IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Today at 08:13

MẮT NÂU VỀ CHƯA by HanSiNguyen Today at 05:32

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Today at 04:26

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Yesterday at 21:10

SỨc sống cuối đời by buixuanphuong09 Yesterday at 20:44

Thơ Tàn Thu by Tàn Thu Yesterday at 00:35

BỒ NHÍ KHÁC XA VỢ HIỀN by Ma Nu Mon 24 Apr 2017, 23:44

CÁM ƠN BẠN CIỆT ĐƯỜNG VÀ NẮNG XUÂN by Ma Nu Mon 24 Apr 2017, 23:33

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Mon 24 Apr 2017, 17:18

THƠ PHƯƠNG NGUYÊN by Phương Nguyên Mon 24 Apr 2017, 13:34

Thơ Bảo Trâm by Trà Mi Mon 24 Apr 2017, 08:02

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Mon 24 Apr 2017, 00:27

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Sun 23 Apr 2017, 12:11

ĐÁNH MẤT NIỀM TIN by Bảo Minh Trang Sun 23 Apr 2017, 10:19

DO MÌNH by buixuanphuong09 Sun 23 Apr 2017, 09:12

Nghiệp by Bảo Minh Trang Sun 23 Apr 2017, 07:45

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Sun 23 Apr 2017, 06:40

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Sun 23 Apr 2017, 04:59

Thơ Thái Bá Tân by Việt Đường Sat 22 Apr 2017, 15:04

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Sat 22 Apr 2017, 09:11

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by Ma Nu Fri 21 Apr 2017, 20:38

Cách gởi bài viết by baotram45 Fri 21 Apr 2017, 16:46

Nhờ Admin và kỹ thuật giúp đỡ by baotram45 Fri 21 Apr 2017, 16:25

Viếng Ức Trai Tiên Sinh by Bảo Minh Trang Fri 21 Apr 2017, 15:25

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:49

Thơ Tú_Yên - Quê Hương by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:44

Truyện thơ_Cháu của Bà by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:39

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:36

Đoản Khúc ... Giao Mùa by Thiên Hùng Fri 21 Apr 2017, 00:27

XƯỚNG - HỌA Cẩn Vũ by vancali96 Thu 20 Apr 2017, 09:24

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next
Tác giảThông điệp
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19852
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Sat 28 Nov 2015, 04:34

gì nữa đây ? :fun1:
tự dưng ông GS này lại gán cho Đông Tà thành ... nước Nhật ? :bitchitlin:
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 4352
Age : 78
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Sat 28 Nov 2015, 15:43

Shiroi đã viết:
gì nữa đây ? :fun1:
tự dưng ông GS này lại gán cho Đông Tà thành ... nước Nhật ? :bitchitlin:
 Cái óc tưởng tượng của người Tầu cũng đáng nể. Nhưng còn chuyện nhà mình thì ... Sao thầy không post tiếp Cột đồng chưa xanh???
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7168
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Wed 02 Dec 2015, 12:04

CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)

III-NHƠN VẬT TƯỢNG TRƯNG CHO CÁC NƯỚC TÂY PHƯƠNG :
TÂY ĐỘC, ÂU DƯƠNG CÔNG TỬ, DUƠNG QUÁ


Trong khi Đông Tà là một nhơn vật chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa và tượng trưng cho nước Nhựt thì Tây Độc, Âu Dương Công Tử và Dương Quá lại là những nhơn vật hoàn toàn xa lạ với nền văn hoá này và có thể xem như là những kẻ tượng trưng cho các nước Tây Phương, với Tây Độc và Âu Dương Công Tử tiêu biểu riêng cho các nước Âu Châu và Dương Quá tiêu biểu riêng cho nước Mỹ.

A. TÂY ĐỘC Và ÂU DUƠNG CÔNG TỬ TIÊU BIỂU CHO CÁC NƯỚC TÂY PHUƠNG NÓI CHUNG Và CÁC NƯỚC ÂU CHÂU NÓI RIÊNG.

1. Các dấu hiệu vật chất cho thấy rằng Tây Độc và Âu Dương Công Tử tượng trưng cho các nước Âu Châu.

Về mặt vị trí địa lý, các nước Âu Châu vốn ở phía tây Trung Quốc. Do đó, các nước mà nhơn dân có nguồn gốc chủng tộc và văn hóa ở Âu Châu được người Trung Hoa và các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa gọi chung là các nước Tây Phương.

Nhơn vật mang ngoại hiệu Tây Độc được xem là Bạch Đà Sơn Chủ, tức là chúa núi Bạch Đà, mà chữ bạch trong Hán văn lại có nghĩa là màu trắng. Mặt khác, ông ta cũng như Âu Dương Công Tử thường mặc áo trắng, các nô tỳ của họ cũng được trang phục với sắc trắng. Võ khí của Tây Độc là cây đàn tranh đúc bằng thép. Về phần Âu Dương Công Tử thì võ khí là một cây quạt bằng sắt. Theo vũ trụ quan của người Trung Hoa thì màu trắng thuộc hành kim và liên hệ đến phía tây. Việc chú cháu Tây Độc ở Bạch Đà Sơn, thường mặc áo trắng và dùng sắc trắng đề trang phục cho nô tỳ mình, đồng thời dùng một võ khí bằng thép hay sắt tức là chất thuộc kim loại, xác nhận vị tri của các nước Âu Châu ở phía Tây Trung Quốc. Ta lại có thể nhận thẩy rằng chú cháu Tây Độc họ Âu Dương, và trong danh hiệu của họ này có chữ ÂU dùng để ám chỉ Âu Châu.

2. Nếp sống của Tây Độc và Âu Dương Công Tử biểu lộ của văn hóa Âu Châu theo sự nhận xét của người Trung Hoa.

Trái với nếp sống của Trung Thần Thông và Đông Tà là một nếp sống đạo đức và chịu ảnh hưởng của Đạo Giáo nên hướng về sự thanh tĩnh vô vi, nếp sống của Tây Độc và của Âu Dương Công Tử là một nếp sống hướng về sự hưởng thụ vật chất và thiếu hẳn yếu tố đạo đức. Riêng mối liên hệ giữa Tây Độc với Âu Dương Công Tử đã là một biểu tượng của sự phản đạo đức. Kim Dung đã cho biết rằng Tây Độc vì thông dâm với chị dâu mà ngầm sát hại anh ruột mình, và Âu Dương Công Tử trên danh nghĩa là cháu gọi ông bằng chú, nhưng thật sự lại chính là con ruột của ông. Căn cứ của Tây Độc ở Bạch Đà Sơn có nhiều gái đẹp thuộc nhiều chủng tộc khác nhau. Họ được tập luyện để biết múa hát, và ngoài việc phục vụ cho thú nhục dục của chủ, họ còn được dùng làm một dụng cụ cho cuộc tranh đấu để giành địa vị bá chủ võ lâm mà Tây Độc đeo đuổi. Âu Dương Công Tử lại còn dâm dật hơn Tây Độc. Ngoài việc mua vui với các nữ tỳ đã có, ông còn đi bắt cóc thêm con gái đẹp nhà lành để thỏa mãn thú tánh. Qua tâm tánh trên đây của Tây Độc và Âu Dương Công Tử, Kim Dung đã cho thấy quan niệm của những người Trung Hoa theo truyền thống Đông Phương. Trong con mắt của những người này, đó là một nền văn hóa đặt nền tảng trên sự tự do cá nhơn và thiên về sự hưởng thụ vật chất nên có tánh cách phóng túng và đồi trụy.

Để có phương tiện ăn xài và thực hiện các kế hoạch của mình, Tây Độc đã dùng lối giết người đoạt vật để thâu thập tiền của. Căn cứ của ông ở Bạch Đà Sơn chứa nhiều vàng bạc và ngọc ngà châu báu. Ở đây, ta cần phải nhận thấy chỗ khác nhau giữa Tây Độc với Đông Tà: các bảo vật của Tây Độc toàn là loại bảo vật trân quí về mặt vật chất, trong khi Đông Tà, ngoài các bảo vật loại này, lại còn có những bảo vật trân quí về mặt tinh thần như các bức tranh đẹp, các sách hay v.v. . . Điều này không có nghĩa là các nước Tây Phương không biết thưởng thức hay không bảo trọng các bảo vật trân quí về mặt tinh thần, vì thật sự các nước ấy không thiếu các loại bảo vật đó và cũng rất trọng nó. Bởi đó, khi mô tả tài sản của Tây Độc, Kim Dung chỉ muốn nhấn mạnh trên tinh thần của người Tây Phương thiên về các quyền lợi vật chất chớ không phải đề cao đời sồng tinh thần như người các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa.

3. Con rắn, biểu tượng cho nền văn hóa Tày Phương phát xuất từ Âu Châu.

a. Sự liên hệ giữa tài nghệ của Tây Độc với con rắn.

Về mặt khả năng, tài nghệ của Tây Độc có nhiều mối liên hệ với rắn. Họ Âu Dương ở Bạch Đà Sơn vốn chuyên nuôi độc xà ác mãng. Mặt khác, sở dĩ Tây Độc có một nội công thâm hậu là vì lúc trẻ, anh em ông đã may mắn được uống huyết và ăn thịt con Bạch Long Xà là một loại rắn thần hiếm có. Sau đó, họ đã lượm được bộ NGŨ ĐỘC KỲ KINH và dựa vào đó mà luyện những công phu lợi hại. Tây Độc chuyên sử dụng nọc độc của loài rắn. Với môn Độc Xà Thần Công ông có thể cho nọc độc của mười con rắn rút vào cơ thể của ông rồi dồn vào đầu mười ngón tay. Luyện được môn này rồi thì chỉ cần phát ra sức gió của ngón tay cũng đủ làm cho kẻ địch bị thương, và nếu đầu ngón tay xỉa trúng vào kẻ địch thì kẻ địch còn bị nguy hiểm hơn là bị rắn độc cắn. Trong cây đàn tranh mà Tây Độc dùng làm võ khí, có đặt hai con rắn giả nanh sắc bén được tẩm luyện trong nọc rắn độc để ngầm hại địch thủ một cách bất ngờ. Ngoài ra, Tây Độc còn một cây xà trượng có cái nanh thép sắc bén như cái nanh trong cây đàn tranh, đồng thời có hai con rắn độc quấn vào và thay phiên nhau, hễ một con bò lên thì một con bò xuống. Tây Độc cũng có luyện tập rắn để lập thành xà trận, và dùng một số nam nô đề điều khiển bầy rắn của mình. Sau hết, để đối phó với các tay cao thủ võ lâm lợi hại, ông đã ngấm sáng tạo một môn võ đặc biệt là Kim Xà Quyền.

Theo truyền thuyết các nước Tây Phương, con rồng không phải là một thần vật được tôn trọng như con rồng của truyền thuyết Trung Hoa. Con rồng Trung Hoa được xem như là một trong tứ linh là bốn con vật linh nhất trong vũ trụ. Nó có một khả năng biến hóa vô cùng và có nhiệm vụ giúp trời trong nhiều công việc, đặc biệt là công việc làm mưa đề cho nhơn gian có nước mà dùng. Do đó, người Trung Hoa rất tôn trọng con rồng và lấy nó làm biểu tượng cho nhà vua. Phần con rồng Tây Phương thì cũng được xem là một con vật có sức mạnh siêu phàm đáng sợ, nhưng đó là một quái vật chớ không phải là một linh vật. Nó không có nhiều khả năng biến hóa như con rồng Trung Hoa. Nó vẫn chỉ làm những việc có lợi cho nó mà có hại cho loài người, và tài đặc biệt của nó là phun ra lửa để hạ kẻ địch. Trong vũ trụ quan Trung Hoa, lửa thuộc hành hỏa và có liên hệ với màu đỏ. Vậy năm lằn sọc đỏ dưới bụng con Bạch Long Xà có thể đã được Kim Dung dùng để ám chỉ khả năng phun lửa của con rồng Tây Phương.

b. Sự liên hệ giữa con rắn và nền văn hoá Tây Phương phát xuất từ Âu Châu.

Con Bạch Long Xà thì tuy mang danh hiệu là rồng, nhưng thật sự chỉ là một con rắn. Loài động vật này được xem là đồng loại với rồng, nhưng lại là một động vật thường không có khả năng siêu việt. Theo quan niệm chung thì con rắn là tiêu biểu cho sự lừa dối và phản bội. Riêng trong Thánh Kinh của người Tây Phương, con rắn lại còn là một hiện thân của quỷ, lúc quỷ xúi giục thỉ tổ của loài người là Bà Eve và Ông Adam, làm cho hai vị đó cãi lời dạy của Đức Chúa Trời và ăn trái cây cấm mọc ở giữa Thiên Đường. Theo Thánh Kinh này, sau khi ăn trái cây cấm thì Eve và Adam biết mình trần trưồng và xấu hổ vì sự trần truồng đó nên hái lá cây sung kết lại để che hạ thể của mình. Vậy, trái cây cấm này là cái giúp người hiểu biết, tức là trí tuệ hay khả năng khoa học và con rắn chính là động cơ tâm lý thúc đẩy con người tìm tòi để hiểu biết.

Ngoài câu chuyện kể trên đây trong Thánh Kinh, con rắn còn có một vai tuồng quan trọng trong các thần thoại và trong quan niệm của người Tây Phương. Thời cổ, hình hai con rắn quấn trên một cành nguyệt quế hay một cành cảm lãm là biểu hiệu chánh của Hermès (ở Hy Lạp) và Mercury (ở La Mã) là những vị thần chủ sự việc mua bán, du lịch, phát minh, biến chế và trộm cắp và do đó mà trở thành biểu hiệu cho Thương Mãi và Hòa Hợp. Các vị sứ giả và thông tín viên mang dấu hiệu này thì được hưởng quyền bất khả xâm phạm. Mặt khác, hình con rắn lại còn được dùng trong biểu hiệu của nghề y dược. Biểu hiệu của nghề y là một con rắn quấn trên một bó que còn biểu hiệu của nghề dược là một con rắn nhả nọc độc trong một cái ly. Đó là vì con rắn được xem là tượng trưng cho sự lanh lợi mà người y sĩ phải có để đổi phó với các chứng bịnh mình gặp và nọc con rắn tuy độc, nhưng lại có thể dùng để khắc chế chất độc khác theo nguyên lý dĩ độc trị độc.

Vậy nói chung lại thì trong quan niệm Tây Phương, con rắn vừa là động cơ tâm lý thúc đẩy người mở rộng phạm vi tri thức bằng hoạt động trí tuệ, và biểu tượng cho trí thông minh , sự khôn ngoan, khéo léo, lanh lợi cùng khả năng biến chế, vừa là một con vật tuy độc hại nhưng lại có một vai tuồng hữu ích trong vịệc chữa lành bịnh cho người. Như thế, con rắn có liên hệ mật thiết đến nền văn hóa Tây Phương và có thể dùng làm biểu tượng cho nền văn hóa ấy.

Với việc anh em Tây Độc nhờ được uống huyết và ăn thịt con Bạch Long Xà mà tăng thêm công lực, Kim Dung có ý muốn ám chỉ rằng các nước Tây Phương sở dĩ mạnh là nhờ có một nền văn hóa cổ cũng như Trung Hoa. Nhưng nền văn hóa cổ của Tây Phương so với nền văn hóa cổ của Trung Hoa thì không đáng được trọng vọng bằng. Tiềm lực của nền văn hóa cổ Trung Hoa được biểu tượng bằng cái nấm mọc trên bã nhơn sâm nên có tánh cách tinh túy và không mang thú tánh. Về tiềm lực của nền văn hoá cổ Tây Phương, nó được biểu tượng bằng con rắn có tánh cách như con rồng Tây Phương. Tuy cũng có sự hữu dụng, nó còn mang thú tánh và còn chứa đựng những khuynh hướng tàn bạo độc ác có thể mang những mối hại lớn đến cho người.

Với quan niệm nêu ra trong Thánh Kinh và trong các thần thoại của người Tây Phương, liên kết con rắn với trí tuệ hay khả năng khoa học và với sự khôn ngoan, khéo léo, lanh lợi cùng khả năng biến chế ta có thể bảo rằng khi cho biết là kỹ thuật chiến đấu của Tây Độc dựa nhiều vào con rắn, Kim Dung đã có dụng ý nói đến việc nền văn hóa Tây Phương đặt nền tảng trên trí tuệ. Do đó, Ngũ Độc Kỳ Kinh cũng có thể xem như là một quyền sách dạy về kỹ thuật khoa học, đặc biệt là kỹ thuật chế ngự để sử dụng các lực lượng thiên nhiên được biểu tượng bằng bầy rắn độc được luyện tập để lập thành xà trận.

Nói chung, kỹ thuật khoa học của người Tây Phương có thể dùng để phục vụ con người, nhưng cũng có thể dùng vào việc chiến đấu và tàn hại con người. Khi gặp điều kiện bất thuận lợi, nó có thể quay lại hại người sử dụng. Như môn Độc Xà Thần Công khi dùng để tấn công địch mà bị địch phản kích làm cho đòn mình đánh ra bị dội ngược lại, thì chính chất độc mình luyện để hại người lại trở lại hại mình. Ta có thể so sánh việc này với việc dùng bom hơi độc khi có chiến tranh. Người ta có thể dùng bom hơi độc để tàn phá nước địch, nhưng nếu gặp gió mạnh thổi hơi độc trở lại vào nước mình thì nước mình không khỏi bị thiệt hại nặng.

Mặt khác, việc thiên về trí tuệ và khả năng khoa học cũng làm cho các nước Tây Phương thường áp dụng một chánh sách hợp lý. Điều này đã được Kìm Dung nhắc đến khi ông bảo rằng Tây Độc thường thành công trong các mưu đồ của mình là vì ông ta biết hành động đúng lúc, phải chỗ, không để lòng nông nổi lôi cuốn.

4. Kỹ thuật tranh đấu của Tây Độc, biểu tượng cho lề lối tranh đấu của người Tây Phương.

a. Võ thuật của Tây Độc bộc lộ sự dị biệt căn bản giữa hai nền văn hóa Trung Hoa và Tây Phương.

Về mặt võ thuật, Tây Độc thường dùng môn Thần Đà Tuyết Sơn Chưởng Pháp. Nhưng công phu lợi hại nhất của ông là Cáp Mô Công. Cáp Mô là danh từ dùng để chỉ chung loài cóc nhái. Riêng con cóc là một con vật hình dáng xấu xa, da xù xì vì có nhiều mụt nổi lên, mà các mụt này lại có chứa đựng chất độc. Tây Độc không những luyện tập bằng cách hút các chất độc này vào cơ thể rồi hòa hợp nó với chân khí của mình, mà còn bắt chước tư thế con cóc khi sử dụng công phu này. Qua hình ảnh đó, Kim Dung cho thấy rằng võ thuật của người Tây Phương dựa vào sức mạnh một cách cục mịch nên không có sự tế nhị và sự huê dạng của các đòn võ thuật Trung Hoa hay Nhựt. Mặt khác, khi mô tả cuộc hoà tấu giữa Tây Độc với Đông Tà trên đảo Đào Hoa, Kim Dung lại cho biết rằng công phu của Tây Độc thể hiện bằng tiếng đàn tranh thuộc cương tánh. Điều này xác nhận thêm tánh cách thô bạo thuần dựa vào sức lực của môn quyền thuật Tây Phương.

Trong giai đoạn sau của đời mình, Tây Độc đã bị Hoàng Dung gạt và luyện tập CỬU ÂM CHƠN KINH theo nguyên tắc ngược chiều, nên từ kinh mạch đến các chiêu thức đều trái ngược với đường lối bình thường, thậm chí đến dộng đầu xuống đất, trở cẳng lên trời khi di chuyển và đánh nhau với kẻ khác. Với hình ảnh này, Kim Dung đã cho thấy rõ sự di biệt căn bản trong hai nền văn hóa Trung Hoa và Tây Phương. Nền văn hóa Trung Hoa đặt nền tảng trên đạo đức cho nên lúc nào cũng xem tâm quan trọng hơn trí. Nền văn hóa Tây Phương lúc đầu cũng trọng đạo đức nhưng đến mấy thế kỷ sau này, lại thiên về việc mở mang trí tuệ nhiều hơn và lần lần xem trí quan trọng hơn tâm. Theo cái nhìn của Kim Dung, đó là một sự thay đổi trái với thiên lý, chẳng khác nào như việc trở cẳng lên trời, dộng đầu xuống đất.

b. Cách xử sự của Tây Độc biểu tượng chánh sách được các nước Tây Phương áp dụng.

Trong việc xử sự bình thường cũng như trong việc mưu đồ tranh đoạt ngôi bá chủ võ lâm, Tây Độc đã dùng sự trí trá. Ông không lui bước trước thủ đoạn tàn độc nào để đạt mục đích và không hề nghĩ đến công ơn kẻ khác đối với mình. Điều này hàm ý rằng theo Kim Dung, các nước Tây Phương đã đi xa hơn nước Nhựt trong việc áp dụng nguyên tắc “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.

Trong cuộc luận võ đầu tiên ở Hoa Sơn, Tây Độc đã dùng mỹ nhơn trận và xà trận để đối phó với Trung Thần Thông, mà hơi độc do bầy rắn của ông phun ra trong không khí lại có khả năng kết tụ lại chớ không tan. Tiếng đàn tranh ông dùng để điều khiển bầy rắn cũng như để lung lạc tinh thần của đối phương có tánh cách khích động dục tình của con người rất mãnh liệt.

Các hình ảnh này có dụng ý cho thấy rằng người Tây Phương bản tánh bồng bột mà lại đề cho tình cảm tự do biểu lộ chớ không kềm chế nó như người Trung Hoa. Trong sự bành trướng thể lực, người Tây Phương chẳng những đã dùng sức mạnh vật chất mà còng dùng lối phổ biến nếp sống phóng túng của họ đề làm yếu các nước khác. Các tư tưởng của họ được phát thanh cho cả thế giới nghe bị xem như là hơi độc mà bầy rắn của Tây Độc phun ra trong không khí, có thể làm cho người hít phải nó bị ngộ độc mà chết. Ở đây, tư tưởng Kim Dung cũng giống như tư tưởng của các nhà lãnh đạo bảo thủ của Trung Cộng hiện nay, cho rằng Trung Hoa bị nạn “ô nhiễm tinh thần” khi chịu mở cửa tiếp xúc rộng rãi với các nước Tây Phương.

Sự kiện Tây Độc có nhiều nam nô và nữ tỳ (để phục vụ mình nhắc lại ba việc trong lịch sử các nước Tây Phương: một là việc người Tây Phương đã áp dụng chế độ buôn bán nô lệ, hai là họ đã đi chinh phục nhiều thuộc địa, ba là họ đã dùng các nô lệ cũng như dùng người dân ở các thuộc địa của họ trong việc phục vụ nền kinh tế cùng chủ trương bành trướng thế lực của họ. Việc Tây Độc trở mặt đánh Bắc Cái sau khi ông này đã cứu mạng mình có thể là hình ảnh để ám chỉ một cố sự lúc các nhóm dân Âu Châu mới đến Mỹ Châu. Các nhóm này đã gặp những khó khăn nan giải trong việc mưu sinh và tưởng đã phải chết hết, chỉ nhờ người thổ dân giúp lương thực cho, họ mới tồn tại được. Nhưng về sau, họ lại lấn lên, chiếm lấy đất đai và tàn sát những người thổ dân đã từng cứu giúp họ.

5. Sự điên cuồng và mất trí của Tây Độc, biểu tượng cho sự vong thân và sự mất vị thế đại diện cho Tây Phương của người Âu Châu.

Trong cuộc luận võ kỳ hai ở Hoa Sơn, Tây Độc đã vì điên cuồng và có những đòn ngược chiều quá kỳ quặc nên đã làm cho cả Đông Tà lẫn Bắc Cái phải hoang mang sợ hãi. Nhưng vì bị Hoàng Dung trêu chọc, ông đã đồng thời mất trí và không còn nhớ mình là ai. Sự kiện này mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

a. Trước hết, nó biểu lộ một sự kiện mà chính các triết gia Tây Phương đã gọi là hiện tượng vong thân: vì bồng bột, lại thiên về trí hơn tâm thành ra có xu hướng nghiêng về sự thái quá chớ không theo đạo trung dung của người Trung Hoa nên người các nước Âu Châu cuối cùng đã để cho các mục tiêu của họ lấn lên làm chủ lấy họ. Họ không phải xem tiền của danh vọng như là các yếu tố giúp vào sự sổng của họ mà lại sống cho mục đích tìm tiền của danh vọng. Điều này đã làm cho dân Âu Châu trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng sau Thế Chiến 1. Mặt khác nói chung thì trong quá khứ người Âu Châu đã nhiều lần xung đột mãnh liệt với nhau. Họ đã gây ra những cuộc nội chiến, như các cuộc xung đột đẫm máu giữa người theo Công Giáo La Mã và người theo các hệ phải Tin Lành; họ cũng đã gây ra những trận chiến tranh tàn khốc giữa các nước Âu Châu với nhau làm chết không biết bao nhiêu nhơn mạng. Điều này đã được Kim Dung đặc biệt nói đến qua việc Tây Độc giết anh ruột mình.

b. Ngoài ra, ta còn có thể nhận thấy rằng ban đầu các nước Âu Châu là biểu tượng cho tất cả các nước Tây Phương, nhưng về sau, lúc khối Tây Phương trở thành mạnh nhứt thế giới thì vai tuồng của các nước Âu Châu đã bị lu mờ, và khi nói đến Tây Phương, người ta lại nghĩ nhiều hơn đến nước Mỹ. Tuy phần lớn cũng là do dân Âu Châu mà ra, dân Mỹ lại không phải ở Âu Châu. Việc các nước Âu Châu một vị thế tiêu biểu cho khối Tây Phương đã được Kim Dung ám chỉ khi ông cho biết rằng Tây Độc mất trí, không còn biết mình tên là Âu Dương Phong và tưởng Âu Dương Phong là một nhơn vật khác hơn mình.

(Sưu tầm)

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19852
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Thu 03 Dec 2015, 05:55

Sao ông này chê người Âu Mỹ mà đề cao người Trung Hoa thế nhỉ ? Trong lịch sử, dù có những cuộc thế chiến, nhưng người Âu Châu không thể nào nối gót theo kịp người Trung Hoa, tự tàn sát dân tộc mình một cách tàn khốc.
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7168
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Thu 03 Dec 2015, 07:55

Shiroi đã viết:
Sao ông này chê người Âu Mỹ mà đề cao người Trung Hoa thế nhỉ ? Trong lịch sử, dù có những cuộc thế chiến, nhưng người Âu Châu không thể nào nối gót theo kịp người Trung Hoa, tự tàn sát dân tộc mình một cách tàn khốc.
 
Ổng chỉ đứng trên quan điểm chính trị của một nhà văn Tàu viết cho độc giả Tàu. Người Tàu tự tàn sát tại vì họ ... đông quá, đất không đủ nuôi dân nên phải giết bớt đi cho đúng với lý thuyết cần kiểm soát dân số của ông thày tu Mathus, hehe!  :pp:

Sử Tàu bây giờ đang ca ngợi Tần Thuỷ Hoàng là người có công ... xâm lược các nước, bành trướng lãnh thổ, tàn sát trí thức và tiêu diệt văn hoá của các nước bị xâm chiếm để đồng hoá nên mới có nước Tàu vĩ đại ngày nay. 
:potay:

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7168
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Thu 03 Dec 2015, 18:54

CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)

III-NHƠN VẬT TƯỢNG TRƯNG CHO CÁC NƯỚC TÂY PHƯƠNG :
TÂY ĐỘC, ÂU DƯƠNG CÔNG TỬ, DUƠNG QUÁ


B. DUƠNG QUÁ: TIÊU BIỂU CHO NƯỚC MỸ.

Việc người Mỹ cuối cùng vượt lên hơn người Âu Châu để làm tiêu biểu cho cả khối Tây Phương đã được Kim Dung đề cập đến với sự xuất hiện của Dương Quá trong bộ THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP . Nhơn vật này vốn là đứa con do Tần Nam Cầm sanh ra sau khi bị Dương Khang hãm hiếp, và đã phải sống trong cảnh cô độc không có gia đình từ thuở nhỏ, thành ra đã phải lưu lạc khắp nơi. Phần Tần Nam Cầm thì xuất thân từ một gia đình sống về nghề bắt rắn độc, mà rắn, như chúng ta đã thấy, lại có tánh cách biểu tượng cho nền văn hóa Tây Phương phát xuất từ Âu Châu.

Ngoài ra, Dương Quá lại có mối liên hệ đặc biệt với Tây Độc. Vì quá thương nhớ Âu Dương Công Tử, đứa con của ông đã bị Dương Khang giết chết nên Tây Độc muốn nhận Dương Quá làm con. Phần Dương Quá thì cảm thấy mình cô độc và nhận chân rằng Tây Độc thật sự thương yêu mình nên cũng đã nhận Tây Độc làm nghĩa phụ. Tây Độc đã truyền dạy cho Dương Quá các công phu siêu tuyệt của mình.

Qua nguồn gốc và thân thế Dương Quá, Kim Dung đã nêu lên lánh cách hỗn tạp của nhơn dân Mỹ. Những người đến lập nghiệp ở Mỹ vẫn là những người phiêu lưu đã phải rời bỏ quê cha đất tổ vì đói khó hay vì lý do tôn giáo hoặc chánh trị mà bị đàn áp. Họ thuộc nhiều chủng tộc khác nhau vô cùng. Tuy nhiên, dân Mỹ vẫn mang tánh cách Tây Phương rõ rệt vì đa số các chủng tộc cấu tạo thành nhơn dân Mỹ đã phải xuất từ Âu Châu, và nền văn hóa Mỹ, trong căn bản, cũng cùng tánh chất với nền văn hóa Âu Châu. Dầu vậy dân Mỹ cũng có một số đặc điểm làm cho họ khác với dân Âu Châu.

1- Sự tương đồng và dị biệt giữa người Mỹ và người Âu Châu được mô tả qua các chi tiết liên hệ đến Tiểu Long Nữ và đến sự giao thiệp giữa Tiểu Long Nữ với Dương Quá.

a. Tiểu Long Nữ là một phụ nữ thường mặc áo màu trắng và dùng làm võ khí một dải lụa trắng có đính trái cầu bằng kim loại. Ngoài ra, nhơn vật này còn nuôi một bầy ong sắc trắng để lấy mật mà dùng, đồng thời bảo vệ chỗ cư trú của mình chống lại sự xâm nhập của người lạ mặt. Màu trắng và chất kim loại của các vật liên hệ đến Tiểu Long Nữ xác nhận rằng nhơn vật này là người thuộc nền văn hóa Tây Phương nói chung. Về phần con ong nó biểu tượng cho sự siêng năng cần mẫn và tinh thần làm việc tập thể . Các đặc tánh trên đây chính là đặc tánh của người Mỹ là giống dân đã phát minh ra phương pháp làm việc lối dây chuyền. Bầy ong trắng của Tiểu Long Nữ có nọc rất độc có thể làm chết người, nhưng người bị loại ong này chích chỉ cần lấy mật của nó để điều trị là thoát hiểm. Với chi tiết trên đây, Kim Dung ám chỉ rằng phương pháp tổ chức và làm việc của xã hội Hoa Kỳ có nhiều tệ hại, nhưng cũng cung phụng được cho người nhiều quyền lợi, đồng thời lại chứa đựng những yếu tố để tự sửa chữa và cải thiện.

b. Từ nhỏ, Tiểu Long Nữ đã học võ thuật của phái Cổ Mộ nên chẳng những sống biệt lập một mình mà còn phải diệt các tình cảm của mình. Tuy nhiên, về sau, bà lại yêu Dương Quá rất mực và tỏ ra chí tình với Dương Quá. Phần Dương Quá là người dồi dào tình cảm và từ nhỏ cũng đã côi cút, nhưng trái với Tiểu Long Nữ, ông đã trôi nổi khắp nơi và thường bị người khác lừa dối, gạt gẫm và chèn ép. Do đó, ông thích phiêu lưu. nhưng có lúc cũng muốn tìm nơi ẩn dạt, xa lánh loài người. Trong thời kỳ 16 năm xa cách Tiểu Long Nữ và sau khi đã luyện được võ công trác tuyệt, ông đã đi khắp đó đây và ra tay tế khổn phò nguy nên đã nổi danh là đại hiệp.

Các chi tiết trên đây về Tiểu Long Nữ và Dương Quá rất phù hợp với đặc tánh của người Mỹ. Lối xử sự của người Mỹ nói chung là một lối xử sự không tình cảm. Trong lịch sử, dân Mỹ nhiều khi đã theo chủ trương cô lập chỉ lo công việc của nước mình và mặc kệ các nước khác mà họ cho là thường hay gây sự đánh nhau một cách phi lý. Nhưng mặt khác, người Mỹ lại nhiều lúc biểu lộ tinh thần hào hiệp, can thiệp vào các vấn đề thế giới và dùng võ lực hoặc tiền của để giúp đỡ các dân tộc bị xâm lăng hay nghèo đói.

c. Sự liên hệ giữa Tiểu Long Nữ với Dương Quá cũng biểu lộ một đặc tánh của dân Mỹ. Trong các cộng đồng người Âu Châu đến Mỹ lập nghiệp đầu tiên cách đây mấy thế kỷ về trước, số phụ nữ ít hơn số đàn ông. Họ lại thường là những người can đảm và tảo tần. Bởi đó, người phụ nữ Mỹ đã được đặc biệt nể nang và đã đóng một vai tuồng quan trọng. Mặt khác, xã hội Mỹ đã do người phiêu lưu thành lập nên không có những câu thúc lễ giáo chặt chẽ như người Âu Châu.

Những điều trên đây đã được Kim Dung ám chỉ khi nói đến Tiểu Long Nữ và Dương Quá. Trong bộ THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP, Dương Quá đã tuyên bố rằng: người đời trọng nam khinh nữ, nhưng riêng tôi là Dương Quá thì trọng nữ khinh nam. Đó là một câu nói biểu lộ thái độ chung của người dân Mỹ đối với đàn bà. Về việc Dương Quá cũng như Tiểu Long Nữ đều bị xem là học trò mà làm trái lại đạo của thầy mình, nó đã được dùng để ám chỉ sự kiện dân Mỹ tuy theo văn hóa Tây Âu, nhưng lại có những chủ trương ngược lại quan niệm người Âu Châu. Trong bộ THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP, Tiểu Long Nữ là người lớn tuổi hơn, lại đã từng làm thầy dạy Dương Quá. Nhưng cuối cùng, hai người đã yêu nhau. Chẳng những lấy nhau làm vợ chồng, họ còn nhiều lần biểu lộ tình yêu của họ trước mặt mọi người, bất chấp sự chỉ trích chê bai của dư luận. Điều này biểu lộ tinh thần người Mỹ, vốn phóng túng và không câu nệ lễ giáo như người Âu Châu.

2. Những điểm đáng lưu ý trong sự giao thiệp giữa Dương Quá và Bắc Cái.

Sự giao thiệp của Dương Quá và Bắc Cái cũng là điều đáng được lưu ý. Trong bộ THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP, Dương Quá đã tỏ ra rất khâm phục Bắc Cái. Ông đã được Bắc Cái truyền cho một số bí quyết và chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp. Như chúng tôi sẽ trình bày trong đoạn nói về Bắc Cái, môn võ này đã được Kim Dung dùng để ám chỉ chủ trương giai cấp tranh đấu. Tuy nhiên. Dương Quá đã nhứt định từ khước không chịu nhận Bắc Cái làm thầy, và đã không thiên về bên nào trong cuộc tranh đấu giữa Bắc Cái với nghĩa phụ mình là Tây Độc.

Các chi tiết trên đây đã được dùng để ám chỉ quan niệm của người Mỹ về mặt xã hội. Nước Mỹ vốn do người phiêu lưu thành lập nên không có sự phân biệt giai cấp theo huyết thống một cách cứng rắn, cũng không có sự đặc biệt tôn kính hạng trí thức khoa bảng như các nước Âu Châu. Nói cách khác, tuy người Mỹ chịu ảnh hưởng văn hóa Âu Châu, xã hội Mỹ lại không có một cánh hữu gồm những nhà quí tộc và khoa bảng được trọng vọng như các xã hội Âu Châu. Điều này đã được Kim Dung nói đến một cách bóng bẩy qua việc Dương Quá bị Quách Phù chặt đứt mất cánh tay mặt nên chỉ còn có cánh tay trái mà thôi. Về mặt pháp lý, người lao động Mỹ được xem bình đẳng với các hạng người khác trong xã hội và khi đã tập họp lại được để có sức mạnh cần thiết, họ đã có thể đương đầu lại các hạng người khác trong xã hội để bảo vệ quyền lợi của mình. Với chủ trương không phân biệt giai cấp, người Mỹ đã có một quan niệm khác với người Âu Châu do Tây Độc tượng trưng, nhưng xã hội Mỹ lại là một xã hội tư bản nên dân Mỹ cũng không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản của Liên Sô mà Bắc Cái là tiêu biểu.

3 . Các ngoại hiệu Thần Điêu Đại Hiệp và Tây Cuồng cùng việc Dương Quá học võ thuật của Độc Cô Cầu Bại.

a. Mặt khác, chúng ta có thể nhận thấy rằng Dương Quá có ngoại hiệu là Thần Điêu Đại Hiệp mà chim điêu (tiếng Anh là eagle) lại được người Mỹ dùng làm biểu hiệu cho nước mình và quốc huy của nước Mỹ có vẽ hình loại chim này. Mặt khác, trong cuộc luận võ ở Hoa Sơn lần chót, Dương Quá đã được xem là người kế vị cho Tây Độc làm một bá chủ võ lâm, nhưng vì ông không ác hại như Tây Độc nên được gán cho cái ngoại hiệu Tây Cuồng. Trong số năm cao thủ võ lâm của kỳ luận võ cuối cùng này, Dương Quá là người trẻ nhứt, lại học được hầu hết các môn võ thuật của các cao thủ khác. Bởi đó, tuy không được chánh thức xem là đệ nhứt bá võ lâm, thật sự thì danh hiệu đó chắc chắn là phải lọt vào tay ông. Ngoài ra, trong thời kỳ hành hiệp giang hồ, Dương Quá đã được mọi người tôn trọng và ông đã điều khiển được rất nhiều cao thủ không chấp nhận tùng phục các bá chủ võ lâm khác. Từ các ngoại hiệu Thần Điêu Đại Hiệp và Tây Cuồng đến các dữ kiến liên hệ đến cuộc luận võ ở Hoa Sơn lần cuối cùng, các chi tiết được nêu ra đều cho thấy rõ Dương Quá là biểu tượng của Hoa Kỳ, nước Tây Phương cường thạnh nhứt hoàn cầu sau khi trận Thế Chiến II chấm dứt và nhờ dùng chánh sách viện trợ các nước mà gây được cảm tình của nhiều dân tộc khác trên thế giới.

b. Điểm chót mà chúng ta nên lưu ý là Kim Dung đã viết bộ THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP trước năm 1975 là năm mà người Mỹ đã thất bại ở Việt Nam, khiến cho người Mỹ phải chịu thua trận lần đầu tiên trong lịch sử của mình. Từ khi lập quốc cho đến đó, dân tộc Mỹ đã đánh đâu thắng đó nên Kim Dung đã bảo rằng Dương Quá học được võ thuật của một vị tiền bối võ lâm đã khuất bóng từ lâu nhưng lúc sanh tiền thì không hề thua ai trong một trận chiến đấu thành ra tự mang danh là Độc Cô Cầu Bại. Chi tiết này xác nhận thêm rằng dưới ngòi bút của Kim Dung, Dương Quá quả thật là nhơn vật tượng trưng cho nước Mỹ.

(Sưu tầm)

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19852
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Tue 08 Dec 2015, 06:19

Trong truyện của Kim Dung thì Ngũ Hành có đủ, nhưng em chưa nghĩ đến các nhân vật là tiêu biểu các nước trên thế giới :docs1:
Em chờ đọc xem Bắc Cái và Liên Xô liên quan thế nào ? :singi:
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7168
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Tue 08 Dec 2015, 11:50

Shiroi đã viết:
Trong truyện của Kim Dung thì Ngũ Hành có đủ, nhưng em chưa nghĩ đến các nhân vật là tiêu biểu các nước trên thế giới  :docs1:
Em chờ đọc xem Bắc Cái và Liên Xô liên quan thế nào ? :singi:
 
Thì đọc tiếp biết liền!  :tongue:

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7168
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Tue 08 Dec 2015, 12:04

CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)

IV- NHƠN VẬT VÀ ĐOÀN THỂ TIÊU BIỂU CHO LIÊN SÔ: BẮC CÁI VÀ CÁI BANG.

Về phần Bắc-Cái, có nhiều dấu hiệu cho thẩy rằng Kim Dung đã dùng ông để biểu tượng cho Liên Sô và như vậy thì Cái Bang do ông lãnh đạo chính là Đảng Cộng Sản Quốc Tế. Ta nên lưu ý rằng trong thời kỳ viết các bộ VÕ LÂM NGŨ BÁ, ANH HÙNG XẠ ĐIÊU và THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP, Kim Dung còn là một người thiên tả và có cảm tình với xã hội chủ nghĩa. Như chúng tôi sẽ trình bày trong Mục II của sách này, ông đã đổi quan điểm của ông đối với những người theo chủ nghĩa trên đây khi viết các bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ và LỘC ĐỈNH KÝ. Nhưng trong ba bộ VÕ LÂM NGŨ BÁ, ANH HÙNG XẠ ĐIÊU và THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP, Kim Dung đã bộc lộ cảm tình nồng hậu của mình đối với Liên Sô và Đảng Cộng Sản Quốc Tế bằng cách mô tả Bắc-Cái như là một nhơn vật anh hùng và nghĩa hiệp rất đáng kính trọng.

A. CÁC DẤU HIỆU CHO THẤY RẰNG BẮC CÁI VÀ CÁI BANG TƯỢNG TRUNG CHO LIÊN SÔ VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN QUỐC TẾ


1- Vị trí địa lý của Liên Sô đối với Trung Quốc.

Về mặt vị trí địa lý, Liên Sô có biên giới chung với Trung Quốc ở phía bắc và phía tây, nhưng vì hướng tây đã được dùng để chỉ các nước Âu Châu nói chung nên Kim Dung phải dùng hướng bắc để nói đến Liên Sô. Cứ theo vũ trụ quan của người Trung Hoa thì phương bắc liên hệ đến hành thủy và màu đen. Nếu Bắc-Cái chỉ là một nhơn vật võ lâm thông thường thì tác giả VÕ LÂM NGŨ BÁ, ANH HÙNG XẠ ĐIÊU và THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP đã để ông mặc y phục màu đen và đưa ra những chi tiết liên hệ đến hành thủy khi nói đến tài nghệ của ông. Nhưng vì Bắc-Cái tượng trưng cho Liên Sô và Đảng Cộng Sản Quốc Tế nên khi mô tả ông, Kim Dung đã không theo qui tắc chung của các bộ tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa.

2. Các biểu tượng uy quyền của Bang Chủ Cái Bang.


Trong các tác phẩm có nói đến Bắc-Cái, vật biểu tượng cho uy quyền Bang Chủ là cây gậy tre màu xanh lá cây, và riêng Bắc-Cái lại có một kỷ vật đặc biệt là cái hồ lô sơn màu đỏ đựng rượu . Đối với thế giới hiện đại, màu đỏ là màu của cuộc tranh đấu cách mạng, và riêng Đảng Cộng Sản Quốc Tế đã lấy nó làm tiêu biểu cho mình. Mặt khác, hệ thống tư tưởng cộng sản lúc đầu chỉ lấy thợ thuyền làm lực lượng nồng cốt cho cuộc tranh đấu cách mạng, đến Lenin lại xem nông dân là một lực lượng không kém thợ thuyền trong cuộc tranh đấu này. Cây gậy màu xanh lá cây tiêu biểu cho uy quyền Bang Chủ Cái Bang là một sản phẩm của đất đai chớ không phải của công nghệ. Ta có thể xem nó là tượng trưng cho nông dân. Cái hồ lô đỏ và cây gậy tre xanh lá cây xác nhận thêm là Kim Dung đã dùng Bắc-Cái và Cái Bang để ám chỉ Liên Sô và Đảng Cộng Sản Quốc Tế.

3. Ý nghĩa họ Hồng của Bắc-Cái và môn qui của Cái Bang.

Mặt khác, Bắc-Cái là người họ Hồng. Chữ HỒNG ở đây có nghĩa là lớn rộng mênh mông như trong các từ ngữ hồng thủy, hồng phúc… nhưng nó đồng âm với chữ hồng là màu đỏ. Ngoài ra trong Hán văn, chữ Hồng là họ của Bắc-Cái gồm có hai phần, bên tả là bộ thủy còn bên hữu là chữ CỘNG y như chữ CỘNG trong từ ngữ Cộng Sản. Bắc-Cái là người trong Cái Bang là những kẻ ăn mày, không có nhà cửa, không có tài sản riêng. Họ sống bằng cách ăn xin và không trộm cướp, nhưng đối với hạng tham quan ô lại và cường hào ác bá bóc lột dân chúng và hạng làm giàu bất nhơn hay phi pháp, họ có quyền tự do cướp đoạt tiền của để dùng. Họ thường làm việc cướp đoạt trên đây và đã đem tiền của cướp đoạt được để cứu giúp người nghèo. Họ lại được tổ chức chặt chẽ và có một hệ thống cấp bực được ấn định rõ ràng. Trên hết là Bang Chủ, kế đó là các Trưởng Lão, rồi đến các cấp chỉ huy sắp theo thứ bực cao thấp được biểu thị bằng số túi mà họ mang trên lưng, và dưới hết là Bang chúng. Họ phải theo đúng môn qui và khi phạm kỷ luật thì bị trừng phạt nặng nề. Họ Hồng của Bắc-Cái hàm ý lớn rộng mênh mông, lại đồng âm vói chữ hồng là màu đỏ và viết ra chữ thì có chữ cộng bên trong, cũng như môn qui của Cái Bang đều cho thấy rõ hơn là Kim Dung đã dùng tổ chức này để nói đến Đảng Cộng Sản Quốc Tế là một thứ chánh đảng theo tư tưởng thế giới đại đồng và chủ trương làm một cuộc cách mạng thế giới trong đó lực lượng nồng cốt là người vô sản theo một kỷ luật nghiêm khắc.

B- CÁC KỸ THUẬT TRANH ĐẤU CỦA BẮC CÁI VÀ CÁI BANG.

1. Đả Cẩu Bổng Pháp, tiêu biểu cho chủ trương giai cấp tranh đấu.


Về mặt võ khí, cây gậy tre xanh tiêu biểu cho uy quyền Bang Chủ Cái Bang mang danh hiệu là Đả Cẩu Bổng, nghĩa đen là cây gậy đánh chó. Trong ngôn ngữ thông thường của những kẻ tay sai phục vụ cho người có thế lực hay tiền bạc thường được gọi là “chó săn”. Trong các tác phẩm của Kim Dung nói đến Bắc-Cái, bọn người làm việc hoặc bợ đỡ nịnh hót hạng hào phú, hạng ác bá hay bọn cường địch xâm lăng đất nước đều bị Cái Bang xem là chó. Cái Bang có môn võ đặc biệt hữu hiệu là Đả Cẩu Bổng Pháp để đối phó với cường địch, và cứ theo Kim Dung thì người của Cái Bang cầm cây Đả Cẩu Bổng có quyền đánh các nhà vua hôn ám, các quan lại gian nịnh và các cường hào ác bá. Qua chi tiết trên đây, ta có thể bảo rằng Kim Dung đã dùng phép gậy này để ám chỉ chủ trương giai cấp tranh đấu của người theo chủ nghĩa Marx nói chung và người Cộng Sản nói riêng. Như mọi người đều biết, chủ trương này chống lại các chánh quyền bảo thủ và các giai cấp bị cho là giai cấp bóc lột.

2. Hàng Long Thập Bát Chưởng, tiêu biểu cho Biện Chứng Pháp Duy Vật.

Riêng Bắc-Cái lại có môn võ đặc biệt của mình là Hàng Long Thập Bát Chưởng gồm 18 chiêu thức mạnh mẽ và vi diệu khôn lường. Tên của 18 chiêu thức này đều có chữ LONG ở trong. Đáng lưu ý hơn hết là các chiêu thức Tiềm Long Vật Dụng, Hiện Long Tại Điền, Phi Long Tại Thiên, Kháng Long Hữu Hối và Long Chiến Vu Dã hoặc Chiến Long Tại Dã, vì các tên này có dính dáng đến các hào trong Kinh Dịch.

a- Kinh Dịch

Bộ Kinh này nguyên là một tác phẩm tối cổ và tối ảo diệu của người Trung Hoa. Các nhà hiền triết đã cấu tạo nên nó có dụng ý dùng đồ biểu để diễn tả sự biến hoá vô cùng của vạn vật. Họ cho rằng trong vũ trụ, thường có hai nguyên tắc đối chiếu lại nhau, và có khi chọi lại nhau là dương và âm. Họ đã dùng vạch liền ____ để biểu tượng dương, và vạch đứt – - để biểu tượng âm, rồi ghép các biểu tượng dương và âm lại theo mô thức để diễn tả các tình thế có thể xảy ra trong vũ trụ bằng số lượng và vị trí của hai biểu tưởng dương và âm đối với nhau. Lúc đầu, họ ghép ba vạch lại làm một đơn vị gọi là Quái, tức là quẻ, và tạo ra cả thảy 8 quẻ : Càn , Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài gọi chung là Bát Quái. Sau đó họ lại ghép các quẻ trên đây lại thành cặp nằm chồng lên nhau và tạo ra 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép như vậy có 6 vạch, mỗi vạch như vậy gọi là một hào và có một tên chung tùy theo vị trí của mình. Hào dương được gọi là Cửu, tức là số 9, hào âm được gọi là Lục, tức là số 6. Nếu ta đi từ dưới lên trên thì hào ở thấp nhứt gọi là Sơ, kế đó là Nhị, rồi Tam, Tứ, Ngũ và hào ở trên hết gọi là Thương. Hai chữ Sơ và Thương thì đặt trước, còn các chữ Nhị, Tam, Tứ, Ngũ thì đặt sau chữ Cửu hay chữ Lục. Quẻ kép gồm có cả thảy 64 cái, mà mỗi cái có 6 hào như vậy nếu tính chung lại thì có cả thảy 384 hào, mỗi cái trong 384 hào này biểu tượng cho một tình thế và đều có tên riêng cho mình.

Đáng để ý hơn hết trong 64 quẻ kép là quẻ Bát Thuần Càn gồm có 2 quẻ Càn ghép lại và Bát Thuần Khôn gồm có 2 quẻ Khôn ghép lại. Quẻ Càn gồm có ba vạch liền tượng trưng cho trời, quẻ Khôn gồm có ba vạch đứt tượng trưng cho đất. Vậy, Bát Thuần Càn gồm sáu vạch liền tượng trưng cho dương thuần túy và Bát Thuần Khôn gồm sáu vạch đứt tượng trưng cho âm thuần túy. Tên các chiêu thức Tiềm Long Vật Dụng, Hiện Long Tại Điền, Phi Long Tại Thiên, Kháng Long Hữu Hối trong Hàng Long Thập Bát Chưỏng đúng là tên các hào Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Ngũ và Thượng Cửu của quẻ kép Bát Thuần Càn. Trong quẻ kép Bát Thuần Khôn thì hào Thượng Lục có tên là Long Chiến Vu Dã rất gần với tên Chiến Long Tại Dã vì cả hai tên này đều hàm ý là rồng đánh nhau ở cánh đồng.

b- Kinh Dịch so với Biện Chứng Pháp Duy Vật.

Với việc dùng một số tên hào trong Kinh Dịch để đặt cho một số chiêu thức của Hàng Long Thập Bát Chưởng, chúng ta có thể nghĩ rằng khi nói đến pho chưởng pháp này Kim Dung đã có ý ám chỉ Duy Vật Biện Chứng Pháp. Như thế là vì Kinh Dịch và Duy Vật Biện Chứng Pháp có những nguyên tắc căn bản giống nhau. Cả hai đều cho rằng trên đời, mọi vật đều biến đổi không ngừng. Mặt khác, theo Kinh Dịch, sự biến đổi này phát xuất từ sự tương sanh tương khắc giữa âm và dương, còn Biện Chứng Pháp Duy Vật thì cho rằng sự biến đổi sở dĩ có là vì trong mọi sự vật đều có những yếu tố mâu thuẩn nhau. Vậy, Kinh Dịch và Biện Chứng Pháp Duy Vật đã có một quan điểm tương tự như nhau về nguyên nhơn sự biến đổi tất yếu của các sự vật.

3. Kỹ thuật tranh đấu tập thể của Cái Bang:


Kiên Bích Trận, biểu tượng cho kỹ thuật tổ chức và tranh đấu của Đảng Cộng Sản Quốc Tế.

Ngoài Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Thập Bát Chưởng là các kỹ thuật tranh đấu cá nhơn, Cái Bang lại còn có một kỹ thuật tranh đấu tập thể gọi là Kiên Bích Trận. Theo kỹ thuật này, hàng mấy chục ngàn người nối liền nhau lại và góp sức nhau thành một khối vô cùng vững chắc. Hễ đằng đầu bị tấn công thì đằng đuôi tiếp cứu, hễ đằng đuôi bị tấn công thì đằng đầu tiếp cứu, hễ đoạn giữa bị tấn công thì hai đầu ứng phó liền. Kiên Bích Trận này có thể trở thành Xa Luân Kiên Bích Trận, gồm vô số người lan tràn khắp nơi, chỗ nào tiếp nối nhau tấn công kẻ địch trên khắp mặt chiến trường, cứ một đội bị đánh tan thì năm ba đội khác lại xuất hiện. Do đó, dầu có sức khoẻ dồi dào, võ công cực cao minh, đối thủ cũng khó lòng tránh khỏi bị thất bại. Kiên Bích Trận như mô tả trên đây có thể so sánh với lề lối tổ chức của Đảng Cộng Sản Quốc Tế, có mặt ở mọi nước và được phối trí để giúp đỡ cho nhau một cách hữu hiệu, nên dễ nắm phần thắng lợi trong các cuộc tranh đấu với kẻ địch.

4.Tánh chất của công phu Bắc-Cái nói chung.

Về tánh chất của công phu Bắc-Cái nói chung thì Kim Dung cho biết rằng nó thuộc cương tánh như công phu Tây Độc. Điều này phù hợp với chủ trương tranh đấu bạo tợn của Đảng Cộng Sản Quốc Tế, và hàm ý rằng lề lối tranh đấu của Cộng Sản bắt nguồn từ lề lối tranh đấu của các nước Âu Châu.

C- NHƠN VẬT ĐƯỢC BẮC-CÁI BIỂU TƯỢNG: LENIN

Vậy, trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung có nói đến Võ Lâm Ngũ Bá, chúng ta có thể thấy nhiều dữ kiện chứng tỏ rằng Bắc Cái và tổ chức Cái Bang do ông lãnh đạo đã được tác giả dùng để ám chỉ Liên Sô và Đảng Cộng Sản Quốc Tế. Ngoài ra, một số dữ kiện khác làm cho chúng ta có thể nghĩ rằng Bắc Cái đã được dùng để biểu tượng riêng cho nhà lãnh tụ Cộng Sản Quốc Tế Lenin.

1. Ý nghĩa của các biệt hiệu Cửu Chỉ Thần Công và Hồng Thất Công.


Trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, Bắc Cái còn có biệt hiệu là Cửu Chỉ Thần Cái tức là ông ăn mày thần có chín ngón tay. Ông cũng được gọi là Hồng Thất Công, dịch sát nghĩa chữ là Ông Bảy họ Hồng. Hai con số 9 và 7 trên đây rất đáng chú ý.

Chủ nghĩa Cộng Sản vốn do Karl Marx tung ra năm 1848. Đến năm 1864, những người theo chủ trương tranh đấu cho quyền lợi vô sản đã họp nhau lại lập thành một đoàn thể gọi là Quốc Tế Lao Động. Nhưng sau một thời gian hoạt động, đoàn thể này đã tan vỡ. Năm 1889, những người theo tư tưởng Karl Marx lại thành lập một đoàn thể khác gồm các Đảng Xã Hội hay Dân Chủ Xã Hội ở các nước. Đoàn thể này cho là mình kế tiếp công nghiệp của Quốc Tế Lao Động thành lập năm 1864 nên tự gọi là Đệ Nhị Quốc Tế. Lenin đã tham dự Quốc Tế này. Nhưng sau đó, ông cho rằng nó đã phản bội quyền lợi vô sản nên khi cướp chánh quyền ở Nga và thành lập năm 1917, ông đã tổ chức một đoàn thể mới gọi là Đệ Tam Quốc Tế gồm các Đảng Cộng Sản ở các nước . Lúc Lenin chết, Stalin và Trotsky đã tranh nhau quyền kế vị. Stalin nắm phần thắng lợi và trục xuất Trotsky khỏi Liên Sô. Trotsky ra ngoài Liên Sô rồi thì thành lập một đoàn thể Cộng Sản Quốc Tế khác chống lại Stalin và gọi đoàn thể này là Đệ Tứ Quốc Tế.

Hai bàn tay của Bắc Cái còn có 9 ngón vì ngón trỏ trên bàn tay mặt khi có hơi thơm của món ăn thì cứ giựt lên rần rật làm ông bực bội nên ông đã chặt bỏ nó đi. Ngón tay bị chặt này có thể kể như là tiêu biểu cho Quốc Tế Lao Động đầu tiên đã hoàn toàn tan vỡ. Chín ngón còn lại tiêu biểu cho ba đoàn thể hiện còn tồn tại là Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ Quốc Tế, vì đem cộng các số 2, 3 và 4 lại thì thành ra con số 9. Điều này ám chỉ rằng Lenin có liên hệ đến cả ba Quốc Tế này. Mặt khác, tên hiệu Hồng Thất Công của Bắc Cái ám chỉ rằng Lenin là thủy tổ của các phe Cộng Sản Đệ Tam và Đệ Tứ, vì hai con số 3 và 4 cộng lại thì thành ra 7.

2. Sự ẩn hiện bất thường của Bắc Cái so với hành động bí mật của Lenin.

Lenin thường hoạt động bí mật, thay đổi chỗ ở một cách bất thường để tránh sự theo dõi của thám tử các nước tư bản. Điều này cũng giống lối hành động của Bắc Cái là một nhơn vật thường được những người có cảm tình so sánh với con giao long, khi ẩn khi hiện không biết đâu mà lường.

3. Các phe ăn mày áo dơ và áo sạch, tiêu biểu cho các Đảng Cộng Sản Đệ Tam và Đệ Tứ Quốc Tế.

Mặt khác, ta có thể nhận thấy rằng lúc Bắc Cái còn là Bang Chủ, trong Cái Bang đã có hai phe ăn mày: một phe áo lành, sạch và phe áo rách, dơ. Hai phe này tuy vẫn cộng tác với nhau, nhưng cũng có sự hiềm khích và chống chọi nhau. Phe áo lành và sạch gồm có ba vị Trưởng Lão, nhưng lại chỉ có hai phần mười Bang chúng. Trong khi đó, phe áo rách và dơ chỉ có một Trưởng Lão, nhưng lại nắm tám phần mười Bang chúng.

Ta có thể nghĩ rằng phe áo lành và sạch là biểu tượng cho phe của Trotsky trong Quốc Tế Cộng Sản: họ gồm có nhiều người lãnh đạo có tên tuổi và có khả năng, nhưng ít có đảng viên ở hạ từng cơ sở. Phe áo rách và dơ thì biểu tượng cho phe của Stalin: họ có ít người lãnh đạo có tên tuổi và có khả năng, nhưng lại gồm đa số đảng viên ở hạ từng cơ sở. Theo Kim Dung, sự xung đột giữa hai phe ăn mày trong Cái Bang không có thể dàn xếp được vì nó không phải phát xuất từ quyền lợi mà vì sự khác nhau về quan điểm nhơn sinh. Điều này ám chỉ việc hai phe Cộng Sản Đệ Tam và Đệ Tứ chống nhau không phải chỉ vì tranh quyền mà vì có lập trường lý thuyết khác nhau xa.

Cả hai phe ăn mày áo lành và ăn mày áo rách đều hết sức tôn kính và tùng phục Bắc Cái. Về phần Bắc Cái, ông cũng xem họ như nhau và để biểu lộ sự cư xử công bằng đối với họ, ông đã thay phiên, cứ một năm mặc áo lành thì một năm mặc áo rách . Điều này có mục đích cho thấy rằng Trotsky và Stalin đều chấp nhận sự lãnh đạo của Lenin, còn Lenin thì bao dung cả hai phe và không tỏ ra thiên về phe nào.

4. Tâm tánh Bắc Cái so với chủ nghĩa Lenin.

Về mặt tâm tánh, Bắc Cái là người cương trực và có tinh thần nghĩa hiệp binh vực kẻ nghèo yếu như Trung Thần Thông. Nhưng trái với Trung Thần Thông, ông không theo nếp sống thanh đạm mà lại thích các món ăn ngon, các thứ rượu qúi. Ông đã từng vào cung vua để thưởng thức các món được nấu cho nhà vua ăn, và đã ẩn núp trong hoàng cung vì mục đích này ngay trong khi ông đã mất công lực vì bị Tây Độc đánh.

Các chi tiết này đều thích ứng với Lenin. Ông theo lý tưởng thực hiện một xã hội không giai cấp, không có cảnh tượng người bóc lột người, nhưng không phải đặt nền tảng suy luận của mình trên chủ nghĩa duy tâm hay duy linh như một nhà lãnh đạo tôn giáo, mà lại theo chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa này đã được Kim Dung ám chỉ bằng tánh thích ăn ngon. Sau khi lật đổ chế độ Nga Hoàng, Lenin đã vào ở điện Cẩm Linh là hoàng cung của nước Nga, và trong giai đoạn chót của đời ông, ông đã ngoạ bịnh nên không còn điều khiển được Đảng Cộng Sản Liên Sô một cách trực tiếp mặc dầu ông vẫn giữ chức Chủ Tịch của Đảng ấy.

(Sưu tầm)

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7168
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)   Wed 09 Dec 2015, 14:09

CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)

D. HOÀNG DUNG, BIỂU TƯỢNG CHO STALIN.

Trong bộ ANH HÙNG XẠ ĐIÊU, Kim Dung có nói đến việc Bắc Cái truyền ngôi Bang Chủ cho Hoàng Dung một cách âm thầm khi ông bị mất công lực. Điều này có thể ám chỉ việc Stalin kín đáo chuẩn bị việc kế vị Lenin lúc ông này ngoạ bịnh. Một số dữ kiện liên hệ đến việc Hoàng Dung nối ngôi Bang Chủ của Bắc Cái có thể so sánh với các dữ kiện liên hệ đến cuộc tranh quyền kế vị trong Đảng Cộng Sản Liên Sô.

1. Tâm tánh Hoàng Dung so với tâm tánh Stalin.

Hoàng Dung vốn là một phụ nữ, lại là con của Đông Tà và không khỏi bị ảnh hưởng của cha về mặt tinh thần. Do đó, tuy bản chất tốt và khôn ngoan, can đảm, bà vẫn có phần xảo trá và có tánh gian hùng, không kể tiếng thị phi. Bà rất đa nghi, lại dám có những thủ đoạn tàn độc trong những lúc cần thiết chớ không phải hoàn toàn nhân hậu như Bắc Cái. Stalin cũng là người khôn ngoan và can đảm. Nhưng tuy là người phái nam, ông lại gian hiểm, giảo quyệt, thường làm việc ban đêm và thích núp trong bóng tối để hành động. Theo quan niệm cổ của Trung Hoa, đó là tánh tình và lề lối làm việc của phái nữ vốn thuộc âm. Mặt khác, Stalin cũng rất đa nghi . Đã vậy, tuy trung thành với chủ nghĩa cộng sản và đã hoàn toàn làm chủ Liên Sô và Đảng Cộng Sản Quốc rế, ông không có được tài đức của Lenin và thường tỏ ra độc ác. Thêm nữa Stalin vốn là người của xứ Georgia. Vậy ông không phải là người Nga chánh gốc, mà thuộc một sắc tộc thiểu số ở Nga và điều này đã được Kim Dung nhắc khéo bằng sự kiện Hoàng Dung là con gái của Đông Tà, nhơn vật tiêu biểu cho nước Nhựt.

2. Thân thế Hoàng Dung so với thân thế Stalin.

Lúc nhỏ, Hoàng Dung đã học một số võ thuật của cha. Sau đó nhơn gặp Bắc Cái bà mới dùng nghệ thuật nấu các món ăn ngon và mưu kế cùng lời lẽ khéo léo để làm cho Bắc Cái mến bà và vui lòng truyền dạy võ công cho bà và cho người tình của bà là Quách Tĩnh. Nhưng bà đã không được học Hàng Long Thập Bát Chưởng như Quách Tĩnh mà chỉ được học một môn võ ít lợi hại hơn là Yến Song Phi. Đến lúc trao quyền ngôi Bang Chủ cho bà, Bắc Cái mới dạy bà bí quyết sử dụng Đả Cẩu Bổng.

Cái tình tiết này có những chỗ tương tự với một số dữ kiện trong thân thế Stalin. Ông này lúc nhỏ đã theo Thiên Chúa Giáo Chánh Thống và đã vào học ở một chủng viện để làm giáo sĩ cho tổ chức tôn giáo này. Nhưng về sau, ông lại bỏ đạo, theo Đảng Cộng Sản và được chỉ định là Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản Liên Sô. Lúc ông mới nắm giữ chức vụ đó, nó chưa có tầm quan trọng lớn lao như về sau này. Nhưng ông đã nhờ nó mà thân cận với Lenin và lấy danh nghĩa Lenin để điều khiển công việc nội bộ của Đảng, đồng thời gài người của mình vào bộ máy Đảng. Những điều này đã làm cho ông thật sự điều khiển được Đảng Cộng Sản Liên Sô lúc Lenin còn sống và nắm phần thắng lợi trong việc tranh quyền kế vị Lenin. Nhưng Stalin không phải là nhà lý thuyết giỏi thông thạo Duy Vật Biện Chứng Pháp như các nhà lãnh đạo cộng sản Đệ Tam Quốc Tế đồng thời. Ông chỉ giỏi trong việc tổ chức Đảng và điều khiển Đảng trong cuộc tranh đấu giai cấp.

3 . Cuộc tranh đấu của Hoàng Dung để nắm quyền Bang Chủ Cái Bang so với cuộc tranh đấu của Stalin để nắm quyền Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Sô.

Trước khi ra mặt tranh đấu đề nắm quyền Bang Chủ Cái Bang, Hoàng Dung đã được cảm tình và sự giúp đỡ của phe ăn mày áo rách và bị sự thù ghét hãm hại của phe ăn mày áo lành . Khi đã ra mặt tranh đấu để nắm quyền Bang Chủ, Hoàng Dung lại cũng chỉ tỷ thí với các Trưởng Lão cầm đầu phe ăn mày áo lành . Và khi đã được toàn thể Cái Bang công nhận mình là Quyền Bang Chủ, bà đã phá bỏ lệ cũ, không để cho Bang chúng phun đàm dãi vào người như các Bang Chủ tiền nhiệm. Ngay sau khi được công nhận là Quyền Bang Chủ, bà đã trừng phạt Bành Trưởng Lão là một trong những người lãnh đạo phe ăn mày áo lành đã từng ám hại bà trước khi bà ra mặt tranh quyền Bang Chủ. Vị Trưởng Lão này đã bị hạ thấp cấp bực trong Cái Bang, và theo Kim Dung, sau đó, ông còn phạm tội lợi dụng võ công cao cường để bắt và mưu toan hãm hiếp Tần Nam Cầm là mẹ của Dương Quá. Về sau nữa, Bành Trưởng Lão đã âm mưu với người Mông Cổ để làm cho Cái Bang phân hóa thành nhiều chi.

Về phần Stalin thi từ lúc Lenin còn ngọa bịnh, ông đã phải trực tiếp đương đầu với Trotsky trong việc điều khiển Đảng Cộng Sản Liên Sô và sau đó, trong việc giành quyền kế vị Lenin. Nhờ dàn xếp để cho phe mình chiếm đa số trong các cơ cấu của Đảng nên trong Đại Hội bầu người lãnh đạo thay Lenin ông đã nắm phần thắng lợi mặc dầu đã bị phe Trotsky chống đối mãnh liệt. Sau khi cầm quyền điều khiển Đảng Cộng Sản Liên Sô, ông đã loại trừ và trừng phạt những người theo phe của Trotsky. Những người này về sau đã thành lập ra nhiều chi phái Đệ Tứ Quốc Tế khác nhau. Người theo phe Trotsky tại Liên Sô thì bị đưa ra Tòa Án vì những tội thường phạm hoặc vì bi tố cáo là làm gián điệp cho các nước tư bản. Việc Đệ Tứ Quốc Tế chia ra thành nhiều chi phái và các tội mà Stalin gán cho họ đều phù hợp với các chi tiết liên hệ đến Bành Trưởng Lão. Sau khi Stalin đã củng cố được quyền hành của mình bằng cách loại trừ hết phe Trotsky, các đảng viên cộng sản Liên Sô không ai cỏn dám phê bình chỉ trích người lãnh đạo tối cao của Đảng như thời Lenin còn sống. Thật đúng là hình ảnh của một Bang Chủ làm trái lại tinh thần căn bản của Cái Bang và không cho ai phun đàm dãi lên mặt vị Bang Chủ mới nhậm chức để nhắc cho ông ta nhớ rằng mình cũng là một người ăn mày như thuộc hạ và phải chịu nhuốc để thông cảm nỗi niềm khổ nhục của giới ăn mày.

(Sưu tầm)

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
 
CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: BIÊN KHẢO, BÌNH LUẬN THƠ VĂN-