IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
HSN - MƯA by HanSiNguyen Today at 07:31

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Today at 01:41

Thơ Tàn Thu by Tàn Thu Today at 00:35

BỒ NHÍ KHÁC XA VỢ HIỀN by Ma Nu Yesterday at 23:44

CÁM ƠN BẠN CIỆT ĐƯỜNG VÀ NẮNG XUÂN by Ma Nu Yesterday at 23:33

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Yesterday at 18:56

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Yesterday at 17:18

THƠ PHƯƠNG NGUYÊN by Phương Nguyên Yesterday at 13:34

SỨc sống cuối đời by buixuanphuong09 Yesterday at 08:06

Thơ Bảo Trâm by Trà Mi Yesterday at 08:02

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Yesterday at 00:27

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Sun 23 Apr 2017, 12:11

MẮT NÂU VỀ CHƯA by HanSiNguyen Sun 23 Apr 2017, 11:13

ĐÁNH MẤT NIỀM TIN by Bảo Minh Trang Sun 23 Apr 2017, 10:19

DO MÌNH by buixuanphuong09 Sun 23 Apr 2017, 09:12

Nghiệp by Bảo Minh Trang Sun 23 Apr 2017, 07:45

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Sun 23 Apr 2017, 06:40

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Sun 23 Apr 2017, 04:59

Thơ Thái Bá Tân by Việt Đường Sat 22 Apr 2017, 15:04

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Sat 22 Apr 2017, 09:11

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by Ma Nu Fri 21 Apr 2017, 20:38

Cách gởi bài viết by baotram45 Fri 21 Apr 2017, 16:46

Nhờ Admin và kỹ thuật giúp đỡ by baotram45 Fri 21 Apr 2017, 16:25

Viếng Ức Trai Tiên Sinh by Bảo Minh Trang Fri 21 Apr 2017, 15:25

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:49

Thơ Tú_Yên - Quê Hương by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:44

Truyện thơ_Cháu của Bà by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:39

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:36

Đoản Khúc ... Giao Mùa by Thiên Hùng Fri 21 Apr 2017, 00:27

XƯỚNG - HỌA Cẩn Vũ by vancali96 Thu 20 Apr 2017, 09:24

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 Tam Tạng Pháp Số

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5 ... 22 ... 40  Next
Tác giảThông điệp
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Wed 06 May 2015, 20:47

Tam Tạng Pháp Số (trang 30)
 
NHỊ PHÁP TƯƠNG VI
二法相違 (Du già sư địa luận)
 
Một, Phiền não. Các pháp làm cho buồn rầu tăm tối, não loạn tâm thần, tức là sự mê lầm của vô minh, tham ái, nghĩa là làm cho chúng sanh thuận theo phiền não, trôi lăn theo dòng sanh tử, vì vậy trái với con đường đi đến Niết bàn.
Hai, Niết bàn. Nghĩa là chúng sanh chán cái khổ sanh tử, tu tập phạm hạnh, dứt các phiền não, chứng được Niết bàn, vì vậy trái với phiền não hoặc nghiệp.
 
NHỊ TRÍ
二智 (Hoa nghiêm kinh Tùy sớ diễn nghĩa sao)
 
Một, Như lý trí. Chư Phật, Bồ tát dùng trí như thật thấy thấu suốt lý thật tế, huyền diệu tịch tĩnh, không tăng không giảm, nên gọi là như lý trí.
 
Hai, Như lượng trí. Chư Phật, Bồ tát thấu suốt hoàn toàn tất cả thế giới. Nếu thấy chúng sanh trái với lý trí thì sanh tử luân hồi; nếu thấy chúng sanh thích hợp với lý trí thì chứng được Niết bàn, nên gọi là như lượng trí.
 
NHỊ TRÍ
二智 (Nhiếp Đại thừa luận)
 
Một, Căn bản trí. Còn gọi là vô phân biệt trí, nghĩa là trí này không nương nơi  tâm, không duyên ở cảnh, hiểu rõ tất cả pháp, đều là chân tâm. Cảnh, trí không khác, như người lúc thảnh thơi đưa mắt nhìn cảnh vật mà không phân biệt gì, do đây mà được trí vô phân biệt mới có thể sanh vô vàn phân biệt. Đó gọi là căn bản trí.
 
Hai, Hậu đắc trí. Nương nơi tâm, duyên ngoại cảnh, vô vàn phân biệt, cảnh, trí khác nhau. Như người mở mắt, mọi màu sắc hiện bày, nương vào căn bản trí mà đắc trí này. Đó gọi là hậu đắc trí.
 
NHỊ TRÍ
二智 (Đại tập kinh)
 
Một, Tận trí. Nghĩa là A la hán đã dứt hết kiến, tư hoặc trong tam giới. Tức là biết sanh mạng của ta đã hết, phạm hạnh đã thanh tịnh. Đó gọi là tận trí. (A la hán là tiếng Phạn, tiếng Hoa là vô sanh hay vô học)
 
Hai, Vô sanh trí Nghĩa là A la hán đã dứt hết kiến, tư phiền não trong tam giới, biết cách mở trói tất cả, không còn thọ sanh vào tam giới. Đó gọi là vô sanh trí.
 
NHỊ TRÍ
二智 (Quan âm huyền nghĩa)
 
Một, Nhất thiết trí. Nghĩa là đối với tất cả tên gọi các pháp nội điển có thể hiểu rõ và giải thích tên gọi các pháp ngoại điển có thể hiểu biết rõ ràng. Nên gọi là nhất thiết trí, tức là trí của Thinh văn, Duyên giác.
 

Hai, Đạo chủng trí. Nghĩa là có thể dùng tất cả pháp của Phật để phát khởi chủng tử lành của tất cả chúng sanh. Nên gọi là đạo chủng trí, tức là trí của Bồ tát. 


Được sửa bởi mytutru ngày Wed 06 May 2015, 21:17; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Wed 06 May 2015, 21:13

Tam Tạng Pháp Số (trang 31)
 
NHỊ TRÍ
二智 (Hoa nghiêm kinh Tùy sớ diễn nghĩa sao)
 
Một, Quán sát trí. Nghĩa là dùng trí huệ, soi rõ nhân, pháp đều không để hiển bày lý chơn như. Thấu rõ năng chứng, sở chứng, cả hai đều không thể được. Đó gọi là quán sát trí. (Năng chứng là trí chứng được, sở chứng là lý chứng được).
 
Hai, Thủ tướng trí. Nghĩa là khéo lựa chọn tướng của các pháp. Hoặc sự hoặc lý dùng trí huệ soi rõ, làm cho vạn pháp viên dung, sự, lý vô ngại. Đó là thủ tướng trí.
 
NHỊ CHƠN NHƯ
二真如 (Hoa nghiêm kinh Tùy sớ diễn nghĩa sao)
 
Một, an lập chơn như. Thể không giả dối gọi là chân. Tánh không biến đổi gọi là như, tức là thể của thật tướng, cũng là thể của chân như, có thể sanh các pháp thế gian và xuất thế gian mà có thể an trụ. Vì vậy gọi là an lập chân như.
 
Hai, Phi an lập chân như.  Pháp chân như, từ xưa đến nay, tánh vốn thanh tịnh, xa lìa tất cả tướng, im lặng vô vi, vì vậy gọi là phi an trụ vô vi.
 
NHỊ CHƠN NHƯ
二真如 (Khởi tín luận sớ)
 
Một, Ly ngôn chân như. Nghĩa là thể của chân như, ly thướng danh tự, ly tướng tâm duyên, ly tướng ngôn thuyết. Vì vậy gọi là ly ngôn chân như.
 
Hai, Y ngôn chân như. Nghĩa là thể của chân như, tánh vốn rộng lớn như hư không, nói năng không ngại nên dùng ngôn thuyết để trình bày chân như. Vì vậy gọi là y ngôn chơn như.
 
NHỊ CHƠN NHƯ
二真如 (Khởi tín luận sớ)
 
Một, Bất biến chân như. Thể của chân như từ xưa đến nay, cứu cánh bình đẳng, không có biến đổi, không thể hư hoại, thể luôn tịch tịnh.
Vì vậy gọi là bất biến chân như.
 
Hai, Tùy duyên chân như. Tánh của chân như vốn không sanh diệt, nhưng vì vô minh loạn động, nổi lên các tướng. Như nước vì gió, sóng cả bỗng nổi lên.
Nếu gió ngưng bặc, tướng động đâu còn. Vì vậy gọi là tùy duyên chân như.
 
NHỊ CHỦNG NHƯ NHƯ
二種如如 (Phật tánh luận)
 
Một, Như như trí. Trí mầu nhiệm của chân như xưa nay thanh tịnh, vô minh không thể che, phiền não không thể nhiễm, soi rõ các pháp, bình đẳng không hai. Vì vậy gọi là như như trí.
 
Hai, Như như cảnh. Cảnh mầu nhiệm của chân như thường trụ một tướng, lượng tợ hư không, không dời không đổi, không sanh không diệt. Vì vậy gọi là như như cảnh. 
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Wed 06 May 2015, 21:26

Tam Tạng Pháp Số (trang 32)
 
NHỊ TÂM
二心 (Liên tông bửu giám)
 
Một, Chơn tâm. Tự tánh của tâm thanh tịnh mầu nhiệm sáng tỏ thanh tịnh chơn thật, thông suốt như hư không, xa lìa vọng tưởng. Vì vậy gọi là chơn tâm.
Hai, Vọng tâm. Toàn chân thành vọng, tùy cảnh sanh diệt, niệm niệm chẳng thật. Vì vậy gọi là vọng tâm (tùy cảnh là tùy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)
 
NHỊ TÂM
二心 (Duy thức luận)
 
Một, Tương ưng tâm. Ưng là xứng hợp. Nghĩa là vọng tâm một niệm dấy lên phân biệt hư vọng, cùng với hoặc nghiệp phiền não tương ứng nhau. Vì vậy gọi là tương ưng tâm.
Hai, Bất tương ưng tâm. Chơn tâm thường trụ, xưa nay một tướng, tự tánh thanh tịnh, cùng với hoặc nghiệp phiền não hoàn toàn không tương ứng. Vì vậy gọi là bất tương ưng tâm.
 
NHỊ CHỦNG TÂM TƯỚNG
二種心相 (Chiêm sát kinh)
 
Một, Tâm nội tướng. Tướng của tâm thể như như không đổi, thanh tịnh tròn đầy, không hề chướng ngại, kín nhiệm khó thấy, bao trùm mọi nơi.
Vì vậy gọi là tâm nội tướng.
Hai, Tâm ngoại tướng. Tâm theo cảnh do vọng niệm, hiển bày vô vàn cảnh giới trước mặt. Vì vậy gọi là tâm ngoại tướng.
 
NHỊ CHỦNG TÁNH
二種性 (Lăng già kinh).
 
Chủng là hạt giống có thể sanh ra. Tánh là nhiều lần tập luyện mà thành, không phải là tánh của lý tánh.
Một, Thánh chủng tánh. Thinh văn quán sát ngũ ấm khổ, không, chán ghét sanh tử; vui mừng cầu Niết bàn thì thành tựu chủng tánh Thinh văn. Duyên giác quán duyên khởi của ngũ ấm, tu hạnh xa lìa, thì thành tựu chủng tánh Duyên giác.
Phật giác ngộ ngũ ấm và các pháp xưa nay vắng lặng, không sanh không diệt, ba hoặc đã dứt trừ, muôn đức đầy đủ, thì thành tựu chủng tánh Phật.
(Trong kinh không nói Bồ tát chủng tánh; hạnh tu của Bồ tát tức thành tựu chủng tánh của Phật, nên không đề cập đến (Tam hoặc: kiến tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc).


Hai, Ngu phu chủng tánh. Phàm phu ngu si, đối với các pháp ngũ ấm và việc thế gian vô vàn phân biệt, vọng tưởng, không có cho là có, chẳng thường cho là thường, gặp việc gì cũng bám víu, chấp chặc, thì thành tựu chủng tánh ngu phu.


Được sửa bởi mytutru ngày Wed 06 May 2015, 21:42; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Wed 06 May 2015, 21:28

Tam Tạng Pháp Số (trang 33)
 
NHỊ CHỦNG TÁNH
二種性 (Đại trí độ luận)
 
Một, Tổng tánh. Nghĩa là tất cả pháp bản tính tịch tịnh, không sanh không diệt, không đến không đi, không vào không ra. Vì vậy gọi là tổng tánh.
Hai, Biệt tánh. Nghĩa là người thích làm việc ác thì thành tánh ác, thích làm việc lành thì thành tánh lành; như lửa có tánh nóng, nước có tánh ướt. Vì vậy gọi là biệt tánh.
 
NHỊ CHỦNG TÁNH

二種性 (Trì địa kinh)Chủng là hạt giống, có nghĩa nẩy mầm sự sống. Tánh là tánh phân biệt, có nghĩa tự phân biệt không đổi. Do đó căn tánh của Bồ tát bất định nên chia ra hai loại.
Một, Tánh chủng tánh, tức là bản tánh. Nghĩa là lục nhập của Bồ tát là hơn hết, phân biệt tất cả pháp một cách rõ ràng.
Hai, Tập chủng tánh, nghĩa là tập tành nhiều lần thành tánh. Bồ tát từ mới phát tâm, tu tập mọi việc lành mà được thiện tánh.
 
 NHỊ CHỦNG TÁNH
二種性 (Địa trì kinh)
 
Một, Hữu tánh. Nghĩa là tứ đại, ngũ ấm, lục căn, lục trần, cho đến Niết bàn v.v… đều là thế gian, giả danh và phương tiện. Pháp có tự tánh, nên gọi là hữu tánh.
Hai, Vô tánh. Nghĩa là tứ đại cho đến Niết bàn v.v… đều là giả danh, rốt ráo không có gì, đều là không, nên gọi là vô tánh.
 
NHỊ TƯỚNG
二相 (Khởi tín luận)
 
Một, Trí tịnh tướng. Nghĩa là nương vào sức huân tập bên trong của chơn như và sức huân tập ở ngoài của giáo pháp, như thật tu hành, phương tiện đầy đủ, phá bỏ tướng sanh, diệt của thức tâm, thành trí tròn đầy thuần tịnh. Vì thế gọi là trí tịnh tướng.
Hai, Bất tư nghì nghiệp tướng. Nghĩa là nương vào trí tịnh tướng có thể làm tất cả cảnh giới thắng diệu, vô lượng tướng công đức thường không dứt hẳn. Tùy căn cơ của chúng sanh, vô vàn thị hiện, khiến được lợi ích. Vì vậy gọi là bất tư nghị nghiệp chướng.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Thu 07 May 2015, 11:19

Tam Tạng Pháp Số (trang 34)
 
NHỊ TƯỚNG
二相 (Khởi tín luận)
 
Một, Đồng tướng. Nghĩa là hai pháp tịnh, nhiễm đều đồng tánh, tướng của chơn như. Ví như các đồ dùng bằng sành, đều cùng tánh, tướng của vi trần. Vì vậy gọi là đồng tướng.
Hai, Dị tướng. Nghĩa là lý bình đẳng của chơn như, tùy duyên nhiễm, tịnh, hiển hiện tất cả tướng sai biệt. Vì vậy gọi là dị tướng.
 
NHỊ TƯỚNG
二相 (Đại trí độ luận)
 
Một, Tổng tướng. Nghĩa là nói về tất cả pháp hữu vi của thế gian, đều là vô thường. Vì vậy gọi là tổng tướng.
Hai, Biệt tướng. Nghĩa là, tuy rằng, các pháp đều vô thường, nhưng mỗi pháp đều có một tướng riêng, như đất, thì có tướng cứng, nước có tướng ướt, lửa có tướng nóng, gió có tướng động, đều không giống nhau. Vì vậy gọi là biệt tướng.
 
NHỊ TƯỚNG
二相 (Xưa gọi là nhị thức, trích từ Tông cảnh lục)
 
Một, Sở duyên cảnh tướng. Nghĩa là tâm duyên sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tướng của nó hiển bày ra ngoài. Vì vậy gọi là sở duyên cảnh tướng. (Tướng bị duyên)
Hai, Năng duyên thức tướng. Nghĩa là từ nhãn thức đến ý thức đều có khả năng duyên cảnh lục trần. Tướng của nó hiển bày bên trong. Vì vậy gọi là năng duyên thức tướng.
 
NHỊ TƯỚNG BIỆT
二相別 (Tích huyền ký)
 
Một, Tự tướng biệt. Tướng là tướng trạng. Ví như thân ta là thân tự tướng.
Ở trong thân này có năng tạo và sở tạo, căn và trần khác nhau.
Ví như thọ thì có thọ tưởng.
Ở trong thọ này có khổ thọ, lạc thọ, không khổ, không lạc khác nhau.
Ví như tâm là tâm tự tướng. Ở trong tâm này có nhãn thức… ý thức khác nhau. Ví như pháp là pháp tự tướng.
Ở trong pháp này có năm ấm, 12 nhập, 18 giới không giống nhau.
Ví như quán thân lấy bất tịnh làm tự tướng; quán thọ lấy khổ làm tự tướng; quán tâm lấy vô thường làm tự tướng; quán pháp lấy vô ngã làm tự tướng.
Vì vậy gọi là tự tướng biệt. (Tứ niệm xứ; thân, thọ, tâm, pháp; thân là thân của ta, thọ là lãnh thọ các việc, tâm là thức thứ sáu, pháp là thiện, ác… các pháp).
 
Hai, Cộng tướng biệt. Chỉ liên hệ đến bốn loại hành tướng khổ, không, vô thường, vô ngã. Như trên đã đề cập thân, thọ, tâm, pháp cùng có, gọi là cộng tướng, nhưng nói khác nhau là: ví như lúc quán thân là khổ thì không thể quán không, vô thường, vô ngã. Cho đến lúc quán thân vô ngã cũng không thể quán ba cái còn lại. Vì vậy gọi là cộng tướng biệt. 
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Thu 07 May 2015, 11:28

Tam Tạng Pháp Số (trang 35)
 
NHỊ CĂN
二根 (Lăng nghiêm kinh nghĩa hải)
 
Một, Phù trần căn. Căn là mắt, tai…, vì chúng hư dối vay mượn, nên gọi là phù (hão huyền, không thật). Không phải là cái dụng của kiến, văn, giác, tri, nên gọi là trần.
Kinh nói: mắt giống như hoa bồ bặt, tai giống như chiếc lá non cuốn lại, mủi giống như hai cái vuốt (móng), lưỡi giống như trăng non nữa vành, thân giống như cái tan trống, ý giống như nhìn vào nhà tối.
Hai, Thắng nghĩa căn. Trong sáu căn, mỗi căn có sức tăng trưởng vượt bực, có thể soi thấu đối tượng, phát sinh nhận thức là đối tượng của căn, nên gọi là thắng nghĩa.
 
NHỊ CHỦNG CĂN BỔN
二種根本 (Lăng nghiêm kinh)
 
Một, Vô thỉ sanh tử căn bổn. Nghĩa là chúng sanh trải qua vô số kiếp lưu chuyển trong sanh tử, tìm kiếm điểm khởi đầu, chắc chắn, không thể được, chỉ vì mê mờ bổn tánh, nên đã trôi lăn trong sanh tử, vì vậy gọi là vô thỉ. Sanh tử căn bản, tức là cái tâm phan duyên.
Kinh nói: dùng tâm phân duyên làm tự tánh.
Hai, Vô thỉ Bồ đề Niết bàn nguyên thanh tịnh thể. Tiếng Phạn là Bồ đề, tiếng Hoa là đạo, tiếng Phạn là Niết bàn, tiếng Hoa là Diệt độ. Nghĩa là lý thể của tánh thanh tịnh, bao trùm tịch diệt, không dời không đổi, vô thỉ vô chung.
Vì vậy gọi là Bồ đề Niết bàn, không nhiễm phiền não, không trôi lăn trong sanh tử.
Do đó gọi là nguyên thanh tịnh thể, tức là căn bản thanh tịnh của Bồ đề Niết bàn.
 
NHỊ CHỦNG THỨC
二種識 (Hiển thức luận)
 
Một, Hiển thức, tức là thức thứ tám. Nghĩa là thức này chứa đựng tất cả chủng tử thiện, ác, mà lại có khả năng biểu hiện tất cả cảnh giới, nên gọi là hiển thức.
 
Hai, phân biệt thức, tức là ý thức thứ sáu. Nghĩa là trong hiện hành của thức trên, ý thức phân biệt tướng của năm trần tốt, xấu, nên gọi là phân biệt thức.
 
THỨC NHỊ PHẦN
識二分 (Nhiếp Đại thừa luận thích).
 
Luận nói trong sáu thức thì phân ra thành một phần là tướng, một phần là kiến, nên gọi là hai phần của thức.
Một, Tướng phần. Nghĩa là đối sáu thức nhãn, nhĩ… ý thức, mỗi thức đều thay đổi khác nhau thành ra sắc, thanh, hương… 
vô vàn các tướng, nên gọi là tướng phần. 
Hai, Kiến phần. Nghĩa là sáu thức trước có khả năng phân biệt rõ ràng trần cảnh, nên gọi là kiến phần. 
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Thu 07 May 2015, 11:58

Tam Tạng Pháp Số (trang 36)
 
A LẠI DA NHỊ NGHĨA
阿賴耶二義 (Tông cảnh lục).
 
Tiếng Phạn là A lại da, tiếng Hoa là tàng, nghĩa là thức thứ tám, có khả năng chứa đựng chủng tử các pháp. 
Một, Năng nhiếp nhất thiết pháp. Nhiếp có nghĩa giữ gìn, tức có nghĩa chứa đựng. Vì thức này có thể chứa đựng tất cả pháp thiện, ác giống như cái kho chứa đựng bửu bối, không thể mất được. 
Hai, Năng sanh nhất thiết pháp. Sanh tức là sanh ra. Có nghĩa là thức này đã chứa đựng chủng tử các pháp thiện ác, thì các pháp ấy từ đây sinh ra, giống như đất có thể sinh ra vạn vật, cây cỏ.
 
NHỊ ĐỨC
二德 (Quán âm huyền nghĩa)
 
Ở chúng sanh nhân tâm đầy đủ, thì gọi là (vì) hiểu rõ hai nhân.
Ở chư Phật quả đã hiển bày, thì thành hai đức trí và đoạn; bởi vì hiểu rõ nhân thì thành trí đức, liên hệ với nhân thì thành đoạn đức.
Một, Trí đức. Trí là trí huệ, nghĩa là hiểu rõ các pháp một cách thông suốt vô ngại, tùy căn cơ lớn, nhỏ của chúng  sanh mà diễn bày, không có sai lầm; đó là trí đức.
Hai, Đoạn đức. Đoạn là đoạn trừ, nghĩa là dứt trừ hết hoặc nghiệp, tùy theo nơi mà điều phục chúng sanh, ác không thể nhiễm, hoàn toàn tự tại, không bị trói buộc. Đó là đoạn đức.
 
NHỊ HẠNH
二行 (Hoa nghiêm kinh sớ)
 
Một, Đốn thành chư hạnh. Tức là nương vào pháp môn viên dung mà tu hành. Các vị Bồ tát nếu dứt một hoặc nghiệp thì tất cả các hoặc đều đoạn, nếu tu một hạnh, thì các hạnh đều đầy đủ. Vì vậy phẩm Phổ hiền hạnh nói: Dứt trừ được một thì tất cả đều dứt hết.
 
Hai, Biến thành chư hạnh. Tức là nương theo thứ lớp của pháp môn mà tu hành. Nghĩa là các vị Bồ tát, ban đầu phát tâm Bồ đề, cuối cùng ở trong địa vị đẳng giác, thứ tự trải qua nhiều pháp môn, làm tất cả các hạnh. Đó là biến thành chư hạnh.
 
NHỊ HẠNH
二行 (Hoa nghiêm kinh sớ)
 
Một, Sai biệt hạnh. Nương vào nhiều địa vị khác nhau mà tu hành, nên gọi là sai biệt hạnh. (Các vị là Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa).

Hai, Phổ hiền hạnh. Nương vào pháp môn viên dung, theo tu một hạnh, tức là đầy đủ các hạnh, nên gọi là Phổ hiền  hạnh. ( Nhất hạnh là trong bốnhai địa vị, theo tu một hạnh thì bao hòm những hạnh khác).
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Thu 07 May 2015, 12:03

Tam Tạng Pháp Số (trang 37)
 
NHỊ QUÁN HẠNH
二觀行 (cũng gọi là duy thức quán, trích từ Tông cảnh lục).
 
Một, Tầm từ (tứ). Suy xét và quan sát tầm, từ. Tướng do căn và trần xuất hiện, khởi lên trong một niệm của tâm, thì dùng tam quán để xem xét nó. Đó gọi là tầm, từ. (Tầm thô khi duyên là tầm, tâm tế phân biệt là từ (tứ); tam quán: không, giả, trung quán).
Hai, Chơn như. Chơn là không dối, như là không khác. Nghĩa là thường dùng diệu quan quán tâm tánh vốn đầy đủ lý của chân như, mau chóng khiến cho hiển hiện ra. Đó là chơn như.
 
NHỊ ĐẠO
二道 (Bà sa luận và tịnh độ thập nghi luận)


Một, Nan hành đạo. Luận nói: Ở trong đời ngũ trược có vô lượng cõi Phật, cầu A bệ bạt trí rất khó được, vi trần cảnh của thế giới ta bà thô sơ hạn hẹp, năm dục ngăn che, khó vào được đạo, nên gọi là nan hành đạo.
(Tiếng Phạn là A bệ bạt trí, tiếng Hoa là bất thối chuyển). 
Hai, Dị hành đạo. Tin vào những lời Phật dạy, tu niệm Phật Tam muội, cầu vãng 
 
NHỊ ĐẠO
二道 (Chỉ quán phụ hành ký).
 
Một, giáo đạo. Giáo đạo có hai. a) Dạy riêng Bồ tát, đối với các địa vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, nương tựa vào giáo lý của Phật, tùy hoàn cảnh mà tu hành. Đó gọi là theo quy ước mà thực hành giáo lý, đạo pháp. b) Phật cùng Bồ tát ở quả vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng thuyết giảng đi lên pháp Thập địa.
Đó là nói về quy định thực hành giáo lý, đạo pháp.
(Thập trụ: Phát tâm, trị địa, tu hành, sanh quí, phương tiện cụ túc, chánh tâm, bất thối, đồng chơn, pháp vương tử, quán đảnh- Thập hạnh: hoan hỉ, nhiêu ích, vô sân hận, vô tận, ly si loạn, thiện hiện, vô trước, tôn trọng, thiện pháp, chơn thật- Thập hồi hướng:


Cứu nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng, bất hoại, đẳng nhất thiết Phật, chí nhất thiết xứ, vô tận công đức tạng, tùy thuận bình đẳng thiện căn, tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh, chơn như tướng, vô phược giải thoát,  pháp giới vô lượng- Thập địa: hoan hỉ, ly cấu, phát quang, diệm huệ, nan thắng, hiện tiền, viễn hành, bất động, thiện huệ, pháp vân).
 
Hai, chứng đạo. Chứng đạo có hai. a) Biệt giáo Bồ tát. Ở trong địa vị sơ địa, phá phiền não vô minh vi tế, chứng lý chơn thật trung đạo. Đó nói về ước hành chứng đạo. b) Phật tự nói, pháp 12 địa này, ta đã thân chứng. Đó nói về ước thuyết chứng đạo.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Thu 07 May 2015, 12:10

Tam Tạng Pháp Số (Trang 38)


NHỊ ĐẠO
二道 (Tích huyền ký)
 
Một, Vô gián đạo. Người chứng sơ quả Thinh văn, nương bát nhẫn, dứt bỏ sự mê mờ về lý của bát đế về sau. Bát nhẫn này không bị kiến hoặc làm gián cách. Vì vậy gọi là vô gián đạo. (Bát nhẫn: khổ pháp nhẫn, khổ loại nhẫn, tập pháp nhẫn, tập loại nhẫn, diệt pháp nhẫn, diệt loại nhẫn, đạo pháp nhẫn, đạo loại nhẫn- Bát đế: dục giới Tứ đế, sắc giới, vô sắc giới Tứ đế)
 
Hai, Giải thoát đạo. Người chứng sơ quả Thinh văn, nương nơi bát trí, có thể chứng được lý vô vi của bát đế về sau. Bát trí này đã xa lìa được sự trói buộc của nghiệp. Vì vậy gọi là giải thoát đạo (Bát trí: Khổ pháp trí, khổ loại trí, tập pháp trí, tập loại trí, diệt  pháp trí, diệt loại trí, đạo pháp trí, đạo loại trí).
 
NHỊ ĐẠO
二道 (Văn thù sư lợi Bồ tát vấn Bồ đề kinh luận)
 
Một, Hữu lậu đạo. Năm ba la mật bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, có thể thành tựu được quả hữu lậu sanh tử ở thế gian. Vì vậy gọi là hữu lậu đạo.
 
Hai, Vô lậu đạo. Bát nhã ba la mật, có thể thành tựu quả vô lậu Niết bàn xuất thế gian. Vì vậy gọi là vô lậu đạo.
 
NHỊ ĐẾ
二諦 (Phiên dịch danh nghĩa)
 
Một, Chơn đế làm sáng tỏ lý nhất tánh thông suốt. chính vì vậy mà nói lý thật tế, không dính một mảy trần, phải trái đều không còn, năng sở đều không, muôn vật là chân như, hợp Tam thừa về thực tế.
 
Hai, Tục đế biểu hiện việc duyên khởi của một tánh. chính vì vậy mà nói là trong công việc Phật sự không bỏ một pháp nào, khuyên bề tôi trung thành, khuyên con hiếu thảo, khuyên nhà hòa hợp, làm việc lành chỉ cho biết cái vui của các cõi trời, răng đe điều ác, chỉ bày cái khổ ở địa ngục.
 
NHỊ MÔN
二門 (Hoa nghiêm kinh sớ). 
 
Trong kinh Hoa nghiêm đề cập đến hai môn (phương pháp tu) là hạnh bố môn và viên dung môn đều có thể đi vào pháp giới.
Một, Hạnh bố môn. Trong đã nói rõ ràng về Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, đẳng giác, diệu giác gồm 42 cấp bậc tu chứng. Trình bày theo thứ tự rõ ràng, khiến Bồ tát tu hành, chứng đắc, từ cạn đến sâu, trước sau không giống nhau. Vì vậy gọi là hạnh bố môn.
Hai, Viên dung môn. Kinh trình bày rõ về lý của pháp giới, tròn đầy không ngăn ngại, khiến cho Bồ tát ở trong 42 cấp bậc chứng đắc hiểu rõ, đưa lên một vị tức là thâu tóm công đức các vị còn lại, không hề chướng ngại. Vì vậy gọi là viên dung môn.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7723
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Thu 07 May 2015, 12:10


Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát


Được sửa bởi mytutru ngày Fri 08 May 2015, 12:12; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
 
Tam Tạng Pháp Số
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 4 trong tổng số 40 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5 ... 22 ... 40  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-