Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Today at 00:59

Một đổi một by Tinh Hoa Today at 00:09

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 22:19

THƠ (Hoa Mộc) by Hoa mộc Yesterday at 21:43

Quan Điểm Sống Của Người Hiền by mytutru Yesterday at 18:59

THƠ HUỲNH KIM NHÂN by HUỲNH KIM NHÂN Yesterday at 17:37

THƠ HOẠ NGOÀI by buixuanphuong09 Yesterday at 15:42

VIỆT NAM CHỐNG COVID-19 by buixuanphuong09 Yesterday at 12:07

CHUYỆN VỤN (Phương Nguyên) by Trà Mi Yesterday at 11:15

Bộ sưu tập cánh vẩy 4 by buixuanphuong09 Yesterday at 10:19

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 07:16

Kệ Đại Hồng Chung sc Đào Liên by mytutru Yesterday at 03:59

Hỏi by Tinh Hoa Yesterday at 02:46

Quán nước ven đường by cohangnuoc Sat 04 Apr 2020, 21:53

KN MÙA DỊCH SIÊU VI 2020 by mytutru Sat 04 Apr 2020, 11:07

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Sat 04 Apr 2020, 05:15

Tết by Tinh Hoa Sat 04 Apr 2020, 00:04

Lợi dụng khủng hoảng khẩu trang, Trung Quốc « thi ân » cho nhân loại by Trà Mi Fri 03 Apr 2020, 20:51

Các huynh tỷ đệ muội ơi! by Phương Nguyên Fri 03 Apr 2020, 16:55

Chút tâm tư by Shiroi Fri 03 Apr 2020, 16:19

HSN_STAY HOME by Shiroi Fri 03 Apr 2020, 16:16

ĐỨC PHẬT CÓ TỨC GIẬN KHÔNG by mytutru Fri 03 Apr 2020, 10:58

LỖI TẠI EM CÔ VY by Trà Mi Fri 03 Apr 2020, 10:28

Bài thơ tình ABC by Tinh Hoa Fri 03 Apr 2020, 01:54

CÒN QUẬY NHIỀU by buixuanphuong09 Tue 31 Mar 2020, 14:05

Virus - Covid - 19 by bounthanh sirimoungkhoune Tue 31 Mar 2020, 11:02

Mưa hoàng hôn by Tinh Hoa Tue 31 Mar 2020, 01:11

Đứa Bé Cúng Dường Nắm Đất Sau Làm Vua by mytutru Mon 30 Mar 2020, 16:49

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Mon 30 Mar 2020, 09:31

Đức Phật Không Cứu Được Người Thân by mytutru Mon 30 Mar 2020, 03:33

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 11, 12, 13
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4326
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 I_icon13Fri 28 Feb 2020, 07:27

Chương 14

Phùng Cung (1928-1998)

● Sáng tác chui, bản thảo gửi

1- Nguyễn Chí Thiện gặp Phùng Cung tại trại Phong Quang, năm 1970, Phùng Cung đang nằm bệnh xá vì bị lao phổi. Nguyễn Chí Thiện hỏi Phùng Cung:

"- Anh tù đã 10 năm rồi, anh sáng tác được nhiều không?
Anh Cung lắc đầu:
- Mấy năm đầu rầu rĩ, lo nghĩ về vợ con, không làm gì được. Sau đó có viết một số truyện ngắn trong đầu, nhưng không nhớ nổi. Đành chuyển sang thơ. Làm cũng được ít thôi, độ vài chục bài"
(495).

2- Phùng Quán viết:

"Được trả lại tự do, việc đầu tiên là anh cùng với vợ sửa lễ "Tạ ơn cao rộng cho được sống để trở về quê quán". Rồi yên phận hẩm hiu, anh tránh thật xa mùi bút mực. Anh xoay trần làm nghề đập đinh, phụ với vợ thêm nghề bánh rán, nuôi ba đứa con trai đang sức ăn, sức lớn. Song hình như mùi dầu nhờn, gỉ sắt, mỡ rán vẫn không át được mùi bút mực. Những lúc rảnh tay, anh ngồi buồn thiu, thỉnh thoảng chấm ngón tay vào đáy chén trà cặn, viết một từ gì đó lên mặt bàn" (496).

3- Về việc bản thảo và giữ gìn bản thảo, Ngô Minh thuật chuyện được Phùng Quán dẫn đến gặp Phùng Cung lần đầu, năm 1986:

"... rồi ông đứng lên mở ngăn kéo bàn lục tìm hồi lâu mới lấy ra một tập vở bé bằng bàn tay, bìa bọc giấy xi măng cáu bẩn, cầm đến đưa cho Phùng Quán: "Sau mười hai năm khổ ải, mình về với vợ con là mừng. Nghĩ đến tù đày là sợ lắm." Phùng Cung trầm ngâm: "Quán ạ, mình cố quên hết văn chương. Nhưng không sao quên được. Đêm ngủ thơ nó cứ kéo về trong mộng. Thế là mình thủng thẳng ghi lại từng ngày. Như là viết nhật ký. Đây là những bài thơ nho nhỏ về chuyện quê nhà. Nhưng bây giờ thì gay rồi. Hôm qua chú công an khu vực đến chơi nhà, bỗng dưng chú cười hỏi: "Chào bác Phùng Cung, nghe nói dạo này bác lại viết thơ nữa à?". Chỉ câu hỏi vui thế mà làm mình nổi da gà. Sợ quá. Tập thơ này toàn hình ảnh quê, mình viết để giải khuây, không có "chuyện gì" trong đó cả. Nhưng nếu mà họ thu mất thì tiếc lắm. Nên Quán cứ giữ hộ cho mình cho chắc.”(...)

Phùng Quán đưa cho tôi xem tập thơ chép tay. Tập vở mỏng, giấy học trò đen hùn. Trong đó mỗi trang chép một đến hai bài thơ, bài nào cũng ngắn, có bài chỉ hai ba câu, bốn năm câu giống như thơ Haiku của Nhật Bản, nét chữ Phùng Cung viết bằng bút chì rất nắn nót, hoa tay, nhưng không ghi tên tác giả. Tôi liếc bài thơ hai câu đầu tiên nhan đề là “Bèo”, bỗng nổi da gà: Thơ ghê quá, bất ngờ quá:

Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh (...)

Trên đường về lại Hồ Tây, tôi bảo anh Quán: “Anh để em giữ tập thơ này cho. Anh giữ cùng chưa chắc an toàn”. Anh Phùng Quán đồng ý. Thế là tôi mang vào Huế. (...)

Tôi đã chọn hai chùm thơ Phùng Cung và đưa tập thơ viết bút chì của Phùng Cung cho nhà văn Nguyễn Khắc Phê, lúc đó là phó Tổng biên tập Sông Hương, sau này một giai đoạn là Tổng biên tập. Tạp chí Sông Hương năm 1988 đã hai lần giới thiệu thơ Phùng Cung với những bài như "Nghiêng lụy", "Bèo", "Người làng", "Chiếc lá rụng", "Cô lái đò", rút trong tập thơ chép tay bằng bút chì ấy. (...) Một lần nữ nhà văn Hà Khánh Linh ở Huế ra Hà Nội, anh Phùng Quán cũng dắt đến thăm nhà thơ Phùng Cung ở Bưởi. Buổi trưa hôm đó Phùng Cung, Phùng Quán và ông Nguyễn Hữu Đang mời cơm nữ sĩ Hà Khánh Linh. Tại bữa cơm ấy Phùng Cung cũng đưa cho Hà Khánh Linh một tập thơ chép tay như thế, nhưng viết bằng bút mực, chứ không phải bút chì (...) Mới hay, gửi cho bạn bè giữ hộ là cách “lưu trữ” thơ của Phùng Cung. Ông phải chép thành nhiều bản để đề phòng bị mất"
(497).

● Xuất hiện lại trên văn đàn


Như vậy, lần đầu tiên Phùng Cung xuất hiện trở lại, là trên báo Sông Hương ở Huế năm 1988, với các bài thơ Nghiêng lụy, Bèo, Người làng, Chiếc lá rụng, Cô lái đò.

Nguyễn Hữu Hiệu, hay về nước, đã gặp Phùng Cung và nhiều nhà văn NVGP. Ông đem bản thảo của Phùng Cung ra hải ngoại: Bài Dạ Ký được đăng lần đầu trên tạp chí Khởi Hành của Viên Linh (498) năm 1996, tiếp đó là Ván cờ khai xuân (499) và Phòng tuyên truyền địa ngục (500).

Năm 1995, nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin in tập Xem đêm của Phùng Cung, gồm 200 bài thơ, là nhờ Quang Huy: "Tập thơ Xem đêm được in ra có phần cổ vũ, trợ giúp không nhỏ về tài chính của ông Đang và sự nhiệt tình của ông Quán. Ngoài ra cũng phải kể đến sự quý trọng và can thiệp trong khâu kiểm duyệt bài của nhà thơ Quang Huy, giám đốc nhà xuất bản đồng thời là người viết tựa cho cuốn sách này" (501).

Năm năm sau khi Phùng Cung qua đời, Lâm Thu Vân cho in tại hải ngoại, cuốn Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản (502) gồm tập thơ Trăng ngục (35 bài làm trong tù, từ 1961 đến 1972) và 11 truyện ngắn (10 truyện mới và Con ngựa già của chúa Trịnh). Năm sau, sách tái bản dưới tựa Phùng Cung Trăng ngục (503) có thêm 74 bài thơ trích trong Xem đêm. Về tập Xem đêm, Nguyễn Hữu Đang viết: "Khi đón nhận nó với cái tên ngộ nghĩnh Xem Đêm, tôi nghĩ ngay đến một câu của thi hào cổ đại Horace như đã "ứng" vào trường hợp này: "Tôi sẽ không chết tất cả" (nguyên văn tiếng La Tinh Non omnis moriar, ngụ ý sau khi thi sĩ qua đời, tác phẩm của ông là một phần con người ông sẽ còn sống mãi), Phùng Cung cũng hoàn toàn tin tưởng lạc quan ở sức sống lâu dài của thơ ông như Horace nghĩ về thơ mình. Và cố nhiên bấy lâu ông hằng mong thơ ông chóng thoát ly bản thảo để sức sống kia được thử thách và cống hiến" (504).

Thơ Phùng Cung in được là nhờ Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, những người bạn "trong cuộc" và vài người "ngoài cuộc" như Quang Huy và nhóm Sông Hương ở Huế gồm Ngô Minh, Hà Khánh Linh và Nguyễn Khắc Phê ủng hộ. Còn sĩ phu Bắc Hà thì sao?

Xem đêm ra mắt độc giả trong nước từ 1995. Về mặt giá trị văn học, thơ Phùng Cung không thua gì những tập thơ khác của các nhà thơ NVGP đã được in ra. Nhưng "giới sành thơ" ngoài Bắc không ai nhắc đến Phùng Cung. Từ điển văn học cũng không có mục từ Phùng Cung trong khi Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Phùng Quán, có. Phải chăng vì Phùng Cung chưa bao giờ được chính thức "xoá án"? Chưa bao giờ được công khai "hồi phục" như những thành viên khác của NVGP?

Nhưng còn một lý do nữa, có lẽ quan trọng hơn: là mọi người ngại, không nhắc đến Phùng Cung, không phải vì Xem đêm, mà vì nội dung toàn bộ tác phẩm của Phùng Cung, dù chưa in ở trong nước, nhưng đã có nhiều người biết hoặc đã đọc qua. Cái khiến người ta ngại, chính là tư tưởng của Phùng Cung. Một tư tưởng độc đáo và ngược hướng với người cùng thời, kể cả các thành viên NVGP, trên nhiều địa hạt: Bảo tồn văn hoá, lòng ái quốc, cách mạng mùa thu, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh Nam-Bắc, tình nước và tình người.

Chưa một nhà thơ, nhà văn nào dám đi xa như thế, viết những lời đả kích mãnh liệt như thế về quốc ca, quốc thiều, về cách mạng mùa thu, về chính sách văn hoá của Đảng Cộng Sản, về những tín điều đã mê hoặc người Việt Nam trong suốt thế kỷ qua. Và đó là lý do chính khiến Phùng Cung bị 12 năm tù. Rồi khi được thả, ông vẫn bị gạt ra ngoài vòng "chấp nhận" của nhiều người trong và ngoài đảng.

Tìm hiểu Phùng Cung là tìm hiểu dòng tư tưởng yêu nước đối lập với các quan niệm chính thống và đi ngược lại niềm tự hào dân tộc cố hữu, nhưng là kim chỉ nam cho một dân tộc mới: sự chuyển giáo dục chiến tranh và giáo dục hận thù thành giáo dục hoà bình và giáo dục văn hoá.

________________________________________

(495) Nguyễn Chí Thiện viết về Phùng Cung, Phùng Cung truyện và thơ, Văn Nghệ, 2003, phụ lục, trang 397.

(496) Phùng Quán, Hằng Nga thức dậy, tài liệu Talawas.

(497) Ngô Minh, Phùng Cung trong tôi, Huế, 3-2008, tài liệu Talawas.

(498) Khởi Hành bộ mới, số 1 và 2, tháng 11 và 12/1996.

(499) Khởi Hành số 4, tháng 2/1997.

(500) Khởi Hành số 7 và 8, tháng 6 và 7/ 1997.

(501) Phùng Hà Phủ, bđd.

(502) Văn Nghệ Cali, 2003.

(503) Trung Tâm Dân Chủ Cho Việt Nam, 2004.

(504) Nguyễn Hữu Đang, Con người Phùng Cung và những bài thơ hay trong tập Xem Đêm, Hợp Lưu số 94, tháng 4-5/2007.

_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Saurie11
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4326
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 I_icon13Mon 02 Mar 2020, 10:25

Chương 14

Phùng Cung (1928-1998)

● Phùng Cung và lớp chỉnh huấn Thái Hà

NVGP bị dẹp cuối tháng 12/1956. Trong năm 57, mọi việc "bình thường" trở lại. Đến tháng 2/1958 sự thanh trừng mới bắt đầu với hai "lớp học" ở ấp Thái Hà.

1- Trần Dần ghi trong nhật ký một số dữ kiện về Phùng Cung, trước ngày "đi học":

27/2/58 PhCung: Tự dưng học hành đến nơi mà Liên Hiệp Hội lại cho PhCung nghỉ công tác. PhCung lo. Không hiểu sao. Có phải vì các ông ấy sợ mình ở đấy đâm lộ chuyện hay không? Hay là vì cái "giả vía", các ông ấy mới cho mình là cái thằng mất dậy? Đã mất dậy thì thôi, không dậy cho nữa, để mà biết tay!

Tôi hỏi PhCung xem cái "giả vía" ấy có gì?

PhCung cười hì hì, kể lại:
- Cũng chả có gì hì... Có một chỗ mình bảo là cái "đảng mạ", hì, nghiã là cái thứ mạ, mình gọi là "đảng mạ", dùng tiếng quê vậy cho nó vui, hì... Lại có chỗ mình định ca ngợi các đồng chí chuyên gia, thì mình cũng dùng tiếng quê, bảo là "các ông ấy béo mà phương phi như tây đoan", "cái đệm các ông ấy nằm mà bà con ta nằm thì ngủ không biết khi nào trở dậy được", hì, mình cứ nói tiếng quê vậy, để bà con nhân dân ta đọc cho nó vui... hì...

Tôi lo dựng tóc gáy:
- Anh viết thế mà anh bảo là tiếng quê! Anh có bị đánh mất xác cũng không oan...

Về sau tôi hỏi HtLinh
(505) Linh bảo:
- Cái thằng, nó cứ có cái lối thế. Nó cho rằng viết phải đả cái gì một tí thì mới oai. Anh em khỏi cười.
- Ai bảo nó thế?
- Ấy thế mới khỉ!... Nó cứ nghĩ như thế cơ chứ!
(506)

Vậy, trước lớp Thái Hà, Phùng Cung vẫn sáng tác đều và vẫn châm biếm Đảng.

2- Phùng Hà Phủ viết: "Cũng khoảng thời gian này, (507) bố tôi bị đình chỉ công tác để làm kiểm thảo. Bố tôi ít đến cơ quan và chỉ viết ở nhà, một số bạn thân của bố tôi thường lui tới như Trần Dần, Hoàng Cầm, Ðặng Ðình Hưng..." (508)

3- Phùng Quán cho biết về những truyện ngắn Phùng Cung viết trong thời kỳ này:
"Anh còn một tập truyện ngắn, đâu như tám truyện thì phải, cũng một dòng "ngựa, voi", chưa kịp ra mắt bạn đọc thì đã bị cái khách quan khắc nghiệt "bảo lưu" cùng với tài năng của tác giả. Truyện nào viết xong anh cũng đưa tôi đọc. Truyện nào cũng làm tôi say mê vì vẻ đẹp của ngôn từ. Cái kho ngôn từ dân dã của anh dường như vô tận. So với tất cả văn xuôi của tôi đã in ra, tôi có cảm giác mình là người nước ngoài viết tiếng Việt" (509).

Tóm lại, từ tháng 12/1956, khi NVGP bị đóng cửa, đến tháng 5/61, khi Phùng Cung bị bắt, ông vẫn sáng tác và các bạn đều đọc. Theo Tô Hoài, bài Dạ Ký lúc bấy giờ đã nổi tiếng lắm (510).

4- Phùng Cung là đảng viên, vào đảng ở Việt Bắc, chưa rõ năm nào. Vậy ông phải đi cả hai lớp chỉnh huấn Thái Hà. Tuy nhiên chưa bị tội nặng, vì ở lớp này, Hoàng Cầm, Lê Đạt đều "bao che" Phùng Cung, một nhà văn trẻ. Hoàng Cầm viết trong bài "tự thú" như sau: "Tôi đi động viên Phùng Cung viết chuyện, và khi Phùng Cung viết "Con ngựa già của Chúa Trịnh" đưa tôi xem bản thảo đầu tiên, tôi có góp ý kiến vào việc diễn tả: "Chỗ con ngựa vào cung Vua, nên tả cho đáng ghét hơn". Khi Phùng Cung đưa bản thảo lần thứ hai, tôi chữa văn và thêm nhiều câu diễn tả cảnh đẹp, diễn tả con ngựa càng ngày càng béo" (511).

Lê Đạt viết: "Tôi lại viết “lời toà soạn” cho chuyện “Con ngựa già” của Phùng Cung đả kích và vu khống lãnh đạo văn nghệ không chú ý đến các nhà văn trẻ". (512)

Hai lời "thú nhận" trên đây chứng tỏ Hoàng Cầm, Lê Đạt trong lớp Thái Hà, nhận mình chủ mưu, Phùng Cung chỉ là đàn em.

5- Về Thái độ của Phùng Cung ở Thái Hà ấp, Trần Dần ghi:

29/4/58 Phùng Cung
- Nhục lắm. Mẹ nó. Mình xin về nhà có được không nhỉ? (...) Có nên xin ra biên chế không? Tôi nhìn PhCung, ái ngại cho anh quá. Đâu như trong khi học tập, anh ta "hỗn" quá, bị đuổi khỏi lớp làm sao ấy... Tôi khuyên anh, rằng nên đầu hàng đi; rằng chỉ có một con đường, "họ" là chân lý, mình đầu hàng, là phải; rằng không nên xin ra biên chế, lúc này việc ấy có thể là một sự tiến công của tư tưởng thù địch; rằng không nên coi là nhục, oan ức gì nữa, mà cứ nghĩ lại xem tổng cộng cái bồ chữ mình đã chửi vào lãnh đạo nó to như thế nào, còn oan và nhục gì nữa? PhCung xem ý không thông gì lắm. Tôi thấy khổ! Một con người có cái gan "tử vì đạo" là PhCung, than ôi, cái đạo anh định chết vì nó chính là cái đạo phản cách mạng, sao mà anh chưa tỉnh ngộ ra hử anh?"
(513)

Tại lớp Chỉnh huấn Thái Hà, Phùng Cung đã có thái độ cứng rắn, không đầu hàng, "tử vì đạo" như Trần Dần ghi.

6- Về tình trạng tự kiểm thảo của mọi người sau lớp Thái Hà, Trần Dần ghi:

Ngày 7/5/58 Kiểm thảo sáng tác. Đảng đoàn HNVăn để cả một tuần này, để cho Nhân Văn viết lại cái phần kiểm thảo sáng tác! Theo như đồng chí NxSanh (514) nói, thì tuần trước, phần đó viết chưa sâu, vì thiếu thời giờ, thì tuần này viết lại cho kỹ. Mà phải viết sao cho có thể dùng in công khai được. Sau khi mọi người đã nộp cái của quốc cấm, nghiã là cả một đống những Nhân Văn Giai Phẩm rồi, thì tập trung ở cả một phòng, viết kiểm thảo (...) Anh nào anh nấy lăn vào viết. Lắm hình dung từ, lắm tiếng tự phê dao búa! (...) Tôi cũng không kém. Bao nhiêu hình dung từ phản cách mạng, phản động, phản Đảng, phản bội, chống chế độ, xét lại, tờ-rốt-kít. Không còn thiếu chữ gì. Giặc bút, viên đạn xét lại, mũi tên độc địa của chủ nghĩa cá nhân đồi trụy, chủ nghĩa vô chính phủ và đầu óc làm phản v.v... Tôi sáng tác thêm nhiều chữ nữa để mà miêu tả chân tướng mình, cho nó hết lòng một thể. Chắc các đồng chí lãnh đạo đọc một loạt kiểm thảo bọn tôi lần này thì phải bựt cười lắm đấy! "Trước kia thì nói nhẹ chúng cũng không nghe. Bây giờ thì chúng lại còn tự sỉ vả gấp triệu lần sự phê bình của lãnh đạo!" (515)

7- Về hình phạt và tâm trạng chung, Trần Dần ghi:

Ngày 12/5/58, Tình hình Cuộc đấu tranh cứ lộn đi lộn lại từ B516 sang A517 lại A sang B, báo chí cứ xoay đi xoay lại mãi, cứ như một cái nồi khổng lồ của vô sản chuyên chính, ninh đi ninh lại cho nó dừ cái chủ nghiã xét lại ra.

Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. Hình phạt của một người bị bung dừ. Không còn cách nào. Đây không phải là một sự trừng trị cá nhân; mà đây là "chúng ta" trừng trị một phong trào, một trào lưu tư tưởng của chủ nghiã xét lại... Tôi vừa là một tội nhân. Vừa phải cố tách mình ra, làm một đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám Nhân Văn"
(518).

8- Vể sự phải tố bạn để thoát thân, Trần Dần kể:

"Thực ra, trước khi HCầm báo cáo, tôi dự định là giữ VCao và ĐđHưng lại, như là "giữ một nửa thành phố, chỉ đầu hàng một nửa" (...). Nên báo cáo tổ, bị hỏi, bị dồn, bị truy nữa, tôi vẫn giấu quanh, không chịu thúc thủ cái một nửa thành phố đó! Đến lúc HCầm báo cáo, tức HCầm "rendre" (519) hai ông bạn quý đó rồi. PhVũ lên tố thêm VCao. LĐạt thì chỉ xác nhận, tố thêm tí tỉnh, còn bao che ĐdHưng nhiều. Hơn nữa, qua báo cáo HCầm và LĐạt, thì tôi "được" đưa lên mũi nhọn, "được" hội trường chờ đợi rất ghê!

Bão lúc ấy chầu chực trên đầu lâu tôi!

Tôi phải tính kế, vừa thoát thân, vừa thoát cho 4 thằng đang bị dồn đánh ghê gớm (TD, HC, LĐ, TPh) (520) vừa để sao cho VCao, ĐdH hiểu mình, qua cái ý ngầm của bản báo cáo!

Cụ thể, tức là tôi nghĩ rằng: "Bây giờ chỉ còn con đường duy nhất, là đầu hàng Đảng. Không có con đường khác. Mà đã hàng thì hàng thực sự, về sau mới thực sự trời êm bể lặng được. Thế nào là hàng thực sự? Hàng thực sự là: mỗi người phải ra mà gánh lấy cái phần bão, do chính trách nhiệm mình gây ra! 4 thằng đang chịu cái trận bão đó rồi, còn hai ông anh VCao, ĐdHưng thì xin nhờ đến vai hai ông, mang vác lấy cái phần của các ông! (...)

Thực tế đã chứng minh cho giá trị chủ trương đó. Quả nhiên: ngay trong lớp học, bão cũng đã ngàn đi dần dần trên đầu 4 thằng, và sau khi chuyển mạnh sang đầu 2 thằng kia ít bữa, rồi nó cũng ngàn đi.

Đến sau lớp học nữa, thằng nào cũng đều được sống trong một không khí được giải vây tương đối dễ thở. Với thời gian chắc nó sẽ càng dễ thở hơn.

Chỉ có cái là trong bộ 6
(521) thì có một sự phân hoá của trách móc, hằn thù... HCầm có vẻ khổ! LĐạt tự cho mình là oai nhất, "đúng nhất, vừa mức nhất, không vấy cho ai!", LĐạt cho tôi là "quá mức!", ĐdHưng thì kẻ cả: "Tất nhiên có chuyện đó, nhưng đã thuộc lịch sử rồi. TPhác khó hiểu, vừa ghét HCầm, vừa ghét VCao mà vẫn nối lại một phần, còn đối tôi thì lại bảo là: "anh ghê nhất, anh giỏi nhất!" (522)

Đoạn nhật ký Trần Dần trên đây và đoạn Hoàng Cầm kể lại trong băng ghi âm về buổi "báo cáo điển hình" hơn 10 tiếng đồng hồ của ông tại Thái Hà ấp, hoàn toàn ăn khớp với nhau. Trần Dần giải thích tại sao phải đầu hàng trước hệ thống cưỡng bách thẩm vấn, cho biết điều kiện viết những bản tự thú và sự bắt buộc phải tố bạn để cứu mình. Trần Dần đã vạch trần chế độ toàn trị trong vài hàng nhật ký: Sự tan nát tình bạn và sự giẻ rách hoá con người.

________________________________________

(505) Hoàng Tích Linh.

(506) Trần Dần ghi, Văn Nghệ, 2001, trang 238-239.

(507) Tức là thời gian báo Nhân Văn bị cấm.

(508) Phùng Hà Phủ, bđd.

(509) Phùng Quán, Hằng Nga thức dậy, tài liệu Talawas.

(510) Theo Tô Hoài, trong Cát bụi chân ai.

(511) Những lời thú nhận của Hoàng Cầm, Văn Nghệ, số 12, tháng 5 năm 1958.

(512) Những lời thú nhận của Lê Đạt, Văn Nghệ, số 12, tháng 5 năm 1958.

(513) Trần Dần ghi, trang 253.

(514) Nguyễn Xuân Sanh.

(515) Trần Dần ghi, trang 257.

(516) B là văn nghệ sĩ, theo cách xếp hạng của Đảng.

(517) A là trí thức.

(518) Trần Dần ghi, trang 260.

(519) Tức là khai.

(520) Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Tử Phác.

(521) Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Văn Cao, Tử Phác, Đặng Đình Hưng.

(522) Trần Dần ghi, trang 267-268.

_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Saurie11
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4326
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 I_icon13Wed 11 Mar 2020, 14:24

Chương 14

Phùng Cung (1928-1998)

● Phùng Cung bị bắt

1- Trần Duy viết:

"Chính việc anh Phùng Cung bị bắt làm tôi rất lo sợ và đau buồn, vì Phùng Cung không tham gia Nhân văn ngoài bài viết "Con ngựa già của Chúa Trịnh" nhằm vào một nhân vật có tên tuổi trong Hội Nhà Văn (Nguyễn Tuân). Nhưng vì anh Phùng Cung có một số bài viết đầu tay đã chuyển cho một số đàn anh xem để biết, rồi không hiểu bằng cách nào đó những bản thảo ấy lại vào tay lãnh đạo (tôi không được đọc những bài viết ấy) (...)

Tôi nhớ một cuộc họp tại trụ sở Hội Nhà Văn ở đường Nguyễn Du năm 1957 dưới sự chủ tọa của Hà Minh Tuân, Nguyên Hồng… người đến họp có đông văn nghệ sĩ, trong đó có Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần…, qua những câu hỏi, những lời xác minh của các anh Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần thì đúng Phùng Cung là tác giả của những bài viết kể trên, và như vậy bản án đã úp lên đời Phùng Cung một tội trạng. Tôi còn nhớ câu của Nguyên Hồng nói sau khi kết thúc buổi họp: "Các anh lúc bình thường đối xử với nhau có vẻ trí thức lắm, nhưng lúc có sự việc xảy ra thì các anh đối xử với nhau không bằng lũ chăn trâu!". Ra đến cổng anh Nguyên Hồng vỗ vào vai tôi và bảo: "Đã biết sợ chưa!".

Quả tình tôi rất sợ, tất nhiên sợ về pháp luật là chính nhưng sợ hơn nữa là nhân tâm con người, sự tàn nhẫn của những con người đã bán rẻ nhân phẩm của mình để tự cứu mình, giẫm lên sinh mạng của những người khác để tự thoát thân"
(523).

Theo Trần Duy, Phùng Cung bị tố năm 1957 và Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần là ba người tố. Nhưng so sánh với những tài liệu khác, không thấy nơi nào ghi 1957 có việc tố Phùng Cung. 1957 là năm tương đối yên tĩnh. 1958, tại lớp chỉnh huấn Thái Hà, Hoàng Cầm và Lê Đạt còn cố "gỡ tội" cho Phùng Cung. Vậy việc tố Phùng Cung, nếu có, phải xẩy ra vào khoảng 1960-1961, trước khi ông bị bắt, bị tịch thu bản thảo. Tóm lại Trần Duy đã nhớ nhầm năm.

2- Phùng Hà Phủ viết:

"Một buổi sáng như thường lệ, khi mẹ tôi đi làm (lúc đó hai anh em tôi còn nhỏ, chưa đến tuổi đi học), thì ở nhà, căn hộ mà gia đình tôi ở bị công an mang xe ô tô đến vây bắt khám xét. Sau khi khám nhà và tịch thu toàn bộ sách vở, tài liệu, bố tôi bị đưa ngay vào giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Ðó là tháng 5/1961. Kể từ ngày đó mãi cho đến thời gian chuẩn bị ký hiệp định Paris (1973), tức là 12 năm sau, bố tôi mới được tha về nhà. Thời gian đầu bố tôi bị giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), sau đó đưa lên Bất Bạt (Sơn Tây), rồi Yên Bình (Yên Bái), Phong Quang (Lào Cai)".

"Bố tôi bị bắt và giam giữ nhưng không có án mà gọi là đi tập trung cải tạo (...)

Sau này lúc mãn hạn tù, mẹ tôi mới biết bố tôi luôn là đối tượng bị giam cấm cố trong xà lim, bị hạn chế tôi đa tiếp xúc với thân nhân.

Nhớ lại theo bố tôi kể "khi xẩy ra chuyện", buổi sáng đó bố tôi được triệu tập tới cơ quan để họp. Đến nơi thấy mọi người xung quanh đều có ý lảng tránh mình, thậm chí không dám mời nhau uống chén nước. Ngay cả những bạn rất thân và thường lui tới nhà cũng tìm cách lánh mặt. Ngay sau đó bố tôi bị đem ra kiểm điểm trước cuộc họp, mà thực chất gần như một buổi đấu tố thời "cải cách" của Liên Hiệp Hội Văn Học Nghệ Thuật (gồm cả đại diện bên văn nghệ quân đội). Chủ trì cuộc đấu tố gồm các ông Võ Hồng Cương, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh... Cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất đối với bố tôi là những bạn thường ngày chơi thân với bố tôi như vậy đều tham gia vào việc "đấu tố". Ngày hôm đó, ông Trần Dần là người đứng lên "tố" để hai ông Lê Đạt và Hoàng Cầm làm chứng dối. Tội chính mà bố tôi bị "tố" là mang lòng hận thù cách mạng sau cái chết của bố mình. Lôi kéo người khác cùng về hùa để lăng mạ lãnh đạo và còn viết nhiều chuyện chưa in khác - Tất cả nội dung đều tập trung vào lãnh tụ và Đảng Cộng Sản như: Dạ ký, Chiếc mũ lông, Quản thổi, Kép Nghế... Việc bố tôi bị bắt sau đó là do tham gia làm báo Nhân Văn nhưng theo mẹ tôi còn nhiều lý do khác nữa (...)

Từ ngày ra tù bố tôi sống như người bị câm, hầu như không quan hệ với ai ngay trong các bạn văn quen biết cũ. Những người trực tiếp "tố" bố tôi ngày xưa đều cảm thấy hối hận về việc làm của mình và xin lỗi bố tôi." (524)

Phùng Hà Phủ, không ghi rõ ngày "xẩy ra chuyện" -khi đó hai anh em mới 4 và 2 tuổi- chỉ ghi lại những gì trong ký ức nghe cha mẹ kể lại. Buổi đấu tố này, những người chủ trì khác với buổi Trần Duy kể lại, nhưng có những chi tiết đúng như Nguyễn Hữu Hiệu viết trên báo Khởi Hành.

3- Nguyễn Hữu Hiệu viết:

"Theo lệ thường, mỗi năm, hội viên Hội Nhà Văn phải viết bá cáo, tự thuật, tự đánh giá mình đọc trước lãnh đạo.

Trong đợt học tập cuối năm 1960, tổ học tập gồm bọn bốn người cứng đầu kia (525) bị trực tiếp đặt dưới quyền tổ trưởng Võ Hồng Chương
(526). Trong đợt học tập này T.D. (527) được lãnh đạo viết bản tố cáo dài gần 40 trang viết tay chữ nhỏ như kiến. Phùng Cung bị đấu hai buổi trước đông đảo văn nghệ sĩ tại trụ sở Hội Nhà Văn; bị tố cáo là tên phản động ngoan cố nhất của "Nhân Văn Giai Phẩm".

Chế Lan Viên, cuối cùng, mới đứng lên đề nghị phải lập tức điều công an đến khám nhà và bắt Phùng Cung.

Nỗi đau nhục bị phản bội chưa qua thì họa khám nhà đã đến. Ngày 19 tháng Chạp năm Canh Tý 1960
[tức là ngày 4/2/1961] công an vây kín ngõ, xồng xộc vào nhà, lục soát, dầy xéo lung tung, tịch thu toàn bộ bản thảo gồm trên ba chục truyện ngắn và rất nhiều thơ. Phùng Cung bị đưa vào Hỏa Lò Hà Nội.

Sau đó, ông bị đưa đi biệt giam qua các trại Bất Bạt (Sơn Tây), Yên Bình (Yên Bái), Bảo Thắng (Lào Kai) từ đầu 1961 đến cuối 1972. Suốt trong mười một năm bị biệt giam, Phùng Cung bị lao nặng và nhiều bệnh trầm kha khác. Khi được phóng thích ông vẫn bị quản chế rất chặt tại địa phương.(...)

Khi làn sóng Dân chủ đích thực -giấc mơ đời của Phùng Cung- dâng lên de dọa nhận chìm Liên Xô "Thành đồng của Cách Mạng" thì Phùng Cung không được làm "bất cứ việc gì liên quan đến chữ nghĩa" kể cả việc làm gia sư. Đều đặn hàng tuần công an đến nhà thăm hỏi sức khoẻ, ngồi ì trong nhà khiến không ai dám bén mảng tới. Đông Âu sụp đổ, hình thức quản chế cũng theo đà "đổi mới" theo, nghiã là công an vẫn đến thăm hỏi như xưa nhưng nhẹ nhàng và ít thường xuyên hơn. Hiện Phùng Cung đang sống lây lất với gia đình tại một căn nhà âm u, lụp xụp tại vùng Quần Ngựa ngoại thành cũ"
(528).

Nguyễn Hữu Hiệu viết rất rõ ràng, đúng trật tự lô-gíc, chắc chắn ông đã nghe Phùng Cung kể lại. Tóm lại, có 2 buổi đấu tố Phùng Cung cuối năm 1960, Trần Duy được dự buổi có Hà Minh Tuân và Nguyên Hồng chủ trì.

________________________________________

(523) Trần Duy, Một câu hỏi còn chưa được trả lời, đăng ngày 10/7/2009, mạng Talawas.

(524) Trích Phùng Cung truyện và thơ, Văn Nghệ, California 2003.

(525) Tức là Phùng Cung, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt.

(526) Chắc là Võ Hồng Cương.

(527) T.D. chắc là Trần Dần.

(528) Nguyễn Hữu Hiệu, Phùng Cung, Khởi Hành, Bộ mới số 1, tháng 11/1996, trang 7.


_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Saurie11
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4326
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 I_icon13Thu 12 Mar 2020, 10:08

Chương 14

Phùng Cung (1928-1998)

Hoàng Cầm kể chuyện Phùng Cung

Trong băng ghi âm, Hoàng Cầm nói về việc Phùng Cung bị bắt như sau:

Theo tôi, trong truyện Con ngựa già của chúa Trịnh, Phùng Cung ám chỉ một số người, như Nguyễn Công Hoan, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi... trước kia có tài, bây giờ đi hầu hạ một cách đê tiện, chẳng khác gì con ngựa kéo xe cho bà Phi, ông Chúa. Vì bài đó, Phùng Cung mua sự căm ghét của những người mà anh ám chỉ. Truyện này không phải anh chủ ý đem đăng ở Nhân Văn, mà hoàn toàn là do tôi, vì anh quý mến tôi nên những gì viết xong anh thường đem cho tôi đọc và sửa. Việc đăng bài ở Nhân Văn là hoàn toàn do tôi.

Sau vụ NVGP, năm 1958, mọi người đã đi cải tạo đợt đầu rồi, nhưng người ta vẫn cho Phùng Cung làm việc ở Hội Nhà Văn, chứ không đuổi. Chỉ cho làm việc lặt vặt quét dọn nhà cửa, rửa ấm chén... với lương nhân viên hành chính độ 40 đồng. Còn hai anh Trần Dần và Lê Đạt, sau khi đi chăn bò ở Chí Linh với Tử Phác và Đặng Đình Hưng về, năm 1959 chưa được cơ quan sắp xếp đi lao động chỗ khác, nhưng bắt buộc mỗi buổi sáng phải đến Hội Nhà Văn. Có Phùng Cung ở đấy, họ lại hội họp trò chuyện. Mà ba ông này thảo luận văn nghệ, thì có khi họ nói to, ví dụ anh Phùng Cung cứ chê cái thứ văn giẻ rách của hai ông Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, cả hai đều là lãnh đạo Hội Nhà Văn. Vì vậy họ thù. Ông Nguyễn Đình Thi lúc ấy là tổng thư ký, ông ghét cay ghét đắng Phùng Cung.

Sau khi đóng cửa Nhân Văn đến năm 1960, anh viết được độ 20 truyện ngắn (529), tôi đọc khoảng 10 truyện, tất nhiên không sắc nước bằng Con ngựa già của chúa Trịnh, nhưng đều có những nét rất đặc biệt, mang tâm trạng bi phẫn. Lại có truyện rất humour, trào lộng và sâu sắc. Tôi và Lê Đạt mượn độ dăm ngày rồi trả lại, riêng anh Trần Dần mượn hơn một tháng. Thế mà không hiểu lầm sao, hai ông Nguyễn Đình Thi và Hoàng Trung Thông lại biết là anh vẫn viết văn chửi chế độ. Theo Phùng Cung, thì chính hai ông này gửi công văn sang Sở Công An Hà Nội, bảo Phùng Cung là phần tử xấu, nhờ Công An xử lý cho nghiêm. Phùng Cung nói với tôi: "Hai thằng khốn nạn, khi tôi làm thư ký công đoàn, tôi lo cho tất cả mọi gia đình anh em, sao nó nỡ đối xử với mình như vậy!" Tôi bảo: "Chắc nó ghét cậu chứ gì!"

Công an bịa chuyện có đơn khiếu nại của một thiếu nữ hàng xóm bị anh hãm hiếp, nên họ gọi anh lên để điều tra. Có lệnh khám nhà, bắt và tịch thu toàn bộ bản thảo, bản nháp các tác phẩm của anh. Tóm lại, chỉ có ba người mượn đọc là tôi, Lê Đạt và Trần Dần, mà tại sao anh bị bắt.

Sau này tôi nghe chị Thoa, vợ anh kể lại: Anh vẫn khăng khăng nghĩ như thế suốt mãi đến sau này, tức là trong 30 năm trời, anh cho rằng Trần Dần đã đem nộp tập truyện ngắn của anh cho Ban Tuyên Huấn hay Bộ Công An. Vì thế các ông Thông và Thi mới biết và làm công văn gửi Bộ Công An nên anh bị bắt. Anh rất thù Trần Dần. Tôi nói thế nào cũng không nghe, anh luôn luôn trả lời: "Ông đừng nhắc chuyện ấy với tôi, tôi không muốn nghe đến cái tên ấy nữa, thằng bán bạn, thằng phản bạn". Vì Trần Dần giữ một tháng mới trả, rồi anh bị bắt, nên anh nghi, anh nghĩ ra thế thôi, chứ còn Trần Dần có làm gì hay không thì làm sao ai biết được. Riêng tôi và Lê Đạt đều nghĩ rằng Trần Dần không thể làm cái việc như thế, vì có làm như thế cũng không gỡ lại được những kỷ luật mà người ta đã giáng xuống đầu anh. Những nghi ngờ nó gậm nhấm tâm hồn anh Cung, anh khổ quá nên anh gần như có lời nguyền là không bao giờ anh gặp lại Trần Dần nữa, lời nguyền đó anh nói với vợ anh.

Khi anh bị giam, tôi không dám viết thư vì sợ quản giáo kiểm soát, để phân trần cho Trần Dần. Tôi biết anh không nghi cho tôi, vì tính nết tôi anh quá hiểu, khi làm thư ký công đoàn, anh đã giúp đỡ vợ chồng tôi nhiều lắm, chính anh làm đơn cho tôi có hộ khẩu ở Lý Quốc Sư. Tôi chỉ nhắn chị Thoa mỗi lần lên thăm anh, nói hộ rằng: "Tôi đã hỏi anh Dần, anh ấy bảo là mình đọc rất chậm, có khi nghiền ngẫm 2, 3 ngày một truyện, mà anh ấy viết có phải để in ấn gì đâu, nên mình không vội, chứ không cho ai mượn cả. Vậy Cung đừng nên hiểu lầm như thế mà anh em thù ghét nhau vô lý lắm, tôi nhờ chị ấy nói thế". Nhưng về chị ấy kể: "Anh vẫn khăng khăng, chuyện này không thể tha thứ được, Trần Dần với tôi là kẻ thù rồi, anh Cầm đừng thanh minh vô ích".

Đến khi được về, anh vẫn thế, anh bảo: "Dù anh Trần Dần không phải như thế, nhưng cái chuyện kia nó đã ăn vào đầu tôi rồi, tôi yêu cầu anh đừng nhắc đến nữa, càng nhắc càng gợi sự đau lòng". Thế là tôi không dám nhắc đến nữa. Trong anh em có gì mâu thuẫn với nhau, như Văn Cao và Lê Đạt, có lần mâu thuẫn với Đặng Đình Hưng về vấn đề văn nghệ, tôi luôn tìm cách giảng hoà, nhưng lần này, trong 30 năm, tôi không làm được.

Mãi đến lúc sắp kỷ niệm ông Đang 80 tuổi, tất cả anh em xúm lại, cùng họp nhau ở nhà Phùng Quán bên cạnh Hồ Tây, thì lúc bấy giờ Phùng Cung mới đưa tay bắt tay Trần Dần: "Thôi thế nhé Dần, thôi không có chuyện gì với nhau nữa nhé!" Trần Dần chỉ nói: "Không phải lỗi tại tôi". Nhưng Phùng Cung không thân với Trần Dần được nữa nên cũng không đi lại. Phùng Cung ở gần nhà ông Đang, kết nghĩa anh em, vì cùng đi tù, tôn ông là anh cả, Phùng Cung, rồi đến Phùng Quán, là ba anh em kết nghiã.

Khi anh bị đi tù, chị Thoa lên thăm trên trại giam, từ Lào Cai phải đi thêm 40 cây số nữa, rồi rẽ đường rừng 10 cây số mới đến chỗ anh ở. Hai lần đầu nhất định không tiếp, anh đóng vai tàn nhẫn, cố ý để người vợ trẻ đẹp, trung hậu của anh phải giận, phải nản chí mà về đi lấy chồng khác. Khi về chị kể lại, thì tôi khuyên: Anh phẫn chí mới làm như thế, lần sau lên thăm, chị xin quản giáo cho phép ở lại, làm việc gì cũng được, miễn là được gặp chồng. Chị nghe tôi, lần sau chị xin quản giáo cho ở lại, chờ 2 ngày, thì anh phải tiếp, nhưng anh khuyên vợ: "Em nên về nhà nuôi con, lập lại cuộc đời vì anh đi tù không biết ngày nào ra, có khi chết trong tù". Chị bảo: "Em quỳ xuống chân anh ấy em khóc, anh đừng nghĩ như thế, anh đã bị như thế này thì cố gắng làm việc, theo đúng kỷ luật, rồi thế nào cũng có ngày về." Nhưng anh ấy kiên quyết: "Em về lấy chồng đi!"

Nhưng chị ấy cứ kiên trì lên thăm, vài lần sau, anh ấy mới thuận, vợ chồng lại chuyện trò âu yếm như trước.

Đến khi được về, sau này anh kể với tôi: Mình bị giam trong rừng thuộc huyện Hoàng Xu Phì, trong suốt 12 năm, không một ngày nào trông thấy mảnh trời xanh, vì ở rừng, chỉ thấy trời âm u qua kẽ lá. Đến khi được về, ra đến đường cái, bấy giờ mới biết mảnh trời xanh, anh như người bị mê sảng, mất phương hướng, mặc dù trời nắng, người anh run lên, không biết đây là đâu, lạc cả hồn đi, không biết mình ở thế giới nào.

Tôi nhớ anh được về vào năm 1972 thì phải, B52 đang đánh Hà Nội trong 12 ngày. Anh về Hà Nội vắng ngắt, đèn phòng thủ lờ mờ, đèn báo động, về đến nhà cửa khoá không biết vợ con sơ tán ở đâu. Đêm ấy anh phải ngủ ngoài hiên và dự trận B52 ném bom ầm ầm.

Hôm tôi và bà vợ xuống thăm, chị khóc gọi: "Anh Cung ơi, anh Cầm, chị Yến xuống thăm mình đây này!" Tôi chưa nhìn thấy anh, không phải vì mắt tôi cận thị mà vì cái phòng tôi tối, không biết anh đứng đâu, mà chị Cung lại gọi, thì hoá ra, khi định thần lại, tôi thấy anh đứng trong góc nhà, ngay cạnh tủ chè, kề bức tường. Một bóng ma! Người nhợt nhạt, anh nói thều thào như sắp chết. Tôi phải hỏi lại chị: "Cô Thoa ơi! Chú ấy nói gì đấy?" Chị Thoa trả lời: "Em cũng chả nghe rõ đâu, nhìn mồm thì em đoán là anh ấy nói rất vui trông thấy anh chị xuống thăm!" Tôi chạy lại ôm hai cánh tay anh, thương vô cùng, người đúng như một hồn ma, gầy gò, sờ thịt nhão ra, đi lần từng bước, không nói được một câu nào cho ra lời. Nếu tôi không đăng bài Con ngựa già của chúa Trịnh, trên Nhân Văn thì anh đâu đến nỗi này!" (530)

________________________________________

(529) Có chỗ ông nói là hơn 10 truyện.

(530) Theo băng ghi âm Hoàng Cầm nói chuyện vói bạn bè.

_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Saurie11
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4326
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 I_icon13Mon 16 Mar 2020, 12:16

Chương 14

Phùng Cung (1928-1998)

● Lệnh bắt Phùng Cung

Tổng hợp những thông tin của Hoàng Cầm, Phùng Hà Phủ, Nguyễn Hữu Hiệu và Trần Duy, chúng ta có thể hình dung các sự kiện đã xẩy ra như sau:

Việc Phùng Cung nghi Trần Dần sẽ mãi mãi là một nghi vấn khó giải đáp, trừ khi có những tài liệu mới. Nhưng không loại trừ khả năng lãnh đạo biết việc này từ một nguồn tin khác. Hoàng Cầm không nhắc đến hai buổi học tập đánh Phùng Cung, có lẽ ông tránh kể lại việc này.

Tóm lại, có thể tóm tắt sự kiện như sau:

Lãnh đạo biết việc Phùng Cung viết văn chống Đảng. Một mặt, giao cho Nguyễn Đình Thi và Hoàng Trung Thông chính thức yêu cầu công an Hà Nội bắt. Một mặt, giao cho Chế Lan Viên tổ chức các buổi hội thảo đánh Phùng Cung. Vậy, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông và Nguyễn Đình Thi, ba người ghét Phùng Cung, đều được Tố Hữu ra lệnh tổ chức bắt Phùng Cung.


Trong đợt học tập cuối năm 1960, T.D. tức Trần Dần, được chỉ định viết bản tố cáo dầy gần 40 trang, (Trần Dần từng xác nhận việc bắt buộc phải khai các bạn, để thoát). Sau bài tố của Trần Dần, Hoàng Cầm và Lê Đạt, phải đứng lên phụ họa, xác định các tác phẩm mà Phùng Cung viết trong mấy năm qua ngụ ý chống đảng là có thật.

Nhưng bi kịch này có thể đã được dàn dựng trước, vì những yếu tố sau:

1- Sau lớp Thái Hà, Phùng Cung vẫn tiếp tục sáng tác và tụ họp với Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt. Thái độ ngông nghênh này làm gai mắt lãnh đạo. Nguyễn Hữu Hiệu viết:

"Quả thật sau đợt học tập này, những anh em "Nhân Văn" hầu hết đều không dám qua lại nhà nhau, có chạm mặt ở cơ quan cũng không dám chào hỏi nhau, len lén cúi đầu sợ sệt. Riêng có bọn "chúng nó bốn thằng" là Phùng Cung, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt vẫn bất chấp, ngang nhiên quấn quýt, trao đổi văn chương, chuyện trò rôm rả, nhất là khi gặp nhau tại trụ sở Hội Nhà Văn 84 Nguyễn Du. Thái độ ngông nghênh này làm gai mắt lãnh đạo. Khi nào Công an chịu bỏ qua?" (531)

2- Bài Dạ Ký đã "nổi tiếng" lắm trong giới văn học và công an lúc đó. Tô Hoài viết:

"Nghe nói Phùng Cung hay chén chú chén anh với đám Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, được phong chức "tay truyện ngắn nhất Đông Dương". Chắc là ở chiếu la đà với nhau, ăn nói càng ganh nhau, ngổ ngáo, bạt mạng. Đương viết tập Dạ Ký đã nghe đồn là tài lắm, dữ lắm" (532).

3- Cuối 1960, khi Phùng Cung bị gọi lên kiểm thảo, bộ ba Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt đã bị đánh tan nát rồi. Trần Dần, Lê Đạt, phải đi chăn bò, chăn trâu, bị cách ly, bị coi là "hai tên nhà thơ phản động nhất nước". Trong hoàn cảnh ấy, liệu họ có quyền từ chối khi được lệnh phải tố Phùng Cung hay không?

4- Việc tố này, chẳng qua là một sự dàn cảnh, để cho mọi người thấy rõ "bộ mặt tồi tệ của bọn Nhân Văn", "bọn chúng tố cáo lẫn nhau", để Chế Lan Viên có cớ ra lệnh khám nhà và bắt "tên phản động ngoan cố nhất của Nhân Văn Giai Phẩm".

5- Chế Lan Viên đã đóng đúng vai trò Tố Hữu trong việc bắt Trần Dần, nhưng một cách "đường đường chính chính", không ám lậu như Tố Hữu.

6- Ba người nắm hồ sơ và hoạt động đắc lực nhất trong vụ thanh trừng NVGP là Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông và Đào Vũ. Nhưng Chế Lan Viên khôn khéo hơn hai người kia, không viết bài đánh nên không có văn bản "để đời".

7- Chế Lan Viên thù Phùng Cung vì bài Dạ Ký, trong đó Phùng Cung vẽ biếm họa một số chân dung văn học, đặc biệt bốn vị "tứ bất tử": Tố Hữu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh và Nguyễn Đình Thi, lại có thêm "đương kim vô địch khôn" Tô Hoài, tuy Phùng Cung châm biếm cả các bạn đồng hành Quang Dũng, Văn Cao, Hoàng Cầm, Lê Đạt.

8- Chế Lan Viên không thể thích bức chân dung "nhà thơ giả thiểu số" chuyên dùng khoa "Phật vận" tức là "lấy tiếng chó làm chuẩn để cân đong đánh giá sự gian ngay" mà Phùng Cung viết về mình. Bài Dạ Ký đối với bốn vị lãnh đạo văn nghệ "tứ bất tử" là không thể chấp nhận được. Đặc biệt với Chế Lan Viên, sự "phạm thượng" có thể sánh ngang vụ Việt Bắc đối với Tố Hữu.

9- Phùng Cung bị bắt, bị tịch thu toàn bộ bản thảo gồm trên ba chục truyện ngắn và rất nhiều thơ - theo Nguyễn Hữu Hiệu. Vậy những bản thảo này hiện ở đâu? Từ khi được tha về cho đến lúc mất, Phùng Cung chỉ viết lại hay sửa lại được 10 truyện ngắn, in năm 2003 tại hải ngoại.

________________________________________

(531) Nguyễn Hữu Hiệu, bđd.

(532) Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Hồng Lĩnh, California, 1993.


_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Saurie11
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4326
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 I_icon13Thu 19 Mar 2020, 11:02

Chương 14

Phùng Cung (1928-1998)

Dạ Ký, tai họa của Phùng Cung

Dạ Ký là cái họa lớn của Phùng Cung, lớn hơn Con ngựa già của chúa Trịnh. Trong Cát bụi chân ai, đoạn viết về Phùng Cung, giọng Tô Hoài vẫn còn cay đắng:

"Phùng Cung công tác chạy hiệu ở văn phòng cơ quan hội văn nghệ từ trên Tuyên Quang. Ở rừng những việc tủn mủn không tên, sổ sách công văn, giữ thư viện, làm lán mới, đi chặt củi, vác gạo, khiêng người ốm ra trạm xá, thui chó liên hoan (...) Phùng Cung ở cơ quan nào dạt đến, không nhớ. Chơi vui, cũng không để ý, kể cả việc hệ trọng khi tôi nhờ Phùng Cung đi đưa chị Nam Cao xuống Hoàng Đan tìm mộ anh ấy. Đọc truyện ngắn "Con ngựa già của chúa Trịnh" của Phùng Cung đăng trên báo Nhân Văn tôi cũng gật gù đại khái "thằng này viết được. Nhưng còn hộc máu ra mới nên cơm cháo đấy, con ạ". Cũng điếu đóm tập tành như mình ngày xưa, đâu đã mà có sừng có mỏ ngay.

Phùng Cung bị bắt khi "nhân văn, nhân võ" đã được dọn dẹp êm ắng, đã tàn. Nghe nói Phùng Cung hay chén chú chén anh với đám Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, được phong chức "tay truyện ngắn nhất Đông Dương". Chắc là ở chiếu la đà với nhau, ăn nói càng ganh nhau, ngổ ngáo, bạt mạng. Đương viết tập Dạ Ký đã nghe đồn là tài lắm, dữ lắm". Tôi không thể tưởng tượng một Phùng Cung thế nào (...) anh chàng mặt xanh xám vỏ dưa hấu về vệt vết nặn trứng cá, cứ ngồi lừ rừ bên bàn đọc sách, có lúc gãi ghẻ hay lúi húi làm gì, con mắt đo đỏ mà tinh vặt, như chú mèo vờ lù rù rình chuột.(...)

Lại bao nhiêu năm sau. Chặp tối, một người bước vào cửa. Dáng cù rù, mặt tái ngoét, không phải Phùng Cung mà là cái bóng Phùng Cung trên tờ giấy tẩy chì mờ mờ.

- Phùng Cung phải không?

- Tôi đây.

- Còn sống về được à?

- Cũng không hiểu tại sao anh ạ.

(...)

- Anh có biết tôi phải tù bao nhiêu năm?

- Không biết.

- Vâng tù biệt giam mười một năm.

Đã tù, lại biệt giam, lại bệnh lao, thế mà không chết rũ tù. Thế nào, người tù biệt giam mười một năm vẫn hiện được về. Lại lâu lắm không gặp gỡ. Ngỡ như Phùng Cung đã làm sao. Nhưng một hôm, có người sở Công an đến nhờ tôi ký chứng nhận quãng công tác ở cơ quan sau cùng Phùng Cung làm việc, trước khi phải tù.

Tôi hỏi người công an trẻ tuổi cầm giấy.

- Chứng nhận để làm gì?

- Có liên tục công tác mới đủ năm cầm sổ hưu. Thủ tục ạ.

- Liên tục cả ở cơ quan nhà tù?

Anh công an cười hồn nhiên, chào"cám ơn bác".

Gần đây, nghe Phùng Cung đã chuyển lên ở trên Quần Ngựa. Nghe nói đã khấm khá, làm nhà mới. Lại thấy bảo đương viết, viết hồi ký-hay tiếp tục Dạ ký, sau hơn ba mươi năm, hả đời? Định có hôm nào lên chơi, vẫn chưa đi được"
(533).

Những dòng trên đây phản ảnh khá rõ tình cảm Tô Hoài dành cho cái xóm "nhà lá" mà ông gọi mỉa là "nhân văn, nhân võ". Đặc biệt Phùng Cung, hồi trẻ, được ông tả: "anh chàng mặt xanh xám vỏ dưa hấu về vệt vết nặn trứng cá, cứ ngồi lừ rừ bên bàn đọc sách, có lúc gãi ghẻ hay lúi húi làm gì, con mắt đo đỏ mà tinh vặt, như chú mèo vờ lù rù rình chuột". Phùng Cung làm việc dưới quyền ông ở Việt Bắc, chỉ được ông giao cho việc vặt, đại loại "công tác chạy hiệu", làm "những việc tủn mủn", "đi chặt củi, vác gạo, khiêng người ốm ra trạm xá, thui chó liên hoan"... Việc quan trọng nhất được ông sai là "đưa chị Nam Cao xuống Hoàng Đan tìm mộ anh ấy". Và khi đọc Con ngựa già của chúa Trịnh, Tô Hoài nghĩ "thằng này viết được. Nhưng còn hộc máu ra mới nên cơm cháo đấy, con ạ". Sau khi đi tù 12 năm, về, đến thăm, Tô Hoài rủa thầm "Đã tù, lại biệt giam, lại bệnh lao, thế mà không chết rũ tù". Ấy thế mà vẫn không chừa, vẫn lại chứng nào tật ấy: "Lại thấy bảo đương viết, viết hồi ký-hay tiếp tục Dạ ký, sau hơn ba mươi năm, hả đời?"

Những dòng này viết năm 1990, hơn bốn mươi năm sau khi NVGP bị dẹp, mà giọng Tô Hoài vẫn chưa thôi miệt thị và hằn học, như vậy đủ biết mấy trang Dạ Ký của Phùng Cung, nặng nợ đến thế nào. Nhưng chỉ một Dạ Ký thôi, có lẽ chưa đủ để lĩnh án 12 năm. Dạ Ký là cái cớ làm cho những người lãnh đạo văn nghệ bị Phùng Cung biếm họa nổi giận. Chế Lan Viên ra lệnh bắt. Việc tù tội tiếp sau, dựa trên toàn bộ tác phẩm thơ văn của Phùng Cung, một nội dung phanh phui tận gốc chính sách tiêu diệt văn hoá của Đảng:

- Giải thoátMộ phách viết về sự bức tử nghề ca trù và tuồng chèo cổ.

- Biệt tích là sự thủ tiêu nghề thợ mộc chân chính.

- Mạt kiếp viết về cái đói và cái chết của người cùng đinh.

- Phòng tuyên truyền địa ngục, là cơ quan dụ con người bỏ trần gian về địa ngục.

Như vậy, Phùng Cung đã viết về chính sách thủ tiêu văn hoá của Cách Mạng Tháng Tám, từ 1956, tức là 6 năm sau khi Đại Hội Văn Nghệ Việt Bắc tháng 8/1950 ra chỉ thị tiêu diệt tuồng, chèo, cải lương. Phùng Cung viết về sự tiêu diệt ca trù, một sản phẩm văn hóa của vùng đất tổ Hùng Vương mà Mộ phách -mồ chôn phách- là tác phẩm tiêu biểu. Chính sách tiêu diệt văn hóa này, sẽ tiếp diễn với sự chôn vùi văn nghệ sĩ và trí thức của phong trào NVGP 1956; sự thiêu hủy văn học miền Nam sau 1975, và vẫn còn tiếp diễn đến ngày nay, qua việc cấm in, tịch thu sách, cách chức tổng biên tập, chia đất, bán rừng, coi nhẹ di sản văn hoá của tiền nhân... Một cái nhìn rộng và xa như vậy, phải được khởi viết từ đất Tổ: Phùng Cung, người Sơn Tây- nước Văn Lang.

________________________________________

(533) Cát bụi chân ai, Hồng Lĩnh, California, 1993, trang 120-123.

_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Saurie11
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4326
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 I_icon13Fri 20 Mar 2020, 09:31


Chương 14

Phùng Cung (1928-1998)

● Đất Sơn Tây - nước Văn Lang

Sơn Tây phát sinh hai tài năng lớn trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm: Quang Dũng và Phùng Cung. Quang Dũng, sinh năm 1921, tại xã Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây (534) khắc hình ảnh vùng đất tổ, trong lòng người Việt qua những câu thơ:

"Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì"


Quang Dũng đi vào lòng người miền Nam, không qua ngả Tây tiến mà qua Đôi mắt người Sơn Tây do Phạm Đình Chương phổ nhạc. Đại gia đình Thăng Long -Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc- có một người anh chết ở Sơn Tây trong kháng chiến. Có lẽ vì vậy mà Phạm Đình Chương đã phổ thơ Quang Dũng bằng những nét nhạc tuyệt vời, với một tâm hồn đồng điệu. Nhờ bản nhạc Đôi mắt người Sơn Tây của Phạm Đình Chương mà nước "sông Đáy chậm buồn qua phủ Quốc" thấm vào hồn người nghe, dù họ chưa hề đặt chân lên đất tổ bao giờ. Những nghệ sĩ đích thực luôn luôn có khả năng truyền cảm vượt tuyến, nối tình đất và tình người trong khoảng khắc câu thơ, tiếng nhạc.

Còn Phùng Cung?

Là người thông bác lịch sử, gắn bó với đất đai và văn hóa lâu đời của dân tộc, Phùng Cung, đã dùng ngôn ngữ quật khởi, ngôn ngữ "rừng rú" của Đường Lâm để bảo tồn nền văn hoá Việt một cách quyết liệt và toàn diện.

Bài của Nguyễn Hữu Hiệu có một thông tin về nguồn gốc họ Phùng: "Quê tổ của Phùng Cung ở Đường Lâm, Sơn Tây, vốn dòng dõi Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng". Chỉ Phùng Cung mới có thể cung cấp cho Nguyễn Hữu Hiệu thông tin này. Bởi lẽ: Đường Lâm là một tên xưa, đã biến mất từ đời Lê, chỉ người gốc Đường Lâm mới biết, và khi Nguyễn Hữu Hiệu viết câu này năm 1996, Đường Lâm chắc chưa được "khôi phục" lại với khu "di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm", như ngày nay - không rõ việc khôi phục này có do các nhà khảo cổ giám định, hay chỉ là sự bài trí màu mè để lôi kéo du khách. Vậy việc Phùng Cung dòng dõi Phùng Hưng là khả thể. Nhưng không phải cứ dòng dõi Phùng Hưng thì trở thành anh hùng. Dòng dõi và đất sinh có thể giải thích sự can trường và lòng bất khuất ở một con người như Phùng Cung. Sinh trưởng trong cái nôi lịch sử Sơn Tây, từ một ông tổ chống ngoại xâm lâu đời nhất, cái khí phách ấy, sự kiên cường ấy, không thể giải thích cách nào khác, ngoài đất đai, sông núi và lịch sử.

Nhưng trước hết, tại sao lại Sơn Tây?

Đất Sơn Tây có gì đáng nói?

Miền Bắc có bốn vùng đất cổ, đã trụ các kinh đô xưa:

1- Sơn Tây thuộc nước Văn Lang, có kinh đô của Hùng Vương, Trưng Vương, Phùng Vương, Ngô Vương.

2- Ninh Bình, có kinh đô Hoa Lư của nhà Đinh, nhà Tiền Lê, và những năm đầu nhà Lý.

3- Hà Nội là kinh đô Thăng Long của nhà Lý, Trần và Hậu Lê.

4- Thanh Hoá có Lam kinh còn gọi là Tây kinh, kinh đô đầu tiên của nhà Hậu Lê, do Lê Thái Tổ dựng lên ở phía đông núi Lam Sơn, có cung điện nhà Lê ở phủ Yên Trường và Vạn Lại, có gò Phật Hoàng, mộ tổ nhà Lê, có Thành nhà Hồ tức Tây đô, có Ly cung của nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc...

Trong bốn vùng lịch sử này, Sơn Tây lâu đời nhất. (535)

Vì vậy mà trải các triều Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn, các vua, dù có thay đổi cách gọi, là lộ, là trấn, là thành, là xứ, không vua nào dám đụng đến "bờ cõi" Sơn Tây, bởi đó là "bờ cõi" Văn Lang, nơi vua Hùng dựng nước, với những bia, miếu, đền... những địa danh lịch sử như Phong Châu, Mê Linh, sông Hát... Sơn Tây còn là trung tâm của nước Việt cổ, một địa điểm chiến lược và tâm lý. Vì vậy, khi dàn trận Thu Đông 1947, Pháp đã chiếm Tông và Sơn Tây trước, để làm bàn đạp đánh lên Việt Bắc, cũng là một đòn tâm lý đánh vào não trạng người Việt.

● Sự sát nhập Sơn Tây vào Hà Nội


Năm 1965, chính quyền miền Bắc sát nhập Sơn Tây vào Hà Đông. Từ 1975 đến 1978, Sơn Tây bị nhập vào Hà Sơn Bình. Từ 1978 đến 1991, Sơn Tây bị nhập vào Hà Nội. Từ 1991, Sơn Tây bị nhập vào Hà Tây. Đến tháng 8/2007, thị xã Sơn Tây (536) được nâng cấp lên thành phố Sơn Tây và năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây bị sát nhập vào thủ đô Hà Nội. Đường Lâm (537) như vậy, ngày nay đã thuộc vào tỉnh Hà Nội. Những sự "sát nhập" này, luôn luôn thay đổi, tùy tiện và lúng túng, không do một chính sách địa lý, chính trị, văn hoá có nghiên cứu khoa học và lịch sử làm hậu thuẫn. Sự "sát nhập" toàn bộ thành phố Hà Tây -trong có thị trấn Sơn Tây- năm 2008 vào Hà Nội, cũng như việc ủi nền cổ thành Đại La để tổ chức lễ hội ngàn năm Thăng Long, bất chấp ý kiến các chuyên viên khảo cổ, có thể hiểu như thế nào?

- Rằng để kịp thời phục vụ "lễ hội ngàn năm Thăng Long", nên cần làm đẹp Hà Nội và "bành trướng" Hà Nội về phía đất tổ Hùng Vương chăng?

- Rằng để cho nhà, đất lên giá theo đúng đơn đặt hàng của bọn đầu cơ bất động sản?

- Rằng để xác định sự chính thống của nhà nước Việt Nam, tự xưng thời đại cộng sản như một triều đại "mở nước", ngang với triều Lý, với tổ Hùng Vương chăng?

Cái tin nhà nước định "rời đô" về chân núi Ba Vì, bất chấp ý kiến chuyên gia, lại càng làm cho các giả thuyết trên đây, đặc biệt giả thuyết sau cùng, thêm vững chắc.

Sự phá vỡ bờ cõi Văn Lang, bất chấp lịch sử, văn hoá, cũng không đi ra ngoài quỹ đạo truyện ngắn của Phùng Cung. Truyện của ông xoáy vào toàn bộ chính sách văn hoá của đảng cộng sản: từ việc loại trừ phần văn hóa cổ dân gian, như chèo, tuồng, ca trù, thời kháng chiến, đến sự phá vỡ vùng đất tổ Hùng Vương hiện nay, là hậu quả của chính sách phi văn hoá, xuất phát từ 1950 khi đảng cộng sản quyết định áp dụng chính sách đấu tranh giai cấp trên toàn lãnh thổ để xây dựng một nhà nước do vô sản độc quyền lãnh đạo.

________________________________________

(534) Nay là Hà Tây, thuộc Hà Nội.

(535) Sơn Tây là vùng rộng lớn, cuối thế kỷ XIX bao trùm nhiều tỉnh và thị trấn ngày nay: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây và một phần Hoà Bình và Tuyên Quang. Sơn Tây có hai huyện quan trọng: Phúc Thọ và Bạch Hạc. Huyện Bạch Hạc, Việt Trì, thuộc phủ Vĩnh Tường, trung tâm Sơn Tây, là đất Phong Châu, kinh đô nước Văn Lang. Sông Lô và Sông Thao gặp nhau ở Ngã Ba Bạch Hạc. Huyện Phúc Thọ, thuộc phủ Quảng Oai, đời Hán là đất Mê Linh, nơi Hai Bà sinh trưởng và đóng đô. Có Hát giang, tức sông Đáy. Có xã Cam Lâm thuộc quận Đường Lâm là nơi sinh của Phùng Hưng và Ngô Quyền. Có đền Phùng Vương và Ngô Vương ở xã Cam Lâm. Có miếu Hai Bà ở xã Hát Môn. Hai huyện Tùng Thiên và Bất Bạt có núi Ba Vì (Sơn Tinh Thuỷ Tinh), ba ngọn rất cao, hình tròn như cái tán, lớn nhất đất Bắc.

(536) Gồm hai huyện Phúc Thọ và Minh Nghiã, thuộc phủ Quảng Oai.

(537) Theo Ngô Thì Sĩ và Phan Huy Chú, Đường Lâm là đất hai huyện Hoài An, (nay là huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây) và Mỹ Lương (nay là đất các huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây và Lương Sơn, Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình).

_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 13 Saurie11
Về Đầu Trang Go down
 
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 13 trong tổng số 13 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 11, 12, 13

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-