Trang ChínhTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
TÌNH YÊU CÂY CỎ ĐV.3 by buixuanphuong09 Today at 11:55

CHUYỆN VỤN (Phương Nguyên) by Phương Nguyên Today at 08:33

ĐÊM NGHE TIẾNG CẮC KÈ (Hàn Phong) by Phương Nguyên Yesterday at 23:45

NGƯỜI RA TIỀN TUYẾN (Hàn Phong) by Phương Nguyên Yesterday at 22:48

Tập Thơ Trường Họa Nhất Lang Nguyễn Thành Sáng & Tam Muội Lê Thị Vân Quỳnh by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 21:48

Tập Thơ Chọn Lọc - Nhất Lang (Nguyễn Thành Sáng) by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 16:34

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Yesterday at 11:08

CẢM ƠN NHÀ HẢO TÂM (Mytutru) by Phương Nguyên Yesterday at 07:35

Chút tâm tư by tâm an Yesterday at 05:12

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Sun 19 Sep 2021, 14:42

Sắc tím hoàng hôn by buixuanphuong09 Sun 19 Sep 2021, 01:25

Tập Thơ Lục Bát Của Nhất Lang (Nguyễn Thành Sáng) by Nguyễn Thành Sáng Sat 18 Sep 2021, 17:25

Tập Thơ Song Thất Lục Bát của Nhất Lang (Nguyễn Thành Sáng) by Nguyễn Thành Sáng Sat 18 Sep 2021, 17:19

Tập Thơ Họa TNBC Của Nhất Lang Nguyễn Thành Sáng & Tam Muội Lê Thị Vân Quỳnh by Nguyễn Thành Sáng Sat 18 Sep 2021, 17:06

Tập Thơ Đoản Khúc Đồng Họa Nhất Lang Nguyễn Thành Sáng & Tam Muội Lê Thị Vân Quỳnh by Nguyễn Thành Sáng Sat 18 Sep 2021, 16:49

Ngừa Dịch Siêu Vi Kỷ Niệm by mytutru Sat 18 Sep 2021, 13:11

HỒNG… LUỘC by Phương Nguyên Sat 18 Sep 2021, 12:26

TRONG MIỀN CÂM LẶNG (Hàn Phong) by Phương Nguyên Sat 18 Sep 2021, 10:45

ĂN MÌ (Hàn Phong) by Phương Nguyên Fri 17 Sep 2021, 21:46

Rong Ruổi Đường Xa by Việt Đường Fri 17 Sep 2021, 21:41

Trang thơ Nam Toàn by Nam Toàn Fri 17 Sep 2021, 20:14

Có phải Việt Nam là nơi tốt nhất để sống? by buixuanphuong09 Fri 17 Sep 2021, 15:47

Nguyễn Thái Học 1902- 1930 (Nhượng Tống) by Ai Hoa Fri 17 Sep 2021, 11:05

Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân by Ai Hoa Fri 17 Sep 2021, 10:40

Tửng đi bộ đội by Ai Hoa Fri 17 Sep 2021, 10:22

NGÀY MỚI (Hàn Phong) by Phương Nguyên Fri 17 Sep 2021, 09:25

THƠ SONG LỤC MYTT by mytutru Thu 16 Sep 2021, 09:14

TIÊM VẮC XIN (Hàn Phong) by Phương Nguyên Wed 15 Sep 2021, 21:01

Người Em Gái Da Vàng by Viễn Phương Wed 15 Sep 2021, 19:42

Những Điều Suy Nghiệm.. Sâu Sắc.. by mytutru Wed 15 Sep 2021, 16:13

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Chữ Khoa đẩu

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Ai Hoa

Ai Hoa

Tổng số bài gửi : 9942
Registration date : 23/11/2007

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Tue 07 Oct 2014, 14:15

CHỮ VIỆT CỔ – CHỮ KHOA ĐẨU


Từ hàng nghìn năm qua, các nhà khoa học trong và ngoài nước đều khẳng định: Việt Nam có chữ viết từ rất sớm, trước chữ Hán cả nghìn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu, Anh, Tiệp xác nhận: “Ngay từ trước công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh – loại chữ ghép chữ cái thành từ”. Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như: lưỡi cày, lưỡi xéo, đặc biệt là trống đồng…cùng các hình vẽ chữ viết trên đá cổ Sa Pa, Xín Mần. Pá Màng… theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ “khoa đẩu”.

chữ Khoa đẩu là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (chữ tượng âm)
chữ khắc trên bia đá lưng con rùa …
chữ có trước cả chữ tượng hình hàng nghìn năm và khác xa so chữ Hán
chữ gần giống với chữ Việt ngày nay .


Chữ Khoa đẩu IMG.2554

Nguyên âm : viết trước (bên trái), sau (bên phải), hay ở trên phụ âm. Nguyên âm ‘u’ viết sau phụ âm và hơi thụt xuống.
Nguyên âm ‘ă’ không đi với khóa đuôi thì đọc âm ‘a’.



Chữ Khoa đẩu IMG.256

Phụ âm : viết trước (bên trái), sau(bên phải), hay ở dưới nguyên âm.


Chữ Khoa đẩu IMG.257

 Khóa đuôi : không có chữ gì khác viết ở trên, ở dưới hay bên phải khóa đuôi.


Chữ Khoa đẩu IMG.258
 
Riêng khóa o/u có 2 vị trí : trước hoặc sau nguyên âm.
Với vai trò khóa trước (hay khóa trái), đối với những nguyên âm viết trước hay trên phụ âm, hay là nguyên âm kép, khóa o/u được viết vào vị trí của phụ âm, và đẩy phụ âm ra sau.
Dấu thanh : viết dưới phụ âm. Những chữ có phụ âm bị đẩy ra sau thì dấu thanh viết dưới khóa o/u (khóa trái). Những chữ chỉ có 2 thanh (sắc , nặng) thì chỉ dùng dấu nặng, không viết dấu thì đọc với thanh sắc.


Chữ Khoa đẩu IMG.2591
ví dụ:



Chữ Khoa đẩu IMG.2605
 
Hịch Khởi Nghĩa – Hai Bà Trưng


Sử cũ cho biết, sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị thi hành chính sách đồng hoá. Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang ta bắt đốt hết sách, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, sau này cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15…, Với chính sách đó thì chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, tưởng rằng đã bị xoá sạch là điều dễ hiểu.

Sưu tầm

_________________________
Chữ Khoa đẩu Love10

Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

Ai Hoa

Tổng số bài gửi : 9942
Registration date : 23/11/2007

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Sự tồn tại của nền văn minh Khoa Đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Tue 07 Oct 2014, 14:24

Sự tồn tại của nền văn minh Khoa Đẩu

Nguồn gốc của Ngũ Kinh (trong đó có Kinh Dịch) do Khổng Tử soạn bắt nguồn từ các sách viết bằng chữ Khoa Đẩu đã được thay thế bằng chữ Việt Nho.



Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc với chữ viết Khoa Đẩu bị thất lạc và chính Khổng Tử đã dựa vào những kinh sách của chữ Khoa Đẩu để soạn lại bằng chữ Việt Nho - loại chữ thay thế chữ Khoa Đẩu với những kinh sách mà Khổng Tử đã dựa vào đó để soạn lại bằng chữ Việt.
Sách bằng chữ Khoa Đẩu hay Thiên thư

Đến ngày nay vẫn còn rất ít tác giả nghiên cứu lại vấn đề này, tuy nhiên sự tồn tại của nền văn minh Khoa Đẩu của dân tộc Việt cổ là một sự thật lịch sử không thể phủ nhận. Ngoài những ký hiệu vạch liền và vạch đứt cùng các dãy chấm đen và chấm trắng ghi trong hai bảng Âu Đồ và Lạc Thư, chắc chắn dân tộc Việt cổ đã phát triển một hệ chữ viết hoàn chỉnh, mới có thể tạo nên nền Lịch Toán Can Chi nổi tiếng để phục vụ nền nông nghiệp còn để lại dấu vết cho đến ngày nay.

Nhiều nhà nghiên cứu đã khảo sát các gia phả cổ của nhiều dòng họ thuộc Vĩnh Phúc, Việt Trì, Phú Thọ... đã cho biết trong các đời vua Hùng, các gia đình thuộc hoàng thân, quốc thích đều có nuôi gia sư để dạy các vị Hoàng Tử, Công chúa cùng các con cái trong nhà. Như vậy thì thời các vua Hùng chữ viết đã được phổ biến trong các gia đình quý tộc. Có chữ viết mới cần nuôi thầy dạy học.

Trải qua các thời kỳ dài hàng ngàn năm với các cuộc bị xâm lược liên miên, tiếp đến bị mất nước và bị đô hộ thêm hàng ngàn năm nữa, nền văn hóa Văn Lang cùng chữ Khoa Đẩu đã bị xóa sạch cũng là lẽ tất nhiên. Tuy nhiên, những sự thật lịch sử liên quan thì không một lực lượng đô hộ và xâm lược nào có thể xóa hết.



Chữ Khoa đẩu Chu%20co%20tren%20trong%20dong%20trung%20bay%20o%20den%20hung%20%20mau_tmlh

Chữ cổ trên trống đồng được trưng bày tại Đền Hùng.


Chính Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: "... thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng.


Lối chữ Khoa Đẩu bỏ từ lâu, người đương thời không ai đọc được nữa, phải lấy sách nghe được ở phục sinh khảo luận văn nghĩa, định những chỗ đọc được, dùng lối chữ Lệ cổ viết sang thẻ tre, nhiều hơn sách của Phục Sinh hai mươi lăm thiên..." - Khổng Tử: Kinh Thư - Bản dịch của Trần Lê Sáng và Phạm Kỳ Nam - Nhà XB.VH-TT- Hà Nội-2004, Tr. 228-229.


Đây là một chứng cứ rõ ràng về sự tồn tại của nền văn minh thông qua chữ Khoa Đẩu với những kinh sách mà Khổng Tử đã dựa vào đó để soạn lại bằng chữ Việt Nho - loại chữ thay thế chữ Khoa Đẩu xưa. Loại chữ cổ này của dân Việt Thường có lẽ đã phát triển theo hướng chữ Nho xưa (từ thời Đông Chu Liệt quốc). Rõ ràng nguồn gốc của Ngũ Kinh (trong đó có Kinh Dịch) do Khổng Tử soạn là bắt nguồn từ các sách viết bằng chữ Khoa Đẩu đã được thay thế bằng chữ Việt Nho. Không Tử cũng không phải là người gốc Hán - mặc dầu nước Trung Hoa sau này nhận ông thuộc Hán tộc! Ông là một học giả người nước Lỗ - nhiều khả năng là một nhánh của Việt tộc cổ - do đó mà am hiểu cả chữ Khoa Đẩu lẫn chữ Việt Nho đương thời.
Kể cả các kinh sách mà Khổng Tử biên soạn lại bằng chữ Nho xưa cũng là dựa vào những bộ sách bằng chữ Khoa Đẩu cổ. Nền văn minh Khoa Đẩu đó, chỉ có thể là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc. Vì vậy, những người Trung Quốc xa xưa đọc được loại chữ này, mỗi khi giải mã được một vấn đề hay một mảng nào đó trong Kinh Dịch hay Lịch Toán cổ, mới cho rằng nhờ Thiên Thư (sách Trời) mà hiểu được.


Tử vi, phong thủy, Hà Lạc... bắt nguồn từ người Việt



Ngoài các tài liệu quan trọng mà Khổng Tử đã soạn lại thông qua nền văn hóa Khoa Đẩu cổ, còn rất nhiều tài liệu quan trọng xuất phát từ nền văn hóa này như Lịch Toán Can Chi, các môn dự báo về Phong Thủy, Hà Lạc hay Tử Vi... đều xuất phát từ nền văn minh Khoa Đẩu cổ. Rõ ràng là những người giỏi thuyết âm dương và những ứng dụng của nó ở Trung Quốc xưa, phần nhiều đều do thần tiên truyền lại, thông qua "sách thần" mà biết.

Những vị thần tiên đó chẳng qua chỉ là những người đã am hiểu hoặc đọc được chữ Khoa Đẩu cổ của nền văn hóa Âu Lạc đã bị thất truyền và mai một do thời gian dài bị nạn ngoại xâm và bị đô hộ mà thôi. Các sách viết bằng chữ Khoa Đẩu của nền văn hóa này đã bị kẻ chiến thắng thu hồi và đem về nước, lưu vào các kho sách quý của Triều đình.



Trước thời kỳ người Hoa chiếm cứ miền Hoa Hạ không có nền văn minh nào khác ngoài nền văn minh của nước Văn Lang xưa. Từ nền văn minh Khoa Đẩu đã chuyển thành nền văn minh Việt Nho cổ. Vua Hạ Vũ đã có công đồng hóa nền văn hóa nông nghiệp Việt Nho, vốn là nền văn hóa bản địa, vì có như thế mới dạy được dân Hán du mục trở thành dân nông nghiệp và mới có thể cai trị và đồng hóa dần được dân bản địa vốn đã sống lâu đời ở vùng Hoa Hạ này.



Người Hán đã có công dùng chữ Nho để "phiên âm" tiếng Hán, tạo nên chữ Hán (vốn bắt nguồn từ chữ Việt Nho) và nền văn hóa "Hán Nho". Họ đã dùng Hán Nho để bành trướng nền văn hóa Hán tộc. Tuy nhiên, chính nền văn hóa Hán tộc lại đã chịu ảnh hưởng sâu sắc và mang dấu vết đậm nét của nền văn hóa Việt Nho cổ. Điều này giải thích nhiều từ ngữ Hán - Việt có chung ý nghĩa từ rất xa xưa truyền lại cho đến hiện nay.



Về nền Văn hóa Việt Nho, nhà dân tộc học Trung Quốc là Vương Đồng Linh, trong cuốn "Trung Quốc dân tộc học" của ông có ghi: "... Việt tộc đã cùng Hoa tộc làm nên Nho giáo". Như vậy là những học giả uyên bác của Trung Quốc cũng đã xác nhận điều này. Công lao của người Bách Việt đã đóng góp vào Nho giáo rất lớn. Chữ Việt Nho xưa đã thay thế chữ Khoa Đẩu cổ. Trước khi Hạ Vũ bành trướng xuống miền Hoa Hạ thì ở đây dân Bách Việt đã có một nền văn hóa phát triển cao, đó chính là nền văn hóa Việt Nho, cũng là nền văn hóa Văn Lang xưa, tiền thân của nền văn hóa Hán Nho sau này.


- Thời Tần Thủy Hoàng thống nhất được nước Trung Hoa đã coi nền văn hóa Việt Nho bản địa là "văn hóa ngoại lai" không phải của dân tộc Hán, nên đã chủ trương "đốt sách - chôn học trò" rất dã man, hòng tiêu diệt nền văn hóa bản địa, nhưng chủ trương đó đã thất bại thảm hại. Chỉ chưa được chục năm, sau khi Tần Thủy Hoàng chết, nền văn hóa đó lại được phục hồi mạnh mẽ. Lý do chính đơn giản chỉ là: Không dùng văn hóa Việt Nho thì không thể cai trị được vùng đất nông nghiệp phì nhiêu, trú phú, vẫn là nơi sinh sống của đại bộ phận dân bản địa thuộc nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc xưa.



- Cần chú ý một điều là thời cổ xưa khi chưa có chính sử, lại chưa có bang giao chính thức giữa các nước, nên người Hán xưa lúc thì gọi nước ta là Giao Chỉ, lúc gọi là Việt Thường, lúc gọi chung là Bách Việt, Miêu Việt, Lạc Việt... Sau khi đã có chính sử các sách cổ của Trung Quốc cứ thế chép lại. Khi Tần Thủy Hoàng đã thống nhất được Trung Quốc và đã sát nhập phần lớn đất đai phía Bắc của người Bách Việt vào Trung Quốc, họ gọi vùng đất còn lại của người Bách Việt là Đông Việt (người Việt ở phía Đông), Tây Việt (người Việt ở phía Tây) và Nam Việt (người Việt ở phía Nam).

GS.TSKH Hoàng Tuấn (Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông)

Nguồn: Kiến thức

_________________________
Chữ Khoa đẩu Love10

Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

Shiroi

Tổng số bài gửi : 19896
Registration date : 23/11/2007

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Tue 14 Oct 2014, 03:06

Em đọc bài này tự dưng em đặt dấu hỏi (?)
Hơn 2000 năm trước, tiếng Việt mình đã có đủ 6 thanh ? :fun1:
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

Ai Hoa

Tổng số bài gửi : 9942
Registration date : 23/11/2007

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Tue 14 Oct 2014, 09:39

Shiroi đã viết:
Em đọc bài này tự dưng em đặt dấu hỏi (?)
Hơn 2000 năm trước, tiếng Việt mình đã có đủ 6 thanh ? :fun1:
 
Hổng lẽ Shiroi mới chế ra thêm?  :potay:

_________________________
Chữ Khoa đẩu Love10

Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

Shiroi

Tổng số bài gửi : 19896
Registration date : 23/11/2007

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Thu 16 Oct 2014, 03:34

Ai Hoa đã viết:
Shiroi đã viết:
Em đọc bài này tự dưng em đặt dấu hỏi (?)
Hơn 2000 năm trước, tiếng Việt mình đã có đủ 6 thanh ? :fun1:
   
Hổng lẽ Shiroi mới chế ra thêm?  :potay:
Anh đọc được tiếng Việt trước em mà, anh có chế ra không ?  

Nhưng chữ "khoa đẩu" này, nhất là các dấu, có chắc người ta không chế ra không anh ?  
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5380
Registration date : 01/04/2011

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Wed 16 May 2018, 12:00

Nguồn gốc chữ Khoa Đẩu và hai chữ Khoa Đẩu

Viên Như

Chữ Khoa đẩu Khoa-d10

Nguồn gốc chữ viết của phương Bắc.

Ở Trung Hoa có đến hai truyền thuyết về nguồn gốc chữ viết, một là Phục Hy, hai là Thương Hiệt. Một dân tộc tự cho mình là chủ nhân của một loại chữ cổ xưa và có giá trị của nhân loại lại đưa ra những truyền thuyết lủng củng như vậy tất là có vấn đề, vấn đề đó là cả hai truyền thuyết về chữ viết của Trung Hoa cũng không thoát khỏi cái bóng của người Việt. Về trường hợp Phục Hy tôi sẽ bàn ở một bài riêng chứng minh cho thấy ông ta là người Lạc Việt, riêng đối với Thương Hiệt, câu chuyện ông đã nhầm lẫn khi sáng tạo ra chữ “Xuất 出và Trọng重” vì tiếng Cóc kêu làm loạn tâm trí của ông trong lúc suy nghĩ đã nói lên điều đó.[1] Thông thường những thành quả văn hóa của cả dân tộc là tác phẩm của nhân dân, không một cá nhân cụ thể trong một thời đại nào có thể một mình làm ra mọi thứ cả, việc đề cao một cá nhân nào đó trong một thành tựu văn hóa nó có tính đại diện cho cả dân tộc ấy, Thương Hiệt không đủ hào quang để đại diện cho điều ấy, bởi vì ông chỉ làm theo chỉ thị của vua mà thôi.

Nguồn gốc chữ Khoa đẩu theo sách vở Trung Hoa.

Như đã trình bày trước, từ khi có thông tin rằng nước Việt từng có chữ viết, loại chữ ấy là chữ Khoa đẩu, căn cứ vào hai chữ Khoa đẩu, người ta biết rằng loại chữ ấy giống con nòng nọc nên gọi là chữ Nòng nọc. Vì sao Khoa đẩu có nghĩa là Nòng nọc?

Cơ bản tự nghĩa (基本字义) giải thích:

亦作“ 蝌斗 ”。 1.蛙或蟾蜍的幼虫。《南史·文学传·卞彬》:“蝌斗唯唯,羣浮闇水”。

Diệc tác “蝌斗” Oa hoặc thiềm thừ đích ấu trùng. 《Nam sử, Văn học truyện. Biện bân》:“Khoa đẩu duy duy, quần hồ ám thủy”.

Cũng viết “蝌斗” Ấu trùng của Nhái hoặc Cóc. (Nam sử. Văn học truyện. Biện Bân) “Nòng nọc đông đúc, bơi đen mặt nước”.

Như vậy Khoa đẩu là nòng nọc, con có đầu lớn, đuôi nhỏ.

Thuyết văn giải tự giải thích: 蝌蚪文.

蝌蚪文也叫“蝌蚪书”、“蝌蚪篆”,是在于笔画起止,皆以尖锋来书写,其特色也是头粗尾细,名称是汉代以后才出现的,在唐代以后便少见到,在浙江仙居县淡竹乡境内发现.

Khoa đẩu văn dã khiếu ”Khoa đẩu thư”, “Khoa đẩu triện” thị tại vu mao họa khởi chỉ, giai dĩ viêm phong lai thư tả, kỳ đặc sắc dã thị đầu thô vĩ tế, danh xưng thị Hán đại dĩ hậu tài xuất hiện đích, tại Đường đại dĩ hậu cánh thiểu hiện đáo. Tại Triết Giang, Tiên Cư huyện, Viêm Trúc hương Cảnh Nội phát hiện.

Khoa đẩu văn vậy, còn gọi là “Khoa đẩu Thư”, “Khoa đẩu triện” là bắt nguồn từ bút vẽ, dùng đầu nhọn để viết chữ (sách). Cái đặc sắc chính là đầu to đuôi nhỏ. Tên này xuất hiện vào đời Hán và về sau (203 SCN). Tới đời Đường dần ít xuất hiện. Được phát hiện tại Thôn Viêm Trúc, huyện Tiên Cư, Tỉnh Triết Giang.

Với lời giải thích này ta biết rằng loại chữ với cái tên khoa đẩu nhất định phải được sử dụng một thời gian rất lâu dài trước đời Tần, có như thế mới có khoa đẩu văn, khoa đẩu thư, khoa đẩu triện; cũng chính vì vậy sách mới mô tả cái đặc sắc là đầu thô đuôi tế, nếu không phải là một loại chữ cụ thể thì cơ sở nào mà giải thích như vậy, như nếu ta chưa bao giờ thấy con voi thì làm sao ta ghi là loài thú có vòi dài, tai lớn được; đồng thời cũng với lời giải thích “Tên này xuất hiện vào đời Hán và về sau (203 SCN). Tới đời Đường dần ít xuất hiện” Thông tin này cho ta biết đến đời nhà Hán cái tên khoa đẩu mới xuất hiện về sau mất luôn. Vì sao cái tên chữ Khoa đẩu lại xuất hiện vào nhà Hán mà lại có cả văn, thư, triện, đơn giản là vì chữ khoa đẩu đó được dùng phổ biến trước đó, cụ thể là nhà Chu, vì nó là một thành tựu vĩ đại của dân tộc khác nên khi các thế lực du mục chiếm lấy Trung Nguyên, bên cạnh việc chiếm đất đai, họ phải làm cái công việc là cướp tác quyền về dịch học và chữ viết. Tần Thủy Hoàng thì có chuyện sai Lý Tư cải sửa đại triện của nhà Tần thành tiểu triện. Một triều đại chỉ kéo dài 15 năm với những biến động kinh hoàng liệu có làm ngay chữ đại triện rồi sai Lý Tư cải sửa thành tiểu triện không? Theo tôi đây là một lối ăn gian lịch sử, chiếm khống bằng mệnh lệnh mà thôi. Tiếp đến nhà Hán cũng với tâm trạng ấy nên cũng bằng mọi cách đưa cái tên khoa đẩu thành một truyền thuyết, nhưng con chữ thì vẫn hiện hành với cái tên chữ Hán đấy thôi, chẳng phải bổng dưng mà nó còn được gọi là chữ Nho, theo tôi âm Nho là một phái âm của âm Nhã trong nhã ngữ như chính sách vở Trung Hoa ghi lại mà tôi sẽ trình bày tiếp sau. Ta hãy tiếp tục tìm hiểu về chữ Khoa đẩu này.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5380
Registration date : 01/04/2011

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Thu 17 May 2018, 09:49

Nguồn gốc chữ Khoa Đẩu và hai chữ Khoa Đẩu

*Viên Như*

(tiếp theo)


Tự điển Khang Hy giải thích:

《唐韻》《集韻》《韻會》苦禾切,音科。蝌蚪。本作科。《爾雅·釋魚》科斗,活東。《疏》蝦蟇子。此蟲一名科斗,一名活東,頭圓大而尾細,古文似之,故孔安國皆云科斗文字是也。《本草》一名懸針,一名水仙子。《李時珍曰》蝌蚪,狀如河豚,頭圓,身上靑黑色,始出有尾無足,稍大則足生尾脫,治疥瘡,又可染鬚髮。《爾雅翼》月大盡生前兩足,月小盡生後兩足。

“Đường vận” “Tập vận” “Vận hội” Khổ hòa thiết, âm khoa. Khoa đẩu. Bổn tác khoa. (Nhĩ nhã. Thích ngư) Khoa đẩu, hoạt đông. (Sớ) Hàm mô tử. Thử trùng nhất danh khoa đẩu, nhất danh hoạt đông, đầu viên đại nhi vĩ tế, cổ văn tợ chi, cố Khổng An Quốc giai vân khoa đẩu văn tự thị giả. (Bổn thảo) Nhất danh huyền châm. Nhất danh thủy tiên tử.《Lý Thời Trân viết》Khoa đẩu, trạng như hà độn, đầu viên, thân thượng thanh hắc sắc. thỉ xuất hữu vĩ vô túc, sao đại tắc túc sanh vĩ thoát, trị giới sang. Hữu khả lương tu phát ( Nhĩ nhả dực) Nguyệt đại tận sanh tiền lưỡng túc, nguyệt tiểu tận sanh hậu lưỡng túc.

“Đường vận” “Tập vận” “Vận hội” đọc là khoa, vốn viết là 科 (Nhĩ nhã. Thích ngư). Khoa đẩu, hoạt đông. (Sớ) Con của con ếch. Loài này còn có tên là Khoa đẩu, hoạt đông, đầu tròn lớn mà đuôi nhỏ. Cổ văn cũng nói như vậy. Vì vậy Khổng An Quốc cho rằng chữ khoa đẩu là từ đó. (Mộc thảo). Có tên là Huyền châm hay Thủy tiên tử. (Lý Thời Trân nói) Khoa đẩu, giống như lợn con, đầu tròn, thân màu xanh đen. Ban đầu mới sinh chỉ có đuôi, không chân, sau lớn mọc chân, đuôi rụng, trị ghẻ lở. Có thể dưỡng râu tóc. (Nhĩ nhã dực) Đầu tháng sinh hai chân trước, cuối tháng sinh hai chân sau.

Với những lời giải thích trên, ngoài ý nghĩa là con nòng nọc, ta biết nó còn có tên khác, như: Hoạt đông活東- Thủy tiên tử水仙子-  Huyền châm懸針. Ngoài ra Từ ngữ giải thích tự điển còn cho tên Khoa Tử 蝌子.Vì sao nó có các tên đó, ta hãy tìm hiểu, những giải thích sau là theo cách hiểu của tôi.

1.1. 活東 HOẠT ĐÔNG: 活: Còn sống – Có sống – Đang sống. Như: Hoạt động, sanh hoạt, sống động. 東: Hướng đông – Người chủ. Như : Phòng đông 房東  Chủ nhà. Cổ đông 股東– Người góp phần.

  Trong ngữ cảnh đã cho trên, theo tôi Hoạt đông活東có nghĩa hoạt động ở hướng đông. Hướng đông thuộc dương –động, hướng tây thuộc âm tĩnh, con nòng nọc đầu tròn – Âm – Tĩnh, đuôi dài – Dương – Động, vì nòng nọc chỉ có cái đuôi hoạt động mà thôi, lý tính này tương hợp với hướng đông của trục hoành trong sơ đồ vũ trụ của dịch học, cụ thể đây là hình ảnh con nòng nọc theo trục hoành. (Xem hình minh họa).

  1.2. 水仙子 THỦY TIÊN TỬ: Thủy là nước. Tiên là người cõi trên. Tử là con. (Xem hình minh họa).

  Theo Hà Đồ, Thủy 水thuộc hướng bắc, quái Khảm – Trung nam (Lạc Long Quân). Tiên 仙cũng là Sơn山, là người ở trên núi hay phương nam, quái Ly – Trung nữ (Âu Cơ). Như vậy Thủy tiên tử là con của phương Bắc Nam hay trục tung của Hà Đồ. Thủy tiên chỉ là cách nói khác của Con Rồng (Bắc) cháu Tiên (Nam) mà thôi. Như vậy Thủy tiên tử hay Khoa đẩu chính là đứa con của phương nam, cụ thể là người Việt. Vì vậy mới có bức tranh Cóc kiện Trê.

  1.3. 懸針 Huyền Châm. Huyền là treo lơ lững – Chưa quyết được. Châm là Kim.

  Với các nghĩa cho trên thật khó có thể dịch nghĩa hai chữ Huyền châm. Tuy nhiên, nếu ta căn cứ vào hình ảnh con nòng nọc, ta biết Huyền là đầu, Châm là đuôi. Đầu thì tròn, đuôi thì nhỏ dài, như thế ta có thể hiểu rằng Huyền ở đây là tròn, thuộc âm[2], còn Châm thì thuộc dương, Huyền châm là kim treo ngược, như vậy có nghĩa là trên âm dưới dương tức Khôn Càn hay Lạc thư, thuộc Thái cực, phương nam, hay hình ảnh con nòng nọc theo trục tung. (Xem hình minh họa).


Chữ Khoa đẩu Khoa-d11


Ngoài khoa đẩu văn, thư, triện, sách cổ cho biết còn có khoa đẩu điểu tích, như trang baike.baidu.com viết.  

蝌斗鸟迹(蝌斗鸟迹)指古文字。借指古雅的书法。 清 侯方域 《重修颜鲁公碑亭记》:“及其骂贼而死,从容就义,视吾之头颅身躯皆其所不爱也,而何爱此蝌蚪鸟迹之遗哉!”参见“蝌蚪书”。

  Khoa đẩu điểu tích, chỉ cổ văn tự, tá chỉ cổ nhã đích thư pháp. Thanh hầu phương vực. (Trùng tu Nhan Lỗ Công bi đình kí) : « Cập kì mạ tặc nhi tử, tùng dung tựu nghĩa, thị ngô chi đầu lô thân khu giai kỳ sở bất ái dã, nhi hà ái thử khoa đẩu điểu tích chi di tai! ». Tham kiến « Khoa đẩu thư ».

Tạm dịch:

 Chữ nòng nọc dấu chân chim, chỉ loại văn tự thời xưa, mượn để chỉ cách viết chữ cổ nhã (nhã ngữ). (Chữ) mảnh mà vuông vức[1]. Bia trùng tu Nhan Lỗ Công viết: Đến khi mắng nhiếc cho chết, may ra mới hiểu, Ôi ! cái thân mình đây sao không yêu mến, thế mà lại thương tiếc chi cái chữ nòng nọc chân chim từ xưa còn lại.

Với giải thích này, ta biết chữ khoa đẩu còn gọi là khoa đẩu chân chim, đó là chỉ chữ cổ nhã ngữ, như đã nói trên, như vậy âm [nho] là phái âm của [nhã] mà tôi đề nghị trên là có cơ sở; đồng thời qua giải thích này ta biết loại chữ ấy có kết cấu hình vuông, về sau gọi là phương tự, cũng trong giải thích này ta biết ngày ấy chữ khoa đẩu rất quan trọng đối với một số người như giải thích trên viết « Thân mình không thương mà lại thương chi cái chữ khoa đẩu chân chim từ ngàn xưa còn lại ». Rõ ràng với câu này ta biết chữ khoa đẩu chân chim đã trở thành văn hóa cốt lõi của một dân tộc và đã ăn sâu vào lòng người đến nỗi khi mất đi người ta thương tiếc hơn cả thân mình.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5380
Registration date : 01/04/2011

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Fri 18 May 2018, 10:34

Nguồn gốc chữ Khoa Đẩu và hai chữ Khoa Đẩu

*Viên Như*

(tiếp theo)


Như cổ thư cho biết chữ khoa đẩu là chữ thời tiên Tần, tức là nhà Chu, giải thích của «Từ ngữ giải thích » trên zdic.net cho biết điều đó.

周代的古文字。上古筆墨未發明前,以竹挺點漆文字於書竹上,竹硬漆膩,文字之體乃頭粗尾細,狀似蝌蚪,故名.

Chu đại đích cổ văn tự. Thượng cổ bút mặc vị phát minh tiền. Dĩ trúc đĩnh điểm tất văn tự ư thư trúc thượng, trúc ngạnh tất nị, văn tự chi thể nãi đầu thô vĩ tế, trạng tợ khoa đẩu, cố danh.

Tạm dịch:

Văn tự cổ của nhà Chu. Thời chưa có phát minh ra bút mực, lấy tre vạch thẳng dấu đen thành văn tự lên trên thân tre cứng láng. Là loại chữ viết đầu to đuôi nhỏ, tợ như nòng nọc nên có tên ấy.

Với trích dẫn trên lại càng chứng minh rằng chữ khoa đẩu là một loại chữ có thật, nó liên quan đến nhà Chu, xuất phát từ ban sơ là chữ chân chim (điểu tích) của người nói tiếng nhã ngữ (có thể là người Lạc Việt); đồng thời nó chính là chữ vuông vức (phương vực). Ta có bằng chứng liên quan đến các thông tin này, đó là bia Vũ Vương.

Đây là nội dung của bia Vũ Vương, một tấm bia tương truyền là của vua đầu tiên của nhà Chu của Trung Hoa, nhưng tấm bia này được tìm thấy ở Hồ Nam ngày nay, một địa chỉ tương đồng với vùng đất mà truyện Họ Hồng Bàng đã mô tả. Tấm bia gồm 77 chữ, nội dung văn bia đã được Dương Thận đời Minh đọc thành văn như sau:


Chữ Khoa đẩu Khoa-d12


明代杨慎曾撰禹王碑释文:“承帝曰咨,翼輔佐卿。洲諸與登,鳥獸之門。参身洪流,而明發爾興。久旅忘家,宿岳麓庭。智營形折,心罔弗辰。往求平定,華岳泰衡。宗疏事裒,勞餘伸神。郁塞昏徙。南渎愆亨。衣制食备,萬国其寜,竄舞永奔。

Minh đại Dương Thận tăng soạn Vũ Vương bia thích văn:

“Thừa đế viết tư, dực phụ tá khanh, châu chư dữ đăng, điểu thú chi môn. Tham thân hồng lưu, nhi minh phát nễ hứng. Cửu tộc vong gia, túc Nhạc lộc đình. Trí doanh hình chiết, tâm vọng phất thời. Vãng cầu bình định, hóa Nhạc Thái hoành. Tông sơ sự bật, lao dư thân thần. Úc tái hôn tỷ. Nam độc khiên hanh. Y chế thực bị, vạn quốc kỳ ninh, soán vũ vĩnh bôn.”

Xin tạm hiểu và dịch như sau:

Dương Thận đời nhà Minh đã đọc thành văn bia Vũ Vương như sau:

Theo lời cha dạy, những người phụ tá, các nơi đều đến, chổ bàn chuyện lớn. Đã đem thân vào việc phát triển như những gì mà ta đã nói, (Nay)mỗi người mỗi ngã, trú tại chân núi Nhạc,(giờ đây) trí rộng mà lại ích kỷ, tâm nghĩ nhiều mối chẳng hợp thời. Nay muốn an ổn, làm cho dãy núi Thái được thịnh vượng, họ hàng thông cảm, mọi việc (mâu thuẩn) giảm đi, đã có đất đai che chở để lao động thì đâu có chuyện buồn bả âm thầm ra đi. Những phiền nhiễu, thù hận của người Nam được giải quyết, ai cũng đủ cơm ăn, áo mặc, nơi nào cũng thế thì chuyện tranh chấp sẽ không còn.

Ta biết nhà Chu (1046 –  221 TCN) tiếp sau nhà Thương, trị vì Trung quốc 800 năm, thế mà bia Vũ Vương, người sáng lập nhà Chu lại nằm ở Hồ Nam, một vùng đất ở bờ nam sông Dương Tử, cái nôi văn hóa của người Lạc Việt, với thông tin này ta có thể tin rằng nhà Chu là người Lạc Việt. Một thông tin khác củng cố cho khẳng định này, đó là trường hợp Võ Tắc Thiên, sau khi lên ngôi, bà đã đổi tên triều đại thành Vũ Chu, lập đền thờ Văn Vương, lấy hiệu là Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (越古金輪聖神皇帝). Sau đổi thành Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (慈氏越古金輪聖神皇帝). Lưu ý rằng chữ Việt 越 này là chữ Việt trong Lạc Việt 雒 越.

Trong văn bia này có cụm từ “Điểu thú chi môn” ở đây ta biết nghĩa của hai từ điểu thú chính là chữ nghĩa, điểu thú chi môn có nghĩa là nơi có chữ nghĩa hay là nơi những người có học làm việc, tương tự như triều đình về sau. Cụm từ này liên quan đến cụm từ “Khoa đẩu điểu tích” hay nó chỉ là cách gọi khác của từ “điểu thú” mà thôi. Như vậy chữ Khoa đẩu chính là chữ “điểu thú” của nhà Chu; đồng thời chính trong văn bản này với câu “Nam độc khiên vưu -南渎愆亨” đã khẳng định rằng Vũ Vương là người Nam hay người Lạc Việt vậy, có thể vì điều này mà nhiều bản chép tay trên liên lưới người ta bỏ câu này.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5380
Registration date : 01/04/2011

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Thu 12 Aug 2021, 08:51

Nguồn gốc chữ Khoa Đẩu và hai chữ Khoa Đẩu

*Viên Như*

(tiếp theo)


II. Nguồn gốc chữ viết của người Việt.

Trước giờ ta thường nghe rằng người Việt chưa từng có chữ viết, về sau người phương bắc sang đô hộ rồi dạy cho ta, sau nhiều ngàn năm bị tuyên truyền, tư tưởng này hầu như trở thành cố hữu. Tuy nhiên gần đây các nhà nghiên cứu cho rằng nước ta đã từng có chữ viết, loại chữ ấy gọi là Khoa đẩu tức là Nòng nọc, suy nghĩ đó bắt đầu từ câu chuyện được ghi lại trong Hậu Hán Thư và được các nhà sử học Việt Nam ghi lại trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục như sau “Đời Đào Đường (陶唐), phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (龜歴, lịch rùa)[1], từ đó người ta tập trung việc nghiên cứu, tìm kiếm chữ viết của người Việt căn cứ vào khái niệm này. Khái niệm khoa đẩu ngoài một số người căn cứ  vào sách vở của phương bắc cho rằng đó chỉ là truyền thuyết mà thôi, còn một số khác tin rằng chữ khoa đẩu có thật, nhưng khổ nỗi họ lại nghĩ chữ ấy hay tự dạng ấy giống con nòng nọc, từ đó căn cứ vào hình dạng của con nòng nọc để tìm kiếm. Dĩ nhiên, ở buổi ban đầu quả thật hình ảnh của con nòng nọc có ảnh hưởng tới cách thể hiện con chữ, như bia Vũ Vương là một minh chứng, tuy nhiên theo đà phát triển, với hai hình thể tròn, dài thì làm sao mà đáp ứng được cho hàng ngàn sự vật được, nhất là để diễn tả những khái niệm trừu tường thì biết làm sao, trước nhu cầu đó, khái niệm nòng nọc đã thoát ra ngoài hình tượng của nó, chỉ còn lại hai khái niệm âm dương mà thôi. Tuy nhiên ngày nay ở nước Việt có người cứ căn cứ vào hình thể của con nòng nọc để đi tìm con chữ,  kết quả đi vào bế tắc hay nhận nhầm loại chữ khác là của mình, cho dù bản thân con chữ đó cũng chẳng có hình dáng gì có thể hình dung đến con nòng nọc, nhưng họ vẫn tuyên bố đấy là chữ khoa đẩu hay Hỏa tự. Có thể lý do cho việc cố gán cho loại chữ này nọ tại nước Việt là vì sau nhiều năm tìm kiếm chữ khoa đẩu theo hình ảnh mà nhiều người suy nghĩ, họ thấy rằng chẳng có loại chữ nào giống nòng nọc cả, may ra có loại chữ của người Thái mà Vương Duy Trinh đã công bố trong sách Thanh Hóa Quan Phong có gì đó cổ sơ nên người ta nghĩ rằng có thể nó chính là chữ khoa đẩu; bên cạnh đó người ta nghĩ rằng văn hóa người Việt là văn hóa bản địa cho nên việc tìm kiếm chữ Khoa đẩu ở phương Bắc là không khả thi, cho dù cái tên khoa đẩu được  biết ngày nay lại được viết bằng chữ Hán. Với cách nghĩ như vậy thì xem ra rất khó tìm ra nguồn gốc của chữ khoa đẩu và nó có thực sự tồn tại ở nước Việt hay không?

1.   Dấu tích Nòng nọc mà người Lạc Việt dùng để tượng trưng cho Âm Dương.

Gần đây, năm 2011 Hội Lạc Việt ở Quảng Tây, Trung Quốc công bố các hình ảnh về dỉ chỉ khảo cổ ở Cảm Tang, bức ảnh bên dưới cho thấy rằng hai con nòng nọc đen trắng đã được người Lạc Việt khắc trên đá ở tế đàn Cảm Tang, đây là bằng chứng chắc thật cho thấy rằng chuyện sử dụng hình ảnh của Nòng nọc để tượng trưng cho hai khái niệm âm dương trong dịch học là hiển nhiên; đồng thời qua đây cũng nói lên rằng chữ Khoa đẩu là một loại chữ liên quan đến dịch học; đồng thời qua bức ảnh này, ta thấy hình ảnh con nòng nọc đen ở trên, nòng nọc trắng ở dưới, tức là Âm Dương hay quẻ Thái tượng trưng cho Lạc thư, có nghĩa là Lạc thư – Hậu thiên bát quái đã được thành lập từ khi người Lạc Việt còn sống trên sông Dương Tử, có thể vì vậy mà trong bia Vũ Vương mới có câu “Cửu tộc vong gia” cách dùng từ “cửu tộc” cho thấy khái niệm này đến từ khái niệm cửu cung của Lạc thư – Hậu thiên bát quái; cũng trong bức ảnh này, với hai con nòng nọc đen trắng, người xưa đã cách điệu nó thành hình ảnh con chim Cốc, một loài diệc, tượng trưng cho Thái cực mà tiền nhân nước Việt đã viết trong Hồng Bàng Thị, một câu chuyện lấy vùng đất nơi có tế đàn Cảm Tang làm trung tâm. Hồng là con chim Hồng hộc hay chính là chim cốc, tức con Còng cộc.


Chữ Khoa đẩu Khoa-d10


Chữ Khoa đẩu Khoa-d11



2.    Nguồn gốc chữ Khoa đẩu theo dân gian Việt Nam.

Dịch học là đỉnh cao của triết lý âm dương, đại diện cho nó là nòng nọc, chính vì vậy mà ở nước Việt, từ sau khi mất đi tác quyền về dịch học và chữ vuông, người Việt xưa đã làm ra bức tranh với truyện ngụ ngôn Cóc kiện Trê, nội dụng chủ yếu là Trê đã bắt con của Cóc, tức nòng nọc, vì trê cho rằng đó là con của mình, do Trê và Cóc sống chung khu vực, cuối cùng Trê, với tố chất ranh mãnh, đã thắng kiện một cách phi pháp, điều này diễn ra như thực tế. Trong bức tranh người xưa ghi rõ trên lưng Trê hai chữ Dịch lý役里, chữ Dịch 役 này vừa là đồng âm với chữ 易và 亦; đồng thời bên trong chữ 役này còn chứa một ẩn ngữ khác mà theo tôi đó chính là điều người xưa muốn nói, đó là bộ Xích 彳 trong chữ này vốn có âm Diệc hay Dịch, 彳,步也。彳亦聲, ý nói là dịch học ấy của người Việt, trường hợp này cũng như trường hợp chữ Hà 河trong Hà đồ 河圖. Tất nhiên chẳng có Cóc, Trê hay nòng nọc nào cả mà chỉ có người Nam và Bắc và văn hóa dịch và chữ khoa đẩu mà thôi. Như vậy Trê đã chiếm đoạt dịch học và chữ khoa đẩu, tức cái văn hóa mà hàng ngàn năm qua họ tuyên bố với thế giới đó là văn hóa đặc sắc của họ


Chữ Khoa đẩu Khoa-d12


Ngoài ra người Việt còn minh định rõ về chữ Khoa đẩu trong bức tranh Thầy đồ Cóc hay Lão Oa giảng đọc. Thầy Cóc, học trò là Ếch, Nhái, Chão chàng thì chữ tất nhiên là Nòng nọc chứ còn loại chữ nào nữa. Nếu nhìn từ góc độ lịch sử thì đây là những kiệt tác của người Việt, bởi vì trong thầm lặng người Việt đã tìm mọi cách để gởi lại nguồn gốc văn hóa của dân tộc mình, khổ nỗi tiền nhân thì đau đáu nhưng hậu thế xem đây là những bức tranh trào phúng chủ yếu để mua vui mà thôi, đó là chưa kể nhiều người bình phẩm một cách tiêu cực.


Chữ Khoa đẩu Khoa-d13


Cũng theo truyền thuyết, bên cạnh chữ Khoa đẩu còn có Hỏa tự 火字, tức là chữ có hình ảnh như những ngọn lửa đang cháy. Theo tôi chữ Hỏa trong Hỏa tự là chỉ định người hay dân tộc làm ra con chữ đó chứ không phải là loại chữ được sáng tác ra lấy căn bản từ hình ảnh của ngọn lửa, bởi vì lửa thì chỉ bốc lên mà thôi, trong khi đó con chữ trên thực tế không phản ảnh một cách rõ ràng về điều này, nói khác hơn Hỏa tự cũng chính là chữ Khoa đẩu đấy thôi nhưng là chữ Khoa đẩu của thời kỳ đầu với cách viết như các chữ trên bia Vũ Vương; đồng thời với cái tên Hỏa tự, cho ta biết đó là chữ của người phương Nam hay Lạc Việt, vì theo dịch học, phương Nam  thuộc hành Hỏa.

Với những gì trình bày trên, từ những gì lưu truyền con ghi lại trong sách sử cùng những bằng chứng trên thực tế cho thấy rằng chữ Khoa đẩu là một loại chữ có thật. Tuy nhiên, có nhiều người ở Việt Nam cho rằng chuyện chữ Khoa đẩu là chuyện mộng mị, tào lao, cho đó là chữ thời tiên Tần tới đời Đường đã không còn, nên nhớ trước Tần là một triều đại nhà Chu kéo dài 800 năm, có thể nói hầu hết các quy tắc ứng xử trong triều đình đều của nhà Chu, tế xuân thu nhị kỳ cũng từ thời đó, còn viết cả Chu Dịch, chẳng lẽ ngần ấy năm nhà Chu không có chữ viết, không có chữ viết thì Chu Dịch viết bằng chữ gì, cả ngần ấy năm sao nhà Chu không đặt tên cho loại chữ đó, chỉ đến thời nhà Hán mới có chữ rồi đặt là chữ Hán chăng! với 800 năm trị vì trên khu vực Trong Nguồn và núi Thái, thế mà ngày nay sử Trung Hoa viết về thời kỳ này hết sức giới hạn, tại sao vậy? Theo tôi vì họ học của nhà Chu nhưng không muốn mình là học trò nên mới bịa ra cái chuyện chữ thần tiên. Thật ra phương Bắc muốn triệt tiêu khái niệm Khoa đẩu, nên mới bịa ra những chuyện hoang đường như thế, họ muốn xóa đi khái niệm Khoa đẩu hay Nòng nọc không gì hơn là vì nguồn gốc của loại chữ này, có nghĩa là nguồn gốc chữ Khoa đẩu hay chữ vuông không phải của họ, vì vậy sau khi đoạt được chữ Khoa đẩu rồi, một mặt họ phát huy giá trị của con chữ, mặt khác họ ra sức tiêu hủy bằng chứng về nguồn gốc của nó, đây là chuyện thường làm của kẻ chiếm đoạt tài sản người khác làm của mình, có lẽ họ tin rằng như thế là đủ để những người về sau không thể nhận ra nguồn gốc loại chữ ấy nữa. Tuy nhiên, họ quên rằng, ngoài khái niệm Nòng nọc, bản thân con chữ cũng đã mang thông điệp đó, nên chi dù cố gắng cách mấy, họ cũng khó mà che dấu được nguồn gốc của loại chữ Nòng nọc mỗi khi chủ nhân của nó đã tìm ra manh mối. Nếu người Việt học chữ của họ tại sao chữ Giác 覺, bính âm là [jiào] người Việt đọc là [Cóc] hoàn toàn tương đồng với âm Thuyết văn giải tự cho 古樂切 cổ nhạc thiết – Cạc. Sao có sự sai biệt 100% như vậy, hay vì sao con heo- Hợi 亥 nằm bên cây – Mộc 木 mà lại cho cái Hột – Hạch 核, chính họ xác nhận chữ ấy là của người Man di đấy thôi. Đơn giản là bởi vì chữ ấy của người Lạc Việt, nên chính họ đã gọi đúng cái tên mà họ đã đặt cho loại chữ mà dân tộc họ sáng tạo ra, đó là chữ Khoa đẩu – Nòng Nọc. Nòng nọc là con của Cóc, Cóc là Thái cực, thuộc Dương – Phương Nam, vì vậy chữ Nòng nọc hay Khoa đẩu là chữ của người Phương Nam hay Lạc Việt.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 5380
Registration date : 01/04/2011

Chữ Khoa đẩu Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Chữ Khoa đẩu   Chữ Khoa đẩu I_icon13Sat 14 Aug 2021, 08:51

Nguồn gốc chữ Khoa Đẩu và hai chữ Khoa Đẩu

*Viên Như*

(tiếp theo)


III. Về hai chữ Khoa đẩu.

1. Về ngữ âm của hai chữ Khoa đẩu.

Như đã nêu trước, có thể người Lạc Việt lấy Cóc tượng trưng cho Thái cực, nên các quái bị ảnh hưởng bởi âm /C/ như: Càn – Chấn – Khảm – Cấn – Khôn, trong suy nghĩ như vậy, tôi cho rằng có thể trước đây chữ Khoa – Đẩu vốn đọc là Khoa Chẩu. Cụ thể ở đây ta có Kh –OA – Ch – ẨU. Oa là con Ếch, Chẩu là con Chẩu chàng, đồng loại với Cóc; đồng thời, vì Cóc đại diện cho Thái cực, nên cả hai chữ Khoa chẩu đều có âm /k/. Điều này cũng tương tự như hai chữ Âm Dương hay Ễnh Ương mà tôi đã trình bày tại phần hai.

2. Vấn đề tự dạng hai chữ Khoa đẩu – 蝌 蚪.

Như đã nói trên, người phương Bắc nhận thức rằng nếu còn cho phổ biến khái niệm Khoa đẩu, thì rồi ra người Việt sẽ nhận ra rằng đây là loại chữ của dân tộc họ, vấn đề còn nghiêm trọng hơn là hóa ra phương Bắc chỉ là học trò của người phương Nam mà thôi; đồng thời cho thấy rằng, cả một nền văn hóa mà họ đang hãnh diện, thực ra chỉ là sự tước đoạt của kẻ khác. Tuy nhiên, một mặt họ tìm cách thủ tiêu khái niệm Khoa đẩu, mặt khác, họ lại ra sức phát huy loại chữ đó, chính vì vậy, ngay tự dạng và ý nghĩa của hai từ Khoa đẩu 蝌 蚪 đã nói lên điều ấy, có nghĩa là hai chữ Khoa đẩu 蝌蚪 ngày nay của Trung Hoa và tự điển đang sử dụng, theo tôi, không phải là con chữ ban đầu của nó. Chúng ta hãy tìm hiểu về vấn đề này.

Trước tiên ta hãy tìm hiểu xem người Trung Hoa lấy khái niệm “Khoa đẩu” ấy từ đâu? Cách ghi lại khái niệm ấy bằng con chữ biểu ý như thế

2.1. Phân tích hai chữ 蝌蚪:

– Chữ Khoa 蝌 gồm: Trùng 虫+ Khoa 科1. khoa, bộ môn. 2. xử tội, kết án. 3. khoa cử, khoa thi. 4. để đầu trần. 5. phần trong một vở tuồng .

– Chữ Đẩu 蚪 gồm: Trùng 虫+ Đẩu 斗. Bé nhỏ.

Cả hai chữ này đều là chữ hình thanh, thuộc bộ Trùng 虫, như thế có nghĩa là chữ Khoa 科 và Đẩu 斗 đã có trước và có nghĩa riêng, hai chữ Khoa đẩu蝌蚪còn viết là 蝌斗 chứng minh cho điều ấy. Nếu căn cứ vào giải thích trên “Đầu to đuôi nhỏ -头粗尾细” thì chữ Khoa 科 này không đáp ứng được nghĩa “To, lớn”, vì nó không có nghĩa này. Nếu phương Bắc là chủ nhân của loại chữ này sao không biết điều này!?

2.2. Như đã trình bày trước, với tinh thần áp dụng triết lý Dịch vào việc sáng tạo ra những con chữ, trong đó có chữ cóc覺, những con chữ này được sáng tác ra từ thuở ban đầu, nên chưa có khái niệm部 bộ, vốn dùng để hệ thống hóa chữ viết sau này. Như vậy nếu người xưa đã tạo ra được chữ Cóc覺, lẽ nào hình ảnh con Nòng Nọc lại không được người Việt ghi lại bằng con chữ độc lập. Nói như thế có nghĩa là tôi cho rằng sự thật người Lạc Việt đã thể hiện khái niệm Nòng Nọc bằng con chữ cụ thể, cũng có âm là Khoa đẩu. Hai chữ đó là: 夸斗.

3. Về dịch lý trong tự dạng 夸 斗:

3.1. Chữ Khoa 夸. Trên chữ Đại 大to lớn, gồm: Chữ Nhất 一Dương + nhân 人Trung gian. (Thiên –Nhân -Địa), dưới chữ Khuy 亏- Âm. Dương Âm hay Càn Khôn, tức bản thể thuộc Âm – NÒNG. Đặc biệt trong chữ này, người Việt đã gởi vào đây một thông điệp, rằng chữ này là của người Việt, bằng cách ghi vào đây chữ Việt 亏, tức chữ Việt 粤 . 粤. 亏也. Việt: Khuy dã. Việt: (Chữ)Khuy vậy.

3.2. Chữ Đẩu 斗. Trên là hai chấm – (Nhị nghi) – Âm, có nghĩa là bé nhỏ, dưới chữ Thập十 – Dương. Trên Âm, dưới Dương hay trái Âm phải Dương, tức Thái cực thuộc Dương – NỌC.

3.3. Vì hai chữ Khoa đẩu là để chỉ một con vật, nhưng chứa đựng được cả Âm lẫn Dương, nên người xưa đã viết trong chữ Khoa đã có chữ Đẩu, cụ thể là 𡗴. Có thể ban đầu nó chỉ được thể hiện bằng một âm và một chữ thôi, chữ đó là 𡗴 đọc là Khoa, gồm: Trên chữ Đại 大 là lớn – Âm – Nòng, dưới chữ Đẩu 斗 – Nhỏ – Dương – Nọc. Âm Dương, tức Thái cực. Theo tôi, người Việt sáng tác chữ này theo tư tưởng dịch học, nhưng rồi có lẽ họ thấy cần phải đóng dấu người Việt vào đó, nên đã đưa chữ Việt 亏 vào chữ Khoa, thành chữ Khoa 夸; đồng thời tách ra làm hai, thành Khoa đẩu 夸斗, nhằm mục đích vẫn giữ được khái niệm Âm Dương hay Thái cực, như chữ Khoa 𡗴, vì vậy hai chữ Khoa đẩu 夸斗 cũng mang lý tính đó, Khoa 夸 là Lớn – Âm – Nòng, Đẩu 斗- Nhỏ – Nọc – Dương, Âm Dương tức Thái cực. Chữ của người Lạc Việt tất phải là chữ mang tính tích cực hay động, nói theo dịch là Thái cực, như đã trình bày trong phần chữ Việt 越.

4. So sánh hai chữ Khoa đẩu hiện nay 蝌蚪 và 夸斗.

Với những gì phân tích trên, so sánh với hai chữ Khoa đẩu 夸斗 và 蝌蚪 người Trung Hoa đang sử dụng:

4.1. Hoặc người Trung Hoa biết hai chữ 夸斗 này có nghĩa là Nòng Nọc, nhưng vì nguồn gốc của nó mà phải viết khác đi chăng?

4.2. Hoặc người Trung Hoa lúc đó, không biết hai chữ này 夸斗 có nghĩa là Khoa đẩu, nhưng chỉ nghe người ta nói rằng loại chữ mà họ chiếm được là chữ Khoa đẩu, từ đó ghi lại thành 蝌 蚪.

Rõ ràng chữ Vuông, trong đó có hai chữ 夸斗, đã hình thành rất lâu trước khi người Hoa hạ chiếm hữu nó từ người Việt, nên mới có chuyện ký âm hai tiếng Khoa đẩu theo lối bộ trùng như trên. Ta có thể thấy điều này trong Thuyết văn giải của Hứa Thận “亦作“ 蝌斗 ”có nghĩa là chữ đẩu 斗 vốn không có bộ trùng虫, như thế ta thấy chữ Khoa ban đầu vốn cũng không có bộ trùng虫. Tất nhiên nếu như thế thì cũng có nghĩa là chữ Khoa vốn không phải chữ Khoa 科 này, vì nó vốn là một chữ có nghĩa riêng biệt.

Theo tôi điều 4.2 là hợp lý, vì nếu biết rằng hai chữ 夸斗 chỉ con Nòng Nọc, thì họ chỉ cần thêm bộ Trùng虫vào thế là xong, mất dấu vết ban đầu. Sao họ không làm? Chứng tỏ rằng họ không biết khái niệm Khoa đẩu đã cụ thể bằng hai chữ夸斗 nhưng chắc chắn họ biết rằng loại chữ họ đang kế thừa trước đây gọi là chữ Vuông hay Khoa đẩu. Điều này cho thấy rằng, vì họ không phải là chủ nhân của loại chữ Vuông, nên đã làm mọi cách để khái niệm này đi vào quên lãng; đồng thời sáng tác ra hai chữ Khoa đẩu khác, nhằm tránh dấu vết của người Việt. Tuy nhiên với những gì được giải thích về chữ Khoa đẩu trong Thuyết văn giải tự và Khang Hy và những gì đã chứng minh trên cho thấy rằng chữ Khoa đẩu chính là chữ Vuông, hay ngày nay ta gọi là chữ Hán.

Chính vì 夸斗 Khoa đẩu liên quan đến vấn đề con chữ của người Việt, nên trong câu chuyện Chữ Đồng Tử mới đề cập đến cái khố, cái khố này theo tôi, được viết bằng chữ 袴, chứ không phải chữ 褲, như câu chuyện đã thể hiện. Đây là bằng chứng cho thấy sự tam sao thất bổn, điều này xảy ra không phải chỉ với chữ này, mà ngay trong tranh “Lão Oa giảng đọc” người ta đã nhầm lẫn giữa chữ Oa 蛙 là Cóc đực và Oa là 蜗 Cóc cái. Tất nhiên điều ấy có thể thông cảm được, vì trải qua biết bao thăng trầm, vậy mà người xưa đã gìn giữ và lưu truyền đến ngày nay, thì với những chi tiết nhỏ như vậy, nhầm lẫn là chuyện khó tránh khỏi.

5. Tại sao lại đặt tên loại chữ này là Khoa đẩu – Nòng nọc.

Như vậy là tôi đã trình bày về nguồn gốc của chữ Khoa đẩu, một vấn đề cuối cùng nữa, đó là tại sao người xưa lại đặt tên loại chữ đó là Khoa đẩu?

Như đã trình bày trước, người Việt cổ lấy con cóc tượng trưng cho dương, nhái tượng trưng cho âm, vậy tại sao họ không lấy tên hai con này đặt tên cho loại chữ mà họ sáng tạo ra mà lại đặt tên là chữ Nòng nọc. Đây là một câu hỏi cần có câu trả lời.

Người xưa nói “văn dĩ tải đạo 文以載道” chữ nghĩa chuyên chở đạo lý của con người, trong dịch học thì đạo chính là âm dương nhất thể vậy, khái niệm này được thể hiện qua câu “nhất âm nhất dương chi vị đạo”. Với mục đích như vậy, nếu lấy con cóc đặt tên thì chỉ có phần dương, còn nếu lấy nhái đặt tên thì chỉ có phần âm, như vậy không phù hợp với mục đích của Văn 文. Ngược lại con nòng nọc thì hình thể của nó thể hiện được cả hai khái niệm, đầu tròn – âm, đuôi dài – dương. Đầu không nhúc nhích được – tĩnh, đuôi dùng để bơi – động, cả hai không thể tách rời nhau được; đồng thời nó là nguồn gốc sinh ra cóc, nhái, nói cách khác nòng nọc có tiêu chí của bản thể – Hà đồ và cóc nhái có tiêu chí của Lạc thư. Với các tiêu chí này, con nòng nọc đáp ứng được tiêu chí câu “nhất âm nhất dương chi vị đạo”, chính vì vậy mà người xưa mới đặt tên loại chữ này là Khoa đẩu – Nòng nọc.

IV Kết.


Tóm lại chữ Khoa đẩu là một loại chữ của người Lạc Việt, không phải là chữ thần tiên, nó là một loại chữ có thật, nó được hình thành từ khái niệm Âm – Nòng và Dương – Nọc, hai khái niệm này không những thể hiện một cách trừu tượng, mà còn được biểu thị bằng hình ảnh cụ thể, đó là con nòng nọc, hình ảnh tại di chỉ khảo cổ ở Cảm Tang, Quảng Tây, Trung quốc, là một minh chứng. Chữ Nòng nọc ấy chẳng biến mất đi đâu cả, nó chỉ thay tên đổi họ mà thôi, nó chính là chữ Hán hiện nay. Câu chuyện chữ Khoa đẩu là chữ thần tiên, chỉ là thủ thuật của kẻ cưỡng đoạt, nhằm che dấu nguồn gốc loại chữ vốn không phải của mình mà thôi, chính vì vậy mà cho đến nay, ngoài khái niệm phương tự ra, họ không có một tài liệu nào phân tích, cho thấy một cách cụ thể về cách sáng tạo tự dạng trong chữ Hán theo triết lý dịch học, trong khi đó, họ lại cho rằng dịch học là sản phẩm văn hóa tuyệt vời của dân tộc họ. Cũng chính vì vậy, ngay cả hai chữ Khoa đẩu hiện nay họ đang sử dụng, cũng không phải là hai chữ được sáng tác từ thời kỳ đầu của Dịch học (không có bộ) mà do họ tự ghi lại, có thể thông qua những kẻ thuật lại, nên các con chữ ấy chỉ là chữ hài thanh, một phương pháp sáng tạo chữ, hình thành sau khi chữ tượng hình, biểu ý đã đạt đến số lượng bão hòa.

_______________________________

Chú thích:

1. 汉字的故事 – 汉文字的祖先仓颉和造字的传说 – 郁乃尧.
2. Ta thấy người Việt xưa đã dùng chữ Huyền để chỉ lý tính Âm, như Lưu Huyền trong câu chuyện Tân Lang (Trầu cau) hay, Ứng Huyền trong truyện Việt Tỉnh Cương (Giếng Việt)
3. 方域 – Phương vức – Vuông vức, rõ ràng ngày trước ta đọc chữ 方 này là vuông, đây là chữ của người Việt, nếu là chữ Hán cớ sao ta không đọc phương vức.
4. “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, Tiền biên, quyển 1 .
5. luoyue.net/newsimg/s0e67729f-2dfc-4cb6-97f3-6c5f978ba7bf.JPG

[/i]
Về Đầu Trang Go down
 
Chữ Khoa đẩu
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Lịch Sử-