Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
TÌNH YÊU LAN by buixuanphuong09 Today at 12:45

THIỀN TUỆ (diệt trừ đau khổ) by mytutru Today at 11:37

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Today at 08:05

Bài thơ Người ngoài phố by cacheptrang111 Today at 07:49

Funny question part 5 by cacheptrang111 Today at 07:44

Truyện cười phần 1 by cacheptrang111 Today at 07:42

TÌNH YÊU CÂY CỎ ĐV 9 by buixuanphuong09 Yesterday at 13:02

CHUYỆN ANH BÁN VÍ (Hàn Phong) by Phương Nguyên Yesterday at 10:24

VẮNG by Phương Nguyên Fri 23 Sep 2022, 20:42

Xem ngày tốt khai trương by phongthuysovn Fri 23 Sep 2022, 08:37

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Fri 23 Sep 2022, 06:51

TRANG ALBUM GIA ĐÌNH KỶ NIỆM CHUYỆN ĐỜI by mytutru Fri 23 Sep 2022, 03:27

Lập lá số tử vi trọn đời by phongthuynguyenhoang Thu 22 Sep 2022, 21:20

PHẦN MỀM GIEO QUẺ KINH DỊCH ONLINE – LẬP QUẺ KINH DỊCH CHÍNH XÁC NHẤT by phongthuynguyenhoang Thu 22 Sep 2022, 21:06

ĐƯỜNG THƠ MÁI ẤM ĐÀO VIÊN by mytutru Thu 22 Sep 2022, 18:37

Sĩ thi by mytutru Thu 22 Sep 2022, 17:46

HỌC TRÒ BỊ PHẠT (tập danh hoa) by Phương Nguyên Wed 21 Sep 2022, 21:59

CHẠY TRỜI KHÔNG KHỎI NẮNG by Trà Mi Wed 21 Sep 2022, 13:03

Sự Tích Các Loài Hoa by Trà Mi Wed 21 Sep 2022, 12:45

Truyện Tấm Cám by Trà Mi Wed 21 Sep 2022, 12:17

Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác - Nhật Tiến by Trà Mi Wed 21 Sep 2022, 12:11

Thơ hoạ by Trà Mi Wed 21 Sep 2022, 11:46

Giải mã sự thật về đường chỉ tay chữ M biết được vận mệnh cuộc đời by phongthuynguyenhoang Wed 21 Sep 2022, 10:21

la so tu vi by phongthuynguyenhoang Wed 21 Sep 2022, 10:16

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Tue 20 Sep 2022, 20:48

Nó thế thì đã sao! by buixuanphuong09 Tue 20 Sep 2022, 18:14

Tranh Thơ Viễn Phương by Viễn Phương Mon 19 Sep 2022, 20:22

Nói dóc chơi by Tú_Yên tv Mon 19 Sep 2022, 13:06

Tập thơ "Niệm khúc" by Tú_Yên tv Mon 19 Sep 2022, 12:43

TRỌN NHỞ ƠN THẦY by buixuanphuong09 Sun 18 Sep 2022, 11:36

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu

Share | 
 

 Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1 ... 10 ... 16, 17, 18, 19  Next
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Thu 24 Feb 2022, 07:50

Ai Hoa đã viết:
Trà Mi đã viết:
Chương 21

Phan Khôi (1887-1959)



Bài “Hơn hai trăm năm còn thúi” cũng bị cắt, vì ông kể chuyện ngày 11/5/1930, “có một nhà nọ đào móng đặng xây nhà, trong khi đào, phát lộ ra một cái quan tài xưa coi bề ngoài còn chắc. Người ta bèn mở ra xem thấy thi thể đã nát rồi, chỉ còn có bộ xương và quần áo. Quần áo cái dáng vẫn tươi tốt, nhưng khi động tới liền hoá ra tro. (…) Thế nhưng lạ một điều là lúc dỡ ra, hơi hám xông lên vẫn còn thú nực thúi nồng (…) Vậy mới biết giống người ta là giống thúi hơn hết thẩy mọi loài (…) Cái thúi hai trăm năm còn chưa mấy chút; có cái thúi đến muôn năm, là kẻ “di xú vạn niên” kia“.(886)

...

Còn bài Thúi thây bị cắt là đúng lắm, vì Phan dám đụng tới thây ông Lê Ninh. Từ 1930, Phan đã chẳng coi ông thánh này ra gì: “An Nam ta hay mắng những người biết ăn mà không biết làm là “đồ thúi thây”. Kỳ thiệt An Nam ta thuở nay có mấy ai mà thây bị thúi bao giờ. Duy thấy bây giờ cái thây ông Lê Ninh nước Nga bị thúi đó thôi. Việc đời hay tréo nhau là vậy, ông Lê Ninh lại là người ăn ít mà làm nhiều!

Không biết hồi họ ướp xác ông thế nào mà ngày nay đến nỗi thúi ra. Cứ theo tin mới đây thì xác ấy không thể để được nữa mà phải thiêu ra tro. Nếu vậy thì ra khoa học ngày nay lại dở hơn ngày xưa.

Ai có tri thức khá một chút, há không biết bên Ai Cập đời xưa có cái thuật ướp xác để lâu kêu là “momie” hay sao? (…) Xứ Nga lạnh hơn Ai Cập, sao xác ông Lê Ninh lại thúi? (…) Đến như xứ An Nam mình, thuộc về ôn đới, khí hậu điều hòa, có lẽ giữ xác được lâu mà không thúi chăng? Song ngặt vì An Nam ta lại không có cái xác nào đáng ướp hết; cái thây nào cũng đáng để cho thúi quách hết thẩy“.
(887)

Bạn đọc ngày nay phải phục Phan Khôi là tiên tri!

Những việc ông viết cách đây hơn 80 năm mà cứ như bây giờ. Văn học gọi đó là tính hiện đại.


:potay:  

thây "thúi" thì có tẩm ướp thế nào cũng "di xú vạn niên"!  :laughing15:
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Mon 28 Feb 2022, 13:35

Chương 21

Phan Khôi (1887-1959)

Phê Bình Lãnh đạo văn nghệ và Nắng Chiều

Thời kỳ NVGP, Bài Phê bình lãnh đạo Văn Nghệ là tác phẩm tiêu biểu. Phan Khôi vẫn “ngựa quen đường cũ”, xử sự như dưới thời phong kiến, nghĩa là nghĩ sao viết vậy. Ông kê khai toạc hết những nét chính trong đời sống văn nghệ: kiểm duyệt lời nói, chữ viết, cấm phê bình, chỉ đạo sáng tác, đàn áp nhà văn, thánh hóa lãnh tụ, bè phái văn nghệ.

1- “Tôi muốn nói sự thực”- Nhưng người ta bảo: “có những sự thực không nên nói”.

2- “Tôi muốn phê bình”- Nhưng người ta bảo, “phê bình nội bộ thì được, không nên viết lên báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc”.

3- Về việc “giáo dục sáng tác”: “Nhược bằng bắt hết mọi người viết, phải viết theo lối với mình thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết”.

“Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu!”

4- Về sự đàn áp nhà văn: “Hỏi độc tội một Trần Dần thôi là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa những người trong Giai Phẩm, cái ngón ấy đã thành công”.

5- Về việc tôn sùng lãnh tụ: “Tôi còn nhớ có vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ Người viết hoa, lấy lẽ rằng chữ Người viết hoa chỉ để xưng Hồ chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ Người không phải để xưng Hồ chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê mỗ tố cáo ông Nguyễn mỗ trước ngai vàng: “Trong phép viết chỉ có chữ nào thuộc về Hoàng thượng mới phải đai, thế mà tên Nguyễn mỗ viết thư cho bạn dám xài những chữ không phải thuộc về Hoàng thượng. Nhân may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi ở trong phòng họp hội Văn nghệ”.

6- Về tính gian lận trong việc chấm giải thưởng văn học 54-55: “Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban chung khảo. Nếu ở trong ban chung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng. Một người nào có con em đi thi thì người ấy có được cắt cử cũng phải hồi tỵ, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không hồi tỵ, một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã liêm chính cả rồi, một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái miệng đã bị vú lấp”.

Phê bình lãnh đạo văn nghệ trở thành kim chỉ nam cho các nhà văn trên con đường đòi tự do tư tưởng. Dưới cái tựa: Phê bình lãnh đạo văn nghệ, Phan Khôi phê bình cả lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh, điều không thể chấp nhận được trong xã hội cộng sản.

Còn một tác phẩm nữa, hầu như không ai biết, đã bị chôn vùi, đó là tập truyện ngắn Nắng chiều. Vào lúc “dầu sôi lửa bỏng”, toàn bộ NVGP đã bị đóng cửa được một năm, đang chờ lệnh của Đảng, Phan Khôi đem tập Nắng chiều đến Hội Nhà Văn để in. Trong bài Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi, Đoàn Giỏi viết:

“Tháng 12/1957, Phan Khôi đưa đến nhà xuất bản Hội Nhà Văn một xấp bản thảo dầy, bên ngoài đề hai chữ “Nắng chiều”
888. Mượn giọng đả kích, để công bố cho hậu thế biết nội dung tác phẩm cuối cùng của Phan Khôi, Đoàn Giỏi đã bị trừng phạt như một thành viên NVGP.

Nắng chiều, gồm những bài bút ký và tạp văn viết trong kháng chiến, và mấy bài viết sau 1954: Cầm vịt, Tiếng Chim, Cây Cộng sản, Thái văn Thu, Chuyện ba ông vua Càn Long, Quang Trung và Chiêu Thống, Giới thiệu Nguyễn Trường Tộ. Đoàn Giỏi đã giới thiệu từng văn bản một: Truyện Thái văn Thu chống lại bạo lực cách mạng và sự đàn áp NVGP. Chuyện ba ông vua… đả kích chế độ phong kiến ngày nay. Bài Nguyễn Trường Tộ so sánh chế độ hiện hành với những triều đại phong kiến trước. Riêng hai bài Cầm vịtTiếng chim, Phan Khôi “đánh vào vấn đề căn bản của chủ nghiã Mác-Lê Nin”, để xác định: Xã hội không có đấu tranh giai cấp. Của ai người nấy ăn. Vấn đề đấu tranh giai cấp chỉ là kiểu rình phần ăn của kẻ khác. Đoàn Giỏi trích một đoạn trong bài Tiếng chim của Phan Khôi: “Một lần ở Cẩn Nhân, tôi ngồi nơi nhà sàn, thấy hai con quạ rình bắt con gà con, một con bắt được bay ra đứng ở bờ ruộng, xé con gà ra ăn; còn con kia bị gà mẹ chống cự, bắt không được, cũng bay ra đứng cạnh con quạ thứ nhất, nó nhìn sững và đi đi lại lại, rồi cũng bay đi tuốt, nó không hề nói: “Mầy phải cho tao với!”

Đoàn Giỏi giải thích như sau: “Vấn đề thứ nhất Phan Khôi đặt ra là không có người bóc lột người. Vấn đề thứ hai là của ai người ấy ăn. Cho đến thứ quạ kia còn biết giành giật cái miếng không phải của nó là không ổn, và không hề nói: Mầy phải chia cho tao với“.

Bài thứ nhì Cây Cộng sản được giới thiệu khá kỹ, Đoàn Giỏi viết: “… Cây Cộng sản, ngay câu đầu, Phan Khôi đã chỉ ngay vào Việt Bắc, quê hương cách mạng:

“Có một thứ thực vật nữa cũng như sen nhật bản, ở xứ ta trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy chỉ thấy trong mấy tỉnh Việt Bắc không chỗ nào là không có”. Đầu tiên Phan Khôi thấy nó rải rác mấy nơi ở tỉnh Phú Thọ, và nhiều nhất là ở Thái Nguyên và Tuyên Quang. Nó mọc trên thị trấn bị ta phá hoại “như rừng, ken kít nhau”. Nơi gọi là Cỏ Bù-xít vì nó có mùi hôi như con bọ xít, nơi gọi là Cây Cứt lợn, nơi gọi là Cây chó đẻ. “Tên đều không nhã tí nào hết” thứ cây ấy những người có học không gọi bằng Cây Cứt lợn dại, mà gọi bằng Cây Cộng sản“.
(889)

Rồi Đoàn Giỏi kể tiếp về gốc gác cái tên này: Phan Khôi bịa ra là trước kia xứ ta không có cây này, người Pháp đem đến giồng ở các đồn điền cà phê, cao su, rồi chẳng bao lâu nó lan ra, không diệt được, tình trạng này bắt đầu từ những năm 1930-31, cùng lúc Đông Dương Cộng Sản Đảng bắt đầu hoạt động, “phong trào Cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là “herbe communiste”, đáng lẽ dịch là cỏ Cộng sản, nhưng nhiều người gọi là Cây Cộng sản. Nó còn một tên nữa rất lạ…”

Tên này là gì? Thì Phan Khôi lại bịa lời một ông già Thổ: “ông nói tên nó là “Cỏ cụ Hồ”. Thứ cỏ này trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường xá đồi đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó như vậy”.

Tại sao Phan Khôi đem Cây Cứt lợn, cũng gọi là Chó đẻ, là Bọ xít “toàn những tên không nhã tý nào nào hết” để gọi nó là Cây Cộng sản và Cỏ cụ Hồ?“
(890)

Câu hỏi “ngây thơ” của Đoàn Giỏi chứng tỏ sự “đồng loã” của ông với tác giả Nắng Chiều. Và Đoàn Giỏi đã phải trả giá. Đây là lần cuối cùng Phan Khôi dùng ngòi bút châm biếm của mình để chống lại sự độc tài và dốt nát, mà ông đã mục kích và đả kích từ năm 1930.

Cũng về tập bản thảo Nắng Chiều, Chế Lan Viên lại một lần nữa hiện ra như một hung thần của trí thức và chữ nghiã qua sự mô tả của Đào Vũ: “Đồng chí Chế Lan Viên lúc ấy có đọc bản thảo kia”, “Đồng chí Chế Lan Viên lúc ấy có phân tích nhiều mặt về những ám ý xấu xa, phản động trong những “tìm tòi” ấy của Phan Khôi; và tỏ ý rất công phẫn. Chúng tôi cũng đồng tình”. Vẫn theo Đào Vũ, khi “Phan Khôi nói với chị Chế Lan Viên nên về khuyên bảo anh ấy đừng đi theo lãnh đạo“, thì Đồng chí Chế Lan Viên “lên tận phòng của y cho một bữa nên thân. Những nào: Đừng cậy già mà nói láo, đây ba mươi năm nữa cũng già, đồ đốn mạt đồ hèn v.v…”(891)
________________

(888) Đoàn Giỏi, Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi, Văn Nghệ số 15, tháng 8/1958, in lại trong Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí.

(889) Đoàn Giỏi, bđd.

(890) Đoàn Giỏi, bđd.

(891) Đào Vũ, Tính cách vô lại và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay, Văn nghệ, số 12, tháng 5/1958 – Số đặc biệt thứ hai chống NVGP.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Fri 25 Mar 2022, 08:39

Chương 21

Phan Khôi (1887-1959)

Phê Bình Lãnh đạo văn nghệ và Nắng Chiều

Những ngày tháng cuối

Gia đình Phan Khôi nhận hậu quả cuộc “đấu tranh giai cấp” khi ông đang ở Việt Bắc. Đào Vũ kể:

“Đồng chí cùng quê với Phan Khôi ôn lại chuyện nhân dân địa phương căm thù định đến tàn phá nhà Phan Khôi từ phong trào bình dân (1936) và cho biết, ý định ấy mãi đến sau cách mạng (sau 1945) mới thực hiện được: Những nương dâu phì nhiêu kia của Phan Khôi bà con nông dân đã giành lấy về tay chia nhau trồng trọt, tre nhà Phan Khôi, vì căm thù, bà con đốn không còn một gốc, nhà của Phan Khôi, bà con đập lấy gạch về xây bao nhiêu hầm khắp làng để che chở cho dân làng kháng chiến trường kỳ. – Giữa Phan Khôi và nông dân địa phương từ bao lâu, đã diễn ra một cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt“(892)

Sau Nhân Văn, Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, Trần Duy viết: “Cũng từ dạo ấy, tôi thấy sức khoẻ của ông Phan Khôi sa sút. Có lúc thấy ông đi không vững. Có lúc thấy ông khó thở. Ông nói với tôi ông bị sốt thường xuyên, xin được đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy giới thiệu.

Một buổi chiều tôi đến 51 Trần Hưng Đạo thì gặp cảnh: Một quan chức có quyền lực quát đuổi vợ chồng ông ra khỏi số nhà 51 Trần Hưng Đạo.

Người này quát lớn:

“Tống cổ thằng già khốn nạn này ra khỏi đây!”

Vợ ông, bà Huệ ôm chăn màn, sách vở; ông Phan Khôi lảo đảo theo sau. Ra cổng gặp tôi, ông chào và nói:

“Thôi, anh về đi… Buồn không cần thiết!“
(893)

Bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, Phan Khôi dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền rồi 73 Phố Thuốc Bắc. Lâm Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan, viết về căn nhà cuối cùng này:

“Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kề vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài căn nhà cụ là chân cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng. Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng khép kín, rộng chừng 9 m2, bằng 3/4 gian nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một cửa sổ nhỏ, to bằng bàn cớ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ.

Ban đầu mới dọn về, tôi thấy ba tôi và các chú nhà thơ hay vào phòng cụ Khôi uống trà, bàn chuyện thời sự, bình luận những bài thơ vừa đăng báo; bọn trẻ chúng tôi chạy vô chạy ra nhà cụ để chơi với các anh các chị con cụ, mọi người đều thân thiện, cởi mở. Thế rồi, dần dần tôi thấy có một điều gì đó, lung lắm. Các cô các chú không xởi lởi như trước nữa. Trong cư xử tỏ ra dè dặt, dò xét. Nhà cụ Khôi cứ vắng dần bóng người lớn, vắng dần tiếng trẻ. Không khí trong ngôi nhà nặng nề, xét nét, xa lạ. Tôi hỏi má tôi “tại sao vậy?”. Bà nói nhỏ sợ người khác nghe: ” Ông Khôi đang bị coi là người cầm đầu nhóm Nhân văn – Giai phẩm, con không nên vào nhà cụ, có người đang theo dõi nhà mình đấy…”. Tôi không hiểu Nhân văn – Giai phẩm là tội gì, nặng đến mức nào mà ai cũng sợ liên lụy đến như thế. Tuy không nói ra nhưng ai cũng muốn chứng minh rằng mình không hề có quan hệ thân mật với gia đình cụ Khôi. Họ tránh nhà cụ như thể nhà có bệnh dịch lây lan. (…) Dường như gia đình cụ hiểu được điều băn khoăn của mọi người nên tế nhị lấy báo dán kín cửa sổ lại. Lâu lâu tôi thấy cụ ngang qua nhà, vẫn dáng người cao, nhưng gầy yếu hơn trong bộ đồ tây màu vàng nhạt, tóc còn lơ thơ vài cọng bạc trắng, ẩn sau chiếc mũ phớt màu nâu. Trên tay cụ giờ có thêm chiếc ba-toong, gặp ai cụ không nhìn, mắt hướng thẳng phía trước như chưa hề biết họ.

Như trước đây, tôi vẫn ngồi giặt bên bể nước, cạnh cửa sổ nhà cụ. Tôi liếc nhìn cụ qua cửa sổ. Cụ ngồi trên giường, giờ cụ trầm ngâm, buồn buồn, mắt nhìn đâu đâu, tôi thương cụ quá chừng. Có lần tôi nghe cụ ngâm bằng giọng Quảng Nam: “Làm chi cũng chẳng làm chi/ Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao/ Làm sao cũng chẳng làm sao/ Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi…”
(894)

Cái chết của Phan Khôi

Phan Cừ, Phan An viết: “Ông nằm quay mặt vào tường lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, trong sự túc trực chăm sóc của bà vợ Nguyễn Thị Huệ (…) Cỗ xe song mã màu đen quàn thi hài ông, đi sau là vợ con, cháu cùng một vài bạn hữu tiễn ông lần cuối đến nghiã trang Hợp Thiện ở phía đông thành phố Hà Nội. Trong chiến tranh, phần mộ của ông bị thất lạc.“(895)

Phan Thị Thái viết: “Mộ cha tôi được ghi dấu bằng tấm bia nhỏ mang tên: Chương Dân (…) Khoảng một năm trước khi mất, thầy tôi rất buồn. Mỗi dịp nghỉ hè về thăm thầy, tôi thường thấy người ngồi bàn viết lách hoặc đọc sách.

Có khi nằm đọc rồi ngủ quên nhưng hai tay vẫn giữ chặt quyển sách dày cộm, hầu hết là sách chữ Hán. Hầu như thầy tôi không có thì giờ rảnh. Sáng sáng đi vài ba đường quyền, ăn uống điểm tâm rồi ngồi vào bàn làm việc cho đến tối. Chỉ có một tuần trước khi mất, vì quá đuối sức, người đành phải lìa chiếc bàn và quyển sách. Gia tài lớn mà thầy tôi để lại cho chúng tôi là sách và tất nhiều các bài viết, các bài nghiên cứu về tiếng Việt và chữ Hán. Chúng tôi đã gìn giữ tất cả trước tác của thầy tôi trong nhiều năm và sau đó đã chuyển giao cho Viện Hán Nôm để các đồng nghiệp của ông tiếp tục công việc nghiên cứu, dịch thuật.“
(896)

Lâm Bích Thủy viết: “Chở linh cữu cụ là một chiếc xe có hai con ngựa kéo bị che hai bên mắt, khoảng bảy hoặc tám người, kể cả người đánh xe ngựa và ba tôi − nhà thơ Yến Lan. Nhưng điều để lại sau đám tang là sự dè bỉu và mỉa mai đối với ba tôi mà người thời bấy giờ gọi là “thằng”. Sáng hôm sau, ngoài phố, họ kháo nhau bằng những câu: “Nghe nói ngoài gia đình còn có thằng cha nhà thơ nào đó cả gan đưa đám lão Phan Khôi“. Giải thích điều này ba tôi nói: “Đó là đạo lý của người Việt Nam − Nghĩa tử là nghĩa tận“.(897)

Theo Lại Nguyên Ân, nghiã trang Hợp Thiện bị chiếm đất dần để xây nhà. Năm 1970, nghiã trang này được chuyển lên Bất Bạt. Những ngôi mộ bị dời đi, có đánh số, nhưng sau gia đình không tìm lại được. Tất yếu của định mệnh? Hay là vẫn cố tình xoá dấu Phan Khôi?

Được biết những năm gần đây đã có ngôi mộ của Phan Khôi ở Điện Bàn, chúng tôi hỏi nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân về việc này, qua điện thư ngày 27/7/2012, ông cho biết:

“Chuyện mộ Phan Khôi, thì con trai ông là Phan An Sa kể cho tôi: Năm 1959 ông mất, được chôn cất tại nghiã trang Hợp Thiện, Hà Nội. Theo anh Sa thì mộ ở phía đông khu nghiã trang. Khu nghiã trang này, từ những năm 1960 bị lấn từng phần làm một số cơ quan, xí nghiệp như nhà máy mỳ kẹo Hải Châu, kho của mấy công ty thương mại quốc doanh, rồi phần giữa nghiã trang cũng sớm bị dùng làm bãi chiếu bóng Mai Động, vv… Đến đầu những năm 1970 chính quyền Tp. Hà Nội cho chuyển toàn bộ các ngôi mộ còn lại ở Nghiã trang Hợp Thiện lên nghiã trang Yên Kỳ ở huyện Ba Vì (khi đó thuộc tỉnh Hà Tây), lấy đất xây thêm một nhà máy dệt.

Theo tôi hỏi một số viên chức làm ở Cty quản lý nghiã trang Hà Nội, thì các ngôi mộ chuyển lên chỉ được đánh số chứ không gắn bia mộ họ tên, phần họ tên ở bia mộ cũ được ghi vào sổ lưu lại Cty quản lý nghiã trang, gia đình nào cần tìm phải tới xem sổ lưu ấy để xác nhận lại vị trí mộ ở nơi mới Yên Kỳ.

Tuy vậy, các con ông PK tìm đến vị trí mộ ở Hợp Thiện theo trí nhớ thì không thấy, đào cũng không thấy, hình như cũng không có hồi âm gì từ thông tin về số mộ đưa lên Yên Kỳ, cuối cùng đành bốc một ít đất ở nơi mà họ nhớ là nơi chôn lần đầu, đem về trong quê ở Quảng Nam chôn vào trong ngôi mộ trống, tất nhiên có khắc bia họ tên lên đấy“.


Điều mà Phan Khôi làm cho bà Cố cách đây hơn nửa thế kỷ, tức là kiện cái chế độ phong kiến, để mộ của bà cố được trở về chôn ở mảnh đất gia tiên, hiện chưa ai làm cho ông. Phan Khôi có mười con, bao nhiêu cháu? Nếu ngày nay có một sự sám hối nào đó về phía chính quyền, hẳn không phải là những lễ kỷ niệm, với những bài ca tụng vô bổ, mà là việc tìm lại hài cốt Phan Khôi trong đám mộ ở Yên Kỳ, xác định ADN, để dựng lại ngôi mộ Phan Khôi, cho xứng đáng với địa vị của một trong những nhà văn, nhà trí thức và tư tưởng hàng đầu của Việt Nam trong thế kỷ XX.
________________

(892) Đào Vũ, bđd.

(893) Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi, Talawas 18/6/2008.

(894) Lâm Bích Thuỷ, Thủy chung tình bạn sau linh cữu, tài liệu Talawas.

(895) Phan Cừ, Phan An, bđd.

(896) Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi, học giả Phan Khôi. 19/12/1996, Kiến Thức Ngày Nay.

(897) Lâm Bích Thuỷ, bđd.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Tue 12 Apr 2022, 13:28

Chương 22

Vụ án Nam Phong

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Nhan-v14


Tuy không chính thức có vụ án Nam Phong, nhưng sau khi Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác, chủ nhiệm và chủ bút Nam Phong bị xử tử năm 1945; tại miền Bắc, toàn bộ trước tác trên Nam Phong, được coi là tờ báo của thực dân do “trùm mật thám” Louis Marty điều khiển, bị khai trừ khỏi nền giáo dục và văn học. Tại miền Nam từ 1954 đến 1975, các nhà nghiên cứu như Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ… tuy có nhắc đến nguồn cội phát xuất Nam Phong, từ chính quyền thực dân, nhưng vẫn xác nhận giá trị Phạm Quỳnh và đưa Nam Phong vào chương trình giáo dục trung-đại học. Sự kết án Phạm Quỳnh của Nguyễn Văn Trung, chỉ là một hình thức phản phê bình, chống lại quan điểm Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ, nhưng không đủ bằng chứng thuyết phục.

Cái án vô hình về Nam Phong vẫn còn đó, chưa ai minh giải. Xoá án Nam Phong là tìm lại công lao của những người đã xây dựng nền văn học quốc ngữ, đã bị chôn vùi trong 66 năm ở miền Bắc, 36 năm trên toàn quốc: Học trò không được học, không được biết, không được sử dụng những thành tựu vô giá về dịch thuật và tư tưởng mà Nam Phong để lại. Tên Phạm Quỳnh và Nam Phong hiện nay đã được đưa vào Từ điển Bách khoaTừ điển Văn học, bộ mới, nhưng tên Nguyễn Bá Trác bị loại. Sự đánh Nam Phong dựa trên hai yếu tố chính:

1. Chuyện Rồng Nam phun bạc mà chúng tôi đã đề cập trong chương trước.
2. Báo Nam Phong do Louis Marty sáng lập.

Ở điểm thứ 2 này, lời vu cáo của Phùng Bảo Thạch: “Phan Khôi đã được Mác-ty (Marty) gọi ra làm việc cạnh nó và viết báo Nam Phong. Trong phòng kín, Phan đã bí mật tố giác một số nhân sĩ yêu nước và bí mật hiến mưu dập tắt phong trào cách mạng“(898) được Lược truyện các tác gia Việt Nam chép lại, đã có ảnh hưởng lâu dài trong sự tàn phá uy tín của Phan Khôi.

Nguyễn Công Hoan phụ hoạ: “Làm chỉ điểm cho Pháp, cố nhiên Phan Khôi được sở mật thám Pháp tin dùng. Báo Nam Phong của tên chùm (trùm) mật thám Đông dương Lu-y Mác-ty sáng lập, cho hai tên phản cách mạng phụ trách, Phạm Quỳnh làm chủ bút phần quốc văn, Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần Hán văn. Nguyễn Bá Trác được lệnh của Mác Ty dùng Phan Khôi.

Từ đó, đời Phan Khôi xoay ra làm báo để reo rắc những tư tưởng phản động, có lợi cho thực dân hơn nghề làm chỉ điểm cho chúng“
(899).

Những lời vu hãm trên đây tiêu biểu cho lối buộc tội Nam Phong, được dùng để đánh Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Lê Dư, nhưng đặc biệt với Phan Khôi, sự xuyên tạc đã đạt đến đỉnh cao. Lập luận xoáy vào 3 điểm chính:

- Báo Nam Phong được Pháp bảo trợ.
- Nam Phong do Louis Marty, Nguyễn Bá Trác và Phạm Quỳnh điều hành.
- Phan Khôi, “vốn nghề chỉ điểm” nên được Marty tin dùng.

Louis Marty

Không chỉ Nam Phong mà hầu hết các báo quốc ngữ, từ khởi thủy đều do người Pháp sáng lập(900): Gia Định báo,1865: Ernest Potteaux sáng lập -Trương Vĩnh Ký chủ bút. Nông cổ mín đàm, 1901: Canavaggio – Lương Khắc Ninh. Đại Việt tân báo, 1905: Ernest Babut – Đào Nguyên Phổ. Lục tỉnh Tân văn, 1909: Pierre Jeantet – Trần Nhất Thăng. Đăng cổ tùng báo, 1907-1908 và Đông Dương tạp chí, 1913: Schneider – Nguyễn Văn Vĩnh… Vậy việc Nam Phong do Marty – Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác, trách nhiệm, nằm trong quy luật trên và trong chủ trương của chính quyền thuộc địa lúc bấy giờ: thúc đẩy trí thức hoạt động văn hoá để họ không chống đối chính quyền. Việc người trí thức lợi dụng lại khí giới này để truyền bá quốc ngữ và văn hoá Tây phương, là mặt trái của mề đai.

Trường hợp Nam Phong, dính liền với Louis Marty, người được coi là “trùm mật thám“, vậy cần tìm hiểu xem Louis Marty là ai?

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, chỉ ghi vỏn vẹn: Marty là một ông quan cai trị Pháp. Phạm Thế Ngũ cho biết thêm: 1907, Marty vào ngạch tham sự hành chánh, làm việc tại Phủ Thống Sứ Bắc Kỳ. 1914, làm phụ tá trưởng Phòng Chính Trị Phủ Toàn Quyền, được đặc phái đi Bắc Kinh. 1915, thăng trưởng phòng Chính Trị, phụ trách việc lấy tin để đối phó với âm mưu tấn công vào Đông Dương của Đức. Cơ quan gián điệp ấy sau trở thành Tổng Cục An Ninh Đông Dương. 1934, Marty bị toàn quyền Robin đẩy đi làm khâm sứ Ai Lao(901).

Hoàng Văn Chí viết: “Mai (Đặng Thai Mai) và Giáp (Võ Nguyên Giáp) đều là “con nuôi” của Louis Marty, giám đốc phòng chính trị của phủ toàn quyền. Marty kiếm việc cho Mai dạy học ở trường Gia Long mà giám đốc là Bailey, một người Pháp, và giao Giáp, hãy còn là sinh viên, cho Mai trông coi. Trong khi những đảng viên Tân Việt khác bị tù đày hoặc cầm cố thì hai người ung dung sống ở Hà Nội cho đến ngày Giáp được Pháp đưa sang Tầu theo Việt Minh chống Nhật. Giáp có theo học lớp “chiến tranh du kích” do Mỹ mở ở Tĩnh Tây, nhưng không bao giờ lên Diên An“(902).

Đặng Thai Mai viết trong hồi ký: “Tôi tham gia đảng Phục Việt, tiền thân của đảng Tân Việt (…) Khoảng 1928, tôi vào dạy trường Quốc học Huế. Ở đây tin tức không có bao nhiêu. Năm 1930-1931 tôi bị tù. Năm 1932 tôi ra Hà Nội dạy học trường Gia Long, sau dạy ở trường Thăng Long. (…) Ở trường Thăng Long lúc đó có đồng chí Phan Thanh903 Võ Nguyên Giáp và tôi. Tôi được giao một vài công tác góp phần vào việc mở Hội truyền bá quốc ngữ, viết báo đảng bằng quốc ngữ và tiếng Pháp“(904).

Nguyễn Vỹ, trong Tuấn chàng trai nước Việt(905), viết: “Võ Nguyên Giáp, sinh viên cao đẳng luật khoa, Hà Nội, vừa thi đỗ chứng chỉ 2, cấp bằng cử nhân Luật, tháng 6 năm 1937. Nhưng năm sau, 1938, anh lại thi rớt cấp bằng Luật pháp Hành chánh. Số đông sinh viên Luật Hà nội thi đậu chứng chỉ cử nhân Luật liền học một năm về “Droit administratif (Hành chánh Luật), thi đậu cấp bằng này được bổ ra làm Tri huyện, theo Hành Chánh Nam triều, hoặc “commis”(906) làm tại phủ toàn quyền, hoặc các toà Thống sứ, Khâm sứ, Thống Đốc, nếu phục vụ cho chính quyền thuộc địa.

Võ Nguyên Giáp lúc bấy giờ có ước vọng làm commis, nhưng thi rớt nên bỏ học luôn, và tiếp tục làm giáo sư sử địa trường trung học Thăng Long“
(907).

Những thông tin của Hoàng Văn Chí, Đặng Thai Mai và Nguyễn Vỹ trên đây phát xuất ở những thời điểm và vị trí hoàn toàn khác nhau, nhưng không đối chọi nhau và có phần bổ túc cho nhau:

– Marty là một nhân vật khôn khéo: liên lạc và giúp đỡ những thanh niên “có đầu óc” gặp khó khăn, không phân biệt chính kiến.

– Tình trạng thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ không đơn giản. Chống Pháp hay ra làm quan với Pháp chỉ cách nhau một bước: Nếu Võ Nguyên Giáp thi đỗ, đã trở thành Tham tá làm việc tại Phủ Toàn quyền, cuộc đời ông có thể đã thay đổi hoàn toàn.

– Không nên thần thánh hoá bất cứ một nhân vật lịch sử nào. Sự bôi nhọ Phan Khôi trong hơn nửa thế kỷ. Sự kết tội Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác “bán nước”, nếu giúp chúng ta rút ra được một bài học nào, là trong cái nghiã đó.

Tất cả “tội ác” quy vào việc Nam Phong được thành lập do nghị định của phủ toàn quyền, với sự cộng tác của Louis Marty, lúc đó là trưởng phòng chính trị. Nhưng Marty không chỉ đỡ đầu Nam Phong, năm 1917, mà đến thập niên 1930, còn đỡ đầu cho Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp nữa. Vậy cần phải xác định lại vị trí của Nam Phong và trả lời những câu hỏi: Chủ đích của Nam Phong là gì? Những người xây dựng Nam Phong có phải là người “bán nước” hay không?

________________

(898) 1 Phùng Bảo Thạch, Một nhà nho "tiết tháo": Phan Khôi, Bọn NVGP trước toà án dư luận, trang 76.

(899) Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Văn Nghệ số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958.

(900) Việc này có thể hiểu: người Pháp đứng tên thì mới được cấp giấy phép và được hưởng quyền tự do báo chí.

(901) Theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Đại Nam in lại tại Mỹ, chú thích trang 128.

(902) Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, chương IV, chú thích trang 83, Chân trời mới, 1962, có bản điện tử trên Talawas.

(903) Em họ Phan Khôi.

(904) Tác Phẩm Mới, 1985, trang 355-356.

(905) Đã dành chương 39, quyển II, (trang 381- 394) để viết về Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp, thời kỳ 1932- 1940 mà ông có dịp gặp gỡ thường xuyên, nhất là về người vợ đầu của ông Giáp và người con gái của Đặng Thai Mai sau này trở thành vợ thứ nhì của ông Giáp.

(906) Tức là Tham tá.

(907) Nguyễn Vỹ, Tuấn chàng trai nước Việt, quyển II, in lại ở Mỹ, không đề năm, trang 381-382.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Wed 13 Apr 2022, 08:38

Chương 22

Vụ án Nam Phong

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Nhan-v14


Nguyễn Bá Trác (1881-1945)

Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần Hán Văn của Nam Phong từ tháng 7/1917 đến tháng 9/1919 được vời vào Huế làm quan, đến chức tổng đốc. Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh xác định vai trò của Nguyễn Bá Trác: “Vào năm 1917, bên cạnh và đối với Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác quả thực đã đóng vai đàn anh, vì tuổi tác, vì danh vị đỗ cử nhân, và nhất là uy tín của một quá khứ mạo hiểm đã khiến ông nổi danh là lịch duyệt“(908).

Nguyễn Bá Trác hơn Phạm Quỳnh 11 tuổi. Những trước tác trên Nam Phong chứng tỏ ông là một người thơ văn lỗi lạc. Phan Khôi và Nguyễn Bá Trác là hai người bạn thân từ thời đi học. Trong bài Đi học đi thi, Phan Khôi cho biết: Nguyễn Bá Trác đi thi năm Bính Ngọ (1906) không phải để đỗ, mà để làm bài thuê, kiếm tiền cho phong trào Đông Du, rút cục lại đỗ cử nhân. Rồi Nguyễn rủ Phan bỏ lối học khoa cử, cùng theo phong trào Duy Tân, Đông Du, từ 1906 và được gửi ra Hà Nội học tiếng Pháp năm 1908. Khi phong trào bị đàn áp, Phan Khôi bị bắt ở Nam Định. Nguyễn Bá Trác trốn ở trong Nam rồi sang Xiêm, sang Nhật, sang Tầu.

Trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, mục từ 59, ghi: “… Trác được vào học lớp cán bộ quân sự ở Quảng Tây cùng với Trần Huy Lực (xem Phan Bội Châu niên biểu, trang 111). Nhưng rồi Trác làm mật thám cho Pháp, vào làm phòng báo chí của phủ toàn quyền. Lúc đầu, Trác được giao cho việc làm tờ “Công thị báo” bằng chữ Hán. Năm 1917, khi tên trùm mật thám Mác-ty (Marty) sai Phạm Quỳnh làm chủ bút tờ Nam Phong thì Trác được giữ gìn phần chữ Hán của tạp chí đó. Vì có công lao ấy, Trác được bổ ra làm Tá lý bộ Học ở Huế rồi làm Tuần phủ Quảng Ngãi, y đã đàn áp nhân dân và tàn sát nhiều nhà cách mạng.”(909)

Những “thông tin” trên đây vừa lộn xộn vừa đáng ngờ: Nguyễn Bá Trác làm mật thám lúc nào? Ở Quảng Tây hay ở Hà Nội? Vì làm mật thám nên được vào phủ toàn quyền hay vào phủ toàn quyền rồi mới làm mật thám? Ở Quảng Ngãi, Nguyễn Bá Trác đã giết những ai? Tên họ các nạn nhân là gì mà bảo là “tàn sát nhiều nhà cách mạng”? Chúng tôi chỉ nhắc đến cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam, vì đây là cuốn sách chính mà những người đi sau, thường sao chép lại. Từ điển văn học loại hẳn tên Nguyễn Bá Trác ra ngoài.

Vấn đề Nguyễn Bá Trác không chỉ nổi cộm trong chế độ cộng sản, mà nhiều nhà nghiên cứu trong Nam ngoài Bắc khi nhắc đến Nguyễn Bá Trác, thường úp mở ngụ ý ông là Việt gian. Nguyễn Văn Xuân trong Phong Trào Duy Tân nói đến việc Mai Dị “gởi cho Nguyễn Bá Trác một bức thư chửi rủa thậm tệ, được nhiều người truyền tụng”(910). Điều này cũng chẳng chứng tỏ được gì. Điểm đáng chú ý là Huỳnh Thúc Kháng khi viết tiểu sử Trần Quý Cáp, năm 1938, có câu: “Về thi văn của Tiên sinh không lưu bản cảo, chỉ có đồng nhân cùng tôi còn nhớ đôi bài lượm lặt chép thành tập, gửi nơi Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác”(911).

Vậy Nguyễn Bá Trác, sau khi về đầu thú, vẫn được các bạn đồng hành tín nhiệm, trao giữ tác phẩm của thầy Trần Quý Cáp, và khi ra làm báo Nam Phong, Nguyễn vào Quảng Nam rủ Phan Khôi làm cùng, Phan Khôi không chối từ, chưa kể việc Nguyễn được thầy cũ là Nguyễn Bá Học gả con gái cho. Từ khi Nguyễn Bá Trác về đầu thú đến lúc ông bị Việt Minh xử tử, Phan Khôi không ngừng giao thiệp với Nguyễn Bá Trác. Theo Phan Khôi, năm 1926, cụ Phan Bội Châu về Huế đến ở nhà Nguyễn Bá Trác và ông cũng đến ở đó. Như vậy, Phan Bội Châu cũng tin cẩn Nguyễn Bá Trác.

Về phía kết tội Nguyễn Bá Trác, chưa ai nêu được chứng cớ rõ rệt, thường chỉ phỏng theo lời đồn. Cho tới nay, chứng cớ duy nhất dựa vào một chú thích trong cuốn Mémoires de Phan Bội Châu(912) của Georges Boudarel, 1968, cho biết: Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt đã chỉ điểm cho Pháp bắt Trần Hữu Lực, một chiến sĩ của Phan Bội Châu.

Trần Hữu Lực là ai? Phan Bội Châu viết trong Tự Phán: “Trần Hữu Lực người Nghệ An, tên thực là Nguyễn Thức Đường, con trai Đông Khê tiên sinh, là thầy học tôi. Nhà đời nghiệp Nho, mà tính chất ông khác riêng một cách, có thái độ như một nhà võ sĩ thời xưa“(913).

Trần Hữu Lực theo phong trào Đông Du sang Nhật, học trường quân sự Đông Kinh. Khi Nhật giải tán Đông Du, trục xuất Cường Để (1909), Lực nổi giận, định chống lại, nhưng các đồng chí ngăn cản, ông bỏ sang Tầu. Trần Hữu Lực cùng Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt được vào học trường quân sự Quảng Tây. Sau khi tốt nghiệp, Trần Hữu Lực về Quảng Đông, nhận chức thiếu úy. Phan Bội Châu kể tiếp:

“Đến lúc Việt Nam Quang Phục Hội thành lập(914) ông tự nguyện sang Xiêm La, tổ chức toán quân Việt Kiều. Tôi lấy tư cách Quang Phục hội Tổng lý, đặc uỷ ông làm trú Xiêm Quang phục hội chi bộ bộ trưởng915 (…) Rủi lúc đó, nước Xiêm cũng tuyên chiến với Đức. Chính phủ Xiêm theo lời giao thiệp của người Pháp hết sức phá cách mạng đảng của người Việt Nam, kẻ tù người đuổi. Hai tên trinh thám cho Pháp, một người Trung Kỳ, một người Bắc Kỳ, hết sức săn cho được ông, ông bị dẫn độ với chính phủ Pháp, bắt về Hà Nội, tống vào nhà pha khuyên ông chịu thú phục thì được tha tội. Ông không chịu, đồng một ngày ấy với Hoàng Trọng Mậu bị sang sát916 dưới núi Bạch Mai“(917).

Vẫn theo Phan Bội Châu, Trần Hữu Lực bị bắt ở Xiêm ngày 26/6/1915. Hoàng Trọng Mậu bị bắt ở Hương Cảng ngày 28/5/1915918. Phan Bội Châu viết rất rõ, trong Tự Phán: “Hai tên trinh thám cho Pháp, một người Trung Kỳ, một người Bắc Kỳ, hết sức săn cho được ông“. Câu này trong Phan Bội Châu niên biểu, Chương Thâu ghi như sau: “Hai tên trinh thám Pháp, một người Bắc Kỳ tên là Hùng; một người Trung Kỳ tên là mỗ(2) hết sức săn cho được ông”; và trong chú thích (2) Chương Thâu viết: “Câu này trong bản của Anh Minh chỉ ghi Nguyễn… và Nguyễn… nhằm che dấu cho hai tên phản bội này. Bản Nguyễn Khắc Ngữ thì không ghi rõ tên mà chỉ chú theo MP là Nguyễn Tiêu Đẩu (Nguyễn Bá Trác) và Nguyễn Thái Bạt (Nguyễn Phong Di)”(919).

Tóm lại, trong các bản dịch khác nhau của Tự phán:

Bản Nhân Chủ học xã: Không ghi tên 2 người trinh thám.
Bản Chương Thâu ghi một người Bắc Kỳ tên là Hùng; một người Trung Kỳ tên là mỗ(920).
Theo Chương Thâu: Bản Anh Minh ghi: Nguyễn… và Nguyễn…
Bản Nguyễn Khắc Ngữ không ghi tên mà chỉ chú theo MP.
MP là viết tắt của Mémoires de Phan Bội Châu, bản dịch Tự phán của Boudarel. Và Boudarel chú thích hai người này là Nguyễn Tiêu Đẩu (Nguyễn Bá Trác) và Nguyễn Thái Bạt (Nguyễn Phong Di).

Nhưng Phan Bội Châu không hề viết rõ tên hai mật thám săn bắt Trần Hữu Lực.

Nguyễn Khắc Ngữ và Chương Thâu chép lại chú thích của Boudarel để xác định hai kẻ đó là Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt. Hiện chúng tôi không có bản của Boudarel, nên không rõ Boudarel dựa vào đâu, để xác định như thế.

Nhưng khi khảo sát Tự phán của Phan Bội Châu và Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, thì thấy nhiều chứng, minh oan cho Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái Bạt và cả Lê Dư:

1/ Nếu Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái Bạt và Lê Dư làm chỉ điểm cho Pháp, thì tại sao Phan Bội Châu lại không viết rõ tên họ ra? Tại sao họ lại không bị đảng Quang Phục giết như trường hợp Phan Bá Ngọc? Phan Bội Châu viết rất rõ hành vi phản bội của Phan Bá Ngọc – con trai Phan Đình Phùng và việc Ngọc bị Lê Tán Anh ám sát, với súng và tiền lộ phí do Cường Để cung cấp(921).

2/ Ra đầu thú không phải là một tội đối với đảng: chứng cớ là sau khi đầu thú, Lê Dư vẫn hoạt động tiếp. Phan Bội Châu viết: “Vừa lúc đó (1917), ông Lê Dư ở trong nước ra, đương ở Nhật Bản, đi theo Kỳ Ngoại Hầu, viết giấy mời tôi qua, bảo rằng có 2000 hễ đến Nhật Bản thì đưa ngay. Nghĩ đến Lê mới về thú, bạc này lấy ở đâu vào? Ngẫm nghĩ một hồi lâu mới biết được manh mối bạc này rồi”(922). Lê Dư tiếp tục kinh tài cho đảng tới 1918. Lê Dư chơi thân với Phan Bá Ngọc, cả hai đều khuyên Phan Bội Châu viết Pháp Việt đề huề luận(923), các việc này Phan Bội Châu đều ghi rõ, nhưng ông không hề xác định Lê Dư phản đảng: Vậy đảng biết rất rõ hành động từng người.

3/ Trong Tự phán, Phan Bội Châu chỉ nhắc đến Nguyễn Bá Trác hai lần, trong câu “Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt, ba người – tức là kể cả Trần Hữu Lực- đồng thời vào nhà quân hiệu” và câu “Quảng Tây cán bộ học đường thì có những người như Trần Hữu Lực, Nguyễn Tiêu Đẩu, Nguyễn Thái Bạt“(924). Ngoài ra, không có lời nào khác trong Tự phán chỉ định Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt làm chỉ điểm lùng bắt Trần Hữu Lực ở Xiêm.

4/ Trong Hạn mạn du ký, Nguyễn Bá Trác cho biết: ông về tới Sài Gòn tháng 8/1914. Và trong bài Lời di ngôn của của cụ Nguyễn Bá Học, Nguyễn viết:

“Hồi tháng 9 năm 1914 tôi tới Hà Nội, mới được tha về vài ngày, liền xuống Nam Định hỏi thăm tiên sinh(925) (…) Tiên sinh lại hỏi tôi rằng: “Anh ở Hà Nội định làm kế sinh hoạt gì?”. Tôi chưa kịp đáp, tiên sinh lại nói rằng: “Tôi bây giờ nguyệt bổng(926) đã được bốn năm chục, nếu anh chửa được việc gì để làm sinh kế, thời tôi có thể giúp anh được; bản tâm tôi là muốn bảo toàn danh dự cho anh vậy”. Tôi mới đáp là đã làm việc báo, tiên sinh nói rằng: “Ừ, thế được, phải cố gắng lên mà phải cẩn thận, chớ có táo suất(927) mà làm cho lấp đường ngôn luận của nước ta“(928).

Khi về đầu thú, Nguyễn Bá Trác làm công chức ở sở toàn quyền, phụ trách Công thị báo từ 1914, làm báo Âu Châu chiến sử với Phạm Quỳnh, và đến tháng 6/1917, ra báo Nam Phong. Tháng 9/1914, ông xuống Nam Định thăm Nguyễn Bá Học, người thày dạy ở Đông Kinh Nghiã Thục, sau biến cố Trung Kỳ dân biến, đã cưu mang học trò Quảng Nam ra Hà Nội, nuôi và dậy học trong nhà, số 108, phố Hàng Rượu, Nam Định. Nguyễn Bá Học không những giúp đỡ học trò gỡ rối việc ra đầu thú mà còn gả con gái cho Nguyễn Bá Trác.

Như vậy không hề có chứng cớ rõ ràng, để có thể gán cho Nguyễn Bá Trác việc sang Xiêm săn lùng và làm chỉ điểm để Pháp bắt Trần Hữu Lực ngày 26/6/1915.

5/ Hạn mạn du ký một lần nữa minh oan cho Nguyễn Bá Trác: Hạn mạn du ký – Lời ký của một người đi chơi phiếm(929) viết về 6 năm trốn ra ngoại quốc của Nguyễn Bá Trác, từ tháng 3/1908 đến tháng 8/1914.

Sau vụ Trung kỳ dân biến, phong trào Duy Tân và Đông Du bị khủng bố: Nguyễn Bá Trác trốn xuống tàu về Trung, đến Phú Yên, ẩn trong rừng 8, 9 tháng. Ngày 24/12/1908, ông lên tàu vào Nam. Ngày 7/1/1909 đến Mỹ Tho, rồi đi Bến Tre và vào làng Tân Hương dậy học. Ba tháng sau ông lên Sài Gòn, rồi đêm 3/4/1909, từ Sài Gòn xuống tàu trốn đi Xiêm, tới Bangkok ngày 6/4/1909. Từ đây bắt đầu cuộc lưu vong, đi Hương Cảng, rồi sang Nhật. Tới Nhật, sinh viên du học đã bị trục xuất. Ở Nhật một tháng, rồi quay về Thượng Hải, định tìm đường lên Bắc Kinh, nhưng không thành. Tháng 2/1910, làm báo với Trần quân, tức Trần Thế Mỹ, một yếu nhân của Quốc Dân Đảng Trung Hoa, tại Thượng Hải.

Tháng 6/1910, gặp Nguyên quân – tức Trần Hữu Lực cả hai được một ân nhân giới thiệu thi vào trường sĩ quan Quảng Tây, ở Quế Lâm, tháng 9/1910. Trong thời gian học ở Quế Lâm, một lão bà tìm đến trường: Bà người Việt, con quan, bị giặc Khách bắt về Tàu từ thủa nhỏ, bị bán nhiều lần, có người con gái là Trần Tuệ Nương, muốn gả cho Bá Trác để mẹ con tìm đường về nước. Nghĩ phận mình trôi nổi chưa biết ra sao nên Bá Trác khước từ. Hai năm sau trên đường lưu lạc, Bá Trác hay tin Tuệ Nương đã chết.

Chương trình học quân sự là ba năm, nhưng Trác và Lực đỗ vào năm thứ nhì; vì thiếu ngân quỹ, chính phủ Trung Hoa gộp hai năm làm một, nên tháng 9/1911, cả hai tốt nghiệp. Trần Hữu Lực được bổ làm sĩ quan ở sở Binh Bị. Nguyễn Bá Trác rời Quế Lâm, theo Quốc Dân Đảng Trung Hoa, bị kéo vào cuộc nội chiến, nay Thượng Hải, Nam Kinh, mai Bắc Kinh, Trùng Khánh, rồi quay về Thượng Hải, cuối cùng quyết định về nước. Trong khi đó, Phan Bội Châu bị bắt ở Quảng Châu ngày 20/1/1914 đến tháng 4/1916 mới được tha.

Tháng 1/1914, Bá Trác từ Thượng Hải về Quảng Đông, ở lại 6 tháng. Đầu tháng 7/1914, đáp tầu đi Hương Cảng. Rồi từ Hương Cảng về đến Sài Gòn tháng 8/1914.

Hạn mạn du ký là một thiên ký sự. Tác giả ghi rõ ngày tháng từng sự kiện, nhưng đổi tên nhân vật và giấu những gì liên hệ đến tổ chức cách mạng Phan Bội Châu. Tác phẩm còn là văn bản nghiên cứu lịch sử và văn hoá ba nước: Nhật Bản, Trung Hoa và Cao Ly (Triều Tiên). Về giá trị văn chương, sử học và xã hội, Hạn mạn du ký có phần sâu sắc hơn Hải Trình Chí Lược của Phan Huy Chú hay Vũ Trung Tuỳ Bút của Phạm Đình Hổ.

Tác phẩm có 2 đoạn đáng chú ý, có thể minh oan cho Nguyễn Bá Trác:

1/ Đoạn viết về lòng nhớ nước và khát vọng trở về đất tổ của lão bà bị cướp khỏi gia đình từ thời niên thiếu, lưu lạc trên đất khách, trọn đời chỉ có một quyết tâm: nuôi con thành người Việt, lấy chồng Việt để tìm đường về tổ quốc. Người mẹ ấy nói: “Ôi! Người mà quên cả ông cha, gọi là người “vong tổ” có thể là người được chăng?” Lời nói ấy, dường như phát tự đáy lòng Nguyễn Bá Trác.

2/ Đoạn tả Nguyên quân ngâm bài Hồ Trường. Nguyên quân – anh Nguyên – chính là Trần Hữu Lực, được mô tả như một hiệp sĩ thời xưa, vừa nghệ sĩ, vừa khẳng khái, với giọng thân ái và kính phục, nhưng cũng bộc lộ tâm sự của tác giả:

“Nguyên quân cả năm không hay uống rượu đã uống thì say, đã say hay hát. Hát không hiểu khúc, song tiếng trong mà cao; cứ nghêu ngao mấy câu cổ phong, tự người ngoại quốc nghe đã lấy làm kiêu điệu lắm; cho nên ngày ở Quế Lâm, thi tốt nghiệp rồi, Nguyên quân say rượu tay gõ miệng hát, anh em đồng học đều khen là danh ca.

Chiều hôm ấy
(930) rượu ngà ngà, Nguyên quân cũng đứng dậy mà hát. Cách phòng có một người khác tên là Lưu mỗ, là người Trực Lệ, hiện làm quan võ coi lính ở Quảng Tây, nghe Nguyên quân hát, bèn vào phòng, chào nói tên họ rồi hỏi Nguyên quân: “Tôi nhớ năm xưa có gặp quý hữu một lần ở tại Đông Kinh nước Nhật”. Nguyên quân nói: “Lâu ngày không nhớ rõ”. Khách lại hỏi: “Vừa nghe quý hữu hát ấy là điều gì?”. Nguyên quân nói: “Ấy là một điệu đặc biệt ở phương nam!” Khách nói:” Nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khẳng khái, nam phương có điệu hát đến như thế ru?”. Nói rồi, liền gọi thằng hầu lấy bút, xin Nguyên quân viết bài hát cho mà xem. Nguyên quân cầm bút viết ngay. Bài hát dịch ra như sau này:

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.
Trời Nam nghìn dậm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thể bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chẩy xiết, sinh cuồng lan.
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;
Rót về Bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây“
(931)

Không ai viết như vậy về người mình đã “chỉ điểm” cho Pháp bắt giết. Giọng văn bí ẩn, cố giấu tông tích người hiệp sĩ anh hùng, nhưng cũng muốn ngỏ cho người đọc thấy sự thực: Nguyên quân – Trần Hữu Lực là một “hiệp sĩ”, có giọng ngâm hay, nhưng không phải là người văn học, vì “hát không hiểu khúc”.

Bài mà Nguyên quân hát, Ấy là một điệu đặc biệt ở phương Nam! – Một điệu phương Nam, mà phương Nam là đâu? Là nước Việt, nhưng người Việt có ai biết bài này, trừ Nguyễn Bá Trác? Vậy người sáng tác Hồ Trường phải là Nguyễn Bá Trác. Từ trước đến nay, vì không có sự khảo sát văn bản, người ta vẫn cho rằng bài Hồ trường là của Nguyên Quân, người Tầu, được Nguyễn Bá Trác dịch sang tiếng Việt.

Sự thực, Nguyên quân chỉ là Nguyễn quân đã bỏ dấu ngã. Tác giả phải giấu mình, nhưng trong vô thức luôn luôn có cái gì “phản lại” tác giả, ở đây là bốn chữ: Nguyên quân và phương Nam.

Hồ trường là một tuyệt tác, nói lên tâm sự bi tráng của những thanh niên đất Quảng ra Hà Nội, mong học “thành tài” để góp phần canh tân đất nước. Nào ngờ đến Bắc việc đã hỏng. Trốn sang Xiêm, Nhật, chậm rồi. Về Tầu lang thang khất thực, học làm tướng. Theo Quốc Dân Đảng Trung hoa. Nhưng Dân Đảng bại trận. Mọi việc đều hỏng. Bốn phương mù mịt. Đói khát vây quanh. Hồ trường chính là tâm sự bi đát của Nguyễn Bá Trác.
________________

(908) Phạm Thị Ngoạn Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong), bản dịch Phạm Trọng Nhân, Ý Việt, Paris, 1993, trang 68.

(909) Lược truyện các tác gia Việt Nam, quyển II, trang 152.

(910) Nguyễn Văn Xuân, Phong Trào Duy Tân, Lá Bối, Sài Gòn, 1970, trang 213.

(911) Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu sử Trần Quý Cáp, Trần Quý Cáp của Lam Giang, Đông A, Sài Gòn, 1971, trang 16.

(912) Bản dịch Tự phán ra tiếng Pháp của Georges Boudarel, France-Asie số 194-195, Paris, 1968.

(913) Phan Bội Châu, Tự phán, bản Nhân Chủ Học Xã in, Hoa Kỳ, 1987, trang127.

(914) Ngày 19/6/1912.

(915) Tức là quyền Chi bộ trưởng Quang Phục Hội ở Xiêm.

(916) Xử bắn.

(917) Tự phán, sđd, trang 128.

(918) Tự phán, sđd, trang 186.

(919) Phan Bội Châu niên biểu, tên khác của Tự phán, Chương Thâu, Văn Nghệ tp Hồ Chí Minh, 2001, trang 177.

(920) Mỗ là tiếng chỉ người, thay cho tên thật.

(921) Tự phán, bản Nhân Chủ học xã, trang 209.

(922) Tự phán, trang 191.

(923) Tự phán, trang 199-200.

(924) Tự phán, trang 128 và 166.

(925) Nguyễn Bá Học.

(926) Lương tháng.

(927) Nóng nẩy sơ suất.

(928) Nam Phong số 50, tháng 8/1921.

(929) Nguyên bản chữ Hán, in trên Nam Phong phần chữ Hán trước, sau tác giả dịch và in lại trên Nam Phong quốc ngữ từ số 38, 8/1920 đến số 43, 1/1921.

(930) Khoảng tháng 3- 4/1910.

(931) Trích Hạn mạn du ký.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Wed 20 Apr 2022, 10:11

Chương 22

Vụ án Nam Phong

Phạm Quỳnh (1892-1945)

Lời Phạm Quỳnh: “Tôi sinh ra nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán?” ẩn một sự thật bi thương. Nam Phong ra đời do nghị định ngày 30/12/1916 của phủ toàn quyền. Vậy Nam Phong nằm trong chính sách cai trị của Pháp lúc bấy giờ. Trên cái manchette Nam Phong tạp chí là hàng chữ: “L’Information française – Thông tin Pháp“, và “La France devant le monde. Son rôle dans la guerre des nations – Nước Pháp trước thế giới. Vai trò của Pháp trong cuộc chiến giữa các nước“. Vậy chủ đích Nam Phong đã rõ.

Với một “chủ đích” như thế, Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác, hai chủ bút quốc ngữ và Hán văn và cũng là hai công chức của Pháp, có thể làm gì?

Trong bài trả lời phỏng vấn Đào Hùng(932) năm 1931, Phạm Quỳnh cho biết: Trong thế chiến thứ nhất, Đức làm báo chữ Hán để tuyên truyền bên Tầu; Pháp bèn giao cho hai ông Quỳnh và Trác làm tờ Âu Châu chiến sử, chữ Hán, viết bài ký tên người Tầu, tuyên truyền cho Pháp, đem sang Tầu phát không. Trong mấy năm, tờ báo ấy chỉ phát hành ở Tầu, không có ở Đông Dương. Đến năm 1917, phủ toàn quyền bàn với tôi (Phạm Quỳnh) rằng sẵn có tin tức và bài vở thì nên mở ra một bản quốc văn để làm cơ quan tuyên truyền tin tức trong xứ. Từ đó Nam Phong mới xuất hiện cùng với Đông Dương tạp chí, là hai tờ báo quốc văn ở đất Bắc. Như vậy, Phạm Quỳnh đã nói rõ mục đích tuyên truyền của Pháp trong việc cho phép Đông Dương, Nam Phong xuất hiện. Sau này những lập luận chống Phạm Quỳnh thường vịn vào cớ ấy để buộc tội ông.

Nguyễn Văn Trung viết cuốn Chủ đích Nam Phong(933) để buộc tội Phạm Quỳnh và phản bác các quan điểm của Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ. Tiếc rằng, Nguyễn Văn Trung không đem lại điều gì mới hơn các “chủ đích” đã in trên đầu tờ báo và đã được Phạm Quỳnh nói rõ từ năm 1931 với Đào Hùng; ông chỉ đưa ra một số văn thư chính thức của Pháp, khen ngợi Phạm Quỳnh là người bạn tốt của Pháp, như vụ làm báo Âu Châu chiến sử; ông cũng chỉ đọc sơ vài bài viết của Phạm Quỳnh, lựa những câu có thể phê phán được, đưa ra ngoài bối cảnh để buộc tội: tại sao Phạm Quỳnh không chống Pháp mạnh mẽ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh? Lối lập luận như thế khó đứng vững, bởi Phạm Quỳnh là người ôn hoà, chọn đường khác: con đường văn hoá, và Phan Khôi cũng chọn con đường này trong nhiều thập niên sau.

Giọng ca tụng Pháp tồi tệ nhất trên Nam Phong là của Tuyết Huy Dương Bá Trạc(934) trong Bài ký ngày kỷ niệm quan toàn quyền Sarraut đến Hà Nội(935)và bài Lời mừng cuộc toàn thắng đồng minh(936). Lời lẽ đáng xấu hổ, gọi Pháp là “mẹ nuôi ta“, coi Nã Phá Luân là “xứ nhà giời”, hoan hô “Đại Pháp muôn năm”, “Quan toàn quyền Sarraut muôn năm”, “Ta chúc nước Lang sa ta vinh quang hách dịch đời đời kiếp kiếp”, nhưng rất lạ là Dương Bá Trạc lại không bị kết tội “bán nước”.

Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác, trong phần quốc văn, không viết bài nào đáng trách. Cùng chủ trương cộng tác Pháp-Việt, nhưng lời lẽ Phạm Quỳnh chừng mực, ít “thân Tây” hơn Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh trong các bài viết có tính cách Pháp-Việt đề huề, đúng như nhận xét của Thanh Lãng.

Tóm lại, trên Nam Phong, ngoài mục Thời Đàm -tin tức bình luận thời sự- tuyên truyền cho chính sách của Pháp ở Á Châu, theo đúng chủ đích đã ghi trên đầu tờ báo, khó có thể tìm được chứng cớ nào buộc tội Phạm Quỳnh “bán nước” qua các văn bản biên khảo, triết học, phê bình, dịch thuật của ông trên Nam Phong. Vậy ta thử tìm hiểu trong chuyến đi Pháp năm 1922, Phạm Quỳnh có thái độ như thế nào đối với các nhà ái quốc và với nước Pháp?

Gặp gỡ các nhà ái quốc năm 1922 tại Pháp

Tâm sự sâu lắng của Phạm Quỳnh trong chuyến đi Pháp năm 1922 được bộc lộ qua loạt bài Pháp du hành trình nhật ký(937), ông ghi lại tỷ mỷ chuyến đi và những nhận xét tinh vi của ông về xã hội Pháp đương thời.

Khởi hành từ Hải Phòng ngày 9/3/1922, đến Marseille 9/4 và về nước ngày 11/8/1922. Trong 4 tháng, Phạm Quỳnh đã gặp các nhà ái quốc trong nhóm Ngũ Long nhiều lần:

1/ Đến Marseille 9/4, ngày 11/4/1922, Phạm Quỳnh ghi: “Hôm nay gặp cụ Phan Tây Hồ, là một nhà chí sĩ nước ta, nay biệt xứ bên quý quốc. Hồi cụ khởi nghiệp, tôi còn nhỏ tuổi, nên chỉ biết tiếng mà không được biết người. Nay sang đến đây mới được gặp cụ, trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi, không sao nói xiết. Cùng nhau đàm luận trong mấy giờ“(938).

2/ Theo mật báo ở Marseille, ngày 11/5/1922, có cuộc gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Phan Châu Trinh muốn lật đổ Nam triều, lập Quốc hội An Nam để cai trị cùng với chính phủ Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh không đồng ý. Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh hứa sẽ nghĩ biện pháp giúp Phan Châu Trinh(939). Phạm Quỳnh ở Marseille đến 12/5 đi Lyon, tới Paris ngày 16/5/1922, ở Hôtel du Monde, số 15, Rue Berthollet cùng với Nguyễn Văn Vĩnh.

3/ Ngày 27/6/1922, Phạm Quỳnh đến Hội Địa Dư Thương Mại – Société de Géographie Commerciale đọc diễn văn giới thiệu hội Khai Trí Tiến Đức.

Lê Thanh Cảnh trong bài “Thử đi tìm một lập trường tranh đấu cho dân tộc Việt nam”(940) cho biết, ngay chiều hôm ấy, tức là chiều 27/6/1922, ông tổ chức mời cơm tại khách sạn Montparnasse, có sự tranh luận sôi nổi giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh.

4/ Ngày 13/7/1922, Phạm Quỳnh ghi trong Hành Trình nhật ký: “Chiều hôm nay ăn cơm An Nam với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi; nhưng họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi!”(941) Trong cuốn sổ tay, ông viết rõ tên: “Juillet /13 /Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 rue des Gobelins)“(942).

5/ Ngày 16/7/1922, Phạm Quỳnh ghi: “Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng đâu ngoài cửa cả“(943) Và trong sổ tay: “Dimanche 16/7: ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền (Truyền) đến chơi“(944)

Tóm lại, trong chuyến đi Pháp 1922, Phạm Quỳnh gặp nhóm Yêu Nước, ít nhất năm lần. Và hầu như luôn luôn bị mật thám theo dõi. Điều này chứng tỏ: năm 1922, có sự tham vấn về tình hình đất nước giữa khuynh hướng ôn hoà của Phạm Quỳnh chủ trương quân chủ lập hiến và Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương trực trị và khuynh hướng chống đối mạnh mẽ của nhóm Ngũ Long, tại Pháp.
________________

(932) Đào Hùng, Phụ Nữ Tân Văn từ Nam ra Bắc, Ông Phạm Quỳnh và vấn đề lập hiến ở nước Nam, PNTV số 87 (18/6/1931), đăng lại trên 13 năm tranh luận văn học, sưu tập Thanh Lãng, trang 252-261.

(933) Trí đăng, Sài Gòn, 1972.

(934) Là anh Dương Quảng Hàm.

(935) In trên Nam Phong số 1 (7/1917).

(936) Nam Phong số 17 (11/1918).

(937) Nam Phong từ số 58 (4/1922) đến số 100 (10-11/1925) in lại trong Hành trình nhật ký, Ý Việt, Pháp, 1997.

(938) Hành trình nhật ký, Ý Việt, Pháp, trang 252.

(939) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925, Đông Nam Á, 1983, trang 160.

(940) Bài đã dẫn trong chương 20.

(941) Hành trình nhật ký, trang 485.

(942) Phạm Tôn, Người nặng lòng với nước, tài liệu gia đình, Blog Phạm Tôn.

(943) Hành trình nhật ký, trang 491.

(944) Phạm Tôn, bđd.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Thu 21 Apr 2022, 14:05

Chương 22

Vụ án Nam Phong

Đối diện với trí thức Pháp: đấu tranh cho giáo dục ở Việt Nam

Hoạt động thứ nhì trong thời kỳ Phạm Quỳnh ở Pháp, là tranh đấu cho một đường lối giáo dục phù hợp với dân tộc Việt Nam, thể hiện qua 4 bài diễn thuyết tại các trường lớn. Những bài này được đăng báo ở Pháp, rồi trên Nam Phong song ngữ và in lại trong Nouveaux essais franco-annamites – Những bài tiểu luận Pháp-Việt mới(945).

Đây là những bài tham luận quan trọng, nhưng ít ai biết, lại phải đọc nguyên văn tiếng Pháp, vì bản dịch dù của tác giả, nhưng với thứ tiếng Việt đầu thế kỷ: La France dịch là Đại Pháp; Messieurs là Thưa các ngài, đã làm mất tính dân chủ trong sự khẳng khái đòi chính quyền Pháp thực thi một nền giáo dục đúng đắn ở Việt Nam.

Trước sinh viên và trí thức Pháp, Phạm Quỳnh dùng lối thuyết khách: ông trình bầy và phân tích tiến trình lịch sử và văn hoá Việt Nam từ thời thượng cổ, để thuyết phục Pháp không thể “giáo hoá” dân Việt như một dân tộc dã man, tức là bỏ hẳn tiếng Việt, chỉ dạy tiếng Pháp, biến người Việt thành người Pháp.

1/ Ngày 26/5/1922. Diễn thuyết tại Ecole des Langues orientales vivantes – Trường Sinh ngữ Đông phương. Đề tài: L’évolution de la langue annamite – Sự tiến hóa của tiếng An-nam(946).

Phạm Quỳnh lược qua tình trạng ngôn ngữ ở Việt Nam: Trải ngàn năm bị Tầu đô hộ, văn chương Việt chia làm hai loại: bác học, chữ Hán và bình dân, chữ Nôm. Tiếng nói dân tộc bị coi thường, chữ Nôm bị khinh rẻ.

Nhưng đến đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Du, một đại văn hào xuất hiện, đưa thứ ngôn ngữ thông tục lên hàng kiệt tác với Truyện Kiều. Công của Nguyễn Du đối với quốc âm cũng giống như công của Ronsard, Rabelais đối với tiếng Pháp.

Chữ quốc ngữ, do các linh mục Tây Phương đặt ra với mục đích truyền giáo; nhờ Trương Vĩnh Ký và Paulus Của, được truyền bá rộng rãi ở Nam Kỳ, bởi vì trong Nam không có lớp nho học bảo thủ như đất Bắc.

Khoảng 1900, sau khi Tầu thua Nhật, người Tầu bắt đầu du học Âu Mỹ; khi về nước, họ đã dịch đủ loại tác phẩm Tây phương, từ Darwin, Kant, đến Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot… sang chữ Hán. Đó là những sách Tân Thư. Các nhà nho Việt đọc tân thư, tiếp nhận, và dịch lại những danh từ khoa học, kỹ thuật, triết học, mà người Hoa đã dịch sang chữ Hán.

Khi lớp người Tây học (chúng tôi) bắt đầu dịch các sách Tây Phương sang tiếng Việt, thì đã có sẵn kho danh từ Hán-Việt do các bậc đàn anh dịch từ chữ Hán sang: Chữ quốc ngữ hiện đại hình thành và giàu mạnh, là nhờ sự cộng tác chặt chẽ giữa hai phái Nho và Tây học.

Sự phục hưng tiếng Việt qua quốc ngữ không được người Pháp biết đến, kể cả những người đã Việt hoá nhất, họ chỉ học tiếng Việt hàng ngày, khi đụng phải một vài danh từ Hán Việt là họ giãy nẩy lên, bảo đấy là tiếng Tầu. Nói là mượn tiếng Tầu thì cũng không đúng hẳn: Thực ra, để tạo chữ mới, tiếng Việt cũng như tiếng Cao Ly, Nhật, quan thoại, đều mượn chữ Hán, một tử ngữ, hệt như người Âu mượn chữ La tinh, Hy lạp. Khi các bạn viết: électro-dynamique thì cũng giống như chúng tôi dùng từ Hán-Việt vậy.

Tại sao phải dùng từ Hán-Việt? Ví dụ intuition dịch là trực giác, trực là thẳng, giác là thấy, dễ hiểu hơn là phiên âm thành anh-tuy-di-on hay giải nghĩa dài dòng sang tiếng Việt. Nhưng có những tiếng có thể dịch thẳng sang tiếng Việt, như l’aréoplane thành tầu bay hoặc automobile phiên âm thành ô tô; la gare thành nhà ga. Về tên riêng, chúng tôi phiên âm tên Napoléon thành từ Hán Việt Nã Phá Luân, bởi ba chữ này có âm vang chiến đấu; Washington thành Hoa Thịnh Đốn vì âm vang thanh nhã hợp với đất kinh thành.

Khi ngôn ngữ bất đồng, thì không thể hiểu nhau được.

Các bạn đang học trường Sinh Ngữ Đông Phương, vậy nếu các bạn muốn học tiếng nước tôi thì không chỉ học ngôn ngữ hàng ngày, nên học cả ngôn ngữ văn chương, và nếu có thể, học thêm chữ nho, để có thể tìm hiểu đến nguồn cội ngôn ngữ Việt Nam(947).

Bài L’évolution de la langue annamite mở đầu cho “chiến dịch” cổ động mà Phạm Quỳnh đã trù định: Thừa dịp được toàn quyền Maurice Long cử sang Pháp diễn thuyết tại các trường lớn, ông đã tìm cách thuyết phục Pháp đừng thi hành chính sách đồng hoá ngôn ngữ ở Việt nam. Mở đầu bằng lời khuyên sinh viên trường sinh ngữ, ngoài tiếng Việt hàng ngày, nên học văn chương Việt, học thêm chữ nho, để hiểu những danh từ Hán-Việt.

2/ Ngày 31/5/1922 diễn thuyết ở Ecole Coloniale- Trường Thuộc Địa, đề tài: L’évolution intellectuelle et morale des Annamites depuis l’établissement du Protectorat français – Sự tiến hóa về đường tinh thần của người Việt Nam từ khi nước Pháp đặt Bảo hộ(948).

Phạm Quỳnh ghi trong Hành Trình Nhật Ký: “Trị cái đề này cho cứng và cho ổn cũng khó thật; khó là muốn cho vừa cứng vừa ổn. Nếu ổn quá thì thành ra nịnh rồi, mà nịnh thì mình không mặt mũi nào; mà nếu cứng quá tất sẵng, mà sẵng cũng không xong”. “Tối hôm nay quyết ăn mặc quần áo An Nam, lấy quốc phục làm lễ phục, cho nó thêm trịnh trọng. Nghiễm nhiên là một anh “đồ” An Nam mà ngồi diễn thuyết bằng tiếng Pháp“(949).

Bài này có tính cách chính trị: Phạm Quỳnh tổng kết tiến trình lịch sử và văn hoá Việt Nam từ đô hộ Tàu đến đô hộ Tây. Mục đích nói cho “các quan cai trị” tương lai biết rằng: các bạn muốn thành công thì nên học tiếng Việt, tìm hiểu văn hoá Việt. Mọi sự đàn áp đều đưa đến hậu quả khôn lường.

Phần đầu, ông nói về tình hình văn hoá Việt dưới sự đô hộ của Tàu: Chữ Hán trở thành ngữ tự chính thống.

Phần thứ nhì, và cũng là phần cốt lõi, ông nói đến nền đô hộ của Tây. Đại ý như sau: Nước Pháp đến nước chúng tôi đã nửa thế kỷ. Chuyện đã rồi, chúng tôi đành phải chịu. “Nhưng đối với lớp đàn anh chúng tôi, thì chẳng qua quý quốc cũng chỉ là một giống “xâm lược” mà thôi”. “Trừ là một dân tộc hèn mạt suy đốn, chứ có bao giờ người dân một nước lại giương tay ra đón lấy kẻ ngoại quốc đến cưỡng chiếm nước mình”. Bởi thế nên 20 năm sau khi quý quốc đến chiếm hữu, biết bao nhiêu cuộc nổi dậy chống đối, “cũng chỉ vì cái lòng ái quốc bị khổ nhục, lòng căm tức tới tâm gan“.

Sự căm thù khiến chúng tôi coi việc học tiếng Pháp và học vần quốc ngữ do người Tây phương đem lại là một cái nhục. Nhưng dần dần, sĩ phu của chúng tôi cũng phải thừa nhận sự yếu kém của nước mình, và họ đã tìm đọc những tư tưởng tiến bộ của J.J. Rousseau, Montesquieu qua những cuốn Tân Thư của Tàu, từ đó phát xuất phong trào Đông Du. Họ muốn trông cậy vào Tầu, Nhật để đuổi Pháp ra khỏi xứ sở, mà biến cố 1908 – Trung kỳ dân biến là đỉnh điểm.

Khi toàn quyền Paul Beau nhậm chức (1902-1908), ông đã hết sức cải tổ chính trị, mở rộng các trường Pháp-Việt và mở trường đại học đầu tiên ở Đông Dương, tôi (Phạm Quỳnh) có hân hạnh với vài người bạn được vào học trường này. Nhưng chỉ ít lâu sau trường bị đóng cửa vì biến cố 1908.

Người ta giải thích rằng: Vì người Nam chưa có trình độ để học Đại học; điều đó đúng vì hồi đó chúng tôi làm gì có trường trung học? Việc lập đại học khi chưa có trung học là một nghịch lý. Thực ra thì ông Beau đã có chủ kiến sẳn: Từng làm đại sứ Pháp tại Trung hoa, ông biết rõ mỗi năm có hàng nghìn người Hoa sang Âu, Mỹ du học, quá tốn kém cho gia đình và nhà nước Trung hoa, cho nên nếu ông lập ra một Đại học Đông Dương ở Hà Nội, mà người Tầu sang học thì uy thế của Pháp tại Viễn đông càng nổi trội.

Nhưng chính sách khôn ngoan của ông Beau đã không được người kế nhiệm thấu hiểu. – Ở đây, Phạm Quỳnh muốn nói đến toàn quyền Antoine Klobukovski (1908-1910), người đã tàn khốc đàn áp các phong trào Duy Tân và Đông Du, đóng cửa Đông Kinh Nghiã Thục và Đại Học Đông Dương. Đến khi ông Albert Sarraut sang làm toàn quyền, chính sách cộng tác văn hóa Pháp Việt của ông Beau mới lại được tiếp tục: những vở kịch của Molière qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh đã được trình diễn ở Hà Nội – Xin nhắc lại: Albert Sarraut, thuộc đảng xã hội, làm toàn quyền hai lần (1911-1914) và (1917-1919), sau đó là Maurice Long (1921-1923), cả hai tiếp tục chính sách cộng tác văn hoá của Beau.

Phạm Quỳnh kết luận: Chúng tôi là một dân tộc cổ kính có một nền văn hoá lâu đời, ngày nay muốn hội nhập vào thế giới hiện đại, nhưng dứt khoát không muốn từ bỏ nền văn minh, cái quá khứ mà tổ tiên đã để lại qua nhiều thế kỷ. Chúng tôi muốn là chính mình. Muốn giữ lấy bản sắc của mình, giữ lấy cái quốc hồn quốc tuý của dân tộc mình.

Vì sự tình cờ của lịch sử, chúng tôi phải chịu sự bảo hộ của nước Pháp. Chúng tôi muốn được nước Pháp giúp đỡ trong công cuộc cải cách, bởi nước Pháp là một cường quốc, thông qua lịch sử, luôn luôn góp phần vào công cuộc tranh đấu giải phóng con người
(950).

Với bài L’évolution intellectuelle et morale des Annamites depuis l’établissement du Protectorat français trên đây, Phạm Quỳnh đánh vào tâm lý những nhà cai trị tương lai. Nội dung mãnh liệt. Lời lẽ khôn khéo. Không khác gì lời Phan Văn Trường trong bản Thỉnh Nguyện Thư 1919. Phạm Quỳnh trong tư thế thuyết khách. Phan Văn Trường viết lời thỉnh nguyện của một dân tộc.

3/ Ngày 5/7/1922. Diễn thuyết ở Société française des amis de l’Orient- Hội Ái hữu Đông phương.

Đề tài: La poésie annamite – Thi ca Việt Nam(951).

Bài này giới thiệu hai mảng thi ca quan trọng nhất của Việt Nam: Ca dao và Truyện Kiều. Vào đề, ông nói ngay: Thi ca của dân tộc nào là đặc biệt của dân tộc ấy, không thể dịch ra tiếng nước khác được. Dịch tức là diệt. Mà muốn dịch, lại phải thông thạo cả hai thứ tiếng. Tôi (Phạm Quỳnh) có thể tự hào biết rõ tiếng nước tôi, nhưng làm sao tôi biết hết những tinh vi trong tiếng Pháp, vậy tôi dịch phải sai nhiều lắm. Muốn thưởng thức thơ nước tôi, các bạn chỉ có cách học tiếng Việt.

Sau đó ông dịch một số câu ca dao và giải thích những cái hay tuyệt vời không thể dịch sang tiếng Pháp được, ví dụ hai chữ chiều chiều dịch thành soir soir thì làm sao nói được nỗi buồn với dư âm day dứt tiềm ẩn trong âm thanh chiều chiều.

Ca dao, mới chỉ là những bông hoa dân gian, hoa rừng, không trồng mà mọc. Còn Truyện Kiều của Nguyễn Du, mới là thơ của nhà đại thi hào dân tộc. Kiều là một quyển sách bói – livre d’horoscopes, giây phút nào trong đời người, bạn cũng có thể mở Kiều và tìm thấy những câu thơ phù hợp. Từ thượng cổ Hy Lạp đến nay, thi nhân luôn luôn băn khoăn tới số phận con người. Nhưng Tây phương thường diễn ca theo lối huyền ca thần bí, trong khi thi nhân nước tôi, lấy thân phận làm chủ não – leit-motiv của đời người đàn bà bị khổ nhục vì có nhan sắc, có lòng cao thượng và có quan niệm khác thường về nghĩa vụ con người.

Quý quốc sang cai trị chúng tôi đã 50 năm. Trong 100 công chức Pháp thì có độ 10 người biết tiếng Việt, nhưng điều quái lạ là không ai tìm đọc truyện Kiều! Ông Abel des Michels có dịch và chú thích nhưng cũng dịch sai nhiều lắm. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, bạn của chúng tôi, đã dịch nhiều tác phẩm của quý quốc sang tiếng nước tôi, và ông đã dịch cuốn Kiều sang tiếng Pháp. Lần này ông sang Pháp để tìm một văn tài thượng đẳng của quý quốc (nobilité littéraire française) có thể nhuận sắc lại bản dịch của ông để in bên Pháp(952).

Tôi nói thế không ra ngoài đề đâu, mỗi chi tiết đều có ý quan trọng về chính trị cả đấy. Bởi có những ý kiến đang thịnh hành cho rằng tiếng An Nam chẳng qua là một “thổ âm” phải tiêu diệt dần đi, thay tiếng Pháp vào. Một tiếng nói mà chúng tôi đã giữ được qua bao nhiêu thế kỷ chống lại tiếng Tầu. Người ta thường nói một dân tộc sống về tiếng nói, và nếu đúng như thế thì dân tộc chúng tôi quyết muốn sống đây! Chẳng phải vì bọn trí thức chúng tôi ghét tiếng Pháp mà nói vậy: chúng tôi muốn truyền bá văn minh Tây phương, nhưng sự truyền bá này phải không phương hại gì đến tiếng Quốc âm và nền văn minh lâu đời của chúng tôi.(953)

Với chủ đề văn chương, Phạm Quỳnh đã nói chính trị: bảo vệ triệt để ngôn ngữ dân tộc trước nguy cơ bị chính quyền thuộc địa dẹp hẳn để thay thế bằng tiếng Pháp như đối với các nước Châu Phi. Để bảo vệ tiếng Việt, Nguyễn Văn Vĩnh dịch Kiều và hai ông Vĩnh, Quỳnh đề cao Kiều như một kiệt tác, để người Pháp thấy cái hay trong tiếng Việt khiến họ phải kính phục và tôn trọng. Sự đề cao Truyện Kiều của Phạm Quỳnh là trong chủ đích ấy, nhưng một số nhà nho không hiểu. Ngô Đức Kế đã cực lực phản đối bằng những lời lẽ luân lý hết sức thiển cận. Sự hiểu lầm Phạm Quỳnh còn kéo dài trong nhiều thập niên sau với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Hoàn…

4/ Ngày 22/7/1922 diễn thuyết tại Académie des Sciences morales et politiques – Hội Hàn Lâm Luân lý Chính trị học. Mặc quốc phục.

Đề tài giáo dục: Un problème d’éducation des races. Comment doit-être faite l’éducation des Annamites par La France?- Một vấn đề giáo dục giống nòi. Nước Pháp phải giáo hoá người An Nam như thế nào?

Đây là bài quan trọng nhất, bàn thẳng vào chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam, mở đầu bằng những lời:

“Trong sử cũ nước Việt Nam chúng tôi, thường nói đến những bậc người đại trí (…) Gặp những cơ hội gì quan trọng, hay là khi nào phải xét đến một cái vấn đề lợi hại cho cả nước, thời chính Hoàng đế hay là các quan quốc vụ đại thần, hay là bất cứ người dân nào hữu tâm về vận mệnh nước nhà, thường hay tìm đến để hỏi han. Mà các bậc ấy bao giờ cũng lấy những điều chính lý, những sự khôn ngoan mà khuyên bảo. Mà những lời khuyên bảo ấy, hầu hết là nghe theo cả.

Toà Hàn Lâm của Đại Pháp, là nơi tẩu trạch (sanctuaire) những ngài học vấn uyên thâm, khôn ngoan tài trí của quý quốc…“
(954)

Lời mở đầu vẫn xác định nước mình có nền văn hoá lâu đời, có những bậc hiền triết mà vua, quan, dân đều phải nghe theo. Sau mới nói đến Hàn Lâm Viện Pháp, đặt các vị hàn lâm lên trên hết, hy vọng tiếng nói của họ sẽ được chính quyền Pháp nghe, như ở xứ Việt, từ xưa.

Chúng tôi đã bị Pháp đô hộ hơn 40 năm.

Bởi yếu thế về chính trị, nên đã không “đủ sức chống lại một kẻ xâm lược vừa giỏi vừa mạnh hơn nhiều”. Chúng tôi thua trận vì: “nước chúng tôi là gốc ở một cái văn minh rất cổ ở Á Châu, trong bao nhiêu thế kỷ tựa hồ như cách biệt với thế giới bên ngoài“.

Trước Hàn Lâm Viện Pháp, Phạm Quỳnh vẫn xác định: Pháp là kẻ xâm lược, sau nông nỗi mất nước buổi đầu, những phần tử ưu tú của đất nước chúng tôi mới nhận thức được sự yếu kém về học thuật của mình, muốn được thấm nhuần “cái học thuật và cái văn minh nhân đạo” của nước Pháp. Chúng tôi là một dân tộc bị áp bức, trông chờ ở nước Pháp, cái nôi của nhân quyền và giải phóng con người, giúp đỡ học hỏi để trở thành một nước tân tiến. Tóm lại, chúng tôi rất mong được giáo hoá, nhưng quý quốc định giáo hoá chúng tôi như thế nào đây? Sau khi bãi bỏ nền giáo dục cổ truyền của chúng tôi, quý quốc chưa tìm được giải pháp nào ổn thoả. Hiện có hai lập luận:

– Nhóm thực dân lâu đời cho rằng: Dân An Nam càng có kiến thức càng nổi lên chống Pháp, vậy chỉ nên dậy chúng trở thành những người thợ, hoặc thư ký, dễ sai bảo. Đây là một “lập luận hẹp hòi, ích kỷ, không xứng đáng với truyền thống nhân đạo của nước Pháp, mà còn nhục mạ khả năng tri thức của dân tộc tôi”. May mà chưa thực hiện.

– Lập luận thứ nhì, đang thực hiện, là mở trường dậy từ cấp tiểu học, tiến dần lên trung học, và đã bắt đầu nền đại học, xin rất cám ơn. Nhưng lại có vấn đề:

Nếu chúng tôi là một dân tộc vô văn hoá, hay một dân tộc mới, vừa xuất hiện trên mảnh đất tân bồi nào đó, không có quá khứ, không có lịch sử, thì việc giáo hoá như vậy cũng được. Tức là cứ việc “Tây hoá” cho thành người Pháp. “Nhưng dân Việt Nam chúng tôi, không thể ví như tờ giấy trắng được. Dân tộc chúng tôi là một quyển sách cổ (un vieux parchemin) đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai, đã mấy mươi thế kỷ nay; không có thuốc gì xoá hẳn được thứ chữ ấy đi. Không ai có quyền tự do muốn viết gì vào đấy thì viết được. Quyển sách cổ ấy, có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang, nhưng không thể đem in một thứ chữ ngoài lên trên các dòng chữ cũ được”.

Còn một thuyết khác nữa khá phổ biến, cho rằng: Người Nam xưa đã học chữ Tầu, nay học chữ Tây là phải, còn cái tiếng An Nam man rợ ấy phải tiêu diệt dần đi, nó chỉ là một thứ “thổ âm” (patois); đến ngày nào bao nhiêu trẻ con nước Nam đếu biết nói tiếng Pháp cả, thì nước Nam sẽ trên đường tiến bộ. Nhưng giả thử có ngày bao nhiêu trẻ con An Nam đều biết nói mấy câu tiếng Tây “ba rọi” (petit nègre), nhưng lại quên tiếng nước mình, vì không còn được dậy ở trường nữa, thì đó có phải là thời tiến bộ của nước tôi không?

Hay còn một giải pháp hợp lý hơn, là cho dân An Nam học tiếng Việt ở bậc tiểu học, tức là bậc giáo dục phổ thông trước đã. Rồi lên cao hơn, học thêm tiếng Pháp để dự bị vào trung học, cao đẳng, đại học. Chính ở bậc trung học này, cũng phải dậy thêm chữ nho, vì đối với tiếng An Nam, chữ nho cũng giống như chữ La tinh đối với tiếng Pháp. Hiện nay chưa có nghị định nào bắt người An Nam phải học thuần tiếng Pháp cả, nhưng chữ An Nam chỉ có một địa vị rất nhỏ ở cuối bậc tiểu học mà thôi. Thử hỏi chính phủ Pháp có thể trông cậy vào những người An Nam học ở bên Tây, đỗ kỹ sư, tiến sĩ, mà quên cả tiếng mẹ đẻ, thì đối với dân mình, chỉ là những người xa lạ, làm sao có thể truyền bá cái văn minh Tây phương cho họ được?

Vậy nền giáo dục của chính phủ Bảo hộ, muốn có kết quả tốt thì phải đào tạo được những người Việt Nam chân chính, vừa có cái học thái tây, vừa biết giữ gìn ngôn ngữ, phong tục của nước mình. Vì dân tộc tôi mà tôi tha thiết mong các danh sư của Viện Hàn Lâm Pháp soi xét vần đề này(955).

Bốn bài diễn văn của Phạm Quỳnh năm 1922 tại Paris đã có tác dụng. Phạm Thế Ngũ viết: “Đến năm 1924, vì nhiều nguyên nhân chính trị, và cũng vì chiến dịch vận động của Phạm Quỳnh, người Pháp lần đầu ở Bắc và Trung, lập ra một bậc Ấu học ở Việt Nam trong ba năm hoàn toàn học bằng tiếng Việt để thi lấy bằng Sơ học yếu lược.(…) Phạm Quỳnh coi đó là một thắng lợi trong công cuộc vận động giáo dục, thực hành chủ nghiã quốc gia về đường văn hoá. Cũng như một thắng lợi khác nữa của ông là việc mở một khoa “Ngôn ngữ và văn chương Hán-Việt” ở trường Cao đẳng mà ông đã được cử phụ trách giảng dậy, một thứ mầm mống của Đại học văn khoa sau này“(956).

Công trình văn học, triết học, ngữ học, dịch thuật của Phạm Quỳnh đã xác định địa vị của ông, không ai có thể chối cãi được. Hầu hết trước tác của Phạm Quỳnh nằm trong Nam Phong, hiện nay, trọn bộ 210 số, đã được Viện Việt Học ở California đưa vào DVD. Di sản văn hoá đồ sộ của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, hai nhà văn hoá bị kết án “bán nước”, hiện vẫn còn ngủ yên chưa được lựa chọn, soạn thảo, chú thích theo tiếng Việt hiện thời và in lại một cách hệ thống để dùng làm sách giáo khoa. Phần Thượng Chi văn tập, đã in lại, không có gì đáng kể. Chỉ riêng về triết học và dịch sách Pháp, công trình của Phạm Quỳnh Nguyễn Văn Vĩnh, cũng đã đầy đủ cho học sinh và sinh viên sử dụng, thay vì dùng những bản dịch của những “dịch giả” mới học tiếng Pháp dăm năm, chưa đủ trình độ và kiến thức để hiểu nguyên bản, nói gì đến dịch đúng.

Nguyễn Bá Trác, ngoài Hán Văn, còn đóng góp hai bài tuyệt bút Ngọn gió hồ GươmBài tình tự với sông Hương, trên Nam Phong số 1 và 2, hai bài tuỳ bút quốc ngữ đầu tiên nói lên tâm sự đớn đau của người xa quê nhớ nước.

Ngoài trước tác, Phạm Quỳnh còn lập phụ trương Tự vựng, quốc ngữ, chữ nho, chữ Pháp – từ Nam Phong số 1 đến số 10, in những chữ mới, gồm những từ Hán Việt, được các nhà Nho và Tây học dịch từ tiếng Pháp và chữ Hán sang quốc ngữ. Đó là những danh từ khoa học, triết học, ngữ học, luận lý, trừu tượng… như anh hùng ca, ảnh hưởng, áp chế chủ nghiã, bán khai, bành trướng, bi đát, bi kịch, bí quyết, duy tâm chủ nghiã, duy vật chủ nghiã… có lẽ là lần đầu tiên xuất hiện, và sau này sẽ trở thành thông dụng đối với chúng ta. Tiếc rằng, phần phụ trương Tự vựng này, không được chụp lại trong DVD Nam Phong, nhưng trên sưu tập sachxua.net có đủ, cho thấy con đường của Phạm Quỳnh: xây dựng tiếng Việt từ những số đầu Nam Phong.

Phạm Quỳnh tiếp tục với bộ Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tiến Đức, mà ông là chủ tịch, soạn cùng với Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đỗ Mục…. Việt Nam Tự Điển ra đời năm 1931 – tuy còn nhiều khuyết điểm, chưa làm xong và chưa thể sánh với Đại Nam Quấc Âm tự vị của Paulus Của – nhưng đã có thêm một số chữ mới, đánh dấu giai đoạn phát triển quốc ngữ Nguyễn Văn Vĩnh – Phạm Quỳnh tiếp nối giai đoạn Trương Vĩnh Ký – Huỳnh Tịnh Của.
________________

(945) Nxb Bùi Huy Tín, Huế, 1938.

(946) Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp, số 69 (3/1923) và số 70 (4/1923).

(947) Tóm tắt các ý chính trong bài diễn văn của Phạm Quỳnh.

(948) Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp số 66 (12/1922) và 67 (1/1923).

(949) Hành trình nhật ký, trang 343- 345.

(950) Tóm lược các ý chính trong bài diễn thuyết.

(951) In trong Revue Orient et Occident ở Paris, tháng 8/1922, và Nam Phong phụ trang Pháp ngữ, số 63 (9/1922).

(952) Bản dịch Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh được in dần trên Đông Dương tạp chí từ số 18 trở đi, rồi trên Trung Bắc Tân Văn. Xuất bản sau khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời (nxb Alexandre de Rhodes, 1942, Hà Nội), 2 tập, gồm ba phần: thơ, chú giải, và dịch từng chữ. Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch Kiều trong khoảng 1913-1916.

(953) Tóm lược những ý chính trong bài diễn thuyết.

(954) Trích theo bản dịch của Phạm Quỳnh, Nam Phong số 71 (5/1923).

(955) Tóm tắt những ý chính trong bài diễn thuyết.

(956) Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, quyển 3, trg 150.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Wed 27 Apr 2022, 07:37

Chương 23

Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Nhan-v10


Ngày 30/10/1956, Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết 6 tiếng trước Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội – 3 giờ buổi sáng, 3 giờ buổi chiều – về những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất. Trường Chinh, Xuân Thủy và Dương Bạch Mai yêu cầu ông viết lại nội dung cuộc nói chuyện ứng khẩu thành văn bản. Ông viết lại với tựa đề: “Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, đánh máy làm hai bản, trao cho Trường Chinh và Xuân Thủy, chỉ giữ lại bản nháp viết tay. Bài chính luận sâu sắc, chủ đích phân tích những sai lầm của chế độ, từ Cải Cách Ruộng Đất ở thôn quê, sang Cải Tạo Tư Sản, quản lý mậu dịch ở thị thành, chỉ ra nguồn cội của sai lầm: vì chế độ chính trị không dân chủ; và trình bày phương pháp sửa đổi: thực hiện những nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền, trong một chế độ dân chủ.

Bài tham luận được gửi sang Rangoon, thủ đô Miến Điện, rồi đến Pháp – theo Hoàng Văn Chí. Vậy Trường Chinh và Xuân Thủy, ai là người chuyển băn bản Nguyễn Mạnh Tường ra ngoại quốc, và để làm gì? Để cho quốc tế biết tình hình miền Bắc Việt Nam hay để buộc tội tác giả?

Nguyễn Mạnh Tường bị kiểm điểm rồi bị đuổi khỏi đại học, sống trong hơn 30 năm sa mạc. 40 năm sau, ông viết tiểu thuyết Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm) về ba chính sách nòng cốt trong thời kỳ xây dựng chế độ Cộng sản ở miền Bắc: Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Tư Sản, và Thanh Trừng Trí Thức. Ông gửi bản thảo sang Paris. Đây là một trong 7 tác phẩm được hoàn tất trong giai đoạn cuối đời, tất cả viết bằng tiếng Pháp, về hơn 60 năm ông sống dưới chế độ cộng sản. Ngoại trừ cuốn Un excommunié – Kẻ bị khai trừ, được Quê Mẹ in năm 1992 tại Paris, các tác phẩm khác, chưa in.

Tại Paris trong bốn tháng -4/1989-1/1990- ông trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, được ghi âm, viết lại, in trên báo, và riêng chúng tôi cũng có dịp gặp ông, nhờ đó, nhiều vấn đề được sáng tỏ hơn.

Ngày 27/7/2003, bác sĩ nha khoa Nguyễn Văn Lung (1916-2009)(957) người tích cực hoạt động cho tổ chức Francophonie – Khối Pháp ngữ gửi đến chúng tôi một tập tài liệu quan trọng về giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, với lời ghi: “Tôi xin gửi tới chị một số tài liệu về anh Tường để chị sẽ làm hương hồn anh trở lại với chúng ta”. Và ông Lung đề nghị cùng chúng tôi làm một chương trình về luật sư Nguyễn Mạnh Tường trên đài RFI, dưới dạng phỏng vấn, bởi ông biết rõ con người và đã được đọc nhiều tác phẩm chưa in của Nguyễn Mạnh Tường. Đang chuẩn bị, thì ông được thư của bà Nguyễn Mạnh Tường tỏ ý lo ngại, ông đành phải hoãn cuộc phỏng vấn, đợi khi nào thuận tiện hơn. Tuy nhiên ông căn dặn chúng tôi có toàn quyền sử dụng tập tài liệu này trong khuôn khổ văn hoá. Cũng xin nói thêm, Nguyễn Văn Lung và Joël Fouilloux, là hai người có giấy ủy quyền của Nguyễn Mạnh Tường về việc in các tác phẩm của ông ở ngoại quốc. Chúng tôi đang chờ đợi một dịp thuận tiện để công bố những tư liệu này, thì ông Nguyễn Văn Lung đột ngột qua đời tại Paris ngày 8/10/2009.

Trong tập tài liệu này, ngoài hình ảnh, thư từ viết bằng tiếng Pháp, trao đổi giữa Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Văn Lung cùng một số người Pháp, về vấn đề Francophonie, về việc in sách của luật sư tại Pháp, còn có bản chụp hai cuốn Contruction de l’Orient – Apprentissage de la Méditerranée – Xây dựng Đông phương – Kinh nghiệm Địa Trung HảiLe voyage et le sentiment – Du hành và cảm xúc, kịch. Ngoài ra, có một bản đánh máy, kê khai gần đủ các tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường, phần lớn chưa in, và nhất là bản thảo đánh máy cuốn Une voix dans la nuit – Tiếng vọng trong đêm do Nguyễn Mạnh Tường sửa lỗi.

Qua những tư liệu này, chúng tôi sẽ dựng lại chân dung Nguyễn Mạnh Tường, chủ yếu dẫn trích từ các tác phẩm và từ lời nói của ông trong các buổi gặp gỡ, trả lời phỏng vấn Phạm Trần, Hoà Khánh, ở Paris, và giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, học trò ông ở Hà Nội.

Phần thứ hai, chúng tôi sẽ giới thiệu tác phẩm Une voix dans la nuit, cho tới nay, là cuốn sách duy nhất do một trí thức tự do viết về những bi kịch đau thương còn khép kín. Như các tác phẩm khác của Nguyễn Mạnh Tường, Une voix dans la nuit có bút pháp mạnh mẽ, đầy hấp lực và hình ảnh, mỉa mai châm biếm, chặt chẽ trong lập luận pháp lý, là sự đồng quy của văn chương và luật pháp trong một ngòi bút nhà văn. Tập tài liệu của nha sĩ Nguyễn Văn Lung trao cho chúng tôi năm 2003, với những bút tích quý giá này, sẽ được gửi về Viện Bảo Tàng Văn Học hoặc Lịch Sử, khi điều kiện cho phép.

Ở trong nước, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh 16/9/1909 – 16/9/2009, qua một số bài viết, Nguyễn Mạnh Tường được thần tượng hoá trở lại, với những mỹ từ “thông minh siêu việt, lưỡng khoa tiến sĩ, kỷ lục chấn động học đường nước Pháp, nhà sư phạm lỗi lạc”… Những điều đó ít nhiều có thật, tiếc rằng còn một sự thật đáng nói hơn là cuộc đời và tác phẩm của ông, hiện vẫn bị chôn vùi trong bóng tối.

Duy chỉ có giáo sư Nguyễn Văn Hoàn là trung thành với lời nói của thày Tường, còn một số học trò cũ, nay đã thành các nhà giáo nhân dân, không ngần ngại xoá bỏ quãng đời sa mạc hơn 30 năm của thầy Tường, để thay thế bằng một sự nghiệp liên tục tốt đẹp, không vết phong trần, ông Trần Văn Hà, giáo sư tiến sĩ, viết: “Chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại, toàn gia đình giáo sư Nguyễn Mạnh Tường mới trở về Hà Nội. Giáo sư tiếp tục giảng dạy tại trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội và làm việc tại Viện Nghiên Cứu Giáo Dục từ 1954 đến 1970. Từ khi nghỉ hưu, giáo sư dạy Pháp ngữ tại nhà theo yêu cầu, và theo đuổi những công trình khoa học của mình.”(958)

Viết không đúng sự thực là cách chôn thày thêm lần nữa, đáng ngại là nó xẩy ra ở những ngòi bút của các giáo sư đại học, mà sự chính xác phải là châm ngôn giảng dạy:

Ví dụ, về việc Nguyễn Mạnh Tường gặp chủ tịch Hồ Chí Minh trong đại hội “Liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc” năm 1952 ở Việt Bắc, ông Nguyễn Đình Chú, nhà giáo nhân dân, cho rằng: “Riêng đối với giáo sư [NMT] đây là những giây phút (…) gắn bó thiêng liêng máu thịt giữa giáo sư với cách mạng, với lãnh tụ, đến mức cực độ”. Không biết ông căn cứ vào đâu mà viết như vậy, bởi Nguyễn Mạnh Tường là người rất thận trọng trong lời nói cũng như chữ viết, khó có thể tìm thấy một tình cảm “cực độ” của ông đối với một đối tượng nào.

Riêng về đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ, Hoàng Cầm kể lại như sau: “Năm 1952, tôi đem đội văn công của tôi đi phục vụ Đại Hội Chiến Sĩ Thi Đua Anh Hùng Toàn Quốc. Đó là đại hội đầu tiên bầu ra các mặt anh hùng lao động, công nghiệp, nông nghiệp, quân đội… Tôi phải phục vụ đại hội trong 10 ngày, tôi nhìn thấy Trần Đức Thảo và Nguyễn Mạnh Tường và có nói chuyện với hai ông. Trong đại hội, bác Hồ có phát biểu một câu ngăn ngắn thôi về trí thức: “Trí thức là những người mà nếu đứng về phía nhân dân làm việc phục vụ nhân dân tốt thì xứng đáng gọi là trí thức xã hội chủ nghiã, còn nếu trí thức chỉ có sách vở chẳng làm gì thực tế để giúp cho đời sống của nhân dân thì cái trí thức ấy không bằng cục phân”. Tôi nghe thấy hơi khó chịu, kể ra thì cũng đúng đấy, nhưng mà người đứng đầu một nước không nên nói như thế, nhất là cái câu ấy ông Mao đã nói ở bên Trung Quốc rồi, ông Hồ chẳng qua chỉ nhắc lại thôi”(959). Trong bối cảnh ấy, làm sao nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường có thể “cảm thấy gắn bó thiêng liêng máu thịt với cách mạng và lãnh tụ đến cực độ” được? Hoặc để chứng minh những “vinh quang chói lọi” của thày Tường, ông Nguyễn Đình Chú không ngần ngại xác định: “thân phụ là một công nhân“, “Nguyễn Mạnh Tường đã liên tiếp tốt nghiệp cao đẳng văn chương, cử nhân văn chương, cử nhân luật khoa, làm luật sư toà thượng thẩm Montpellier, cao đẳng ngôn ngữ, và văn tự cổ”; và luận án tiến sĩ được phê “siêu ưu” (ông dịch chữ très bien)(960). Chẳng hiểu Pháp có các bằng cao đẳng văn chương, cao đẳng ngôn ngữ, và văn tự cổ từ thủa nào? Và Nguyễn Mạnh Tường chỉ mới tập sự luật sư, khi ở Pháp.

Ông Phong Lê, giáo sư, Viện trưởng Viện Văn Học, viết: “Năm 1928, đỗ cao đẳng văn chương, năm 1929, đỗ cử nhân văn chương, cũng năm 1929, đỗ cử nhân Luật. Năm 1931, đỗ cao đẳng ngôn ngữ văn tự cổ (tức chữ La Tinh và Hy Lạp cổ). Rồi ông giải thích thêm: “Mà cử nhân thì còn lâu mới đến Tiến sĩ, sau khi vượt được cái ngưỡng cửa Thạc sĩ. (Lúc này tất cả các thầy Pháp ở Đại học Đông Dương đều mới chỉ có bằng Thạc sĩ)“(961). Thì ra các giáo sư Nguyễn Đình Chú và Phong Lê chẳng hiểu gì về văn bằng ở Pháp. Riêng ông Phong Lê còn nhầm Thạc Sĩ – Agrégé của Pháp, một kỳ thi tuyển rất khó, với văn bằng hiện nay ở Việt Nam gọi là Thạc Sĩ, tương đương với Maîtrise của Pháp, hay Master của Mỹ. Khi dịch Maîtrise hay Master thành Thạc Sĩ, Bộ Giáo Dục, vì không hiểu lịch sử của hai chữ Thạc Sĩ, nên đã gây lầm lộn như thế.

Thạc sĩ là một kỳ thi tuyển – concours chọn các giáo sư của Pháp để dạy các trường trung học, là thạc sĩ văn chương, khoa học, hay đại học là thạc sĩ luật hay y khoa – nay đã bỏ. Để dự thi thạc sĩ văn chương hay khoa học, thí sinh phải có bằng cử nhân- licence ngày trước, maîtrise hiện nay, riêng thạc sĩ luật và y khoa đòi hỏi phải có bằng tiến sĩ.

Việt Nam có Nguyễn Mạnh Tường đỗ 2 bằng Tiến sĩ quốc gia năm 1933, Phạm Duy Khiêm đỗ thạc sĩ văn chương năm 1935, Hoàng Xuân Hãn, thạc sĩ toán năm 1936,… sau này về y khoa có thạc sĩ Trần Đình Đệ… đều là những người học giỏi nổi tiếng. Cũng xin nói thêm rằng Pháp coi ngành giáo dục rất mực quan trọng, cho nên, những người đậu thạc sĩ văn chương hay khoa học, là những phần tử ưu tú hàng đầu của nước Pháp, được đưa vào dạy trung học. Việc dạy trung học, không có nghiã là bằng thạc sĩ yếu thế hơn bằng tiến sĩ, mà chứng tỏ Pháp coi việc rèn luyện học sinh trung học quan trọng hơn việc dạy đại học, vì bậc trung học mới là nền tảng của thanh niên. Nguyễn Mạnh Tường, tuy đỗ bằng tiến sĩ, sau này dạy đại học, nhưng cũng như tất cả những tiến sĩ khác ở Pháp, ông không thể không kính trọng những người như Phạm Duy Khiêm, Hoàng Xuân Hãn, đỗ bằng thạc sĩ mà chỉ dạy trung học.

________________

(957) Em ruột bà Hoàng Xuân Hãn.

(958) Trần Văn Hà, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, tự học và quyết tâm là bí quyết thành công, Xưa và Nay, số 11, 1996.

(959) Theo băng ghi âm Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè.

(960) Nguyễn Đình Chú, Thầy tôi, Hồ sơ Nguyễn Mạnh Tường, mạng Vietstudies.

(961) Phong Lê, Nguyễn Mạnh Tường-Một chân dung và một hành trình như tôi hiểu, Hồ sơ Nguyễn Mạnh Tường, mạng Vietstudies.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Wed 04 May 2022, 11:20

Chương 23

Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường

Trong lá thư đề ngày 16/8/1994 gửi Nguyễn Văn Lung, Nguyễn Mạnh Tường viết: “Tôi vẫn tiếp tục làm việc, dậy học và hoàn tất cuốn tiểu thuyết mới nhất Palinodies- Phủ nhận, cuốn sách thứ 18 của tôi“. Như vậy tạm coi Palinodies là tác phẩm cuối cùng, và là cuốn sách thứ 18 của ông.

Với những tư liệu hiện hành, xin tạm kê khai những tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường như sau:

Thời kỳ 1932, các luận án, tác phẩm Pháp văn:

1/ L’Individu dans la vieille cité annamite- Essai de synthèse sur le Code de Lê – Cá nhân trong xã hội cổ Việt Nam – Tổng luận Luật Hồng Đức: Luận án tiến sĩ Luật.

2/ Essai sur la valeur dramatique du théâtre d’Alfred de Musset – Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset, luận án chính (thèse principale), tiến sĩ văn chương.

3/ L’Annam dans la littérature française, Jules Boissières – Việt Nam trong văn chương Pháp, tác phẩm của Jules Boissières, luận án phụ (thèse complémentaire), tiến sĩ văn chương.

Thập niên 1940, tác phẩm Pháp văn:

4/ Sourires et larmes d’une jeunesse – Nụ cười và nước mắt tuổi trẻ, Revue Indochinoise, Hà Nội, 1937.

5/ Construction de l’Orient – Pierres de France – Xây dựng Đông Phương – Nền tảng Pháp, Revue Indochinoise, 1937.

6/ Construction de l’Orient – Apprentissage de la Méditerranée – Xây dựng Đông Phương – Kinh nghiệm Địa Trung Hải, Collection Tendances, Hà Nội, 1939.

7/ Le voyage et le sentiment – Du hành và cảm xúc, kịch ba màn, Collection Tendances, Hà Nội, 1943.

Sau 1950, tác phẩm Việt văn:

8/ Một cuộc hành trình, nửa hồi ký, nửa nghị luận. Hành trình một người trí thức tham gia kháng chiến, Minh Đức, Hà Nội, 1954.

Sau 1958, tác phẩm Việt văn:

9/ Lý luận giáo dục Âu châu thế kỷ XVI, XVII, XVIII, từ Erasme tới Rousseau – Doctrines pédagogiques de l’Europe du XVI au XVIIIe siècle, d’Erasme à Rousseau, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1994.

10/ Eschyle và bi kịch cổ đại Hy Lạp – Eschyle et la tragédie grecque, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1996.

11/ Orestia, dịch và chú giải bi kịch của Eschyle sang tiếng Việt. Chưa in.

12/ Virgile, nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La Mã cổ đại. Tên gốc: Virgile và anh hùng ca La tinh – Virgile et l’épopée latine, nxb Khoa Học Xã Hội, 1996.

Bắt đầu viết tự truyện, tiếng Pháp: Larmes et sourires d’une vieillesse.

Sau khi đi Pháp về (1990-1994), hoàn tất các tác phẩm, Pháp văn:

13/ Larmes et sourires d’une vieillesse – Nụ cười và nước mắt tuổi già, tự truyện, ba cuốn, chưa in.

14/ Triptyque – tạm dịch: Bức họa ba tấm, chưa in.

15/ Un excommunié – Kẻ bị khai trừ, Quê Mẹ, Paris, 1992.

16/ Malgré lui, malgré elle – Mặc hắn, mặc nàng (l’amour conjugal sous le régime communiste – tình yêu vợ chồng dưới chế độ cộng sản). Chưa in.

17/ Partir, est ce mourir?- Đi là chết? (Tragédie de l’émigration – Bi kịch di dân). Chưa in.

18/ Une voix dans la nuit – Roman sur le Việt Nam 1950-1990 – Tiếng vọng trong đêm – Tiểu thuyết về Việt Nam từ 1950 đến 1990. Chưa in.

19/ Palinodies – Phủ nhận. Chưa in.

Trừ bản dịch Orestia, thì đúng Nguyễn Mạnh Tường đã viết 18 cuốn sách, kể cả các luận án tiến sĩ.

Ngoài bốn cuốn tiếng Việt, phần còn lại, để bảo vệ tự do của ngòi bút, để thế giới có thể đọc được, để giữ an ninh cho gia đình và bảo toàn bản thảo, Nguyễn Mạnh Tường đã chọn tiếng Pháp. Vì vậy, muốn đọc và hiểu ông, cần phải biết tiếng Pháp, hoặc phải có bản dịch. Văn chương điêu luyện của ông không dễ dịch, bản dịch Un excommunié – Kẻ bị mất phép thông công của Nguyễn Quốc Vĩ(962) mới chỉ là bản đầu tiên, chưa diễn đạt được văn phong uy vũ của Nguyễn Mạnh Tường. Ngay trong cái tựa Un excommunié, tác giả đã có ý so sánh chế độ cộng sản như một giáo hội cuồng tín, loại trừ kẻ ngoại đạo – những người không cộng sản – vì vậy, nên dịch theo nghiã bóng Kẻ bị khai trừ, hơn là dịch theo nghiã đen, Kẻ bị mất phép thông công, yếu và khó hiểu.

Con đường hoà hợp văn hoá Đông Tây

Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16/9/1909 tại phố Hàng Đào, nguyên quán: xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Mất ngày 13/6/1997 tại nhà riêng, 34 Tăng Bạt Hổ, Hà Nội. Cha: Nguyễn Căn Cát, công chức.

Năm 1937, kết hôn với cô Tống Lệ Dung, có ba con: Nguyễn Tường Hưng và Nguyễn Dung Nghi, Nguyễn Dung Trang. Học tiếng Pháp từ nhỏ ở Collège Paul Bert, rồi lycée Albert Sarraut, Hà Nội. 1925,16 tuổi, đậu Tú Tài Triết Học hạng ưu. Được học bổng sang Pháp học Luật và Văn Chương tại đại học Montpellier.

1927, đậu cử nhân văn chương với 4 chứng chỉ: văn chương Pháp, văn chương Hy Lạp, văn chương La Tinh và Bác ngữ học – Philologie.

1930, đậu cử nhân Luật. Dự định thi tuyển Thạc Sĩ – concours d’agrégé để dậy học, nhưng vì quốc tịch Việt nên không được thi. Sửa soạn luận án tiến sĩ quốc gia – doctorat d’état. Trong thời gian làm luận án, ông thực tập luật sư tại toà Phúc Thẩm Montpellier.

Tháng 5/1932, Nguyễn Mạnh Tường bảo vệ luận án tiến sĩ Luật, đề tài: L’Individu dans la vieille cité annamite – Essai de synthèse sur le Code de Lê – Cá nhân trong xã hội Việt Nam cổ – Tổng luận Luật Hồng Đức.

Tháng 6/1932, bảo vệ luận án tiến sĩ văn chương với luận án chính: Essai sur la valeur dramatique du théâtre d’Alfred de Musset – Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset và luận án bổ túc: L’Annam dans la littérature française, Jules Boissières– Việt Nam trong các tác phẩm của Jules Boissières(963).

Trả lời phỏng vấn của Phạm Trần tại Paris, năm 1989, Nguyễn Mạnh Tường giải thích:

“Chính sách đàn áp của thực dân (đặc biệt sau vụ nổi dậy của Việt Nam Quốc Dân Đảng), chương trình học, cũng như mặc cảm lạc hậu về đất nước khiến người trí thức hồi đó dễ xa lìa mạch sống dân tộc. Thế nên, cái vấn nạn lớn nhất của chúng tôi thời đó là làm cách nào để dung hợp hai nền văn hoá Đông Tây đối chọi nhau. (…) Để hoà hợp, căn bản đầu tiên là phải hiểu nhau. Hai nền văn hoá phải cho nhau biết bản sắc, lề lối suy nghĩ (mentalité) của mình. Từ đó, gạn đục khơi trong để tổng hợp. Và căn bản nghiên cứu của tôi phát xuất từ nhận định đó. Tôi khảo sát nét hay của văn minh Âu. Tôi mơ ước đem văn minh vật chất Âu kết vào vũ trụ tình cảm Đông (…)

Ngay từ khi viết luận án, tôi đã mang ý hướng ấy. Luận án Luật tôi dành cho Việt Nam. Tôi khảo sát cái chủ nghiã cá nhân (một sản phẩm đặc thù Âu Tây), đã thể hiện ra sao trong văn hoá Việt, cụ thể qua Luật Hồng Đức (thế kỷ XV), một bộ luật còn mang nhiều dân tộc tính. Đề tài chính của luận án văn, tôi dành cho văn hoá Pháp; đề tài phụ tôi dùng J. Boissières để kết nối Đông Tây. Boissières đã vẽ lại bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đã đặt chính sách thực dân trước những vấn nạn lương tâm khó xử”
(964).

________________

(962) Trên các mạng Thông Luận, Vietstudies.

(963) Jules Boissières, thuộc ngành hành chính dân sự, 1886 đến Bắc Kỳ cùng với Paul Bert và làm phụ tá cho Paul Bert. Paul Bert, bác học và chính trị gia, học trò của Claude Bernard, là vị Tổng Trú Sứ - Résident général Bắc và Trung Kỳ có đầu óc tự do, ôn hoà, chủ trương hợp tác Pháp-Việt, ông mở các trường Pháp-Việt đầu tiên ở Bắc và Trung (ở Nam Kỳ có từ 1867). Năm 1886, Paul Bert mất tại Hà Nội. Boissières mất tại Hà Nội năm 1897, ở tuổi 34, nổi tiếng với tập truyện ngắn Fumeurs d'opium - Những kẻ hút thuốc phiện in năm 1919.

(964) Phạm Trần, Hạnh ngộ cụ Nguyễn Mạnh Tường, Hai thế hệ, một tâm tình, Paris, 16/11/1989, tài liệu đánh máy.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 6304
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13Thu 05 May 2022, 06:55

Chương 23

Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Đậu hai bằng tiến sĩ ở tuổi 22

Một trường hợp hiếm có ở đại học. Nguyễn Mạnh Tường thành công vì làm việc cật lực: “Từ lớp sáu cho tới tú tài, mỗi tuần tôi có thói quen đọc 2 cuốn tiểu thuyết Tây. (…) và nhất là do cật lực làm việc: suốt 5 năm dài, mỗi sáng tôi thức dậy từ 4 giờ, học và viết tới 8 giờ thì đi lớp; chiều lại học tới khuya“(965).

Tháng 9/1932, ông về nước 3 tháng, rồi lại sang Pháp. Việc này, trong các bài trả lời phỏng vấn ở Paris, không thấy ông nói đến. Một số người đưa ra thuyết: “chính quyền thực dân Pháp không muốn dùng ông. Không tìm được việc làm xứng đáng với học vị của mình, ông lại sang Pháp”(966). Nhưng theo Nguyễn Văn Hoàn, thì Nguyễn Mạnh Tường kể lại rằng: “Về nước có hai viên mật thám, trong đó có Louis Marty gặp và gợi ý tôi vào làm việc với Bảo Đại, cấp bậc Thượng thư. Tôi từ chối, sau đó họ gây khó khăn, ở nhà ba tháng, tôi trở lại Pháp”(967).

Chứng này có thể tin được vì Nguyễn Mạnh Tường và Bảo Đại cùng về nước tháng 9/1932, và bản thân ông muốn đứng về phía dân, không tham chính.

Tháng 12/1932, ông trở lại Paris. Từ 1933-1936: du lịch nhiều nước Âu Châu. “Thành thật nói, tôi đã trở thành một hiện tượng. Các báo ở Paris và Montpellier dành cả số nói về tôi. Có tờ coi sự thành công của tôi là một “sai lầm” của Pháp – ông muốn nói đến bài của Clément Vautel. Song hầu hết đều nói tốt. Cũng nhờ vậy mà nhiều đại học Âu Châu biết và mời tôi tới thăm. Tôi đã có dịp Âu du một vòng không mất tiền từ London sang La Haye xuống Bruxelles, Berlin, Athènes, Rome, Istanbul, Vienne, Madrid… Tôi còn nhớ trên đường từ Berlin về Vienne thời đó (1933) tôi ngang qua Munchen và tham gia cuộc biểu tình lớn của Hitler tổ chức.”(968)

Chúng ta cũng nên đọc qua bài báo của Clément Vautel(969) mà Nguyễn Mạnh Tường vừa nhắc, tiêu biểu cho khuynh hướng thực dân ngạo mạn và kỳ thị. Bài ngắn, chúng tôi dịch cả để độc giả thấy giọng điệu xỏ xiên này:

“Một tay An-nam-mít 22 tuổi, tên Nguyễn Mạnh Tường, vừa giật dễ dàng hai bằng tiến sĩ luật và văn chương ở đại học Montpellier. Hắn chỉ học có năm năm đã đoạt hai phẩm hàm cao nhất của phương Tây. Tay trí thức “da vàng” này, đặc biệt nổi trội khi trình luận án văn chương với đề tài tuồng Alfred de Musset, có thể dạy cho bọn bỉnh bút của ta một bài học đích đáng. Ban giám khảo đã có lời khen rồi, tôi chả có tư cách gì mà chêm vào nữa.

Thực đếm không xuể số trẻ Đông Dương đoạt đủ loại bằng cấp tại Pháp: chúng đạt những thành quả ở đại học mà bọn “rợ trắng” không khá bằng, thèm muốn.

Rất chăm chỉ, thông minh, lại đầy tham vọng, những tay Á châu này tháo gỡ như bỡn những bí quyết trong đỉnh cao học thuật của chúng ta, rồi về xứ rêu rao:

– Cái văn minh nức tiếng kia rút cục chỉ có thế ư? Xa trông tưởng ghê gớm, chứ đến gần, nào có ra gì!

Vì vậy, tôi tự hỏi, chúng ta chẳng đã phạm những nhầm lẫn sơ đẳng nhất, khi dạy cho các tướng này những bí quyết “văn hoá” của chúng ta, để khi về nước, chúng không còn tin vào tính ưu việt của giống nòi da trắng đang bảo hộ chúng.

Việc mở cửa cho bọn bản xứ vào các đại học của ta, và tưới xả láng chúng những bằng tiến sĩ này nọ, xem thì cũng ngộ đấy; nhưng chớ có ảo tưởng, coi đó là phương tiện xoá dấu vết xâm lăng để từ thời đại đô hộ nhẹ bước sang thời đại cộng tác.

Không phải tất cả những tên da vàng được ta bôi trát thứ chủ thuyết vị trí tuệ (intellectualisme) trắng này, sẽ xoay sang đỏ choé khi chúng về tới bờ sông Hồng, nhưng nhiều đứa trong bọn sẽ trở thành cán bộ của cái đảng cộng sản, mà ở Âu Châu, thì tuyên bố vô tổ quốc, nhưng về đến nền thuộc địa, lại rao giảng chủ nghiã quốc gia trăm phần trăm.

Thử hỏi làm sao mà khác cho được? Cái làm tôi ngạc nhiên, là một cô gái Đông dương -bởi có cả bọn sinh viên con gái da vàng nữa- về nước với bằng giáo sư sử học, tuyên bố: Chừ tôi mới chính là Jeanne d’Arc đây! Vậy mà ả vẫn chưa thành “Nữ Thánh đồng trinh đỏ” của cuộc cách mạng giải phóng.

Theo tôi, khôn ngoan ra, thì ta nên khai hoá dân bản xứ bằng chính cái văn miêng của chúng. Thử hỏi cái luận án của một tay An-nam-mít về tuồng hát của Musset, là cái giống gì? Dù tuồng đó có đậm đà, tinh tế, cao nhã, gì gì đi nữa, thì nó cũng chẳng làm cho kẻ bị đô hộ có cảm tưởng tốt đẹp về đạo đức của người đô hộ.

Đừng quên Gandhi cũng đã đỗ đạt ở bên kia bờ biển Manche, và, với cái guồng sợi của mình, hắn đã làm cho nước Anh rối loạn… Cứ từ từ, rồi một ngày, chúng ta cũng sẽ như vậy“
(970). Bài báo của Vautrel nói lên lòng căm thù chủng tộc và sự ganh tỵ nhân tài.

________________

(965) Phạm Trần, bđd.

(966) Trần Văn Hà, bđd.

(967) Nguyễn Văn Hoàn, Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường, tháng 10/2009, báo Hồn Việt, mạng Vietstudies.

(968) Phạm Trần, bđd. Theo cuốn Apprentissage de la Méditérannée- Kinh nghiệm Địa Trung Hải, ông đến Madrid tháng 4/1933, rồi đi thăm các tỉnh Tây Ban Nha và đi Ý; năm 1934 sang Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Vậy ông đã nhớ lầm trật tự các chuyến đi, khi trả lời Phạm Trần 60 năm sau.

(969) Nguyên văn tiếng Pháp:

Un Annamite de 22 ans, qui s'appelle Nguyen Manh Tuong, vient de décrocher avec une aisance remarquable, à la Faculté de Montpellier, le doctorat en droit et le doctorat ès lettres. Il ne lui a fallu que cinq ans d'études pour obtenir ainsi deux mandarinats occidentaux de première classe. Ce "jaune" intellectuel, s'est particulièrement distingué en soutenant une thèse littéraire sur le théâtre d'Alfred de Musset. Il pourrait sans aucun doute en remontrer à nombre de nos critiques. Le jury lui a adressé des félicitations auxquelles je ne me permettrai pas indigne que je suis, de joindre les miennes.
On ne compte d'ailleurs plus les jeunes Indochinois qui ont conquis, en France des diplômes de tous genres; ils obtiennent des succès universitaires que nombre de jeunes "barbares blancs", moins bien doués, leur envient... Très travailleurs, très intelligents, et par surcroît, très ambitieux, ces Asiatiques débrouillent, comme en se jouant, les mystères de notre orgueilleuse science, puis retournent dans leur patrie en disant:
- C'est tout ça, leur fameuse civilisation? De loin, ça paraît formidable, et de près, ce n'est vraiment pas grand'chose!
Aussi je me demande si nous ne commettons pas la plus grave des imprudences en initiant ainsi aux arcanes de notre "culture" des gaillards qui, rentrés chez eux, ne peuvent plus croire à la supériorité de cette race blanche qui les tient cependant en tutelle.
C'est très joli d'ouvrir aux indigènes les portes de nos universités, de les bombarder docteurs ès ceci et ès cela, mais nous nous faisons bien des illusions: nous croyons que c'est là un bon moyen d'effacer les souvenirs de la conquête et de passer le plus rapidement de l'ère de la domination à celle de la collaboration.
Les Jaunes que nous avons badigeonnés d'un intellectualisme blanc ne tournent sans doute pas à l'écarlate quand ils ont regagné les bords du fleuve Rouge, mais enfin beaucoup d'entre eux forment les cadres de ce parti communiste qui, en Europe, se déclare pour l'abolition des patries, mais, aux colonies prêche le nationalisme cent pour cent.
Comment voulez-vous qu'il n'en soit pas ainsi? Ce qui m'étonne, c'est qu'une jeune Indochinoise -car il est aussi des étudiantes jaunes- rentrée dans son pays avec le diplôme de professeur d'histoire, ne soit pas encore devenue la "Vierge rouge" d'une révolution libératrice en déclarant:
- A présent, c'est moi qui suis Jeanne d'Arc!
La sagesse consisterait, me semble-t-il à favoriser le développement des indigènes dans la ligne de leur propre civilisation. A quoi rime, je vous le demande cette thèse d'un Annamite sur le théâtre d'Alfred de Musset, théâtre charmant, raffiné, exquis, tout ce que vous voudrez, mais vraiment peu fait pour donner à un conquis une haute idée de la morale des conquérants?
N'oublions pas que Gandhi est un diplômé des universités d'outre-Manche et qu'il en donne du fil à retordre, avec son rouet, à l'Angleterre... Soyez tranquille, nous en aurons, quelque jour, notre part.
Clément Vautel
Le Journal, 17-7-1932.

(970) Clément Vautel, Mon film (Ống kính của tôi), báo Le Journal (Nhật trình) ngày 17/7/1932.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 17 I_icon13

Về Đầu Trang Go down
 
Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Similar topics
-
» Giai thoại văn học Việt Nam
» Nguyên Sa - Thuỵ Khuê
» Việt Sử Giai Thoại - Tập 4 - Nguyễn Khắc Thuần
» Việt Sử Giai Thoại - Tập 3 - Nguyễn Khắc Thuần
» Những Giai Thoại về Các Vị Tam Nguyên
Trang 17 trong tổng số 19 trangChuyển đến trang : Previous  1 ... 10 ... 16, 17, 18, 19  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-