạn để …gõ móng . Ông gõ vào ai vậy? Tất nhiên không phải vào “Ban quân quản thành phố”, không phải “đoàn quân chiến thắng xạm màu súng đạn”, cũng không phải  Đại Nội rợp trời cờ đỏ? Vậy thì nó chỉ còn gõ móng vào nỗi đau của đồng loại trong “mùa hè đỏ lửa” trên “đại lộ kinh hoàng” và liệu ông có coi những mẹ, những em, những nỗi đau “bọt bèo số phận” là “đồng loại” không? Chắc là không? Đồng loại của nhà thơ phải là những “mũ tai bèo đôi cánh đang bay”, những “em băng trong lửa đạn chiến hào, tóc nữ sinh cuốn theo vành mũ vải…”

Vô cảm với nỗi đau con người trong loạn lạc, Lưu Trọng Lư lại còn tự đấm ngực, bứt tóc, rên rỉ, gào rú cho thân phận của chính mình trước ngày ông có Đảng:

                 “ Ôi bé bỏng một tấm thân người
                       Một chiếc thuyền nan bồng bềnh giữa hai bờ sống chết
                       Có nỗi thương của Giêdu, có nước mắt của Phật
                       Và trên tay áo này,
                       Trên tay áo này
                       Những giọt đau !
                       Những giọt đau !
                       …Trong cõi lạnh hư vô
                       Một con đò, ôi một con đò…”


Viện cả đức Chúa Giêsu và đức Phật Thích ca để “phản tỉnh con người cũ” liệu có lôi kéo được ông Nguyễn Khắc Viện (người được Lưu Trọng Lư tặng bài thơ này) đi theo “ Đường ta đi thế đấy…”:

           
                   “Ta một giang hồ thi sĩ
                       Dừng nghe tiếng gọi từ xoáy hồn ta
                       Hay tiếng gọi từ một bến bờ xa
                       Tiếng gọi từ một bến bờ xa
                       Tiếng gọi từ một bến bờ quang đãng
                       Trận gió Thu và những ngày Tháng Tám
                       Đắng cay sực tỉnh, mình lạnh mồ hôi…”


Đó, một “giang hồ thi sĩ” lớn như  Lưu Trọng Lư  còn đi theo Cách mạng Tháng Tám, huống hồ nhà viết sách “học làm người” như Nguyễn Khắc Viện còn chần chừ làm chi? Thôi thôi hãy cùng nhà thơ lên đường:

                  “ Rồi với kẻ cùng đi
                       Với những tấm lòng theo nhau vào trận đánh
                       Thế thôi !mà sao vất vả rộn ràng…
                       Một ngày qua nhanh, tiếc ngẩn…”


Lời rủ rê này chẳng  riêng gửi bác Nguyễn Khắc Viện mà cho cả trên 400 văn nghệ sĩ Sàigòn trong “khoá học chính trị“ ngày đó. Các quý vị còn chần chừ gì nữa, hãy “theo nhau vào trận đánh”, chậm một ngày tiếc ngẩn một ngày, đơn giản thế thôi mà sao cứ “vất vả” chần chừ mãi thế? Tiếc thay, bỏ ngoài tai lời kêu gọi của nhà thơ, chỉ vài năm sau, gần 400 văn nghệ sĩ này đã bỏ của chạy lấy người, rủ nhau vượt biển, biến sạch ra…hải ngoại.

Làm thơ chưa đã, Lưu Trọng Thư  còn diễn dịch ra 80 trang văn xuôi “Đường  ta đi thế đó bạn lòng ơi…” để “giác ngộ thanh niên Huế”.

“ Sau khi Huế giải phóng dược vài hôm, giữa phố Paul Bert cũ , tôi đã gặp mấy thanh niên…Cũng không hiểu sao, họ đã nhận ra tôi và điều đầu tiên là họ muốn biết từ Tiếng thu những bước đi của tôi như thế nào?”

Và nhà thơ hãnh diện trả lời:

“ Còn thế nào nữa?
Tôi ngày nay đã là một người cộng sản. Với những người bạn trẻ ở miền Nam vừa được giải phóng, những bạn đã từ một đêm dài trở lại với ánh sáng, hôm nay tôi muốn có đôi lời gửi gắm…”


Nào các bạn thanh niên miền Nam vừa từ “đêm dài” trở lại “ánh sáng”, sắp được rời thành phố lên rừng đi kinh tế mới, sắp được khăn gói đi học tập cải tạo, sắp  được bước vào công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn miền Nam, các bạn hãy lắng nghe nhà thơ “Tiếng thu” ngày xưa , “cộng sản” ngày nay gửi gắm những lời lẽ gì?

Sau khi nhắc lại hình ảnh ông là chiếc thuyền nhỏ bé đi giữa hai bờ sống chết, nhà thơ tâm sự: “Câu thơ này thật ra có thể tổng kết cả một thời trai trẻ của tôi, nói lên cả một chân lý cuộc đời tôi… Thật là lênh đênh giữa hai bờ sống chết. Không phải thân thế tôi chỉ “giang hồ“ trong cuộc sống, mà tâm tư tôi còn “phiêu bạt” trong cõi đất trời mông lung mà tôi không hiểu nổi…”

Trong cả chục triệu thanh niên miền Nam trước 1975, liệu có được bao nhiêu người “lênh đênh giữa hai bờ sống chết”, ”giang hồ” trong cuộc sống”,  “tâm tư phiêu bạt trong trời  đất” như nhà thơ? Khéo lắm chỉ có đám đâm thuê chém mướn, “đá cá lăn dưa” ở chợ Cầu Muối mới có cùng tâm trạng với ông, còn tuyệt đại đa số thanh niên miền Nam vốn chí thú làm ăn và coi gia đình là gốc,  vậy lời “gửi gắm” của ông còn có tác dụng gì? Vậy nhưng ông vẫn kiên trì kể lể:

“ Tôi có thể nói từ thủa nhỏ, từ nhà tôi, một nhà quan cũng như từ cung vua của Thái tử đi ra tám hướng, hướng nào cũng ngập những nỗi khổ đau của con người… Tôi đi tới phương nào cũng gặp những nối khổ đau của con người. Nào tôi đã làm gì để giảm nhẹ, để xoá bỏ nỗi đau khổ của con người?”

“ Đời là bể khổ” mà, Phật đã dậy rồi. Vậy là mang lý tưởng của Đức  Như Lai, cậu bé Lưu Trọng Lư  lên đường để “xoá bỏ nỗi đau khổ của con người”. Ôi cao quý thay…Vậy cậu đã làm gì?

“ Cũng chỉ đến đổ nước mắt thôi! Chỉ có nước mắt thôi, không cứu nổi con người đâu …”

Vậy thì cái gì cứu nổi con người. Chẳng vòng vo gì nhiều, ông nhà thơ huỵch toẹt:

“Sau này khi tôi có bài thơ nói về Đảng của tôi, trong đó có câu:
                       “ Mẹ không cho nhiều nước mắt Như Lai…”
Là ý nghĩa như thế, Đảng trân trọng những gịọt nước mắt nhưng Đảng không khuyên con người cứ chết chìm trong nước mắt. Niệm một nghìn lần câu “ Đời là bể khổ” cũng không cứu đời ra bể khổ…”.


Vậy là đã rõ, đứng trước mọi khổ đau của kiếp người cho dù bố đi cải tạo, mẹ vất vả thăm nuôi, chị gái ra đứng đường, em gái liếm lá ngoài chợ… thì cũng không nên “chết chìm trong nước mắt”. Vậy phải làm gì? Ông nhà thơ đã vạch cho tuổi trẻ  miền Nam một lối thoát: tin yêu vào cuộc sống.

“ Sự tin yêu cuộc sống đã cho tôi sức trẻ…Trong thơ văn tôi đã nhắc nhiều lần đến hai chữ “hồi sinh”. Trong bài thơ “Tiếng thu II” tôi có câu :
                       “ Những kiếp người tất tả hồi sinh”
Vậy “hồi sinh” tôi hiểu thế nào? Là từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn…”


Rất chí lý, hàng triệu thanh niên miền Nam đã thực hiện y như lời gửi gắm của nhà thơ Lưu Trọng Lư, họ cũng từ bỏ những gì vẩn đục, đen tối, xấu xa để chuyển tới một cuộc đời trong sáng hơn, cao đẹp hơn, chỉ tiếc rằng họ “hồi sinh” bằng “đôi chân” chạy trốn khỏi cái xứ sở thời đó mà đến cái cột đèn nếu có chân cũng phải bỏ đi…

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Wed 23 Jun 2021, 12:11

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 92)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (2)

Tất nhiên ông nhà thơ không đời nào muốn tuổi trẻ miền Nam “hồi sinh” theo kiểu “bỏ phiếu bằng đôi chân đó”, ông muốn các em trước hết hãy đi vào …nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê mà ông kêu to lên như người mới phát hiện ra chân lý:
“Ôi !Duy vật biện chứng pháp bao nhiêu ngày tháng tôi triền miên trong cái trầm hương đó toát ra từ cái cốt lõi sự vật. Và mỗi ngày tôi ngắm xung quanh tôi muôn vàn biểu hiện, vô vàn biểu hiện phong phú, rực rỡ của cái người đời gọi là vật chất, cái duy nhất có thật ở đời…”

Ôi, ở miền Bắc sau hơn 30 năm nghiên cứu học tập, chẳng còn mấy ai tin vào cái “biện chứng pháp“ ấy nữa, bởi vậy nhà thơ mới mang nó vào miền Nam, thật đúng là “củi mục bà để trong rương, hễ ai hỏi đến trầm hương của bà”

Đặt chân rất sớm vào Sàigòn sau Tháng Tư năm 1975, từ hội trường khoá bồi dưỡng chính trị cho gần 400 văn nghệ sĩ “chế độ cũ”, nhà thơ Lưu Trọng Lư đi thẳng tới khám Chí Hoà …làm bài thơ “Tìm anh”:

“ Đập cổng Chí Hoà không thấy bóng
Tay cầm hoa trắng, đi tìm anh…”


Nhà thơ tìm ai vậy? Có phải một bạn thơ cũ ngày trước làm việc cho Mỹ-nguỵ hoặc họ hàng thân thuộc có dính dáng tới chính quyền cũ nay bị cách mạng bắt giam?

“Qua cầu Công lý nhìn mây nước
Tưởng thấy hình anh giữa biếc xanh…”


Hoá ra người mà nhà thơ cất công tới tận nhà ngục tìm chính là anh…Nguyễn văn Trỗi, chưa một lần gặp mặt mà chỉ biết tới qua bút ký “Sống như anh” của Trần Đình Vân.

Trong thời điểm các nhà thơ miền Bắc mới đặt chân vào Sàigòn ngay sau ngày ông Dương văn Minh tuyên bố “bàn giao chính quyền”, cũng nên nhắc tới Huyền Kiêu, một nhà thơ lão thành miền Bắc, khi vào Sàigòn đi ra ngoại ô đã cảm thán làm bài thơ “Gặp người thương binh nguỵ trên cầu Bình Triệu” với chút cảm thông, lập tức nhà thơ bị phê phán và bị đưa về “ngồi chơi xơi nước“ tại NXB Văn Học. Suốt cả đời thơ, Lưu Trọng Lư tuyệt nhiên không va vấp, không có câu thơ nào làm mếch lòng đảng, không có bất kỳ một “tai nạn nghề nghiệp” nào như rất nhiều đồng nghiệp khác. Ngay cả mấy năm sau, năm 1979, nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, được lên Cao Bằng để chứng kiến bọn bành trướng Trung Quốc giết hại các em nhỏ ở một lớp học, được giao làm thơ để tố cáo bọn bá quyền dã man, nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng tính rằng đây chỉ là “ngọn gió quái”, sẽ qua mau, Trung Quốc vẫn “vừa là đồng chí vừa là anh em”, nên ông làm một bài thơ giữ kẽ, rất chung chung, không dám nêu đích danh kẻ thù lúc đó là quân xâm lược Trung Quốc:

Từ chiến địa trở về
Ngủ một đêm Đèo Gió
Trăng như vừng gương nhỏ
Trên tay em gái sàn
Nước máng từng giọt tràn
Như đàn tranh tưng tửng
Hương bưởi gần thoang thoảng
Nằm nghe gió rúc xa
Dưới ánh lửa hồng cô giáo Thuỷ
Nhớ trò, nhớ lớp ngồi ngẩn ngơ.
Cao Bằng 3-79


Với bọn Khơ me đỏ, Pônpốt, Iêng xary cũng vậy, dẫu sao các “đồng chí” đó vẫn là cộng sản, chửi đích danh đâu có được:

“Tới đây mắc võng Trường Sơn
Có thu trước mặt , có xuân bên mình
… Sáng nay con đến ven rừng
Thấy cành hoa đẹp vết thương trên người
Chết rồi còn đỏ làn môi
Thấy sỗ sàng thân ngọc, con nghiêng cài áo khuy…”
1981


Chỉ chung chung thế thôi, đâu dám vạch mặt chỉ tên những đứa nào đã làm nhục mẹ. Cứ “giữ kẽ“ vậy cho an toàn, biết đâu vài năm nữa các đồng chí đó lại “bốn phương vô sản đều là anh em” thì sao ? Quả nhiên những bài văn thơ nêu tội ác đích danh bọn Trung Quốc xâm lược đều lặng lẽ biến mất khỏi sách báo, riêng có bài của Lưu Trọng Lư vẫn được in vào tuyển tập. Ca ngợi người anh hùng trong chiến tranh với Khơ me đỏ và Trung Quốc cũng vậy, chẳng bù cho ngày trước lớn tiếng vạch mặt Mỹ- nguỵ, nay không một chữ nào điểm mặt, chỉ tên quân thù:

“ Anh không ngồi đếm bao thu còn lại
Bao tuần lá đổ, vàng rơi
Khi cánh song anh khép kín cõi đời
Anh vẫn không tin : mình chết…
Khi gà mai mỗi ngày còn đập cánh
Ai tắt được lửa bình minh…”
Lẽ nào anh chết- 1981


Cứ làm thơ theo định hướng chiến lược phân biệt “bạn thù” của đảng kiểu “kẻ thù lâu năm của nhân dân ta vẫn là đế quốc Mỹ”, trái tim nhà thơ liệu có còn đập theo những buồn vui trần thế nữa chăng?

Trong những năm chiến tranh, đời sống dân miền Bắc rất thê thảm, con nít sinh ra không đủ sữa, nhiều người phải giã đậu phọng thành nước cho con bú, triết gia Trần Đức Thảo ngày ngày đạp chiếc xe “Pơ giô” con vịt – tức xe đạp con nít Liên xô từ Khu tập thể Kim Liên tới Thư viện Khoa học xã hội, mang theo cái cạp lồng trong có hai cục bột mì luộc, trên đường ghé nhà ăn tập thể tranh thủ xin… biđông nước chè “một hào ba gói”.

Trong khi đó Lưu Trọng Lư sống trong khu Ba Đình giành cho các quan, mua bán tại cửa hàng Tôn Đản là “chợ vua quan” làm sao thấu hiểu nỗi khổ dân chúng nên thơ ông tuyệt nhiên không một câu cảm thông những cảnh đời khốn khó. Suốt cả chục năm 1975-1986, ông vẫn náu mình trong “Hoành sơn nhất đái” - ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng muôn thủa. Năm 1982, một anh bạn đi Pháp về cho coi ảnh chụp …bác Hồ ngủ trưa giữa ổ rơm ngoại thành Paris, Lưu trọng Lư liền cảm khái thành thơ:

Giữa ổ rơm :
Nằm nơi đất lạ, tình không lạ
Giấc ngủ tìm về giữa ổ rơm
Một đời gắn bó mùi rơm rạ
Mắt nhắm còn lo chuyện áo cơm…”


Thế đấy, hàng triệu người già, trẻ con trong những năm tháng đó lấy rơm làm giường sao nhà thơ không buông một tiếng thở dài? Tiếc thay đó là điều cấm kỵ trong văn chương miền Bắc nên ông cứ ngó lơ, ngậm miệng “giữ ghế” , dân chúng có khổ sở vì “giá, lương, tiền” ông vẫn reo vui:

“Đẹp lắm!trên đời những vấn vương
Chao ôi thiên lý một con đường…
Đi trong trời đất từ duyên ấy…”


Thưa vâng, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội “thiên lý” lắm, nhưng nếu cứ ở khu Ba Đình, hưởng sổ cung cấp Tôn Đản thì nhà thơ cứ đi mãi được và lại còn hô hào thanh niên:

“Chút lửa hồng, em hỡi
Ngày ấy, còn đỏ trên tay
“ Nào lên đường đi! người trai trẻ!”
…Ta đi như một hiệp sĩ hôm nào…
1986


Thày giáo dạy văn bình giảng bài này cho học sinh ắt hẳn sẽ tán “truyền thống cách mạng vẫn còn trong tay, nào lên đường noi gương các anh hùng liệt sĩ.” Nhưng lên đường đi đâu, chiến tranh đã qua rồi đâu còn mặt trận nữa? Chỗ này thì nhà thơ…tắc tị, đành lờ đi chứ còn biết nói sao? Không lẽ hô hào lên đường làm giàu, cái đó khỏi cần nhà thơ hô hào, hàng chục ngàn các cô gái nông thôn đã chẳng lên máy bay sang Đài Loan lấy tàu rồi đó sao?

Vậy nhưng thời thế rồi cũng đổi thay, sang kỳ kinh tế thị trường, đề tài “ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng“ xem ra mất khách, dải “Hoành sơn nhất đái“ không còn là nơi dung thân vạn đại cho những con chim chỉ biết hót véo von trong lồng son, cóng sứ. Ngay nhà văn quân đội gạo cội Nguyễn Minh Châu cũng phải đọc “Lời ai điếu cho văn chương minh hoạ”, “theo phong trào” Lưu Trọng Lư cũng viết sách “thị trường”, năm 1989 cho ra đời cuốn hồi ký “Nửa đêm sực tỉnh”. Ái chà, đọc cái tựa sách cũng đã thấy đậm màu “phản tỉnh” – nửa đêm chợt tỉnh giấc để suy nghĩ gì đây? Ăn năn, sám hối về quãng đời đã qua? Xét lại đường lối văn nghệ của Đảng đã đưa Lưu Trọng Lư đến chỗ bạt vía nàng thơ? Không phải, để làm yên lòng tuyên huấn và gây tò mò cho độc giả bỏ tiền mua, sách có ghi rõ phụ đề “Hồi ký – Nhớ lại những mối tình“. Vậy một mũi tên trúng cả hai đích, ổn thoả đôi đường, Đảng yên tâm mà đầu nậu bỏ tiền in sách cũng yên trí.

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Fri 25 Jun 2021, 10:40

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 93)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (3)

 Gọi là “nhớ lại những mối tình” nhưng tác giả bỏ qua phần hay nhất là những “cuộc tình cô đầu”  để kể chuyện hai bà vợ chính thức và những giao tiếp với các tên tuổi như Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đỗ Cung, Điềm Phùng Thị… qua đó nêu bật con đường từ danh gia vọng tộc đến với cách mạng như thế nào.

Bà vợ đầu là cô gái Hội An, sau lần gặp ở Huế lặn lội ra tận Hà Nội gặp nhà thơ  để “ngày nào cũng đi chơi với nhau”. Cô Tài là người hùn vốn sản xuất dầu tràm nhãn hiệu Thanh Thuỷ, trùng với một bút hiệu của nhà thơ bởi thế đem lòng quý mến.
Cưới cô Tài ít lâu, nhà thơ đưa vợ về quê Quảng Bình sống trong ngôi nhà nhỏ ven sông Gianh; nhờ tiền vợ nên ngày ngày chỉ “sớm leo núi, chiều bơi thuyền”. Khi tiền cạn, vợ chồng đành dọn về Huế tìm kế sinh nhai.

Thời gian này Lưu Trọng Lư viết truyện ngắn “Người sơn nhân“  theo tác giả được cụ Phan Khôi “đưa cuốn truyện của tôi lên mây xanh” với lời tâng bốc “văn đoàn cho đến nay chưa có tác phẩm nào có giá trị sáng tạo như thế…”.

Cùng lúc đó những bài thơ mới đầu tiên của Lưu Trọng Lư ra đời gây xôn xao dư luận tạo đà cho nhà thơ đưa cả gia đình ra Hà Nội, nơi phồn hoa đô hội, đâu ngờ ra đó “khác gì số phận một chiếc thuyền nan bé nhỏ giữa ngàn sóng đại dương”.

Lúc đầu nhiều người tìm tới để “mua lúa non”, giao tiền chưa cần bản thảo, chỉ cần “khi hứng ông viết vài câu để lại cho đời”. Thế rồi “cơm áo không đùa với khách thơ”, nhà thơ than thở:

” Bên những bài thơ trong sạch là “Khói lam chiều”, ”Voi già vua Hàm Nghi”, ”Lầu sương điếm cỏ”….lương tâm nhà văn  đã qua những bước chán chường mệt mỏi. Tôi sẵn sàng viết những tiểu thuyết để làm vui lòng những tiểu thư, những bà lớn, những cô gái tân thời…”.

Lời tự thuật hiếm hoi trong sự nghiệp văn chương Lưu Trọng Lư. Tiếc thay, giá lời tự thú này được viết 50 năm sau đó, thì trước khi trở về với đất, “con nai vàng“ còn lưu lại chút ngậm ngùi trong lòng người đọc.

Nhưng rồi dù có viết để “vui lòng các bà, các cô” đi chăng nữa, nhà thơ cũng không trụ nổi đất Hà thành, đành dắt díu nhau về Thanh Hoá dạy học, sống đời công chức tỉnh lẻ.

Dăm năm sau, bà vợ đầu mất đi, để lại hai con nhỏ và như lời tác giả: ”kết thúc mười năm tình nghĩa”“một chương mới của đời tôi đã mở ra”.

Chương mới đó là chuyện tình thứ hai và cũng là sau cùng, chiếm tới 9 phần 10 “Nửa đêm sực tỉnh”. Lúc này nhà thơ đã vào tuổi tam thập, đang thất vọng vì thơ không nuôi nổi người, “cái buồn, cái đau, cái tuyệt vọng để bán liệu có ai mua?”.

Có lần, đọc vài đoạn trong kịch thơ “Ngọc Du, Ngọc Duệ” trước một cử toạ ít người, nhà thơ cảm thán thân phận “không còn một chỗ ngồi, chỗ đứng, một nẻo đi…” đến mức “như không còn kiểm soát được mình nữa, sẵn có bao quẹt trong túi, tôi đốt luôn tập thơ của tôi trên tay…”. Đó là lần duy nhất đốt bản thảo, tiếc thay, từ đó về sau, nhà thơ không lặp lại cái việc đáng làm này nữa. Chắc vì đã có “một chỗ ngồi, một chỗ đứng” trong làng thơ và đã có “một nẻo đi” theo cách mạng chứ không bế tắc như hồi chưa có đảng. Tất nhiên, giúp nhà thơ thoát khỏi bế tắc lúc đó chưa phải đảng mà vẫn là…tình yêu.

Cô gái đó – tên Mừng, bà vợ sau chót, cũng dòng hoàng tộc, con gái một thày đờn, trước khi chết đã kịp truyền cho con gái mọi ngón nghề đàn tranh để sau này cô dạy cho giới quan lại, quý tộc, “dạy cho cả con gái Phạm Quỳnh, quen vào ra các nơi dinh thự“ và sau cách mạng được “anh Nguyễn Chí Thanh cũng như anh Tố Hữu thường khen: ”đàn của Mừng rất lạc quan, rất tươi”.

Sau khi bố chết, cô Mừng được mẹ hứa gả cho một công chức giàu có, “môn đăng hộ đối”. Ấy thế rồi chẳng hiểu ma đưa lối tiên dẫn đường, hay vì tâm hồn lãng mạn, trái tim cô “lạc nẻo” sang chàng thi sĩ nghèo kiết xác, đáng tuổi cha chú, đã một đời vợ và hai con riêng.

Tất nhiên bà mẹ phản đối quyết liệt mối tình trong con mắt  bà cọc cạch và phi đạo đức. Nhưng ngăn sao được ma lực của những vần thơ rót vào tai, chảy xuống tim con gái bà? Theo nhà thơ kể lại, một ngày nọ,  chẳng hiểu thi sĩ dỗ ngon dỗ ngọt ra sao, cô gái con nhà gia giáo tên Mừng đó đã nói dối mẹ để hẹn hò người tình “qua đêm” trên một chiếc thuyền nhỏ đi xa khỏi Huế.

“Đêm ấy, gió cứ thổi. Thuyền cứ trôi. Chúng tôi không cần biết thuyền ngược lên Tuần hay xuôi tới cửa Thuận. Nếu tình yêu có đỉnh cao, thì đây là đêm thiên thai của chúng tôi…”.

Vậy là sau đêm “động phòng” trên sông ấy, “chẳng cần những cái gọi là  lễ hỏi, lẽ cưới ở trên đời”, ông nhà thơ đã phỗng tay trên cô vợ sắp cưới của anh công chức và đứa con gái rượu của một bà mạ xứ Huế hết lòng thương con. Bù đắp lại, cô gái được nhà thơ ca ngợi:

         “ Em là chim ý nhi
         Vơ vẩn dưới gốc Thuỳ
         Thẩn thơ tình nghệ sĩ
         Thơ thẩn cơn chia ly
         Em chở một hồn đầy…”


Vậy mới biết, “dùng bút làm đòn xoay chế độ“ chưa thấy đâu, nhưng cứ rót vào tai con gái những vần thơ như thế thì đến mười bà mẹ cũng phải chào thua chịu mất con gái cho thi sĩ.

Riêng bà mẹ cô Mừng không dễ chịu thua, bà phản kháng  quyết liệt. Sau đêm đi hoang, cô gái viết thư cho nhà thơ: ”Ra đến giữa sân mạ gọi lại: Mừng vào đây tao hỏi. Một buổi chiều, một ngày, một đêm mày đi với ai, mày đi những đâu…đừng nói nữa tao biết cả rồi.Dưới nhà “anh ấy” (tức chồng sắp cưới) cũng biết cả rồi, khỏi phải nói. Mày đi với “chú mày” (tức nhà thơ), mày đi giữa phố có thèm tránh ai đâu, từ lúc nào mạ chuẩn bị sẵn một thanh củi. Cứ thế mà phang vào em, bên hông trái, bên hông phải. Em nói : mạ cứ đánh đi… Mạ giựt tóc em, bứt từng khuy áo em ra, giựt cả vòng ngọc em đeo nơi cổ. Những hạt ngọc văng ra tung toé…”.

Đúng là một bi kịch Romeo và Juliette thời thơ mới ở Việt Nam. Duy có điều chàng Romeo xứ Mít chẳng hành động gì hết, chẳng tới dàn xếp với vị hôn phu của người yêu, cũng chẳng tới quỳ xuống xin “mạ” tha thứ, chàng chẳng làm gì, chỉ ngồi…làm thơ.

“Quả tình tôi là một kẻ bất lực. Tôi chỉ biết ngồi chờ Mừng đối phó, chờ Mừng hành động.Tôi bị gạt ra ngoài vùng lo toan, mưu kế của Mừng. Tôi tin rằng trước bao sự doạ dẫm hay doạ nạt của người mẹ, Mừng chẳng đầu hàng. Đau đớn càng nhiều, Mừng càng gắn bó, chung thuỷ với tôi…”.

Nhà thơ đã tiên đoán đúng, chỉ một tháng sau, nàng Juliette đã trốn nhà đi theo chàng Romeo trên chuyến tàu lửa về Đà Nẵng xây tổ ấm bằng “bán đồ trang sức ra khỏi thịt da, đem đi cầm đi cố. Cả vòng chuỗi ngọc cũng đã ra đi…”. Rồi đến lúc chẳng còn gì để bán nữa, hai trái tim vàng không thể uống nước cầm hơi trong túp lều tranh và cô gái đã quyết định: ”Không thể như thế này được nữa đâu. Em phải về thôi”, Mừng khóc ré lên như một đứa trẻ…”.

Cô gái trở về không phải để xin xỏ mẹ mà vì – theo tác giả “Mừng đã sung sướng rỉ vào tai tôi: ”Cụ Hồ Chí Minh đã về rồi đấy…”.

Ôi chao ôi, tiền hết gạo cạn thì cái sự trở về của cô gái chẳng qua để xin tiền mẹ là rõ rồi, vậy mà ông nhà thơ lại bịa ra một cái cớ tận đẩu tận đâu. Rồi hứng lên, ông đặt vào miệng người yêu lời lẽ  chỉ có ở nữ nhân vật tiểu thuyết những năm 1960 sau này:

”Mừng còn nói thêm:”Em tin cách mạng sẽ đến, em sẽ đứng trước toà án cách mạng, em bảo vệ tình yêu của em…”.

Và thế là bi kịch Romeo Juliette thời tiền chiến ở VN nay đã có “ông Bụt”… cách mạng hiện lên để gỡ rối mọi chuyện. Nàng trở về nhà, ít ngày sau chàng cũng về theo và phép mầu thần kỳ của “ông Bụt” đã xảy ra, khi nhà thơ về tới Huế “Thành phố đã lên đèn. Tôi đứng nhìn xuống sông, hứng ngọn gió thì nghe có tiếng trống nhịp. Khúc hát hành quân. Tôi ngẩng lên bàng hoàng không tin ở mắt mình. Người cầm cờ đi trước… một cô gái mặc cái áo thô đen trông giống Mừng và tôi phóng mắt nhìn kỹ lại: Mừng. Tôi không chạy tới Mừng. Tôi cũng chẳng kêu to tên Mừng… Tôi cứ thế, bước theo đám biểu tình …”.

Oi trời ơi, sao mà “tốc độ” quá vậy? Một người con gái hoàng tộc, bỏ nhà theo trai, hết tiền quay về với mẹ mà thoắt cái,  hôm trước hôm sau đã trở thành… nữ chiến sĩ cách mạng cầm cờ đi đầu đoàn biểu tình thì quả thực trí tưởng tượng của nhà thơ đã vượt quá sức chịu đựng của người đọc.

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Thu 08 Jul 2021, 12:00

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 94)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (4)

Ấy vậy mà “cảm hứng bốc phét” của thi sĩ chưa chịu dừng lại, ông tới luôn, “sáng tác ” câu chuyện:

“Sau khi ở cửa Ngọ môn, Bảo Đại tuyên bố thoái vị để được làm người dân của một nước tự do thì một hôm người con gái cũng ở trong hoàng tộc được gọi ra trước một toà án, trước công chúng đông đảo, trẻ trung và nàng đã dõng dạc tuyên bố:
” Người chồng chưa cưới của tôi là một người đáng quý trọng, nhưng duyên chẳng đưa, phận không đẩy, tôi bị ép một bề. Tiền dặm hỏi, tôi xin trả lại. Bây giờ cách mạng đến rồi. Tôi yêu ai tôi lấy người ấy. Đó là việc của tôi. Cách mạng đã giải phóng đất nước, lẽ nào chẳng giải phóng trái tim tôi. Xin cám ơn cách mạng đã mở ra hôm nay cho tôi được nói ra lòng tôi. Tôi chẳng có gì tội lỗi hết , phong kiến bắt tôi bỏ người tôi yêu để lấy người tôi không yêu ”. Quần chúng vỗ tay…nhìn lên các quan tòa, người nào người nấy mặt mày đều hớn hở. Mừng về báo cho tôi biết:” Mừng thắng rồi…”


Tội nghiệp bà mẹ mang nặng đẻ đau bị con gái yêu kết ngay cho cái tội “phong kiến”, một trọng tội thời bấy giờ, và từ lúc đó bà cũng biến luôn khỏi tâm trí đôi vợ chồng trẻ. Tội nghiệp vị hôn phu, cách mạng nổ ra lo giữ cái thân hoàng tộc chẳng xong, còn đâu dám kiện một “nữ chiến sĩ cách mạng” tội từ hôn. Vả chăng đôi uyên ương tiền ăn còn chẳng có lấy đâu ra trả lại “tiền dặm cưới”?

Cuốn “Nửa đêm sực tỉnh“ của Lưu Trọng Lư không còn là “hồi ức“ nữa, nó là một thứ “truyện tưởng tượng” nịnh cách mạng thì đúng hơn. Tới đây, nhà thơ “hồi ức” toàn chuyện đó. Nào “Như một luồng gió cách mạng thổi tới, tôi được gặp anh Nguyễn Chí Thanh và anh Tố Hữu. Anh Thanh xông xáo, chân thành chân thật. …Tố Hữu mũm mĩm, tráng trẻo thư sinh…các anh là những người còn rất trẻ, rất nhanh nhẹn, linh hoạt, có nhiều tài năng – nhũng con người của mọi tình thế…”- hết mức tán dương. Nào là “chúng tôi ở chung, ăn chung với anh Lưu Quý Kỳ, anh Trần Hữu Dực…”

Thế là “Hồi ký, nhớ lại những mối tình” của Lưu Trọng Lư đã biến thành hồi ký cách mạng. Thảo nào nó chỉ được xuất bản có một lần thời xoá bao cấp chuyển sang kinh tế thị truờng. Từ đó đến nay chẳng còn thấy ló dạng trên các quầy tầng tầng lớp lớp những sách tái bản của các nhà văn nhà thơ tiền chiến…

Vậy là trên “mặt trận” thơ và văn xuôi, dẫu có hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, nhưng cái cốt lõi làm nên văn chương là giá trị nghệ thuật của nó thì Lưu Trọng Lư chẳng tạo được bao nhiêu để ít ra cũng được báo chí Nhà nước tung hô một thời. Trong khi đó các nhà văn, nhà thơ cùng trang lứa như Nguyễn Đình Thi, Tơ Hồi …lại nổi đình đám với những “Vỡ bờ”, “Truyện Tây Bắc”, Chế Lan Viên, Xuân Diệu…tuần nào cũng có bài nghễu nghện trên báo Văn Nghệ. Thêm nữa Hội nhà văn VN là chỗ “quần hùng tụ hội”, những chiếc ghế béo bở đã bị mấy cha từ Việt Bắc trở về chiếm hết, chen chân vào đó dẫu có anh Lành bảo kê, “con nai vàng” dù có vờ ngơ ngác cũng chẳng kiếm được bao nhiêu bổng lộc. Thôi thì “đầu gà hơn đuôi trâu” làm anh hùng nhất khoảnh ở Hội sân khấu lại chẳng hơn xuất Uỷ viên Thường vụ Hội nhà văn ư? Thế là ông nhà thơ quyết tiến công vào một mặt trận mà chẳng mấy anh nhà văn muốn chen chân: viết kịch, nhất lại là kịch thơ.

Và thế là văn chương Lưu Trọng Lư có một mảng ít người biết nhưng nếu không nhắc tới thì việc đánh giá sự nghiệp thật oan uổng cho thi sĩ lắm. Kịch phẩm hàng đầu của Lưu thi sĩ là “Tuổi hai mươi” – kịch thơ dài viết trong những năm 1966-1971 mà khi ra đời, thi sĩ Chế Lan Viên đã xỏ ngọt rằng: ”Các em mà anh Lư nói đó bây giờ cũng ngoại sáu mươi chứ không còn tuổi hai mươi như anh viết nữa”. Thi sĩ Lưu Trọng Lư nóng mặt, đáp lại rằng “Đây là tôi viết cho lứa tuổi hai mươi còn lứa tuổi sáu mươi phải nhờ ông vậy…”

Vậy Lưu Trọng Lư đã viết gì cho “tuổi hai mươi”?

Mở màn chị Trăng “giao lưu với các cây Mận, Đào, Xoan , Trúc..”. Chị than thở:

“Từ trong hoàn vũ vô biên
Ta lăn quanh bóng chị dâu hiền
Chị yêu dấu muôn vàn: Chị Đất
Oi nửa mình chị chảy đầy nước mắt
Chìm đi trong bóng tối đặc dày…”


Hoá ra “chị Trăng“ cũng mang nỗi đau…chia cắt, y hệt “cảm hứng thời đại” lúc đó đảng quy định cho văn nghệ sĩ. Nửa đêm về sáng rồi cuộc trò chuyện giữa Trăng và Cây còn rôm rả. Bất chợt ngoài cầu ao có tiếng chân khua xuống nước. Ai vậy nhỉ? Ai mà giữa đêm hôm khuya khoắt chưa đi ngủ còn ra ngoài ao vầy nước nhỉ ? Cô Đào nói rằng chắc cô con dâu nhà mẹ Xuân, xa chồng không ngủ được nên mới ra tắm ao vậy thôi. Cô Mận mới hỏi rằng bà Xuân có những 3 cô dâu, vậy cô nào “khó ngủ vì vắng chồng”. Lập tức bác Mít nổi giận “con Mận con Đào hay nói tào lao”, xúc phạm phụ nữ cách mạng:

“Làng này ai không biết
Ba cô dâu đẹp nhà mẹ Xuân
Tái nhập ngũ một lần
Cả ba ông đều đi bộ đội
Cơm chung nấu một nồi
Con: chẳng con chị con tôi
Xóm dưới làng trên thảy đều mến phục…”


Ba cô vợ bộ đội mẫu mực như vậy, làm gì có chuyện nửa đêm nửa hôm còn ra cầu ao “chao chân” làm gì? Vậy thì người đó là ai? Cô Đào dự đoán:

“Đúng rồi, trót thả măng (cá măng) với trắm mè sợ măng già sục sạo đêm khuya. Cô kỹ thuật phải ra cầu ao ngồi gác..”

Các cô cãi nhau loạn cào cào, “cô dâu “ bà mẹ Xuân chẳng phải, cô kỹ thuật nuôi cá cũng không, vậy thì ai là người đó? Cô Trúc lại đoán:

“ Chắc mẹ Đối lo cho con
Sáng nay đã lên đường
Lo cho dâu: hoa đến thì , xuân đợi
Và thương cho mình tóc đã điểm sương…”


Lo lắng trăm bề vậy chắc nửa đêm chẳng ngủ được nên mẹ ra cầu ao rửa chân? Không phải, bà mẹ VN có con đi bộ đội thì phải hãnh diện tự hào chớ, làm gì có chuyện “lo lắng cá nhân“ vậy ? “Tính kịch” mỗi lúc một tăng cao khi cái bóng người ngoài cầu ao hiện ra là một…ông già. Mà cũng không phải ông già, chính là hồn của bố bà Xuân, tức người ông trong gia đình hiện về thăm con cháu. Lão Mít lập tức nhớ lại cảnh khổ thời phong kiến, trước khi có đảng phát động cải cách ruộng đất:

“Thuở thằng Chánh Yên …mùa vừa chín tới
Sóc trên cây chưa ngửi thấy mùi
Thằng Chánh Yên dẫn xác tới rồi
Lấy sào chọc đếm từng quả…
Quả đầu mùa mang biếu nó
Quả cuối mùa mang biếu nốt mới yên…”


Tội ác địa chủ ghê gớm chưa, nhưng lão Mít cho biết nay đã đổi đời rồi, “thằng Chánh Yên của trời trả đất, giặc Pháp cũng lui rồi..”. Lúc này, người ông mới cho biết ông cũng là dân binh đánh Tây:

“ Một đời ta trải bao nhọc nhằn gian khổ
Mắt từng quen cảnh sống chết chiến trường
Hạt gạo dân binh từng quẩy gánh
Súng trên tay từng gác núi Vụ Quang…”


Vậy là “người ông” đã một đời đánh Tây, cay đắng đủ mùi, lẽ ra chỉ mong con cháu sống thanh bình, sinh con đẻ cái, vậy mà không, ông chỉ trở lại xem con cháu có tiếp nối cha anh “lên đường đánh Tây không hay là an phận thủ thường”. Và ông mừng rỡ khi đứa cháu cũng lại “tay súng lên đường”:

“Ai thế nhỉ? Khăn gói lên đường
Lại trên vai khẩu súng
Chắc sắp sửa lên đường…”


Và người ông reo mừng:

“Chà! dáng đi vẻ đứng hiên ngang
Cháu yêu ta đó!
Đúng rồi: cháu yêu ta đó…”


Ôi chao ôi, ông ơi là ông, sao chỉ thích cháu cầm súng ra chiến trường sao không mong đời cháu sung sướng, mát mặt hơn đời ông? Quả nhiên, đúng ý ông, đứa cháu cũng sắp lên đường nhập ngũ, nó ra đây để chờ chia tay người yêu. Trong giờ phút ly biệt này, nó nghĩ gì vậy? Nó không nghĩ vì sao nó phải dứt ruột chia tay mẹ, chia tay người yêu, nó không lo khi nó đi rồi, mẹ già có mạnh khoẻ, người yêu liệu còn trung thành với nó, mà chỉ nghĩ:

“ Thương mẹ khi tắt đèn tối lửa
Cũng thương em khi “việc đội”, “việc đoàn”
Việc chung cũng trọn, việc riêng cũng trọn…”


Vậy là nó chỉ lo người yêu không hoàn thành nhiệm vụ sản xuất chiến đấu của người “em gái hậu phương” chứ đâu có bịn rịn, lưu luyến lúc sắp chia xa. Và rồi người con gái cũng xuất hiện…súng trên vai làm “người ông“ khoái trá:

“Cô nào đấy nữa
Mặt mày coi sáng sủa
Cũng lại súng trên vai…”


Rặt những… súng là súng, đi đến chỗ hẹn người yêu chia tay đi xa, cũng không quên mang súng theo. Cô gái này thật đã làm đúng y boong lời dậy của Mao Chủ tịch: ”Bất ái hồng nhan, ái…vũ trang…”.

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Sat 10 Jul 2021, 09:07

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 95)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (5)

Người con gái chẳng cần son phấn , cứ khoác súng lên vai là…đẹp rồi. Và bác Mít trả lời “ người ông”:

“ Cháu dâu bác đó, bác ơi
Và người trai kia, thật cháu bác
Người thanh niên của Tổ Quốc
Súng trên vai sắp sửa lên đường…”
Rồi sợ “người ông” chưa hiểu lên đường đánh ai, bác Mít giảng giải :
“ Nhưng bác ơi!Giặc Pháp đuổi rồi
Giặc Mỹ đến liền
Hai mươi năm đường đầy lang sói
Hai mươi năm sông đỏ oán hờn…”


Rồi như sợ “người ông” chưa thấu rõ “tội ác giặc Mỹ xâm lược”, mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc xúm vào kể lể:

“ Con nai gầy bên suối
Cành hoá héo giữa đồi
Lúa vàng đốt dưới ruộng
Nụ cười chết trên môi…
Ruột liền cắt đoạn
Giọt máu cắn đôi…”


Kinh khủng chưa, giặc Mỹ tới thì đến…con nai cũng gầy, hoa cũng héo, lúa cũng cháy và đến nụ cười cũng…chết. Chỗ này ông nhà thơ quên phứt chủ nghĩa lạc quan cách mạng với hình tượng “nụ cười Võ thị Thắng” trước họng súng quân thù. Giặc giã độc ác vậy nên các cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đồng thanh:

“Trai “sẵn sàng” băng miền hoả tuyến
“ Gái “đảm đang” ở lại hậu phương
Vì Tổ Quốc, đi, ở, đôi đường
Tuổi thanh niên đã nguyện xem thường…”


“Người ông” còn thắc mắc nếu chiến tranh kéo dài liệu con cháu có còn tiếc rẻ tuổi thanh niên nữa không? Ông hỏi:

“ Dẫu mười năm xa cách
Tuổi thanh niên đã nguyện coi thường?”


Bác Mít trả lời ngay:

“ Vâng, đã nguyện xem thường
Dẫu rằng giữa tuổi yêu đương
“ Cốc rượu nồng bên môi mới bén
Khúc hát đêm qua vừa trao hẹn
Sáng nay hoa tiễn, vẫn tươi cười…”


Đó “người ông” cứ yên tâm, con cháu chúng ta như thế đấy. Dù chỉ mới qua một đêm tân hôn, sáng mai phải ly biệt nhưng đôi trai gái vẫn…tươi cười. Nhà thơ “mô tả tâm lý nhân vật“ như vậy thì…hết chỗ nói.

Lúc này “người mẹ” cũng đã bước ra, bởi lẽ bà đang ngủ “nửa đêm sực tỉnh, bên cầu ao, ta nghe có tiếng chân chao, ai thế nhỉ?”. Bà quên phứt ngay con trai mờ sáng nó sẽ dứt áo ra chiến trường, bà cứ đánh một giấc ngon lành mãi khi nghe tiếng chân khua nước ngoài cầu ao mới tỉnh dậy ra coi sao? Bà quanh quẩn một hồi chẳng thấy ai, sờ vào quả mít, bà mới nhớ ra con sắp đi chiến trường:

“ Mít kia chẳng mai kia sẽ chín
Cũng muốn con ăn một miếng cho vui
Nhưng việc dân, việc nước lửa bỏng nước sôi…”


Vậy thì con cứ đi cho nhanh nhé, việc nước quan trọng hơn…ăn mít. Than ôi, có bà mẹ nào sốt ruột cho con đi ngay vào nơi mũi tên hòn đạn như ngày nay giục con đi lĩnh xổ số giải độc đắc vậy? Viết lách như thế, trách gì thể loại kịch thơ đã…chết bất đắc kỳ tử trên sân khấu Việt Nam kể từ khi nhà thơ Lưu Trọng Lư chiếm lĩnh “trận địa” này?

“Bà mẹ” đã “cách mạng “ tới mức đó, ấy vậy mà vẫn còn bị ông nhà thơ trách móc:

“Sao không học gương mẹ già thuở trước
Cũng thức suốt đêm thâu
Nhưng để may cờ cứu nước
Kịp cho con gà gáy lên đường…”


Chẳng hiểu có “cái thuở nào“ lại có bà mẹ “quái thai” đến thế, sáng sớm hôm sau con trai đã đi vào tử địa mà đêm đó bà vẫn còn ngồi…may cờ? Cảm hứng “ra trận” quá đà làm ông nhà thơ cứ bịa ra những chuyện trời ơi đất hỡi vậy.

Rồi cũng tới cảnh “chinh phu, chinh phụ” thời chống Mỹ. “Người con trai”“người con gái” ngồi xuống một tảng đá. Ôi chao, trong lúc tử biệt sinh ly, lẽ ra hai con tim phải hoà chung thống khổ, ngờ đâu cô gái mở miệng:

“Anh ra đi mẹ có dặn gì?’

Chàng trai phấn khởi:

“Mẹ cười, mẹ bảo
Việc nước con cứ đi
Việc hợp tác, việc nhà
Có tao có nó…”


Bất chấp tình cảm tự nhiên trai gái khi ly biệt, ông tác giả kịch bản bắt đôi uyên ương sắp rời cánh …ca bài sản xuất và chiến đấu. Cô gái nức nở:

“Nhớ anh em mở một đường cày
xách dăm gầu nước tưới cây anh trồng
… Em đi đón dòng “cá bột”
Mang giống về chọn lọc em ươm
Một năm anh về, hai năm anh về
Mười năm anh về, cá lớp lớp sinh sôi
Nhớ anh thế đó, anh ơi…”


Chàng trai cũng sụt sùi:

“Kẻ địch nào chẳng thắng em ơi
Khó khăn nào anh không vượt nổi?
Nhớ lời Bác dậy?
Nghìn sông anh cũng lội
Vạn đèo anh cũng băng…”


Tâm tình lâm ly xong rồi, tới “tiết mục tặng quà”. Cô gái tặng “gói kim chỉ” để áo rách anh tự vá, còn anh trai tặng gì? Cô gái đoán… cuốn sách dạy trồng dâu? Không phải. Thôi đúng hạt giống rau rồi? Cũng không phải, cô lại đoán:

“Phải rồi, anh cho em chiếc lược
Bằng thép mỏng máy bay?”


Anh con trai nổi tự ái:

“ nếu là chiếc lược em ơi
Thì hãy đợi một ngày
Khi tự tay anh hạ lấy
“ Con “thần sấm” giữa trời
Và tự tay anh chuốt thành lược…’


Ghê chưa, nếu em muốn anh tặng lược thì đợi anh bắn rơi máy bay Mỹ lấy mảnh nhôm đã. Các nhà chế tạo máy bay Mỹ cần chú ý chi tiết này, nên làm sẵn vài ngàn chiếc lược, phòng khi máy bay hạ cánh khẩn cấp trên đất Việt, còn có cơ đàm phán cẩu nguyên chiếc về kẻo máy móc bị xả thịt làm…lược. Khi cô gái chịu thua không đoán được, chàng trai mới “bật mí”. Tưởng gì quý báu, hoá ra là…chiếc gương . Đã vậy còn dặn dò:

“ Những khi cày xong một buổi
“ Em ra gốc muỗm em ngồi
Em lấy gương đẹp ra soi
“ Trận đấu chiều đã vãn
Em lấy gương đẹp ra soi
Em gỡ những vết bùn trên tóc…”


Vậy em nhớ nhé, gương này anh tặng chỉ dùng trong…sản xuất chiến đấu, còn sáng ngủ dậy, hoặc đình đám hội hè chớ dùng tới nó. Thật biểu hiện sinh động của một nền văn minh “đứng đầu nhân loại”. Ấy thế mà cho dù chịu thắt buộc “nội quy sử dụng gương” vậy, cô gái vẫn vui vẻ:

“ Anh ra đi mưa nắng chiến trường, sao cho tròn nhiệm vụ
Em ở nhà, một niềm chung thuỷ hai chữ “đảm đang”
Dẫu năm năm, mười năm, nhìn gương em chẳng hổ,
Đường chiến đấu , dài lâu gian khổ…”


Một cuộc chia ly màu siêu đỏ, đến “người ông“ vốn là chiến sĩ Cần Vương cũng phải ngỡ ngàng, phấn khởi:

“ Thậm chi ( không có dấu) là khoái trá
Con trai con gái bây giờ
Tiễn đưa nhau đi đánh giặc mà cứ như là…”


… là đưa nhau tới…phòng cưới vậy. Thế là cả ông lẫn cháu đều ra sa trường, để hoàn chỉnh “bức tranh gia đình cách mạng”, cha truyền con nối đánh giặc, tất nhiên phải có ông bố nữa, thế là ông nhà thơ cho “hồn người cha” ra sân khấu cho đủ tam đại cầm súng:

“ Ta người chiến sĩ Điện Biên,
Về đây, thăm vườn cũ
Mười mấy năm cách mặt chẳng xa lòng…”


Gặp lại bố ngày xưa, cha con chưa kịp hàn huyên, người cha đã mang chiếc ba lô xưa chống Pháp, nay con sắp mang đi chống Mỹ kể lể:

“ Ôi chiếc ba lô ngày cũ
Giữa chiến trường Điện Biên Phủ
Còn nguyên đây : dấu đạn giặc xuyên qua
Chiếc ba lô đã từng thấm máu hồng ta…”


Và khoe với người ông:

“ Cha hãy trông đây
Chiếc ca bác Hồ gửi tặng
Còn nguyên hai chữ Điện Biên…
Con qua cháu lại
Lớp lớp tay chuyền…”


Mười mấy năm cách trở quay về, hồn “người cha” chẳng thiết nhòm ngó vợ sống ra sao, ở vậy hay đi bước nữa, con cái, nhà cửa thế nào, chỉ chăm chăm chuyện “đánh giặc”:

“ Lòng con bao xiết tự hào
Nhà ta ba đời vằng vặc trăng sao
Ông đến cháu dốc một lòng đại nghĩa…”


Cũng may vở kịch viết vào năm 1971, nếu lùi lại ngót chục năm nữa, nhất định ông nhà thơ đưa thêm ‘thằng chắt” lại vác ba lô đi đánh …giặc Tàu thì lớp lang, ra vào sân khấu còn phức tạp nữa. Lúc này con chưa ra chiến trường, cháu chưa lọt lòng mẹ, bởi vậy chỉ có hai thế hệ cha ông tranh nhau kể lể thành tích chiến đấu. Người cha khoe:

“ Vâng, giữa chiến trường con đã ngã
Vết đạn đã xuyên mình
Nhưng Điện Biên Phủ quang vinh
Đã ra đời một hành tinh mới…”


“Thế hệ cha”
ghê gớm chưa, hy sinh thân mình làm mới bộ mặt hành tinh. Bốc phét cỡ vũ trụ thế này thật xứng tầm…ếch ngồi đáy giếng. Nghe thằng con thổi thành tích lên hết cả cỡ giành cho cha, người ông đâm bực mình:

NGƯỜI ÔNG (động lòng tự ái):
Con ơi thuở cha đứng lên
Cũng trời nghiêng, đất ngả
Oanh oanh liệt liệt một trường
Mật nào chẳng nếm , gai nào chẳng nằm
Gươm đại nghĩa mười năm không nao núng…”


Lúc này mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đành phải nhảy vào can khéo hai cha con:

“Chị em “bầy tui”: Mận, Đào, Xoan, Trúc
Lại xin nghiêng đầu trước đầu bạc Vụ Quang
Mười năm gian khổ kiên cường…”


(và tất cả lại đến bên người chiến sĩ Điện Biên)

“ và trước người chiến sĩ Điện Biên anh dũng
Chị em ‘bầy tui” xin thân mến cúi chào:
Một trận long trời dậy sóng năm châu
Thực dân quen thói đè đầu
Việt Nam đứng dậy phất cao cờ hồng…”


Vậy là…huề, cả “ông” lẫn “cha” thành tích “chống quân ngoại xâm“ đều tầm cỡ “long trời lở đất cả, ngang sức ngang tài anh hùng cách mạng, khỏi tranh cãi ai hơn ai.“

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5519
Registration date : 01/04/2011

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn   Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn - Page 13 I_icon13Tue 13 Jul 2021, 09:48

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN

Nhật Tuấn

(Kỳ 96)


Con nai …vờ ngơ ngác…

NHÀ THƠ LƯU TRỌNG LƯ (6)

Người ông phấn khởi:

“ Cha chả là vui…
Nghe, để bác nghe cho hết lỗ tai
Nhìn, để bác nhìn cho suốt con mắt…”


“Người mẹ” bước vào, khán giả chờ đợi cuộc trùng phùng cảm động sau mấy chục năm âm dương cách trở giữa đôi vợ chồng “người cha”, tiếc thay ông tác giả kịch bản dấu biến “tình huống nhạy cảm” đó để cho bà vợ “trữ tình bay bổng” trong nỗi niềm “chống Mỹ cứu nước“:

“Con ơi, giặc trước tan
Ruộng vườn vừa cướp lại
Giặc sau đ tới…
Nhưng con ơi
Tội giặc ngập núi ngập sông
Thương hận : tràn Nam, tràn Bắc
Mẹ thương con phải giục bước lên đường…
Con ơi, ơn Đảng đi về : bao xiết công lênh…”


“Hồn chồng” gặp lại vợ chẳng mảy may da diết nghĩa phu thê lại chăm chăm vào …cái ba lô vợ khoác lên vai con trai:

“ Ơi rộng lớn hai vai con
mẹ khoác lên một niềm đại nghĩa
Vườn cũ gió bay vờn tóc mẹ
Suối ngàn, cất bước đẹp tình con…”


Và sau cùng “ người ông” bật mí kẻ khua nước dưới cầu ao giữa đêm khuya chẳng phải con gái, cháu dâu động tình mất ngủ mà chính là …ông đó:

“ Chao nước đêm khuya chính là ta đó
Ta nghe đất nước, cơn bão trước, cơn bão sau
Dức dối thân mình, bàng hoàng giấc ngủ
Nay ta về đây,
Tai đã sướng lỗ tai
Mắt đã no con mắt…”


Vâng, khán giả đã “no con mắt” cả chục nhân vật thuộc ba thế hệ ra vào sân khấu trong một hoàn cảnh rất kịch mà người xưa từng nói “Thùng thùng trống đánh ngũ liên, bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa…”, đã “sướng lỗ tai” những những đại ngôn, vậy mà tiếc thay, người xem chỉ thấy quay đi quay lại có mỗi một nhân vật: chính là ông tác giả kịch bản. Ông đã chui vào hình hài của vợ chồng ông, cha, con người ta để làm mỗi một việc là động viên tuyên truyền “Tuổi hai mươi” lên đường chống Mỹ bằng những lời thơ lủng củng, sáo mòn, ngôn từ khẩu hiệu.

Kịch chẳng có, thơ cũng không – vở kịch thơ “Tuổi hai mươi”, tác phẩm chính đã đưa thi sĩ Lưu Trọng Lư lên chiếc ghế Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam đã nhanh chóng rơi vào thùng rác thi ca của lịch sử giống y như giấc mộng kê vàng của ông vậy.

Năm 1985, không khí sáng tác trong nước đã sặc mùi “cởi trói” tới mức các nhà văn nhà thơ cây đa cây đề cũng lăm le “phản tỉnh”. Chế Lan Viên có bài thơ “Bánh vẽ”, Nguyên Ngọc có “Đề dẫn”, Nguyễn Minh Châu “Đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh hoạ”… Những lộn xộn tràn lan đó không thể không thôi thúc Lưu Trọng Lư “làm một cái gì đó” cho hợp “phong trào” cho dù ông vẫn âm thầm nghe ngóng theo kiểu “cứ để yên coi sao“.

Không dám ra mặt thực hiện “sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút“ chống lệnh “cấp trên” viết sao cho khỏi cắn dứt “lương tâm thời đại”, ông len lén dùng miếng võ cũ rích từ thời Nhân văn Giai phẩm “mượn xưa nói nay” trong vở kịch nửa nói nửa thơ “Bình minh anh vũ” và cũng chỉ dám xẹt qua, mượn lời vai phụ “gài mìn” qua vài câu thoại bóng gió.

Truyện kịch kể rằng ở thời Trần Duệ Tôn, có ông Nguyên soái họ Nguyễn, vào một tối cao hứng, sai treo tranh “Nắng hè tuyết bay” mời tài tử văn nhân tới đề thơ. Đề tài thật trái khoáy, tuyết sao còn sống sót sang mùa hè và lại còn “bay” trong nắng? Ngụ ý gì đây?

Mở đầu cuộc hội, “Trần Doãn, nhà thơ đứng tuổi, ra dáng một quan thơ, áo quần trau chuốt, dáng vẻ đường bệ,“ đề thơ và được một nàng “vũ nữ áo xanh” cất giọng ngâm lớn:

“ Tuyết sao có tuyết giữa hè
Có chăng tuyết cũng tan đi với chiều…
Cánh bèo chỉ đẻ cánh bèo
Là hoa thiên lý mới leo đỉnh giàn…”


khẩu khí rất “bé ngoan”, tôn trọng “cấp trên”, hợp “quy luật” làm một “nhà thơ già” đứng dậy vỗ tay khen rối rít:

“Đúng như vậy. Tuyết nào lại có tuyết giữa hè? Như thế là trái đạo trời. Thơ này mới phải đạo, tranh kia không nên có…”.

“Bức tranh “nắng hè tuyết bay” này thật ngang trái với lẽ trời. Lẽ đời cũng vậy, có trước có sau, có ngôi có thứ, đổi ngôi, vượt phận , sang hèn lẫn lộn là điên đảo thế tình…”

Cái thói “cừu con”, “giữ trật tự”, “ổn định chính trị” này lập tức bị một “nhà thơ trẻ” phất tay áo cãi lại:

“Thế nào là điên đảo thế tình?
Thế nào là ngửa nghiêng trời đất?
Đông mà cứ tuyết lạnh mà nói
Hè mà cứ nắng gió mà ca
Thơ văn như thế là có mùi thiu đấy…”


Than ôi, nếu nhà thơ trẻ nói đúng thì sự nghiệp văn thơ sau cách mạng của chính ông tác giả kịch bản hẳn đã nồng nặc lên rồi. Bởi thế “nhà thơ già” lên tiếng chửi lại:

“Chuyện thơ văn mà như chuyện nơi sông chợ…”

Lúc này quan Nguyên soái mới can đôi bên và mời người tiếp theo là Dư Sinh, còn trẻ, áo quần xuềnh xoàng , dáng người bình dị đề thơ và được một cô “vũ nữ áo vàng” cất tiếng ngâm:

“ Tuyết từ giá rét đêm đông
Vẫn trong áo trắng sang sông với hè
Vẫn trong nắng cháy tuyết đi
Một lòng trinh tiết chẳng hề chịu tan…”


Bài thơ có ý bóng gió văn nghệ sĩ dưới chế độ “quản lý tư tưởng” chẳng khác gì “tuyết giữa mùa hè” đi trong “nắng cháy”, mặc dầu vậy, cần giữ lấy bản chất “nghệ sĩ” chớ có chịu “tan”. Ngay lập tức “nhà thơ già” đập mạnh chén rượu xuống bàn quát to:

“ Bạo thiên nghịch địa, bạo thiên nghịch địa…”

Hống hách, cha bố thiên hạ chẳng khác gì mấy ông nhà văn già xúm vào đánh đòn hội chợ nhóm viết trẻ Nhân Văn Giai Phẩm và tất nhiên trong số đó phải có nhà thơ Lưu Trọng Lư dấu mặt chỉ đạo.

Tuy nhiên lúc này đã là đêm trước của ngày cố Tổng bí thư Nguyễn văn Linh “cởi trói” văn nghệ sĩ, lớp “nhà văn già” không còn độc diễn, Lưu Trọng Lư đành đưa ra sân khấu “lớp trẻ” cho hợp “thời thượng”:

“Một nhà thơ trẻ đứng lên phất cao tay áo:
”Thơ như thế là bạo thiên nghịch địa ư? Các vị bảo: “Đạo người có trên có dưới. Khi đánh giặc thì kẻ trên dưới một lòng. Đánh xong giặc thì lại đạp cổ xuống bùn, kẻ thì “toạ hưởng kỳ thành” ấp này ấp nọ. Quý hoá thật, hay ho thật. Muốn leo đến đâu thì leo - nhưng khi đạp lên lưng những đứa nô tỳ cũng thử nhìn xuống xem: Cánh tay thằng dân đen ấy, cánh tay cha anh họ cũng còn nguyên hai chữ “Sát Thát đấy”. Ấp ruộng các ngài cò bay sải cánh, các người có nghĩ đến giun dế dưới bùn đen…”“


Lời tố cáo thật đanh thép từ thời Trần Duệ Tông vẫn còn “tươi rói” tới tận bây giờ khi giai cấp tư sản đỏ cầm quyền ngày càng cách biệt với đám dân đen đã từng cầm súng đi “chống Mỹ cứu nước“.

Hãy thử hỏi các “đồng chí“ chủ trang trại hàng trăm hécta cà phê, cao su, tiêu, điều “cò bay sải cánh”, các đồng chí “chủ vườn” hàng chục mẫu Bắc bộ xanh tươi và béo bở, có khi nào ngó xuống đám dân đen một thời “Sát Mỹ” hiện sống ra sao với thu nhập chỉ vừa đủ để không chết?

E rằng ý kiến của “nhà thơ trẻ” đã đi quá đà, “mượn xưa” thì mượn nhưng nói năng liều mạng quá e cấp trên phật ý, bởi thế Lưu Trọng Lư vội vàng xí xoá:

Nhà thơ già (đập cốc rượu vỡ choang): “ Giọng lưỡi sông chợ, đâu phải chuyện thơ văn …”

Cái kiểu “bí cờ văng tục”, đá trái banh “chính trị” vào vườn văn thơ là thủ đoạn quen thuộc từ thời vu vạ nhóm Nhân Văn - Giai phẩm tội phản động, chống chế độ chứ không phải “đòi tự do sáng tác”. Dẫu sao, Lưu Trọng Lư cũng đưa được lên sân khấu cuộc tranh luận nảy lửa giữa “nghệ thuật vị cấp trên”, đại diện là ông “quan thơ” Trần Doãn với “nghệ thuật vị dân đen” người phát ngôn là chàng nho sinh họ Dư nghèo.

Tới đây lẽ ra Lưu Trọng Lư không được “náu mình” đứng giữa hai phe nữa, ông phải bày tỏ quan điểm của mình, phải chọn hoặc “quan thơ” chính thống hoặc chàng nho sinh nghèo làm thơ “ngạo ngược”. Tiếc thay nỗi sợ cố hữu thường trú trong nhà thơ cách mạng đã giữ ông lại, chỉ “tự cởi trói” được tới đó, chỉ đưa ra cuộc tranh cãi giữa đôi bên mà lờ đi không bênh vực và cũng chẳng lên án bên nào.

Từ đây kết thúc “câu chuyện thơ thẩn” để bắt đầu chuyện tình ai oán của Dư Sinh và qua nhân vật này bộc lộ khá rõ “con người thật” thi sĩ Lưu Trọng Lư.

Nguyên trong hội đề thơ, chàng Dư chẳng thèm chú ý tới cuộc tranh cãi giữa hai nhà thơ già-trẻ, chỉ… nhìn lom lom vào cô “vũ nữ áo xanh” trẻ đẹp - người ngâm bài của ông quan thơ Trần Doãn. Cô này cũng cảm thấy chàng Dư chết mệt vì mình nên trong lúc múa hát đã gửi gắm những động tác chỉ riêng chàng nhận ra. Tiệc tàn, Dư Sinh lân la hỏi dò người hầu gái mới được biết “Nàng tên gọi Tuý Tiêu, quê ở Nam Sách. Nguyên soái nhân một ngày đi săn chim Anh Vũ gặp nàng mang về. Nàng được học múa, học ca, học chữ. Học đâu nhớ đấy, nhận một trả mười.” .

Chàng Dư nổi hứng làm sẵn một bài thơ:

“Sương bay vườn Tuý
Nặng giọt ba Tiêu
Trời mờ mịt tối
Hồn lạc tìm nhau…”


Thói hám gái của chàng Dư không lọt khỏi mắt quan Nguyên suý, ông tới gặp chàng nói thẳng:

“Ta đoán sau buổi ca vũ, ngươi có điều vương vấn. Nay ta có điều muốn nói với ngươi: trong dinh ta có mười ca vũ nữ, toàn là những người hát hay, múa giỏi. Cô nào đẹp mắt ngươi cứ nói…”

Lẽ ra là “kẻ sĩ”, chàng Dư phải thấy hổ thẹn, chân ướt chân ráo được mời tới dự tiệc nhà người ta đã tính “chôm” ngay mỹ nhân, vậy nhưng chàng Dư được lời như cởi tấm lòng, vội vàng chộp ngay cơ hội:

“ Thưa nguyên soái… người làm kẻ hậu sinh bàng hoàng chính là người vũ nữ áo xanh…”

Sống sượng vậy, rồi để chắc ăn, chàng trình ngay Nguyên soái bài thơ vừa làm còn chưa ráo mực trong có tên Tuý Tiên mà lẽ ra phải trao tặng nàng trước đã. Ông quan văn tốt bụng không ngờ, bằng lòng gả ngay cô gái cho chàng và còn vỗ vai dặn:

“ Mọi việc đều ở tay ta. Người cứ về phòng khách đánh một giấc ngon lành. Mai sớm khi bình minh qua cửa sổ, Anh Vũ hót vang. Thì ngươi hãy sửa khăn cài áo đón tin vui…”

(còn tiếp)

Về Đầu Trang Go down
 
Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 13 trong tổng số 14 trangChuyển đến trang : Previous  1 ... 8 ... 12, 13, 14  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: BIÊN KHẢO, BÌNH LUẬN THƠ VĂN-