Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 18:50

Thế giới Tình yêu by nguoidienviyeunguoi Today at 17:59

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Ai Hoa Today at 16:40

Truyện xưa - Ái Hoa by Ai Hoa Today at 16:21

Tìm hiểu về Tử thần - Sứ giả của cái chết by Ai Hoa Today at 10:27

Saigon thuở đầu đi khai hoang by Trà Mi Today at 09:57

SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM by Trà Mi Today at 09:44

CHUYỆN NGHỀ .. by Trà Mi Today at 09:32

Tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Như Huỳnh (blogger Mẹ Nấm) được trả tự do. by tvqm Today at 09:05

Miền Nam Mến Yêu by Trà Mi Today at 08:43

Trí thức miền Nam sau 75 by Trà Mi Today at 08:25

Sài Gòn & Những tên đường by Trà Mi Today at 08:22

Hoa gieo tứ tuyệt 3 by buixuanphuong09 Today at 05:42

Bộ sưu tập Côn trùng by buixuanphuong09 Today at 05:14

TÌNH BUỒN by lehong Today at 04:37

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Today at 04:25

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Today at 04:15

Quốc Văn Giáo Khoa Thư by Trà Mi Yesterday at 23:02

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Yesterday at 22:37

Đường từ mía lau by thanhsingle Yesterday at 21:26

HOẢNG CHƯA NÊN BÚNG GIẬU by Ma Nu Yesterday at 20:33

So Sánh Hà Nội-Sài Gòn by chuoigia Yesterday at 12:39

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Wed 17 Oct 2018, 16:37

Đức Phật Nói Nhân Quả by mytutru Wed 17 Oct 2018, 13:56

Cảm Cười...chơi by nguoidienviyeunguoi Wed 17 Oct 2018, 13:24

THÁNH GIÓNG DẸP GIẶC ÂN by Ma Nu Wed 17 Oct 2018, 10:19

TẾU VUI : XIN LỬA by Ma Nu Wed 17 Oct 2018, 10:06

CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy) by Ai Hoa Wed 17 Oct 2018, 09:51

Những Ý Tưởng Hay by Ai Hoa Wed 17 Oct 2018, 08:06

Truyện ngụ ngôn La Fontaine tròn 350 tuổi by Ai Hoa Wed 17 Oct 2018, 07:51

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Trí thức miền Nam sau 75

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Tác giảThông điệp
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Thu 12 Jun 2014, 05:16

Trà Mi đã viết:
Cám ơn các bạn tham gia, mời các bạn đọc tiếp bài này:

Người mê nhảy đầm, quần ống loe ... đã từng bị đối xử như thế này.







30 năm trước, năm 1983, tại Việt Nam nổi lên phong trào "quản lý nếp sống văn minh" mà nội dung cấm "nhạc vàng", "nhảy đầm", để tóc dài, mặc quần loe, áo đuôi tôm... bởi như thế cực kỳ NGỨA MẮT.

Cả Hà Nội như lên đồng, các đội tự quản tóe đi khắp nơi, theo dõi những người hay vào ăn tại các nhà hàng được gọi là "đặc sản", chặn người và chặn xe để khám xét, cắt tóc dài, rạch quần loe.






Ảnh: Tội phạm "Nhảy Đầm" bị treo biển dắt đi giữa phố


Một trong những nạn nhân oan uổng của chiến dịch này là TS Lê Xuân Nghĩa, nay là Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khi đó ông mới học ở Cộng hòa Dân chủ Đức về nước và làm việc tại Ủy ban Vật giá Nhà nước. Tất nhiên ông chỉ có những quần áo mang từ Đức về, mà quần loe là mốt của toàn thế giới lúc đó (trừ Việt Nam). Ông đang đạp xe giữa đường phố Hà Nội, bỗng công an ập tới và ngang nhiên rạch cả hai ống quần của ông, từ gấu lên hông. Không thể ngồi đạp xe được nữa, ông đành đi bộ về cơ quan để nhờ Ủy ban Vật giá giúp ông khiếu kiện chuyện thô bạo đó. Nhưng cả Bí thư Đảng ủy lẫn lãnh đạo cơ quan đều cho công an làm thế là đúng! Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá lúc dó là ông Tô Duy còn nhận xét:
"CÁI QUẦN NÓ LOE THÌ ĐẦU ÓC CỦA NÓ CŨNG LOE !!!"

(TM sưu tầm)

Shiroi mới mua cái quần này nè



Chắc ra đường phải túm cái ống lại quá  :sao: 
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7856
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Thu 12 Jun 2014, 08:49

Shiroi đã viết:
Trà Mi đã viết:
Cám ơn các bạn tham gia, mời các bạn đọc tiếp bài này:

Người mê nhảy đầm, quần ống loe ... đã từng bị đối xử như thế này.






Ảnh: Tội phạm "Nhảy Đầm" bị treo biển dắt đi giữa phố


30 năm trước, năm 1983, tại Việt Nam nổi lên phong trào "quản lý nếp sống văn minh" mà nội dung cấm "nhạc vàng", "nhảy đầm", để tóc dài, mặc quần loe, áo đuôi tôm... bởi như thế cực kỳ NGỨA MẮT.

Cả Hà Nội như lên đồng, các đội tự quản tóe đi khắp nơi, theo dõi những người hay vào ăn tại các nhà hàng được gọi là "đặc sản", chặn người và chặn xe để khám xét, cắt tóc dài, rạch quần loe.

Một trong những nạn nhân oan uổng của chiến dịch này là TS Lê Xuân Nghĩa, nay là Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khi đó ông mới học ở Cộng hòa Dân chủ Đức về nước và làm việc tại Ủy ban Vật giá Nhà nước. Tất nhiên ông chỉ có những quần áo mang từ Đức về, mà quần loe là mốt của toàn thế giới lúc đó (trừ Việt Nam). Ông đang đạp xe giữa đường phố Hà Nội, bỗng công an ập tới và ngang nhiên rạch cả hai ống quần của ông, từ gấu lên hông. Không thể ngồi đạp xe được nữa, ông đành đi bộ về cơ quan để nhờ Ủy ban Vật giá giúp ông khiếu kiện chuyện thô bạo đó. Nhưng cả Bí thư Đảng ủy lẫn lãnh đạo cơ quan đều cho công an làm thế là đúng! Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá lúc dó là ông Tô Duy còn nhận xét:
"CÁI QUẦN NÓ LOE THÌ ĐẦU ÓC CỦA NÓ CŨNG LOE !!!"

(TM sưu tầm)
 
Shiroi mới mua cái quần này nè



Chắc ra đường phải túm cái ống lại quá  :sao: 

Hỏng túm thì có mà té bò càng!  :potay: 


_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7856
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Thu 12 Jun 2014, 08:58

Đầu óc ông Tô Duy hong loe mà chỉ có túm thui!

Nhà báo Trần Đình Bá và cuộc “đụng đầu” với một VIP


Năm 1987, trên báo Quân đội nhân dân xuất hiện bài báo “Sự thật về nhà ở của đồng chí Tô Duy” đã gây chấn động dư luận. Ông Tô Duy là Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước, hàm ngang Bộ trưởng. Động đến một vị lãnh đạo, hàm Bộ trưởng là một chuyện “động trời” vào thời kỳ đó.

Người viết loạt bài này là nhà báo, Thượng tá Trần Đình Bá. Và với ông, vụ việc sẽ mãi không thể quên được... Chúng tôi kể lại vụ việc này không nhằm chỉ trích cá nhân được nêu trong bài mà chỉ muốn qua lời kể của Trần Đình Bá để bạn đọc phần nào hiểu được cuộc đấu tranh của báo chí trong giai đoạn này khó khăn như thế nào.

Động vào vùng “cấm”

Theo bài báo nêu thì ông Tô Duy với cương vị là Chủ tịch trọng tài kinh tế Nhà nước đã lạm dụng chức quyền và ảnh hưởng của mình để chiếm dụng quá tiêu chuẩn diện tích nhà ở nên đã gây tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng ở cơ quan Trọng tài Kinh tế nhà nước. Đơn thư gửi đến nhiều cơ quan, trong đó có báo Quân đội nhân dân (QĐND).

Theo đánh giá của dư luận lúc ấy thì bài báo “Sự thật về nhà ở của đồng chí Tô Duy” là một sự kiện chưa từng có của báo Quân đội Nhân dân. Hội Nhà báo đã xếp giải A, trao phần thưởng và bằng khen về tác phẩm chống tiêu cực đạt hiệu quả cao.

Nhà báo Trần Đình Bá kể: "Nhận được thư của bạn đọc, tôi hiểu rằng nếu có làm vụ này sẽ động đến vùng cấm. Những cán bộ cao cấp như ông Tô Duy đều thuộc quyền quản lý của Ban Bí thư, Bộ Chính trị.

Ngày 15/1/1987, tôi nộp bài cho Tổng biên tập (TBT), nhưng bài báo nằm im trên bàn thủ trưởng suốt mấy tháng liền. TBT của báo QĐND lúc đó là Thiếu tướng Trần Công Mân, một người mà tôi rất kính trọng. Trước mỗi sự việc, nhất là đấu tranh chống tiêu cực, ông rất kiên quyết nhưng cũng rất thận trọng. Cuối cùng qua rất nhiều trăn trở, đến ngày 9/4/1987 trên báo QĐND cũng xuất hiện được dòng nhắn tin về “Một số vụ việc ở cơ quan Trọng tài Kinh tế Nhà nước”. Dòng nhắn tin này nếu đăng vào thời bây giờ thì chẳng có tí tác dụng gì nhưng ở vào thời điểm đó, nó lập tức gây được sự chú ý của dư luận.

Ông Tô Duy còn là ứng cử viên Đại biểu Quốc hội khoá VIII. Dòng tin nhắn nhỏ này như một “quả bom” tạo những hiệu ứng rất mạnh. Ban Nội chính T.Ư và Uỷ ban kiểm tra T.Ư được triệu tập để báo cáo với Ban Bí thư về kết quả kiểm tra đơn thư tố cáo về ông Tô Duy. Các báo cáo này đều khẳng định việc ông Tô Duy sử dụng quá nhiều diện tích nhà ở và quỹ công sai tiêu chuẩn là có thật. Ngay sau đó ông Tô Duy được gợi ý rút ra khỏi danh sách ứng cử viên QH khoá VIII. Hội đồng bầu cử QH số 5 của tỉnh Hải Hưng (nơi ông Tô Duy ứng cử) nhận được thông báo quyết định xoá tên ông Tô Duy khỏi danh sách ứng cử viên.

Tôi cảm thấy như mình vừa làm được một việc đúng, nhưng tôi cũng hiểu tất cả chỉ mới bắt đầu. Tôi và cả TBT Trần Công Mân đều sẽ phải chuẩn bị đối phó với những đòn phản công của ông Tô Duy. Điều nguy hiểm là tất cả những thư, báo cáo của tôi và TBT gửi Hội đồng bầu cử, gửi 5 vị lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước lúc đó thì ông Tô Duy cũng đều có được.

Ông Tô Duy hiểu rằng báo đang bị “đèn đỏ” và sự phản ứng của ông càng quyết liệt. Tôi hiểu rằng, báo chí chỉ có một vũ khí duy nhất là ngòi bút và thêm nữa là lòng dũng cảm. Nhưng vũ khí lợi hại là các bài báo thì đã bị “niêm cất” (ông Đào Duy Tùng lúc bấy giờ là Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban Tuyên huấn T.Ư và ông Trần Quốc Hương, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban Nội chính T.Ư đều có ý kiến chỉ đạo với báo QĐND là tạm dừng không đăng về vụ ông Tô Duy). Tình thế của tôi chẳng khác nào ngồi lên lưng hổ, nhưng dây xích hổ lại nằm trong tay người khác.


Chỉ có thể đi tiếp

Đã có lúc tôi nao núng vì cảm thấy cuộc chiến đấu mà mình đang theo đuổi thật khủng khiếp, nhưng rồi tôi đọc lại nghị quyết VI của Đảng, đọc lại “Những việc cần làm ngay” của tác giả N.V.L (bút danh của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) và tất cả lại cho tôi niềm tin. Tôi quyết định viết thư cho 3 vị lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước lúc bấy giờ là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội Đồng Nhà nước Trường Chinh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng. Tôi cố gắng tìm con đường ngắn nhất và nhanh nhất để những bức thư tay này đến các đồng chí ấy một cách nhanh nhất và chờ đợi...

Ngày 2/7/1987, vừa bước chân vào toà soạn tôi nhận được thư. Một phong bì mà với tôi thấm đẫm nước mắt. Thư từ Văn phòng Tổng Bí thư. Trong bức thư có ý kiến của đích thân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: “Nếu bài viết có nội dung tốt, chính xác, chân thực, có tác dụng xây dựng thì đồng chí TBT quyết định cho đăng và báo chịu trách nhiệm với bạn đọc”. Tôi mừng khôn xiết. Tưởng chừng vụ việc đi vào chỗ bế tắc thì đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng lại rất quan tâm. Ngày 22/7/1987 là một ngày thực sự đáng ghi nhớ trong cuộc đời làm báo của tôi. Suốt đêm hôm trước tôi không thể ngủ được bởi bài báo “Sự thật về nhà ở của đồng chí Tô Duy” đã được BBT đồng ý cho đăng. Tôi đi qua các quầy báo, thấy nhiều người mua báo QĐND. Ai cũng chăm chú đọc bài báo ở trang 2. Đó là một phần thưởng vô giá đối với tôi.

“Sự thật về nhà ở của đồng chí Tô Duy” lập tức gây chấn động dư luận hàng triệu độc giả trong cả nước. Nhiều báo đã trích đăng lại kèm theo lời bình luận. Riêng báo Đồng Nai đăng lại nguyên văn. Hàng ngàn bạn đọc đã gửi thư, gọi điện hoặc trực tiếp đến toà soạn để bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ.

Nhưng sau bài báo được đăng, tôi mới hiểu, thực ra cuộc đấu mới chỉ mở màn.


Cuộc họp quan trọng của Ban Bí thư


Tối ngày 24/7/1987, tôi vừa tắt đèn lên giường thì có người gọi vẻ hốt hoảng. Thì ra là Nguyễn Kinh Quốc, phóng viên nhiếp ảnh của báo (bây giờ thì Quốc đã là một cán bộ có cỡ rồi). Tôi vừa mở cửa Quốc đã nói ngay: Anh xuống ngay, “cụ” Thuỳ đang đứng chờ dưới sân. “Cụ” Thùy là cách chúng tôi gọi thân mật Phó TBT báo QĐND Bùi Biên Thuỳ. Việc “cụ” đến tận nhà tôi giữa lúc khuya khoắt thế này chắc là nghiêm trọng lắm. Vừa gặp “cụ” đã nói ngay: Ban Bí thư triệu tập vào Sài Gòn ngày 28 để họp về vụ Tô Duy. Tôi hiểu không phải cứ có bài báo ra là có thể gặt hái được chiến thắng. Chân lý bao giờ cũng phải trải qua rất nhiều gian khó.

Sáng ngày 27/7, chúng tôi có mặt ở TPHCM để chuẩn bị cho cuộc họp quan trọng này.

Có lẽ chưa bao giờ có một cuộc họp vì một bài báo lại có thể phải triệu tập nhiều các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng đến thế. Sau này, trong cuộc đời làm báo, chứng kiến rất nhiều cuộc họp lớn nhỏ tôi cũng chưa từng thấy. Chủ trì cuộc họp là đồng chí Đỗ Mười, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng (đồng thời là Thường trực Ban Bí thư). Thành phần dự họp gần như có đủ các đồng chí trong Ban Bí thư (6 đồng chí). Về phía báo QĐND có TBT Trần Công Mân, Phó TBT Bùi Biên Thuỳ và tôi. Tất nhiên về phía trọng tài kinh tế nhà nước có đồng chí Tô Duy.

Phần lớn các ý kiến của Ban Bí thư đều xoay quanh vấn đề diện tích nhà ở của đồng chí Tô Duy. Đến lượt mình, ông Tô Duy thủng thẳng mở cặp lấy ra một tập tài liệu đã xếp sẵn trao cho các đồng chí trong Ban Bí thư rồi đọc một bản giải trình dài thỉnh thoảng kéo thêm lời giải thích. Mất hơn 2 giờ đồng hồ. Tóm lại giải trình của ông Tô Duy tập trung ở mấy điểm: Báo QĐND đã đưa sai lệch các thông tin về cá nhân ông Tô Duy, thiếu tình người. Theo luật hình sự phải truy tố”. Ông Tô Duy phát biểu xong thì chủ toạ (đồng chí Đỗ Mười) tuyên bố nghỉ trưa, để đến buổi chiều báo QĐND phát biểu.

Buổi chiều hôm đó cũng là một trong những buổi chiều mà suốt đời làm báo tôi cũng không thể nào quên được. Chưa bao giờ tôi phát biểu dài như thế và cũng không biết tôi lấy đâu ra sức mạnh của sự hùng hồn để có thể diễn giải rất nhiều chứng cứ đúc kết lên bài viết."


NMT
(Dân Trí)

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7856
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Thu 12 Jun 2014, 09:08

Hé mở tấm màn bí mật

Cuộc đối chất lịch sử

"Khi tôi phát biểu xong thì nhà báo Trần Công Mân (TBT báo Quân đội Nhân dân) đứng lên phát biểu tiếp (tôi không kể lại những đoạn phát biểu này vì sẽ quá dài và làm mất thì giờ của bạn đọc mặc dù ông Mân phát biểu rất hay). Sau đó, đồng chí Đỗ Mười tuyên bố nghỉ giải lao. Hết giờ giải lao, Ban Bí thư hội ý riêng khoảng 30 phút rồi cuộc họp tiếp tục.

Lúc này phát biểu trước tiên là đồng chí Trần Quốc Hương (Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính T.Ư). Ý kiến của đồng chí Trần Quốc Hương đại ý như sau: “Nội bộ của cơ quan Trọng tài Kinh tế Nhà nước có mâu thuẫn từ lâu. Cả 5 căn hộ đều cấp cho anh Tô Duy đề nghị anh Tô Duy kiểm điểm sâu sắc”.

Tiếp đến đồng chí Nguyễn Đức Tâm (Uỷ viên Bộ Chính Trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban tổ chức T.Ư) phát biểu. Ý kiến của đồng chí Nguyễn Đức Tâm cũng xoay quanh việc phê bình đồng chí Tô Duy về việc nhà ở. Tiếp đến là ý kiến của đồng chí Đào Duy Tùng (Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng). Cuối cùng thì đồng chí Đỗ Mười (Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Thường trực Ban Bí thư) kết luận, một kết luận mà trong đời làm báo tôi luôn nhớ. Ít nhất thì kết luận của đồng chí lãnh đạo cao cấp lúc đó cũng rất rõ ràng: “Anh Tô Duy phải bình tĩnh tự kiểm điểm, phê và tự phê sâu sắc trước Đảng bộ cơ sở, trước quần chúng để giải quyết nội bộ”.

17h30 phút ngày 30/7/1987, cuộc họp kết thúc.

Mọi người lần lượt ra về. Tôi soạn tài liệu cho vào cặp. Nhìn sang thấy ông Tô Duy vẫn ngồi yên chỗ cũ. Tôi bước ra khỏi phòng họp. Được mươi bước, tôi đột ngột quay lại nhìn, thấy ông Tô Duy đang nhoài người nói chuyện với một đồng chí cán bộ cao cấp đứng trước mặt. Có thể ông ấy đang muốn thanh minh thêm điều gì chăng?

Chưa bao giờ, một vụ việc chống tiêu cực của báo chí lúc ấy lại được sự quan tâm của các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước như vụ Tô Duy. Âm vang của “cuộc đối chất lịch sử” ngày 30/7/1987 được truyền đến tai bạn đọc như một tín hiệu cho thấy thái độ kiên quyết của cấp trên về một vụ tiêu cực gây xôn xao dư luận.

Nhiều người tin chắc rằng trước các kết luận của các vị lãnh đạo trong cuộc đối chất này sự việc sẽ được giải quyết nhanh chóng. Bạn đọc nóng lòng được đọc những thông báo kết luận về vụ Tô Duy. Chúng tôi cũng vậy, nhưng chúng tôi cũng lờ mờ hiểu được tính chất của sự việc lại gay go, phức tạp hơn nhiều.


Kết luận của Ban Bí thư


Đầu tháng 8, Báo QĐND nhận được thông báo của Ban Bí thư kết luận về “vụ Tô Duy”. Nhà báo Trần Đình Bá kể lại: “Khi nhận được thông báo này, chúng tôi mừng húm. Trung ương đã giải quyết vụ việc rất nhanh, nhưng thật bất ngờ. Trong thông báo này lại ghi một câu rất khó hiểu là “Kết luận của Ban Bí thư về dư luận đồng chí Tô Duy...” Tại sao lại là kết luận về dư luận? Tôi thẳng thắn trình bày quan điểm với TBT Trần Công Mân: Tôi thấy kết luận này không phản ánh đủ tinh thần cơ bản của cuộc họp ngày 30/7. Bởi việc chiếm dụng diện tích nhà là thực tế quá rõ ràng, không còn là “dư luận” nữa. Nếu vẫn là “dư luận” thì làm sao có “kết luận” được.

TBT Trần Công Mân đắn đo suy nghĩ một lúc rồi nói: “Thôi cậu về viết công văn báo cáo Ban Bí thư. Chú ý chỉ nói mấy điểm kết luận thôi”. Hôm sau tôi soạn xong công văn, mang đánh máy và được TBT sửa rất kỹ trước khi gửi đi. Một tuần sau, rồi một tháng sau, sự việc như chìm vào im lặng đáng sợ.

Mặc dù kết luận của Ban Bí thư ghi rõ: “Giao cho Đảng uỷ khối Nội chính, Uỷ ban kiểm tra T.Ư chỉ đạo chi bộ của đồng chí Tô Duy, Đảng uỷ cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nước tiến hành kiểm điểm đồng chí Tô Duy. Việc kiểm điểm phải được tiến hành nghiêm túc”, nhưng trên thực tế đã có những thế lực khác đã đẩy chệch sự việc đi theo hướng khác.


Ông Tô Duy đã được “minh oan” như thế nào?


Chiếc “gậy thần” được đưa ra thật đúng lúc để cứu ông Tô Duy khỏi bị kiểm điểm chính là kết luận của Bộ Xây dựng. Bằng công văn số 740 ngày 7/9/1987 do Bộ trưởng Phan Ngọc Tường ký gửi Ban Bí thư và đồng chí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Công văn này kết luận: Theo tiêu chuẩn tối thiểu của NĐ 150/CP thì diện tích nhà ở của đồng chí Tô Duy thừa khoảng... 5m2. Diện tích này so với đất đai tham nhũng của các quan chức bây giờ thì đúng là nực cười. Với diện tích như vậy đâu đáng để đưa sự việc của đồng chí Tô Duy lên báo chí và đâu đáng để bị phải... kiểm điểm?

Báo QĐND ngay lập tức có công văn gửi Bộ Xây dựng. Ngày 22/9/1987, tôi mang công văn của TBT đến Văn phòng Bộ Xây dựng xin được gặp Bộ trưởng đề nghị ông trả lời 6 câu hỏi. Tất nhiên, ông Phan Ngọc Tường lấy rất nhiều lý do để né tránh phải đối đầu trực diện với báo chí (như khá nhiều vị lãnh đạo các bộ, ngành sau này cũng vậy. Họ thường chọn giải pháp “bận” để né tránh báo chí, nhưng thực tế là sự thiếu dũng cảm của họ).

Sau một thời gian, chúng tôi nhận được bản trả lời đánh máy sẵn của Bộ trưởng Phan Ngọc Tường do Văn phòng bộ chuyển. Đọc kỹ bài trả lời, chúng tôi thấy đồng chí Bộ trưởng chỉ loanh quanh. Toàn bộ bài trả lời này cũng như bài trả lời của ông Phùng Minh - Giám đốc Sở Nhà đất Hà Nội về diện tích nhà ở của ông Tô Duy  được báo QĐND đăng ngày 19/10/1987. Đó là đòn “chặn viện” mà chúng tôi buộc phải sử dụng. Sau bài báo này, ông Tô Duy đã phải tiến hành kiểm điểm trước toàn thể cán bộ, công nhân viên cơ quan Thanh tra Kinh tế Nhà nước.

Ngày tháng cứ thế trôi đi trước sự thúc giục gay gắt của dư luận đòi hỏi phải kết luận công khai vấn đề nhà ở của ông Tô Duy. Có rất nhiều thư bạn đọc gửi đến toà soạn yêu cầu vụ việc phải được làm sáng tỏ. Có những bạn đọc đến tận toà soạn hỏi rồi ngẩn ngơ ra về. Chúng tôi, những người làm báo, cũng đành phải chờ. Vì vũ khí của chúng tôi chỉ có ngòi bút, lòng dũng cảm và những bài báo, và vẫn có những “vùng cấm” mà chúng tôi không thể vượt qua.

Hai tháng cuối cùng của năm 1987, vụ “Tô Duy” tiếp tục chìm trong “sự im lặng đáng sợ”. Đến tháng 3/1988, Ban Bí thư lại phải có công văn thứ hai chỉ thị cho các cơ quan phải giải quyết dứt điểm vụ việc này. Gần 1 tháng sau, Bộ Xây dựng lại có văn bản kết luận khác khá bất ngờ, lần này do Thứ trưởng Phạm Sĩ Liêm ký.

Văn bản 517, ngày 1/4/1988 kết luận: Nhà ở của đồng chí Tô Duy thừa 5,2m2. Quả thật là nực cười, khi sau bao lâu tính đi tính lại, với rất nhiều ý kiến chỉ đạo, thúc giục, cuối cùng Bộ Xây dựng tính thêm diện tích thừa của ông Tô Duy thêm được 0,2 m2 nữa so với kết luận cũ.

Cuối cùng cả 5 chỗ ở của ông Tô Duy vẫn được giữ nguyên. Sau mấy ngày kiểm điểm trước chi bộ, khi đến tuổi nghỉ hưu, ông Chủ tịch TTKTNN cũng được nghỉ hưu như bao người đến tuổi nghỉ hưu khác.

Tôi cảm thấy ngậm ngùi và cay đắng suốt bao ngày sau đó. Bài báo “Sự thật về nhà ở của đồng chí Tô Duy” được dư luận đồng tình ủng hộ, nhưng rồi cuối cùng nó cũng như hòn đá ném xuống ao bèo. Bèo có dạt ra, nước có chao động nhưng sau đó lá bèo lại phủ kín mặt ao."


Nhà báo Trần Đình Bá sinh năm 1947. Năm 1999, ông viết đơn xin nghỉ hưu lúc mới 52 tuổi, cái tuổi đang rất chín về nghề và vẫn còn rất sung sức. Trong đơn xin nghỉ hưu sớm ông viết: “Mấy năm qua, cơ chế thị trường đã tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống. Tôi trở thành một loại cán bộ không còn thích hợp với cơ chế thị trường, vì vậy tôi viết đơn này xin nghỉ”. Sau này đôi khi trong lúc trà dư tửu hậu, ông tâm sự: Có quá nhiều tham nhũng, nhiều cán bộ sâu mọt đang hoành hoành đất nước. Ông có cảm giác mình chỉ như hạt cát, quá nhỏ bé trước những tiêu cực của xã hội. Nghỉ, ông cảm thấy thanh thản hơn.

NMT
(Dân Trí)

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Fri 13 Jun 2014, 05:31

Ai Hoa đã viết:
Shiroi đã viết:

Shiroi mới mua cái quần này nè



Chắc ra đường phải túm cái ống lại quá  :sao: 
 
Hỏng túm thì có mà té bò càng!  :potay: 

đi thướt tha bay phất phới, té làm sao được mà té anh ơi. Có lỡ té biết đâu có người... đỡ  dd 
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1893
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Fri 31 Jul 2015, 13:02

Vai trò của trí thức miền Bắc sau 1975 [4]

A.- Huyền thoại Mỹ là đế quốc xâm lược.

Trong lịch sử nước Mỹ, người ta chưa thấy có lần nào Mỹ mang quân đi xâm chiếm nước khác. Nếu họ có là là thực dân đi nữa thì thực dân ở chỗ khác, không phải ở việc chiếm cứ đất đai. Trong thế chiến hai, họ thiệt hại gần nửa triệu quân lính. Mục đích của sự tham chiến của Mỹ là giúp các đồng minh của họ chống Phát Xít. Nhất là khi Nhật mở đầu đánh bom Trân Châu Cảng- một căn cứ hải quân của Mỹ.

Sau chiến tranh, họ rút lui.

Sau đó, họ tham chiến trong chiến tranh Triều Tiên- 1950-1953 cùng với một số nước đồng minh của họ. Lần này dưới danh nghĩa để bảo vệ thế giới Tự Do chống lại cộng sản.

Trong chiến tranh Cao Ly giữa Nam Bắc Hàn thì đây được coi là cuộc chiến tranh giữa hai khối: cộng sản và tư bản.

Năm 1954-1955, họ bắt đầu trực tiếp thay thế người Pháp và tham dự trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dướng lần hai.

Chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh ở Việt Nam nói cho cùng là chiến tranh giữa khối cộng  sản đứng đầu là Liên Xô và Trung Cộng.. Bên kia là người Mỹ.

Nếu Mỹ tham chiến ở Triều Tiên thế nào thì họ tham chiến ở miền Nam cũng như vậy. Nếu Mỹ không xâm lược Triều Tiên thì cũng không vì lẽ gì Mỹ xâm lược miền Nam. Mặc dầu nhiều người dân VN thời kỳ ấy không bằng lòng sự có mặt đông đảo của Mỹ ở miền Nam. Nhưng không có nghĩa chống Mỹ xâm lược. Họ vẫn phải thừa nhận rằng, Mỹ có mặt ở miền Nam là để giúp miền Nam chống lại họa xâm lăng của cộng sản.Và đến một lúc người ta hiểu rằng sự sống còn của miền Nam có hay không tùy thuộc vào sự viện trợ của người Mỹ.

Tự hỏi, nếu không có Mỹ thì số phận miền Nam  sẽ ra sao. Nhưng cũng một cách hỏi như thế, nếu không có Nga, Trung Cộng thì cộng sản miền Bắc làm được gì?

Người Mỹ không bao giờ có tham vọng đất đai hoặc xâm chiến miền Nam. Từ xa xôi nửa vòng trái đất, người Mỹ bỏ ra hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm không phải để bóc lột một đất nước nghèo nàn và còn chậm tiến như Việt Nam.

Người Mỹ đến Việt nam là để thi hành cái nghĩa vụ, cái lý tưởng của họ, cái chính sách của họ- điều mà họ đã làm trước đây ở Triều Tiên.

Tổng thống Lyndon B. Johnson, ngày 17.2.1965 tuyên bố:

“Mục đích của chúng tôi ở Việt Nam Cộng Hòa là tham gia vào công cuộc phòng thủ và bảo vệ nền tự do của một dân tộc dũng cảm đang chịu đựng một cuộc tấn công do từ bên ngoài nước họ kiểm soát và điều khiển’[1]

Nói Mỹ xâm lược là cách nói lừa dối, để nói nhỏ cho người dân và những kẻ khờ dại nghe thôi. Một người bạn tôi đã đưa ra một nhận xét dí dỏm khi đọc loạt bài này đã điện thoại nói:

Cái khốn nạn nhất của Bắc Việt là đã thắng Mỹ.

Bởi vì tất cả những kẻ thua Mỹ hay là bạn của Mỹ thì sau này đều khá giả, ăn nên làm ra. Âu Châu- trong đó có Đức và nhất là Á Châu có Nhật sau này trở thành những cường quốc trên thế giới. Người Nhật nay coi đại tướng MacArthur ( Chỉ huy lực lượng đồng minh ở Thái Bình Duong- thắng Nhật năm 1944-1945-Và chỉ huy lực lượng của Liên Hiệp Quốc tại Cao Ly năm 19501951) là một trong những ân nhân của nước họ. Các nước ăn theo như Đại Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, Singapor thì sau này cũng đều khá cả.

Chỉ có một kẻ dại dột thắng Mỹ thì sau nay được xếp loại một trong những nước nghèo nàn thuộc loại mạt rệp nhất thế giới.

Người cộng sản cứ la chói lói Mỹ xâm lược mà cố tình quên đi kẻ thù nguy hiểm  nhất đang nằm chờ sẵn ở biên giới phía Bắc. Đối với kẻ thù ở ngay kề cận thì họ cố đấm ăn xôi không dám mở miệng lên tiếng tố cáo, còn kẻ thù ở xa thì nay có thể coi là bạn thì gọi sách mé là ‘ Đế  quốc Mỹ xâm lược’.

Câu hỏi ở đây và câu trả lời cũng ở đây là ai xâm lược ai? Mỹ xâm lược hay cộng sản miền Bắc chính là kẻ Xâm lược?

B.- Sự thật, kẻ xâm lược miền Nam, chính lại là cộng sản Bắc Việt.

Xin xem các hình ảnh và họa đồ in photopy là bằng chứng tội phạm, bằng chứng hiển nhiên,  hiếm hoi còn cất giữ được. [2].

Tài liệu cho thấy mưu đồ xâm chiếm miền Nam là không chối cãi được.

Lẽ dĩ nhiên nay có vô số tài liệu do chính cộng sản bạch hóa ra về việc xâm lăng miền Nam của họ cũng như Hồi ký Thư Vào Nam của Lê Duẩn.

Họ thừa nhận và hãnh diện là đàng khác.

Thế nhưng, công bằng thì hãy trả sự thật về cho lịch sử. Xin các sử gia miền Bắc, xin các nhà trí thức miền Bắc hãy lên tiếng một lần: Ai là người trực tiếp xâm lược miền Nam? Xe tăng T. 54 từ đâu tới? Không lẽ quý vị cứ cúi mặt che dấu sự thật mãi.

Nhưng lần này, không may cho họ và cho miền Nam- Họ đã rơi vào một vũng lầy chiến tranh mà lối thoát ‘danh dự’ duy nhất cuối cùng là họ đã bán đứng miền Nam Việt Nam cho Trung Cộng.

Không có cú bắt tay lịch sử giữa Nixon và Mao Trạch Đông thì hãy khoan nói đến chuyện ‘Giải phóng miền Nam’. Vũng lầy ấy bắt đầu bằng việc Trung Lập hóa Lào, mở đường cho cộng sản Bắc Việt có đường xâm nhập miền Nam.

Không có việc Trung lập Lào mà theo đó cộng sản đã để lại 7000 người- giả vờ rút đi rồi. Vài tuần sau trở lại. Và chỉ vài tháng sau họ nuốt trọn Lào. Và nếu không có diễn tiến xảy ra như thế- cứ ký rồi vi phạm như trước đây Hiệp Định Genève và sau này sau này Hiệp định Ba Lê!!

Chiếm được Lào là thong dong thẳng đường vào Nam. Tự do thiết lập Binh đoàn 559, xâm nhập Nam Lào, xây dựng tuyến đừng mòn Hồ Chí Minh.

Ông Bùi Tín nhận xét trong Hoa Xuyên Tuyết :

‘Hồi năm 1961, tôi đã đi qua con đường này khi nó thực sự là con đường mòn, cây cối còn rậm rạp, hành quân còn mang ba lô, chống gậy lách đi trong rừng rậm. Đầu 1964, đường mòn đã mở rộng hơn, nhưng cũng chỉ vài tấc, đến một thước rưỡi, cho xe đạp thồ đi qua’[3]

Và theo TT Nixon thỏa ước Genève về Trung Lập Lào mở đường cho cuộc chiến thắng 1975 của Bắc Việt tại miền Nam Việt Nam.[4]

Chính Lê Duẩn cũng nhận xét về việc Trung Lập Lào như sau:

‘Phương hướng của Cách mạng Lào trong thời kỳ này cũng là xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng quân, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, tiến tới kết hợp khởi nghĩa với công kích, giải phóng cả nước’ .[5]

Ông Ngô Đình Nhu sau khi được tin Lào trung lập đã phát biểu:

‘Vấn đề thực sự của Việt Nam là tìm hiểu xem Hoa Kỳ đã ‘bán cái’, phản phé (sell out) các lực lượng chống Cộng ở Lào Như thế nào. Đối với người dân thường Á Châu, hoàn cảnh bên Lào có nghĩa là chấm dứt sự can thiệp của khối SEATO và đó là bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng bỏ rơi tất cả những nước chống Cộng khác. Kết quả người dân Á Châu đều thất vọng’[6]

C-Giải phóng miền Nam hay bóc lột miền Nam


Huy Đức đã dùng hẳn một cuốn sách, tập một với nhan đề hai chữ Giải Phong và để hẳn Chương Bảy để nói về hai chữ Giải Phóng.[7] . Rất  nhiều điều, rất nhiều chi tiết đã được đề cập tới. Thật trân trọng. Cách nhìn như thế đã là cởi mở và vượt xa những cách nhìn một chiều, giáo điều của một số trí thức miền Bắc. Ông viết:

‘Nhiều người Việt đã cầm súng với niềm tin họ chiến đấu là để gia3in phóng miền Nam. Trong suốt nhiều thập niên, truyền thông nhà nước đã lặp đi lặp lại điều này như là chân lý. ‘ Giải Phóng’ là cách nói để mô tả sự kiện kết thúc vào ngày 30.4-1975. :’ Giải phóng’ là từ không chỉ được dùng bởi những người đi từ trong trong các chiến khu mà còn được nói như phản xạ tự nhiên của không ít người dân..[8]

Điều giúp ông tháo gỡ khỏi quan điểm giáo điều cứng nhắc là ông là một tri thức trẻ, ít bị điều kiện hóa như lớp trí thức lớn tuổi.. Huy Đức cũng như một số người trẻ sau này sẽ có cơ giải trừ một số huyền thoại như một cuộc cách mạng tư tưởng..

Vì thế cho nên, tôi đặt tin tưởng và sự phản kháng của giới trẻ hơn lớp trí thức đã  trưởng thành dưới chế độ cộng sản. Cách gì họ cũng không lột hết được. Cả nước sông Hoàng Hà cũng không rửa được mà rửa cũng không sạh hết.

Đất nước này không thể mãi mãi sống bằng những bánh vẽ, nuôi dưỡng bằng những huyễn tượng phi lịch sử và chối bỏ sự thật. Người ta không thể sống mãi trong sự giả dối, lừa bip dân chúng, bưng bít sự thật nữa.

Tuy nhiên những điều Huy Đức viết thì chưa hẳn là cùng quan điểm với những người trong cuộc.

Dù sao ông vẫn là người ở ngoài nhìn vào.  Trên nguyên tắc, ông vẫn là kẻ thắng cuộc nhìn về kẻ thua cuộc. Công nhận ông có cúi mình xuống chia xẻ. Sự chia xẻ ấy trong một giới hạn có thể ghi nhận..

Nhưng ông không thể nào dù có thiện chí múc cạn được những kinh nghiệm sống. Những kinh nghiệm đắt giá không mua được bằng tiền. Văn chương nào nói cho hết, chữ nghĩa bất lực trước những oan khiên con người.

Có một điều như bất cứ người trí thức tiến bộ nào khác, ông vẫn chưa nhìn nhận ra được tính cách cơ cấu điều xấu của chủ nghĩa cộng sản. Cái cơ cấu ấy hỏng, cái tổ chức ấy hỏng,  nó làm hỏng toàn bộ các thành phần, các đơn vị, các thành tố nằm  trong cơ cấu ấy.

Cơ cấu hỏng thì thành tố hỏng.

Cho dù một hai thành tố là tốt thì vẫn không cứu gỡ được.

Vì thế, thay vì sửa chữa, tháo gỡ các sai trái trong các thành tố  như con người, giáo dục, kinh tế.. thì việc trước tiên và sau cùng là phá vỡ cơ cấu, tổ chức.

Có nghĩa là triệt tiêu cộng sản và nhà nước cộng sản thì mọi chuyện sẽ được giải quyết. Bao lâu còn muốn duy trì chế độ ấy và chỉ hy vọng sửa đổi là một ảo tưởng trí thức.

Đây cũng là khuyết điểm lớn nhất của những trí thức cộng sản- dù là trí thức tiến bộ nhất.- trong số họ. Họ sống trong tháp ngà ảo tưởng đã trên nửa thế kỷ.
Đấy là cái tội tổ tông truyền của họ.

Chúng ta thay đổi chế độ chứ không thay đổi con người của chế độ ấy.

Chúng tôi sẽ có dịp trình bày đầy đủ trong những phần sau của bài tham luận này.

Phần người miền Nam, cứ mỗi lần nhắc đến bốn chữ: Giải phòng miền Nam, tôi cho là đó là một sụ vu khống đểu cáng rất cộng sản..

Hỏi rằng dân chúng miền Nam đã nhận được gì sau cuộc giải phóng ấy?

Nếu không phải là một hình thức của chủ nghĩa thực dân kiểu mới- kiểu cộng sản-. Thực dân thuộc địa bóc lột một thì thực dân cộng sản bóc lột 10. Tôi đã sống khoảng đời thơ ấu dưới ‘ách thực dân Pháp’. Thú thực tôi mơ ước được sống lại quãng đời ấy, vì nó tốt đẹp gấp bội phần so với chế độ cộng sản.

Không có chế độ nào xấu xa, tồi tệ hơn chế độ cộng sản dù đó là chế độ phong kiến, chế độ thực dân thuộc địa hay chế độ Phát Xít!!

Nó biến toàn thể dân miền Nam chỉ trong vòng một năm vào cảnh nghèo đói đến hạt gạo-vẫn được coi là vựa thóc của miền Nam- cũng không có mà ăn. Người dân phải ăn độn ngô khoai thay cơm.

Nó đụng chạm đến cái lẽ sinh tồn của con người. Xin thưa, cơm áo không biết đùa và nó không đùa với bất kỳ ai!!

Tôi ứa nước mắt khi nghĩ lại những bữa cơm ăn độn ấy. Công viên chức nhà nước mới đầu được chia mỗi tháng nửa ki lô bột ngọt, rồi sau hai người một gói, cuối cùng mỗi người mười thìa cà phê.

Họ lấy gì để bào chữa cho những bữa cơm mà bình thường trước  đây có thể chỉ dành cho chó ăn!!

Tôi cũng nhớ lại hình ảnh cay đắng của  ông giáo sư Đặng Ngọc Thiềm dạy trường Trần Lục-. Từ cách ứng xử, từ cách phát ngôn nịnh bợ nhà nước đến phát ngượng, từ thái độ cười cợt, từ cách ăn mặc. Ông ăn mặc cục kỳ dơ dáy, áo bỏ ngoài quần, quần kaki lấm lem không giặt, đi dép Nhật Bản. Râu tóc không cạo như người rừng trái với phong cách con người XHCN.

Ông đóng đúng vai một người đầu đường xó chợ chứ không phải một thày giáo dưới mái trường XHCN vừa được ‘giải phóng’.

Ông nhặt đâu được cái xe đạp cổ lỗ xĩ, không phanh, không có chắn bùn mà từ xưa đến giờ ở Sài Gòn không thể có, không ai thèm đi. Ông treo nửa kilô thịt heo vừa được mua theo tiêu chuẩn -ra vẻ khoe một cách lộ liễu và lố bịch-. Ông treo vào cái ghi đông xe, sách nó nghênh ngang vào trong lớp học, để trên bàn cho học sinh thấy. Học sinh thấy, nhiều người thấy- ngỡ ngàng- kinh ngạc không biết phải nói  điều gì.

Cảm nhận riêng là tội nghiệp cho học sinh quá. Tại sao ông lại  hành hạ chúng bằng hình ảnh một ông thầy như vậy. Chúng có tội tình gì để phải nhìn một hình ảnh ông thầy xưa nay vẫn đượcn kính trọng thành môt tên hề XHCN!!

Thật sự là ông muốn bôi nhọ chế độ. Ông muốn bày tỏ một cách tố cáo: Chính các anh làm tôi ra nông nỗi này.

Đây là một sự phản đối tối thượng (Ultimate protest) mang chính bản thân mình ra để tố cáo một chế độ bất nhân muốn quản lý con người bằng cái dạ dầy.

D-Xin trả lại họ những từ Ngụy quân, Ngụy quyền mà chúng tôi không xứng đáng phải nhận .

Sau 1975, tôi phải đi học tập tại chỗ hơn một năm trời để nghe các cán bộ ngoài bắc vào ‘ lên lớp’. Đây là những buổi huấn nhục hơn là học tập. Trên kia, hết cán bộ này đến cán bộ khác lên bục ba hoa.

Đó là điển hình những người nói không biết ngượng.

Cái hình ảnh mà tôi ghi nhận trung thực nhất, rõ nét nhất và sống động nhất là họ nói như thật mà không biết ngượng. Nói xong một câu, họ tự vỗ tay và chúng tôi phải vỗ tay theo.

Sự chịu đựng của con người cũng có giới hạn thôi. Để trả đũa mỗi khi họ đang thao tác ở trên... Họ càng nói càng để hở ra những kẽ hở đến lố bịch. Ở dưới vỗ tay rào rào không ngớt, liên tục!! Vỗ tay lâu như thế, họ biết. Sau này, họ cấm vỗ tay!!

Chữ ngụy quân, ngụy quyền là câu nói cửa miệng, quen đến độ tự nhiên là như thế..Nói đã đành, họ bắt học viên phải tự nhìn nhận, phải tụ thú ‘ tội lỗi’ của mình.

Sau mỗi buổi học là phải viết kiểm điểm, phê và tự phê.

Phê là một hình thức gián tiếp tố cáo người khác. Tự phê là một hình thức tự bôi nhọ chính mình.

Tôi đã nghiền ngẫm, tại sao những Trường Chinh đã học mót được bên Tầu lối hành hạ xỉ nhục con người như vậy. Hình ảnh những nạn nhân trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa, quỳ cúi đầu nhận tội, bị xỉ vả, bị nhổ nước bọt lên đầu không một lời phản kháng hay bị mang riễu ngoài đường phố, ngực mang bảng viết chữ Tầu, người đi chung quanh chế riễu.  Nó cũng na ná cái hình ảnh cô gái bị gọt đầu, bôi vôi dẫn đi trong làng vì phạm tội ngoại tình thời xa xưa.

Tôi đã nói rồi, cái gì bên Tầu làm, bên ta theo đuôi ở một mức độ thấp hơn.

Kinh nghiệm tự phê này giáo sư Nguyễn Văn Trung, sau hơn một năm học tập như thế đã gọi đó chẳng khác gì là hình thức xưng tội của người theo Thiên Chúa giáo.

Huy Đức viết lại như sau:

‘Tiến sĩ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức ‘kiểm điểm’ mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính trị là một thứ ‘xưng tội man rợ’.[9]

Lẽ dĩ nhiên hình thức xưng tội bên Thiên Chúa Giáo là mang tính siêu nhiên, trả lời với Chúa mà người đại diện là vị linh mục có bổn phận chỉ nghe mà không có quyền phê phán và tuyệt đối không được tiết lộ ra bên ngoài.

Phần những nạn nhân bị gán ghép không ngụy quân cũng ngụy quyền thì xin trả lại cho người cộng sản những mạo xưng đó, vì họ không xứng đáng bị nguyền rủa như vậy. Điều gì được gán cho họ thì nay nên gán cho các cán bộ cộng sản mới phải.

E- Kết luận phần này

Như tôi đã nói ở trên, tôi từng có thời kỳ tuổi học trò sống dưới chế độ thực dân Pháp. Nói ra mà không khỏi buồn lòng một số người là sống dưới chế độ thực dân Pháp xem ra là Thiên Đàng so với thời gian sống dưới chế độ cộng sản!!
Người cộng sản xử xự thiếu nhân tính, bóc lột- tàn bạo và xúc phạm đến phẩm giá con người một cách trầm trọng..

Có lẽ không ai hiểu cộng sản hơn TT. Tưởng Giới Thạch. Trong một quyển sách hiếm  hoi và quý giá do ông biên soạn, ông đã đưa ra những nhận xét như một lới cảnh cáo cho mọi người:

- Chúng ta đã không hiểu rằng người cộng sản trước hết và bao giờ cũng là người cộng sản.( trang 200).

- Chúng ta phạm phải sai lầm là tiến hảnh một cuộc chiến tranh giới hạn ( Guerre limitée), chống lại chiến tranh toàn diện. ( Guerre totale) của cộng sản- trong đó có tuyên truyền, xâm nhập, phá hoại , đàm phán, thương lượng, chiến tranh phòng ngự và tấn công. ( trang 205).

- Và nhất là chủ trương Trung Lập,. Trung Lập là cái bãy sập của cộng sản giăng ra chờ cơ hội ‘diễn tiến hòa bình’ sang nổi dạy..( trang 305).

- Bài học thương thuyết, hòa hoãn với Mao Trạc Đông sau này đã phải trả một giá thật đắt.[10]

Những gì ông TT. Tưởng Giới Thạch viết cho đến nay vẫn đúng và vẫn nên học hõi. Cộng sản là như thế-cộng sản Trung cộng hay cộng Việt Nam thì cũng vẫn là cộng sản-.

Phần những nhà trí thức miền Bắc, trong khoảng thời gian ít nhất là 15 năm sau 1975, họ đã tỏ ra bất lực, thản nhiên và đứng ngoài cuộc để cho cộng sản vùi dập dân miền Nam.

Họ đã không đóng nổi vai trò người trí thức mà cụ Nguyễn Trãi qua hai câu thơ đã để lại cho hậu thế:

                  Lấy trí nhân mà thay cường bạo
                  Lấy đạo nghĩa mà thắng hung tàn
                                                Nguyễn Trãi
-------------------------------------------------------------------------------
[1] Trích tài liệu mật của CIA về : Hà Nội cung cấp nhân viên trọng yếu cho cuộc xâm lược võ trang vào miền Nam Việt Nam. Tài liệu in photocopy với hình ảnh và con số đính kèm về sự xâm nhập ấy.

[2]  Tài liệu : Hà Nội cung cấp nhân viên trong yếu cho cuộc xâm lược Võ trang vào miền Nam Việt Nam

[3]  Bùi Tín, Hoa Xuyên Tuyết, trang 26

[4] Nixon, No more Viet Nam, trang 58-60

[5]  Lê Duẩn, Thư vào Nam, trang 203

[6]A. J.Languth,  Our Viet Nam, The war 1954-1975, Nước Việt ta,  trang 147

[7] Huy Đức, Bên Thằng Cuộc I, Giải Phóng, trang 201

[8] Huy Đức, Ibid, trang 201

[9] Huy Đức, Ibid, trang 177

[10] Tchiang Kai-Shek, Comment les communistes se sont emparés de mon pays.( Làm thế nào người cộng sản đã xâm chiếm nước tôi.), nxb Morgan, 4 rue Cassette, Paris 5, năm 1958


© Nguyễn Văn Lục

Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Sat 01 Aug 2015, 03:38

Trà Mi đã viết:
Vai trò của trí thức miền Bắc sau 1975 [4]

A.- Huyền thoại Mỹ là đế quốc xâm lược.

Trong lịch sử nước Mỹ, người ta chưa thấy có lần nào Mỹ mang quân đi xâm chiếm nước khác. Nếu họ có là là thực dân đi nữa thì thực dân ở chỗ khác, không phải ở việc chiếm cứ đất đai. Trong thế chiến hai, họ thiệt hại gần nửa triệu quân lính. Mục đích của sự tham chiến của Mỹ là giúp các đồng minh của họ chống Phát Xít. Nhất là khi Nhật mở đầu đánh bom Trân Châu Cảng- một căn cứ hải quân của Mỹ.
...
©️ Nguyễn Văn Lục

Người viết bài này "tôn thờ" Mỹ ăn sâu vào trí não rồi á ! Evil or Very Mad
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1893
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Trí thức miền Nam - Hai mươi năm nhập cuộc (1955-1975)   Mon 01 Oct 2018, 07:30

Trí thức miền Nam - Hai mươi năm nhập cuộc (1955-1975)

Nguyễn Văn Lục

“Ðôi khi lịch sử cũng ban thưởng cho kẻ cứng đầu, và một hòn đá đặt đúng chỗ có thể chuyển hướng cả một dòng sông.”
E. Mounier


Tôi tình cờ đọc bài “Văn Miếu ở Nam Kỳ” của cụ Phan Văn Hùm viết trong tạp chí Tri Tân, số 144, ngày 01-05-1944, [1] một vài nhận xét về giới trí thức ở Nam Kỳ, xin ghi lại như sau:

“Dưới triều Nguyễn, ở Nam Kỳ có đỗ đạt chỉ lưa thưa vài bốn ông Tiến sĩ, mà Phan Thanh Giản là được sự nghiệp hiển hách hơn cả… Rồi trường Cao đẳng, rồi trường Cao học, rồi trường Ðại học, lần hồi thiết lập, đều ở cả tại Hà thành. Người đỗ đạt cao ở bên Pháp về như các ông Ngụy Như Kon Tum, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Nguyên, Ngô Ðình Nhu v.v... đều cũng là ở Trung, hoặc ở Bắc... Cho đến văn sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ, tài tình, tự tu sau buổi ra trường cao tiểu học hoặc trung học, cũng không phải ở Nam Kỳ mà có.

Vô duyên thay xứ Nam Kỳ. Tôi muốn nói vô duyên với sự học thời kim như thời cổ.”


Nhận xét có đôi phần chua xót này phản ánh phần nào sự thật ở vào những thời kỳ nhất định của xứ Nam Kỳ. Nhưng nó cũng cho thấy rằng, cụ Phan Văn Hùm đã hiểu nghĩa người trí thức, theo nghĩa thông tục đời thường, là người có bằng cấp cao. Trong khi đó, nếu hiểu trí thức là một thái độ, một ý thức, một suy tư, một thao thức trước hoàn cảnh xã hội, chính trị, thì cụ Phan Văn Hùm lại là người trí thức hơn ai cả. Chỉ nói về bằng cấp thôi thì cụ Phan Văn Hùm đã có bằng Cao học Triết học (Diplôme d’études Supérieures de Philosophie). Nhưng quan trọng hơn cả là cuộc đời dấn thân làm chính trị, đấu tranh cho quyền lợi của đất nước của cụ, cùng với vô số trí thức miền Nam khác.

Nói như thế thì trí thức miền Nam nào có thiếu? Họ nhiều lắm. Ðó là những Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Lê Bá Cang, Trần Văn Chiêu, Nguyễn An Ninh, Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Trần Văn Sĩ, Ðào Hưng Long, Lư Sanh Hạnh, Nguyễn Văn Lịnh, Trần Ðình Minh (tự Nguyễn Hải Âu), Lương Ðức Thiệp, Lý Vĩnh Khuôn, Lê Quang Lương (tự Bích Khê), Nguyễn Văn Quá, Nguyễn Văn Tiền, Edgar Ganofsky (1880-1943, chủ trương tờ La voix libre, quản lý tờ La Lutte, tờ Tia Sáng, bị kết án tù 10 năm biệt xứ)... Tất cả những vị trên đều là những người trí thức hàng đầu của miền Nam vào những thập niên 1930-1955.

Bài viết này mong muốn nhìn lại người trí thức miền Nam ở một giai đoạn khá đặc biệt: giai đoạn đất nước chia đôi 1955-1975. Họ là những ai? Họ đã làm những gì? Liệu trí thức miền Nam có kiếm ra được một hòn đá có thể chuyển hóa cả một dòng sông?


1. Trí thức miền Nam giai đoạn 1955-1960

A. Thời kỳ đầu ổn định

Sau Hiệp định Genève 1954, hai miền Nam Bắc trở thành đối đầu. Danh xưng mới, miền Nam và miền Bắc, cho thấy sự ngăn cách không chỉ nằm ở biên giới sông Bến Hải, mà còn in sâu trong tâm thức mỗi người: Bên kia là Bắc, là Cộng sản, là kẻ thù. Bên này, quốc gia chống Cộng. Như thể không còn là người Việt với nhau, như thể có hai nước Việt Nam hoàn toàn riêng biệt.

Khi ông Diệm về nước nhận chức Tổng thống, miền Nam đang ở bên bờ vực thẳm về chính trị, kinh tế và chịu sự đe dọa của các thế lực khuynh đảo bên trong lẫn bên ngoài. Lúc bấy giờ, chỉ cần ổn định được tình hình thì đã là một cứu tinh. Stephen Pan, trong Viet Nam Crisis, nhận xét:

“Ngo Dinh Diem assumed the prime ministership in 1954 when his country was facing economic chaos, political instability, and external subversion, not on a massive scale, but on a scale that kept increasing intensity. He led South Viet Nam through its initial crises, changed it from a monarchy to a republic, and built up the first national loyalty its people ever knew.” [2]

(Tạm dịch: “Ngô Ðình Diệm đã đảm nhiệm chức vụ Tổng thống vào năm 1954, khi đất nước của ông đang đối mặt với những hỗn loạn kinh tế, bất ổn chính trị và những áp lực khuynh đảo bên ngoài, không phải trên qui mô toàn diện, nhưng trên một qui mô mà cường độ [áp lực] ngày một gia tăng. Ông đã lãnh đạo miền Nam qua cơn khủng hoảng ban đầu này, biến nó từ chế độ quân chủ sang cộng hòa, và đã xây dựng được một sự trung thành quốc gia mà dân chúng trước đây chưa từng thấy.”)

Sau khi ổn định được miền Nam, người ta có cảm tưởng chính thể Ngô Ðình Diệm ở thế mạnh, có thể đương đầu được với miền Bắc. Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu:

“Trong cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào ngày 23-10-1955, không ai có thể chối cãi rằng tất cả đa số, nếu không muốn nói ít nhất 80% các đồng bào đã đi bỏ phiếu cho Thủ tướng Ngô Ðình Diệm giữ chức vụ Quốc trưởng tại miền Nam Việt Nam, thay thế Cựu hoàng Bảo Ðại bị truất phế, thuộc thành phần Phật tử.” [3]

Cũng trong tinh thần đó, Giáo sư Mẫu ghi nhận người ta đánh giá cao Ngô Ðình Diệm trong cương vị một tân tổng thống; người ta cũng nhắc đến “quá khứ trong sạch của Ngô Ðình Diệm khi làm việc quan và tính tình khí khái của ông khi từ chức Thượng thư Bộ Lại trong nội các đầu tiên của Bảo Ðại.” [4]

Trong giai đoạn này, chính phủ Ngô Ðình Diệm đã giải quyết và ổn định cả triệu người di cư từ miền Bắc vào, giải quyết xong vấn đề giáo phái, ổn định kinh tế và phát triển đào tạo giáo dục. Theo GS Lý Chánh Trung, có khoảng gần 200 trường Trung học đã được xây dựng dưới thời ông Diệm cho các tỉnh lỵ và quận lỵ. Ngay cả ở những vùng xa xôi, hẻo lánh và nghèo nàn như Gio Linh, Bồng Sơn, Cà Mâu, Trà Oạn v.v..., đều có trường học. [5]

Về an ninh, vào năm 1956, 90% cán bộ Việt Minh ở hạ tầng bị tiêu diệt. [6] Chẳng hạn, tại trại tù Chí Lợi ở Bình Dương, đã tập trung đến 6000 chính trị phạm Cộng sản bị bắt giam. [7] Ðặc biệt ở miền Trung, cán bộ của Ngô Ðình Cẩn tiêu diệt gần như toàn bộ Cộng sản nằm vùng, chi tiết này do chính những người đi kháng chiến giai đoạn sau tiết lộ - điều mà trước đây, người Pháp đã không bao giờ làm được trong suốt 9 năm chiến tranh Việt-Pháp. Trong những năm đầu của chính thể ông Diệm, người ta có thể đi suốt từ Cà Mau đến Bến Hải một cách an toàn. Thôn quê tương đối yên lành. Trong khi đó, miền Bắc sau 1954 rơi vào tình trạng đói kém, nếu không được Liên Xô viện trợ gạo từ Miến Ðiện, hẳn đã lâm vào cảnh nguy ngập.

Trong thời kỳ đầu của thập niên 1955-1960, chúng tôi thấy rõ một điều: miền Nam và miền Bắc là biểu tượng của hai thế lực, hai thứ chủ nghĩa, đều muốn chứng tỏ cho thế giới thấy là mình có chính nghĩa. Bên này, lãnh tụ là ông Hồ với Đảng Cộng sản. Bên kia, có ông Diệm với chủ nghĩa Quốc gia. Theo nhận xét của Edward Miller, ông Diệm cũng muốn trở thành một thứ Hồ Chí Minh ở miền Nam:

“Ngo Dinh Diem was a dreamer. As ruler of South Viet Nam from 1954 to 1963, Diệm aspired to greatness as a nation builder, and he was determined to find an alternative to the path taken by Ho Chi Minh and the Vietnamese Communists.” [8]

(Tạm dịch: “Ngô Ðình Diệm là người có hoài bão. Với tư cách là người lãnh đạo miền Nam từ 1954 đến 1963, Diệm mong muốn trở thành nhà lãnh đạo hàng đầu trong việc xây dựng chính quyền quốc gia, ông cương quyết tìm ra một đường lối khác biệt với con đường mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đang theo đuổi.”)

Có thể nói, trong giai đoạn đầu 1956-1960, các nhà văn, nhà báo và giới trí thức miền Nam thực sự tin tưởng vào thể chế chính trị đương thời, vào ý thức hệ chủ nghĩa Quốc gia, và vào chủ nghĩa tự do đối đầu với chế độ toàn trị của Cộng sản. Mai Thảo, trong bài “Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam”, trên tạp chí Sáng tạo số đầu, đã viết một cách đầy hào khí như sau: “Sài Gòn thay thế cho Hà Nội, từ một đô thị miền Nam trở thành thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước, Sài Gòn sáng tạo và suy tưởng.” [9] Cùng với Sáng tạo, vô số báo chí, nguyệt san ra đời, như tạp chí Quê hương của Giáo sư Nguyễn Cao Hách, Văn hóa Á châu của cụ Nguyễn Ðăng Thục, Tin sách của G.S Thanh Lãng, Luận đàm của Tổng Hội giáo giới với các cụ Thẩm Quỳnh và Nghiêm Toản, Bách khoa (1957) của nhóm Huỳnh Văn Lang, Hiện đại của thi sĩ Nguyên Sa và Thế kỷ hai mươi của Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch.

Trong số những nhà trí thức trong thời kỳ này, một phần khá lớn từ Bắc di cư vào Nam, bao gồm các nhà văn, nhà thơ tiền chiến như Nhất Linh, Vi Huyền Ðắc, Lê Văn Trương, Vũ Hoàng Chương, Ðỗ Ðức Thu, và lớp kế cận sau này, như Tạ Tỵ, Nguyễn Sĩ Tế, Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Mặc Ðỗ, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Mạnh Côn, Lê Văn Siêu, Hoàng Minh Tuynh, Nghiêm Xuân Hồng, hoặc trẻ hơn nữa như Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Vũ Hạnh, Thảo Trường, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Phạm Ngọc Thảo, Nguyên Sa Trần Bích Lan và Nhật Tiến. Dù gốc Bắc, họ vẫn được coi như những trí thức tiểu tư sản tiêu biểu của miền Nam Việt Nam.

Hầu hết những báo chí trên đều chủ trương một lập trường phi chính trị. [10] Họ tránh né những vấn đề chính trị và chủ trương làm văn học thuần túy. Với họ, chính trị là chính trị, văn học là văn học. Họ không muốn dính dáng đến chế độ. Nhiều người sau này không theo chính quyền Ngô Ðình Diệm mà cũng không chống, hay muốn chống mà chưa tiện, chưa dám chống công khai. Vì thế, họ không ưa những báo do nhà cầm quyền bảo trợ như tờ Văn đàn của nhóm Tinh Việt Văn Ðàn, do Phạm Ðình Tân, Phạm Ðình Khiêm chủ trương. Tờ Văn đàn ra mặt ủng hộ ông Ngô Ðình Diệm được coi là báo chính quyền nên ít ai muốn đọc, hầu như bị tẩy chay. Báo ra bán không ai mua. Tờ Nhân loại, thân với kháng chiến, cũng chịu số phận tương tự.

Một số trí thức đã truyền bá một thứ triết lý Hiện sinh phi chính trị, được giới trẻ tin tưởng và noi theo. (Người viết đã có dịp nói tới vấn đề này trong bài viết “Những người con hoang của J. P. Sartre.”) Áp dụng lập trường phi chính trị, các trí thức, sinh viên thời đó say mê trình bày triết lý Hiện sinh trường ốc, một thứ triết lý chán đời, hoài nghi, buông xuôi, phủ nhận mọi hệ thống giá trị đạo đức, tôn giáo, và chống lại những gì họ cho là nghiêm chỉnh, cái gọi là “esprit du sérieux”. [11]

Trên đây là tóm tắt đặc điểm của trí thức tiểu tư sản miền Nam trong giai đoạn này. (Sau này, Cộng sản, do sợ hãi quá đáng, hoặc muốn đe răn cảnh cáo, đã xếp một số họ vào thành phần trí thức nguy hiểm nhất, một thứ “biệt kích Văn nghệ miền Nam”).

Do được đào tạo, được tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng văn hóa Tây phương, những người trí thức trẻ mau chóng nhận thức ra rằng chế độ cầm quyền của ông Diệm đã phạm nhiều lỗi lầm đụng chạm đến tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam. Từ đó nổ ra những cao trào tranh đấu, đi đến lật đổ chế độ ấy. Ðiều này cũng cho thấy rằng, không giống như chính thể miền Bắc bắt buộc mọi người phải tuyệt đối tin tưởng vào đường lối của Ðảng, ở miền Nam, ít ra người dân còn có quyền được tin hay không tin, có quyền được đòi hỏi, được chống đối. Bài học dân chủ mới bắt đầu làm nảy sinh ra nhiều xáo trộn không tránh được ngay sau đó.

Trong khi đó ở miền Bắc, ngoài nạn đói kém, chính quyền Cộng sản đã phạm phải một loạt các sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách ruộng đất, vụ Nhân văn-Giai phẩm, và sau đó, vụ nổi dậy ở Quỳnh Lưu. Nhưng dưới chế độ toàn trị, họ đã giải quyết và dẹp yên được những mầm mống chống đối bằng trấn áp, bạo lực và đe dọa. Ở trong Nam, chính quyền đã lợi dụng dịp này bôi đen chế độ miền Bắc, ấn hành sách Trăm hoa đua nở trên đất Bắc [12] và bộ phim Chúng tôi muốn sống. Dân chúng miền Nam khó quên được những hình ảnh đó, và bắt đầu ghê sợ chế độ Cộng sản thông qua sự tuyên truyền này.

Trong 20 năm phân chia, mỗi miền đã hình thành một sắc thái văn hóa riêng, một nền giáo dục riêng, với những thế hệ thanh niên được đào tạo khác biệt. Một sinh viên được đào tạo trong Nam khác hẳn một sinh viên ngoài Bắc về tinh thần làm việc, về ý thức dân chủ, về ý thức tự do, về quyền làm người, về những giá trị nhân bản, và nhất là một quan niệm về con người. Ðấy là một khác biệt sâu xa, đánh dấu bản sắc con người giữa hai miền mà người ta ít lưu tâm tới.

Cũng chính sự đào tạo đó ở miền Nam sau này sẽ là mầm mống và động lực dấy lên những đòi hỏi tự do, bình đẳng tôn giáo, cũng như những giá trị nhân bản khác. Bề ngoài, những cuộc tranh đấu này bị xem như xáo trộn và bất ổn chính trị bất lợi, làm lung lay thể chế chính trị. Nhiều người đã lo âu cho số phận miền Nam, trong khi thật ra, những xáo trộn đó là dấu hiệu của một sinh hoạt dân chủ, tự do. Chỉ có điều, sự lợi dụng của các thế lực chính trị và sự can thiệp thô bạo của người Mỹ đã khuynh đảo và làm tan nát thể chế miền Nam, kết thúc bằng sự bỏ cuộc vô điều kiện và sự phản bội trơ trẽn.

(còn tiếp)

___________________________________________
[1]Trích lại trong cuốn Phan Văn Hùm: Thân thế và sự nghiệp, của Trần Ngươn Phiêu, (nxb Giải Mã, 2003).

[2]Trích Vietnam crisis của Stephen Pan. (Daniel Lyons 1966): trg 89.

[3]Trích Sáu tháng pháp nạn 1963 của Minh Không Vũ Văn Mẫu, in năm 1984. Trích lại trên Giao Ðiểm.

[4]Như trên.

[5]Xem Tìm về Dân tộc của Lý Chánh Trung. (nxb Trình bày): trg. 101.

[6]Trích Vietnam, của Stanley Karnow (nxb Presses de la cite, Paris, 1988): trg. 131.

[7]Theo Chính Ðạo, trong Việt Nam niên biểu.

[8]Trích Edward Miler điểm sách cuốn Diem’s Final Failure: Prelude to America’s War in Vietnam, của Philip E. Caton. [Lawrence, Kansas: University Press of Kansas, 2003].

[9]Sáng tạo, số 1, 1956.

[10]Thái độ phi chính trị của giới trí thức miền Nam quả thực không thích hợp cho tình thế lúc đó. Ngay sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ và sau khi ký kết Hiệp định Geneva, Hồ Chí Minh đã có ý đồ xâm chiếm miền Nam, đi tới thống nhất đất nước. Wojciech Ketrynski, thành viên Công giáo Ba Lan, được Việt Nam mời qua thăm vào mùa xuân 1955, đã kết luận trong phúc trình của mình như sau: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đương đầu với một nhiệm vụ hết sức khó khăn: ngay từ bước đầu, phải tìm cách xây dựng nhà nước, đồng thời tiến hành cuộc đấu tranh gian khổ nhằm thống nhất đất nước.”

[11]Xem Nhìn lại những chặng đường đã qua của Nguyễn Văn Trung (2000): trg 364.

[12]Bao gồm toàn bộ nhận định và tài liệu dẫn chứng về vụ án Nhân văn-Giai phẩm tại miền Bắc Việt Nam, do Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa xuất bản.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1893
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Tue 02 Oct 2018, 08:17

Trí thức miền Nam - Hai mươi năm nhập cuộc (1955-1975)

Nguyễn Văn Lục

“Ðôi khi lịch sử cũng ban thưởng cho kẻ cứng đầu, và một hòn đá đặt đúng chỗ có thể chuyển hướng cả một dòng sông.”
E. Mounier


2. Giai đoạn 1960-1963: Tuyên ngôn Caravelle

A. Một thách đố dân chủ

Thời kỳ ổn định chính trị và phát triển của ông Diệm kéo dài không được bao lâu. Những người dân, cũng như giới trí thức, đã có dấu hiệu bất mãn. Ông Bùi Diễm kể lại, tại trường Phan Sào Nam nơi ông dạy tư, từ Hiệu trưởng đến Giáo sư đều chống chính phủ. Giờ giải lao, quý vị giáo sư, phần đông là người của các đảng phái như Duy Dân, Ðại Việt, Quốc Dân Ðảng của Nhất Linh hay của Vũ Hồng Khanh, tụ tập xung quanh chén trà để kể lại những mẩu chuyện hoặc chỉ trích chính phủ. [1] Trong số đó, có những giáo sư như Vũ Khắc Khoan, nghị sĩ Phạm Văn Tâm (tự Thái Lăng Nghiêm) và Nguyễn Phan Châu. Ðặc biệt, trong thời VNCH, có một số giáo sư đi dạy tư để chờ thời, nghe ngóng, để chuẩn bị hành động khi thời cơ đến. Phần đông trong số này là người của các đảng phái.

Theo Stanley Karnow, ông đã thăm nhiều vùng và đi đến đâu cũng thấy có chuyện tham nhũng. Người dân bắt đầu mất tin tưởng vào chính quyền. Những năm tháng tốt đẹp của nền đệ nhất cộng hòa bắt đầu có vết rạn nứt.

Mặc dầu, cho đến thời điểm này, ai cũng thừa nhận rằng cuộc sống của nguời dân đã có nhiều cải tiến. Về mặt giáo dục, các trường tiểu học, trung học đã được thành lập từ cấp tỉnh đến quận. Y tế cũng vậy, mỗi tỉnh đều có trạm y tế và nhà thương. Vấn đề đào tạo giáo viên, y tá, cán sự y tế, giáo sư trung học được thúc đẩy mạnh. Các trường đại học, trường kỹ thuật, trường Quốc gia Hành chánh, các trường sĩ quan, mỗi năm đã đào tạo được một số lượng chuyên viên, sĩ quan đáp đủ nhu cầu của đất nước.

Nhưng cạnh đó, việc phát triển giáo dục đã đào tạo ra một lớp thanh niên trí thức trẻ thành thị. Các trào lưu tư tưởng Tây phương, các chủ thuyết mới, như chủ nghĩa Hiện sinh, và thậm chí cả chủ nghĩa Cộng sản, được tiếp thu và giảng dạy một cách rộng rãi. Thêm vào đó, họ được tiếp cận với nhiều dòng văn hóa và văn học ngoại quốc do việc đọc trực tiếp nguyên bản hay qua bản dịch. Nhờ vậy, giới thanh niên trí thức thành thị ở miền Nam tương đối có được một nếp sống văn hóa cao. Cũng vì thế, họ nhạy bén với các vấn đề chính trị thế giới, các thể chế độc tài hay dân chủ, số phận các nước kém mở mang và các nước nhược tiểu.

Chính lớp thanh niên, trí thức trẻ, được đào tạo dưới thời Ngô Ðình Diệm, đã trở thành thành phần chủ lực trong các phong trào đòi hỏi dân chủ, xuống đường, cũng như trong biến cố Phật đản 63 sau này. Lần đầu tiên ở miền Nam có hiện tượng trí thức đám đông, cùng đứng chung trong một hàng ngũ, tranh đấu cho một mục đích chung. (Miền Bắc, do đào tạo và do chế độ toàn trị, đã không bao giờ có được một đội ngũ trí thức như thế.)

Lần đầu tiên thanh niên trí thức bộc lộ sự bất mãn là vào tháng 8 năm 1959, khi chính quyền Ngô Ðình Diệm tổ chức các cuộc bầu cử dân biểu Quốc hội. Ðám quan chức địa phương đã thúc ép dân chúng phải bầu cho người này, không bầu cho người kia, ở Sài Gòn thì vô hiệu hóa một số phiếu bầu của người đối lập. Chẳng hạn như trường hợp Bác sĩ Phan Quang Ðán và ông Nguyễn Trân. Hai ông này đắc cử vào Quốc hội miền Nam với tỉ lệ nhiều phiếu nhất, nhưng đã bị loại trừ. Phan Quang Ðán đắc cử ở quận 2, nhưng bị tuyên bố bất hợp lệ. Cuộc bầu cử dân biểu Quốc hội, do vậy, đã biến thành cuộc vận động chống độc tài dân chủ. Ðây là lá phiếu bất tín nhiệm đầu tiên của người trí thức miền Nam chống chính quyền Ngô Ðình Diệm.

Nếu giai đoạn 1955-1960 cho thấy vai trò và sự đóng góp của giới trí thức về mặt văn hóa, thì đây là lần đầu tiên, họ đóng vai trò người trí thức trước những hoàn cảnh chính trị, áp dụng các hình thức chống đối dựa trên những nguyên tắc dân chủ. Tuyên ngôn Caravelle ra đời trong hoàn cảnh này.

Ngày 26 tháng tư năm 1960, 18 nhân sĩ trí thức tiêu biểu của miền Nam họp báo [2] và ra tuyên ngôn gửi chính quyền Ngô Ðình Diệm, gồm: Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Trần Văn Lý, Nguyễn Tiến Hỉ, Trần Văn Ðỗ , Lê Ngọc Chấn, Lê Quang Luật, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Trần văn Tuyên, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất và Linh mục Hồ Văn Vui.

Những người ký tên vào bản tuyên ngôn này đại diện cho nhiều thành phần trí thức của cả ba miền Trung Nam Bắc, của các tôn giáo và các khuynh hướng chính trị khác nhau. Trong số họ, có nhiều người đã từng cộng tác với chính quyền Ngô Ðình Diệm, như ông Lê Trọng Luật, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần Văn Ðỗ, v.v...

Có lẽ cần nói rõ thêm về nội dung bản tuyên ngôn Caravelle, vì sau này có người hiểu như một kháng thư nhằm lật đổ chế độ Diệm. Thật ra, nội dung bản tuyên cáo rất ôn hòa, xây dựng, chỉ nhằm yêu cầu Ngô Ðình Diệm mở rộng chính quyền và các nhà trí thức sẵn sàng hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu.

Theo hồi ký chính trị của ông Bùi Diễm [3] , và theo Karnow [4] , thoạt tiên, những người như Trần Văn Văn chỉ muốn viết một lá thư đề đạt lên chính quyền Ngô Ðình Diệm, với chủ ý nói thẳng với ông Diệm nhưng vẫn kín đáo. Do đó, lời lẽ bức thư hết sức trang trọng và ôn hòa. Nhưng bức thư đó bị ông Diệm làm ngơ, không trả lời. Vì thế, nhóm trí thức trên mới quyết định đem công bố với báo chí tại khách sạn Caravelle. (Tên gọi “Tuyên ngôn Caravelle” từ đó mà ra.) Vì chủ ý là một lá thư gửi cho ông Diệm một cách trực tiếp và kín đáo, nên ngôn từ trong đó hiển nhiên không có dụng ý khiêu khích hoặc bất xứng với ông Diệm, cũng không có ý muốn lật đổ ông Diệm.

Ông Nguyễn Thành Vinh, trong bài “Mặt trận Quốc dân Ðoàn kết trong biến cố 11-11-60,” cho biết:

“Tôi gặp anh Văn mấy lần về bức thư trên và chúng tôi kết luận rằng lời lẽ trong bức thư không được mạnh, và kế hoạch đó không áp lực được chính phủ Diệm.” [5]

Tiếc thay, chính phủ Diệm lại coi những đòi hỏi đó như một sự mạo phạm đến quyền bính, một thứ tội khi quân (Lèse-majesté). Ngay ngày hôm sau, ông Diệm đã ra lệnh bắt giam hầu hết những người có tên trong danh sách của bản Tuyên ngôn (theo lời ông Bùi Diễm). Trong số những người ký tên trong bản tuyên ngôn có Phan Quang Ðán bị bắt giam và lên án khổ sai, đày đi Côn Ðảo vì đã ủng hộ cuộc đảo chánh 11-11-1960. Những người bị bắt trong nhóm trí thức Caravelle - có người không có trong danh sách 18 người - gồm các ông: Trần Văn Văn, Trần Văn Tuyên, Phan Bá Cần, Trần Bá Nhật, Trương Bảo Sơn, Trương Khánh Tạo, Nguyễn Chữ, Vĩnh Lợi, Trần văn Lý, Lê Ngọc Chấn, Trần Tương, Trần Văn Hương và Nguyễn Lưu Viên.

Thay vì nới rộng thành phần chính phủ, ông Diệm đã ra lệnh cấm báo đối lập, bắt giam các nhà báo, sinh viên và các thành phần trí thức khác. Họ còn bị gán cho tội liên hệ với Cộng sản. Nhưng, chế độ càng tỏ ra cứng rắn, giới trí thức càng tỏ rõ sức mạnh tinh thần của họ bằng sự phản kháng. Những mắt xích đưa đến chỗ sụp đổ chế độ ông Diệm bắt đầu từ đó.

Riêng người Mỹ, mặc dầu đã đổ ra hơn tỉ đô la vào Việt Nam ở thời điểm đó, cái nhìn về ông Diệm đã không còn được như trước nữa. Công điện của Ðại sứ Durbrow gửi về Hoa Thịnh Ðốn, ngày 4 tháng 12 cùng năm, có đoạn: “Chúng ta rất có thể trong một tương lai không xa nữa phải tìm và theo đuổi một giải pháp thay đổi người.” [6] Ba năm sau, lời đề nghị này trở thành đường lối chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

Ngã rẽ quan trọng của Tuyên ngôn Caravelle đã đưa đến cuộc đảo chánh không thành ngày 11-11-1960. Những người như Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã nhận xét bản tuyên ngôn lời lẽ quá yếu, không hy vọng có chút thay đổi gì về phía ông Diệm. Vì thế, cũng theo ông Nguyễn Thành Vinh [7] , các ông đã yêu cầu nhóm Caravelle đứng vào Mặt trận Quốc dân Ðoàn kết. Mặt trận này, dĩ nhiên do Việt Nam Quốc dân Ðảng điều động, có kế hoạch đi biểu tình, tuyệt thực trước Quốc hội. Nhất Linh đã đi gặp Giám mục Lê Hữu Từ, cha Oánh, cha Hiền. Ông Nguyễn Thành Vinh ra miền Trung gặp Thượng tọa Ðôn Hậu, bác sĩ Trần Ðình Nam. Ông Trần Văn Văn đi gặp cha Lộc, cha Vui. Nhưng kế hoạch của Nhất Linh không thành, vì một số người trong mặt trận tỏ ra ngại ngùng về lối đấu tranh trên.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1893
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Trí thức miền Nam sau 75   Thu 04 Oct 2018, 08:50

Trí thức miền Nam - Hai mươi năm nhập cuộc (1955-1975)

Nguyễn Văn Lục

Nhận xét về nhóm trí thức Caravelle

Mặt tích cực mà ta nhận thấy được là nhóm này đã nhận thức rõ vai trò trí thức dấn thân của họ. Ðây là dịp để các nhà trí thức miền Nam có cơ hội lớn lên, trưởng thành về chính trị và bước đầu con đường dân chủ hóa. Nhưng mặt khác, người ta cũng thấy có những yếu kém nhiều mặt:

Nó không phải là một cuộc vận động quần chúng của nhiều tầng lớp dân chúng như giới lao động, tiểu thương, sinh viên học sinh, giới công chức và quân đội. Buổi họp báo tuyên bố lá thư, thay vì tổ chức sang trọng trong khách sạn Caravelle, chỉ dành cho một thiểu số trí thức và giới báo chí, trong nước cũng như ngoại quốc, lẽ ra nếu được tổ chức ở trước cửa chợ Bến Thành thì hay biết mấy? Họ, những người trí thức tiểu tư sản, chỉ cần tạo dư luận nơi giới trí thức thượng lưu mà không quan tâm đến dân chúng. Cuối cùng, lá thư đó chỉ có một số rất ít người được biết. Tên gọi “Trí thức Caravelle” gợi hình ảnh trí thức salon, trí thức phòng trà, và vì vậy, chỉ gây được ảnh hưởng rất giới hạn, thậm chí có khi còn phản tác dụng. Người dân vẫn là thành phần bị bỏ quên, đứng bên lề.

Những khuôn mặt trí thức đó không tạo đủ uy tín để lập một chính phủ, để ổn định tình thế. Lý do giản dị là người dân không biết họ, chưa đủ tin vào họ. Trong số họ, kể cả khuôn mặt sáng giá nhất là cụ Phan Khắc Sửu với thành tích đi tù, và cụ Trần Văn Hương, một người có đạo đức, nhân cách, đều chưa hội đủ điều kiện để lãnh đạo một đất nước trong thời chiến, nói chi đến những người như Nguyễn Tiến Hỉ, Nguyễn Lưu Viên?

Miền Nam thiếu vắng những nhà chính trị chuyên nghiệp, thiếu vắng những nhà yêu nước cách mạng xã hội, thiếu vắng trí thức dấn thân, tranh đấu, vào tù ra khám.

Họ vá víu, lấp chỗ trống bằng những nhà chuyên môn như bác sĩ, kỹ sư, giáo sư. Căn bệnh trọng bằng cấp này chỉ sản sinh ra một cấp lãnh đạo chính quyền bất tài làm suy yếu các chính phủ. Các chính phủ chuyên viên chỉ tồn tại một thời gian ngắn, rồi bị lật đổ. (Vậy mà, cho đến tận bây giờ, sau nửa thế kỷ, ở hải ngoại, người ta vẫn giữ tinh thần tôn trọng bằng cấp đó. Thử hỏi họ đã làm được gì?)

B. Mặt trận Giải phóng miền Nam (1960-1963)

Ảo tưởng chính trị của giới trí thức miền Nam

Cần nhớ rằng, trong giai đoạn này, phần đông giới trí thức chống ông Diệm mà không chống chế độ ông Diệm. Họ muốn thay đổi người cầm quyền chứ không muốn đạp đổ chế độ VNCH. Sự thất bại của cuộc đảo chính khiến chính phủ Diệm xiết chặt thêm sự đàn áp các phần tử đối lập, tạo ra một mặt trận trí thức chống đối lại chính phủ. Tệ hơn nữa, Hà Nội, bắt mạch được sự khủng hoảng quyền lực của chính thể miền Nam, đã thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam vào ngày 20-12-1960. Những người của phe Cộng sản như Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Hiếu, Ung Ngọc Kỷ thấy rằng thời cơ đã đến. Họ đi tìm một nhân vật để lãnh đạo mặt trận. Mới đầu, họ nhắm dược sĩ Trần Kim Quan, một người có thế lực và tiền của, rồi đến luật sư Trịnh Ðình Thảo và Michel Văn Vi, giám đốc ngân hàng Pháp Hoa. Những người này đều từ chối. Sau cùng thì họ buộc phải dùng Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, lúc bấy giờ còn đang bị giam tại Tuy Hòa. Huỳnh Tấn Phát đã tìm cách giải cứu Thọ ra khỏi nhà giam. Liệu Thọ còn có con đường chọn lựa nào khác? Trong khi đó, nhiều người cho rằng: “Ông Diệm chỉ lo củng cố địa vị mà không làm gì cho dân, cho nước”. Vì thế họ muốn có một “tổ chức chính trị ngoài vòng pháp luật” [8]

Sự chọn lựa của một số trí thức miền Nam mong tìm một giải pháp thoát khỏi cảnh bế tắc thật sự là một “khoảng trống” chính trị quan trọng. Nó cho thấy sự không nắm được tình hình, không hiểu rõ tổ chức nhân sự cũng như mục đích của Mặt trận GPMN. Nó có bề ngoài phô trương như thể một chính phủ có thực, có tầm cỡ, thuần túy Nam bộ, với những nhân vật như ông Thọ, ông Phát, Ông Cung, ông Kiếm, ông Tảng, bà Bình, bà Ðịnh và bà Dương Quỳnh Hoa. Và nói như ông Hồ Sĩ Khuê: “Thành viên Mặt trận thực sự chẳng có bao nhiêu. Nhưng ở Sài Gòn, sao mà ai cũng có vẻ là người của Mặt trận quá.” [9] Nhưng bên trong, họ chỉ làm bù nhìn, như theo lời tường thuật của kỹ sư Trương Như Tảng vốn là một sinh viên du học bên Pháp, có dịp gặp Hồ Chí Minh, coi HCM như khuôn mặt lãnh tụ sáng chói nhất để chống lại người Mỹ, và trước mắt, chống lại chính quyền Ngô Ðình Diệm. Hồi ký của một Việt cộng (A Viet Cong Memoir) cho thấy MTGPMN chỉ là một sự dàn dựng, họ được đưa vào bưng để chỉ ngồi chơi xơi nước. Họ bị bịt mắt, dẫn đi quanh co trong rừng. Những buổi họp, để giữ bí mật, các thành viên mặt trận đều bịt mặt, vì thế chẳng biết ai vào với ai. Ai là thật, ai là giả? Ðó là kinh nghiệm đau xót của một số ít trí thức miền Nam. Trong The Myth of Libération, Trương Như Tảng tố cáo sự dàn dựng giả dối của chính quyền Cộng sản Hà Nội: “Trong nhiều năm, họ đã nghe Việt Nam Dân chủ Cộng hòa long trọng tuyên bố cam kết”, qua lời Tổng bí thư Lê Duẩn, rằng “Miền Nam cần có chính sách riêng của miền Nam”. [10] Hay như lời Thủ tướng Phạm Văn Ðồng tuyên bố với phóng viên nước ngoài: “Chẳng ai lại có cái ý nghĩ ngu xuẩn và tội lỗi là thôn tính miền Nam”. [11]

William Shawcross, trên tờ Washington Post, nhận xét,

“He became the Viet Cong’s Minister of Justice, but at the end of the war, he fled the country in disillusionment and despair. He now lives in exile in Paris, the highest level official to have defected from Viet Nam to the West. This is his candid, revealing and unforgettable autobiography.”

(Tạm dịch: “Ông trở thành Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Việt cộng, nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, ông đã trốn thoát khỏi Việt Nam với tâm trạng bị vỡ mộng và thất vọng. Nay ông tỵ nạn ở Paris. Ông là một trong những viên chức cao cấp nhất đã đào thoát ra khỏi Việt Nam sang Tây Phương. Ðây là cuốn tự truyện đáng nhớ, phơi bày (nhiều chuyện) và thành thật.”)

Vai trò bù nhìn của MTGPMN cũng được đề cập đến trong hồi ký của Vũ Thư Hiên. Ông viết: “Trẻ con miền Bắc cũng biết Mặt trận Giải phóng là do miền Bắc dựng nên.” [12]

Người trí thức miền Nam một lần nữa bị lừa gạt. Sau này, sau khi miền Nam bị mất vào tay Cộng sản, nhiều người trong bọn họ trước đó mang ảo tưởng sẽ có vai trò, sẽ được dùng, sẽ được lãnh đạo miền Nam, bị gạt ra bên lề một cách thảm hại, hoặc bị cho ngồi chơi xơi nước, có chức mà không có quyền. Màn lường gạt mà chính quyền Cộng sản áp dụng đối với những thành phần đảng phái và những người theo họ này diễn ra không phải lần đầu.

©️ 2005 talawas

_________________________________________________
[1]Trích Gọng kìm Lịch sử của Bùi Diễm, trg. 135.
[2]Ngay sau buổi họp báo ngày 26, 27 tháng 4 năm 1960, tại Seoul, Tổng thống Lý Thừa Vãn bị buộc phải từ chức (Trích theo Việt Nam niên biểu 1939-1975, tập C: 1955-1963 của Chính Ðạo, (nxb Văn Hóa, 2000): trg 174). Ðây là dấu hiệu không tốt cho chính phủ Ngô Ðình Diệm.
[3]Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử: hồi ký chính trị, trang 161-165.
[4]Karnow, Vietnam, trang 136-137.
[5]Trích lại trong Biến cố 11-11-60 của Trần Tương (nxb Ðại Nam, 1971): trg.136.
[6]“Nous pourrions bien être contraints, dans un avenir pas trèx éloigné, à trouver et à soutenir une solution de rechange...” Trích lại trong Viet Nam của Stanley Karnow: trg 137.
[7]Bài “Mặt trận quốc dân đoàn kết”.
[8]Trích Phản tỉnh, Phản kháng, Thực hay hư, của Minh Võ (nxb Thông Vũ, 1999): trg 238.
[9]Trích Hồ chí Minh, Ngô Ðình Diệm và Mặt trận giải phóng, Hồ Sĩ Khuê (nxb Văn Nghệ): từ trang 365-369.
[10]Trích Phản tỉnh, Phản kháng, Thực hay hư, Minh Võ: trg 238.
[11]Sách đã dẫn, trang 135.
[12]Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày - hồi ký. trang 469.

Về Đầu Trang Go down
 
Trí thức miền Nam sau 75
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 4 trong tổng số 6 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-