Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
ĐÀO VIÊN THI CÁC by Trà Mi Today at 11:22

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Today at 10:48

KÍNH CHÚC THẦY SINH NHẬT VUI, KHOẺ, BÌNH AN!- Phương Nguyên by Ai Hoa Today at 09:20

Quán nước ven đường by cohangnuoc Today at 08:40

MÃI NHỚ ƠN THẦY by buixuanphuong09 Today at 00:59

TÌNH YÊU CÂY CỎ ĐV4 by buixuanphuong09 Today at 00:39

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Yesterday at 20:05

Trang Họa thơ Phương Nguyên 2 by buixuanphuong09 Yesterday at 16:47

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Yesterday at 14:17

Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng by Trà Mi Yesterday at 09:12

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê by Trà Mi Yesterday at 08:40

Gieo Gió Gặt Bão- Bình Nguyên Lộc by Trà Mi Yesterday at 08:05

Thổ Công-Táo Quân-Thổ Kỳ by Trà Mi Yesterday at 07:49

2022 Xướng Hoạ Đường Thi by mytutru Yesterday at 02:51

TỪNG NGÀY HỌC - HIỂU (Đường Thơ & Bài Học) by mytutru Yesterday at 01:24

Chúc mừng sinh nhật cửu tỷ Shiroi by mytutru Tue 18 Jan 2022, 23:35

Chúc Mừng Lưu by mytutru Tue 18 Jan 2022, 09:00

HỌC THEO HẠNH PHẬT MỖI NGÀY ĐƯỜNG THƠ by mytutru Tue 18 Jan 2022, 08:20

Người Em Gái Da Vàng by Viễn Phương Mon 17 Jan 2022, 21:09

ALBUM ĐƯỜNG THƠ HOA CÁC LOẠI by mytutru Mon 17 Jan 2022, 19:23

Đường Thi BỐN MÙA XUÂN HẠ THU ĐÔNG by mytutru Mon 17 Jan 2022, 10:15

ĐƯỜNG THƠ MÁI ẤM ĐÀO VIÊN by mytutru Mon 17 Jan 2022, 09:09

Trang Thơ Hoa by buixuanphuong09 Mon 17 Jan 2022, 03:22

GÓC RIÊNG SINH NHẬT 2021 by mytutru Sun 16 Jan 2022, 21:46

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Sun 16 Jan 2022, 20:29

CẢM NIỆM VỀ CÂU CHUYỆN VÌ SỰ SỐNG TẠI CÕI TRẦN GIAN by mytutru Sun 16 Jan 2022, 09:14

TRANG ALBUM GIA ĐÌNH KỶ NIỆM CHUYỆN ĐỜI by mytutru Sun 16 Jan 2022, 01:18

Kinh Đại Bát Niết Bàn by mytutru Sat 15 Jan 2022, 08:13

TRANG THƠ LÊ HẢI CHÂU by Lê Hải Châu Sat 15 Jan 2022, 07:18

Cúng ông Táo by Ma Nu Fri 14 Jan 2022, 01:10

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1 ... 9 ... 14, 15, 16
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5605
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 I_icon13Thu 06 Jan 2022, 08:21

Chương 20

Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “đại sự” cho Phan Khôi?


Năm 1922 là năm bản lề, đánh dấu ngõ quặt của nhóm Ngũ Long: Bắt đầu về nước tranh đấu. Người đầu tiên là Nguyễn An Ninh. Nhưng cũng bắt đầu sự phân hoá.

Về bối cảnh chung, 1922 có một số sự kiện xẩy ra:

Hội Chợ đấu xảo Marseille mở cửa ngày 16/4/1922.

Đầu năm 1922, Phan Châu Trinh xuống Marseille để làm việc tại hội chợ. Pháp cử 7 phái viên Bắc Kỳ đi dự đấu xảo gồm:

– Tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định và quan huyện Phong Doanh Trần Lưu Vị đại diện quan trường.

– Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn đại diện Tư vấn nghị viện.

– Hoàng Kim Bảng đại diện thương mại.

– Nguyễn Hữu Tiệp đại diện canh nông.

– Phạm Quỳnh đại diện Khai Trí Tiến Đức(763).

Tháng 2/1922, Phan Châu Trinh gửi thư ngỏ cho Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 5/1922, Phan Châu Trinh gặp gỡ các nhà trí thức sang Pháp dự hội chợ.

Tháng 6/1922, Vua Khải Định tới Pháp. Một phong trào bài kích nhà vua nổi lên với Thất Điều Thư của Phan Châu Trinh kể bảy tội của vua Khải Định, với các bài báo đả kích và vở kịch Dragon de bambou – Rồng Tre ký Nguyễn Ái Quốc. Nhóm Ngũ Long chống vua Khải Định là tất nhiên, tuy lời lẽ hơi quá đáng vì sự thực thì nhà vua không còn quyền hành gì cả. Nhưng hai sự kiện đáng chú ý hơn là việc:

1/ Phan Châu Trinh viết bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc đề ngày 18/2/1922.

2/ Phan Châu Trinh gặp Nguyễn Văn Vĩnh Phạm Quỳnh

Lá thư ngỏ của Phan Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc

Trước hết, tại sao Phan Châu Trinh lại gửi cho Nguyễn Ái Quốc, mà không gửi cho Nguyễn Tất Thành, mặc dù ông thừa biết Nguyễn Tất Thành không phải là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc?

Lý do nằm trong nội dung lá thư: Phan Châu Trinh viết thư chung cho các tác giả ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhưng có đoạn viết riêng cho Nguyễn Tất Thành.

Khi nhắn chung các tác giả ký tên Nguyễn Ái Quốc, ông viết: “Thực trạng dân tình thế thái bên nhà, bọn mình biết rõ, bấy lâu nay, bọn mình ở bên này có đăng báo chương, hô hào các hạng người Pháp có lương tâm ngõ hầu giúp người An Nam đánh đổ cường quyền áp chế, nhưng kết quả chẳng được là bao. Cái khát vọng bình đẳng, tự do, bác ái mà ông Mạnh Đức Tư Cưu và ông Lư Thoa(764) khởi xướng chẳng nhỏ được giọt nào trên đất An Nam mình“(765).

Trong một đoạn khác, nhắn riêng Nguyễn Tất Thành, ông viết: “Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan đàm đạo nhiều việc, mãi tới bây giờ anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi thời lại không thích cái phương pháp ngọa ngọa chiêu hiền, đãi thời đột nội (ngồi ngoài đợi thời) của anh và cả cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan. Bởi phương pháp bất hoà mà anh đã nói với anh Phan là tôi là hạng hủ nho, thủ cựu. Cái điều anh gán cho tôi đó, tôi chẳng giận tý nào cả, bởi vì suy ra thì tôi đã thấy rằng: Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan.”

Tây Hồ nói dù Tất Thành (và bọn trẻ) coi ông là hủ nho, thủ cựu, nhưng ông không chấp, ông cũng chẳng thích gì lối ngồi ở nước ngoài đợi thời của Tất Thành và nhất là câu: “Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan”, có ý mỉa mai: tiếng Pháp anh giỏi hơn tôi nhưng đã giỏi đến đâu mà dám chê tôi.

Rồi ông tiếp tục mắng mỏ lối viết báo tiếng Tây của Nguyễn Ái Quốc – Trường, Truyền, Ninh: “Tôi coi lối ấy phí công mà thôi. Bởi vì, quốc dân đồng bào mấy ai biết chữ Tây, chữ quốc ngữ, cầm tờ báo mà đọc nổi“.

Và ông kiên quyết trở về chủ trương của mình: “Theo ý tôi thì mình mà học hỏi lý thuyết hay, phương pháp tốt, tóm thâu được chủ nghiã, có chí mưu cầu lợi quyền cho quốc dân, đồng bào thì đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống, mà phải trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào, đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công. Anh không nghe lời tôi nói, anh ở hoài bên này, cứ cái lối đó thì tài năng của anh khác gì công dã tràng“.

Để nhắn riêng Nguyễn Tất Thành, ông nhấn mạnh thêm những điểm sau đây: “Tôi biết anh hấp thụ được cái chủ nghiã của ông Mã Khắc Tư, ông Lý Ninh(766) nên tôi cũng đem chuyện hai ông ấy mà giảng dẫn cho anh rõ“. Rồi ông kể lại việc cả Karl Marx lẫn Lénine đều có một thời bị đuổi ra nước ngoài, nhưng sau đó họ đều tìm cách trở về nước để tranh đấu và ông kết luận: “Cứ xem hai ông Mã, Lý mà anh tôn thờ chủ nghĩa, có ông nào dùng cái lối nương náu đất người mà làm quốc sự cho mình, như anh đâu? Bởi vậy, quả như anh tôn thờ lý thuyết hai ông ấy thì anh nghe tôi mà về quảng cáo cho quốc dân đồng bào“.

Ông nói về những hình phạt dành cho đường lối bạo động: “Ông Đề Thám bị bêu đầu giữa chợ, Ông Phan Đình Phùng bị đào mả ném xuống sông, ông Hàm Nghi, Duy Tân, Thủ Khoa Huân bị đầy biệt xứ và nhiều không kể xiết sự đầu rơi máu chảy“. Cuối cùng ông khuyên Tất Thành nên về nước để “mưu đồ đại sự“.

Lá thư ngỏ này, chắc Phan Châu Trinh đã đưa cho Nguyễn Văn Vĩnh một bản để dịch sang tiếng Pháp vì chúng tôi thấy bản tiếng Pháp và bản dịch ra quốc ngữ, từ bản tiếng Pháp trong tập tài liệu Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh, do gia đình in năm 1997.

Bản dịch mà chúng tôi trích dẫn trên đây là bản Hoàng Xuân Hãn, dịch từ bản Thu Trang tìm thấy trong hồ sơ mật thám, và theo Hoàng Xuân Hãn thì đây cũng chỉ là một bản chép lại. Lá thư này rất quan trọng, vì nó xác định những điểm khác biệt tư tưởng trong nhóm Ngũ Long do chính ngòi bút Phan Châu Trinh viết ra:

1/ Phan Châu Trinh không đồng ý với đường lối tranh đấu của nhóm Tây học: theo ông, viết các bài đả kích thực dân trên báo Pháp là vô ích. Tư tưởng Rousseau và Montesquieu không thể đến được với dân Việt Nam.

2/ Ông xác định một lần nữa phương pháp tranh đấu của ông: Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh.

3/ Ông chống lại cách mạng bạo động và kêu gọi về nước tranh đấu bất bạo động.

Xin nhắc lại: Con đường đấu tranh chung của nhóm Yêu Nước là đuổi Pháp, giành độc lập và dân chủ hoá đất nước, nhưng họ khác nhau ở tư tưởng và cách thực hiện mục đích:

– Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền chủ trương dùng ngòi bút để đấu tranh trên đất Pháp và tiếp theo, trên đất Việt, vạch tội ác của chính quyền thực dân, đánh động người Pháp dân chủ, để họ bãi bỏ chế độ thuộc địa.

– Phan Châu Trinh viết nhiều kiến nghị gửi toàn quyền và bộ trưởng Albert Sarraut, yêu cầu thay đổi chính sách cai trị.

– Nguyễn Tất Thành chủ trương cách mạng bạo động theo con đường cộng sản.

Phan Châu Trinh viết thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc, là một cách công khai nói lên sự khác biệt giữa ông và nhóm Tây học: Họ chủ trương vạch tội ác của thực dân trên báo, tìm sự hưởng ứng của người Pháp dân chủ, để nước Pháp bãi bỏ chế độ thực dân; nhưng Phan Châu Trinh lại cho rằng cách ấy vô ích. Ngược lại Phan Văn Trường cho rằng việc Phan Châu Trinh viết những thư yêu cầu Sarraut và chính quyền Pháp thay đổi chính sách là vô ích.

Sự khác biệt cơ bản đó được Nguyễn Văn Vĩnh đặt câu hỏi và trả lời: “Ông Trường có phải là một nhà yêu nước cùng loại với ông Phan Chu Trinh, hoặc là một người cộng sản cùng loại như ông Nguyễn Ái Quốc hay không?

Tôi biết rằng ông rất gắn bó với hai người, ông luôn ở cùng hai người ở Paris nhưng không bao giờ tán thành lý thuyết của hai người và cũng không bao giờ tỏ ra có một chút đồng tình nào với cả hai người“
(767).

Phan Châu Trinh công bố lá thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc, tháng 2/1922.

Nguyễn An Ninh về nước đầu tiên: tháng 10/1922.

Rồi Ninh lần lượt sang Pháp đón các vị đàn anh trở về: Tháng 12/1923, Phan Văn Trường về nước. Tháng 6/1925, Phan Châu Trinh về nước và tháng 12/1927, Nguyễn Thế Truyền về nước. Ngoài ra, ông Khánh Ký cũng đã về nước từ tháng 7/1921.

Vậy chương trình “Ngũ Long tề khởi” mà Phan Châu Trinh đề xướng, trong một khía cạnh nào đó, đã được nhóm Tây học thực hiện. Dĩ nhiên họ không làm theo cách của Tây Hồ mà làm theo cách của họ: Đem tư tưởng tự do dân chủ của Pháp về truyền bá tại Việt Nam và chống thực dân bằng báo tiếng Pháp trên đất Việt. Nguyễn An Ninh là người “theo sát” nguyện ước về nước tranh đấu trong lòng dân tộc của Phan Châu Trinh. Nguyễn Thế Truyền khi bỏ báo Le Paria để làm báo Việt Nam Hồn, tiếng Việt, có thể đã nghe lời Tây Hồ.

Sự kiện này được Hồ Hữu Tường ghi lại trong hồi ký theo lối “Tam Quốc Chí” như sau: “Theo lời cụ Phan Văn Trường thuật lại, thì năm 1922, khi Nguyễn An Ninh sắp sửa về nhà mà sáng lập tờ báo La Cloche fêlée, thì cụ Phan Châu Trinh có đưa ra một phân công, gọi là “ngũ long tề khởi”. Tại quê nhà, bầu không khí thực dân và phong kiến còn quá nặng, Ninh lãnh sứ mạng đem tư tưởng dân quyền của Pháp ra mà “dĩ di diệt di”. Nên chi báo của Ninh nêu lên đường lối là Cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng Pháp (Organe de propagande des idées françaises) (…) Còn hai cụ Phan thì chờ Ninh xung phong, dọn dẹp chông gai bên nhà, hai cụ sẽ về góp sức mà tiến lên gây một phong trào dân chủ. Nhưng mà theo kế hoạch nầy, phân ra thì có, mà tụ lại thì chưa. Năm 1925, quả Ninh có rước hai cụ Phan về xứ. Nhưng sang năm 1926, cụ Tây Hồ lìa trần, Ninh lo tổ chức quần chúng, giao cho cụ Trường đứng mũi chịu sào tờ L’Annam. Rồi Ninh vào tù, cụ Trường ba chìm bẩy nổi, bị án tù, sang Paris chịu vào khám. Còn Tất Thành mang tên chung là Nguyễn Ái Quốc, theo cộng sản luôn, một đi không trở lại.

Nguyễn Thế Truyền vào đảng cộng sản Pháp, mượn phương tiện mà thành lập Việt Nam Hồn, sau đổi lại là Hồn Việt Nam, rồi Phục Quốc…“(768)

Sự đổ vỡ có lẽ đã bắt đầu từ khi Phan Châu Trinh xuống Marseille, đầu năm 1922: Nhân Hội Chợ Đấu Xảo Marseille, Phan Châu Trinh nhờ Babut xin Pierre Guesde cho ông xuống Marseille làm việc. Guesde bằng lòng. Nhưng Outrey phản đối dữ dội. Guesde viết thư trả lời trình bầy lý do, như sau: “Tôi nghĩ việc nhận cho y làm việc sẽ có lợi về chính trị nên đã đưa tên An Nam này vào làm ở Ban Tổng Quản Lý Triển Lãm và cũng xin nói thêm là ở đó y đã làm việc rất tốt.

Như vậy, tôi đã tranh thủ được cơ hội đương sự yêu cầu để kéo về phía chúng ta một tên An Nam thông minh và kiên trì, tuy có đôi chút ấm ức vì những đắng cay của một cuộc sống đầy xáo trộn, nhưng tư tưởng tình cảm không hề có gì đáng ngại cho sự cai trị của chúng ta. Đến nay tôi vẫn tin chắc đây là một biện pháp tốt, dung hòa được cả hai mặt nhân đạo và chính trị“
(769).

Theo các tài liệu sau đó(770) ông Phan xuống Marseille chỉ có mục đích đợi gặp bộ trưởng Thuộc Địa Albert Sarraut để xin một số yêu cầu – chắc là xin vào quốc tịch Pháp và xin về Việt Nam, vì vậy ông không làm việc tích cực và đã bị “xếp” khiển trách thô bạo nên ông bỏ việc. Dù sự tình xẩy ra như thế nào, thì lá thư của Guesde, một lần nữa cho thấy bộ mặt thực của chính quyền thuộc địa, cả những người giúp đỡ Phan như Roux, Babut, cũng nằm trong cái guồng máy ấy. Sự ngây thơ về chính trị của Phan Châu Trinh dĩ nhiên bị Phan Văn Trường “lên lớp” và hai người giận nhau. Các thư ông Trinh “mắng lại” ông Trường, ông Truyền tỏ rõ điều ấy.

________________

(763) Phạm Quỳnh, Hành trình nhật ký, Ý Việt, Paris, 1997, trang 208.

(764) Montesquieu và Rousseau.

(765) Thư Phan Châu Trinh viết chữ Hán, chúng tôi trích bản dịch của Hoàng Xuân Hãn, in trong cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925 của Thu Trang, Đông Nam Á 1983 trang 135-140.

(766) Karl Marx và Lénine.

(767) Nguyễn Văn Vĩnh, Trạng sư Phan Văn Trường từ trần, L'Annam Nouveau số 231 ngày 24/4/1933.

(768) Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 24-25.

(769) Lê Thị Kinh, sđd, tập 2, quyển 1, trang 211- 214.

(770) Lê Thị Kinh, sđd, tập 2, quyển 1, trang 219-228.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5605
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 I_icon13Sat 08 Jan 2022, 10:28

Chương 20

Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “đại sự” cho Phan Khôi?


Phan Châu Trinh gặp Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Pháp năm 1922

Phan Châu Trinh xuống Marseille để đợi gặp Sarraut(771) và có lẽ cũng để tiếp xúc với những người Việt sang Pháp dự đấu xảo. Quan trọng nhất là những buổi gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh.

Trong chuyến đi Pháp 1922 Phạm Quỳnh gặp nhóm Yêu Nước ít nhất năm lần. Và luôn luôn bị mật thám theo dõi:

1/ Ngày 11/4/1922: Gặp Phan Châu Trinh, Phạm Quỳnh ghi lại như sau: “Hôm nay gặp cụ Phan Tây Hồ, là một nhà chí sĩ nước ta, nay biệt xứ bên quý quốc. Hồi cụ khởi nghiệp, tôi còn nhỏ tuổi, nên chỉ biết tiếng mà không được biết người. Nay sang đến đây mới được gặp cụ, trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi, không sao nói xiết. Cùng nhau đàm luận trong mấy giờ. Viêc cụ làm chánh đáng hay không chánh đáng, tôi đây không muốn phẩm bình, nhưng xét cái thân thế cụ, dẫu ai có chút lương tâm cũng phải ngậm ngùi. Ừ, làm người ai chẳng muốn vợ đẹp, con nhiều, cửa cao, nhà rộng, bạc đầy tủ, thóc đầy kho; thế mà có người không muốn như thế, thời con người ấy, dẫu hay dở thế nào, tưởng làm kẻ quốc dân cũng không nên a dua nhẹ miệng mà gia tiếng thị phi vậy“(772).

2/ Theo mật báo của an ninh Marseille ngày 11/5/1922, có cuộc gặp gỡ giữa ba người: Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Trong cuộc họp này, Phan Châu Trinh ngỏ ý muốn lật đổ Nam triều, lập Quốc Hội An Nam với các dân biểu để cai trị cùng với chính phủ Pháp. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh khuyên không nên, vì người trí thức và người dân vẫn còn gắn bó với nền quân chủ. Vả lại vua nước Nam không giống như vua Louis XIV hay XVI của Pháp đã áp bức làm khổ dân; và người dân An Nam cũng chưa đủ trình độ để sử dụng quyền Quốc Hội. Phải chờ. Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh nói sẽ suy nghĩ xem có thể đóng góp gì cho chương trình hành động của Phan Châu Trinh(773).

3/ Ngày 27/6/1922, các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức mời Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến dùng cơm ở một khách sạn khu Montparnasse, Paris. Đã có cuộc tranh luận gắt gao giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh – sẽ nói rõ thêm ở dưới.

4/ Ngày 13/7/1922, Phạm Quỳnh ghi trong sổ tay: “Juillet/13/Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 rue des Gobelins)“(774).

5/ Ngày 16/7/1922, Phạm Quỳnh ghi: “Dimanche 16/7: ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền (Truyền) đến chơi”(775). Như vậy, khi Phạm Quỳnh Nguyễn Văn Vĩnh đến Marseille và Paris, họ đã gặp nhóm Yêu Nước năm lần, nhưng ông Trinh và ông Trường không gặp nhau.

Trong năm lần họp mặt, chỉ có buổi ở Montparnasse Paris được Lê Thanh Cảnh ghi lại trong tập Ký Ức Về Trường Quốc Học(776) và được gia đình Nguyễn Văn Vĩnh lữu trữ. Rất tiếc người biên tập đã không ghi rõ nguồn của bài viết, năm, tháng… Tuy nhiên, nếu dựa vào mấy chữ “câu chuyện năm mươi năm trước” mà Lê Thanh Cảnh ghi trong “Lời người viết”, thì có thể đoán bài này viết khoảng 1970-1975 ở trong Nam, vì tác giả dùng hai chữ “anh Quốc” rất tự nhiên.

Dưới tựa đề “Thử đi tìm một lập trường tranh đấu cho dân tộc Việt nam”, trước hết ông Lê Thanh Cảnh thuật lại bối cảnh cuộc họp mặt: Nhân dịp phái đoàn Nam triều đi dự cuộc triển lãm do Pháp Quốc Sử Địa tổ chức tại Ba Lê “Ô. Trần Đức nói khẽ vào tai tôi, bảo hai anh em chúng mình mời bốn cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Ngọc Thiện, Cao Văn Sến đến chiều hôm ấy dùng cơm tại khách sạn Montparnasse. Chúng tôi nhân mời thêm cụ Phan Tây Hồ, anh Quốc, vợ chồng Trần Hữu Thường và ông Hồ Đắc Ứng”.

Đáng chú ý nhất là đoạn tác giả ghi lại cuộc tranh luận giữa năm nhân vật: Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Chúng tôi trích lại những đoạn chính, lướt qua ý kiến Phan Châu Trinh vì cũng giống như những điều ông đã viết trong thư gửi NAQ ở trên mà chú trọng vào ý kiến những người khác:

“Cụ Tây Hồ bắt đầu nói: Tôi đã gặp Nguyễn Ái Quốc từ 10 năm trước đây mà tôi thấy anh chủ trương cách mệnh triệt để quá táo bạo nên tôi không thể theo anh được, và anh cũng không chấp nhận đường lối của tôi. (…)

Anh Quốc tiếp lời: Mấy hôm nay anh Cảnh qua đây có tiếp xúc nhiều với tôi và có nói cho tôi một câu ước mơ của cụ Trần (Cao) Vân: Nếu cuộc khởi nghiã của vua Duy Tân thành công thì sau này việc đầu tiên của chúng ta sẽ làm là viết chữ Việt Nam không phải chữ “Tuất” một bên, mà phải viết chữ Việt là Phủ Việt, “Rìu Búa”, mới kiện toàn được sự nghiệp cách mệnh. Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là xưa nay muốn giành độc lập cho tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngã tay xin ai được mà phải dùng sức mạnh như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng BÚA RÌU.

Ô. Nguyễn Văn Vĩnh cướp lời ngay, đã bênh vực chủ trương của mình và cũng để giác ngộ anh Quốc – Tôi đã từng đứng trong hàng ngũ Đông Kinh Nghiã Thục cùng các bậc tiền bối và rất đau đớn thấy hàng ngũ lần lượt tan rã và hầu hết phần tử ưu tú chiến sĩ quốc gia bị tiêu diệt: Hết phong trào Đông Kinh Nghiã Thục, đến chiến khu Yên Thế của Đề Thám ở Bắc, rồi đến vụ xin thuế ở miền Trung… (…) Bao nhiêu chiến sĩ đều gục ngã hoặc còn vất vưởng sống ở Côn Đảo, Thái Nguyên, Lao Bảo hay Banmêthuột. Bạo động như anh Quốc nói là thậm nguy! (…) Sở dĩ tôi theo lập trường TRỰC TRỊ (administration directe) là kinh nghiệm cho tôi thấy Nam Kỳ trực trị tiến bộ quá xa hơn Trung Bắc. Mà Bắc Kỳ nhờ chế độ mập mờ, nửa Bảo Hộ nửa Trực Trị (không công khai) mà còn hơn Trung Kỳ quá xa. (…). Cứ trực trị cái đã rồi sau khi được khai hoá theo đà tiến bộ thì tức khắc dân chúng tự có sức mạnh mà trồi đầu lên. Nói Trực Trị tôi chẳng khi nào chịu giao nước Nam cho Tây đâu. Quá khứ đường lối tranh đấu của tôi, cuộc đời thiếu thốn của tôi đã hùng hồn bảo đảm cho lời nói của tôi hôm nay.

Ô. Phạm Quỳnh tiếp: Có lẽ ngay trong tiệc này tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi hoài bão: “QUÂN CHỦ LẬP HIẾN”. Nói đến quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền Quân Chủ họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. (…) Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định (…)“.


Sau lời Phạm Quỳnh biện hộ cho chế độ quân chủ lập hiến, đến lượt Cao Văn Sến biện hộ cho việc dùng văn minh Tây phương để tiến hành dân chủ và nhìn nhận rằng ở Nam Kỳ đồng bào tiến bộ hơn nên thực dân không dám ăn hiếp như ở Trung và Bắc. Lê Thanh Cảnh viết tiếp:

“Tôi khẩn khoản xin quý cụ là bậc tiền bối nên thảo luận ngay một kế hoạch hay hệ thống nào để làm việc cho có hiệu quả về sau. Anh Quốc nóng nẩy bảo ngay: “Thì xin chú nói ngay ý kiến của chú ra”. Tôi tiếp lời: “Cũng như anh đã trả lời cho cụ Phan mấy hôm trước đây, tôi muốn nghe ngóng tất cả để sau này áp dụng một chủ nghiã thực tiễn, lấy văn hóa Việt Nam làm gốc. Có thế mới hợp với tính tình dân tộc Việt Nam: Hành động gì bây giờ là thất bại ngay, mà cũng như cụ Phan Tây Hồ đã trịnh trọng cảnh cáo hai anh em chúng tôi mấy kỳ gặp gỡ trước đây, mà tôi rất bái phục: “Vô bạo động, bạo động tắc tử, vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu. Dư hữu nhất ngôn dĩ cáo ngộ đồng bào. Viết: Bất như “Học”.

Anh Quốc quát to tiếng: “Nầy cụ Tây Hồ, nếu Cụ qua làm Toàn Quyền Đông Dương thay mặt thực dân cũng chỉ nói như thế thôi. Bó tay mà chịu lầm than sao? Không được!”

Tôi sợ anh Quốc đi quá trớn, đứng lên thưa, ôn hoà: “Tôi xin anh suy nghĩ thêm về lời khuyên của Cụ Tây Hồ. Nếu chúng ta khôn khéo thì “bất chiến tự nhiên thành”.

Anh Quốc lại quát lớn: “Lại thêm chú này nữa kìa!”

Tôi được dịp kịch liệt bác bỏ luận điệu anh Quốc và bênh vực chủ thuyết của cụ Tây Hồ“.


Lời lẽ trong cuộc tranh luận này được ông Cảnh ghi lại theo trí nhớ, có thể không đúng nguyên văn, nhưng phản ảnh được không khí buổi họp và xác định một số thông tin sau:

– Chủ trương trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh dựa trên sự quan sát tình hình dân trí trong Nam cao hơn Bắc và Trung. Việc này được chứng minh qua tình hình báo chí mở rộng tại Nam Kỳ và những phong trào chống Pháp rất mạnh trên báo ở trong Nam do Nguyễn An Ninh, tiếp đến Phan Văn Trường, rồi nhóm Trốt-kít viết.

– Nguyễn Tất Thành phản đối Phan Châu Trinh bằng lời lẽ nặng nề, khác hẳn cung cách “chú cháu” ngày trước, nhưng lại không có phản ứng gì đối với quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Cao Văn Sến.

– Để bảo vệ quan niệm bạo lực cách mạng, Nguyễn Tất Thành đưa ra biểu tượng Búa Rìu, của đảng cộng sản, nhưng lại giải thích bằng Hán tự và dùng ý nghiã Búa Rìu của Trần Cao Vân. Sau này Trần Huy Liệu cũng đề cao vai trò Trần Cao Vân nhưng bị Phan Khôi phản bác, Phan Khôi cho rằng Thái Phiên mới là người chủ chốt trong vụ vua Duy Tân, Trần Cao Vân chỉ là “nửa là nhà nho gàn, nửa là thầy bói kiêm thầy pháp”(777).

Những sự kiện này, mới xem qua, gần như không đáng lưu ý, nhưng sự thực nó có tầm quan trọng: Việc đề cao Trần Cao Vân là để nâng cao biểu tượng Búa Rìu của đảng cộng sản, gắn liền Búa Rìu với hình ảnh cách mạng của vua Duy Tân. Có lẽ Phan Khôi đã thấy chủ đích ấy trái ngược với sự thật lịch sử nên ông phản bác lại bằng loạt bài trên báo Sông Hương năm 1936.

Hai buổi họp mặt ở Marseille và Paris năm 1922, chứng tỏ Phan Châu Trinh muốn chia xẻ quan điểm đấu tranh của mình và tìm sự hợp tác với Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh khi về nước. Sự phản bác kịch liệt Tây Hồ của Nguyễn Tất Thành ở Montparnasse, chứng tỏ có sự đoạn tuyệt giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành, từ 1922. Trong đám Ngũ Long, Ninh và Truyền là người “rộng tình” với Phan Tây Hồ hơn cả, có thể trong thâm tâm Ninh cũng chê Phan cổ lỗ, quá đát: “trọn mười mấy năm ở Pháp cứ ôm bộ Ẩm Băng Lương Khải Siêu cho đến ngày về nước cũng còn đem theo tàu để lót đầu nằm“(778). Nhưng Ninh vẫn một lòng quý mến ông Phan, sang Pháp đón Phan về nước và chăm sóc Phan đến khi Ninh bị bắt. Cả Nguyễn Thế Truyền dù bị Phan “xỉ vả” cũng vẫn tôn kính ông Phan. Năm 1925, Phan Châu Trinh về nước tìm người thừa kế. Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao Tây Hồ không chọn Nguyễn An Ninh? Bởi vì Nguyễn An Ninh Tây quá, sôi động quá. Phan Châu Trinh muốn một người nho học, điềm tĩnh, gần gụi với tư tưởng của ông hơn, và ông đã tìm thấy trong nhà nho Phan Khôi.

Đám tang Phan Châu Trinh – Sự xuất hiện của Phan Khôi

Phan Châu Trinh chủ trương “Ngũ Long tề khởi” từ 1922, nhưng đến tháng 6/1925 mới về được nước, và đến tháng 3/1926 ông mất. Lê Văn Thử viết: “Cụ Phan Châu Trinh về Sàigòn một lượt với Ninh, đương ở nhà Ninh tại Quán Tre, kẻ thăm, người viếng rần rần rộ rộ“(779).

Nguyễn An Ninh bị bắt đêm 20/3/1926, bốn hôm sau Phan Châu Trinh mất, 24/3/1926(780). Phương Lan Bùi Thế Mỹ thuật lại: “Chính Đặng Văn Ký, theo sự uỷ thác của Ninh, vào tù, lo săn sóc bịnh tình cụ Phan Châu Trinh. Khi cụ Phan bịnh nặng, Ký cùng với các bạn đem dời cụ Phan lên nhà cụ Nguyễn An Cư; chú ruột của Ninh trị bịnh rồi cụ Phan mất tại đấy. Đặng Văn Ký hợp với Huỳnh Đình Điển, Phan Khôi đem cụ Phan về khách sạn Bá Huê Lầu, đường Pellerin giờ là Pasteur do Huỳnh Đình Điển là chủ nhơn khách sạn, thành lập ủy ban làm quốc táng, Phan Khôi đảm nhận viết lời hiệu triệu quốc dân. Đặng Văn Ký nhóm Jeune Annam lo liên lạc tìm đất chôn”(781).

“Lễ quốc táng của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh được tổ chức châu đáo vĩ đại. Quàn xác gần một tuần, tại Bá Huê Lầu của Huỳnh Đình Điển, người chen chúc vô dâng hương nhà chí sĩ không biết bao nhiêu mà đếm. Nườm nượp ra vô cả ngày lẫn đêm. Ngày đưa đám thiên hạ trùng trùng điệp điệp từ bốn phương xa gần tụ họp tới. Sấp hàng từ đầu cầu Mống, cái cầu ở tận trên đường Thống Nhất. Câu đối, tràng hoa tiễn đưa vô số kể.”(782)

Sự thành công trong việc tổ chức đám tang vĩ đại của Phan Châu Trinh là do nhiều yếu tố hợp lại, chúng tôi sẽ bàn đến trong một dịp khác. Ở đây chỉ xin nhắc đến sự đóng góp của một người, ở hậu trường, đã nổi trội, có “công” hơn: Nhiều dấu hiệu cho thấy từ khi về nước, Phan Châu Trinh đã tìm Phan Khôi để gửi gấm “đại sự”. Về việc này, Nguyễn Q. Thắng viết: “…năm 1925 khi về nước, Phan Châu Trinh đã cho vời Phan Khôi vào Sàigòn để viết một quyển sách về đời hoạt động và sách lược cứu nước của Tây Hồ. Phan Khôi đã viết xong bản thảo có tên “Phan Châu Trinh” nhưng bị phủ toàn quyền Đông Dương cấm in. Bản thảo đã thất lạc (theo “mật báo về tác phẩm Phan Châu Trinh của Phan Khôi” của sở mật thám Nam Kỳ, gởi thống đốc Nam Kỳ ký ngày 1/6/1926). Sách “Phan Châu Trinh” dày 94 trang đánh máy, do nhà in Xưa Nay của Nguyễn Háo Vĩnh xuất bản nhưng không phát hành được”(783).

Vậy Phan Khôi là ai?

Năm 1925, Phan Khôi chưa phải là một tên tuổi nổi trội trong giới báo chí tranh đấu như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường. Nhưng Phan Khôi đã bắt đầu sự nghiệp làm báo với hai nhà báo lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, những người đã gặp Phan Châu Trinh và nhóm Yêu Nước năm 1922 ở Pháp. Phan Khôi được Phan Châu Trinh giao cho việc viết lại lịch sử đời mình.

Từ trọng trách ấy, Phan Khôi đảm nhiệm viết lời Hiệu triệu quốc dân dự đám tang Phan Châu Trinh.

________________

(771) Nhưng không gặp được vì Sarraut chỉ đến Hội Chợ có một buổi.

(772) Phạm Quỳnh, Pháp du hành trình nhật ký, Nam Phong số 58 (4/1922) đến số 100 (10-11/1925), in lại trong Hành trình nhật ký, Ý Việt, Pháp, 1997, trg 252.

(773) Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925, Đông Nam Á 1983, trang 160.

(774) Phạm Tôn, Người nặng lòng với nước, tài liệu gia đình, Blog Phạm Tôn.

(775) Phạm Tôn, Người nặng lòng với nước, tài liệu gia đình, Blog Phạm Tôn.

(776) Đăng trong đặc san của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Quốc Học, in lại trong tập tài liệu Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh, do gia đình ấn hành năm 1997, tập III, trang 21.

(777) Phan Khôi, Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916, Sông Hương số 7, 1936.

(778) Nguyễn An Ninh, Vài lời nhắc nhở- Điếu văn khóc Phan Văn Trường, Trung Lập 27/4/1933, in lại trong Nguyễn An Ninh tác phẩm, Văn Học, 2009, trg 1037.

(779) Lê Văn Thử, Hội kín Nguyễn An Ninh, trang 25.

(780) Xin nhắc lại: nhiều chỗ (kể cả cuốn Nguyễn An Ninh do gia đình in) ghi sai: Ngyễn An Ninh bị bắt hôm ông Phan mất. Thực ra Ninh bị bắt ngày 20/3/1926 vì tội tổ chức mít tinh tại Xóm Lách, Vườn Xoài ngày 21/3/1926 (tổ chức chứ không tham dự, vì bị bắt từ hôm trước), ở nhà bà Đốc Phủ Tài, dì ruột Ninh, buổi mít tinh đưa ra bản quyết nghị có ba ngàn người biểu quyết, Quyết nghị đòi Tám điểm, tương tự như Bản Thỉnh Nguyện Thư của Phan Văn Trường 1919. Bốn ngày sau, 24/3/1926, Phan Châu Trinh mới mất.

(781) Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 130.

(782) Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 164.

(783) Nguyễn Q. Thắng, Phong Trào Duy Tân, những khuôn mặt tiêu biểu, Văn Hoá Thông Tin, 2006, trang 478.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5605
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 I_icon13Wed 12 Jan 2022, 09:39

Chương 21

21. Phan Khôi (1887-1959)

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 Nhan-v13


Sự chôn vùi Phan Khôi

Sau Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, từ thập niên 1930 Phan Khôi tiếp tục xây dựng nền móng mới cho Việt học, bằng phương pháp độc đáo: phân tích, phê bình và phản biện, cổ võ phải viết lịch sử cho đúng, kể cả các chi tiết nhỏ. Phải viết tiếng Việt cho đúng từng câu, từng chữ, từng chữ cái, từng chấm, phẩy. Phải dùng từ Việt và từ Hán Việt cho thích hợp. Phải hiểu Khổng học cho đúng. Sự tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ và triết học Tây phương đi từ Thánh Kinh. Nữ quyền bắt đầu với Võ Tắc Thiên. Phan Khôi luôn luôn tìm đến nguồn cội để giải thích vấn đề. Là một nhà báo, nhưng không phải nhà báo bình thường. Là một học giả, nhưng không phải học giả cổ điển chỉ biết nghiên cứu. Phan Khôi là khuôn mặt học giả phản biện duy nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Nhưng sự nghiệp văn học của Phan Khôi bị chôn vùi trong gần nửa thế kỷ(784).

Tạ Trọng Hiệp: Phan Khôi, người xa lạ

Tạ Trọng Hiệp là người đầu tiên ở hải ngoại, đặt vấn đề nghiên cứu lại Phan Khôi trong buổi trả lời phỏng vấn RFI năm 1996(785):

“Tôi gọi Phan Khôi là Người xa lạ, vì từ những năm 56, 57 trở đi, qua hiện tượng đấu tranh của nhóm NVGP, thì sau đó có một cuộc đàn áp ghê gớm của nhà cầm quyền Hà Nội. Và từ đó đến nay, đã có rất nhiều thay đổi về tình hình trong nước (…) đã gần như không còn chỉ thị cấm kỵ gì nữa. Nhưng hình như với riêng một số người -chứ không phải toàn bộ- cứng đầu nhất trong NVGP, trong đó có Phan Khôi, thì những cấm kỵ ấy vẫn còn, còn dưới nhiều hình thức lắm. Thứ nhất là không nói đến Phan Khôi. Không nói đến Phan Khôi, làm như là không có hiện tượng Phan Khôi. Phan Khôi không xuất hiện ở trên trái đất này.

Nhưng tìm nhiều thì thấy có một vài trường hợp không thể tránh khỏi, nên miễn cưỡng, họ phải làm ra một tiểu sử về Phan Khôi. Trong một cuốn sách ra cũng lâu lắm rồi, từ năm 1972, tập 2 bộ Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam, ở mục số 50, có một trang rưỡi dành cho Phan Khôi. Nội dung bài viết và phong cách câu văn làm ta sống lại những năm chung quanh vụ đàn áp NVGP, mà đỉnh cao là về sau, xuất hiện dưới hình thức một cuốn gọi là “Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận”, in năm 1959 (…) Người nào có cuốn ấy thì thấy trong đó có ba, bốn bài gì đó, tập trung nện cụ Phan Khôi bằng đủ mọi cách, bằng những bịa đặt rất là bẩn thỉu, để chứng minh rằng ngay từ khi còn thiếu niên, Phan Khôi đã là người không ra gì. Và người viết không phải là người lơ tơ mơ đâu, đây là những người nổi tiếng có cá tính bướng bỉnh và có tinh thần phê phán rất ghê gớm như Nguyễn Công Hoan. Nếu tôi là con cháu Nguyễn Công Hoan, thì có lẽ lúc này tôi sẽ tìm những nơi nào có cuốn sách đó, đốt đi, để xóa một giai đoạn không tốt cho Nguyễn Công Hoan
(786).

Còn riêng cá nhân tôi, Tạ Trọng Hiệp, thì tôi lại chủ trương ngược lại: Nhân dịp ta ra 1 hay 2 đặc san về Phan Khôi, thì cũng nên in lại vài bài, kiểu bài của Nguyễn Công Hoan hay là của một vài người khác đã viết về Phan Khôi, để ta nhớ lại, nhất là để giáo dục thanh niên ngày hôm nay, là đã có những thời gian mà trình độ văn hóa và đạo đức trong nước nó sa đọa đến một cái mức thấp mà không ai có thể ngờ được. Đây có tính cách giáo dục, mở đường cho tương lai. Ngày hôm nay thì những cấm kỵ, phần lớn đã được bỏ rồi. Nhưng mà người ta vừa bỏ cấm kỵ, vừa muốn cho chúng mình nghĩ rằng trong quá khứ có một vài sự hiểu lầm chứ chẳng bao giờ sa đọa đến nỗi bẩn thỉu như thế. Đấy là chuyện nó cắt nghĩa tại sao tôi muốn gọi cụ Phan Khôi là người xa lạ. (…) Tôi tiếp tục cái ý Phan Khôi, người xa lạ là người ta hình như cố tình xóa dấu vết về Phan Khôi“.

Tạ Trọng Hiệp đưa ra bằng chứng về luận điểm này:

1/ Sự cố tình xoá tên Phan Khôi

“Một bằng chứng rất gần đây là Phan Khôi trong những năm 30 có một số bài tranh biện với cụ Trần Trọng Kim (…) Những bài của cụ Kim đáp lại Phan Khôi được nhà xuất bản Tân Việt, khi in cuốn Nho Giáo lần thứ 3, cho vào phần Phụ Lục.(…) Bây giờ, muốn xóa dấu vết Phan Khôi cho tốt, là ta bỏ phắt cái Phụ Lục đi. Và quả nhiên, năm 1991, khi tái bản Nho Giáo ở Sài Gòn, người ta bỏ hẳn phần Phụ Lục ấy. Ta có thể đọc hết cuốn Nho Giáo mà vẫn không biết là Phan Khôi đã giới thiệu, đã có công rất lớn để giúp cho cuốn Nho Giáo của Trần Trọng Kim được giới có học, tạm gọi là trí thức hồi đó, tìm đọc. Và nhờ những biện luận của Phan Khôi mà có một số điểm sai lầm trong Nho Giáo được sửa lại. Như vậy là riêng về một tác phẩm mà Phan Khôi có công, và cái công đó đã hoàn toàn bị xoá bỏ, khi người ta tước cái phần phụ lục ấy đi“.

2/ Về nhà văn Sở Cuồng Lê Dư, em rể Phan Khôi

“Ông Vũ Ngọc Phan, tác giả bất hủ của bộ Nhà Văn Hiện Đại mà tôi cũng như mọi người mang ơn rất nhiều trong thời còn trẻ (…) Những năm cuối đời, có đủ thì giờ, ông viết hồi ký rất tường tận. Đặc biệt ông dành riêng gần 100 trang để tả lại cái buổi ban đầu lưu luyến ấy, ông được gặp người yêu của ông và sau ông cưới làm vợ. Đó là cô Hằng Phương, người có quan hệ gia đình với Phan Khôi.

Tại sao tôi nhớ đến Vũ Ngọc Phan khi nói về Phan Khôi? Tôi muốn đưa ra một minh họa, đố ai chối cãi, rằng người ta cố ý, hay là quá sợ, người ta không dám nói đến Phan Khôi: Ông Vũ Ngọc Phan, nhà anh hùng văn hóa này, ông anh hùng đến nỗi kể về cô gái đẹp như tiên, ông tả Hằng Phương tóc dài mượt. Cái gì cũng đẹp cả. Thế thì bố cô Hằng Phương là ai? Đọc hết cả tập hồi ký của Vũ Ngọc Phan nhan đề Những Năm Tháng Ấy (…) cả thẩy 423 trang (…) vẫn không biết ông ấy tên là gì! Ông bố của Hằng Phương là nhà văn Sở Cuồng, tên thật là Lê Dư!

Lê Dư, hồi trẻ, có một giai đoạn bồng bột, nghe theo tiếng gọi của nhiệt huyết yêu nước, xuất ngoại Đông Du.(…) Vì đói quá, ông chuồn về Việt Nam. Và lại gặp lúc mật thám Pháp đang tìm cách dụ những người trí thức chống đối, về làm việc với nó, vì nó đang muốn mở ra một lối thoát cho trí thức nho học duy tân: Các anh đi con đường chống chúng tôi thì chết; nhưng nếu các anh đừng chống chúng tôi, mà lại có một hoạt động văn hóa, có lợi cho cả các anh lẫn chúng tôi, thì các anh sống được. Tức là bằng sự mở tờ Nam Phong. Một người có tư tưởng ôn hòa như Phạm Quỳnh đứng chủ trương. Cụ Lê Dư về được bổ nhiệm làm chủ bút, giữ phần Hán văn của Nam Phong
787. Thì chỉ vì những năm đó mà về sau Lê Dư bị mang một nhãn hiệu -sau khi Cộng Sản lên cầm quyền- gần như là một người phản cách mạng. Cho nên Lê Dư cũng bị một số phận -tuy không nặng bằng Phan Khôi, nhưng cũng gần như thế.(…)- là trong bộ sách quý báu mà tôi hay dùng, Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam, tập II, ở mục số 19, có một tiểu sử Lê Dư, mà người cán bộ viết sách đó, lúc đó đang sống ở Hà Nội, có con gái cụ Lê Dư là bà Hằng Phương, con rể cụ Lê Dư là ông Vũ Ngọc Phan, con gái út cụ Lê Dư là vợ tướng Nguyễn Sơn, còn đang sống lúc bấy giờ ở giữa Hà Nội, mà họ dám viết tiểu sử Lê Dư bằng hai câu đầu như thế này: Không biết năm sinh và năm mất ở đâu. Lúc đó, cụ Lê Dư đang sống phây phây ở giữa Hà Nội (…) Vợ ông Lê Dư là em ruột Phan Khôi (…) tôi rất bất mãn khi ghi chép tiểu sử người ta, mà cứ giấu cái này, giấu cái kia. Nhất là cuốn hồi ký của Vũ Ngọc Phan, là người tôi mến trọng ngày xưa bao nhiêu, thì sau khi đọc cuốn hồi ký, tôi mất đi nhiều thiện cảm với ông ấy, chỉ vì cái chuyện hèn nhát của ông ấy: Tên bố vợ không dám nói, chỉ nói ông cụ làm ở Bác Cổ (…) Suốt mấy chục trang nói về ông bố của người mà mình sắp đến xin cưới con gái, không dám nói đến tên ông cụ là Lê Dư!

3/ Về cụ Phan Trân, cha Phan Khôi

“Điểm thứ ba, khi nói về tên ông ngoại của vợ mình là cụ Phan Trân. Trong suốt cả cuốn hồi ký, mỗi lần nhắc đến cụ thì cứ gọi cụ là cụ Phan Trần.(…) Ai có cuốn sách Những Năm Tháng Ấy của Vũ Ngọc Phan: Tên cụ là Phan TRÂN chứ không phải Phan TRẦN. Và qua sự chắp nối với một vài điều đọc ở chỗ khác, thì dần dần tôi thử phác họa Phan Khôi là con cái nhà ai, sinh năm nào? Ở đâu? Đấy, cái này đã bắt tôi bỏ ra nhiều thời gian tìm kiếm, nó là khía cạnh khiến tôi đi đến một quyết định là nếu viết bài, thì tôi đề tựa: Phan Khôi Người xa lạ? Với một dấu hỏi rất lớn vì quả thật là gốc gác, lý lịch và dấu vết về đời cụ Phan Khôi ngày nay gần như bị xoá hết cả rồi“(788).

Tạ Trọng Hiệp qua đời ba tháng sau khi nói những lời “thịnh nộ” này. Đó là năm 1996.

Năm 2010, Lê Hoài Nguyên(789) cho biết tình trạng chung như sau: “Tại miền Bắc cuốn “Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận” là tài liệu duy nhất tập hợp các bài tổng kết phê phán chính thống về NVGP. Một số người nghiên cứu do không có tư liệu, thường dựa viết theo cuốn này khi phải nói về giai đoạn 1954-1960 (…) Hầu như toàn bộ các thế hệ sau không biết mặt mũi các ấn phẩm NVGP là thế nào, người ta chỉ lặp lại các luận điệu chính thống mỗi khi nói về nó. (…) Ở một số cuốn hồi kí khi đến giai đoạn này người ta chỉ lướt qua một vài dòng, kể cả hồi kí của Đào Duy Anh, Vũ Đình Hoè, Gia đình Phan Khôi, Vũ Ngọc Phan, Tố Hữu… Nghĩa là việc nói lại một cách rành mạch về NVGP vẫn còn là một việc cấm kỵ hoặc ít ra là khó nói!”

Và ông kết luận: “Trong một xã hội đã kéo dài hơn nửa thế kỷ về sự mê muội dân trí, về sự độc tài về chính trị, sự lừa dối, sự đầu độc để có sự đồng thuận về vụ NVGP và các nhân vật của nó thật khó như đáy bể mò kim… Nhưng trong đêm tối không phải không có những người đã nhìn thấy ánh sáng của chân lý. Sẽ có nhiều người phản đối tôi. Nhưng chẳng lẽ cứ im lặng mãi. Mỗi người chỉ là một góc của thế giới, và người ta bị thôi miên nữa, người ta cả tin. Tôi nghĩ đau khổ nhất của con người là đánh mất lý trí, là không hiểu, không thấy được thế giới thật đang ở bên mình. Họ đã sống và tàn sát đồng loại và tự biện minh bằng một cái mục đích hão huyền vô nhân tính. Vào những năm đầu đổi mới, tôi đã viết trong bài thơ Thế giới đang tồn tại: “Bi kịch thay cho những dân tộc chỉ tin vào những thần tượng, những tín điều”“(790).

Đây là bài viết công khai đầu tiên của một người trong ngành công an, đã từng có trách nhiệm trong hơn 20 năm về hồ sơ NVGP. Một bài viết can đảm. Không những có những thông tin đúng đắn, những nhận định ngay thẳng, mà còn đòi hỏi sự sòng phẳng với quá khứ về mặt văn học và lịch sử.

Hoạ sĩ Trần Duy, trong bài Tưởng niệm về Phan Khôi, viết nhân dịp kỷ niệm 120 năm sinh Phan Khôi 6/10/1887-6/10/2007(791) viết: “Ông Phan Khôi không còn nữa, nỗi oan khuất của đời ông vẫn chưa có người giải!(…) nỗi oan của Phan Khôi, cái mà ông quý nhất, gìn giữ nhất là phẩm giá, thì đã bị bôi nhọ, bị chà đạp. Ai là người minh giải?“(792).

________________

(784) Phan Khôi bị cấm ở miền Bắc từ 1958 đến 1975 và sau 75, trên toàn thể đất nước. Khi chúng tôi đến gặp ông tại nhà, Tạ Trong Hiệp chỉ vào tập ronéo cao vài thước, và nói: "Tôi đã xin được của Thanh Lãng, lúc đó còn là giáo sư đại học văn khoa Sài Gòn đã sưu tầm những bài viết trên báo xưa, bỏ tiền thuê người đánh máy, cho sinh viên học, trong đó có khoảng 5, 6 trăm trang của Phan Khôi viết trên Phụ Nữ Tân Văn. Thế nào chúng ta cũng phải đọc và giới thiệu Phan Khôi với giới trẻ ngày nay trong nước, vì họ chẳng biết gì về ông này cả! (...) Nếu tôi có can đảm viết, có thì giờ, và tôi không đau ốm quá, thì tôi sẽ viết về Phan Khôi, và sẽ đặt nhan đề là Phan Khôi: Người Xa Lạ". Năm 1995, sưu tập của Thanh Lãng được in lại dưới tiêu đề 13 năm tranh luận văn học (Văn Học, tp Hồ Chí Minh). 1996, cuốn Chương Dân thi thoại. 2001, cuốn Nhớ cha tôi của Phan Thị Mỹ Khanh; và 2003 Lại Nguyên Ân bắt đầu xuất bản loạt Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928, tất cả do cố gắng của nxb Đà Nẵng.

(785) Thu thanh 10/7/1996, phát trên RFI tháng 12/96 sau khi ông qua đời về bệnh ung thư ngày 25/10/1996 tại Paris.

(786) Bài của Nguyễn Công Hoan không đưa vào Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận, Tạ Trọng Hiệp nhầm với bài Một nhà nho "tiết tháo": Phan Khôi của Phùng Bảo Thạch, được đưa vào, trang 75-81.

(787) Lúc đầu Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần Hán Văn. Lê Dư cộng tác sau.

(788) Tạ Trọng Hiệp trả lời phỏng vấn RFI, phát thanh những ngày 15, 22 và 29/12/1996.

(789) Nhà thơ Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại Tá công an, trực thuộc A 25, đặc trách NVGP.

(790) Lê Hoài Nguyên, Vụ Nhân Văn- Giai Phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành, mạng nguyentrongtao tháng 8/2010.

(791) Bài của Trần Duy không được đọc trong buổi lễ.

(792) Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi đăng trên Talawas ngày 18/6/2008.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5605
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê - Page 16 I_icon13Yesterday at 08:40

Chương 21

21. Phan Khôi (1887-1959)

Đánh Phan Khôi, các văn bản ô nhục

1/ Rồng Nam phun bạc

Trong cuốn Lược truyện các tác gia Việt nam, quyển II, in năm 1972, của Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu, mục từ số 50, có đoạn như sau: “Phan Khôi đã được Mác-ty (Marty) gọi ra làm việc cạnh nó và viết báo Nam Phong. Trong phòng kín, Phan đã bí mật tố giác một số nhân sĩ yêu nước và bí mật hiến mưu dập tắt phong trào cách mạng”… Trong tạp chí Nam Phong, Phan đã viết những bài văn và bài thơ lừa dối, kêu gọi “dân An Nam” dốc túi ra lấy tiền để đánh đổ “Đức tặc” giúp đỡ nước “bảo hộ” Pha-lang-xa đã không quản trùng dương muôn dặm đem “văn minh” sang gieo rắc ở cái đất An-nam “hèn yếu hủ lậu này”… Phan đã tuyên truyền rầm rộ cho giặc dưới cái nhãn hiệu phỉnh nịnh là “Rồng Nam phun bạc”.

Những việc làm của Phan Khôi “đã đẹp lòng bọn mật thám Mác-ty nhưng chỉ đem lại cho sĩ phu hồi đó sự căm giận khinh bỉ. Phan Khôi là một nhà Nho không những không có sĩ khí văn phong gì, mà đã tụt xuống bại vong quốc nô vô sỉ”[/i] (Xem bài Một nhà nho “tiết tháo”: Phan Khôi của Phùng Bảo Thạch, đăng trong tập “Bọn Nhân Văn – Giai Phẩm trước toà án dư luận” Nhà xuất bản Sự Thật, 1969, trang 76, 78). (…) Nhóm phá hoại Nhân Văn – Giai Phẩm đã bị vạch mặt và bị dư luận phê phán nghiêm khắc. Cuộc đời nhơ nhớp, phản bội cách mạng của Phan Khôi lần này được phơi bày ra ánh sáng. Hai năm sau, 1960, Phan Khôi chết ở Hà Nội“(793).

Đó là Phan Khôi, trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, 1972, hoàn toàn trích dẫn bài viết của Phùng Bảo Thạch. Ngày nay, Từ điển Bách khoa, mục từ Pháp Việt đề huề, cũng vẫn chép lại câu của Phùng Bảo Thạch: Báo Nam Phong của Phạm Quỳnh đưa ra khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”.

Trong số những bài đánh Phan Khôi, bài của Phùng Bảo Thạch tồi tệ nhất, nhưng lại có ảnh hưởng sâu rộng và dài lâu nhất, tại sao? Vì bài này được in trong cuốn “Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận” và đến 2010, theo Lê Hoài Nguyên, người ta vẫn còn dựa vào cuốn này khi phải viết về giai đoạn 1954-1960. Phùng Bảo Thạch là một trong ba người sáng lập báo Đông Tây (1929-1932)(794) mà Phan Khôi cộng tác năm 1930-1931, tức là “bạn đồng hành” của Phan Khôi thời trẻ, cho nên là người “có thầm quyền hơn cả” khi viết về Phan Khôi.

Chúng tôi tìm đọc Nam Phong, thấy bìa sau phần chữ Hán có hình một con rồng phun lên hai chữ Nam Phong; còn trong những bài tiếng Việt mà Phan Khôi viết trên Nam Phong, thì tuyệt nhiên không thấy khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc” và cũng không thấy bài văn, bài thơ nào kêu gọi “dân An Nam” dốc túi ra lấy tiền để đánh đổ “Đức tặc”. Tìm đọc những bài Phan Khôi viết trên báo khác, thì thấy một bài hài đàm có tên Rồng Nam, viết năm 1929 trên báo Thần Chung, trong đó Phan Khôi nói phiếm đại ý: cái tên nào có chữ Nam, hay bị xui. Không biết tay Lang-Sa nào xỏ lá, Siam thì nó gọi là Siamois; Cambodge là Cambodgien, chỉ có Annam thành Annamite. Vần ite sau chót chỉ dân bán khai. Vậy mà cũng không hẳn xui đâu, vì Phan nhớ lại hồi thế chiến “chánh phủ mở cuộc quốc trái ở nơi mấy cái cáo thị dán cùng đường, thì có con rồng, dưới lại đề chữ: “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”. Đức bị đánh đổ không chưa biết, chớ rồng Nam lúc đó phun bạc thiệt nhiều!”(795)

Thì ra người ta đã lấy “cái cáo thị dán cùng đường“, có con rồng, dưới lại đề chữ: “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc“, đổ cho Phan Khôi và nhóm Nam Phong, để có cớ lôi Phan Khôi xuống bùn. Trong cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam, có ba học giả bị kết án nặng nhất, nhưng Nguyễn Văn Vĩnh -mục từ 24- chỉ bị coi là thân Pháp. Phạm Quỳnh -mục từ 48- dù bị thủ tiêu, cũng chỉ bị coi là “tay sai đắc lực của đế quốc Pháp trong lãnh vực văn hoá và một tên Việt gian lợi hại chống cách mạng“.

Phan Khôi bị bôi nhọ một cách bỉ ổi hơn cả.

Như vậy, sự bôi nhọ Phan Khôi được chuẩn bị một cách hệ thống, chắc chắn phải do lệnh từ trên cao nhất của lãnh đạo. Hồ Chí Minh lúc ấy là chủ tịch kiêm tổng bí thư. Trường Chinh đã từ chức từ tháng 10/1956 và Tố Hữu không đủ thẩm quyền để đánh Phan Khôi. Chiến dịch này dùng những học giả, nhà văn, nhà báo lão thành như Hồng Quảng, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Công Hoan, Phùng Bảo Thạch, Trần Văn Giáp…

Hồng Quảng là tên giả của một trong những học giả hàng đầu, là người chủ chốt. Bài Tính chất Phan Khôi hay ngựa quen đường cũ ký tên Hồng Quảng đăng trên Văn Nghệ số 11 tháng 4/1958, là bài chỉ đạo: Trầm tĩnh, lịch sự tối thiểu, không mày tao, chi tớ, có lúc còn gọi Phan Khôi là tiên sinh, dù trong nghiã mỉa mai, nhưng dần dần tiệm tiến “chứng minh” Phan Khôi là kẻ “phản quốc”. Lập luận chính: “Phan Khôi chỉ học mót của Hồ Thích chứ không có tư tưởng gì cả”. Hồng Quảng là “thủ trưởng” vụ đánh Phan Khôi, nhưng viết bài mà không dám ký tên thật luôn luôn là một hành động phức tạp: ở những kẻ có “tên tuổi”, đây là hành động “kẻ cả”, tỏ mình là “bề trên”, không nhúng tay vào những việc bẩn. Nhưng đồng thời cũng chứng tỏ tác giả không tin vào điều mình viết, thậm chí còn xấu hổ nữa, nên không dám ký tên thật. Là ai chăng nữa, thì việc ký tên giả luôn luôn chứng tỏ người viết là kẻ tráo trở hai mặt, ném đá giấu tay. Tên giả thường chỉ xuất hiện trong một “vụ việc” nào đó, rồi hết. Khác với việc nhà văn dùng nhiều bút hiệu để phân biệt lối viết và cách trình bày tư tưởng khác nhau của mình trên mặt báo.

Sự chỉ đạo của Hồng Quảng được Nguyễn Đổng Chi gián tiếp nói ra: “Khi viết bài này, bạn Hồng Quảng ở tạp chí Văn nghệ (số 11) đã vạch cho ta thấy Phan Khôi “không phải độc lập sáng tạo” mà chỉ học mót lại những cái Hồ Thích đã nói từ lâu. Đúng thế. Phan Khôi là một tên học trò vụng về của Hồ Thích, mà Hồ Thích thì là một tên lính xung phong của thực nghiệm chủ nghĩa hay thực dụng chủ nghĩa của giai cấp tư sản phản động của đế quốc Mỹ do bọn Đi-uy (Dewey), Ram (James) và Mát (Mach) v.v… sáng tạo“(796)

Một chi tiết nhỏ trong lời của Nguyễn Đổng Chi: Hồng Quảng đã “vạch cho ta” chứng nhận tính cách chỉ đạo của Hồng Quảng và bài của Nguyễn Đổng Chi chỉ lập lại hai ý chính của Hồng Quảng: “Phan Khôi học mót của Hồ Thích” và “Phan Khôi có bộ óc dương nô” -nô lệ Tây Phương- của Hồng Quảng, để buộc Phan vào tội “vong bản, phản dân tộc”. Ngày nay, nếu có phương tiện, cũng nên xác định xem Hồng Quảng, kẻ chỉ đạo việc đánh Phan Khôi trong giới học giả là ai, để hoàn lại cho người viết, cái trách nhiệm văn bản của mình. Bởi người cầm bút luôn luôn phải chịu trách nhiệm về những điều mình viết.

2/ Phan Khôi có “học mót” của Hồ Thích không?

Theo các “học giả” nói trên, thì những chủ đề Phan Khôi đưa ra trên báo, từ thời Phụ Nữ Tân Văn (1929) đến Sông Hương (1936) đều là “học mót” của Hồ Thích cả. Vậy chúng ta thử xem Phan Khôi viết gì về người thày quý hoá này?

a/ Trong bài “Lý với thế: Hồ Thích với Quốc dân đảng“, năm 1929, Phan Khôi viết: “Trong thời cuộc nước Tàu độ mười lăm năm trở lại đây, phải kể Hồ Thích là một người quan hệ lắm, quan hệ cả về mặt văn hóa và về mặt chánh trị. Thế mà mới ba năm gần đây, Hồ trở nên một người không hợp với thời cuộc, trái với dư luận, ấy là tại va gặp cái thế của Quốc Dân Đảng.

Độ Dân Quốc gây dựng được năm bảy năm chi đó, Hồ Thích bắt đầu xướng ra cái thuyết dùng bạch thoại thế cho văn ngôn, làm cho văn thể nước Tàu biến đổi ngay và từ đó tư tưởng người Tàu cũng phát đạt mau. Hồ là một tay Hán học uyên thâm mà lại đậu Tấn sĩ văn khoa nước Mỹ, bấy giờ va chỉ viết báo mà cổ động sự cải cách văn thể chớ đích thân va thì còn ở bên nước Mỹ chưa về. Lúc đó bọn thanh niên nước Tàu trông va về lắm, trông va về để làm người lãnh tụ dìu dắt bọn thanh niên lên trong đường cải cách.

Khi va về, trường Đại học Bắc Kinh liền rước làm thầy giáo (professeur) dạy khoa triết học. Ở đó vài năm, va làm được một cuốn “Trung Quốc triết học sử đại cương” là sách rất có giá trị trong học giới Tàu ngày nay“
(797).

Phan Khôi gọi Hồ Thích bằng va. Trích đoạn này có 7 chữ va. Va là có ý coi thường. Không ai gọi thầy mình là va cả. Phan Khôi gọi Trần Quý Cáp là thầy tôi; Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của là đại sư; gọi Lương Khải Siêu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh (kém Phan 5 tuổi), là tiên sanh.

Bài viết có giọng của một người đàn anh (Phan hơn Hồ 4 tuổi) khen người đàn em, tuy trẻ tuổi mà đã nổi đình đám lắm, nhưng cũng chê Hồ không ít. Phan viết về một bữa tiệc ở Thượng Hải: “Hồ, chừng như cho mình là nhà triết học ngôn luận phải khác chúng mới được, bèn đứng lên nói một cách sỗ sàng. Đại lược va nói rằng thành phố phải độc lập về đường chánh trị (…) Va nói như vậy có gì lạ đâu, chẳng qua theo cái phép đô thị tự trị thì phải như vậy. Mới rồi các ông hội đồng quản hạt ta nói về việc tự trị của thành phố Vũng Tàu cũng nói như vậy mà có ai cãi? Cho nên khi Hồ nói xong thì có ý tự đắc”.

Không ai “nhận định” về “người thầy tư tưởng” của mình bằng một bài viết như thế.

b/ Tóm lại, việc Phan Khôi viết văn tự nhiên và rành mạch, không phải do ông học mót của Hồ Thích việc dùng bạch thoại. Trong bài trả lời phỏng vấn Phan Thị Nga(798), Phan Khôi cho biết: nhờ nghiên cứu cái logique trong tiếng Pháp, nên từ khi viết cho Đông Pháp thời báo, tức là từ 1925 trở đi, ông viết theo lối này.

Ngoài ra, từ 1922 trở đi, Phan giao du và chịu ảnh hưởng của nhóm trẻ Nguyễn An Ninh kém Phan 13 tuổi, Dejean de la Bâtie dạy Phan tiếng Pháp, Bùi Thế Mỹ cùng quê… là những người bạn làm báo, học trường Tây. Nhưng nguyên nhân sâu xa, có thể là Phan đã học lối viết hài đàm của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đăng Cổ Tùng Báo, và ông đã áp dụng lối văn trong sáng này trong bản dịch Kinh Thánh từ năm 1920-1925 – chúng tôi sẽ phân tích văn bản Kinh Thánh ở phần dưới.

c/ Tại sao người ta lại chọn Hồ Thích để gán cho Phan Khôi? Vì lý do chính trị: Hồ Thích (1891-1962) được đào tạo ở Mỹ. 1910, đi du học rồi đậu tiến sĩ Ph.D. 1918, về nước. 1938, làm đại sứ cho Tưởng Giới Thạch tại Mỹ.

Gán cho Phan Khôi “học mót” Hồ Thích, để đi đến kết luận: Phan Khôi phản quốc, trước làm bồi Tây, sau bồi Mỹ.

Việc triệt hạ Phan Khôi ở các học giả, nếu dùng chữ của Phan Khôi, thì đó là cách hạ độc thủ của “các bạn đồng chí, những người quân tử”.

Năm 1928, khi nói đến việc Hồ Thích bị bọn đồng chí trong Quốc Dân Đảng hạ thủ, Phan Khôi viết: “Thà chịu cái độc thủ của kẻ cường quyền, của bọn tiểu nhân; không thà chịu cái chó má của bạn đồng chí, của người quân tử!”

Ba mươi năm sau, 1958, Phan Khôi bị rơi vào đúng trường hợp của Hồ Thích.

3/ Đặt tên con là Phan Lang Sa

Chiến dịch đánh Phan Khôi được tổ chức khá quy mô, sử dụng những người có tiếng hiền lành như Nguyễn Đổng Chi, Tế Hanh, vừa dễ sai bảo, vừa được quần chúng tin cậy. Tế Hanh là người được chọn đi cùng với Phan Khôi sang Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn, 1956.

Tế Hanh đã làm những câu thơ như sau:

Chống Pháp lại đi ôm đít Pháp
Chửi vua rút cuộc liếm giầy vua
Há mồm lại nói nền dân chủ
Đạo đức ba que quả trái mùa
(799)

Trong bài “tường trình” về chuyến đi Trung quốc, Tế Hanh kể rặt tội Phan Khôi trong suốt chuyến đi: lúc nào cũng tìm cách nói xấu đảng. Nhưng còn một việc tệ hơn nữa: Phan Khôi đặt tên con trai út là Phan Lang Sa, vì mong Pháp trở lại. Trong bài tự trào, gửi cho gia đình từ Việt Bắc, năm 1949, Phan viết:

Hai nhà cộng lại có mười con
Năm gái năm trai nhắm cũng giòn.
Gả cưới tạm yên nguyền một nửa
Sữa măng riêng mũi máu ba hòn
Tư trào thôi hẳn đành chia rẽ
Nhân cách còn mong được vẹn tròn
Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi
Tên mầy ghi cái nhục sông non
(800)

Bài này nói lên gia cảnh và ý chí của Phan Khôi: Hai vợ, mười con. Một nửa đã lập gia đình. Ba con vợ hai còn nhỏ. Vì theo tư trào -chỉ cách mạng- mà phải chia lìa. Mong giữ vẹn toàn nhân cách. Con bé nhất ba tuổi, đặt tên là Lang Sa – Pháp để ghi “cái nhục sông núi” (mất nước). Tinh thần bài thơ đi đôi với lời Phan thường chỉ trích những hạng người “vong bổn”, mới đi Tây vài năm mà đã khoe là quên hết tiếng Việt; hoặc không biết tiếng Tây mà cũng đặt tên con là Trần thị Tờ roi, Trần văn Xết(801).

Nhưng Tế Hanh đã “thuật” lại rằng nhân dịp ghé Nam Ninh thăm người con học ở đây tên là Phan Lang Sa, Phan Khôi “nói” với ông như sau:

“Thằng này sinh ngày 9 tháng 3 năm 1945. Ngày Nhật đảo chính Pháp. Tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật Pháp biết là Pháp sẽ trở lại cho coi“.

Và Tế Hanh kết tội: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. (…) Chỉ có một tâm hồn vong bản loại Phan Khôi mới mong Pháp trở lại mà thôi“(802).

Như vậy đủ biết sự xuyên tạc và vu khống, từ những ngòi bút có tiếng hiền lành, chân thực có tác động nguy hiểm như thế nào. Bao nhiêu kẻ khác đã chép lại giai thoại bịa ấy mà buộc Phan vào tội “phản quốc”. Đến con ông cũng phải đổi tên mình thành Phan An Sa.

Nguyễn Công Hoan làm thơ:

Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi
Thọ mi mi chúc chớ hòng ai
Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc
Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài
Lô-gích, trước cam làm kiếp chó
Nhân văn, nay lại hít gì voi
Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục
Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai
(803).

Những lời “thơ” lỗ mãng luôn luôn là thứ gậy ông đập lưng ông. Nhưng đặc biệt thâm hiểm là bài Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi, đăng trên Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958, bản điện tử trên Talawas, mà Tạ Trọng Hiệp đã nói đến ở trên: Nguyễn Công Hoan là người biết nhiều về Phan Khôi hơn cả. Bài viết của ông có những chi tiết về ngày tháng khá rõ, có thể dùng được trong tiểu sử Phan Khôi. Dựa vào những sự kiện mình biết, Nguyễn Công Hoan thêm thắt, xuyên tạc, để “chứng minh” Phan Khôi là người bán nước, đã làm “chỉ điểm” cho Pháp trong suốt cuộc đời. Bài này với bài Phùng Bảo Thạch là hai “kiệt tác” về sự ô nhục của trí thức.

________________

(793) Lược truyện các tác gia Việt nam,quyển II, của Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1972, mục từ Phan Khôi, số 50, trang 141.

(794) Cùng với Hoàng Tích Chu và Tạ Đình Bính, cha của Tạ Trọng Hiệp.

(795) Phan Khôi, Rồng Nam, Thần Chung số 38 (2/3/1929), sưu tập Lại Nguyên Ân.

(796) Nguyễn Đổng Chi, Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích? Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà Nội, số 41, tháng 6/1958, tài liệu Talawas.

(797) Lý với thế: Hồ Thích với Quốc dân đảng, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, số 807 (18/12/1928), Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928, sưu tập Lại Nguyên Ân, trang 123-124.

(798) Phan Thị Nga (vợ Hoài Thanh), Lối tự học của những bậc đàn anh nước ta, Hà Nội Báo, số 10 (11/3/1936). In lại trong 13 năm tranh luận văn học, tập I, Văn Học tp Hồ Chí Minh, 1995, trang 255-159.

(799) Thơ họa "Con rùa đá” của Tế Hanh - 1957.

(800) Phan Thị Mỹ Khanh, Nhớ cha tôi, nxb Đà Nẵng, 2001, trang 161.

(801) Phan Khôi, Cái thói nói tiếng Lang Sa, Đông Pháp thời báo, số 733 (19/6/1928).

(802) Báo Độc Lập số 357 (1/5/1958), in lại trong Bọn NVGP trước toà án dư luận, trang 138-139.

(803) Thơ họa của Nguyễn Công Hoan - 1957.
Về Đầu Trang Go down
 
Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc - Thuỵ Khuê
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 16 trong tổng số 16 trangChuyển đến trang : Previous  1 ... 9 ... 14, 15, 16

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-