Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
VIỆT NAM CHỐNG COVID-19 by buixuanphuong09 Today at 07:18

Các huynh tỷ đệ muội ơi! by Phương Nguyên Today at 06:34

CHUYỆN VỤN (Phương Nguyên) by Phương Nguyên Today at 06:33

Hỏi by Tinh Hoa Today at 02:07

ĐỨC PHẬT CÓ TỨC GIẬN KHÔNG by mytutru Today at 00:31

Quán nước ven đường by cohangnuoc Yesterday at 19:50

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 18:42

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 15:06

Bộ sưu tập cánh vẩy 4 by buixuanphuong09 Yesterday at 13:43

Tết by Tinh Hoa Yesterday at 00:19

CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Yesterday at 00:12

CÒN QUẬY NHIỀU by buixuanphuong09 Tue 31 Mar 2020, 14:05

HSN_STAY HOME by HanSiNguyen Tue 31 Mar 2020, 12:40

Virus - Covid - 19 by bounthanh sirimoungkhoune Tue 31 Mar 2020, 11:02

Chút tâm tư by tâm an Tue 31 Mar 2020, 06:28

THƠ HUỲNH KIM NHÂN by HUỲNH KIM NHÂN Tue 31 Mar 2020, 01:17

Mưa hoàng hôn by Tinh Hoa Tue 31 Mar 2020, 01:11

Đứa Bé Cúng Dường Nắm Đất Sau Làm Vua by mytutru Mon 30 Mar 2020, 16:49

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Mon 30 Mar 2020, 09:31

Đức Phật Không Cứu Được Người Thân by mytutru Mon 30 Mar 2020, 03:33

Bốn Điều Phật Không Làm Được by mytutru Mon 30 Mar 2020, 02:24

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Sun 29 Mar 2020, 22:07

Truyện Thơ Cổ Tích by bounthanh sirimoungkhoune Sun 29 Mar 2020, 22:06

Những Đoá Từ Tâm - Thơ Tình Yêu, Tình Nước by Việt Đường Sun 29 Mar 2020, 21:04

Năm 2020 by mytutru Sun 29 Mar 2020, 20:11

VỌNG QUỐC HÀNH by Ma Nu Sat 28 Mar 2020, 05:42

Cocktail by Tinh Hoa Sat 28 Mar 2020, 01:56

TRÁI ỔI LÚC NÀY RẤT TỐT by mytutru Fri 27 Mar 2020, 23:59

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Thu 26 Mar 2020, 08:41

KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI - VŨ ĐỨC SAO BIỂN by Trà Mi Thu 26 Mar 2020, 06:07

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Sun 08 Nov 2009, 03:39

CẢNH CHÙA BAN ĐÊM

Tình cảnh ấy, nước non này,
Dẫu không Bồng Đảo cũng Tiên đây,
Hành Sơn (1) mực điểm đôi hàng nhạn, (2)
Thức Lĩnh (3) đen trùm một thức mây.
Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch,
Phất phơ sườn núi lá thu bay,
Hỡi người quân tử đi đâu đó,
Thấy cảnh sao mà đứng lượm tay. (4)

----------
(1) Hành Sơn : Tên một ngôi chùa lớn của tỉnh Hàng Châu (Trung Quốc).
(2) Đôi hàng nhạn : Nhạn, quạ, hoa sen v.v… được coi như các biểu trưng của nhà Phật. Chim nhạn chắp cánh thành hai hàng để trang trí trên mái chùa, tương tự như lưỡng long triều nguyệt ở các mái đình, đến v.v…
(3) Thứu Lĩnh : Còn gọi là núi Linh Thứu ở Ấn Độ nơi thường ở của Phật Tổ lúc sinh thời.
(4) Lượm tay : Lòng bàn tay phải áp vào nắm tay trái đặt trước ngực, một nghi thức cung kính (khác với chắp tay là hai lòng bàn tay ấp vào nhau đặt trước ngực). Trước cảnh đẹp thiên thần như vậy, mà người quân tử đầu óc cứ rỗng tuếch.



CẢNH THU


Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ, (1)
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu, (2)
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ (3)
Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.

----------
Có sách gán cho Bà huyện Thanh Quan. Ở văn bản Landes 1893, bài thơ này không có đầu đề. Câu thứ hai là “ai vẽ được cảnh tiếu sơ” và có lời dẫn: "Ngày xưa Xuân Hương đi chơi gặp mưa, vào chơi thăm làng Văn Giáp, thấy có một chùa xưa, Xuân Hương và chùa lậy Phật, rồi đi xem ngoài chùa. Thấy bên chùa có cây đa. Ngửng lên xem thì cao ngút không biết tới đâu, cho nên làm bài thơ này (cây đa này đến này còn)". Ở bản Đông châu 1917, có lời dẫn: "Một ngày kia đang mùa quý thu, giời lún phún dăm ba hạt mưa, hơi ngăm ngăm rét, quan phủ nhân vô sự, mới sai bày cuộc rượu, cho gọi cô hai ra cùng ngồi uống rượu để vịnh thơ. Xuân Hương vâng lời ra ngồi hầu rượu để vịnh thơ. Xuân Hương vâng lời ra ngồi hầu rượu. Đương khi chén quỳnh đầu vơi, chiều thu hiu hắt, quan phủ liền bảo Xuân Hương vịnh bài tức cảnh. Thơ rằng..."
(1) Tiêu sơ : Cảnh sắc sơ sài mà thanh nhã.
(2), (3) Chất men say của bầu non sông dốc cạn vào tâm hồn nữ sĩ còn say hơn rượu nhiều, không cần phải mượn rượu để tăng cảm xúc nữa. Non sông là bầu rượu lớn của nhà thơ. Túi thơ : Túi bằng lục đựng những mảnh giấy ghi lại những tứ thơ hoặc bài thơ của tác giả. Túi thơ tuy nhẹ và tư liệu đựng cũng không đầy, song tình thơ chất chứa trong đó ghi lại cảnh vật gió trăng của thiên nhiên thì nặng : Nhà thơ nặng tình với cảnh đẹp thiên nhiên cần phải ghi lại bằng những tứ thơ, câu thơ, bài thơ tuyệt tác.


TRĂNG THU

Một trái trăng thu chín mõm mòm,
Nảy vừng quế đỏ (1) đỏ lòm lom!
Giữa in chiếc bích (2) khuôn còn méo,
Ngoài khép đôi cung (3) cánh vẫn khòm.
Ghét mặt kẻ trần đua xói móc,
Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom. (4)
Hỡi người bẻ quế (5) rằng ai đó,
Đó có Hằng Nga (6) ghé mắt dòm.

----------
(1) Quế đỏ: Huyền thoại nói trong mặt trăng có cây quế đỏ.
(2) Chiếc bích: Chiếc ngọc bích hình tròn dẹt, giữa có lỗ, người ta gọi mặt trăng là bích nguyệt.
(3) Người ta thường ví đường cong của mặt trăng như người tráng sĩ giương cánh cung.
(4) Ca dao: "Thằng Cuội ngồi gốc cây đa; Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời..." ở đây vì tức tối nên thằng Cuội không ngồi mà đứng.
(5) Bẻ cành quế đỏ (đan quế) trên cung trăng, chỉ người thi đỗ tiến sĩ.
(6) Hằng Nga: Huyền thoại nói Hằng Nga vợ Hậu Nghệ ăn trộm thuốc tiên của chồng do bà Tây Vương mẫu cho, rồi một mình trốn lên ở cung trăng.



HỎI TRĂNG

Mấy vạn năm nay vẫn hãy còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Hỏi con Ngọc Thỏ đà bao tuổi? (1)
Chứ chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng?
Ngày xanh sao lại thẹn vừng son? (2)
Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có tình riêng với nước non?

----------
(1) Ngọc Thỏ: Huyền thoại nói trên mặt trăng có con Thỏ Ngọc ngồi giã thuốc trường sinh.
(2) Vừng son: Chỉ mặt trời.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: CÂU ĐỐI LƯU TRUYỀN   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Sun 08 Nov 2009, 03:41

CÂU ĐỐI LƯU TRUYỀN
(1)


  • Tối ba mươi khép cánh kiền khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới.
    Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào.

  • Khéo khen ai, đẽo đá chênh vênh, tra hom ngược để đơm người đế bá.
    Gớm con tạo, lừa cơ tem hẻm, rút nút xuôi cho lọt khách cổ kim.

  • Mặc áo giáp, dải cài chư đinh; mậu, kỷ, canh, khoe mình rằng quý.
    Làm đĩ càn, tai đeo hạt khảm; tốn, ly, đoài khéo nói rằng khôn.

  • Thị vào chầu, thị đứng thị xem, thị thấy thèm thị không có ấy. (Thị: quan thị).
    Vũ cậy mạnh, vũ ra vũ múa, vũ mắc mưa vũ ướt cả lông. (Vũ: quan võ ).


----------
(1) Chúng tôi chọn mấy câu đối này, nhưng không rõ vế nào của Hồ Xuân Hương, vế nào của người khác, vì giai thoại truyền lại có khác nhau.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21


Được sửa bởi Ý Nhi ngày Sat 14 Nov 2009, 05:01; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: LƯU HƯƠNG KÝ   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Mon 09 Nov 2009, 04:01

LƯU HƯƠNG KÝ



Lưu hương ký mới được phát hiện từ năn 1964, bao gồm thơ chữ Hán và chữ Nôm, đầu đề ghi là của Xuân Hương, người Nghệ An, sáng tác ở Cổ Nguyệt đường.
Tập thơ ghi lại tâm sự và tình cảm của tác giả với các bạn trai của mình, như Tốn Phong Thị, Hiệp trấn Sơn Nam Thượng họ Trần; Mai Sơn Phủ; Chí Hiên; đặc biệt còn có cố nhân của nữ sĩ họ Hồ là Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu, tức đại thi hào Nguyễn Du. Tình cảm thắm thiết, táo bạo, nghệ thuật già dặn.
Phong cách thơ trong Lưu hương ký có gì không thật ăn khớp với phong cách những bài thơ Nôm vốn đã được truyền tụng lâu nay của bà.
Ý kiến của các nhà nghiên cứu có phần bị phân rẽ về việc xác định tác giả đích thực của Lưu hương ký.
Tuy vậy, ngày càng có nhiều người khẳng định tác giả Lưu hương ký không thể ai khác ngoài Hồ Xuân Hương. (1)

Các bài dịch từ văn bản chữ Hán trong phần này là của các ông Hoàng Xuân Hãn, Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn, Nguyễn Lộc…
Bài Tựa tập thơ Lưu hương ký của Tốn Phong Thị, chúng tôi xin giới thiệu ở một phần dưới cho bố cục tập sách được thống nhất.

----------
(1) Xem Đào Thái Tôn: Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục (Nxb Giáo dục. H. 1993).

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: LƯU HƯƠNG KÝ   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Mon 09 Nov 2009, 04:03

NGỤ Ý TỐN PHONG (I, II) [1], KÝ NHỊ THỦ (*)

I

Chồn bước may đâu khéo hẹn hò
Duyên chi hay bởi nợ chi ru?
Sương xoa áo lục nhồi hơi xạ,
Gió lọt cành lê lướt mặt hồ.
Muốn chắp chỉ đào thêu trướng gấm,
Mà đem là thắm thả dòng Tô.
Trong trần mấy kẻ tinh con mắt
Biết ngọc mà trao mới kể cho.

----------
(*) Hai bài ngụ ý gửi Tốn Phong Thị.
(1) Chưa rõ Tốn Phong Thị là ai? Theo bài tựa, ông họ Phan. Còn tên, có lẽ là Huân, nghĩa là “Nam Phong” (gió Nam), cũng gọi là Tốn Phong. Nham Giác là tên hiệu. Nham Giác phu là “anh chàng ẩn ở núi nhưng hiểu sự đời”.


II


Đường hoa dìu dặt bước đông phong
Nghĩ kẻ tìm thơm cũng có công.
Lạ mặt dán quen cùng gió nước,
Nặng lòng nên nhẹ đến non sông.
Da trời nắng nhuôm tười màu biếc,
Phòng gấm trăng in dãi thức hồng.
Ai nhớ lấy cho lòng ấy nhỉ,
Trước trăm năm hẳn nợ chi không?


TỐN PHONG ĐẮC MỘNG CHI DỮ NGÃ KHAN NHÂN THUẬT NGÂM TỊNH KÝ (*)

Nhớ ai mà biết nói cùng ai
Rằng chữ đồng ta quyết một hai.
Hoa liễu vui đâu mình dễ khéo,
Non sông đành giả nợ còn dài.
Chén tình dầu nhẫn lâu mà nhạt
Giải ước nguyền âu thắm chẳng phai.
Đày đoạ duyên trần thôi đã định.
Xương giang duềnh để ngắm tương lai.

----------
(*) Tốn Phong Thị nằm mộng ghi lại mang cho xem, nhân đó ghi, thuật lại bằng thơ.

Xin lưu ý bạn đọc, trong Lưu hương ký, các bài thơ Nôm lại có đầu đề bằng chữ Hán.


HỌA TỐN PHONG NGUYÊN VẬN


(1) Kiếp này chẳng gặp nữa thì liều,
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu.
Nghĩ lại huống đau cho phận bạc,
Nói ra thêm nhẹ với thân bèo.
Chén thề thủa nọ tay còn dính,
Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Được lứa tài tình cho xứng đáng,
Nghìn non muôn nước cũng tìm theo.

----------
(1) Hoạ nguyên vần thơ ông Tốn Phong.


TẶNG TỐN PHONG TỬ (*)

(Họa vận tại hậu)

Bướm ong mừng đã mấy phen nay,
Hồng nhạn xin đưa ba chữ lại;
Dám đâu mưa gió giở bàn tay,
Những sự ba đào xeo tấc lưỡi,
Nam Bắc xa xa mấy dặm đây,
Hải sơn ước để ngàn năm mãi,
Bức tranh khôn vẽ tấm lòng ngay.
Tơ nguyệt rày xe ba mối lại,
Hỏi khách đa tình nhỏ có hay.
Năm canh hồn bướm thêm bơ bải.

----------
(*) Tặng chàng Tốn Phong. Dưới đầu đề có ghi rõ "Hoạ vận tai hậu" (hoạ vần ở phía sau), nhưng không thấy bài thơ hoạ. Bài thơ còn như dang dở. Thể thơ ít gặp. Có thể là một điệu ca từ nào đó ? Hai chữ bơ bải là phiên âm tạm.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: LƯU HƯƠNG KÝ   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Fri 13 Nov 2009, 03:24

BẠCH ĐẰNG GIANG TẶNG BIỆT (*)

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng,
Là duyên là nợ phải hay chăng.
Vịn hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục nước xem mà động bóng giăng.
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia này đã núi giăng giăng.
Với nhau tình nghĩa sao là trọn,
Chớ thói lưng voi cỡ nước Đằng. (1)

----------
(*) Tặng bạn khi chia biệt ở sông Bạch Đằng.
(1) Lưng vơi cỡ nước Đằng: Nước Đằng là nước nhỏ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, bị ép giữa hai nước lớn là Tề, Sở nên luôn phải giữ gìn. Đây chỉ sự lúng túng của người đa thê.


LƯU BIỆT THỜI TẠI AN QUẢNG, AN HƯNG NGỤ THỨ (*)

Người về người ở khéo buồn sao,
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn nữa hết,
Đá vàng lòng nọ xiết là bao.
Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao.
Sớm biết lẽ giời lí có hợp,
Thì mười năm trước bận chi nao.

----------
(*) Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.


CẢM CỰU KIÊM TRÌNH CẦN CHÁNH HỌC SĨ NGUYỄN HẦU (*)
(Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân)

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy, (1)
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

----------
(*) Nhớ người cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu. Sau đầu đề trên, tác giả có chú: "Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân" (Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân). Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh (1765 - 1820), tác giả Truyện Kiều. Tước Hầu vào hàng á khanh, dưới tước Công - Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.
(1) Sương siu: bịn rịn, quấn quít. Cách đọc chữ Nôm xưa, một chữ có thể đọc nhiều âm: Mái, mấy; An, yên; Buồng, phòng… Từ mấy ở đây nếu hiểu theo ngữ nghĩa thì có nghĩa là với. Cả câu này có thể hiểu: “Nguyễn Du có còn mảy may vương vít chút nào với mình nữa chăng?“ Trong khi đó, Hồ Xuân Hương – như ý câu sau – vẫn nhớ người cũ, một mình một bóng, chong đèn ngồi suốt năm canh.



THU NGUYỆT HỮU ỨC MAI SƠN PHỦ KÝ (*)


Lá ngọc chiều thu giận hẳn du
Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông còn đấy,
Ngọn nước Tam Kì chảy lại đâu. (1)
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau.
Trăm năm biết có duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng đầu.

----------
(*) Đêm thu, nhớ Mai Sơn Phủ, gởi bài này.
(1) Nguyên chú: “Đã giải kết đưa tình”. Giải kết theo Đào Duy Anh là “Gửi mối tình kết buộc với nhau (dénouer) “Còn giải kết đưa tình là gì? Chưa rõ lắm.



HỌA SƠN PHỦ CHI TÁC (*)

Này đoạn chung tình biết mấy nhau,
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,
Trước mặt đi về gấp bóng câu.
Nước mắt trên hoa là lỗi cũ.
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết mấy nhau.

----------
(*) Hoạ lại thơ Mai Sơn Phủ. Chưa rõ Mai Sơn Phủ là ai?.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: LƯU HƯƠNG KÝ   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Fri 13 Nov 2009, 03:28

NGUYỆT DẠ CA (I)

Lộ như châu hề nguyệt như sai,
Thúc vãng lai hề chiếu dư hoài.
Uyển cố nhân hề thiên nhai,
Ái bất kiến hề tâm bồi hồi.
Đài hoang Thần nữ miếu,
Vân tán Sở vương đài.
Minh nguyệt quang như hử,
Ngã tư nhân chi hề, yên tại tai.


Dịch nghĩa :

BÀI CA ĐÊM TRĂNG (I)

Sương như hạt châu chừ, trăng như ngọc
Vụt qua lại chừ, soi chiếu lòng ta
Người xưa dịu dàng chử phương trời
Yêu nhưng không gặp chừ lòng bồi hồi
Rêu hoang miếu Thần Nữ (1)
Mây tan đài Sở Vương
Ánh trăng sáng như vậy
Người mà ta nhớ chù, ở nơi đâu?

----------
(1) Thần Nữ miếu ở phía đông Vu Sơn, tỉnh Tây Xuyên. Con gái của Xích đế là Giao Cơ chết, chôn ở Bắc vu Sơn, Sở Hoài Vương đi chơi ở Vu Sơn, tới Dương Đài nằm mơ giao hoan cùng nữ thần, bèn lập miếu thờ.


NGUYỆT DẠ CA (II)

Hoa kỳ tự hề ba kỳ thi,
Hà vi thường hề vân vi y,
Diệc ký cấu hề ngã tâm tắc di,
Ngữ hạt ký hề thê trì,
Sầu lưu Tương thuỷ thính,
Muộn áp Thục sơn đê,
Nhật nguyệt hề vô căn hề,
Tình chi sở chung,
Bất tri kỳ kỳ.


Dịch nghĩa :

BÀI CA ĐÊM TRĂNG (II)


Hoa là chữ chừ nhuỵ là thơ
Dáng làm xiêm chừ mây làm áo
Cũng là gặp nhau chừ, lòng ta thảnh thơi
Lời sao đà chừ chậm trễ
Nghe sầu trôi trên sông Tương
Nén nỗi buồn tới núi Thục (1)
Tháng ngày không gốc rễ chừ
Nơi tình hội tụ Biết hẹn khi nào.

----------
(1) Sông Tương (Tương thủy): còn gọi là Tương Giang, bắt nguồn từ núi Duyên huyện Hưng Yên, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Núi Thục (Thục Sơn) ở phía đông nam huyện Tuyên Hưng, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), là những danh lam thắng cảnh nổi tiếng.


THỆ VIẾT HỮU CẢM (*)

Mười mấy năm trời một chữ tình
Duyên tơ này đã sẵn đâu đành
Mái mây cắt nửa nguyền phu phát
Giọt máu đầy hai chén tử sinh
Một kiếp đã thề cùng dạ thắm
Trăm năm đừng phụ với đầu xanh
Mai sau lòng chẳng như lời nữa
Dao búa nguyền xin luỵ đến mình.

----------
(*) Có cảm xúc khi viết lời thề.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: LƯU HƯƠNG KÝ   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Sat 14 Nov 2009, 00:43

TỰ THÁN (I) (*)

Con bóng đi về chốc bấy nay,
Chữ duyên nào đã chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt,
Trông suốt nhân tình dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,
Một đời riêng mấy kiếp chua cay.
Nỗi mình nỗi bạn dường bao nả,
Dám hỏi han đâu những cớ này.

----------
(*) Tự than thân.


TỰ THÁN (II)

Lẩn thẩn đi về mấy độ nay
Vì đâu đeo đẳng với nơi vầy
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say
Điểm lữ trông chừng mây đạm nhạt
Dòng thu xem cỡ nước vơi đầy.
Thương ai hẳn lại thương lòng lắc
Này nợ này duyên những thế này.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Sat 14 Nov 2009, 00:52

DỮ SƠN NAM THƯỢNG HIỆP TRẤN QUAN TRẤN HẦU XƯỚNG HỌA (I, II, III, IV, V, VI) (*)

I. Xuân Hương xướng :

Bình thuỷ tương phùng (1) nguyệt hạ tôn
Cương trường phiến phiến thuộc nan ngôn
Khiêu cầm hữu ý minh hoàng xướng
Nhiễu thụ vô đoan ngữ thước huyên.
Thuỳ tục già thanh quy Han khuyết
Tự tu liên bộ xuất Hồ môn
Bán diên biệt hậu tình đa thiếu
Mạch mạch không li Sảnh Nữ hồn. (2)

----------
(*) Xướng họa cùng ông Trần hầu – quan Hiệp trấn Sơn Nam thượng.
(1) Bình thuỷ tương phùng : Bèo nước gặp nhau: chỉ việc ngẫu nhiên gặp gỡ. Vương Bội có câu: "Bình thuỷ tương phùng, tận thị tha hương chỉ khách" (bèo nước gặp nhau thảy đều là khách tha hương). Trong văn chương, bèo nước, ngọn bèo, phận bèo... còn để chỉ người phụ nữ: "Phận bèo bao quản nước sa - Lênh đênh đâu cũng là lênh đênh" "Ngọn bèo chân sóng lạc loài - Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu li" (Kiều).
(2) Sảnh nữ hồn: Sảnh Nương là con gái Trương Dật, muốn lấy Vương Trụ. Cha mẹ không bằng lòng. Nàng ốm liệt gường. Vương Trụ buồn bỏ đi, thấy Sảnh Nương theo. Hai người lấy nhau, trốn đi xa làm ăn, năm năm sau về nhà xin lỗi bố mẹ. Bố mẹ Sảnh Nương sửng sốt vì năm năm qua Sảnh Nương vẫn nằm liệt gường. Khi vợ chồng vào đến sân, Sảnh Nương chạy ra đón. Hai Sảnh Nương ôm nhau nhập làm một. Thì ra suốt năm năm qua, hồn Sảnh Nương đã lìa khỏi xác theo Vương Trụ.


Dịch thơ :

Gặp gỡ dưới trăng chuốc chén mời,
Lòng son đòi đoạn chẳng nên lời.
Khúc đàn ai gảy đà đưa ý,
Ngoài ngõ khách kêu chẳng thấy người.
Ai chuộc tiếng kèn về Hán đó ?
Tủi lê gót ngọc đất Hồ rồi!
Biệt li dở tiệc tình lưu luyến,
Hồn Sảnh sầu đau mạch mạch khơi.

(TRẦN THANH MẠI dịch)


II. Xuân Hương xướng :

E lệ đàn tao dám cất cờ.
Phong tình chước ấy đã hay chưa.
Đem lời vàng ngọc gieo nên tiếng,
Sẻ nợ tang bồng giả với thơ,
Gặp gỡ cũng là trong bốn bể,
Phao tung kẻo thẹn trước nghìn xưa.
Sau này dầu có bao nhiêu nữa.
Dầu có bao nhiêu mặc bấy giờ.


III. Xuân Hương họa :


Quỹ vô tài điệu sử nhân kinh,
Thập tải phong trần quán nhi linh.
Di thị lâm bình tri địch thủ,
Mạc tu sao nguyệt (1) khổ đàn tinh.
Vị luân vị đạn tuỳ tao ngộ,
Thuỳ phượng thuỳ oanh nhậm phú sinh.
Tạo vật ư nhân hà câu tích,
Minh châu hưu hướng ám trung trình.

Dịch nghĩa :

Tôi thẹn vì không đủ tài điệu để người khiếp sợ,
Mười năm gió bụi đã quen rồi,
Đã là ngồi trước bàn cờ thì biết địch thủ,
Làm chi phải chọn ý chọn tứ khổ sở vỉ thơ. (2)
Là bánh xe hay viên đạn là do hoàn cảnh,
Là phượng hay loan vốn bẩm sinh.
Tạo vật đối với con người không phú bẩm cẩu thả.
Nên đã là hạt trai sáng thì chớ đem ra bóng tối.


----------
(1) Xao nguyệt: Giả Đảo làm được câu thơ “Điền túc tri trung thụ - Tăng thôi nguyệt hạ môn”. Đắn đo mãi xem nên dùng chữ “Thôi nguyệt” hay “Xao nguyệt”. Từ đó, Thôi xao, xao nguyệt, chỉ việc lựa chọn chữ dùng trong văn thơ.
(2) Dịch chữ khổ đàn. “Khổ đàn” có lẽ lấy ý “Khổ trung tác nhạc” – sáng tác âm nhạc trong cảnh khốn khổ. Ý nói quá căng thẳng trong hoạt động sáng tác văn chương.


IV. Xuân Hương họa :

Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng,
Cận tiếp quang nghi nhật chính đông.
Hậu ý thuỷ giao tri thuỷ đạm,
Tình hoài sơ ẩm giác thuần nùng.
Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng,
Ngã bối tài tình chính sở chung.
Ác thủ đàm tâm quân mạc quái,
Lục giang nhất khứ thuỷ thiên trùng.

Dịch nghĩa :

Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương nay mừng được gặp mặt
Lại được tiếp cận với dung nghi vào buổi hừng đông.
Vốn sẵn nhã ý nên chưa biết nhau đã biết tính tình thanh đạm.
Chén tình vừa nhấp đã nồng nàn, đôn hậu
Thanh khí của châu ta còn được ưa chuộng
Tài tình của chúng ta chính là chung đúc nơi đây
Cầm tay thổ lộ nỗi lòng, xin chàng chớ ngại.
Vì sau khi chàng tới Lục Đầu giang, lại xa nhau non nước muôn trùng.



V. Xuân hương họa :


Thắc mắc sầu riêng khó giở ra,
Đêm tàn khêu mãi thấy thêm hoa.
Muốn về nhưng có về sao đến,
Biếng nói song le nói được mà.
Sông Bắc trông chừng chênh bóng thỏ,
Lầu Nam nghe đã trống canh gà.
Trăm năm gặp gỡ là bao nả,
Thắc mắc sầu riêng khó giở ra.


VI. Xuân Hương xướng :

Ma diệt thông minh giảm kiến linh,
Tái mao tâm khiếu thăng như đình.
Chỉ duyên tuỳ phận cấp bôn tẩu,
Vị đắc phóng hoài tề nhục vinh.
Đầu thượng tuyết sương thần diệc quyện,
Vẫn dư tao phách vị phi hinh.
Liên hương tình chủng si ư ngã,
Tiễn tận hàn đăng bất yên canh.

Dịch nghĩa :

Cuộc sống mài diệt sự thông minh, làm giảm hết những điều mắt thấy tai nghe.
Giác quan mờ tối chỉ còn thân như lá cỏ.
Chỉ vì tùy phận nên phải long đong bôn tẩu
Chưa có cái nhìn thoáng đạt để coi vinh nhục ngang nhau
Trên đầu đã điểm sương tinh thần cũng mỏi mệt.
Có ai bảo mùi vị cám bã dư thừa là thơm !
Thương giống tình quê say đắm hơn ta,
Khêu cạn ngọn đèn tàn trong đêm lạnh còn thích ngâm vịnh.


_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: Lưu Hương Ký   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Wed 18 Nov 2009, 02:36

KÝ SƠN NAM THƯỢNG TRẤN HIỆP TRẤN HẦU (I, II) (*)

I

Vác cắm đàn tao một ngọn cờ,
Ấy người thân đấy phải hay chưa,
Lắc đầy phong nguyệt lưng hồ rượu,
Dắt lỏng giang hồ nửa túi thơ
Đình Nguyệt góp người chung đỉnh lại,
Trời Hoan mở mặt nước non xưa.
Bấy nay tài tử bao nhiêu tá,
Thèo đảnh khen ai kẻ đặt cho.

----------
(*) Gửi ông Trần Hầu, – Hiệp trấn Sơn Nam thượng. Dưới đề này, Lưu hương ký chép hai bài. Ngờ rằng bài thứ hai là bài họa của Trần hầu.


II

Trận bút xông pha quyết giật cờ,
Tài tình ai đã biết cho chưa.
Giấc Vu man mác năm canh nguyệt,
Duyềnh Ngự lênh đênh một lá thơ.
Tơ liễu đã khoe tài lạ trước,
Nguồn đào học hỏi lối quen xưa,
Giai nhân tài tử dường nào đấy
Hay nợ bình sinh chửa giả cho.



XUÂN HƯƠNG TẶNG HIỆP QUẬN

Hẹn thu hẹn nguyệt luống ăn năn,
Cái kiếp phù sinh những nợ nần.
Cửa viện xuân về hoa mát mẻ,
Đài trang mây náu nguyệt băn khoăn.
Duyềnh xanh nước chảy tin lai láng,
Lá thắm thơ gieo bút ngại ngần.
Son phấn dám đâu so ngọn bút,
Mượn tay thị tướng nhắc đồng cân. (1)

----------
(1) Bài này không có trong Lưu hương ký, nhưng tình điệu thuộc loại trong tập này. Được phát hiện tại Thanh Hoá (Tạp chí Văn học số 3-1974). Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã hiệu đính 3 chữ "mát mẻ" và "náu" ở câu 3-4 từ các chữ "mủm mỉm", "tỏ" ở văn bản cũ.



CẢM CỰU TỐNG TÂN XUÂN CHI TÁC (I, II) (*)

I

Xuân này nào phải cái xuân xưa,
Có sớm ư? thời lại có trưa.
Cửa đông hoa còn thưa thớt bóng,
Buồng thoa oanh khéo dập dìu tơ
Phong lưu trước mắt bình hương nguội,
Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ.
Cân vàng nửa khắc xuân lơ lửng,
Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.

----------
(*) Đề bài thơ hơi lạ. Người ta thường nói "Tống cựu nghênh tân" (tiễn năm cũ, đón mừng năm mới), ở đây lại “Tống tân xuân”. Vì thế ông Nguyễn Lộc đã dịch: Bài thơ làm cảm năm cũ, tiễn đưa năm mới. (Nxb Văn học, Hà Nội, 1982, tr 78).

II

Mới biết vị đời chua lẫn ngọt
Mà xem phép tạo nắng thì mưa.
Tri âm đắp nửa chăn còn ngắn,
Bức vách nghe xa tiếng đã thừa.
Nếm mía vụ này ngon những ngọn, (1)
Trông gương ngày nọ bẵng như tờ.
Xưa nay còn có đâu hơn nữa,
Hay những từ đây, phải thế chưa ?

----------
(1) Mía chính vụ vào dịp heo may trước tết. Tục ngữ có câu “Mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn”. Tháng ba mía còn non không ngọt. “Nếm mía vụ bày ngon những ngọn” là nếm mía trái vụ chỉ thấy nhạt nhẽo. Tác giả dùng hình ảnh này để tả nỗi quá lứa lỡ thời của người con gái.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: Lưu Hương Ký   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 I_icon13Wed 18 Nov 2009, 02:42

THUẬT Ý KIÊM TRÌNH HỮU NHÂN MAI SƠN PHỦ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.
Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan thảo tương kì tài nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.
Giang bát bát,
Thuỷ hoạt hoạt,
Ngã tư quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.
Thi tiêu tiêu,
Tâm thiết thiết,
Nồng dạm thốn tình tư lưỡng đạt,
Dạ ưng quân bút pháp.
Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt không linh khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương.
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.
Nhật kì kì,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kì.
Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thì phó tình nhi.
Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm.
Nhất tự sầu phân ly,
Hà nhân noãn bán khâm.
Mạc đàm li khúc oán tri âm,
Trực tư khí trí thử dao cầm,
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.
Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì,
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô thị bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi,
Hảo tư tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ giai kì.

(GIANG NAM ĐIỆU)

Dịch văn xuôi :

NÓI RÕ Ý MÌNH, GỬI BẠN MAI SƠN PHỦ


Hoa bay phất phơ,
Cây rung xào xạc,
Giấc mộng tình quê của ta sao mà vắng vẻ,
Cảm động biết bao đêm xuân này !
Con hươu kêu ngơ ngác,
Con nhạn kêu ngẩn ngơ,
Cuộc gặp gỡ vui vầy trong một sáng
Làm sao nói hết nỗi lòng ta ?
Dòng sông chảy băng băng,
Mặt sông trôi dập dềnh
Ý ta lòng chàng sao mà hòa hợp !
Ngăn lệ đầm đìa trên áo vải.
Thơ ta đắm say,
Lòng ta say đắm,
Một tấc lòng nồng đượm chàng đã rõ,
Mượn bút chàng hãy ngỏ giùm ta !
Gió thổi vi vu,
Trăng sáng mênh mông,
Gió trăng luống làm cho lòng người đứt ruột
Đâu nơi nào là gác Đằng Vương !
Dải mây xanh xanh,
Dòng nước long lanh,
Sao cứ nhìn vào một vùng mây nước ấy,
Vọng nhìn hoài một chỗ, lòng trống trải.
Ngày dài đằng đẵng
Đêm dài lê thê
Suốt ngày đêm buồn cho người xa vắng.
Lòng buồn nhưng chớ nhớ kỳ hò hẹn.
Gió hiu hiu,
Mưa lất phất,
Mưa gió càng thôi thúc ngòi bút viết,
Nhưng viết rồi lại cũng viết về chàng.
Chàng có lòng
Ta cũng có lòng
Trong hồn mộng quyến luyến nhau dưới bóng liễu.
Thơ ta cùng ngâm,
Trăng ta cùng thưởng,
Từ lúc buồn chia tay chàng,
Ai là người chỉ ấm nửa chăn ?
Chớ gảy điệu đàn ly biệt mà oán bạn tri âm,
Hãy cất chiếc đàn đi,
Và hiểu thầm nhau trong khúc cao sơn lưu thủy.
Đừng buồn hận và than cho nỗi xưa nay.
Chàng có hẹn gì đâu ?
Ta có hẹn gì đâu ?
Mà lữ đình hai ta cùng nân ná.
Trà đã từng pha,
Bút đã từng viết,
Chỗ nào cũng bút mực ngâm nga.
Nhưng người tình ở nơi nào ?
Tốt nhất là hiểu nhau bằng tấm lòng,
Và trao cho nhau mối duyên này
Tấm lòng thơm thề chẳng phụ với kỳ hò hẹn.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời - Page 2 Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
 
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN THƠ :: THƠ SƯU TẦM :: Cổ Thi-