Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Kệ Đại Hồng Chung sc Đào Liên by mytutru Today at 03:59

Hỏi by Tinh Hoa Today at 02:46

CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Yesterday at 21:53

Quán nước ven đường by cohangnuoc Yesterday at 21:53

VIỆT NAM CHỐNG COVID-19 by buixuanphuong09 Yesterday at 20:10

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 15:21

CHUYỆN VỤN (Phương Nguyên) by buixuanphuong09 Yesterday at 13:50

THƠ HOẠ NGOÀI by buixuanphuong09 Yesterday at 13:34

KN MÙA DỊCH SIÊU VI 2020 by mytutru Yesterday at 11:07

Bộ sưu tập cánh vẩy 4 by buixuanphuong09 Yesterday at 10:33

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Yesterday at 05:15

Tết by Tinh Hoa Yesterday at 00:04

THƠ HUỲNH KIM NHÂN by HUỲNH KIM NHÂN Fri 03 Apr 2020, 21:48

Lợi dụng khủng hoảng khẩu trang, Trung Quốc « thi ân » cho nhân loại by Trà Mi Fri 03 Apr 2020, 20:51

Các huynh tỷ đệ muội ơi! by Phương Nguyên Fri 03 Apr 2020, 16:55

Chút tâm tư by Shiroi Fri 03 Apr 2020, 16:19

HSN_STAY HOME by Shiroi Fri 03 Apr 2020, 16:16

ĐỨC PHẬT CÓ TỨC GIẬN KHÔNG by mytutru Fri 03 Apr 2020, 10:58

LỖI TẠI EM CÔ VY by Trà Mi Fri 03 Apr 2020, 10:28

Bài thơ tình ABC by Tinh Hoa Fri 03 Apr 2020, 01:54

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Thu 02 Apr 2020, 18:30

CÒN QUẬY NHIỀU by buixuanphuong09 Tue 31 Mar 2020, 14:05

Virus - Covid - 19 by bounthanh sirimoungkhoune Tue 31 Mar 2020, 11:02

Mưa hoàng hôn by Tinh Hoa Tue 31 Mar 2020, 01:11

Đứa Bé Cúng Dường Nắm Đất Sau Làm Vua by mytutru Mon 30 Mar 2020, 16:49

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Mon 30 Mar 2020, 09:31

Đức Phật Không Cứu Được Người Thân by mytutru Mon 30 Mar 2020, 03:33

Bốn Điều Phật Không Làm Được by mytutru Mon 30 Mar 2020, 02:24

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Sun 29 Mar 2020, 22:07

Truyện Thơ Cổ Tích by bounthanh sirimoungkhoune Sun 29 Mar 2020, 22:06

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Tue 03 Nov 2009, 00:56

HỒ XUÂN HƯƠNG, THƠ VÀ ĐỜI

LỮ HUY NGUYÊN (Tuyển, soạn, giới thiệu)

Nhà xuất bản VĂN HỌC 2004


MỤC LỤC


    HỒ XUÂN HƯƠNG, THƠ VÀ ĐỜI
    THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG
      Tranh Tố nữ
      Giếng thơi
      Bánh trôi
      Quả mít
      Ốc nhồi
      Đồng tiền hoẻn
      Cái quạt (I)
      Cái quạt (II)
      Trống thủng
      Miếng trầu
      Tát nước
      Dệt cửi
      Thiếu nữ ngủ ngày
      Đánh đu
      Lũ ngẩn ngơ
      Phường lói tói
      Xướng họa với Chiêu Hổ (I, II, III)
      Không chồng mà chửa
      Dỗ người đàn bà khóc chồng
      Bỡn bà lang khóc chồng
      Cái nợ chồng con
      Làm lẽ
      Khóc Tổng Cóc
      Khóc ông phủ Vĩnh Tường
      Tự tình (I)
      Tự tình (II)
      Tự tình (III)
      Quan thị
      Sư bị ong châm
      Cái kiếp tư hành
      Sư hổ mang
      Đá Ông Chồng Bà Chồng
      Đài Khán Xuân
      Chùa Quán Sứ
      Đền Sầm Nghi Đống
      Động Hương Tích
      Chợ Trời chùa Thầy
      Hang Thánh Hóa
      Hang Cắc Cớ
      Kẽm trống
      Quán Khánh
      Đèo Ba Dội
      Cảnh chùa ban đêm
      Cảnh thu
      Trăng thu
      Hỏi trăng

    CÂU ĐỐI LƯU TRUYỀN
    LƯU HƯƠNG KÝ
      Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ (I, II)
      Tốn Phong đắc mộng chi dữ ngã khan nhân thuật ngâm tịnh ký
      Họa Tốn Phong nguyên vận
      Tặng Tốn Phong tử
      Bạch Đằng Giang tặng biệt
      Lưu biệt thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ
      Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn hầu
      Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký
      Họa Sơn Phủ chi tác
      Nguyệt dạ ca (I)
      Nguyệt dạ ca (II)
      Thệ viết hữu cảm
      Tự thán (I)
      Tự thán (II)
      Dữ Sơn nam thượng hiệp trấn Trần hầu xướng họa (I, II, III, IV, V, VI)
      Ký Sơn Nam thượng hiệp trấn Trần hầu (I, II)
      Xuân Hương tặng Hiệp quận Cảm cựu tống tân xuân chi tác (I, II)
      Tuật ý kiêm trình hữu nhân
      Mai Sơn Phủ Xuân đình lan điệu

    NĂM BÀI THƠ ĐỀ VỊNH HẠ LONG
      Độ hoa phong (Qua vũng Hoa Phong).
      Trạo ca thanh (Trội tiếng ca chèo).
      Nhãn phóng thanh (Mắt tỏa màu xanh).
      Thủy vân hương (Về chốn nước mây).
      Hải ốc trù (Ngóng đỉnh Toan Ngoan).

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21


Được sửa bởi Ý Nhi ngày Mon 23 Nov 2009, 23:50; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Tue 03 Nov 2009, 01:08

THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG



TRANH TỐ NỮ

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng.
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Phiếu mai chi dám tình trăng gió, (1)
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh, (2)
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ,
Trách người thợ vẽ khéo vô tình.

----------
(1), (2). "Phiếu mai"; (Quả mai rụng). Trong Kinh thi nói "quả mai rụng mười phần còn bảy... mười phần còn ba", ví người con gái đã muộn thì, cần có một người chồng. Câu này dùng chữ "Phiếu mai" để nói người con gái sợ lỡ thì nên chuyên tâm vào việc kén chồng, không dám nghĩ đến chuyện trăng hoa nữa. Nhưng người đẹp trong tranh thì tính sao được việc chồng con? Nên cứ đành mãi mãi giữ thân phận mỏng manh, son sẻ. (Chú thích phần thơ nôm do Nguyễn Bỉnh Khôi).


GIẾNG THƠI (1)

Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi,(2) giếng lạ lùng
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai đã biết (3)
Đố ai dám thả nạ dòng dòng.(4)

----------
(1) Giếng thơi: Giếng sâu.
(2) Thanh thơi: Trong và sâu.
(3), (4). Thả nạ dòng dòng: Tục ngữ có câu: "Dòng dòng theo nạ", nạ nghĩa là mẹ.



BÁNH TRÔI

Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.(1)
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son (2)

----------
(1) Bánh trôi khi luộc trải qua chìm nổi mấy lần trong nước mới chín.
(2) Tấm lòng son: Bánh trôi khi luộc chín thì nhân đường bánh trôi ở giữa đỏ thắm như son: ví với người con gái dù có long đong ba chìm bảy nổi, vẫn giữ tấm lòng thành thực trong tình yêu.



QUẢ MÍT

Thân em như quả mít trên cây,
Vỏ nó sù sì, múi nó dày.
Quân tử có yêu thì đóng cọc,(1)
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

----------
(1) Đóng cọc: Cọc đóng sâu vào nõ quả mít đem phơi nắng cho chóng chín.


ỐC NHỒI

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi,
Quân tử có thương thì bóc yếm, (1)
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

----------
(1) Bóc yếm : Chỉ cái vẩy ốc với dụng ý lỡm.


ĐỒNG TIỀN HOẺN (1)

Cũng lò cũng bễ cũng be than,
Mở mặt vuông tròn với thế gian.
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan. (2)

----------
(1) Đồng tiền hoẻn : Đồng tiền bé, tức tiền kẽm, đơn vị nhỏ nhất trong tiền tệ của ta thời xưa.
(2) Quan : Quan tiền là đơn vị tiền lớn, thông dụng, gồm nhiều xâu tiền kẽm. Đồng kẽm nếu tính đủ số, cũng thành một quan tiền hẳn hoi.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21


Được sửa bởi Ý Nhi ngày Fri 13 Nov 2009, 20:22; sửa lần 3.
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Wed 04 Nov 2009, 00:00

CÁI QUẠT (I)

Mười bảy hay là mười tám đây (1)
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
Mỏng dầy chừng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp đường nào, cắm một cay.(2)
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.(3)
Chúa dấu vua yêu một cái này.

----------
(1) Mười bảy, mười tám: Số nan quạt giấy, cũng nói tuổi của thiếu nữ.
(2) Cay: Cái suốt của quạt giấy, hải đầu có mảnh kim loại (nhài quạt) hình tròn để chốt các nan lại ở hai nan cái.
(3) Cậy: Giống cây hồng, quả bé và chát, nhựa dùng để phất quạt. "Má hồng không thuốc mà say" (Cung oán ngâm khúc).



CÁI QUẠT (II)

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,(1)
Duyên em dính dán tự bao giờ,(2)
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

----------
(1) Lỗ xâu: Các nan quạt đều có một cái lỗ để xâu bằng cái suốt.
(2) Dính dán: Cái nhài quạt chốt các nan quạt lại cho khỏi xổ, để có thể mở ra, khép vào. Dính dán ở đây có nghĩa là kết dính hoặc kết tạo, chứ không phải "dính dáng" với nghĩa liên can.



TRỐNG THỦNG

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi,
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi.
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc,
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi.
Khi giang thẳng cánh bù khi cúi,
Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi.
Nhắn nhủ ai về thương lấy với, (1)
Thịt da ai cũng thế mà thôi. (2)

----------
(1), (2) Yêu và thương gắn bó với nhau. Trên cơ sở đó, Hồ Xuân Hương không ưa lối thô bạo.


MIẾNG TRẦU (1)

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi (2)
Này của Xuân Hương mới quệt (3) rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại (4)
Đừng xanh như lá bạc như vôi!

----------
(1) Miếng trầu: Một khẩu trầu gồm ba thành phần chính hợp lại là trầu không, cau và vôi. Vỏ (rễ) và thuốc lào là thành phần phụ gia.
(2) Trầu hôi: Lá trầu không loại xấu, nhỏ lá và có mùi hôi.
(3) Quệt: Quệt vôi vào lá trầu rồi mới têm.
(4) Cau đậu (cau kén), trầu lá to và mỡ, vôi vừa phải, khi ăn thì ăn không đỏ và miếng trầu không ngon. Nhà thơ nói, về cái hẩm hiu của duyên phận.



TÁT NƯỚC

Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm, (1)
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be. (2)
Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa, (3)
Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve. (4)
Ham việc làm ăn quên cả mệt,
Dạng hang một lúc đã đầy phè.

----------
(1) Ba góc chụm : Nhìn nghiêng thì cái gầu dây có thể quy vào hình tam giác, khác với gầu sòng có hình thang.
(2) Bốn bờ be : Tát nước thì phải be bờ.
(3), (4). Hai câu này miêu tả rõ động tác tát nước gầu dây (giai).

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Wed 04 Nov 2009, 00:04

DỆT CỬI

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con cò (1) mấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt (2) đâm ngang thích thích mau.
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ (3)
Chờ đến ba thu mới dãi màu. (4)

----------
(1) Con cò: Con cò đặt ở trên và chính giữa khung dệt để thắng sợi, làm chuẩn mực cho cái go khỏi lệch theo.
(2) Suốt: ống suốt cuốn chỉ, nằm trong ruột con thoi để nhả sợi.
(3) Ngâm cho kỹ: Sợi vải hồ bằng nước cơm đem ngâm lâu cho bền và óng màu hồ.
(4) Chờ đến nắng hanh của ba tháng thu, nhấn nâu đem dãi nhiều lượt thì vải nhuộm mới lên màu và sẫm dần lại.



THIẾU NỮ NGỦ NGÀY


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông.
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long. (1)
Đôi gò Bồng Đảo (2) sương còn ngậm.
Một lạch Đào Nguyên (3) suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt.
Đi thì cũng dở ở không xong.

----------
(1) Nương long : Ngực. Tục ngữ có câu : “Nương long mỗi ngày mỗi cao; Má đào mỗi ngày mỗi đỏ”, nói sự phát triển của tuổi dậy thì.
(2), (3). Bồng Đảo tức Đảo Bồng Lai; Đào Nguyên: Nguồn đào, các tên riêng trong văn học và là hình ảnh vẻ đẹp thần tiên. Thành ngữ có câu : “Đẹp như tiên Non Bồng”. Hồ Xuân Hương dùng ca ngợi vẻ đẹp thanh tân của cơ thể thiếu nữ.


ĐÁNH ĐU


Bốn cột khen ai khéo khéo trồng, (1)
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá. (2)
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không! (3)

----------
(1) Bốn cột: Bốn cây tre trồng làm cây đu.
(2) Chơi xuân: Cuộc vui chơi đón xuân. Biết xuân: Biết tình xuân.
(3) Cuối vụ chơi xuân, các cột đu lại nhổ đi hết, chỉ còn trơ lại các lỗ cọc và rồi người ta sẽ lấp đi. Hồ Xuân Hương chua chát nói về thói vô tâm rất đáng trách về phía nam giới.



LŨ NGẨN NGƠ (1)

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ ?
Lại đây cho chị dạy làm thơ,
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.

----------
(1) Bọn học trò mới lớn, ngốc nghếch, rủ nhau kéo đàn kéo lũ đi ghẹo gái, lại tập tọng đua đòi vần vè ví von, nên Hồ Xuân Hương lấy làm khó chịu mà viết bài thơ này.


PHƯỜNG LÒI TÓI (1)

Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,
Cũng đòi học nói nói không nên.
Ai về nhắn bảo phường lòi tói.
Muốn sống đem vôi quét trả đền !

----------
(1) Lòi tói : Dây sắt gồm nhiều vòng móc vào nhau. Trong cách chấm thơ văn xưa thường là khuyên và sổ, song cũng có lúc đùa mà khuyên móc xích nhiều vòng gọi là khuyên lòi tói khi gặp những đoạn văn viết bạt mạng, ẩu xị. Bọn học trò mới lớn kéo nhau đi vãn cảnh chùa. Hồ Xuân Hương không chịu nổi việc đó nên nặng lời quở trách.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21


Được sửa bởi Ý Nhi ngày Fri 13 Nov 2009, 20:23; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Thu 05 Nov 2009, 03:06

XƯỚNG HỌA VỚI CHIÊU HỔ (I, II, III) [1]


XƯỚNG (I)

Anh đồ tỉnh, anh đồ say.
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày ?
Này này chị bảo cho mà biết.
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.


CHIÊU HỔ HỌA LẠI

Này ông tỉnh ! Này ông say !
Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày !
Hang hùm ví bẵng (2) không ai mó,
Sao có hùm con bỗng (3) tróc tay ?

----------
(1) Cuộc xướng họa giữa Hồ Xuân Hương và Chiêu Hổ thực là không tiền khoáng hậu trong lịch sử văn chương của ta. Sức trẻ và tình yêu sự sống, văn tài và cá tính, lối nói toạc móng heo, không úp mở bóng gió nhiều, không dùng biểu tượng hai mặt, ít tử vận (vần chết không họa được) mà chỉ có lộng ngữ (bỡn chữ). Chỉ có ba bài thơ mà đã đi thẳng vào dân chúng và từ lâu đã nảy sinh nhiều giai thoại. Cả đôi bạn đều cân xứng về tài nghệ thơ Nôm, và cũng thật tri âm, tri kỷ, không có một chút gì ngăn cách giữa đôi bạn thanh niên nam nữ.
(2) Ví bẵng tức ví bằng, đọc theo âm trắc của thơ.
(3) Bỗng tức là bồng, đọc theo âm trắc của thơ, mới đúng âm luật.



XƯỚNG (II)


Sao nói rằng năm lại có ba ?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhớ hái cho xin nắm lá đa. (1)


CHIÊU HỔ HỌA LẠI

Rằng gián thì năm, quí có ba (2)
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ rồi, thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

----------
(1) Huyền thoại nói : Trên mặt trăng có cây đa và thằng Cuội ngồi dưới gốc. Cuội còn là một nhân vật trong truyện cổ dân gian có đặc tính đã trở thành thành ngữ “Nói dối như Cuội”. Ở đây nhắc chuyện lên chơi cung trăng và Chiêu Hổ sẽ cho Xuân Hương nắm lá đa, có ý nói Chiêu Hổ cũng chẳng khác gì Cuội “nói Cuội”.
(2) Tiền gián ăn 36 đồng kẽm. Tiền quý ăn 60. Như vậy 5 đồng gián hay 3 đồng quý đều bằng 180 đồng kẽm. Có thể cách hỏi vay của Hồ Xuân Hương với Chiêu Hổ không giao hẹn rõ ràng, cũng có thể cách trả lời chỉ là chữa khéo của Chiêu Hổ.


XƯỚNG (III)

Những bấy lâu nay luống nhắn nhe.
Nhắn nhe toan những sự gùn ghè (1)
Gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám
Chưa dám cho nên phải rụt rè.

CHIÊU HỔ HỌA LẠI

Hỡi hỡi cô bay tố hão nhe (2),
Hão nhe không được, gậy ông ghè.
Ông ghè không được, ông ghè mãi,
Ghè mãi rồi lâu cũng phải rè.

----------
(1) Gùn ghè : gạ gẫm.
(2) Tố hão : Cáo tố hão huyền. Chúng tôi ghi theo Hồ Xuân Hương, giai thoại thơ, của Sở Văn hóa Vĩnh Phú – 1989. Hai chữ này gắn với cách đá đáp của hai bài họa, khác với nhiều bản vẫn chép là “tới bảo”.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Thu 05 Nov 2009, 03:12

KHÔNG CHỒNG MÀ CHỬA

Cả nể cho nên hoá dở dang,
Nỗi niềm nàng có biết chăng chàng.
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc, (1)
Phận liễu sao đà nảy nét ngang. (2)
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa? (3)
Mảnh tình một khối thiếp xin mang. (4)
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có, nhưng mà có, mới ngoan! (5)

----------
(1), (2) ở đây, dùng lối chơi chữ Hán. Chữ Thiên là trời nhô đầu lên thì thành chữ Phu là chồng; chữ Liễu là rõ hoặc hết, đồng âm với cây liễu chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ Tử là con. Hai câu này ý nói: Gái chưa chồng mà sao đã có con trong bụng?
(3), (4) Tình và nghĩa gắn liền đặc tính truyền thống của ta. Hồ Xuân Hương nhấn mạng cái nghĩa, cái trách nhiệm mà người đàn ông nào đó thường vô tâm trước hậu quả để lại cho người phụ nữ.
(5) Tác giả đứng về phía người con gái mà dùng ý một câu ca dao: "Không chồng mà chửa mới ngoan Có chồng mà chửa thế gian sự thường"



DỖ NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÓC CHỒNG

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em bé,
Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung (1)

----------
(1) Tục ngữ có câu: "Xấu máu đừng thèm ăn của độc" Khem: ăn kiêng khi mới ở cữ nên thường nói kiêng khem hoặc kiêng cữ. Miếng đỉnh chung: của ngon vật lạ thường có ở những nơi quyền quí cao sang. ý cả câu: Nếu đã xấu máu mà gặp phải của ngon vật lạ có thèm quá không nhịn được thì dùng ít thôi! Dỗ dành khuyên nhủ và nói bỡn.


BỠN BÀ LANG KHÓC CHỒNG

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì
Thương chồng nên khóc tỉ tì ti.
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo (1)
Cay đắng chàng ơi vị quế chi. (2)
Thạch nhũ, trần bì sao để lại, (3)
Quy thân, liên nhục tẩm mang đi. (4)
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ? (5)
Sinh ký chàng ơi! Tử tắc quy. (6)

----------
(1) Cam thảo: Cỏ ngọt, tên vị thuốc ta.
(2) Quế chi: Cành quế vị cay, tên thuốc ta.
(3), (4) Thạch nhũ nghĩa đen là vú đá; Trần bì: vỏ quít khô, đều dùng làm thuốc. Quy thân: Vị đương quy có ba phần: đầu, thân và đuôi, có tính dược khác nhau; quy thân là phần củ của đương quy. Liên nhục: Hạt sen, cũng dùng làm thuốc; Vì ông chồng là lang thuốc nên tác giả dùng những tên vị thuốc. ý hai câu: Giờ thì kẻ mất người còn, "của anh anh mang, của nàng nàng xách". Bỡn cợt bà lang là ở hai câu này.
(5), (6) Dao cầu: Dao dùng riêng trong nghề thuốc, tác dụng thái thuốc mạnh và nhanh hơn dao thường. Sinh ký tử quy: Sống gửi thác về. Ở đây tác giả vận dụng linh hoạt thành ngữ này. Người phụ nữ goá trẻ này nếu không ở vậy được mà phải qua hai lần đò "thì kỷ vật này sẽ trao lại cho ai? Chàng ơi! Trong cuộc sống tạm bợ này, chỉ có lúc chết đi thì mới có thể về nơi ở mãi mãi cùng chàng được".



CÁI NỢ CHỒNG CON

Hỡi chị em ơi có biết không?
Một bên con khóc một bên chồng.
Bố cu lổm ngổm bò trên bụng,
Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.
Tất cả những là thu với vén, (1)
Vội vàng nào những bống cùng bông (2)
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không?

----------
(1), (2) Duyên đi đôi với nợ, phần gánh chịu thường rơi vào người phụ nữ. Có hạnh phúc thì có hy sinh mà các thiếu nữ cần biết rõ sự thể. Ở đây Hồ Xuân Hương muốn nói đến tài đảm đang của người vợ một con. Tất cả đều tất bật vội vàng : vừa chăm lo cho con mọn vừa chăm lo thu vén việc nhà. Ca dao : “Có chồng chẳng được đi đâu Có con chẳng được đứng lâu nửa giờ.”


LÀM LẼ

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Năm thì mười hoạ chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không.
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm, (1)
Cầm bằng làm mướn, mướn không công. (2)
Thân này ví biết dường này nhỉ (3)
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

----------
(1), (2) Vận dụng các thành ngữ "Cố đấm ăn xôi", "Làm mướn không công". (3) Dường này: nông nổi cụ thể ra đến thế này.
(3) Dường này: nông nổi cụ thể ra đến thế này.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Fri 06 Nov 2009, 00:09

KHÓC TỔNG CÓC

Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, (1)
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi! (2)

----------
(1), (2) "Đứt đuôi nòng nọc", thành ngữ chỉ sự cắt đứt hẳn; "Cóc bôi vôi lại về": Bôi vôi để đánh dấu vào cóc, thì cóc đi đâu rồi cũng lại trở về. Nhưng nay duyên vợ chồng đã đứt hẳn. Cóc đi đã đem theo cả dấu vôi, dẫu có nghìn vàng cũng không chuộc lại được vì mất Cóc là mất luôn cả dấu. Theo cụ Dương Văn Thâm sưu tầm tài liệu về giai thoại thơ Hồ Xuân Hương (tài liệu đã dẫn) thì Hồ Xuân Hương làm bài Khóc tổng Cóc trong thời gian đã lấy ông phủ Vĩnh Tường. Do sự rẽ duyên của người vợ cả và gia đình họ hàng nhà Cóc, nên Hồ Xuân Hương mới đưa cả họ hàng nhà Cóc vào bài thơ để giễu: nhái bén, chẫu chàng, nòng nọc, chẫu chuộc, tất nhiên là giễu một Tổng Cóc còn sống, chứ không phải là khóc khi Tổng Cóc chết, như bấy nay có người hiểu, e rằng bất nhẫn.


KHÓC ÔNG PHỦ VĨNH TƯỜNG

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi! (1)
Cái nợ ba sinh đã trả rồi (2)
Chôn chặt văn chương ba thước đất (3)
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời. (4)
Cán cân tạo hoá rơi đâu mất? (5)
Miệng túi tàn khôn khép lại rồi. (6)
Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc. (7)
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!

----------
(1) Vĩnh Tường: Phủ Vĩnh Tường, thuộc tỉnh Vĩnh Yên. Nhiều giai thoại đều thống nhất về việc Hồ Xuân Hương có lấy lẽ ông phủ Vĩnh Tường.
(2) Nợ ba sinh: Nhân duyên vợ chồng trải qua ba kiếp; sống là một sự trả nợ lẫn nhau (theo Phật giáo). Nợ ba sinh đã trả tức là chỉ người chồng đã chết.
(3), (4) Ông phủ Vĩnh Tường là một người có học vấn (văn chương) nay mất đi, Hồ Xuân Hương mất một người chồng và cũng mất luôn cả một người bạn văn chương. Hồ thỉ: cung và tên, tượng trưng cho chí nam nhi hoặc chí làm trai vốn ở bốn phương trời, không chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình vợ con.
(5), (6) Ông trời là người cầm cân nảy mực đã ở chẳng công bằng, cán cân của ông đã đánh rơi. Càn khôn tức trời đất ví như một cái túi lớn đã khép hẳn lại. Ông Phủ đã đi sang một thế giới khác.
(7) Hồ Xuân Hương sống với chồng trong một thời gian quá ngắn: 27 tháng.


TỰ TÌNH (I)

Chiếc bách (1) buồn về phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng, (2)
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh. (3)
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến, (4)
Dong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh. (5)
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy, (6)
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh! (7)

----------
(1) Chiếc bách : Chiếc thuyền gỗ bách trong văn học gợi hình ảnh tâm trạng một người hóa trẻ với bài thơ Bách chu trong Cổ thi.
(2), (3) Tình và nghĩa vẫn đương còn chan hòa dào dạt. Sóng gió vẫn cứ đe dọa liên tiếp vỗ vào bên ngoài mạn thuyền. Tâm trạng chung của bốn câu đếu là buồn rầu ngao ngán cho thân phận.
(4), (5) Dự định của ai lăm le cầm lái để đưa thuyền đậu vào bến, cũng như kẻ rắp tâm dong lèo để cho cánh buồm vượt qua ghềnh thác mà trôi xuôi cũng thây mặc, vì nhà thơ không quan thiết.
(6), (7) Còn ai nữa là người sẽ tìm đến với mình (thăm ván)? Nếu việc ấy xảy ra thì cũng cam lòng. Mặc dầu cũng chẳng hay gì với chuyện tập tễnh ôm đàn sang thuyền người khác, song tình thế cũng không thể khác được. Cổ thi có câu : “Khẳng bà tỳ bà quá biệt thuyền”, nghĩa là không chịu ôm đàn tỳ bà sang thuyền người khác, để nói chuyện không chịu lấy chồng khác. Tục ngữ “Thăm ván bán thuyền” ở đây vận dụng chỉ có nghĩa là “người mới”, không giữ ý “có mới nới cũ”.


TỰ TÌNH (II)

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom (1)
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc. (2)
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om (3)?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom! (4)

----------
(1) Bom: Mỏm đất.
(2), (3) Mõ và chuông dùng trong nhà chùa có tác dụng làm nguôi dịu lòng người. ở đây nhà thơ vận dụng khác. Mõ thảm, chuông sầu: Tiếng lòng sầu thảm trong đêm khuya vắng lặng không khua không đánh mà vẫn vang lên dữ dội những âm thanh khô khốc, ầm ĩ, cốc như mõ và om như chuông.
(4) Già tom: Như già đanh. Tục ngữ: "Trẻ dôi ra, già co lại".



TỰ TÌNH (III)

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn!
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con! (1)

----------
(1) Bài “Tự tình” thứ ba này như thu lòng mình lại : Xinh, nhẹ, dịu, êm. Các chữ hương, xuân như nhắc đến tên mình một cách thân thương, trìu mến, như trễ nải, như chếch mác, buông lơi. Hồn thơ, chất thơ Hồ Xuân Hương lan tỏa khắp toàn bài.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Fri 06 Nov 2009, 00:23

QUAN THỊ

Mười hai Bà Mụ (1) ghét chi nhau
Đem cái xuân tình vứt ở đâu ? (2)
Rúc rích thây cha con chuột nhắt, (3)
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu. (4)
Đố ai biết đó vông hay trốc (5)
Còn kẻ nào hay cuống với đầu (6)
Đã thế thì thôi, thôi mặc thế.
Trăm năm càng khỏi tiếng nương dâu. (7)

----------
(1), (2) Mười hai Bà Mụ : Thần thoại: Nữ thần đã nặn ra hình đứa bé sơ sinh và trông nom săn sóc nó cho đến năm 12 tuổi. tục lệ cũ ở ta đứa trẻ đầy tuổi tôi thì cúng Mụ. Câu này nói có sự bất hoà giữa mười hai Bà Mụ, nên đứa bé bẩm sinh đã không có sinh thực khí. Từ đây đưa đến đầu bài thơ là Quan thị: bọn hoạn quan, đám quan hầu hạ nhà Chúa thời bấy giờ. (3), (4) Các câu ca dao tiếu lâm đã được nhà thơ vận dụng: “Con gái mười bảy mười ba; Đêm nằm với mẹ chuột tha mất đồ”. – “Bà cốt đánh trống long tong; Nhảy lên nhảy xuống con ong đốt đồ”.
(5), (6) Các câu tục ngữ được nhắc đến: “Ngồi lá vông, chổng mông lá trốc”. – “Đầu trở xuống, cuống trở lên”.
(7) Nương dâu: do thành ngữ “Trên bộc trong dâu” chỉ thói dâm ô. “Ra tuồng trên bộc trong dâu; Thì con người ấy ai cầu làm chi” (Truyện Kiều). Đã là quan thị rồi thì khỏi mang tiếng ấy.



SƯ BỊ ONG CHÂM

Nào nón tu lờ, nào mũ thâm,
Đi đâu chẳng đội để ong châm?
Đầu sư há phải gì... bà cốt, (1)
Bá ngọ con ong bé cái nhầm. (2)

----------
(1), (2) Vận dụng câu ca dao tiếu lâm đã nhắc đến trong câu thứ 4 bài Quan thị.


CÁI KIẾP TU HÀNH (1)

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Buồm từ cũng muốn về Tây Trúc, (2)
Trái gió cho nên phải lộn lèo.

----------
(1) Bài này nói về một nhà sư phá giới.
(2) Xưa người ta gọi nước Ấn Độ là Tây Trúc, quê hương của Phật giáo.


SƯ HỔ MANG

Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lốc, áo không tà.
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên Sư cụ, (1)
Ngất nghểu toà sen nọ đó mà.

----------
(1) Sư cụ: Chủ nhân một ngôi chùa, người có uy tín và cao tuổi hơn cả chỉ có mặt trong các buổi lễ trọng của nhà chùa.


ĐÁ ÔNG CHỒNG BÀ CHỒNG (1)


Khéo khéo bày trò tạo hoá công,
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng.
Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc,
Thớt dưới sương pha đượm má hồng.
Gan nghĩa dãi ra cùng nhật nguyệt,
Khối tình cọ mãi với non sông.
Đá kia còn biết xuân già giặn, (2)
Chả trách người ta lúc trẻ trung.

----------
(1) Hiện vẫn chưa rõ xuất xứ của đá, chỉ mới nghe truyền ngôn.
(2) Xuân già giặn, có nghĩa là già giặn tình xuân. Hồ Xuân Hương tỏ ra rất rộng lượng với tuổi trẻ.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Sat 07 Nov 2009, 04:57

ĐÀI KHÁN XUÂN

Êm ái chiều xuân (1) tới khán đài, (2)
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai!
Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng, (3)
Một vững tang thương nước lộn trời. (4)
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá, (5)
Cực lạc là đây chín rõ mười. (6)

----------
(1) Chiếu xuân: Vẻ xuân.
(2) Khán đài: Trong trại Bách Thảo có một ngôi điện gọi là điện Khán Xuân. Khoảng năm 1916 còn quả núi Khán Sơn hai chỏm. Từ Khán Sơn đến Xuân Sơn hẳn là xóm Khán Xuân đầy thi vị của mạn Hồ Tây, Hà Nội. (Theo Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội của Hoàng Đạo Thuý – Hội Văn nghệ Hà Nội – 1971).
(3), (4) Triêu mộ: Sớm chiều. Tang thương: Dâu bể. Theo nhà thơ Xuân Diệu thì “Hồ Xuân Hương là trong thơ có người, trong thơ có tiên, và trong thơ có quỷ. Tiên là những lúc…” như bốn câu đầu của bài thơ này.
(5), (6) Ca ngợi cực lạc không chỉ ở cõi Nát Bàn, mà ở ngay trong cuộc sống trần gian là một đặc điểm của chủ nghĩa nhân đạo thế kỷ 18 và nửa đầu 19 của văn học truyền thống.


CHÙA QUÁN SỨ

Quán Sứ (1) sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kình (2), tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít (3),
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo
Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo!

----------
(1) Chùa Quán Sứ: Thời cuối Lê -Trịnh thuộc huyện Thọ Xương. Bây giờ ở phố Quán Sứ, Hà Nội.
(2) Chày kình: Chày tạc hình con cá kình bằng gỗ, thay cho vồ đánh chuông.
(3) Tang mít: Tang trống làm bằng gỗ mít.



ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG (1)

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đến thái thú(2) đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

----------
(1) Đền Sầm Nghi Đống trước ở ngõ Sầm Công nay là phố Đào Duy Từ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sầm Nghi Đống là tướng theo Tôn Sĩ Nghị sang ta chiếm đóng thủ đô Đông Kinh (Thăng Long). Nghị bị vua Quang Trung đánh đuổi về Tàu năm 1789. Sầm Nghi Đống chạy không kịp, thắt cổ tự tử ở nơi mà sau khi quan hệ bang giao đã trở lại bình thường vua Quang Trung cho phép Hoa kiều ở Hà Nội lập đền thờ.
(2)Thái thú: Đống làm tri huyện, khi sang Đông Đô được Tôn Sĩ Nghị cho làm chức thái thú.



ĐỘNG HƯƠNG TÍCH (1)


Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm (2)
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hòm.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót, (3)
Con thuyền vô trạo cúi lom khom. (4)
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại, (5)
Rõ khéo trời già đến dở dom.

----------
(1) Động Hương Tích: Động chính của chùa Hương trước thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây.
(2) Khéo phòm: Như khéo phạm, thật là khéo!
(3) Giọt nước... rơi: Các thạch nhũ trên cửa động luôn từng giọt rỏ xuống.
(4) Vòm động có những chạm vẽ của thiên nhiên được hình dung ra cảnh trí như mặt trăng, con thuyền v.v... Vô trạo: Không có bơi chèo.
(5) Nơi rừng suối (lâm tuyền) mà cuốn hút lại đây cả một cảnh phồn hoa đô hội.



CHỢ TRỜI CHÙA THẦY (1)

Hoá công xây đá đắp bao đời,
Nọ cảnh Sài Sơn (2) có chợ Trời.
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng,
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi.
Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn,
Mở phố giang sơn bốn mặt ngồi.
Bán lợi mua danh nào những kẻ
Chẳng nên mặc cả một đôi lời?

----------
(1) Chợ Trời chùa Thầy, hay còn gọi là chợ Trời Sài Sơn cũng như chợ Trời Hương Tích, đều do các phiến đá sắp đặt của thiên nhiên trên một chóp núi được hình dung như một cái chợ của người ta. Với con mắt nhà thơ thì cảnh quan thiên nhiên của chợ Trời chùa Thày rất là kỳ thú.
(2) Sài Sơn: Núi Sài Sơn có chùa Thầy, ở huyện Sài Sơn, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Hà Tây.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21


Được sửa bởi Ý Nhi ngày Mon 30 Nov 2009, 23:40; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
Y Nhi

Tổng số bài gửi : 3173
Registration date : 22/11/2007

Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Empty
Bài gửiTiêu đề: THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG (tiếp theo)   Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời I_icon13Sat 07 Nov 2009, 05:31

HANG THÁNH HOÁ (1)

Khen thay con tạo khéo khôn phàm, (2)
Một đố giương ra biết mấy ngoàm. (3)
Lườn đá cỏ leo sở rậm rạp,
Lách khe nước rỉ mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiểu lưng tròn đứng giữa am.
Đến mới biết là hang Thánh Hoá,
Chồn chân mỏi gối vẫn còn ham!
----------
(1) Tên cái hang trong chùa Thầy. Truyền rằng Từ Đạo Hạnh đã hoá ở đây nên gọi là Thánh Hoá.
(2) Khôn phàm: Như khôn phạm.
(3) Đố ngoàm: Thành ngữ "ngoàm nào đố ấy" nói về cách kiến trúc nhà ở xưa : Một mảnh đố tre thì ngoạm tre; đố gỗ thì ngoàm gỗ. Một đố nhiều ngoàm ở đây nói về cấu tạo hang động tự nhiên. Nếu coi cả vách động là một đố, thì vòm động với các hõm to, nhỏ là những ngoàm.



HANG CẮC CỚ (1)


Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn (2) tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc (3)
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!

----------
(1) Tên một cái hang ở trong chùa Thầy. Ca dao có câu: "Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ; Trai chưa vợ thì đến hội này".
(2) Vô ngạn: Không có thành bờ tay vịn.
(3) Xuyên tạc: Xoi và đục thông qua đá.



KẼM TRỐNG (1)

Hai bên thì núi giữa thì sông.
Có phải đây là Kẽm Trống Không?
Gió giật sườn non khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
Ở trong hang núi còn hơi hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.
Qua cửa mình ơi! Nên ngắm lại, (2)
Nào ai có biết nỗi bưng bồng. (3)

----------
(1) Kẽm Trống ở huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, nay thuộc Nam Hà. Kẽm: Hẻm giữa hai sường núi dốc, giữa có lối đi.
(2), (3) Bồng: Tên một thứ trống. Trong lễ hội xưa có điệu múa trống gọi là múa con đĩ (gái) đánh bồng.



QUÁN KHÁNH (1)

Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo, (2)
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo.
Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác,
Xo kẽ kèo tre đốt khẳng kheo. (3)
Ba chạc cây xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biếc cành leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai nó lộn lèo.

----------
(1) Quán Khánh: Các công trình nghiên cứu và các văn bản có chú thích đều thống nhất ghi là ở tỉnh Thanh Hoá, song chưa rõ huyện nào.
(2) Hắt heo: Âm chính xác là hắt hiu.
(3) Khẳng kheo: Âm chính xác là khẳng khiu.



ĐÈO BA DỘI (1)

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

----------
(1) Đèo Ba Dội hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Không phải Đèo Ngang như có sách đã nhầm.

_________________________
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời Signat21
Về Đầu Trang Go down
https://www.daovien.net
 
Hồ Xuân Hương, Thơ và Đời
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN THƠ :: THƠ SƯU TẦM :: Cổ Thi-