Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 15:18

Sưu tập Bộ cánh vẩy 2 by buixuanphuong09 Today at 14:21

THỨ BẢY BUỒN! by Phương Nguyên Today at 13:53

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Phương Nguyên Today at 13:31

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Today at 12:04

Thơ họa ở ngoài mang về góp vui by buixuanphuong09 Today at 10:09

CHUYỆN VỤN (Phương Nguyên) by Phương Nguyên Today at 08:41

VỊNH PHONG CẢNH by buixuanphuong09 Today at 07:39

Giai Điệu Quê hương - Trần Đức Phổ by Trần Đức Phổ Today at 06:59

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Today at 06:51

Thơ Tình Trần Đức Phổ by Trần Đức Phổ Today at 06:27

CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Yesterday at 21:24

Truyện nay - Ái Hoa by Phương Nguyên Yesterday at 12:44

Nhật ký Trương Chi by Ai Hoa Yesterday at 11:32

ÐÔI MẮT NGỌC by BachVanNhi Yesterday at 01:51

HANSINGUYEN_2019 by HanSiNguyen Thu 17 Oct 2019, 18:44

Hàn Sĩ Nguyên_Mai Thiên Vân by HanSiNguyen Thu 17 Oct 2019, 18:26

QUÊ HƯƠNG TÔI by Hoa mộc Thu 17 Oct 2019, 18:10

ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH by Trà Mi Thu 17 Oct 2019, 15:44

Còn quậy chưa "về" by buixuanphuong09 Thu 17 Oct 2019, 10:51

Những điểm đến tràn ngập màu sắc by Trà Mi Thu 17 Oct 2019, 10:50

Thơ về Hoa sưu tầm by Trà Mi Thu 17 Oct 2019, 10:40

CHÀO NGÀY MỚI by Phương Nguyên Wed 16 Oct 2019, 07:24

Chút tâm tư by tâm an Tue 15 Oct 2019, 20:47

CÂY QUỲNH GIAO by Ai Hoa Tue 15 Oct 2019, 20:04

Ở không by Ai Hoa Tue 15 Oct 2019, 19:52

Truyền thuyết hoa anh thảo by Trà Mi Tue 15 Oct 2019, 10:14

TỤI MÌNH AI CŨNG NÓI RÀNH TIẾNG PHÁP ! by Ai Hoa Mon 14 Oct 2019, 13:36

NHỮNG LOÀI HOA ĐẸP TRONG THƠ CA by Trà Mi Mon 14 Oct 2019, 07:47

Truyện tranh HIỆP SĨ HỔ LỬA by HanSiNguyen Mon 14 Oct 2019, 04:52

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Tam Tạng Pháp Số

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1 ... 12 ... 20, 21, 22 ... 30 ... 40  Next
Tác giảThông điệp
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Sun 01 Nov 2015, 00:03

Tam Tạng Pháp Số 199
 
DO TUẦN TAM LƯỢNG
由旬三量 (Phiên dịch danh nghĩa)
 
Tiếng Phạn là Do tuần, cũng gọi là Du thiện na; tiếng Hoa là Hạn lượng. Nghiệp sớ nói: Vua đi tuần thủ dân chúng dừng lại một dịch xá. Quãng đường đi này là một do tuần. Đại trí độ luận nói: Có ba loại do tuần, nên gọi là do tuần tam lượng.
Một, Ca nhất bát thập lý. Trong giới hạn núi sông bằng phẳng, đo lường theo cách xưa được tám mươi dặm.
Hai, Trung bình lục thập lý. Trong giới hạn núi sông hơi hiểm trở, đo lường theo cách ngày xưa được sáu mươi dặm.
Ba, Thấp nhất thập tứ lý. Trong giới hạn núi sông hiểm trở, đo lường theo cách xưa được bốn mươi dặm.
 
TAM CHỦNG TƯỚNG
三種相 (Đại trí độ luận). 

Một, Giả danh tướng.

Tất cả sự, vật đến chúng sanh trong thế gian, tuy do nhiều nhân duyên hoà hợp mà có vô vàn tên gọi, nhưng đều không có tự tánh, giả dối không thật. Vì chúng sanh mê lầm.
Đối với các giả danh này lại chấp chặt lấy tướng, nên gọi là giả danh tướng.
Hai, Pháp tướng. 
Năm uẩn, 12 nhập, mười tám giới v.v… các pháp, vì bằng mắt thịt xem xét, thì thấy nó có.
Nếu bằng mắt trí huệ xem xét, thì thấy nó không.
Vì chúng sanh mê lầm, đối với các pháp này lại nảy tâm chấp tướng, nên gọi là pháp tướng.
Ba, Vô tướng tướng. 
Xa lìa hai tướng trên thì gọi là vô tướng.
Vì chúng sanh mê lầm, lại đối với vô tướng, nổi tâm chấp (cái vô tướng ấy), nên gọi là vô tướng tướng.
 
TAM CHỦNG TƯỚNG
三種相 (Hoa nghiêm kinh Tuỳ sớ diễn nghĩa sao)

Một, Phiêu tướng. Phiêu tức là trình bày ra, biểu hiện ra. Như thấy khói thì biết có lửa. Đó gọi là phiêu tướng.
Hai, Hình tướng. Hình tức là bề ngoài. Như dài, ngắn, vuông, tròn v.v… Đó gọi là hình tướng.
Ba, Thể tướng. Thể tức là thể chất (thân thể; tính chất). Như lửa nóng làm chất tướng. Đó là thể tướng.

TAM CHỦNG SẮC
三種色 (Ngũ uẩn luận)
 
Một, Hiển sắc. Hiển tức là rõ ràng. Sắc tức là sắc chất trở ngại. Các sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, bóng sáng tỏ, mờ, khói, mây, bụi mù. Rõ ràng có thể thấy được; nên gọi là hiển sắc.
Hai, Hình sắc. Hình là hình tướng. Như dài, ngắn, vuông, tròn, thô, tế, cao, thấp, méo mó, ngay thẳng, đều là hình tướng, nên gọi là hình sắc.
Ba, Biểu sắc. Biểu là biểu hiện, đối tượng đi, đứng, nằm, ngồi, giữ, bỏ, cong, thẳng. Tuy đó là những hành động, nhưng biểu hiện rõ ràng thấy được.
Nên gọi là biểu sắc.


Được sửa bởi mytutru ngày Sun 01 Nov 2015, 00:04; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Sun 01 Nov 2015, 00:16

Tam Tạng Pháp Số 200
  
TAM CHỦNG SẮC
三種色 (A tì đàm luận)
 
Một, Khả kiến hữu đối sắc. Tức là tất cả sắc trần. 
Màu sắc ở thế gian, mắt có thể nhìn thấy, là đối tượng của mắt.

Hai, Bất khả kiến hữu đối sắc. Tức là năm căn, bốn trần.
Nhãn thức không thể thấy nhưng có đối tượng là sắc.
Nhĩ thức không thể thấy nhưng có đối tượng là tiếng.
Tỷ thức không thể thấy nhưng có đối tượng là vị.
Thân thức bất khả kiến nhưng có đối tượng là xúc. 
Năm căn ấy là thắng nghĩa căn. 
Bốn trần là thinh, hương, vị, xúc. 
Bốn thứ này cũng không thể thấy, nhưng là đối tượng của tai, mũi, lưỡi, thân.

Ba, Bất khả kiến vô đối sắc. Tức là vô biểu sắc. Ý thức duyên cảnh đã thấy ở quá khứ, gọi là rơi rụng. năm trần đối tượng của ý thức phân biệt rõ ràng đều không thể thấy. Nên cũng gọi là đối tượng vô biểu.
 
TAM TỤ
三聚 (Hiển tông luận)
 
Một, Chánh tánh định tụ. Dứt hết các phiền não tham, sân, si; tâm không còn tà vọng, giả dối. Tánh này chắc chắn đã an định, không tán loạn. Đó là chánh định tụ. Hai, Tà tánh định tụ. bốn đường ác và tất cả biên kiến, tà kiến, không tin chánh pháp đều gọi là tà tánh. Tánh này đã tụ tập vững chắc, không phân tán. Đó là tà tánh định tụ.
Ba, Bất định tánh tụ. Tánh này có thể tà, có thể chánh, không có hướng cố định. Đó là bất định tánh tụ.
 
TAM SANH
三生 (Hoa nghiêm kinh Tuỳ sở diễn nghĩa sao)
 
Một, Kiến văn sanh. Tám nạn của chúng sanh. Đời trước gặp kinh Hoa nghiêm, không thể tín thọ, lại sanh tâm gièm pha, nên nhận quả báo tám nạn. Đọa vào trong địa ngục chịu khổ sở vô cùng.
Nay mong cầu Phật rủ lòng thương xót phóng quang chiếu soi và do đời trước có căn lành gặp kinh Hoa nghiêm, liền ra khỏi khổ sở của địa ngục, sanh lên trời Đâu suất và được thành đạo, trong một đời vượt qua Thập địa.
(tám nạn là địa ngục; súc sanh; ngạ quỷ, trường thọ thiên; bắc uất đơn việt; manh, lung, ám, á; thế trí biện thông; sanh trước, sau Phật).
Hai, Giải hạnh sanh. Thiện tài đồng tử, ở phía đông Phước thành, mới gặp Ngài Văn thù lần đầu, đã được mở mang, bèn liền tham vấn các thiện tri thức, đều thu thập chỉ bảo pháp môn tu hành, cho đến cuối cùng tham kiến Ngài Phổ Hiền, khiến cho vào được cõi nước nhỏ bé nhất. Tu hạnh Bồ tát với nguyện to lớn, viên mãn đạo quả vô thượng của các Phật. Hiểu và làm như thế, nên trong một đời mà được viên mãn vậy.

Ba, Chứng nhập sanh. Ngài Xá lợi Phất ở trong rừng Thệ đa, khiến cho 6000 Tỳ kheo quán sát Văn thù sư lợi công đức vô lượng, trang nghiêm hoàn mỹ. Những Tỳ kheo ấy nghe pháp xong, tâm ý thanh tịnh, tin hiểu  vững chắc, đảnh lễ Ngài Văn thù và nói rằng: Nhân giả có được sắc thân tốt đẹp, mong ước tôi cũng được như vậy. 

Vì thế Ngài Văn thù vì các Tỳ kheo chỉ bày, diễn giải pháp Đại thừa, khiến cho các Tỳ kheo được niềm tin vững chắc, được trí huệ lớn. Trong một đời, chứng được pháp giới. 
(Tiếng Phạn là Xá lợi phất, tiếng Hoa là thân tử_ Tiếng Phạn là Thệ đa, tiếng Hoa là thắng lâm, tức vườn Cấp cô độc.
Tiếng Phạn là Văn thù sư lợi, tiếng Hoa là Diệu đức). 
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:04

Tam Tạng Pháp Số 201
 
TAM PHÂN BIỆT
三分別 (A tỳ đạt ma tạp tập luận)
 
Luận nói: Chỉ có ý thức là có ba loại phân biệt. 
Một, Tự tánh phân biệt. Ý thức đối với tự tánh của cảnh sáu trần hiện tại mà khởi lên phân biệt, nên gọi là tự tánh phân biệt. 
Hai, Tuỳ niệm phân biệt. Ý thức, trước đã gặp cảnh sáu trần, nhớ lại không quên mà khởi lên phân biệt. nên gọi là tuỳ niệm phân biệt. 
Ba, Kế đạt phân biệt. 
Hiện ý thức không thấy sự việc, so đo, liều lượng mà khởi lên phân biệt, nên gọi là kế đạt phân biệt.
 
TAM VÔ SAI BIỆT
三無差別 (Hoa nghiêm kinh sớ)
 
Tâm, Phật, chúng sanh, tuy nhân, quả, mê, ngộ không giống nhau, nhưng đứng về mặt lý tánh thì có đầy đủ, xưa nay bình đẳng, ngay từ đầu không có khác nhau; nên kinh nói: Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba không sai khác.
Một, Tâm không sai khác.
Tâm thể một niệm, phàm, thánh không hai.
Đầy đủ mười giới, mười như thị các pháp, nhưng so với chư Phật và chúng sanh tánh vốn bình đẳng, ngay từ đầu không có khác nhau.
Cho nên kinh nói: Tâm chu du khắp pháp giới như hư không thì biết được cảnh giới của chư Phật. 
Đó là tâm vô sai biệt.
(mười như thị là như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mặt cứu cánh). 
Hai, Phật vô sai biệt.
Mười phương chư Phật hiểu rõ mười giới, tức là ngộ bổn tâm vốn đầy đủ, cũng ngộ được những sai lầm của chúng sanh.
Mê, ngộ tuy khác nhưng thể không hai. Kinh Pháp hoa nói: chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu hết thật tướng của các pháp. Đó là Phật vô sai biệt.
Ba, Chúng sanh vô sai biệt.
Chúng sanh trong chín giới có đủ mười giới, mười như thị các pháp, và cùng với hiểu biết của chư Phật, các pháp đầy đủ ở bổn tâm.
Thể của nó không hai. Kinh Niết bàn nói: Tất cả chúng sanh tức là Phật. Đó là chúng sanh vô sai biệt.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:08

Tam Tạng Pháp Số 202
 
DIỆU HẠNH TAM NHÂN DUYÊN
妙行三因緣 (A tỳ đạt ma đại tỳ bà sa luận).
 
Một, Thời nhân duyên. Thời tức là thời phân (chia một ngày đêm ra bao nhiêu giờ). Nhân duyên là cái có khả năng sanh ra là nhân, giúp đỡ cho thành là duyên.
Khi năm trược không tăng, các loài hữu tình có đầy đủ oai đức, thích tu các việc thiện.
Vì lúc ấy không có các ác trược, những người đó, tuy không thích làm diệu hạnh mà tự nhiên làm. (năm trược là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược).
Hai, Tuỳ xứ nhân duyên. Xứ là nơi chốn.
Người sanh nơi đô thị thì thông minh, tánh tình điềm đạm, hay tu các nghiệp lành, không sanh tà kiến. Những người đó tuy không thích làm diệu hạnh mà tự nhiên làm.
Ba, Bổ đặc già la nhân duyên. Tiếng Phạn là Bổ đặc già la, tiếng Hoa là Hữu tình. một loại hữu tình được tu diệu hạnh.
Tánh nó hoà nhã, hay tu nghiệp lành, như ở trong luật nghi, vì thân cận chúng diệu hạnh. Người này thích làm các việc thiện mà tự nhiên hay làm.
 
 TAM BỐI SỰ PHẬT
三輩事佛 (Phân biệt kinh).
 
Một, Vi ma đệ tử sự Phật.
Kinh nói: Sao gọi là đệ tử của ma thờ Phật? Phật nói: Tuy thọ giới của Phật, tâm thích nghiệp tà, không tin chánh đạo, không biết có quả báo của tội ác, mượn danh thờ Phật, cùng với bè lũ gian tà. Đó là đệ tử của ma thờ Phật.
Hai, Vi thiên nhân sự Phật. Kinh nói: sao gọi là trời, người thờ Phật? Phật nói: Thọ trì năm giới, tu tập thập thiện, đến chết không phạm, tin có tội, phước, thường nhớ chánh pháp. Đó là thiên nhân thờ Phật.
Ba, Vị Phật đệ tử sự Phật. Kinh nói: sao gọi là đệ tử của Phật thờ Phật? Phật nói: Thọ trì năm giới, học rộng kinh pháp, tu tập trí huệ, biết tam giới khổ, tâm hành lục độ, biết rõ sống, chết, không tham luyến thân mạng, không làm nghiệp tà. Đó là đệ tử Phật thờ Phật.
 
TAM CHỦNG QUANG MINH
三種光明 (Du già sư địa luận).
 
Một, ngoại quang minh. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng, sao và ánh sáng của lửa, đèn, đuốc v.v… đều có thể phá trừ bóng tối. Đó là ánh sáng bên ngoài.
Hai, Pháp quang minh. Tuỳ theo sự nghe pháp của mỗi người, quán sát tu tập, đều nương tựa vào pháp. Nhờ đó mà minh tâm kiến tánh, phá trừ tối tăm của ngu si, rõ bày bổn giác diệu minh. Đó là pháp quang minh.
Ba, Thân quang minh. Các Phật, Bồ tát, Nhị thừa và trời v.v… thân đều có ánh sáng, cũng có thể phá trừ tối tăm. Đó là thân quang minh.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:12

Tam Tạng Pháp Số 203
 
THỰC TAM ĐỨC
食三德 (Niết bàn kinh).
 
Kinh nói: các người Ưu bà tắc vì Phật tăng chúng làm đủ các thức ăn như chiên đàn, trầm hương, nước tám công đức; tất cả đã được nấu chín.
Những thức ăn ngon ngọt có ba đức tính.
(Tiếng Phạn là Chiên đàn, tiếng Hoa là Dữ dược (cho thuốc) vì hay trừ các bệnh. Nước tám công đức là: thanh tịnh, trong sạch và mát lạnh, ngọt ngon, nhẹ nhàng và mềm mại, thấm đượm, an hoà, uống vào trừ đói khát, nuôi lớn các căn).
Một, Thanh tịnh. Thức ăn dâng cúng Phật và tăng chúng phải thật sạch sẽ, không có cay nồng, máu thịt ô uế. Đó là thanh tịnh.
Hai, Nhu nhuyến. Thức ăn dâng lên Phật, cúng tăng chúng phải mềm mại, ngọt vừa, không được sơ sài qua loa. Đó là nhu nhuyến.
Ba, Như pháp. Thức ăn dâng Phật cúng chúng tăng phải tuỳ mà làm, chế tạo đúng cách. Đó là như pháp.
 
TAM THỰC THI
三食匙 (Pháp uyển Châu lâm)
 
Đại trí độ luận nói: Ăn là để hành đạo, không phải vì lợi ích cho thân mình.
Người tu hành, khi thọ bữa ăn chánh thức, phải có lời nguyện.
Sơ hạ thi thời.
Vừa cầm thìa, tâm phải nhớ nghĩ, tôi nguyện trong kiếp này với tất cả ác nghiệp của thân, miệng, ý làm ra hoàn toàn dứt hết.
Thứ hạ thi thời.
Kế đến, tâm phải tưởng nhớ, tôi nguyện trong kiếp này tu tất cả pháp lành một cách đầy đủ. Hậu hạ thi thời.
Tâm phải nhớ tưởng, tôi nguyện trong kiếp này những công đức đã tu tập được, hồi hướng, bố thí chúng sanh, tất cả cùng thành Phật.
 
TAM TỊNH NHỤC
三凈肉 (Thập tụng luật).
 
Một, Nhãn bất kiến sát. chính mắt không thấy con vật, không thấy người vì mình mà giết. Đó gọi là bất kiến sát.
Hai, Nhĩ bất văn sát. Đối với người đáng tin, không nghe con vật bị giết kêu gào, không vì mình mà giết. Đó là bất văn sát.
Ba, Bất nghi sát. Biết nơi ấy có lò sát sinh, có con vật tự chết, cũng biết người ấy, không vì mình, giết hại.
Đó là bất nghi sát. Như ba trường hợp trên, gọi là tịnh nhục, có bệnh được phép ăn.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:18

Tam Tạng Pháp Số 204
 
TAM BẤT TỊNH NHỤC
三不凈肉 (Thập tụng luật).
 
Một, Kiến sát. Thấy con vật ấy, vì mình mà bị giết. Đó gọi là thấy giết.
Hai, Văn sát. Đối với người đáng tin, nghe con vật kêu gào, vì mình mà bị giết.
Đó là văn sát. Ba, Nghi sát.
Nơi ấy không có lò sát sinh, cũng không có con vật tự chết; người ấy ắt vì mình mà giết. Đó là nghi sát.
Ba thứ nêu trên, gọi là bất tịnh nhục, đều không được phép ăn.
 
TAM TRƯỜNG VẬT
三長物 (Ma ha tăng kỳ luật).
 
Một, y trường vật. Người xuất gia, nếu theo lời Phật dạy chỉ được phép có ba y.
Ngoài ba y ra, nếu có thêm nữa thì gọi đó là vật thừa.
Hai, Bát trường vật.
Người xuất gia, nếu theo lời Phật dạy, chỉ được phép có một bình bát.
Ngoài một bát ra, nếu có gì thêm thì gọi đó là vật thừa.
Ba, Dược trường vật. 
Người xuất gia, theo lời Phật dạy, nếu bệnh tật thì được phép uống thuốc điều trị. 
Nếu bệnh đã khỏi mà còn thêm nữa, đó gọi là vật thừa.
 
TAM Y DANH NGHĨA
三衣名義 (Phiên dịch danh nghĩa)
 
Một, Tăng già lê. Tiếng Phạn là Tăng già lê, tiếng Hoa là Hợp, còn gọi là Trùng.
Do nhiều mảnh vải hợp thành.
Pháp sư Nghĩa tịnh nói: tiếng Phạn là tăng già chi, tiếng Hoa là Trùng phục y.
Tuyên luật sư nói: tên của ba y này, đều không phiên âm chính xác, nay dùng nghĩa dịch ra.
Đại y gọi là tạp toái y, vì số điều nhiều, nếu theo công dụng đặc tên thì gọi nhập vương cung y, còn gọi là nhập tụ lạc y.
Nghĩa là lúc thuyết pháp trong vương cung thì mặc vào và vào làng xóm khất thực thì mặc vào.
Tát bà đa luận nói: Đại y chia ra ba phẩm;
-9 điều, 11 điều, 13 điều gọi là hạ phẩm
- 15 điều, 17 điều, 19 điều gọi là trung phẩm
- 21 điều, 23 điều, 25 điều gọi là thượng phẩm.
Hai, Uất đa la tăng. Tiếng Phạn là Uất đa la tăng, tiếng Hoa là Thượng trước y, tức là y bảy điều.
Tuyên luật nói: y bảy điều gọi là y trung.
Nếu sử dụng mà đặt tên thì gọi là nhập chúng thời y (y khi vào chúng) tức là khi làm lễ, tụng kinh, thọ trai, thuyết pháp thì mặc vào.
Ba, An đà hội. Tiếng Phạn là An đà hội, tiếng Hoa là trung túc y (Y mặc lúc ngủ). Tuyên luật nói: nếu theo sử dụng mà gọi thì gọi là y mặc khi hành đạo, làm các việc trong tự viện.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:33

Tam Tạng Pháp Số 205
 
ĐẠI TAM TAI
大三灾 (Pháp uyển châu lâm)
 
Một, Hoả tai. Vào kiếp hoại có bảy mặt trời xuất hiện, núi Tu di và đại địa từ từ tang rã; nước trong bốn biển lớn dần dần hết sạch.
Đại thiên thế giới đến trời sơ thiền đều trống hoác, không còn sót một cái gì. Đó gọi là hoả tai.
Hai, Thuỷ tai. Từ trời sơ thiền trở xuống bị bảy lần hoả tai.
Sau khi thế gian tan rã; thế giới lại thành; lại đến khi kiếp hoại, từ từ mưa lớn, giọt nước mưa như trục xe, lại thêm dưới đất nước cuộn chảy và vọt lên cao.
Đại thiên thế giới cho đến trời nhị thiền nước đầy ắp.
Tất cả đều tan rã, tiêu tan; như nước làm tan hết muối. Đó gọi là thuỷ tai
Ba, Phong tai. Từ trời nhị thiền trở xuống, sau bảy lần thuỷ tai, lại trải qua bảy lần hoả tai. Thế gian tan rã, đến khi thế giới thành trở lại, rồi lại đến kiếp hoại.
Phong luân thổi từ dưới, gió mạnh thổi lên, thêm vào đó nghiệp lực của chúng sanh đã hết, gió nổi lên khắp nơi.
Đại thiên thế giới cho đến trời tam thiền đều bị gió giật dữ dội, trống không chẳng sót lại một thứ gì. Đó gọi là phong tai.
 
TIỂU TAM TAI
小三灾 (Pháp uyển châu lâm)
 
Một, Cơ cẩn tai. Khi con người sống lâu đến 84000 tuổi; trải qua 100 năm sau, tuổi thọ giảm một tuổi. Cứ như thế đến khi con người tuổi còn 30. Lúc ấy, vì đại hạn, trời không mưa, cây cỏ không sanh trưởng.
Nước khô kiệt hoàn toàn, vì vậy mọi người trên thế gian đều chết đói gần hết.
Đó là cơ cẩn tai.
Hai, Tật dịch tai. Tuổi thọ của con người giảm đến 20 tuổi.
Lúc ấy có đại dịch và vô số bệnh tật tất cả cùng nổi lên.
Vì vậy mọi người trên thế gian đều chết vì tật dịch thêm nữa.
Đó là tật dịch tai.
Ba, Đao binh tai. Tuổi thọ giảm đến mười tuổi, lúc ấy, mọi người nổi lên đấu tranh. Tay cầm cây, cỏ bổng trở thành dao, rựa.
Do binh khí này mà giết hại nhau.
Vì vậy, người đời chết vì đao binh một lần nữa. Đó là đao binh tai.
 
TỨ THÂN
四身 (Thành duy thức luận).
 
Một, Tự tánh thân. Tức là pháp thân.
Chư Phật đã thật sự làm thanh tịnh pháp giới, không chút bợn nhỏ, hoàn toàn vắng lặng, đầy đủ công đức chơn thật.
Đó là tánh chân thật bình đẳng của tất cả pháp.
Hai, Tự thọ dụng thân.
Tức là tự báo thân. Chư Phật trí huệ vắng lặng, soi rõ pháp giới một cách chân thật, đến đời vị lai, thường tự thọ dụng to lớn những pháp lạc.
Ba, Tha thọ dụng thân.
Vì căn cơ chúng sanh cảm mà chư Phật hiện tha báo thân.
Từ bình đẳng trí Phật hiện hình Bồ tát Thập địa và hiện đại thần thông, chuyển bánh xe chánh pháp, khiến 
cho chúng sanh hưởng thụ nhiều pháp lạc Đại thừa.
Bốn, Biến hoá thân.
Là không mà bỗng có , gọi là biến hoá, tức là ứng thân.
Phật tuỳ căn cơ của chúng sanh mà biến ra thân này.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:40

Tam Tạng Pháp Số 206
 
HOÁ ỨNG THÂN TỨ CÚ
化應身四句 (Hoa nghiêm kinh Tuỳ sớ diễn nghĩa sao).
 
Một, Hoá thân phi ứng. Phật tuỳ từng loại biến hiện thành rồng, quỷ v.v…,
không phải là thân Phật. Đó gọi là hoá thân phi ứng.
Hai, Ứng thân phi hoá. Phật thân mà Bồ tát địa tiền thấy được, tức là tuỳ căn cơ mà ứng hiện, chúng sanh trong ngũ thú không thể có như vậy.
Đó gọi là ứng thân không phải hoá thân.
(Địa tiền Bồ tát là Bồ tát Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng.
Ngũ thú là trời, người, quỷ, súc sanh, địa ngục).
Ba, Diệt ứng diệt hoá.
Các bậc Thành Văn thấy được thân Phật, thấy các tướng hảo đều do nhân duyên thành tựu, gọi đó là ứng; không có mà bỗng nhiên có, gọi là hoá.
Đó gọi là vừa ứng vừa hoá.
Bốn, Phi ứng phi hoá. hai thân pháp thân và báo thân của Phật, chẳng thuộc ứng thân và hoá thân. Đó gọi là phi ứng phi hoá.
 
PHẬT TỨ ĐỨC
佛四德 (Niết bàn kinh)
 
Các đức thường, lạc, ngã, tịnh mà Phật chứng được, gọi là bốn đức.
Tâm thể của Phật vốn không, ứng dụng không nhiễm ô, xa lìa điên đảo, thiên lệch, tà vạy của phàm phu, Nhị thừa, Bồ tát; nên gọi là đức.
Một, Thường đức.
Thường là không dời không đổi, thể tánh rỗng rang bao trùm, vắng lặng thường trụ, trải qua ba đời mà không dời; hoà trong vạn pháp mà không đổi; nên gọi là đức thường.
Hai, Lạc đức. Lạc là an ổn, vắng lặng, xa lìa khổ bức bách của sanh tử, chứng được an vui, tịch diệt của Niết bàn.
Ba, Ngã đức. Ngã là tự tại vô ngại. Nhưng có giả ngã và chân ngã.
Nếu ngoại đạo, phàm phu, đối với thân ngũ ấm, cưỡng cho là chủ tể và chấp nó làm ngã, thì đó là giả ngã.
Còn Phật có đủ tám tự tại thì gọi là ngã, tức là chân ngã.
(tám tự tại ngã là có thể thị hiện một thân thành nhiều thân; thị hiện một thân nhỏ bé như vi trần mà đầy cả đại thiên thế giới; thân to lớn mà có thể nhẹ nhàng đi đến nơi xa xôi; thị hiện nhiều loại thân mà thường ở một quốc độ; các căn hổ dụng; chứng được tất cả pháp mà tưởng như không có pháp nào cả; nói ý nghĩa một câu hệ đến vô lượng kiếp; thân biến khắp các nơi giống như hư không
Bốn, Tịnh đức.
Tịnh là xa lìa cấu nhiễm. Không có phiền não ô nhiễm, vắng lặng thanh tịnh, như một cái gương lớn, không một chút bụi nhỏ; nên gọi là tịnh đức.


Được sửa bởi mytutru ngày Mon 09 Nov 2015, 21:55; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:54

Tam Tạng Pháp Số 207
 
THÂN ĐỘ TỨ Y
身四依 (Hoa nghiêm kinh sớ).
 
Một, Sắc thân y sắc tướng độ. Phật ứng hiện tuỳ loại.
Thị hiện thân cao một trượng sáu, tướng tốt v.v… là nương theo các loài cùng ở cõi ta bà, lấy sắc tướng núi, sông, đại địa làm sắc cho sắc thân.
Hai, Sắc thân y pháp tánh độ.
Thân Phật cao một trượng sáu tướng hảo tốt đẹp. Đó chính là thân pháp tánh, nương vào cõi thường tịch quang, đó là pháp thân nương vào cõi pháp tánh. (Thường tịch quang độ là cõi tịnh độ đức Phật đang ở).
Ba, Pháp thân y pháp tánh độ.
Thân pháp tánh của Phật, chẳng phải tâm chẳng phải sắc, giống như hư không, khắp mọi nơi, là cõi nương tựa, tức là cõi thường tịch quang. Đó là pháp thân nương cõi pháp tánh.
Bốn, Pháp thân y sắc tướng độ.
Thân pháp tánh của Phật, biến khắp vô số cõi nước như vi trần.
Tuy thân và cõi không rời nhau, sự và lý tương liên.
Sắc tức chẳng phải sắc. Tướng chẳng phải tướng, nhưng không lìa một cõi nào cả. Đó là pháp thân y sắc tướng độ.
 
PHẬT TỨ CHÚNG HY HỮU
佛四衆希有 (Kim cang kinh toản yếu san định ký)
 
Một, Thời hy hữu. Khi Phật xuất thế, đặc biệt hy hữu.
Tất cả chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, vô minh che lấp, trôi lăn trong sống chết, không có ngày hết.
Nay gặp Phật ra đời, nghe được chánh pháp, nương theo tu hành, được thoát sanh tử khổ, thật là ít có. 
Hai, Xứ hy hữu.
Phật sanh ở thành Ca tỳ la, cho đến trong 3000 thế giới, Phật không xuất hiện những nơi còn lại mà lại giáng sanh ở đó, thật là ít có.
(Tiếng Phạn là Ca tỳ la, tiếng Hoa là Năng nhân Trú xứ).
Ba, Đức hy hữu.
Phật đầy đủ phước đức, trí huệ, không ai sánh bằng, những vị Bồ tát không thể nghĩ bàn. Thật là ít có.
Bốn, Sự hy hữu. Phật giáng sanh xuống cung trời Đâu suất cho đến khi vào Niết bàn.
Tất cả những sự việc ấy, trên trời dưới đất thật là kỳ đặc.
Ngoại đạo, thiên mà đều quy ngưỡng.
Phật dùng từ bi lớn, phương tiện khéo léo, hiện nhiều thân tướng nói vô lượng pháp môn, tuỳ căn cơ chúng sanh, đều được lợi ích.
Thật là ít có. (Tiếng Phạn là Đâu suất, tiếng Hoa là Tri túc).


Được sửa bởi mytutru ngày Mon 09 Nov 2015, 22:00; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8778
Registration date : 08/08/2009

Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Tam Tạng Pháp Số  - Page 21 I_icon13Mon 09 Nov 2015, 21:57

Tam Tạng Pháp Số 208
 
TỨ VÔ SỞ UÝ
四無所畏 (Đại trí độ luận).
 
Thường gọi là vô uý.
Do Phật có trí huệ thập lực, vì bên trong có đầy đủ quyết định sáng suốt.
Ơ trong đại chúng, phàm nói ra điều gì, không hề tỏ ra sợ hãi; nên gọi là vô sở uý. (thập lực là: tri thị xứ phi xứ trí lực; tri quá khứ hiện tại vị lai nghiệp báo trí lực; tri chư thiền giải thoát Tam muội trí lực; tri chư căn thắng liệt trí lực; tri chủng chủng giải trí lực; tri chủng chủng giới trí lực; tri nhất thiết chí xứ đạo trí lực; tri thiên nhãn vô ngại trí lực; tri túc mạng vô lậu trí lực; tri vĩnh đoạn tập khí trí lực
- Nghĩa là: Trí lực biết sự vật nào có đạo lý hay phi đạo lý,
trí lực biết nghiệp báo ba đời của chúng sanh, trí lực biết các thiền định, tám giải thoát, ba Tam muội,
trí lực biết các căn tánh cao thấp của chúng sanh, trí lực biết mọi cấp bực hiểu biết của chúng sanh, trí lực biết mọi cảnh giới khác nhau, trí lực biết các đạo mà người tu hành đạt tới, trí lực dùng thiên nhãn thấy tất cả không hề trở ngại, trí lực biết đời trước của chúng sanh và Niết bàn vô lậu, trí lực biết tập khí và diệt trừ vĩnh viễn). 
Một, Nhất thiết trí vô sở uý.
Nhất thiết trí là đối với tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian đều biết hết, thấy hết
- Vô sở uý là, Phật nói: ta là người biết tất cả một cách đúng đắn, nên được an ổn được điều không sợ hãi.
Ở trong đại chúng, nói pháp như tiếng gầm sư tử, chuyển bánh xe pháp.
Các Sa môn, Bà la môn, hoặc trời, ma, phạm hoặc các người khác, chắc chắn không thể lay chuyển. Đó là nhất thiết trí vô sở uý.
(Tiếng Phạn là Sa môn, tiếng Hoa là Cần tức, siêng làm các việc lành, dừng hẳn các việc ác-Tiếng Phạn là Bà la môn, tiếng Hoa là Tịnh hạnhThiên, ma phạm là Thiên ma tức là Tha hoá tự tại thiên; phạm tức ma phạm thiên).
Hai, Lậu tận vô sở uý.
Lậu tận là phiền não, sanh tử đều dứt hết. Vô sở uý.
Như Phật nói: ta, tất cả phiền não, sanh tử, đều không còn, nên được an ổn, được điều không sợ hãi.
Ở trong đại chúng, tiếng nói như sư tử gầm, có thể chuyển bánh xe pháp, các Sa môn, Bà la môn, hoặc thiên ma, phạm hoặc các chúng sanh khác, chắc chắn không thể dời đổi. 
Đó là lậu tận vô sở uý.
Ba, Thuyết chướng đạo vô sở uý.
Thuyết chướng đạo là về sự trở ngại, che lấp của ngoại đạo đối với pháp của Phật. Vô sở uý là, như Phật nói: ta nói dù các pháp gây chướng ngại cho thánh đạo, mà vẫn được an ổn, được điều không sợ hãi.
Ở trong đại chúng, nói như tiếng rống sư tử, chuyển bánh xe pháp.
Các Sa môn, Bà la môn, hoặc thiên ma, phạm hoặc các chúng sanh còn lại, chắc chắn không thể lay chuyển được. Đó là thuyết chướng đạo vô sở uý.
Bốn, Thuyết tận khổ đạo vô sở uý.
Thuyết tận khổ đạo là nói phương pháp có thể dứt hết các khổ. 
Vô sở uý là, như Phật nói: Thánh đạo ta nói có thể ra khỏi thế gian, có thể dứt hết các khổ, 
nên được an ổn, được điều không sợ hãi. 
Ở trong đại chúng, nói như tiếng rống sư tử, chuyển bánh xe pháp.

Các Sa môn, Bà la môn hoặc thiên ma, phạm hoặc các chúng sanh khác, chắc chắn không thể lay chuyển. Đó là thuyết tận khổ đạo vô sở uý. 
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
 
Tam Tạng Pháp Số
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 21 trong tổng số 40 trangChuyển đến trang : Previous  1 ... 12 ... 20, 21, 22 ... 30 ... 40  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-