Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
RIÊNG TỨ TUYỆT by buixuanphuong09 Yesterday at 20:11

Vườn Đào mãi nhớ by buixuanphuong09 Yesterday at 19:44

Tết by Tinh Hoa Yesterday at 16:04

CÒN QUẬY NHIỀU by buixuanphuong09 Yesterday at 15:26

Bộ sưu tập cánh vẩy 4 by buixuanphuong09 Yesterday at 15:03

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 13:02

Quán nước ven đường by cohangnuoc Yesterday at 08:43

BÍ VẬN by buixuanphuong09 Yesterday at 08:40

ĐI BỘ LÀM THƠ by buixuanphuong09 Yesterday at 08:38

SÁNG NAY by buixuanphuong09 Fri 05 Jun 2020, 08:15

MÓN CÀ BUNG by Phương Nguyên Thu 04 Jun 2020, 23:24

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Thu 04 Jun 2020, 14:06

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Thu 04 Jun 2020, 11:36

ĐỒNG HOANG by Phương Nguyên Wed 03 Jun 2020, 22:37

BỮA TRƯA NGÀY THỨ HAI by Phương Nguyên Wed 03 Jun 2020, 22:35

ĐÊM by Phương Nguyên Wed 03 Jun 2020, 22:31

Mỹ 'uống nước đục' trong cuộc đua vật tư y tế by buixuanphuong09 Wed 03 Jun 2020, 13:04

Những vùng chiến thuật - Thơ lượm - Cấm trẻ em dưới 18 tuổi by Ai Hoa Wed 03 Jun 2020, 11:45

Họa thơ Phương Nguyên by buixuanphuong09 Wed 03 Jun 2020, 09:39

Đố Kiều by Ai Hoa Mon 01 Jun 2020, 14:31

Thơ Thái Bá Tân by Việt Đường Sun 31 May 2020, 14:56

DUYÊN TÌNH by nguoidienviyeunguoi Sun 31 May 2020, 13:56

Chút tâm tư by Thiên Hùng Sun 31 May 2020, 07:58

Những Đoá Từ Tâm - Thơ Tình Yêu, Tình Nước by Việt Đường Sat 30 May 2020, 18:40

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Sat 30 May 2020, 18:26

VIỆT NAM CHỐNG COVID-19 by buixuanphuong09 Sat 30 May 2020, 15:54

THỨ BẢY BUỒN! by Phương Nguyên Sat 30 May 2020, 13:23

VÌ SAO NHO ? ......HÁT by nguoidienviyeunguoi Sat 30 May 2020, 10:22

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Sat 30 May 2020, 08:28

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê by Trà Mi Fri 29 May 2020, 11:36

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 TÌM TRÂU

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Bảo Minh Trang



Tổng số bài gửi : 845
Registration date : 08/11/2012

TÌM TRÂU Empty
Bài gửiTiêu đề: TÌM TRÂU   TÌM TRÂU I_icon13Mon 24 Feb 2014, 07:50



TÌM TRÂU 1661076_1538318989727534_1794166842_n


Chăn trâu

1.Tìm Trâu

Vội vàng vạch cỏ kiếm tìm,
Nước sâu núi rộng đường chim xa vời.
Sức cùng lực kiệt mòn hơi,
Trên cây phong đỏ vang trời ve kêu.

2. Thấy dấu
Dấu chân bến nước in đầy,
Băng rừng vạch cỏ thấy ngay trâu vàng.
Mặc dù núi thẳm mênh mang,
Chân trời lỗ mũi rõ ràng đó thôi.

3. Thấy trâu
Hoàng oanh ríu rít trên cành,
Gió hoà nắng ấm liễu xanh dịu dàng.
Thế mà không chỗ quay ngang,
Đầu sừng mờ mịt vẽ tranh khó thành.

4. Được trâu
Dùng thần thông bắt hắn ta,
Sức tâm hùng mạnh khó mà trị yên.
Lúc thì chạy thẳng cao nguyên,
Có khi nằm mãi ở miền khói mây.

5. Chăn trâu
Dây roi nắm chặt chẳng rời,
Sợ rằng buông thả vào nơi bụi trần.
Chăm chăn giữ đến tinh thuần,
Buông dây trâu vẫn theo chân chủ mình.

6. Cưỡi trâu về nhà

Cỡi trâu thong thả về nhà,
Vi vu tiếng sáo gần xa nữa vời
Mỗi lời mỗi nhịp chơi vơi,
Tri âm hà tất mở lời nói ra.

7. Quên trâu còn người

Cỡi trâu về thẳng tới nhà,
Trâu không ta chẳng thật là thảnh thơi.
Mặt trời ba thước lưng đồi,
Còn say mộng đẹp roi thời để bên.

8. Trâu người đều quên.
Người, trâu, roi gậy đều không,
Trời xanh rộng lớn tín thông khó bày.
Lò hồng nung chảy tuyết ngay,
Đã là đến lúc hiệp vầy tổ tông.
9. Phản bổn hoàn nguyên.

Phí công nguồn cũ trở về,
Sao bằng cứ thẳng chưa nghe biết gì.
Trong am nào thấy vật chi,,
Hoa kia vẫn thắm nước thì vẫn xanh.

10. Buông tay vào chợ
Chân không bày ngực vào thành,
Bôi tro đất vẫn cười lành tận tai.
Thần tiên bí quyết phí hoài,
Cây khô vẫn nảy nở loài hoa tươi.

1-8-2006

Bảo Minh Trang


MƯỜI BỨC TRANH CHĂN TRÂU THIỀN TÔNG
Trang 1 / 11
GửiHT Thích Thanh Từ dịch và giảng giải
Chơn nguyên của chư Phật chúng sanh cũng sằn có, nhơn mê trầm luân tam giới, nhơn ngộ chóng thoát sanh tự Do đó, có Phật để thành, có chúng sanh để tạo. 
Thế nên các bậc Tiên Hiền rộng nói các đường. Lý có thiên viên, giáo chia đốn tiệm. Từ thô đến tế, từ cạn đến sâu, rốt sau chỉ trong chớp mắt, Ngài Ca Diếp thấy hoa miệng cười chúm chím. Từ đây Chánh Pháp Nhãn Tạng được lưu thông trên Trời, cõi người, nơi nầy chốn khác.

Người đạt lý thì siêu Tông việt cách, như đường chim không để dấu vết. Người nhận nơi sự thì kẹt câu như rùa linh lê đuôi.
Khoản này có Thiền Sư Thanh Cư xem nơi căn cơ chúng sanh hợp bịnh cho thuốc, làm bản đồ mười mục chăn trâu theo cơ nói giáo. Ban đầu đen dần dần trắng nói lên sức mạnh chưa đủ. Kế đến thuần chơn tiêu biểu căn cơ từ từ soi sáng. Sau rốt người trâu chẳng thấy, tượng trưng tâm pháp cả hai đều hết, lý ấy đã tột cội nguồn, Pháp kia vẫn còn che đậy, khiến kẻ căn cơ bậc trung hạ nghi ngờ phân vân, rơi vào không ngơ hoặc kẹt vào thường kiến. 
Nay Thiền Sư Tắc Công nghĩ đến mô phạm của bậc Tiên Hiền, phát xuất từ đáy lòng mình làm những bài tụng hay, khiến ánh sáng xen nhau, ban đầu từ chỗ mất trâu rốt đến hoàn nguyên, khéo ứng hợp quần cơ như cứu người đói khát. 
Rồi Từ Viễn nương đây sưu tầm diệu nghĩa, lượm lặt chỗ huyền vi, như con thủy mẫu muốn đi ăn phải nương con tôm làm mắt dẫn đường. Ban đầu từ tìm trâu, đến rốt sau buông thõng tay vào chợ. 
Đó là gắng làm dậy sóng ngang sanh đầu sừng, còn không tâm có thể tìm nào có trâu để có thể kiếm, đến buông tay vào chợ ma muội làm sao; huống là cha ông chẳng rõ, họa đến cháu con, chẳng ngại hoang đường thử làm đề xướng. 
Giảng Giải 
Hòa thượng Quách Am có nói: Nguồn chơn của chư Phật, chúng sanh ai ai cũng có sẵn, Phật có nguồn chơn ấy, chúng sanh cũng có nguồn chơn ấy. Vì chúng sanh quên (mê) nguồn chơn nên trầm luân trong tam giới. Nếu ngộ, nhận được nguồn chơn sẵn có nơi mình thì chóng thoát sanh tử. Do đó, mới có Chư Phật nhận được nguồn chơn mà thành Phật và chúng sanh còn tạo nghiệp nên đi trong tam giới. 
Bởi vậy các bậc tiền hiền thương sót chúng sanh mới rộng nói các phương tiện. Những phương tiện đó, lý thì có thiên lệch hay tròn đủ, giáo thì có chia ra đốn tiệm, để khiến cho chúng sanh tu từ thô lần đến tế, từ cạn tới sâu. Chủ yếu rốt sau là chỗ: "Đức Phật ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa lên, trong chớp mắt, Ngài Ca Diếp thấy hoa sen cười chúm chím". Chính vì ngài Ca Diếp cười chúm chím nên Đức Phật mới nói: "Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng Niết Bàn Diệu Tâm, Pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi, ngươi khéo gìn giữ Chánh Pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A Nan". Bởi sự truyền trao ấy nên ngài Quách Am nói: "Kể từ đó thiền mới được lưu thông, truyền đi từ nơi này đến nơi khác, từ cõi người đến cõi Trời. Người đạt lý Thiền thì siêu vượt cả hình thức tôn giáo, vượt cả tư cách thông thường của con người, giống như chim bay trong hư không, qua rồi không để lại dấu vết. Còn người chấp sự thì kẹt câu lầm lời, như rùa bò kéo lê cái đuôi. Ví dụ có người hỏi Tổ Lâm Tế: " Thế nào là Phật?". Ngài đáp: "Cục *** khô". Qua lời đáp này, đối với người thông thì biết Tổ dùng lời để phá chấp danh từ ngôn ngữ của người mê, nên không kẹt. Nhưng đối với người không thông thì chấp lời văn, cho rằng Tổ thô lỗ, bất kính Phật. Cũng giống như rùa bò ở chỗ đất sình đuôi nó kéo lết dưới đất, đi tới đâu cũng kéo một lằn, không thoát khỏi dấu vết. 
Lúc bấy giờ, thiền sư Thanh Cư xem căn cơ của chúng sanh mới tùy theo bệnh mà cho thuốc, Ngài vẽ ra tranh chăn trâu, ban đầu là trâu đen rồi trắng dần dần để nói lên sức huân tu còn yếu chưa mạnh. Kế đến trâu trắng đã thuần chơn là tiêu biểu cho căn cơ từ từ đã soi sáng. Và sau rốt chỉ là: "Một vòng trắng" tượng trưng cho tâm và pháp cả hai đều hết, pháp là dụ cho trâu, tâm là dụ người chăn. Trâu và chăn không còn nữa, đó là tột chỗ cội nguồn rồi. Nhưng mà, còn cái che đậy là thấy chỗ không còn người, không còn trâu, thì người đời sẽ dặt câu hỏi: "Tu đến chỗ rốt ráo không còn gì hết, rơi vào không ngơ sao? Hoặc mãi mãi là không thì rơi vào thường kiến?. Ngài Thanh Cư chỉ vẽ tới "Vòng Tròn Trắng" không còn trâu, không còn người chăn. Các bậc Hiền Trí sợ hàng hạ căn, trung căn sanh nghi ngờ nên Thiền Sư Tắc Công họa mục chín là: "Phản bổn hoàn nguyên", tranh vẽ lá rụng về cội, chim bay về tổ và làm tụng. "Phản bổn hoàn nguyên" là trở về nguồn cội sẵn có của mình, nói lên ý nghĩa người tu đã vào được cảnh giới của Phật, để giải nghi cho người. 
Sau, ngài Từ Viễn diễn đạt thấu suốt được lý Thiền: Người tu thiền là người sẵn sàng lao mình để cứu độ chúng sanh, chớ không phải vào cảnh giới Phật để an nghỉ, nên đã họa ra mục thứ mười là "Buông thõng tay vào chợ" để tiêu biểu công hạnh giáo hóa chúng sanh của người viên mãn. 
Tranh chăn trâu từ mục thứ nhứt "Tìm trâu" tới mục thứ tám "Không còn trâu, không còn người chăn" là do thiền sư Thanh Cư họa. Kế đó, ngài Tắc Công họa thêm mục thứ chín "Phản bổn hoàn nguyên" và làm tụng. Sau cùng, ngài Từ Viễn họa tiếp mục thú mười "Buông thõng tay vào chợ". 
Ngài Quách Am bình: Chỗ rốt ráo không hình tuớng vốn thanh tịnh sẵn vậy, mà gắng tạo ra hình tướng, đó làm cho dậy sóng. Tâm vốn thanh tịnh bỗng dưng vẽ ra hình tướng, giống như đầu sừng mọc ra không manh mối, làm sao có thể tìm được, huống nữa là có trâu để tìm kiếm? Cho tới "Buông thõng tay vào chợ", đó là việc làm rất ma muội, gạt người. 
Ngài nói họa ra hình tướng con trâu, thằng chăn, là việc làm ma muội gạt người. Nhưng ngài lại khen các bậc tiền bối, vì quá từ bi tạo ra phương tiện, để cho người sau dễ thấy thứ tự mà tu hành. Song người sau không hiểu, nhơn đó mà chấp hình tướng, nên nói: "Ông cha không rõ họa đến cháu con". Ngài nói họa ra tranh ảnh là chuyện hoang đường, nhưng ngài không ngại nên làm đề xướng. Trong nhà Thiền thường dùng câu: "Ông cha chẳng rõ họa đến cháu con" để khen ngợi Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Vì ngài đã đem tâm tư, sức lực để làm lợi cho chúng sanh. Ngài dám liều chết vượt biển cả, đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa để truyền Thiền cho tổ Huệ Khả, lần đến Lục Tổ Huệ Năng... Ngài là người từ bi đáo để, vì đạo vì chúng sanh, không ngại gian khổ hiểm nguy, đây nói là "Ông cha không rõ", khen Tổ mà nói như thế đó ! Nhờ ngài truyền Thiền nên bây giờ chúng ta mới biết để tu mà nói: "Họa đến cháu con". Đó là ngôn ngữ đặc biệt của nhà Thiền, nếu nghe mà chấp thì không hiểu gì hết.
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

Shiroi

Tổng số bài gửi : 19896
Registration date : 23/11/2007

TÌM TRÂU Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: TÌM TRÂU   TÌM TRÂU I_icon13Tue 25 Feb 2014, 03:35

Bảo Minh Trang đã viết:


TÌM TRÂU 1661076_1538318989727534_1794166842_n



Chăn trâu


1.Tìm Trâu

Vội vàng vạch cỏ kiếm tìm,
Nước sâu núi rộng đường chim xa vời.
Sức cùng lực kiệt mòn hơi,
Trên cây phong đỏ vang trời ve kêu.

2. Thấy dấu
Dấu chân bến nước in đầy,
Băng rừng vạch cỏ thấy ngay trâu vàng.
Mặc dù núi thẳm mênh mang,
Chân trời lỗ mũi rõ ràng đó thôi.

3. Thấy trâu
Hoàng oanh ríu rít trên cành,
Gió hoà nắng ấm liễu xanh dịu dàng.
Thế mà không chỗ quay ngang,
Đầu sừng mờ mịt vẽ tranh khó thành.

4. Được trâu
Dùng thần thông bắt hắn ta,
Sức tâm hùng mạnh khó mà trị yên.
Lúc thì chạy thẳng cao nguyên,
Có khi nằm mãi ở miền khói mây.

5. Chăn trâu
Dây roi nắm chặt chẳng rời,
Sợ rằng buông thả vào nơi bụi trần.
Chăm chăn giữ đến tinh thuần,
Buông dây trâu vẫn theo chân chủ mình.

6. Cưỡi trâu về nhà

Cỡi trâu thong thả về nhà,
Vi vu tiếng sáo gần xa nữa vời
Mỗi lời mỗi nhịp chơi vơi,
Tri âm hà tất mở lời nói ra.

7. Quên trâu còn người

Cỡi trâu về thẳng tới nhà,
Trâu không ta chẳng thật là thảnh thơi.
Mặt trời ba thước lưng đồi,
Còn say mộng đẹp roi thời để bên.

8. Trâu người đều quên.
Người, trâu, roi gậy đều không,
Trời xanh rộng lớn tín thông khó bày.
Lò hồng nung chảy tuyết ngay,
Đã là đến lúc hiệp vầy tổ tông.
9. Phản bổn hoàn nguyên.

Phí công nguồn cũ trở về,
Sao bằng cứ thẳng chưa nghe biết gì.
Trong am nào thấy vật chi,,
Hoa kia vẫn thắm nước thì vẫn xanh.

10. Buông tay vào chợ
Chân không bày ngực vào thành,
Bôi tro đất vẫn cười lành tận tai.
Thần tiên bí quyết phí hoài,
Cây khô vẫn nảy nở loài hoa tươi.

1-8-2006

Bảo Minh Trang



MƯỜI BỨC TRANH CHĂN TRÂU THIỀN TÔNG
Trang 1 / 11
GửiHT Thích Thanh Từ dịch và giảng giải
Chơn nguyên của chư Phật chúng sanh cũng sằn có, nhơn mê trầm luân tam giới, nhơn ngộ chóng thoát sanh tự Do đó, có Phật để thành, có chúng sanh để tạo. 
Thế nên các bậc Tiên Hiền rộng nói các đường. Lý có thiên viên, giáo chia đốn tiệm. Từ thô đến tế, từ cạn đến sâu, rốt sau chỉ trong chớp mắt, Ngài Ca Diếp thấy hoa miệng cười chúm chím. Từ đây Chánh Pháp Nhãn Tạng được lưu thông trên Trời, cõi người, nơi nầy chốn khác.

Người đạt lý thì siêu Tông việt cách, như đường chim không để dấu vết. Người nhận nơi sự thì kẹt câu như rùa linh lê đuôi.
Khoản này có Thiền Sư Thanh Cư xem nơi căn cơ chúng sanh hợp bịnh cho thuốc, làm bản đồ mười mục chăn trâu theo cơ nói giáo. Ban đầu đen dần dần trắng nói lên sức mạnh chưa đủ. Kế đến thuần chơn tiêu biểu căn cơ từ từ soi sáng. Sau rốt người trâu chẳng thấy, tượng trưng tâm pháp cả hai đều hết, lý ấy đã tột cội nguồn, Pháp kia vẫn còn che đậy, khiến kẻ căn cơ bậc trung hạ nghi ngờ phân vân, rơi vào không ngơ hoặc kẹt vào thường kiến. 
Nay Thiền Sư Tắc Công nghĩ đến mô phạm của bậc Tiên Hiền, phát xuất từ đáy lòng mình làm những bài tụng hay, khiến ánh sáng xen nhau, ban đầu từ chỗ mất trâu rốt đến hoàn nguyên, khéo ứng hợp quần cơ như cứu người đói khát. 
Rồi Từ Viễn nương đây sưu tầm diệu nghĩa, lượm lặt chỗ huyền vi, như con thủy mẫu muốn đi ăn phải nương con tôm làm mắt dẫn đường. Ban đầu từ tìm trâu, đến rốt sau buông thõng tay vào chợ. 
Đó là gắng làm dậy sóng ngang sanh đầu sừng, còn không tâm có thể tìm nào có trâu để có thể kiếm, đến buông tay vào chợ ma muội làm sao; huống là cha ông chẳng rõ, họa đến cháu con, chẳng ngại hoang đường thử làm đề xướng. 
Giảng Giải 
Hòa thượng Quách Am có nói: Nguồn chơn của chư Phật, chúng sanh ai ai cũng có sẵn, Phật có nguồn chơn ấy, chúng sanh cũng có nguồn chơn ấy. Vì chúng sanh quên (mê) nguồn chơn nên trầm luân trong tam giới. Nếu ngộ, nhận được nguồn chơn sẵn có nơi mình thì chóng thoát sanh tử. Do đó, mới có Chư Phật nhận được nguồn chơn mà thành Phật và chúng sanh còn tạo nghiệp nên đi trong tam giới. 
Bởi vậy các bậc tiền hiền thương sót chúng sanh mới rộng nói các phương tiện. Những phương tiện đó, lý thì có thiên lệch hay tròn đủ, giáo thì có chia ra đốn tiệm, để khiến cho chúng sanh tu từ thô lần đến tế, từ cạn tới sâu. Chủ yếu rốt sau là chỗ: "Đức Phật ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa lên, trong chớp mắt, Ngài Ca Diếp thấy hoa sen cười chúm chím". Chính vì ngài Ca Diếp cười chúm chím nên Đức Phật mới nói: "Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng Niết Bàn Diệu Tâm, Pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi, ngươi khéo gìn giữ Chánh Pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A Nan". Bởi sự truyền trao ấy nên ngài Quách Am nói: "Kể từ đó thiền mới được lưu thông, truyền đi từ nơi này đến nơi khác, từ cõi người đến cõi Trời. Người đạt lý Thiền thì siêu vượt cả hình thức tôn giáo, vượt cả tư cách thông thường của con người, giống như chim bay trong hư không, qua rồi không để lại dấu vết. Còn người chấp sự thì kẹt câu lầm lời, như rùa bò kéo lê cái đuôi. Ví dụ có người hỏi Tổ Lâm Tế: " Thế nào là Phật?". Ngài đáp: "Cục *** khô". Qua lời đáp này, đối với người thông thì biết Tổ dùng lời để phá chấp danh từ ngôn ngữ của người mê, nên không kẹt. Nhưng đối với người không thông thì chấp lời văn, cho rằng Tổ thô lỗ, bất kính Phật. Cũng giống như rùa bò ở chỗ đất sình đuôi nó kéo lết dưới đất, đi tới đâu cũng kéo một lằn, không thoát khỏi dấu vết. 
Lúc bấy giờ, thiền sư Thanh Cư xem căn cơ của chúng sanh mới tùy theo bệnh mà cho thuốc, Ngài vẽ ra tranh chăn trâu, ban đầu là trâu đen rồi trắng dần dần để nói lên sức huân tu còn yếu chưa mạnh. Kế đến trâu trắng đã thuần chơn là tiêu biểu cho căn cơ từ từ đã soi sáng. Và sau rốt chỉ là: "Một vòng trắng" tượng trưng cho tâm và pháp cả hai đều hết, pháp là dụ cho trâu, tâm là dụ người chăn. Trâu và chăn không còn nữa, đó là tột chỗ cội nguồn rồi. Nhưng mà, còn cái che đậy là thấy chỗ không còn người, không còn trâu, thì người đời sẽ dặt câu hỏi: "Tu đến chỗ rốt ráo không còn gì hết, rơi vào không ngơ sao? Hoặc mãi mãi là không thì rơi vào thường kiến?. Ngài Thanh Cư chỉ vẽ tới "Vòng Tròn Trắng" không còn trâu, không còn người chăn. Các bậc Hiền Trí sợ hàng hạ căn, trung căn sanh nghi ngờ nên Thiền Sư Tắc Công họa mục chín là: "Phản bổn hoàn nguyên", tranh vẽ lá rụng về cội, chim bay về tổ và làm tụng. "Phản bổn hoàn nguyên" là trở về nguồn cội sẵn có của mình, nói lên ý nghĩa người tu đã vào được cảnh giới của Phật, để giải nghi cho người. 
Sau, ngài Từ Viễn diễn đạt thấu suốt được lý Thiền: Người tu thiền là người sẵn sàng lao mình để cứu độ chúng sanh, chớ không phải vào cảnh giới Phật để an nghỉ, nên đã họa ra mục thứ mười là "Buông thõng tay vào chợ" để tiêu biểu công hạnh giáo hóa chúng sanh của người viên mãn. 
Tranh chăn trâu từ mục thứ nhứt "Tìm trâu" tới mục thứ tám "Không còn trâu, không còn người chăn" là do thiền sư Thanh Cư họa. Kế đó, ngài Tắc Công họa thêm mục thứ chín "Phản bổn hoàn nguyên" và làm tụng. Sau cùng, ngài Từ Viễn họa tiếp mục thú mười "Buông thõng tay vào chợ". 
Ngài Quách Am bình: Chỗ rốt ráo không hình tuớng vốn thanh tịnh sẵn vậy, mà gắng tạo ra hình tướng, đó làm cho dậy sóng. Tâm vốn thanh tịnh bỗng dưng vẽ ra hình tướng, giống như đầu sừng mọc ra không manh mối, làm sao có thể tìm được, huống nữa là có trâu để tìm kiếm? Cho tới "Buông thõng tay vào chợ", đó là việc làm rất ma muội, gạt người. 
Ngài nói họa ra hình tướng con trâu, thằng chăn, là việc làm ma muội gạt người. Nhưng ngài lại khen các bậc tiền bối, vì quá từ bi tạo ra phương tiện, để cho người sau dễ thấy thứ tự mà tu hành. Song người sau không hiểu, nhơn đó mà chấp hình tướng, nên nói: "Ông cha không rõ họa đến cháu con". Ngài nói họa ra tranh ảnh là chuyện hoang đường, nhưng ngài không ngại nên làm đề xướng. Trong nhà Thiền thường dùng câu: "Ông cha chẳng rõ họa đến cháu con" để khen ngợi Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Vì ngài đã đem tâm tư, sức lực để làm lợi cho chúng sanh. Ngài dám liều chết vượt biển cả, đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa để truyền Thiền cho tổ Huệ Khả, lần đến Lục Tổ Huệ Năng... Ngài là người từ bi đáo để, vì đạo vì chúng sanh, không ngại gian khổ hiểm nguy, đây nói là "Ông cha không rõ", khen Tổ mà nói như thế đó ! Nhờ ngài truyền Thiền nên bây giờ chúng ta mới biết để tu mà nói: "Họa đến cháu con". Đó là ngôn ngữ đặc biệt của nhà Thiền, nếu nghe mà chấp thì không hiểu gì hết.
 
 

Cám ơn BMT nhiều, mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng này còn gọi là "Thập Mục Ngưu Đồ".  :mim: 

https://www.daovien.net/t5069-topic
Về Đầu Trang Go down
Bảo Minh Trang



Tổng số bài gửi : 845
Registration date : 08/11/2012

TÌM TRÂU Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: TÌM TRÂU   TÌM TRÂU I_icon13Tue 25 Feb 2014, 12:16

Đúng rồi Tỷ Shiroi! Cám ơn Tỷ ghé thăm!
Về Đầu Trang Go down
 
TÌM TRÂU
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN THƠ :: THƠ SÁNG TÁC :: Thơ Đạo-