Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 13:12

Thơ nối tiếp by Phương Nguyên Today at 12:53

Biểu tình mới tại Hồng Kông by Trà Mi Today at 08:27

Thế giới Tình yêu by nguoidienviyeunguoi Today at 02:54

Bảy Kỳ Quan Phật Giáo Trên Thế Giới by mytutru Yesterday at 21:24

THƠ... DÃI MÙI by Phương Nguyên Yesterday at 13:38

Chanh muối Bột Sắn Dây chữa đường ruột by mytutru Thu 05 Dec 2019, 22:53

HỌA THƠ CỤ LÊ QUÝ ĐÔN : RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC by Ma Nu Thu 05 Dec 2019, 03:52

CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Thu 05 Dec 2019, 00:18

THƠ HOẠ NGOÀI by buixuanphuong09 Wed 04 Dec 2019, 19:52

Ở không by Ai Hoa Wed 04 Dec 2019, 16:11

Đỗ Nương Nương báo oán - Hồ Biểu Chánh by Ai Hoa Wed 04 Dec 2019, 16:00

Sưu tập Bộ cánh vảy 3 by buixuanphuong09 Wed 04 Dec 2019, 15:58

Từ chuyện tổ chim suy ngẫm về giáo dục by Ai Hoa Wed 04 Dec 2019, 15:52

Còn quậy chưa "về" by buixuanphuong09 Wed 04 Dec 2019, 15:13

DUYÊN TÌNH by nguoidienviyeunguoi Wed 04 Dec 2019, 15:06

VỊNH PHONG CẢNH by buixuanphuong09 Wed 04 Dec 2019, 14:57

LỚP HỌC ĐÀO VIÊN (thơ nối tiếp) by Trà Mi Wed 04 Dec 2019, 10:22

cây đa bụi chuối by Trà Mi Wed 04 Dec 2019, 09:28

Móng tay giòn dễ gãy tiết lộ tình trạng sức khoẻ by Trà Mi Tue 03 Dec 2019, 15:24

motul 300v by phutungicg Tue 03 Dec 2019, 11:05

Truyện nay - Ái Hoa by Ai Hoa Mon 02 Dec 2019, 13:40

'Thế hệ sau sẽ nguyền rủa chúng ta vì cho Trung Quốc những thứ quý giá' by Trà Mi Mon 02 Dec 2019, 08:22

Những Đoá Từ Tâm - Thơ Tình Yêu, Tình Nước by Việt Đường Mon 02 Dec 2019, 04:06

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Mon 02 Dec 2019, 00:54

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Sun 01 Dec 2019, 15:28

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Sun 01 Dec 2019, 08:40

Truyện Thơ Cổ Tích by bounthanh sirimoungkhoune Sun 01 Dec 2019, 08:19

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Sun 01 Dec 2019, 08:18

Người Em Gái Da Vàng by Viễn Phương Sat 30 Nov 2019, 08:49

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu

Share | 
 

 Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 10, 11, 12
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4054
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 12 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 12 I_icon13Tue 26 Nov 2019, 14:10

Chương 13

Văn Cao (1923-1995)

● Văn Cao có để lại hồi ký không?

Viết về Văn Cao, câu hỏi đầu tiên là: Văn Cao có để lại hồi ký không? Có hai cuốn sách đáng chú ý: Văn Cao, người đi dọc biển của Nguyễn Thụy Kha (428) trình bày như lời "ký thác" của Văn Cao. Và cuốn Nhạc sĩ Văn Cao, tài năng và nhân cách của Bích Thuận (429) trình bày như lời "ký thác" của bà Văn Cao Nghiêm Thúy Băng.

1- Nguyễn Thụy Kha là một trong những cây bút trẻ gần gụi Văn Cao lúc cuối đời. Tác phẩm viết giọng tự thuật, như lời nhạc sĩ kể lại, nói lên được phần nào tâm sự Văn Cao. Tuy nhiên, có những nhược điểm: Không rõ đâu là lời Văn Cao, đâu là lời Thụy Kha. Không rõ chỗ nào thực, chỗ nào Thụy Kha thêm vào. Thí dụ, đoạn viết về Tiến quân ca, nếu đem so sánh với bản hồi ký đích thực của Văn Cao tựa đề Bài Tiến quân ca in trên Sông Hương (430) năm 1987, thì đã bị cắt xén rất nhiều. Những chỗ có tên Ph. D (Phạm Duy) đã biến mất. Có đoạn sửa đi và thêm vào mấy chữ mơ hồ cho người ta hiểu đó là Nguyễn Đình Thi. Thụy Kha viết: "Căn gác số 171 phố Mông-grăng, Hà Nội chợt lặng phắc như vừa qua bão tố. Vũ Quý và Nguyễn Đình Thi đã đi chỉ còn lại Văn Cao với bản nháp bài "Tiến quân ca". Mới ít phút trước, căn gác còn vang lên giọng hát trầm ấm của Văn Cao trong nhịp hành khúc rắn rỏi này. Vẫn còn nguyên gương mặt xạm đen của Vũ Quý. Đôi mắt và nụ cười lấp lánh. Nụ cười thật hài lòng. Vẫn còn nguyên gương mặt đẹp trai của Nguyễn Đình Thi và nụ cười hồn nhiên khi nhẩm xướng âm bài hát. Thi còn nói với Văn Cao: "Văn ạ, chúng mình thử mỗi người làm một bài về mật trận Việt Minh xem sao" (431).

Trong đoạn này, Nguyễn Thụy Kha cho biết: Nguyễn Đình Thi và Vũ Quý chứng kiến sự ra đời của Tiến Quân Ca. Văn Cao hát. Nguyễn Đình Thi nhẩm xướng âm bài hát, tại số 171 phố Mông-grăng, Hà Nội.

Nhưng Văn Cao không viết vậy -Xin đọc toàn bài của Văn Cao trong phụ bản ở dưới- Văn Cao cho biết khi ông sáng tác Tiến Quân Ca thì Phạm Duy ở cùng và: "Anh [Phạm Duy] rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi âm thanh từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài Tiến quân ca"

Văn Cao viết Phạm Duy là người chứng kiến sự ra đời của Tiến Quân Ca. Và ở một đoạn sau, ông mới nhắc đến Vũ Quý và Nguyễn Đình Thi:

"Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không còn nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều mây và nhiều hy vọng.

Và bài hát đã xong. Tôi nhớ lại nụ cười thật hài lòng của đồng chí Vũ Quý. Da mặt anh đen xạm, đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Tôi nhớ lại nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đình Thi khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. Thi nói với tôi:

- Văn ạ, chúng mình thử mỗi người làm một bài về Mặt trận Việt Minh xem sao?"


Đoạn văn này có nghiã: Văn Cao đang ở Việt Bắc, lùm cây của Hà Nội không còn nữa, và ông nhớ lại nụ cười thật hài lòng của đồng chí Vũ Quý và nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đình Thi khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. So với đoạn trên, ông viết về việc Phạm Duy chứng kiến sự ra đời của Tiến quân ca, thì phải hiểu rằng: khi lên Việt Bắc, Văn Cao mới đưa nhạc phẩm cho hai đồng chí Vũ Quý và Nguyễn Đình Thi xem, ông gọi họ là đồng chí, trong khi gọi Phạm Duy là anh, có khác. Cũng không thấy Văn Cao nói đến khuôn mặt đẹp trai của Nguyễn Đình Thi, đấy là Nguyễn Thụy Kha thêm vào. Tóm lại, chỉ cần thay đổi vị trí, thêm, bớt một vài câu chữ, là ý nghĩa văn bản có thể hoàn toàn thay đổi.

Bài hồi ký tựa đề Bài tiến quân ca của Văn Cao đăng trên Sông Hương năm 1987, không đề ngày viết, được cắt ngắn, thành bài Tại sao tôi viết Tiến quân ca (432), và đề ngày 7/7/76 để có vẻ như viết trước bản Sông Hương. Nhưng cũng không loại trừ khả năng bản Sông Hương được viết từ trước 1976, đến khi được đăng lần đầu, đề ngày 7/7/76, thì bị cắt xén và sửa chữa. Đến năm 1987, thời kỳ đổi mới, Văn Cao gửi cho báo Sông Hương bản đầy đủ.

Bởi vì khi so sánh hai văn bản, thì bản 7/7/76, ngoài việc cắt bỏ, sửa các lỗi có trong bản Sông Hương, câu văn cũng được "biên tập" lại: ngắn gọn hơn, thêm chấm phẩy, làm mất thi tính trong nguyên tác. Người biên tập lại không có trình độ văn hoá của Văn Cao, ví dụ, câu "những băng cờ đỏ sao vàng đã thay những băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim" của ông được sửa thành "Những băng cờ đỏ sao vàng đã thay cho những băng vàng bẩn thỉu của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim". Văn Cao không viết như vậy. Một người tự trọng không viết như vậy. Huống hồ tác giả Tiến Quân Ca không thể không biết rõ lịch sử, biết rõ công việc của chính phủ Trần Trọng Kim.

2- Cuốn sách của Bích Thuận có ý lãng mạn hoá và tô điểm cho Văn Cao trở thành nhà cách mạng trung thành với Bác và Đảng. Một điểm đáng lưu ý, ở chỗ bà trích một đoạn hồi ký của Văn Cao, viết về bài Tiến Về Hà Nội, có câu: "Văn Cao viết trong hồi ký: "Tôi còn nhớ trong một buổi họp ở chi bộ Liên Khu Ba, tôi đã hứa với các đồng chí Khuất Duy Tiến, Lê Quang Đạo là tôi sẽ viết một ca khúc về Hà Nội. Tối hôm ấy, tôi đã cùng ăn cơm với anh Lê Quang Đạo. Anh Đạo đã nắm chặt tay tôi và nói..." Trích đoạn này dài hơn một trang (433). Chỉ nhờ câu "Văn Cao viết trong hồi ký" mà chúng ta biết Bích Thuận đã được đọc hồi ký của Văn Cao, ít nhất là một mảng, ngoài Bài Tiến Quân Ca, đã in trên Sông Hương.

Cuốn sách của Nguyễn Thụy Kha, đoạn mô tả Văn Cao lùng "Việt gian" V.V.C, có những chi tiết mà ngoài Văn Cao không ai biết được. Rồi những câu như: "Sông Hương, quả là một lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh - Tiếng nước rơi bán âm - Chợt xé ra một nỗi nhớ sông Hương trong cảm xúc, v.v...", xem ra rất Văn Cao, lác đác trải dài trong tác phẩm.

Vậy nguồn của những câu, những chữ ấy là đâu? Nếu lấy từ những trang hồi ký đích thực của Văn Cao, thì hiện giờ toàn bộ cuốn hồi ký ở đâu?

Nguyễn Thụy Kha và Bích Thuận đã "làm việc" như thế nào với những trang hồi ký mà có thể họ đã được đọc bản chính ấy? Để ghi lại chân dung một người, không gì bằng in thẳng những điều người ấy viết, trước hết, vì tôn trọng sự thật của tác giả và nhất là khi người ấy có bút pháp độc đáo như Văn Cao, vì tôn trọng văn chương của tác giả.

3- Đây là sự kiện thường xẩy ra ở Việt Nam. Phát xuất từ những lý do:

- Sự trừng trị của chính quyền đối với những chữ, những câu, những tác phẩm không đi đúng đường lối của Đảng - kiểm duyệt, tịch thu, cách chức Tổng biên tập, v.v...

- Sự sợ hãi và sự tự kiểm của nhà xuất bản.

- Sự an phận, đồng tình của giới văn học -kể cả những người ở ngoài về in trong nước- nói theo một trí thức nổi tiếng "cái nước mình nó thế!" Biết nó thế thì phải hành động làm sao cho nó thay đổi đi. Nhưng không. Chấp nhận. Lý lẽ: thà bị cắt, nhưng được in còn hơn không!

- Sự sợ hãi của tác giả, hoặc thân nhân - nếu tác giả đã qua đời. Đặc biệt, đối với những gia đình NVGP, sau gần nửa thế kỷ bị trù dập, không mấy ai còn muốn đối đầu. Họ muốn xoá "dấu chàm" trên trán để có thể sống bình thường. Muốn được chính quyền "nhìn nhận". Các giải thưởng, huân chương, chính là sự "nhìn nhận" ấy. Những người Nhân Văn "được" giải thưởng lúc cuối đời, bị đứng trước lựa chọn: gia đình hay khí phách. Họ đã chọn gia đình. Nhận giải thưởng không vì tùng phục mà vì thương gia đình, muốn con cháu thoát nạn Lý lịch ba đời mấy đứa con thơ, như lời Lê Đạt.

- Những điều đã bị bỏ, bị sửa, dưới mắt người kiểm duyệt và người bị kiểm duyệt, có thể chỉ là những "chi tiết không quan trọng". Nhưng nhiều "chi tiết không quan trọng", bị đục bỏ, thêm thắt, xuyên tạc có thể thay đổi hẳn cục diện tác phẩm. Bằng chứng trước mắt là văn bản Bài Tiến Quân Ca của Văn Cao. Đó là một hình thức ngụy tạo tác phẩm, ngụy tạo sự thật. Nhiều tác phẩm ngụy tạo sẽ dựng nên một lịch sử ngụy tạo.

- Một câu hỏi đặt ra: Tại sao báo Sông Hương, tháng 78/1987 do Tô Nhuận Vỹ tổng biên tập và Nguyễn Khắc Phê phó tổng biên tập đã "dám" in đầy đủ bài của Văn Cao không cắt xén, mà sau này không ai "dám" in lại văn bản này?

Tình trạng chung của sách báo miền Bắc trước 1975 và cả nước sau 75, về văn học hay lịch sử cận đại, là đương nhiên phải gạt bỏ những người bị chính quyền coi là "phản động", là "ngụy", nghiã là một nửa nước ra ngoài.

Người nghiên cứu nếu muốn tác phẩm của mình tồn tại sau thời kỳ cộng sản, thì không thể chỉ viết về một nửa nước. Không ai cần biết Nguyễn Du, Xuân Hương... có "trung thành" hay "phản động" đối với Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh. Nhưng một cuốn sách viết về văn học thời kỳ Nguyễn Huệ-Nguyễn Ánh mà gạt Nguyễn Du, Xuân Hương... ra ngoài, sẽ là vô dụng.

___________________
(428) Nxb Lao Động 1991.

(429) Nxb Thanh Niên, 2005.

(430) Sông Hương số 26 tháng 7/1987.

(431) Nguyễn Thụy Kha, sđd, trang 29.

(432) In trong Thiên thai, tuyển tập nhạc Văn Cao, Trẻ, 1988, in lại trong Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, trang 86.

(433) Bích Thuận, Nhạc sĩ Văn Cao, tài năng và nhân cách, Thanh Niên 2005, trang 77-78.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 4054
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 12 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 12 I_icon13Wed 27 Nov 2019, 14:07

Chương 13

Văn Cao (1923-1995)

● Văn Cao Phạm Duy trước kháng chiến

Người viết hay nhất và đầy đủ nhất về Văn Cao là Phạm Duy. Phạm Duy có thói quen ghi chép khá cặn kẽ các sự kiện và những sáng tác hay của các bạn. Riêng với Văn Cao, Phạm Duy chép từ những bản nhạc hướng đạo rất ít người biết, đến những lời hai, tuyệt vời của bản nhạc mà ca sĩ lười không hát, như trường hợp Trương Chi.

Tạ Tỵ viết: "Phải thừa nhận rằng, nếu không có giọng hát của Phạm Duy, nhạc Văn Cao cũng khó mà phổ biến; trái lại nếu không có Văn Cao, chưa chắc Phạm Duy đã sáng tác! Cả hai hỗ trợ nhau, cùng dìu nhau đi vào bất tử!" (434)

Văn Cao gặp Phạm Duy lần đầu năm nào?

Theo Phạm Duy là khi ông theo gánh hát Đức HuyCharlot Miều xuống Hải Phòng, nhưng có chỗ ông ghi 1943, chỗ 1944. Phải đọc kỹ những chi tiết Phạm Duy viết, thì mới biết lúc đó Văn Cao còn "đang thất nghiệp" và đã sáng tác những bản Buồn tàn thu, Thu cô liêu, Cung đàn xưa... Vậy họ gặp nhau sớm hơn 43-44; chắc chắn trước khi Văn Cao sáng tác Suối mơBến xuân, năm 42, bởi vì Phạm Duy có đóng góp trong hai tác phẩm này, cho nên Tạ Tỵ viết: "Khi hai nhạc phẩm được in ra, tên Phạm Duy xuất hiện lần thứ nhất trước công chúng, bên cạnh tên Văn Cao" (435).

Sở dĩ có sự lộn xộn về ngày tháng, vì Phạm Duy vác đàn đi khắp đất nước, riêng Con đường cái quan (xuyên Việt) ông đi về ít nhất 5 lần trong kháng chiến, và Văn Cao cũng viết: "Tôi thường nhìn Ph. D. mỗi lần anh đóng gói đi xa và lắng nghe tiếng còi tàu ngoài ga Hàng Cỏ để chờ một chuyến tàu đêm" (436).

Nguyễn Thụy Kha cũng ghi lại lời tâm sự của Văn Cao khi ở Huế năm 1940: "Đầu năm nay nó xuống Hải Phòng. Và "Buồn tàn thu" đã được nó lôi đi hát vang lên trên các nẻo đường xứ Bắc. Và thế là người yêu nhạc chốn Hà Thành đã biết có một Văn Cao tiếp sau Đặng Thế Phong" (437).

Đầu năm nay, tức là đầu năm 1940, nó tức là Phạm Duy. Vậy Văn Cao gặp Phạm Duy lần đầu, khoảng đầu năm 1940, là hợp lý hơn cả. Từ đó phát xuất một tình bạn lâu dài trong sáng tác, trong hoạt động cách mạng.

Về gia cảnh Văn Cao, Phạm Duy viết: "Văn Cao là tên thật, họ Nguyễn, ra đời sau tôi vài năm tại bến Bính, bên dòng sông Cấm. Cha (hay anh ruột, tên là Tú) làm cai của nhà máy bơm nước ở bờ sông đó nên suốt thời niên thiếu, anh sống trong nhà máy nước này. Học tiểu học tại trường Bonnal, trung học ở trường Saint Joseph, Văn Cao đã có khiếu văn nghệ ngay từ khi còn đi học. Ăn ở trong một căn nhà nhỏ có cái máy bơm rất lớn nằm chình ình giữa nhà suốt ngày đêm hút nước từ dưới sông lên không lúc nào ngừng nghỉ, Văn Cao còn vất vả hơn nữa là phải lấy một tấm phản kê lên máy bơm để làm bàn học. Sau này nhớ tới "giọng máy bơm nước", Văn Cao sẽ có câu thơ:
Anh muốn giơ tay lên mặt trời
Để vui da mình hồng hồng sắc máu
Mấy năm một điệu sáo
Như giọng máy nước thâu đêm chảy...

(Anh có nghe không, trong Lá, tuyển tập thơ Văn Cao.)

Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà "xổ chữ nho". Nhưng Văn Cao bản tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngã vào tay tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng" (438).

Nhận xét về thơ Văn Cao, Phạm Duy viết: "Vào năm 1941 mà anh đã có những câu thơ nghe như thơ Huy Cận:

Sông chầm chậm chảy trong mưa
Nghe chừng cô gái đã thưa nhát chèo
Mưa trong trăng tiếng nhỏ đều
Bến mờ mịt: mấy mái lều bơ vơ

- Đêm mưa

Chưa gặp Văn Cao nhưng tôi đã biết tài soạn nhạc qua mấy bài nhạc hùng của anh rồi. Khi tới Hải Phòng, sau khi gặp Hoàng Quý tôi tìm đến Văn Cao. Cũng như tất cả thanh niên "mỏ trắng" (blanc bec) thời đó, Văn Cao đang thất nghiệp sau một tháng làm việc tại Nhà Bưu Điện. (...) Gặp tôi đang lập cuộc đời mới trong một gánh hát thì kết thân ngay. Lúc đó, tôi đã tập toẹ đánh đàn với các nhạc sĩ trong ban nhạc Tây của gánh Đức Huy (...) Và tôi đã hát cho Văn Cao nghe. Nghe xong, Văn Cao vội vàng đưa cho tôi dăm ba bài anh ta mới làm xong. Lúc đó bên cạnh hai đứa chúng tôi còn có Đỗ Hữu Ích, con ông chủ bán đồ sắt phố Hàng Đồng, soạn lời ca rất hay. Đa số những bản đầu tay của Văn Cao đều đã được Đỗ Hữu Ích giúp đỡ phần lời ca" (439).

Điểm đáng chú ý là Phạm Duy không hề nhắc đến việc ông giúp bạn làm lời các bài Suối mơ, Bến xuân -vì lần in đầu có tên Phạm Duy. Ngược lại, ông nhắc nhiều đến công của Đỗ Hữu Ích. Có thể vì Phạm Duy đã có một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ Ngàn lời ca, với 45 ca khúc trong 6 năm kháng chiến, trong khi Đỗ Hữu Ích không mấy ai biết đến.

Phạm Duy cũng giải thích việc bạn bè phụ giúp Văn Cao: "Có đôi khi Văn Cao không hoàn tất vài ba sáng tác của mình, có thể vì anh là người vung vãi tài hoa nhưng thiếu tự tin. Bạn bè ở bên anh có cơ hội giúp anh hoàn thành những gì anh bỏ dở. Cũng nên biết rằng những bài hát đầu tiên của Văn Cao, về phần lời ca, còn có thêm sự phụ giúp rất hữu hiệu của một anh bạn khác là Đỗ Hữu Ích" (440). "Bạn bè" ở đây, ngoài Phạm Duy, còn có cả Hoàng Quý, Kim Tiêu (441). Việc tranh chấp sau này về lời bản Tiến quân ca, dường như cũng trong bối cảnh ấy: có thể Đỗ Hữu Ích đã phụ giúp ý kiến. Bởi nếu Đỗ Hữu Ích làm lời cả bài Tiến Quân Ca, thì tại sao ông lại không "kiện" Văn Cao, ít nhất từ sau 1954, mà lại để đến 1991 mới lên tiếng? Về tính nhút nhát của Văn Cao, Phạm Duy viết: "Lúc đó, Văn Cao đã nổi danh vì những bản nhạc thanh niên và hướng đạo nhưng nếu có ai hỏi anh có phải là nhạc sĩ Văn Cao hay không thì không hiểu vì sao cu cậu cứ trả lời là không!" (442) Văn Cao cũng xác nhận sự nhút nhát này: "Mày ơi! Vì sao mày đưa nàng đến để cùng tập những bài hát đầu tay của tao (...) Tao chỉ là một Văn Cao hết sức nhút nhát trước phái yếu. Nhút nhát đến gàn dở. Tuyết đến rồi qua nhanh khi Sài Gòn lùi lại sau lưng. Mày đã biết rồi đấy, tao bao lần không dám nhận mình là Văn Cao" (443).

Đặt Văn Cao trong bối cảnh Tân Nhạc Việt Nam trước kháng chiến với hai loại Nhạc hùng và nhạc tình, Phạm Duy xác định sự đóng góp của Văn Cao: "Bây giờ hai nhóm Tiếng gọi sinh viên và Đồng Vọng tung ra những bài như Vui Xuân, Bạn Đường, Bạch Đằng Giang của Lưu Hữu Phước, Đêm Trong Rừng, Bóng Cờ Lau, Nước Non Lam Sơn của Hoàng Quý. Đều là những bài hát hay nhưng chỉ hay một cách bình thường. Văn Cao đóng góp vào loại nhạc hùng này với những bài như Vui Lên Đường, Gió Núi, Anh Em Khá Cầm Tay, Đống Đa, Thăng Long Hành Khúc... Theo tôi, những hướng đạo ca và thanh niên-lịch sử ca của Văn Cao có nhiều souffle (hơi thở) hơn trong câu nhạc và có nhiều tính thơ hơn trong lời ca. Trong những bài ca hướng đạo Anh Em Khá Cầm Tay, Gió Núi ta đã thấy manh nha những phóng bút tuyệt vời của Chiến Sĩ Việt Nam, Bắc Sơn hay Thiên Thai, Trương Chi sau này (...) Về phần nhạc hùng thì bài Đống Đa với câu ca: "Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa... nó phải dẫn tời bài Tiến quân ca của Cách Mạng Tháng Tám" (444).

Về nhạc tình của Văn Cao, Phạm Duy viết: "Vào đầu thập niên 40, nhạc tình ở Hà Nội nằm trong tay nhóm Myosotis (Hoa Lưu Ly) với những bài như Thuyền Mơ, Khúc Yêu Đương, Hồ Xưa... của Thẩm Oánh, Tâm Hồn Anh Tìm Em của Dương Thiệu Tước và trong tay nhóm Tricéa với những bài như Đoá Hồng Nhung, Bóng Ai Qua Thềm của Văn Chung, Bẽ Bàng của Lê Yên, Cô Lái Thuyền, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn. Nhạc tình đang phổ biến dữ dội lúc đó cũng còn là của một người Nam Định, Đặng Thế Phong với ba bài hát mùa Thu: Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến và Giọt Mưa Thu... Ở Hải Phòng, nhạc tình là địa hạt của Lê Thương với những bài đầu tay rất hay như Bản Đàn Xuân, Một Ngày Xanh (hay Bên Bờ Đà Giang), Nàng Hà Tiên... Nhất là với bài Thu Trên Đảo Kinh Châu soạn trên âm giai Nhật Bản và đang rất thịnh hành (đến độ đi vào nhạc mục của Hát Quan Họ ở Bắc Ninh).

Trong không khí nhạc tình lãng mạn toàn nói về mùa Thu như vậy, chàng tuổi trẻ Văn Cao cũng soạn ra những bài hát mùa Thu như Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu... nhưng chưa bao giờ anh có cơ hội để phổ biến. Tôi sẽ là người đầu tiên đem nhạc của Văn Cao đi - nói theo lời Văn Cao đề tựa trong một bài hát - gieo buồn khắp chốn. Danh từ người du ca đầu tiên cũng do chính Văn Cao đã gán cho tôi với một sự thèm sống cuộc đời "xướng ca vô loài" như tôi lắm lắm"
(445).

Sau khi phân tích giá trị từng tác phẩm của Văn Cao, Phạm Duy xác định: "Nếu đem so sánh với những bản nhạc tình của 50 năm Tân Nhạc thì những bài Suối Mơ, Bến Xuân là cực điểm của lãng mạn tính trong ca nhạc Việt Nam. Sẽ không bao giờ có những bài ca lãng mạn như thế nữa! (...) Khi Thiên Thai và Trương Chi ra đời, với tài năng đã đến độ chín mùi, Văn Cao sẽ dắt ta tới đỉnh cao nhất của ái tình cũng như sẽ đưa ta vào cõi sâu thẳm nhất của khổ đau với hai câu chuyện cổ dân gian biến thành hai bản tình ca muôn thủa" (446).

___________________
(434) Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, Thằng Mõ, Hoa Kỳ 1990, trang 39.

(435) Tạ Tỵ, Phạm Duy còn đó nỗi buồn, Văn Sử Học, Sài Gòn 1971, trang 47.

(436) Văn Cao, Bài tiến quân ca, Sông Hương số 26, tháng 7/1987.

(437) Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 17.

(438) Phạm Duy, Hồi ký I, Thơ Ấu Vào Đời, trang 234-235.

(439) Phạm Duy, Hồi ký I, trang 236-237.

(440) Phạm Duy, Hồi ký II, Cách mạng kháng chiến, trang 49-50.

(441) Kim Tiêu là một trong những danh ca hàng đầu trước kháng chiến đã hát nhạc Văn Cao tuyệt vời như Thái Thanh hát nhạc Pham Duy, nhưng số phận ông vô cùng bi đát. Phạm Duy nhắc đến vai trò của Kim Tiêu trong việc truyền bá ca khúc Văn Cao: "Trong đám nam ca sĩ lúc đó, tôi cho rằng Kim Tiêu là người hát hay nhất. Trong khi tôi vác bài Buồn tàn thu đi lưu diễn ở trong Nam thì ở Hà Nội, chính nhờ giọng hát Kim Tiêu mà những bài Thiên Thai, Trương Chi của Văn Cao được nổi tiếng" (Phạm Duy, Hồi ký II, trang 56- 57).

Về số phận người danh ca này, Tạ Tỵ cho biết: Kim Tiêu về thành trước ông nhiều tháng, nhưng sau vì chống đối, bị Pháp bắt và buộc tội là Việt Minh: "Vào tù, anh vẫn không sợ, dù bị đánh đập tra khảo thế nào, anh cứ coi thường. Pháp nhốt anh vào xà-lim (Cellule), anh vẫn ca hát, những bài hát của Việt Minh. Sáng nào, anh cũng nắm chặt tay vào song sắt hát bản Tiến quân ca của Văn Cao để đánh thức mọi tù nhân khác dậy. Từ ngoài khu kháng chiến, Văn Cao được tin, cảm động lắm, làm một bài thơ bí mật đem vào Hà Nội, rồi nhờ các cán bộ tình báo nội thành đưa vào Hoả Lò cho ca sĩ Kim Tiêu. Tôi có được đọc cả bài thơ, nhưng lâu ngày, bây giờ chỉ nhớ vài câu: ... Người danh ca ấy nằm trong ngục Hà Nội nhớ tôi, hát bài ca cũ Tiếng ca như buổi sớm trong Tiếng ca vang vang phá phách Xà-lim nổ tung ra Cả Hoả Lò vỡ toang thành khối nhạc!... Câu chuyện về ca sĩ Kim Tiêu, tôi chỉ biết tới đấy, còn sau này, Kim Tiêu sống hay chết trong tù, tôi không hay" (Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, trang 114)

Trong đoạn viết về Bến Xuân, Nguyễn Thụy Kha có nhắc đến người ca sĩ giọng vàng nhưng không (dám?) nêu tên, và sau cùng có câu "Và đau đớn nhất là chàng đã chết trong cơn đói không thể nào sống được (Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 28). Tại sao? Tìm kỹ thì chúng tôi thấy trong tạp chí Âm Nhạc, Minh Hiền viết: "Kháng chiến, Kim Tiêu ở lại hoạt động vùng địch. Ông đã bị bắt. Trong tù, Kim Tiêu vẫn hát vang những bài cách mạng. Khi được thả, ngay giữa Hà Nội tạm chiếm, trong một liên hoan sinh viên, Kim Tiêu đã hát Sông Lô của Văn Cao mà không hề sợ sệt chút nào. Rất tiếc, sau hoà bình, do bị nghi ngờ được thả ra tù vì đã khai báo, Kim Tiêu buồn chán đi lang thang. Càng buồn ông càng hát hay. Kim Tiêu đã hát đến hơi thở cuối cùng ở Ga Hàng Cỏ". (Minh Hiền, Những giọng vàng một thủa, tạp chí Âm Nhạc số 34-5, 1994, trang 43-44.) Bi kịch Kim Tiêu chắc hẳn còn nhiều u uẩn.

(442) Phạm Duy, Hồi ký II, trang 49.

(443) Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 23.

(444) Phạm Duy, Hồi ký I, trang 237-239.

(445) Phạm Duy, Hồi ký I, trang 240-241.

(446) Phạm Duy, Hồi Ký I, trang 247- 249.

Về Đầu Trang Go down
 
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 12 trong tổng số 12 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 10, 11, 12

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-