Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Bộ sưu tập Côn trùng by buixuanphuong09 Today at 06:11

Chiến Tranh Thương Mại Mỹ-Trung by tvqm Today at 06:03

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by Hansy Yesterday at 23:58

Thơ THỬ NGHIỆM - Hansy by Hansy Yesterday at 23:57

Thơ BÓNG ĐÁ - Hansy by Hansy Yesterday at 23:56

BÌNH THƠ - Hansy by Hansy Yesterday at 23:36

HÀO HÙNG SỬ VIỆT by Hansy Yesterday at 23:35

KHÚC TÌNH SỬ - Hansy by Hansy Yesterday at 21:12

THƠ TÌNH - Hansy by Hansy Yesterday at 21:11

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 19:59

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Ai Hoa Yesterday at 10:40

Sự thật khoa học đằng sau những “thành ngữ” thời hiện đại by Trà Mi Yesterday at 08:43

Góc sưu tầm trai đẹp by Trà Mi Yesterday at 08:31

7 câu thành ngữ tục ngữ ai cũng quen dùng nhưng toàn bị sai by Trà Mi Yesterday at 08:20

Sau 50 Năm Đọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư (GS Trần Văn Chi) by Trà Mi Yesterday at 07:54

Quốc Văn Giáo Khoa Thư by Trà Mi Yesterday at 07:45

Trung Quốc đã bẫy và ép Sri Lanka "hai tay dâng cảng chiến lược" như thế nào? by Trà Mi Yesterday at 07:20

" RAU RĂM NGẮT NGỌN LẠI TRỒNG " by Trà Mi Yesterday at 06:20

LỀU THƠ NHẠC by Trăng Mon 17 Sep 2018, 22:40

Sống … Chết … ( Thân mời các thi hữu cùng nhau cảm tác chủ đề ) by Trăng Mon 17 Sep 2018, 22:13

TÌNH BUỒN by lehong Mon 17 Sep 2018, 21:24

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Mon 17 Sep 2018, 21:10

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Mon 17 Sep 2018, 21:07

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Mon 17 Sep 2018, 20:58

SONG TỬ LẠC LOÀI . by Trăng Mon 17 Sep 2018, 13:38

Chợ Cầu Muối của tôi by Trăng Mon 17 Sep 2018, 12:42

Cổ học tinh ma : Sự tích về một nửa by Trà Mi Mon 17 Sep 2018, 07:59

HOA GIEO TỨ TUYỆT 2 by buixuanphuong09 Mon 17 Sep 2018, 04:06

KHƠ RÚT SỐP VÀ VĂN NGHỆ SĨ by Trà Mi Sun 16 Sep 2018, 14:40

VỤ NHÂN VĂN GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN by Trà Mi Sun 16 Sep 2018, 14:22

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7769
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Tue 06 Aug 2013, 11:32

"Tỷ số đậu của môn Hóa Học này từ 10-40%"

Đâu có đậu nhiều dữ vậy!!!  :potay:

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1678
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Tue 06 Aug 2013, 11:46

Phần 10:

K) Các Trường Y Tá:

Chỉ cần Trung Học thi đậu vào học 3 năm.

L) Các trường Đại Học khác:

Trường Đại Học Vạn Hạnh do các vị Hòa Thượng, Thượng Tọa (Phật Giáo chủ trương) khai giảng năm 1964, dạy các môn thuộc Cử nhân Triết Học, Cử nhân Phật Học, Quản Trị Kinh Doanh…

Trường Đại Học Vạn Hạnh có cấp phát các văn bằng Cử Nhân Phật Học, Triết Học và Quản Trị Xí Nghiệp. Ban giáo chức thường do các vị Tăng Sĩ có bằng Tiến Sĩ từ ngoại quốc về dạy hoặc nhờ những giáo sư của trường Đại Học Văn Khoa giảng dạy. Các giáo sư như Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ, Thượng tọa Thích Minh Mẫn, Thượng tọa Thích Minh Châu…đã từng dạy tại trường này.

Trường Đại Học Minh Đức do các Cha lập ra gồm đủ các ngành Kỹ sư và Y Khoa nhưng vì mới thiết lập khoảng năm 1970 cho nên chưa có một vị Bác Sĩ nào tốt nghiệp.

Trường Đại Học Nông Lâm Súc đào tạo các Kỹ Sư Canh Nông, Thủy Lâm, và Thú Y.

Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật sau này đòi hỏi Tú Tài II thi vào và học 3 năm. Cũng nên nhắc lại là lớp họa sĩ chuyên nghiệp đầu tiên hoạt động trước khi có Trường Mỹ Thuật Gia Định (1913) và Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội (1924) như Tôn Thất Sa, Nguyễn Khoa Toàn, Lê Văn Tùng, Nguyễn Văn Nhơn, Trần Văn Phềnh...

Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ ở Sài Gòn dạy từ lớp 6 đến lớp 9 và học sinh phải thi Trung Học Kỹ Thuật.

Trường Kỹ Thuật Cao Thắng cũng tại Sài Gòn, có các lớp từ lớp 6 đến lớp 12. Lớp 9 thi Trung Học Kỹ Thuật, lớp 11 thi Tú Tài I Kỹ Thuật và lớp 12 thi Tú Tài II Kỹ Thuật.

Những người có bằng Tú Tài Kỹ Thuật, nếu thi vào Đại Học Phú Thọ ban Kỹ Sư Công Nghệ thì được ưu tiên.

Trường Đại Học của chính phủ tại Huế cũng tương tự như Đại Học Sài Gòn nhưng quy mô nhỏ hơn.

Trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh ở Đà Lạt là nơi đào tạo đầu tiên các văn bằng Cử Nhân Kinh Doanh và Quản Trị Xí Nghiệp. Ở Đà Lạt cũng có một số lớp thuộc chi nhánh của trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn cho nên có một số giáo sư của trường này giảng dạy tại hai nơi.

Trường Đại Học Cần Thơ có mở các phân khoa Văn Khoa, Khoa Học và chú trọng đến ngành Kỹ Sư Canh Nông để phát triển ngành đồng bằng sông Cửu Long.

Trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài Gòn đòi hỏi bằng Tiểu Học và học trình 7 năm có trình độ văn hóa như Trung học. Trường có ban Âm Nhạc và ban Kịch Nghệ… Riêng ban Kịch Nghệ có Giáo Sư Vũ Khắc Khoan giảng dạy, ban Âm Nhạc có Nhạc Sĩ Nghiêm Phú Phi giảng dạy…

Ngoài ra, chính phủ Quốc Gia còn tổ chức trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh từ năm 1952 để huấn luyện các Đốc Sự Hành Chánh và các Thuế Vụ Viên, thời hạn học là cũng 3 năm sau đó trường có phát triển thêm ngành thuế vụ thi tốt nghiệp ra làm Trưởng Ty Thuế Vụ mỗi tỉnh, trong khi tốt nghiệp ngành Đốc Sự Hành Chánh thường làm phụ tá Tỉnh Trưởng.
 

M) Cách Tổ chức Các Bậc Tiểu Học và Trung Học:


Tiểu Học: Học trình 5 năm.
Trung Học:
Các học sinh phải thi vào trường Trung Học Công Lập và học 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9 (đệ Thất đến đệ Tứ), sau đó có thể thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

Bắt đầu niên học 1970-1971, Bộ Quốc Gia Giáo Dục bỏ kỳ thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp nên kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt của lớp 9 trở nên khó khăn hơn.

Học hết lớp 11 (đệ Nhị) thi Tú Tài phần I, sau lớp 12 (đệ Nhất) thi Tú Tài phần II. Như vậy, hoàn tất bậc Trung học Đệ Nhất và Đệ Nhị Cấp đòi hỏi thời gian 7 năm.

Thi Tú Tài cũng như trước năm 1954 gồm có các ban A, B C, D như đã đề cập trong phần 7, vẫn không thay đổi. Tú Tài I và Tú Tài II đòi hỏi thí sinh đậu thi Viết mới được thi Vấn đáp.  Tuy nhiên, Bộ Giáo Dục đã bãi bỏ kỳ thi Vấn Đáp kể từ năm 1968.
Bộ cũng đã quyết định bỏ kỳ thi Tú Tài I, niên khóa 1972-1973 nên kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt của lớp 11 lại càng khó khăn gấp bội. Vì có sự thay đổi và hủy bỏ các kỳ thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp và Tú Tài I này, nên Tú Tài II còn lại là kỳ thi duy nhất của bậc Trung Học và sau đó cũng đổi thành bằng Tú Tài (trước kia gọi là Tú Tài II) kể từ năm 1974.
Năm 1974 là năm đầu tiên cũng là năm cuối cùng, chính phủ tổ chức thi Tú Tài bằng máy điện toán IBM. Thí sinh phải thi tất cả các môn theo phương pháp trắc nghiệm.

  

Nói tóm lại, một cuộc cải cách của nền Tiểu và Trung Học Việt Nam đã thiết lập từ lớp 1 đến lớp 5 (Tiểu Học) và từ lớp 6 đến lớp 12 (Trung Học). Ngoài ra kể từ lớp 6, học sinh được học Sinh ngữ thứ nhất tùy ý lựa chọn Anh hoặc Pháp. Từ lớp 10 học thêm Sinh ngữ thứ hai, và như thế khi tốt nghiệp Tú Tài, học sinh đã được học Sinh ngữ thứ nhất 7 năm và Sinh ngữ hai là 3 năm. Ngoài ra, chương trình Toán cũng được thay đổi, thi Tú Tài Toán không còn 7 môn Toán nữa nhưng chỉ rút lại còn những môn căn bản là Tân Toán, Hình Học và Hình Học Giải Tích (gồm có Giải Tích, Đạo Hàm và Tích Phân). Như vậy, chương trình Trung Học đặc biệt ban Khoa Học B cũng tương đương với cách học tại Hoa Kỳ ngày nay. Điều này được chứng tỏ rõ ràng là hầu hết các người Việt tị nạn tại Mỹ nếu có bằng Tú Tài Việt Nam và nếu theo học Đại Học tại Hoa Kỳ thì phần lớn đều tốt nghiệp.
 

N) Các Kỳ Thi Trung Học Toàn Quốc:

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tổ chức các kỳ thi Trung Học Toàn Quốc trong khoảng năm 1960-1964, thường chỉ dành cho các học sinh lớp 12 (đệ nhất). Theo chỉ thị của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, mỗi trường đề cử chỉ một người về một môn trong số các môn Việt Văn, Lý, Hóa, Toán, Vạn Vật. Chương trình thi là chương trình tổng quát thuộc Đệ Nhị Cấp và thường có những bài toán rất dài về môn Toán, Vật Lý, Hóa Học hoặc câu hỏi tổng hợp về Vạn Vật, và một môn Bình Giải thuộc Việt Văn.

Tất cả các học sinh giỏi nhất của các trường trên toàn quốc thi với nhau và mỗi một môn, trường chỉ lựa có một người xuất sắc nhất. Ai đậu được thì chẳng những mang danh giá cho trường mình mà còn dễ dàng trong việc cứu xét đi du học.


O) Đại Học Xá Minh Mạng:

Tưởng cũng nên nhắc lại về Đại Học Xá Minh Mạng vì nơi này giúp ích cho sinh viên chẳng những ký túc xá để ở, một câu lạc bộ ăn uống mà còn là nơi sinh hoạt và gặp gỡ của các bạn bè.

Như đã đề cập trong Phần 6, ngày 1 tháng 8 năm 1954 đoàn sinh viên Hà Nội gồm khoảng 500 người di cư vào Nam và tạm trú tại trường nữ Trung Học Gia Long. Đến ngày 15 tháng 9 cùng năm, trường Gia Long tựu trường vì thế các sinh viên dời đến lều của quân đội Mỹ ở đường Gia Long, sau biến thành khu Đại Học Văn Khoa của thập niên 1955-1960, và sau này dời về góc đường Cường Để và Đại lộ Thống Nhất.

Chính phủ Ngô Đình Diệm bắt đầu xây khẩn cấp khu cư xá Đại Học ở Đại lộ Minh Mạng (gọi tắt là Đại Học Xá Minh Mạng) rồi chuyển các sinh viên này về đó. Lúc đầu chỉ có sinh viên di cư được ở nhưng dần dần khu này được xây cất thêm và một số sinh viên di cư đã tốt nghiệp Đại Học nên bất cứ sinh viên nào không có nhà tại Sài Gòn đều có thể nộp đơn xin ở trong Đại Học Xá.

Khu này chia làm 2 phần: một phần gồm có sinh viên độc thân và phần kia gồm những sinh viên có gia đình. Sinh viên có gia đình được ở trong các căn nhà có 2 phòng nhỏ dành cho một gia đình. Nhiều phòng khác dành cho sinh viên độc thân, mỗi phòng có thể ở tối đa là 6 người, mỗi người có một giường cá nhân nhỏ và 1 bàn học chung cho 6 người. Vì lúc đó rất ít nữ sinh viên cho nên không có nữ sinh viên nào ở trong Đại Học xá. Khu Đại Học Xá còn tổ chức một câu lạc bộ tức là một khu ăn uống với giá biểu là 10 đồng cho mỗi bữa ăn. Thời gian này giá vàng 2800 đồng/một lượng, và mức lương trung bình của một công chức là 5000 đồng/một tháng. Thành ra giá 10 đồng/một bữa ăn rất là rẻ, nhưng số tiền này thực tế chỉ dành để mua thức ăn vì gạo do chính phủ Mỹ hoặc Việt Nam cung cấp.

Đại học xá là nơi quy tụ của nhiều sinh viên từ Bắc đến Nam do đó cứ vào Đại Học Xá Minh Mạng sẽ gặp các bạn bè quen biết.


P) Sự Xếp Hạng Trong Các Kỳ Thi Trung và Đại Học:

Do ảnh hưởng của Pháp trong thời Pháp thuộc, sự xếp hạng trong việc thi cử của các bậc Trung học và Đại học ở nước ta như sau:

Thứ (điểm 10/20) - mention passable
Bình Thứ (điểm 12/20) - mention assez bien
Bình (điểm 14/20) - mention bien
Ưu (điểm 16/20) – mention très bien
Tối ưu (điểm 18/20) – mention honorable

  

Q- Kết Luận:

Ảnh hưởng của nền Giáo Dục vào Kinh Tế

Đặc biệt, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cố gắng thay đổi nền giáo dục từ Tiểu, Trung và Đại Học; tất cả đều được giảng dạy bằng tiếng Việt khác với trước năm 1954, Đại Học học bằng tiếng Pháp. Ngoài ra, toàn bộ các sách Giáo Khoa cũng đã được dịch sang tiếng Việt và đã sắp xếp từ lớp 1 đến lớp 12 y hệt của Mỹ và vì vậy, sau năm 1975 các học sinh Việt Nam di chuyển sang Mỹ chuyển lớp dễ dàng để hội nhập vào các trường học tại Mỹ.

Một cố gắng cuối cùng của chính phủ là bỏ kỳ thi Tú Tài I năm 1973, do đó năm 1974 chỉ cần học bạ lớp 12 là được dự thi bằng Tú Tài và dùng máy Điện Toán IBM để chấm bài. Kỳ thi này đã cho tốt nghiệp rất nhiều Ưu hạng, Bình hạng và Bình Thứ khác hẳn trong chế độ thi cử cũ, rất ít người đậu Ưu hay Bình.

Vì kỳ thi Tú Tài Việt Nam đã bỏ Vấn Đáp kể từ năm 1968, cho nên trong kỳ thi Viết có những phần riêng hỏi về Sinh Ngữ, Sử Ký, Địa Lý, Việt Văn, và Vạn Vật. Trong kỳ thi Trắc Nghiệm, tùy từng ban trong đó các môn chính được điểm cao hơn thí dụ ban B, môn Toán được 80 điểm (tương đương với hệ số 4), môn Lý Hóa 60 điểm (tương đương với hệ số 3), môn Triết được 20 điểm (tương đương với hệ số 1)…

Tuy nhiên, việc thi hành và xử dụng máy Điện Toán IBM đề chấm bài thi là một khuyết điểm lớn (hành động không giống ai) của Bộ Quốc Gia Giáo Dục vì rằng trên toàn thế giới ngay cả bên Mỹ cũng không dùng máy Điện Toán để chấm bất cứ một kỳ thi nào. Trong thời gian này, những máy Điện Toán IBM trong Bộ Tổng Tham Mưu chỉ được dùng trong vấn đề Quân Sự chứ không phải phục vụ việc chấm bài thi nên đã làm cho các giáo chức ngồi chơi xơi nước. Kết quả của cuộc thi Tú Tài năm 1974 (quen gọi là Tú Tài IBM) là đậu quá nhiều so với thường lệ, và bằng cấp do đó bị lạm phát vì có rất nhiều bằng Tối ưu và Ưu mà không phản ảnh đúng khả năng của thí sinh.

Tính cho đến cuối năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã xây dựng được một nền giáo dục 12 năm ngang bằng các nước tân tiến như Mỹ Quốc và phục vụ cho một nền Kinh tế Thị trường càng ngày càng phát triển thí dụ lập được các nhà máy Dệt tại Thủ Đức, lập được nhà máy xi-măng tại Hà Tiên và đã thăm dò thấy một số dầu hỏa ở ngoài khơi thuộc địa phận Việt Nam, trái với thời Pháp thuộc một năm chỉ sản xuất được 100 trí thức thì nay năm 1974 đã sản xuất được hàng vạn trí thức thuộc các ngành Bác Sĩ, Nha Sĩ, Dược Sĩ, Cử Nhân Luật, Cử Nhân Khoa Học, Đại Học Sư Phạm, Cử Nhân Văn Khoa, các Kỹ Sư Điện, Cơ Khí, Công Chánh, Công Nghệ, Hóa, Nông Lâm Súc, Bác Sĩ Thú Y, một vài bằng Tiến Sĩ Khoa Học nhất là Kiến Trúc Sư phục vụ cho nền kinh tế đang trên đà mở mang.

Trong thời gian này, kỹ nghệ cơ khí cũng bắt đầu chế tạo được xe hơi tên là La Dalat mượn đầu máy động cơ của Pháp hiệu Citroën nhưng được đóng thùng tại Việt Nam. Đồng thời, Hải Quân Công Xưởng cũng đã chế tạo tàu Ferro-Cement tiện dùng cho các Duyên Đoàn Hải Quân bảo vệ bờ biển duyên phòng của miền Nam cùng với ghe Yabuta,...

Công lao to tát của tất cả các giáo sư, giảng sư giảng dạy trong các trường Đại Học Việt Nam kể cả trường Kỹ Sư Phú Thọ mặc dầu còn thiếu rất nhiều Giáo Sư có bằng Tiến Sĩ hoặc Thạc Sĩ (Y Khoa, Luật Khoa) nhưng cũng góp công hết lòng hết sức giảng dạy bằng tiếng Việt đưa nền Giáo dục Việt Nam, bậc Trung học cũng như bậc Đại học không thua kém với các nước đương thời như Singapore, Thái Lan, Đại Hàn….

  

Ta cũng nên nhắc lại nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là nền Kinh tế Thị trường phát triển theo các nước tự do và tập cho người dân quen biết với kinh tế thị trường nghĩa là giá cả thị trường theo khuynh hướng Cung Cầu. Luật Cung và Cầu có nghĩa rất đơn giản là nếu "Cầu nhiều Cung ít" thì giá phải lên và ngược lại "Cung nhiều Cầu ít" thì giá phải xuống và như vậy một nước muốn cho nền kinh tế phát triển ắt phải điều hòa Cung và Cầu tại giao điểm của 2 đường biểu diễn (Điểm cân bằng – Equilibrium point). Cái ưu điểm của nền Kinh tế Thị trường là tự do cạnh tranh để có thể bảo đảm giá hàng cho người tiêu thụ, lương bổng cho công nhân và một phần cho các nhà tư bản. Nhờ máy móc càng ngày càng phát triển, như vậy năng suất công nhân càng ngày càng cao và lương bổng của công nhân cũng được tăng theo hàng năm mà không ảnh hưởng tới vấn đề lãi của các cổ đông nghĩa là những người đã có vốn cho công ty kinh doanh. Thực tế, nền tư bản là do sự đóng góp của toàn thể các cổ đông (những người có mua cổ phần chứng khoán). Nền kinh tế của miền Nam Việt Nam đang trên đà phát triển theo chiều hướng tư bản thì bị ngưng lại sau khi miền Nam bị miền Bắc đánh chiếm vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Nguyễn Văn Thành
Thượng tuần tháng 5, 2005
(còn tiếp)
 
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Thu 08 Aug 2013, 03:47

Ái Hoa đã viết:
"Tỷ số đậu của môn Hóa Học này từ 10-40%"

Đâu có đậu nhiều dữ vậy!!!  :potay:
Dạ phải, em đọc thấy có một đoạn "Ban vạn vật" tỷ số đậu cao hơn, 10-40%, mà Hoá học khó đậu hơn... cũng 10-40% Laughing 
Chắc nhầm rồi đó.
Đậu khó mà có người đậu Bình hay Ưu thì đúng phải nói là ... HOA đặc biệt lol2 
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7769
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Thu 08 Aug 2013, 08:54

Shiroi đã viết:
Ái Hoa đã viết:
"Tỷ số đậu của môn Hóa Học này từ 10-40%"

Đâu có đậu nhiều dữ vậy!!!  :potay:
Dạ phải, em đọc thấy có một đoạn "Ban vạn vật" tỷ số đậu cao hơn, 10-40%, mà Hoá học khó đậu hơn... cũng 10-40% Laughing 
Chắc nhầm rồi đó.
Đậu khó mà có người đậu Bình hay Ưu thì đúng phải nói là ... HOA đặc biệt lol2 

Đậu ít quá nên quý Thầy vớt thêm những người có điểm 9/20 cho thiếu nợ (gọi là bảng 2) để thi thực tập lấy điểm cao bù lại. Nếu sau đó chưa đủ điểm nữa mà trung bình trên 9/20 thì lại thiếu nợ tiếp vô vấn đáp! :potay: 

Thường thì kết quả cuối cùng có điểm trung bình từ 10/20 trở lên mới được đậu hạng THỨ. Năm nào tỉ lệ đậu thấp quá thì lấy tới 9-9.5/20 gọi là hạng KHOAN HỒNG. Chưa đủ nữa thì lấy xuống 8-8.5/20 gọi là hạng TỐI KHOAN HỒNG! (Có lẽ là để giúp các nam sinh nếu rớt sẽ bị đi lính) :jj: 

Hạng Khoan hồng hay Tối Khoan hồng thì khi cấp chứng chỉ cũng ghi hạng THỨ thôi!
:jjj:

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7769
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Thu 08 Aug 2013, 12:47

Ngoài người đậu thủ khoa tên ghi ở đầu bảng, việc khó nhất (may mắn nhất) trong kỳ thi là đậu chót bảng, tức là "ĐẬU TRÊN THẦY", bởi vì Thầy Trưởng chứng chỉ ký tên ở cuối danh sách thí sinh thi đậu. (Canh sai chút xíu là đi đong!)  :thua: 

Còn người xui xẻo, ấm ức nhất là người đậu thủ khoa THỨ (không có mention, nhiều khi chỉ thiếu 1/4 điểm trên tổng số vài trăm điểm của tất cả các môn để được hạng BÌNH THỨ (gọi là đậu có mention)!
  :tongue:

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1678
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Sat 10 Aug 2013, 14:25

Phần 11:

  

 
II-Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Chính Phủ Hà Nội):

Sau khi tiếp thu Hà Nội, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) thiết lập Đại Học tại Hà Nội vào ngày mùng 1 tháng 11 năm 1954. Trường Đại Học Hà Nội lúc bấy giờ chia ra làm nhiều ban gồm có ban Khoa Học Tự Nhiên (Toán Lý Hóa Vạn Vật), ban Khoa Học Xã Hội (Văn Sử Địa, Sinh Ngữ, Triết học - đặc biệt Triết học Mác-Lê (Philosophie Marxiste-Léniniste) chuyên về Tư Bản Luận - Capital của Karl Marx), trường Đại Học Y Nha Dược, trường Đại học Sư Phạm..

Đại Học Hà Nội trong suốt thời gian này không có Đại Học Luật Khoa.

Vì đại đa số trí thức Bắc Hà đã di cư vào Nam cho nên miền Bắc rất thiếu các chuyên viên trong các giới Bác Sĩ, Dược Sĩ, Kỹ Sư và Giáo Sư. Trong khi đó, số chuyên viên từ kháng chiến trở về không có bao nhiêu do đó mục tiêu của chính phủ là sản xuất cấp tốc trong một thời gian ngắn một số chuyên viên tạm điều hành các công tác của nhà nước và vì vậy thời gian học rút ngắn lại.

Tất cả các Đại Học đều học với học trình thu gọn như sau:

Y Khoa Đại Học:

Trường Y Khoa có học trình 6 năm chia làm 2 hệ: Bác Sĩ Y Khoa (Tây Phương) và Bác Sĩ Đông Y (Đông Phương). Học sinh chỉ cần có học bạ tốt nghiệp lớp 9 nhập vào Đại Học và khi tốt nghiệp được gọi là Bác Sĩ (không là Tiến Sĩ Y Khoa) và không phải làm Luận Án tốt nghiệp. Ngoài Bác Sĩ Y Khoa còn có Bác Sĩ Y Khoa ngành Đông Y Học (nói nôm na là thầy thuốc Bắc). Thời Thượng cổ, người nào biết chữ Hán nếu chịu khó tìm tòi dỡ sách Y học của Tàu là có thể trở thành thầy thuốc Bắc; nay chính phủ hệ thống hóa thu thập các tài liệu của trường Đại Học Đông Y bên Tàu cộng thêm các môn thuốc Nam cổ truyền của dân ta thí dụ như tỏi trị cúm, nghệ trị bệnh bao tử… rồi biến chế thêm. Trên thế giới chỉ có nước Tàu và nước ta có ngành Đông Y Học, cũng như Mỹ ngày nay đang cố gắng nghiên cứu ngành châm cứu của Tàu.

Trường Nha Khoa chỉ cần chứng chỉ lớp 9, vào học 5 năm tốt nghiệp Nha Sĩ (Răng, Hàm, Mặt)

Trường Dược Khoa chỉ cần học bạ lớp 9 và học 5 năm tốt nghiệp Dược Sĩ.

Các Đại Học Khác:

Trường Khoa Học đổi thể lệ học theo niên chế:

Ban Toán 3 năm
Ban Vật Lý 3 năm
Ban Hóa Học 3 năm

Ban Văn Chương và Sư Phạm cũng học theo niên chế và thời hạn là 3 năm.

Các sinh viên Đại học trong giai đoạn đầu được phép học Sinh Ngữ, trong đó có 2 Sinh Ngữ chính được chọn hoặc tiếng Anh hoặc tiếng Nga.

Khi tốt nghiệp không gọi là Cử Nhân thí dụ tốt nghiệp Đại học ban Toán được gọi là tốt nghiệp Đại học Toán, ban Lý thì tốt nghiệp Đại học Lý v..v…

Tất cả các trường Đại Học đều dạy bằng tiếng Việt.

Rất ít các giáo sư có văn bằng Tiến Sĩ. Vào những năm 1954 khắp trường Hà Nội chỉ có một vị Tiến Sĩ Toán học, Giáo Sư Lê Văn Thiêm. Ông Thiêm tốt nghiệp tại Đại Học Paris năm 1949 rồi về nước hợp tác với chính phủ VNDCCH bằng cách tìm đường về Thái Lan, vào trong Nam rồi ông được cử ra Bắc bằng đường bộ đi mất 6 tháng. Sau năm 1950, vì lý do chiến tranh lan tràn tới các miền do chính phủ VNDCCH kiểm soát cho nên các trường Đại Học Hà Nội di chuyển sang bên Trung Quốc và đóng tại Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây. Giáo Sư Lê Văn Thiêm làm Hiệu Trưởng trường Đại Học Khoa Học Cơ Bản tại Nam Ninh cho tới năm 1954, ông đem cả trường này về lại Hà Nội. Ông chuyên dạy về môn hình học của Lobachevsky, một môn hình học không dựa trên định đề Euclide hay còn gọi là hình học không Euclide (La Géométrie non-Euclidienne hay non-Euclidean geometry).

Ta cũng nên nhắc lại định đề Euclide:

Từ một điểm ngoài đường thẳng ta chỉ có thể vẽ một đường thẳng song song với đường thẳng cho sẵn và chỉ một mà thôi.

Nhưng trong cuốn sách của Lobachevsky năm 1840, tác giả đã giải thích minh bạch về hình học không Euclide và định đề về đường thẳng song song của Lobachevsky (Lobachevsky's Parallel Postulate) được phát biểu như sau:

Có hai đường thẳng song song với một đường thẳng cho sẵn xuyên qua một điểm cho sẵn mà điểm này không cùng nằm trên đường thẳng đó.

(There exist two lines parallel to a given line through a given point not on the line.)
Có nghĩa là: "Từ một điểm ngoài một đường thẳng cho sẵn, ta có hai đường thẳng song song với đường thẳng đó”.

(All straight lines which in a plane go out from a point can, with reference to a given straight line in the same plane, be divided into two classes - into cutting and non-cutting. The boundary lines of the one and the other class of those lines will be called parallel to the given line).

Các giáo sư Hà Nội cố gắng cho các sinh viên tốt nghiệp Đại Học và cho đi du học tại Nga và các nước Đông Âu rồi dần dần phát triển nền giáo dục. Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Sài Gòn thất thủ thì các trường Tiểu và Trung học Hà Nội vẫn chỉ có 10 năm (So với học trình 12 năm dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa trong Nam).

Ngoài ra, chính phủ còn lập trường Đại Học Nhân Dân, thu thập bất cứ người nào muốn vào học mà không cần bằng cấp, học về lý luận triết lý Mác-Xít (Marxiste) và cách vận dụng quần chúng. Các vị vào trường này, ra trường sau một thời gian công tác và thử thách nếu tỏ lòng trung thành với đảng và có người giới thiệu, sẽ trở thành các nhân viên và đảng viên nồng cốt của chính phủ, đảm trách và nắm chính quyền từ xã đến tỉnh. Tuy nhiên, trường Đại Học Nhân Dân chỉ mở cửa trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1959, sau đó trường đóng cửa. Công tác giảng dạy cho các đảng viên sau này được thực hiện bởi Khoa Giáo trực thuộc đảng Cộng Sản.

Điều đáng lưu ý là tất cả các trường Đại Học, đều phải học Triết Lý Mác-Lê (Philosophie Marxiste-Léniniste) và Lý Thuyết Giai Cấp Đấu Tranh. Giáo sư chính trị học chính thức trong giai đoạn này là Giáo sư Trần Văn Giàu.
 
Tiểu và Trung Học:

Năm 1957, các trường Trung Tiểu Học đổi học trình thành 10 năm gồm 5 năm Tiểu học và 5 năm Trung học. Cuối lớp 10 thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông (coi như bằng Tú Tài cũ); cho đến năm 1975 chế độ này vẫn duy trì như vậy.

Tóm lại, thời gian Tiểu Học là 5 năm từ lớp 1 đến lớp 5, Trung Học có 5 năm, từ lớp 5 đến lớp 10. Sở dĩ thời gian Trung Học rút ngắn lại vì học sinh không còn học Sinh Ngữ như học sinh ở các nước khác.

11 năm sau tức năm 1965, Đại Học Bách Khoa Hà Nội ra đời, gồm có các phân khoa trong thời gian đầu như Điện Học, Cơ Khí, Hóa Học, Xây Dựng và Thủy Lợi…. Điều kiện tuyển sinh của trường đòi hỏi học sinh phải có chứng chỉ tốt nghiệp Trung học Phổ Thông và thi vào, học 3 năm tốt nghiệp Kỹ Sư.

Còn Đại Học Kiến Trúc thí sinh cũng phải thi vào và học 5 năm tốt nghiệp Kiến Trúc Sư.

Tất cả các lớp được giảng dạy bằng tiếng Việt.

Kể từ năm 1965, khi lên Đại Học, sinh viên bắt đầu học Sinh Ngữ và được phép chọn một trong 4 Sinh ngữ: Anh, Pháp, Nga, hay tiếng Trung Hoa.

Để được thi vào các Đại học, thí sinh cần có bằng Trung học Tốt nghiệp, ban đầu rất dễ nhưng càng về sau càng khó vì sĩ số giới hạn của từng trường. Đặc biệt trong giai đoạn từ 1954-1975, tất cả các sinh viên bất cứ ban nào của trường Đại Học Hà Nội, cũng đều được cấp học bổng theo học và tất nhiên không phải đóng học phí. Tuy nhiên trong giai đoạn 1954-1975, nền kinh tế của VNDCCH rất yếu kém và các công chức tính đến năm 1975 cũng chỉ lãnh được 50 đồng cho Giáo viên đệ nhất cấp, 75 đồng cho Giáo sư Trung học, Bác sĩ khoảng 100 đồng vì vậy ta không lấy gì làm lạ, học bổng cho sinh viên chỉ có 30 đồng một tháng.

Mãi đến năm 1975 vẫn chưa có hệ Tiến Sĩ và Thạc Sĩ.
 

Y Khoa Trung Học:

Song song với Y Khoa Đại học, một hệ Trung học trong trường Y Khoa dành cho những người tốt nghiệp cấp 2 (8 năm học từ lớp 1 đến 8) theo học 3 năm, đại khái gồm có:

Dược Khoa Trung Cấp (tương đương với Trữ Dược Viên của Việt Nam Cộng Hòa)
Nha Khoa Trung cấp (thợ nhổ răng)
Y Khoa Trung Cấp (Y Tá làng)
Y Khoa Đông Phương Trung Cấp (thầy Lang làng)
Y sĩ Y học cổ truyền.  
Y sĩ răng trẻ em.
Kỹ thuật viên phục hình răng.
Dược sĩ trung học.
Ðiều dưỡng trung học.
Hộ sinh trung học  
Kỹ thuật viên xét nghiệm.
Kỹ thuật viên X quang.  
Kỹ thuật viên y tế công cộng.
Kỹ thuật viên Vật lý trị liệu.
Kỹ thuật viên gây mê hồi sức..
.

Ðến cuối năm 2000, có 4.630 học viên đã tốt nghiệp và 1.469 học viên đang theo học mà ta sẽ nói rõ sau.

Nếu so với nền Trung Học của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), nền Trung học của VNDCCH chỉ tương đương với lớp 10 của VNCH mà thôi. Do đó khi thi vào Đại Học trong khoảng năm 1976-1985, đặc biệt ở miền Nam có 2 đề thi: một đề cho hệ 10 năm và một đề khác cho hệ 12 năm. Chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cần mất khoảng 10 năm trời mới đào tạo đủ số giáo chức dạy các lớp 11 và 12 và lúc đó thì nền giáo dục trong Nam và ngoài Bắc mới thống nhất.

  


Kết Luận
:

Học trình của Tiểu học là 5 năm, Trung học cũng 5 năm (đến lớp 10), và sau lớp 10 phải thi tốt nghiệp Trung học, được cấp bằng Phổ Thông Trung Học. Tất cả các Đại Học Văn và Khoa Học Xã Hội, Đại Học Khoa Học Tự Nhiên (Toán, Lý Hóa và Vạn Vật), Đại Học Sư Phạm đều học theo năm học và thời gian là 3 năm. Muốn được nhận vào học, thí sinh phải qua một kỳ thi nhập học. Trình độ bậc Đại Học thì thấp hơn trình độ ở các trường thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vì lý do học 10 năm cộng thêm 3 năm Đại Học so với 12 năm cộng 4 năm, do đó sự chênh lệnh là 3 năm học.

Trong giai đoạn 1954-1975, mục tiêu của chính phủ VNDCCH là cuộc chiến tranh với miền Nam, đặt trọng tâm là Quốc Phòng và tất cả đều cho tiền tuyến, do đó nền kinh tế không thể nào mở mang được. Kết quả của nền giáo dục và kinh tế cho đến năm 1975 ở vùng VNDCCH, nông nghiệp sản xuất không đủ ăn thường phải nhận viện trợ lương thực từ Trung Quốc và Liên Sô. Dân chúng sống theo chính sách hộ khẩu (mô hình của Trung Quốc) nghĩa là mỗi người mỗi tháng chỉ được phép mua từ 10 đến 13 kí gạo tại các hợp tác xã, thường là gạo mục cũ đôi khi không có gạo, thì được thay thế bằng khoai hoặc sắn với quy định 1 kg gạo tương đương với 3 kí khoai. Còn nếu mua ở trong thị trường chợ đen thì giá cao gấp 5, 6 lần, dân không đủ tiền mua. Vải vóc sản xuất không đủ dùng cứ 2 năm mỗi người dân mới được mua vải may 1 cái áo và 1 cái quần, còn trên thị trường chợ đen thì rất khó kiếm và giá gấp 5, 10 lần. Trong giai đoạn này, lương của 1 công nhân công chức khoảng 50 đồng Việt Nam; độ 5 đồng Việt Nam tương đương với 1 đô-la Mỹ. Như vậy mỗi người một tháng tương đương 10 đô-la để sống kể cả tiền thuê nhà.

Nói tóm lại, nền kinh tế không phát triển trong giai đoạn này đã làm cho nhân dân miền Bắc đói khổ. Toàn dân trông mong vào viện trợ lương thực từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, đặc biệt là Trung Quốc, do đó việc giáo dục và thi cử cũng bị ảnh hưởng và gặp rất nhiều khó khăn.




Nguyễn Văn Thành
Trung tuần tháng 5,
2005
(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1678
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Sat 10 Aug 2013, 14:43

Phần 12:

  

 

E- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ TỪ NĂM 1975 ĐẾN NGÀY NAY

Sau năm 1975, hệ thống giáo dục và thi cử của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) được chia ra làm hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất từ năm 1975 đến năm 1986, và thời kỳ thứ hai từ năm 1986 đến ngày nay.
 

Thời Kỳ Thứ Nhất (1975-1986):

Sau khi Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả các học sinh phải quay về trường cũ để học hết chương trình dở dang, và như vậy nhà trường mới chuyển đơn để được phép dự thi.

Chính quyền mới tổ chức kỳ thi Tú Tài vào tháng 9 năm 1975. Các ban A,B,C,D vẫn như cũ nhưng không thi theo lối trắc nghiệm và chương trình cũ, chỉ thi các môn chính không có Vấn Đáp thí dụ ban Khoa học B thi Toán Lý Hóa, Sinh Ngữ và Sử hoặc Địa, không có Triết Học nhưng phải thi Việt Văn. Kỳ thi Tú Tài năm này, bách phân đậu khoảng 40-50%.

Tất cả các trường Đại Học không mở các kỳ thi vào Đại Học, các sinh viên cũ đến ghi danh đều phải học tập chính trị và quân sự khoảng 2 tuần lễ tại quân trường Thủ Đức hoặc trong cư xá của sinh viên Thủ Đức. Đến tháng 10 năm 1975 các trường mở cửa lại, đặc biệt tất cả các trường Tư biến thành trường Công (Tiểu, Trung và Đại Học không đóng học phí) và toàn bộ tài sản của các trường Tư Thục đều bị tịch thu, do đó không có bất cứ một trường Tư Thục nào thuộc Tiểu Học, Trung Học hoặc Đại Học hiện hữu trong giai đoạn này.

Các Giáo sư Tư Thục làm cho chính phủ mới chỉ lãnh lương tượng trưng là 33 đồng một tháng (tức khoảng 16500 đồng VNCH). Tiền của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được tạm tiêu dùng và cứ một đồng tiền mới tương đương với 500 đồng tiền VNCH. Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1975 có lệnh đổi tiền và mỗi gia đình được đổi 200 đồng tiền mới tương đương với 100 ngàn đồng tiền VNCH. Ai có tiền nhiều hơn số tiền giới hạn đều phải ký thác vào nhà băng nhưng khi gia đình lâm nguy như cưới hỏi tang lễ thì được xin phép rút ra đủ số tiền để trang trải.

Kể từ năm 1975, học trình của tất cả các trường trong Nam vẫn như cũ nghĩa là bậc Tiểu học vẫn có quy chế 5 năm, Trung học vẫn 7 năm tuy chỉ có một vài thay đổi nhỏ trong chương trình là môn Triết không được giảng dạy ở lớp 12 nữa. Niên khóa 1975-1976, tất cả các trường Đại Học tổ chức đoàn ngũ hóa Sinh Viên để học tập Chính Trị mà không học Văn hóa hoặc chuyên môn.

Trường Đại Học Luật Khoa bị giải tán vì chính quyền không cần Luật Sư.

Các Đại Học Tư Thục như Đại Học Vạn Hạnh, Minh Đức (chuyên về Y Khoa nhưng chưa có một sinh viên nào của trường này tốt nghiệp trước năm 1975) đều bị giải tán. Do đó, chỉ các kỳ thi vào Đại Học Công Lập được tổ chức vào năm 1976, chia làm 4 khối:

Khối A thi Toán Lý Hóa, không có hệ số. Và tùy theo nguyện vọng, thí sinh được phép vào học trường Kỹ sư hoặc trường Đại Học Khoa Học hoặc Đại Học Sư Phạm.

Khối B thi Toán Hóa Học và Sinh Vật để nhập trường Y Dược hoặc Đại Học Khoa Học, ban Vạn Vật hoặc Đại Học Sư Phạm, ban Vạn Vật hoặc trường Y Nha Dược.

Khối C thi Văn, Toán, Sử hoặc Địa để vào trường Văn Khoa hoặc Đại Học Kinh Doanh hoặc trường Đại học Sư Phạm, ban Văn Chương.

Khối D thi Văn, Sử hoặc Địa và Sinh Ngữ.

Vì có những người cán bộ hoặc bộ đội hoặc con em cán bộ từ Bắc vào Nam quản lý và cai trị nên đề thi có hai hệ:

Hệ trong Nam 12 năm
Hệ ngoài Bắc 10 năm

Cũng nên nhắc lại năm 1954, học sinh chỉ cần học bạ lớp 9 được thu nhận vào Đại Học thì sau trên 20 năm nền Trung học Việt Nam đã tiến được từ 4 lớp lên 5 lớp (lớp 10) và sau lớp 10 phải thi kỳ thi tốt nghiệp Phổ Thông Trung Học.

Như vậy các kỳ thi vào Đại học ở trong Nam trong giai đoạn này, ta thấy tất cả các thí sinh đều thi chung một phòng nhưng có quyền lựa chọn đề thi: đề thi thuộc hệ 12 năm hoặc đề thuộc hệ 10 năm.

Hệ 12 năm:

Môn Toán khối A thi Giải Tích, Tân Toán, Hình Học Giải Tích.

Môn Vật Lý thi Động Lực Học, Tuần Hoàn, Quang Ba Động, và Điện Xoay Chiều.

Hệ 10 năm:

Thi Hình Học Không Gian, Lượng Giác và Đại Số, Vẽ đường Biểu Diễn không có Tích Phân.

Thi Quang Hình, Điện một chiều, Hóa học thi tương tự như nhau nhưng hệ 12 năm thì khó hơn chút đỉnh.

Thí dụ:

Môn Toán Học thuộc hệ 12 năm thi Tân Toán, Giải Tích và Hình Học Giải Tích.

Hệ 10 năm thi Hình Học, Đại Số và Lượng Giác.

Tuy nói rằng thí sinh muốn lựa đề thi nào thì lựa nhưng các thí sinh miền Nam vẫn phải lựa hệ 12 năm là những môn đã học lớp 12 được chuẩn bị kỹ càng cho kỳ thi. Và cho dù thi hệ nào đi nữa nhưng đối với các thí sinh có công với chế độ miền Bắc đều được ưu tiên xét tuyển. Thí dụ thi vào cùng một ban, thí sinh miền Nam phải có số điểm đậu tối thiểu 20/30 trong khi những thí sinh có công với chế độ miền Bắc chỉ cần 13/30 là được xét tuyển. Thí dụ thi vào đại học Toán tại Sài Gòn thì học sinh trong Nam phải cần 20/30 (năm 1976) mới đủ điểm đậu trong khi những người có công với cách mạng chỉ cần 13/20 đã đậu rồi. Người viết chỉ ghi lại sự kiện và miễn phê bình.

Giai đoạn 1975 đến 1986 là quan trọng nhất vì là thời gian cần thiết để đào tạo đủ số giáo chức thi hành chính sách 12 năm Tiểu và Trung Học. Nền giáo dục Đại Học ở miền Nam vẫn là 4 năm trừ Y Nha Dược, trong khi miền Bắc vẫn 3 năm và được nâng lên 4 năm kể từ năm 1981. Các nhà giáo dục miền Bắc nhận thấy rằng hệ thống Trung Tiểu Học 12 năm ở miền Nam có ưu thế hơn chẳng những môn Khoa Học có trình độ cao mà các trường còn dạy Sinh Ngữ từ lớp 6. Vì vậy, các nhà giáo dục quyết tâm nâng trình độ Trung Tiểu Học lên 12 năm y hệt trong Nam nhưng cần mất 11 năm để có thể sản xuất được đủ số các giáo chức dạy các môn Khoa Học lớp 11 và lớp 12 cũng như Sinh Ngữ Anh và Pháp ở bậc Trung Học.

Thêm vào đó, các trường trong Nam có môn Toán lớp 12 rất nặng về Tân Toán Học, Giải Tích và Hình Học, nên các nhà giáo dục miền Bắc đồng ý rằng khó mà đào tạo được các giáo sư dạy môn Tân Toán. Do đó, chính phủ quyết định bỏ môn Tân Toán lớp 12 và đem môn này lên Đại Học. Như thế, các môn Giải Tích Vi và Tích Phân, Hình Học Giải Tích Cơ Bản gồm phương trình đường thẳng và mặt phẳng, vòng tròn và các hình Conic được đặt nặng trong việc giảng dạy. Các môn Toán ngang bằng với các nước tiên tiến.

Đồng thời, môn Vật Lý được phát triển gồm các môn Động Lực Học Tuần Hoàn, Quang Sóng và Dòng Điện Xoay Chiều, Điện Tử Bán Dẫn giúp cho học sinh có căn bản để bước lên Đại Học.

Ngoài ra, các trường Đại Học Sư Phạm và Văn Khoa trong 11 năm cũng đã cố gắng đào tạo các Giáo sư Sinh ngữ đặc biệt là Anh Văn, Pháp Văn, Nga Văn và Trung Văn.

Tất cả các trường Đại học ở miền Bắc tuyển sinh viên có bằng Phổ Thông Trung Học như trường Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Kỹ Sư … và thời hạn chỉ có 3 năm nhưng sau năm 1981 được nâng lên 4 năm. Các Đại Học trong Nam như trường Văn Khoa, Khoa Học, Sư Phạm, Kỹ Sư…được đổi theo niên học thay thế cho hệ thống chứng chỉ và cần 4 năm.

Y Khoa ở trường Đại Học Sài Gỏn vẫn là 7 năm, ngoài Bắc chỉ có 6 năm.

  

Sau khi nâng cấp lên 12 năm, bậc Tiểu và Trung Học chia ra làm 3 cấp:

Cấp 1 từ lớp 1 đến lớp 5, sau lớp 5 phải thi bằng Tiểu Học.

Cấp 2 từ lớp 6 đến lớp 9. Cuối lớp 9 phải thi Trung Học Cơ Sở rồi thi nhập học vào lớp 10 trường Công Lập.

Cấp 3 từ lớp 10 đến lớp 12, sau lớp 12 thi bằng tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông.

Trong giai đoạn này, cấp 3 không có chia ban. Trung Học Phổ Thông thường tốt nghiệp từ 60 đến 95 %, tùy từng tỉnh. Việc thi tốt nghiệp Phổ Thông Trung Học lúc bấy giờ bao gồm các môn chính là Việt Văn, Toán, Lý (hoặc Hóa), Sử (hoặc Địa), Sinh Học và Sinh Ngữ, không có thi Vấn Đáp.

Tuy nhiên với bằng Phổ Thông Trung Học, học sinh không đương nhiên được nhận vào Đại Học dù là Đại Học Công Lập. Muốn vào các trường này thí sinh phải dự thi và tùy từng trường, tỷ số đậu khoảng 10, 20 hay 30%.
 

Kết Luận:

Từ tháng 4 năm 1975 đến năm 1986 không có bất cứ một trường Tư Thục nào ở các bậc Tiểu, Trung và Đại Học cho phép hoạt động. Nền Giáo Dục Trung và Tiểu Học trong giai đoạn này đã được thay đổi, tăng thời gian là 12 năm. Tuy nhiên, việc học hành, thi cử và kinh tế gắn liền với thời cuộc Việt Nam được tóm tắt như sau:

Một số lớn đồng bào đã bỏ nước ra đi bằng đường biển lẫn đường bộ trong đó có người Việt gốc Hoa được phép ra đi khỏi Việt Nam sau tháng 5 năm 1978. Kết quả trên 1 triệu người đã vượt biên thoát đến bến bờ tự do nhưng theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc thống kê cứ 3 tàu vượt biên chỉ có 2 tàu thoát, 1 tàu bị đắm tại biển khơi tức khoảng nửa triệu người đã mất tích ngoài biển cả. Tiếp theo đó là cuộc chiến tranh với Trung Quốc từ 17 tháng 2 đến 16 tháng 3 năm 1979 và Cam-Bốt từ năm 1977 đến năm 1991.

Vì vậy trong giai đoạn này, nền kinh tế cực kỳ yếu kém và có cơ sụp đổ toàn diện cho nên năm 1986 chính phủ thay đổi chính sách đổi mới theo gương của Nga Sô để cứu vãn nền Kinh Tế. Kể từ năm 1986 đến ngày nay, nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN là giai đoạn kế tiếp, và ảnh hưởng của nền Giáo Dục và Thi Cử liên hệ sẽ được đề cập trong những phần sau.

 
Nguyễn Văn Thành

Trung tuần tháng 5, 2005
(còn tiếp)
 
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1678
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Thu 29 Aug 2013, 11:02

Phần 13:

Thời Kỳ Thứ Hai (1986-Ngày nay):

Trong giai đoạn 1975-1986, nền Kinh Tế Việt Nam hoàn toàn là nền Kinh Tế của Xã Hội Chủ Nghĩa trong đó chính phủ quản lý tất cả các cơ sở sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại,… thậm chí đến hàng phở, cà phê cũng hoàn toàn do nhà nước quản lý. Cũng trong thời gian này, một số lớn đồng bào đã bỏ nước ra đi và cuộc chiến tranh với Trung Quốc và Cam-Bốt đã xảy ra như đã đề cập ở phần trước.

Chủ tịch Sô Viết, Mikhail Gorbachev khuyên Việt Nam đổi mới để cho nền Kinh Tế được cải thiện hơn. Vào năm 1986, tân Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Nguyễn Văn Linh ban hành lệnh đổi mới, ngoài ra ông Linh cũng đã yêu cầu các nhà văn, nhà báo cứ thực sự viết ra những sai lầm của nền kinh tế nhà nước Việt Nam hầu có thể sửa đổi lại cho tốt hơn. Ông đã cho thi hành chính sách Kinh tế Tư nhân để cứu vãn nền kinh tế XHCN. Từ đó, nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN ra đời, trong đó một phần áp dụng Kinh Tế Tư Bản và phần còn lại vẫn phải theo quyết định của nhà nước.

Dưới áp lực của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam phải rút quân khỏi Cam-Bốt năm 1989, sau đó nền Kinh tế Việt Nam thoát khỏi nạn cấm vận quốc tế ngoại trừ Mỹ. Mãi đến năm 1995, chính phủ Mỹ thiết lập bang giao với Việt Nam và tiếp theo đó Mỹ cũng rút lệnh cấm vận.

Vì sự đổi mới Kinh Tế, nên nền Giáo Dục và Thi Cử Việt Nam ảnh hưởng theo kể từ năm 1986 để có thể phục vụ hữu hiệu nền Kinh Tế Thị Trường, nói một cách nôm na là đủ các Kỹ sư, Chuyên viên Điện toán Tin học để phục vụ các Công ty Ngoại quốc cũng như các Công ty Liên Doanh Việt Nam. Ta thấy rằng các nhà Kỹ nghệ và Thương gia ngoại quốc đến Việt Nam kinh doanh, không biết nói tiếng Việt, và chỉ dùng tiếng Anh trong việc giao dịch thông tin và thương mại. Vì vậy, toàn thể các trường cố gắng không ngừng phát triển ngôn ngữ Anh, thậm chí các học sinh bậc Tiểu học và Mẫu giáo cũng học tiếng Anh. Tất nhiên, chính phủ không đủ tiền trong ngành Giáo Dục và tất cả các trường Công lập từ Tiểu Học, Trung Học và Đại học đều phải đóng học phí tùy theo từng trường đóng nhiều hay ít. Ngoài ra, các trường Tư Thục, Bán Công Dân Lập từ Tiểu Học, Trung Học đến Đại Học cũng được khuyến khích thành lập để bớt gánh nặng cho nhà nước. Và như vậy, những trường Tiểu Học có dạy thêm tiếng Anh đòi hỏi học sinh phải thi vào và đóng tiền riêng để được học Anh ngữ.

Chính phủ cũng khuyến khích các trường ngoại quốc thiết lập tại Việt Nam từ Tiểu học, Trung học và Đại học. Tuy nhiên, những trường tư Tiểu, hay Trung hay Đại học đều có giá biểu rất cao. Tiêu biểu, một học sinh Trung học Tư Thục của ngoại quốc phải đóng một tháng từ 5 đến 6 triệu đồng VN (khoảng 400 usd). Cho đến giờ này có rất nhiều trường ngoại quốc mở mang tại Việt Nam nhưng giá trị các trường này phải xét lại và sẽ được phân tích rõ hơn trong những phần kế tiếp.

  

Sau khi nền giáo dục Trung và Tiểu học đã được thay đổi thành 12 năm ngang bằng với thời VNCH năm 1975, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cố gắng nâng cao trình độ của các Giảng Viên Đại Học bằng cách tăng cường du học tại quốc ngoại. Trước kia trong giai đoạn 1975-1986, các Giảng viên Đại học thương chỉ do những người vừa tốt nghiệp Đại Học với hạng cao mới được giữ lại giảng dạy nghĩa là những người không có bằng Tiến Sĩ hoặc Thạc Sĩ. Các nhà Giáo Dục miền Bắc nay cử các sinh viên đó đi du học hầu khắp các nước như Nga, Đông Âu, các nước Âu Châu như Pháp, Đức, Anh, nhưng chưa có Hoa Kỳ.

Khoảng năm 1995, Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với Việt Nam, lúc ấy sinh viên được cử đi sang du học tại Nhật và Mỹ. Mỗi năm chính phủ Mỹ cấp khoảng 50 học bổng FULBRIGHT cho các sinh viên Việt Nam, đồng thời Pháp và Đức cũng cấp nhiều học bổng. Trước năm 1990, các sinh viên thường đi du học tại Nga và các nước Đông Âu nhưng vì tiếng Nga rất khó học cho nên phần đông sinh viên Việt Nam không đạt được học vị Tiến Sĩ mà chỉ đạt được học vị Phó Tiến Sĩ mà thôi tương đương với Master Degree tại Mỹ hoặc Doctorat de Troisième Cycle (Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp) tại Pháp. Nhiều sinh viên được cử đi du học tại Đông Âu nhưng nếu không đậu, họ không trở về nước giảng dạy được, và chọn ở lại quốc gia đó để buôn bán. Trái lại, các sinh viên du học tại Mỹ nếu hết hạn, bắt buộc phải trở về Việt Nam vì chính phủ Mỹ không cho ở lại.

  

Trong giai đoạn 1986 - 2005, bậc Trung và Tiểu Học vẫn 12 năm, tuy nhiên bắt đầu từ năm 2005 kỳ thi Tiểu học được bãi bỏ, do đó chỉ còn Trung học Cơ Sở (lớp 9) và Trung học Phổ Thông (lớp 12) có tổ chức các kỳ thi. Tuy nhiên, việc thay thế kỳ thi Tiểu Học bằng các kỳ thi học kỳ tại các trường Tiểu học lớp 5 được sự quản lý chặt chẽ của các sở Giáo Dục; không còn thi tùy tiện của Giáo chức, nghĩa là ra thi cùng đề. Như vậy, tuy bỏ Tiểu học nhưng hình thức vẫn không thay đổi và kết quả của kỳ thi học kỳ này cũng dùng để xét tuyển vào lớp 6. Do đó, nhiều trường Bán Công và Tư Thục mở cửa để thu nhận một số học sinh không được xét tuyển vào các trường Công. Trong thời gian này, ngoài việc trường Trung học được học Sinh ngữ, các trường Tiểu học tùy từng trường cũng được phép mở thêm Sinh Ngữ cho bậc Tiểu Học. Tất nhiên, muốn được học Sinh Ngữ, học sinh phải đóng thêm tiền và nhiều nơi thậm chí phải thi tuyển tiếng Anh vào lớp 1. Các trường Tư thục, Tiểu học và Trung học dạy gần hết bằng tiếng Anh.

Đặc biệt, các trường Tư thục mở ra dành cho con cái của các nhà giàu hoặc con em cán bộ có khả năng trả học phí. Những trường Tư Thục này học phí rất cao, vài thí dụ điển hình:

Trường Kinder World: Một tam cá nguyệt, học phí 1500 usd (đô-la Mỹ), tiền đăng ký 100 usd, tiền đưa đón xe 500 usd.
Trường Asian School, lớp 6 và 7 học phí 3 triệu 3 một tháng (200 usd). Lớp 11 và 12, 5 triệu 3 một tháng (trên 300 usd một tháng).
Trường International Primary School, lớp 1,2, 3 đóng 1 triệu 7 một tháng, và lớp 4, 5 đóng 1 triệu 8 một tháng. Tất cả các trường Tư khác, Bán công kể cả trường Công lập phải đóng học phí.

Ngoài ra, học sinh của nhiều trường Công lập còn kém, cũng phải đóng tiền học thêm. Trang Web sau đây sẽ dẫn chứng:

Tuần qua, không ít phụ huynh đã phản ứng về việc một số trường tăng tiết, dò bài cho học sinh. Như tại Trường THCS Chánh Hưng (quận 8) nhà trường đã tăng tiết trong 3 tháng (1, 2 và 3) và thu đến 200.000 đồng/HS...


Tóm lại trước năm 1986, học sinh không phải đóng tiền nay theo Kinh Tế Thị Trường, tất cả các trường đều phải đóng tiền học phí trong đó trường Tư đóng nhiều hơn trường Công.

Trái với giai đoạn giáo dục và thi cử trong khoảng 1975-1986, các trường Trung học không có phân ban nay chuẩn bị phân ban nhưng vì còn trong thời gian thí điểm giảng dạy một số lớp với sách Giáo Khoa cho từng ban, trọng điểm như ban chuyên về Toán Hóa Sinh, ban chuyên về Sinh Ngữ v…v… nên toàn thể các trường chưa nhận lệnh thi hành. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo sẽ ban hành vào khoảng năm 2006 hay 2007.

Các trường Đại học cũng có nhiều thay đổi thí dụ như ban Y Khoa có mở thêm Thạc Sĩ và Tiến Sĩ. Bác Sĩ học thi Thạc Sĩ, học thêm 2 năm lấy bằng Tiến Sĩ và Thạc sĩ học thêm 2 năm nữa thi lấy bằng Tiến Sĩ. Như vậy các thay đổi này không giống tổ chức của Pháp vì theo Pháp, văn bằng Thạc Sĩ Y Khoa cao hơn văn bằng Tiến Sĩ Y Khoa.

Ngoài ra, tất cả các trường Đại Học có thêm ngành Tin học. Đại Học Bách Khoa Hà Nội hoặc Sài Gòn đào tạo các Kỹ Sư, mỗi năm có khoảng trên 3000 sinh viên. Thí dụ Đại Học Bách Khoa Sài Gòn năm 2004 tuyển lựa 600 sinh viên cho ban Điện Từ, 330 sinh viên cho Công Nghệ Thông Tin, 210 sinh viên Cơ Khí, Công Nghệ Dệt May 70 sinh viên, Kỹ Thuật Nhiệt 50 sinh viên, Hóa Thực Phẩm 310 sinh viên, Xây Dựng 300 sinh viên, Kỹ Thuật Địa Chất 150 sinh viên, Quản Lý Công Nghiệp 180 sinh viên, Giao Thông Vận Tải 120 sinh viên, Kỹ Thuật Môi trường 160 sinh viên…

Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội cũng tuyển lựa đại khái như vậy.

Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên có dạy các môn Toán, Tin Học, Đại Số và Giải Tích, Giải Tích Tin Học, Thống Kê, Toán Tin, Phương pháp Toán trong Tin học, Công Nghệ Thông Tin. Ngành Hóa Học có học các môn chuyên môn: Hóa Lý, Hóa Hữu cơ, Hóa Lý Thuyết, Hóa Tin Học, Hóa Xúc Tác, Điện Hóa Học, Hóa Học Phân Tử, Hóa Vô Cơ, Hóa Hữu Cơ, Hóa Phân Tích. Môn Vật Lý cũng học nhiều ngành chuyên môn như Lý Ứng Dụng, Lý Học Hiện Đại, Lý Học Phân Tử, Vật Lý Chất Rắn, Địa Chất, Sinh Vật, Công Nghệ Sinh Học v…v…
Trường Đại Học Khoa Học cấp phát các bằng Cử Nhân, Thạc Sĩ (Cao Học) hoặc Tiến Sĩ. Sau một thời gian dài mãi đến năm 1986, những người tốt nghiệp Đại Học loại 4 năm không được gọi học vị Cử Nhân, nay dùng lại những danh từ có từ thời VNCH (Cử Nhân, Thạc Sĩ, Tiến Sĩ). Thí dụ tốt nghiệp Đại học Toán, Vật Lý nay tái sử dụng học vị Cử Nhân, Thạc Sĩ hay Tiến Sĩ mà không còn gọi là Tốt Nghiệp Đại Học.
Riêng trường Đại Học Luật Khoa chưa bao giờ được mở cửa trong giai đoạn 1975-1986 nhưng sau năm 1986, phải thiết lập vì nhu cầu buôn bán với các nước ngoài, tranh tụng với những người nước ngoài cũng như người trong nước, và nhất là cần các Luật Sư và Chánh Án, Biện Lý có khả năng biết về Luật Pháp, ứng dụng Luật Pháp và phải là những người trí thức tốt nghiệp tại Đại Học Luật Khoa vì khi giao dịch với nước ngoài, văn bản tranh tụng đều dựa trên luật pháp quốc tế, đảm bảo kinh doanh và an ninh của các nhà đầu tư ngoại quốc kinh doanh ở Việt Nam. Các nhà đầu tư cần thông hiểu luật pháp và một khi họ bỏ tiền đầu tư, họ cần biết tiền lời đầu tư có được phép chuyển về nước của họ hay không và thuế địa phương là bao nhiêu, v.v… Luật lệ cạnh tranh phải thật rõ ràng, luật lệ ngân hàng phải minh bạnh thí dụ Công ty ở Ngân hàng đến cuối tháng cần lấy tiền ra để trả công nhân nhưng nếu Ngân hàng chậm trễ không trả đúng thời hạn thì công nhân tất nhiên sẽ đình công cản trở và đình trệ việc kinh doanh. Do vậy, muốn mở mang kinh tế buộc lòng chính phủ phải mở trường Luật. Lúc đầu trường này chỉ có cấp phát văn bằng Cử Nhân nay hợp tác với ngoại quốc thí dụ hợp tác với trường Đại Học ở Na-Uy đang chuẩn bị mở Thạc Sĩ và Tiến Sĩ Luật tại Việt Nam. Trường Đại Học này theo khuynh hướng của Mỹ nghĩa là văn bằng Tiến Sĩ cao hơn văn bằng Thạc Sĩ; trong khi khuynh hướng của Pháp, trường Đại Học Luật Khoa và trường Đại Học Y khoa, Thạc Sĩ cao hơn Tiến Sĩ (xem lại phần 5).

Nói một cách tổng quát về cách tuyển lựa vào Đại Học và Cao Đẳng, cứ 6 người thi một người đỗ tức khoảng 15%. Chẳng hạn, năm 2005 có khoảng 1 triệu rưởi thí sinh toàn quốc nhưng chỉ tuyển lựa 225780 sinh viên trong số này có khoảng 120590 được tuyển lựa vào Đại Học và phần còn lại vào trường Cao Đẳng 2 năm.

Thí dụ:

Trích từ Website Giáo Dục và Thời Đại.
http://www.gdtd.com.vn/
Đại Học Kiến Trúc dự thi 7156 thí sinh chỉ có 900 người được tuyển.
Đại Học Nông Lâm Súc dự thi 32255 người lựa 2200 người.
Đại Học Kinh Tế ghi danh thi 45250 người tuyển 4300 người.
Đại Học Luật dự thi 14640 người tuyển lựa 900 người
Đại Học Ngân Hàng ghi danh thi 7478 người tuyển lựa 800 người.
Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Sài Gòn 22842 người dự thi tuyển lựa 2500 người.
Đại Học Sư Phạm Sài Gòn 27014 người dự tuyển 2000 người.
 Đại Học Bách Khoa 11309 người dự tuyển 3350 người
Đại Học Khoa Học Nhân Văn dự thi 13416 người dự tuyển 2260 người.
Đại Học Khoa Học Tự Nhiên dự thi 13475 người dự tuyển 3100 người.

Ngoài các Đại Học Công Lập cũng có các Đại Học Tư Thục gồm Đại Học Phương Đông, Đại Học Hùng Vương, Đại Học Văn Lang, Hồng Đức, Thăng Long, Đại Học Quản Lý và Kinh Doanh Hà Nội.

 Nguyễn Văn Thành
Cuối tháng 5, 2005
(còn tiếp)
 
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1678
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Thu 13 Feb 2014, 09:49

Phần 14:

  

 

E- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ TỪ NĂM 1975 ĐẾN NGÀY NAY

Thời Kỳ Thứ Hai (1986-Ngày nay):

Tuyển Sinh Đại Học và Cao Đẳng Năm 2005 -
Tổng số hồ sơ đăng ký dự thi năm 2005 theo:

http://www.sggp.org.vn/giaoduc/nam2005/thang5/49788/

là 1537252 người trong đó Đại Học chiếm 1200209 người (chiếm 73%), Cao Đẳng 417043 người (27%).

Theo tin tức phổ cập của:

http://www.gdtd.com.vn/gdtdroot/2005-065/bai01.htm

Hồ sơ đăng ký:

Khối A chiếm tỷ lệ cao nhất là 799465 người (52%), khối A thi Toán Lý và Hóa,
Khối B dự thi 185036 người (12%), khối B thi Toán Hóa Sinh.
Khối C 245148 người (16%), khối C thi Toán Việt Văn và Sinh Ngữ.
Khối D 175996 người (11.5%), khối D thi Việt Văn, Sử và Sinh Ngữ.
Các khối còn lại 112813 người (8.5%).
 
Hà Nội có số lượng dự thi đông nhất 416828 người,
Sài Gòn dự thi 385496 người. (Sài Gòn đông dân hơn Hà Nội 2 lần nhưng số dự thi lại ít hơn).
Vinh có 49686 người xin dự thi,
Cần Thơ có 76967 người.

Kết Luận:
Dự thi Đại Học trên 1 triệu người mà dự tuyển 120000 người, vậy tỷ lệ khoảng trên 10%, còn Cao Đẳng số thí sinh dự thi trên 400 ngàn nhưng dự tuyển trên 100 ngàn, vậy tỷ lệ khoảng 25%.

  

Cũng nên nhắc lại trong giai đoạn 1975-1986, chính quyền không cần trường Luật, chỉ có một vài lớp huấn luyện Luật mở ra mà thôi. Kể từ năm 1986 trường Đại Học Luật phát triển mạnh mẽ (Xem phần 13), theo đó Đại Học Luật Khoa Hà Nội được thiết lập gồm có các phân khoa:

Phân Khoa Luật Kinh Tế (Faculty of Economic Law)
Phân Khoa Tư Pháp (Faculty of Justice)
Phân Khoa Hành Chánh và Luật Quốc Gia (Faculty of
   Administrative and State Law)
Phân Khoa Luật Quốc Tế (Faculty of International Law)
Phân Khoa Học Bán Thời Gian (Faculty of Part-time
   Learning)
Phân Khoa Hậu Đại Học (Faculty of Post-Graduate
   Training)

Căn cứ theo:



Đ
ại học Luật Khoa Hà Nội cấp phát văn bằng Cử Nhân, Thạc Sĩ và Tiến Sĩ. Số Giảng viên tại Đại Học Luật Hà Nội là 280 người nhưng chỉ có 50% Giảng viên có bằng Thạc Sĩ và Tiến Sĩ Luật.


Trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội hợp tác với 10 trường Đại Học Quốc tế.

Năm 1986, trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội có mở thêm phân khoa Dân Luật (Civil Law) và phân khoa Hình Luật (Criminal Law).

Trường Đại Học Luật Khoa của thành phố Sài Gòn được thiết lập năm 1996, gồm có:

Phân Khoa Luật Thương Mãi (Faculty of Business Law)
Phân Khoa Hình Luật (Faculty of Criminal Law)
Phân Khoa Hành Chánh và Luật Quốc Gia (Faculty of
   Administrative and State Law)
Phân Khoa Luật Quốc Tế (Faculty of International Law)
Phân Khoa Dân Luật (Faculty od Civil Law)
Phân Khoa Học Bán Thời Gian (Faculty of Part-time
   Learning)
Phân Khoa Hậu Đại Học (Faculty of Post-Graduate
   Training)

Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn có 118 Giảng Viên và 53 Thạc Sĩ hoặc Tiến Sĩ. Trường Đại Học này chỉ cấp phát văn bằng Cử Nhân và Thạc sĩ (không có Tiến Sĩ).


Trường Đại Học Luật Khoa Huế: Trường này thiết lập năm 1998, chỉ mở Cử Nhân. Trường có 20 Giảng Viên vài người có bằng Thạc Sĩ hay Tiến Sĩ.


Thời gian học của các trường Đại Học Luật Khoa nói chung: 4 năm cho bằng Cử Nhân, 1 năm cho bằng Thạc Sĩ, 3 năm cho bằng Tiến Sĩ.

Cách Học Hành và Thi cử từ năm 1986 đến ngày nay của các trường Tiểu, Trung Và Đại Học:

Cho đến ngày nay, tức 2005 là năm đầu tiên bỏ thi Tiểu Học. Năm 2006 cũng sẽ bỏ thi Trung Học Cơ Sở (lớp 9), năm 2005 là năm cuối cùng có thi bằng Trung học Cơ Sở, và năm 2008 sẽ bỏ thi Trung Học Phổ Thông và Tuyển Sinh Đại Học.


Cho đến giờ phút này đầu tháng 6/2005, Trung Học chưa có phân ban, chỉ có một vài thí điểm có phân ban để rút kinh nghiệm dùng cho tương lai và có thể đến năm 2006 mới bắt đầu phân ban. Về cách thi chỉ có thi Viết, Sinh Ngữ đã được thi cả ở Trung Học Cơ Sở và Trung Học Phổ Thông. Thi tuyển vào Đại Học sẽ được bãi bỏ vào năm 2008, và chỉ căn cứ vào số điểm đạt được ở lớp 12 để lựa vào Đại Học và cũng căn cứ vào số điểm thi trong học kỳ lớp 9 trong năm 2006 để chọn vào lớp 10.

Như vậy, năm nay chỉ riêng học trò lớp 5 không phải thi Tiểu Học nhưng điểm thi học kỳ lớp 5 sẽ được dùng trong việc tuyển sinh vào lớp 6 Công Lập, Bán Công và Tư Thục. Kỳ dư (phần còn lại) khi không đủ điểm vào trường Công Lập thì phải chọn trường Bán Công, trường Tư Thục hoặc nếu không trường nào nhận thì phải ở nhà, (thí dụ 20 điểm/30 vào trường Công Lập, 18/30 vào trường Bán Công, 16/30 vào Tư Thục và 15/30, phải ở nhà).

Học trò lớp 9 cũng tương tự như vậy nếu không đậu được Trung Học Cơ Sở và qua kỳ thi tuyển vào lớp 10 thì phải học lớp 10 trường Bán Công, trường Tư Thục hoặc không được học trường nào nữa.

Năm 2008, tùy theo điểm ở lớp 12, học sinh sẽ được cấp phát bằng Trung Học Tốt Nghiệp và nếu điểm cao nữa sẽ được chuyển vào các trường Đại Học Công Lập, Tư Thục, trường Cao Đẳng, trường Dạy Nghề hoặc không được vào trường nào cả. Dự án của nhà nước muốn rằng đến năm 2010 cứ mỗi 10 ngàn dân có 200 sinh viên Đại Học gồm Đại Học và Cao Đẳng. Thí dụ đến năm 2010 Việt Nam có 90 triệu dân, thì sẽ có khoảng 1 triệu 800 ngàn sinh viên vào Trung Học và Đại Học. Nếu giả tỉ Đại Học là 4 năm mỗi niên học bậc Đại Học có khoảng 450 ngàn sinh viên. So với 2005, năm nay dự định tuyển lựa 250 ngàn sinh viên Đại Học và Cao Đẳng trong đó có 120 ngàn là sinh viên Đại Học, kỳ dư là Cao Đẳng.

Như vậy, số sinh viên dự trù cho năm 2010 sẽ nhiều hơn năm 2005 khoảng 2 lần. Hiện nay, số sinh viên dự thi vào Đại Học khoảng 1 triệu 200 ngàn nhưng dự định chỉ tuyển lựa 120 ngàn sinh viên Đại Học nghĩa là khoảng một triệu sinh viên không được nhận vào Đại Học. So với thời Pháp thuộc tỷ lệ đậu Tú Tài 2 khoảng 15-30% nhưng khi đã có bằng Tú Tài thì sinh viên được nhận vào bất cứ trường Đại Học nào kể cả trường Y Khoa.

Cách Học Tại Các Trường Đại Học:

Cho đến ngày nay 2005, ngành Giáo Dục và Đào Tạo đã thiết lập các bằng Cử Nhân, Thạc Sĩ và Tiến Sĩ nhưng đại đa số theo niên chế, chỉ có một vài trường thí điểm theo chế độ tín chỉ. Nhà nước định rằng khoảng năm 2006 sẽ bắt đầu thiết lập một số trường (khoảng 7 trường) theo tín chỉ và đến 2010 toàn thể các trường mới ứng dụng đào tạo theo tín chỉ. Hiện nay, chất lượng các trường đào tạo ở Việt Nam rất yếu kém và khoảng năm 2010 sẽ cố gắng nâng 2,3 trường Đại học ngang tầm khu vực (Đông Nam Á).

  

Từ thời Thượng cổ dân Việt Nam rất là hiếu học kể cả lúc học bằng tiếng Hán cũng cố gắng đậu Cử Nhân, Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa để được vinh quy bái tổ. Thời Pháp cai trị, dân ta cũng cố gắng đậu được các văn bằng Tú Tài, Cử Nhân, Bác Sĩ, Kỹ Sư để làm danh giá cho ông cha dòng họ. Ngày nay, việc làm càng ngày càng khó khăn do dân số Việt Nam gia tăng khoảng 25 triệu người năm 1945 lên đến 82 triệu người năm 2005 nên dân ta càng phải cố gắng có mảnh bằng chuyên môn như Kỹ Sư, Cử Nhân Tin Học (Computer Sciences) hoặc Bác Sĩ, Quản Trị Kinh Doanh (MBA – Master of Business Administration) để có thể kiếm được việc làm nuôi thân trong khi nhà cửa cực kỳ mắc mỏ, thậm chí tại Sài Gòn và Hà Nội có những căn nhà trị giá vài nghìn lượng vàng nên chỉ còn một con đường tiến thân duy nhất là làm sao có được nghề chuyên môn để kiếm một chân công chức, trong xí nghiệp hoặc làm cho các công ty ngoại quốc trả lương hậu tương xứng với công trình học tập của mình.

Những nghề mới, ngành mới như Cử Nhân Tin Học, Quản Trị Kinh Doanh, muốn tiến thân đều đòi hỏi căn bản Anh Văn để giao dịch với các người nước ngoài. Hiện tại, các sinh viên Việt Nam cũng như các cán bộ ra sức học tập kỹ thuật mới là điều đáng khuyến khích.

Tuy nhiên, có một vài kẻ lợi dụng chính sách khuyến khích của các nhà Giáo Dục theo học các lớp bán thời gian hoặc học từ xa và dùng quyền thế hoặc tiền bạc nhờ người khác làm bài hoặc thi hộ trong các Luận Án Tiến Sĩ hoặc Thạc Sĩ thì là điều đáng trách.

Ta lấy thí dụ sau đây, trích từ :

http://www.ngoisao.net/News/Hinh-su/2005/05/3B9B17DC/

Thứ hai, 16/5/2005, 15:50 GMT+7

“Đường dây” thi hộ Tiến Sĩ

Sau vụ việc một Tiến Sĩ ở Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Việt Nam (KHKTNNVN) bị tố giác “chạy chứng chỉ” để làm Luận Án Phó Tiến Sĩ, Viện đã thành lập đoàn thanh tra và từ tháng 7/2004 đã có kết luận, đồng thời làm rõ thêm nhiều vụ việc có dấu hiệu tiêu cực khác về thi hộ Luận Án Tiến Sĩ…

Kết Luận:

Nói chung, sự quản lý của tất cả các trường Trung Học và Đại Học Việt Nam đều theo đúng chính sách của các trường thuộc các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, nghĩa là tất cả ban Giám Hiệu của trường đều phải dưới quyền của Đảng Bộ của trường. Như vậy, sự lãnh đạo dưới quyền của Đảng Bộ chứ không thực quyền của các Cán Bộ Giáo Dục theo đúng chính sách, nôm na mà ta vẫn gọi là "Hồng Hơn Chuyên", Hồng có nghĩa là màu cờ của đảng Cộng Sản nghĩa là đảng viên, Chuyên có nghĩa là Cán Bộ Giáo Dục. Tương lai, nếu chính sách này không thay đổi, nền giáo dục Việt Nam không bằng được như những nước lân bang chứ chưa dám ví với các nước tiền tiến như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật…

Sự ảnh hưởng của nền Giáo Dục vào nền Kinh Tế sẽ được trình bày trong những phần kế tiếp và ta thử xét xem trong số 500 trường Đại Học danh tiếng trên thế giới, Đại Học Việt Nam được xếp vào hạng nào ?


Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đã tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đã
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 thì
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ý kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ý kiến của các Bác Sĩ đã từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quý vị góp ý kiến vì không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quý vị.

Nguyễn Văn Thành
Đầu tháng 6, 2005
(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1678
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM   Mon 17 Feb 2014, 11:04

Phần 15:

  

 
 
F- ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN GIÁO DỤC VÀO NỀN KINH TẾ QUỐC GIA:
 

Định Nghĩa GDP:

Nền kinh tế của các quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào nền giáo dục của các quốc gia đó, điều này có nghĩa là quốc gia nào có nền giáo dục tốt thì sẽ có một nền kinh tế phát triển. Để so sánh các nền kinh tế của các quốc gia với nhau, người ta dùng một danh từ chung là GDP và một tiền tệ chung là đồng đô-la của Mỹ (USD).

GDP viết tắt của chữ Gross Domestic Product nghĩa là Tổng Sản Lượng Nội Địa thường tính trong một năm:


Phương trình Toán Học sau đây được dùng vào định nghĩa GDP:

GDP = Consumption + Investment + Exports – Imports
      = Tiêu Thụ + Đầu Tư + Xuất Cảng - Nhập Cảng

Một cách chính xác hơn, người ta dùng công thức tiêu biểu sau đây:

GDP = Private consumption + Government + Investment +
         Net Exports
GDP = C+I +G+NX

Nghĩa là:

GDP = Tiêu Thụ Tư Nhân + Chi Tiêu Chính Phủ + Đầu Tư + Xuất Cảng Ròng (Thực, Thật)

Trong đó: Xuất Cảng Ròng = Xuất Cảng - Nhập Cảng

Thí dụ xuất cảng 1000 tỷ USD, nhập cảng 800 tỷ USD, vậy xuất cảng ròng 200 tỷ USD. Trái lại, nếu xuất cảng 1000 tỷ USD, nhập cảng 1300 tỷ USD thì xuất cảng ròng do đó: 1000 - 1300= -300 tỷ USD.

GDP thường được tính trong một khoảng thời gian thường là một năm bởi Văn phòng Phân tích Kinh tế (Bureau of Economic Analysis –BEA).

Thí dụ: Hãy tính GDP của nước Mỹ năm 2004:

Tư nhân tiêu thụ: 8229.1 tỷ USD

Đầu tư: 1926.9 tỷ USD

Xuất cảng: 1174.8 tỷ USD

Nhập cảng: 1781.8 tỷ USD

Vậy xuất cảng ròng là: (1174.8 – 1781.8) USD = - 607 tỷ USD

Chính phủ tiêu: 2184.4 tỷ USD

 

Vậy GDP của nước Mỹ năm 2004 là:

 

GDP = (8229.1 tỷ + 1926.9 tỷ + 2184.4 tỷ - 607 tỷ) USD
      = 11733.5 tỷ USD.
 

Nền Giáo Dục và Sự Phát Triển Kinh Tế của Các Nước:

Ngày nay, trên toàn thế giới bất cứ quốc gia nào cũng biết đến nhóm G7, đó là nhóm gồm 7 quốc gia: Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ý, và Gia Nã Đại họp thành nhóm G7 và là nhóm có nền kinh tế phát triển mạnh nhất và đứng đầu thế giới. Tổng sản lượng của 7 quốc gia này gộp lại khoảng 27 nghìn tỷ USD so với toàn thế giới bằng 27 USD/44 USD = 61%, có nghĩa là chỉ 7 quốc gia không thôi mà tổng số GDP chiếm đến 61% của toàn thế giới.

Mỗi năm nhóm G7 này họp một lần ờ từng quốc gia để quyết định nền Kinh Tế trên toàn Thế Giới, như năm nay, 2005 họp tại Luân Đôn (Anh Quốc) và thường Tổng Thống hoặc Thủ Tướng có mặt trong những buổi họp này. Trong vài năm vừa qua, Mỹ muốn làm Tổng Thống Nga được mát mặt (vẻ vang) nên mời họp nhưng chỉ đóng vai trò dự thính và như vậy không có quyền quyết định gì vì nền kinh tế của Nga quá yếu kém chỉ có khoảng 755 tỷ USD nghĩa là còn thua Gia-Nã-Đại (khoảng 1000 tỷ USD) và chỉ hơn Đại Hàn (Nam Hàn) chút xíu (Đại Hàn khoảng 720 tỷ USD).

Vì có sự hiện diện của Nga nên nhóm được mở rộng, gọi là G7+1 mà không gọi là G8. Còn Trung Quốc hiện nay, nền kinh tế đang phát triển với tổng sản lượng quốc gia, GDP hàng năm khoảng 1843 tỷ USD với số dân 1 tỷ 300 triệu người nên nước này cũng đang ngấp nghé muốn gia nhập nhóm G7 nhưng có lẽ chỉ được nhận với tên nhóm G7+2.

Theo tài liệu của viện Tiền Tệ Quốc Tế phát hành tháng 4 năm 2005 thì tổng số GDP (GDP hay Gross Domestic Product hay Tổng Sản Lượng Quốc Gia) tính theo USD (đồng đô-la Mỹ) của toàn thế giới khoảng chừng 44 nghìn 168 tỷ.


Trong đó GDP và thứ hạng của mỗi quốc gia được liệt kê như sau:

Hạng 1 - Mỹ, GDP khoảng 12438 tỷ USD (đứng đầu thế giới).

Hạng 2 - Nhật, GDP khoảng 4799 tỷ USD

Hạng 3 - Đức, GDP khoảng 2906 tỷ USD

Hạng 4 – Anh, GDP khoảng 2295 tỷ USD

Hạng 5 - Pháp, khoảng 2216 tỷ USD

Hạng 6 - Trung Quốc, khoảng 1843 tỷ USD

Hạng 7 – Ý, khoảng 1836 tỷ USD

Hạng 8 - Tây Ban Nha, khoảng 1120 tỷ USD

Hạng 9 – Gia Nã Đại, khoảng 1098 tỷ USD

Hạng 10 – Nga, khoảng 755 tỷ USD

Hạng 11 - Ấn Độ, khoảng 749 tỷ USD

Hạng 12 - Ba Tây (Brazil), khoảng 732 tỷ USD

Hạng 13 - Đại Hàn (Nam Hàn – South Korea), khoảng 720 tỷ USD

Hạng 14 - Mễ Tây Cơ (Mexico), khoảng 714 tỷ

Hạng 15 – Úc, khoảng 692 tỷ USD

……………….

Hạng 35 - Thái Lan, khoảng 174 tỷ USD

Hạng 36 - Hồng Kông, khoảng172 tỷ USD

Hạng 42 – Singapore, khoảng 116 tỷ USD

Hạng 61 - Việt Nam, khoảng 47 tỷ USD

Nếu so với Đại Hàn thì Việt Nam chiếm 47/720 = 6.5%, nghĩa là GDP, tổng sản lượng Việt Nam chiếm chỉ 6.5% GDP của Đại Hàn; với Thái Lan thì 47/174 = 27 %, GDP tổng sản lượng Việt Nam bằng 27% GDP của Thái Lan mà thôi.

N vậy, tổng sản lượng của Việt Nam trong khoảng 43 năm nữa mới bằng tổng sản lượng của Đại Hàn ngày hôm nay. Thí dụ sau đây sẽ dẫn chứng:

Hiện nay,mỗi năm độ tăng trưởng của Việt Nam là 7% theo thống kê của nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa, ta thử tính xem bao nhiêu lâu nữa thì GDP của Việt Nam sẽ bằng GDP của Đại Hàn trong năm 2005 biết rằng GDP của Việt Nam là 47 tỷ USD và GDP của Đại Hàn là 720 tỷ USD.

Ta có phương trình:

47 x (1+0.07)n = 720

Lấy Logarithm thập phân cho cả hai vế của phương trình trên để giải n, ta được:

n ≈ 40.3

Như vậy đợi đến năm 2048 tháng 3 (hơn 43 năm sau), thì tổng sản lượng, GDP của Việt Nam sẽ bằng Đại Hàn ngày hôm nay, năm 2005.

Tất cả những chi tiết về Tổng Sản Lượng, GDP của các Quốc Gia sẽ được tác giả trình bày trong một bài riêng biệt.

Ngày nay, ai cũng biết nền kinh tế quốc gia phụ thuộc vào trí óc của con người và nền kinh tế này gọi là nền kinh tế Tri Thức, mà Việt Nam luôn luôn nhắc đến. Nước nào có nhiều chất xám (tri thức hay khối óc biết suy nghĩ) nghĩa là có nhiều kỹ sư tài giỏi nên có nhiều sáng kiến thì nền kinh tế sẽ phát triển.

Như vậy, khỏi cần suy luận sâu xa, ta có thể nói rằng quốc gia nào đoạt được nhiều giải Nobel về Khoa Học, Y Khoa thì quốc gia đó chính là quốc gia đứng đầu thế giới. Tính đến ngày nay, năm 2005 Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều người trúng giải Nobel nhất thế giới (270 người trúng giải).


Đứng thứ nhì là Anh với 101 người, đứng thứ ba là Đức với 76 người trúng giải,..v..v…

Như vậy, việc Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới về kinh tế rõ ràng là có nhiều nhân tài góp phần vào công cuộc phát triển khoa học và kỹ thuật vào kinh tế.

Nhưng tại sao Hoa Kỳ lại có nhiều các nhà bác học, kỹ sư danh tiếng như vậy ?

Câu trả lời ngắn gọn là do các trường Đại Học Hoa Kỳ đã có công đào tạo ra các nhân vật đó.

Theo tài liệu của Academic Ranking of World Universities 2004 thì:
http://ed.sjtu.edu.cn/rank/2004/top500list.htm

Trong 500 trường Đại Học danh tiếng nhất thế giới, nước Mỹ chiếm hết 161 trường, nước Anh chiếm 41 trường, nước Đức chiếm 38 trường, nước Nhật chiếm 33 trường, nước Pháp chiếm 20 trường, Gia-Nã-Đại chiếm 12 trường, Nam Hàn chiếm 7 trường, Hồng-Kông chiếm 5 trường, Trung Hoa Lục Địa chiếm 4 trường, Đài Loan chiếm 3 trường, Singapore chiếm 2 trường, Nga chiếm 2 trường… Trong khi đó, nước Việt Nam không có một trường Đại Học nào ở trong danh sách của 500 trường Đại Học danh tiếng nhất thế giới.

Ta kể một vài Đại Học danh tiếng nhất thế giới sắp theo thứ hạng như sau đây:

Hạng 1 - Đại học Havard, Mỹ

Hạng 2 - Đại học Stanford, Mỹ

Hạng 3 - Đại học Cambridge, Anh

Hạng 4 - Đại học Berkely, Mỹ

Hạng 5 - Đại học MIT (Massachusetts Institute of
            Technology),Mỹ

Hạng 6 - Đại học California IT (Institute of Technology),
             Mỹ

Hạng 7 - Đại học Princeton, Mỹ

Hạng 8 - Đại học Oxford, Anh

Hạng 9 - Đại học Columbia, Mỹ

Hạng 10 - Đại học Chicago, Mỹ

Hạng 11 - Đại học Yale, Mỹ

Hạng 12 - Đại học Cornell, Mỹ

……….

Hạng 14 - Đại Học Tokyo, danh tiếng nhất của Nhật Bản đứng thứ 14

Đại Học Minnesota, Twin Cities, Mỹ đứng hạng thứ 33.

Nước Pháp danh tiếng nhất là Đại học Paris 6, hạng thứ 41 và Đại Học Paris 11, hạng thứ 48.

Đại Học danh tiếng nhất của Đức là Đại Học Kỹ Thuật Munich, đứng thứ 45.

Đại Học danh tiếng nhất của Nga, Đại Học Moscow chỉ được thứ hạng 66....v..v….

Như ta đã biết nền kinh tế ngày hôm nay là nền kinh tế tri thức nghĩa là nước nào có nhiều hiểu biết thì đứng đầu thế giới. Có nhiều tri thức tức là có nhiều giải Nobel và các trường Đại Học hàng đầu vì thế chúng ta không lấy gì làm lạ là nền kinh tế của Mỹ đứng đầu thế giới do có nhiều nhà trí thức tài năng đóng góp nhiều phát minh và làm cho nền kinh tế luôn luôn đứng hàng đầu thế giới.

Nhiều nước ngày nay như nước Trung Hoa đang cố gắng phát triển nền kinh tế nhưng vì không có thực lực (vốn), không có thực tài (phát minh khoa học) cho nên dù có phát triển nhờ mượn vốn từ bên ngoài và mượn những bằng sáng chế của nước khác, thí dụ như Trung Quốc chế tạo rất nhiều máy Điện Toán (Vi Tính) hay máy PC (Personal Computer) nhưng phải mua bản quyền Chip của Intel của Mỹ như Pentium 4 và phần mềm (Software) của Microsoft cũng của Mỹ thì mới chạy được. Nước Trung Hoa càng ngày càng thích dùng điện thoại cầm tay nhưng nếu không có những sáng chế từ Mỹ hay từ Nhật thì không phát triển được. Trung Hoa, một đàn anh của Việt Nam mà còn như vậy; đối với Việt Nam với hơn 82 triệu dân với GDP 47 tỷ mà không sửa đổi đường lối và chính sách giáo dục và kinh tế thì làm sao có thể theo kịp được các nước khác.

Nói về GDP cho mỗi cá nhân (Nominal per Capita):

GDP cho mỗi cá nhân là số tiền của mỗi cá nhân trong một quốc gia kiếm được trong năm. Số tiền này bằng tổng sản lượng quốc gia, GDP chia cho số dân trong nước. Thí dụ tổng sản lượng quốc gia của Mỹ năm 2005 là 12 tỷ 438 ngàn chia 296.7 triệu dân, ta được 41917 USD/năm/người.

Tuy nhiên, nước Mỹ không phải là nước có tiền kiếm được mỗi năm cao nhất. Quốc gia cao nhất là Lục-Xâm Bảo (Luxembourg), đây là nước nhỏ tí hon nằm giữa Pháp và Đức với 77595 USD/năm cho mỗi đầu người. Lý do vì dân số của quốc gia này chỉ có 470000 dân, phần lớn chỉ sống bằng nghề bài bạc. Ta kể 10 nước đầu tiên có GDP cá nhân cao nhất được xếp hạng như sau:

Hạng 1: Lục-Xâm-Bảo (Luxembourg), 77595 USD/người mỗi năm.

Hạng 2: Na-Uy (Norway), 61852 USD/người mỗi năm.

Hạng 3: Thụy-Sĩ (Swithzerland), 52879 USD/người mỗi năm.

Hạng 4: Băng Đảo (Iceland), 52063 USD/người mỗi năm.

Hạng 5: Cộng Hòa Ireland (Republic of Ireland), 50303 USD/người mỗi năm.

Hạng 6: Đan Mạch (Denmark), 49182 USD/người mỗi năm.

Hạng 7: Thụy Điển (Sweden), 42392 USD/người mỗi năm.

Hạng 8: Mỹ, 41917 USD/người mỗi năm.

Hạng 9: Qatar, 39607 USD/người mỗi năm.

Hạng 10: Austria (Áo), 39292 USD/người mỗi năm.
………..
Hạng 13: Anh: 38098 USD/người mỗi năm.
…………
Hạng 15: Nhật, 37566 USD/người mỗi năm.

Hạng 16: Pháp, 35727 USD/người mỗi năm.

hạng 17: Đức, 35075 USD/người mỗi năm.

Hạng 20: Ý, 31874 USD/người mỗi năm.

Hạng 22: Singapore, 26481 USD/người mỗi năm.

Hạng 24: Hồng Kông, 24626 USD/người mỗi năm.

Hạng 35: Đài Loan, 14860 USD/người mỗi năm.

Hạng 36: Đại Hàn, 14784 USD/người mỗi năm.

Hạng 60: Nga, 5341 USD/người mỗi năm.

Hạng 88: Thái Lan, 2665 USD/người mỗi năm.

Hạng 111: Trung Quốc, 1411 USD/người mỗi năm.

Hạng 144: Việt Nam, 566 USD/người mỗi năm.

Hạng 179: Cộng Hòa Congo, 116 USD/người mỗi năm.

Hạng 180: Burundi,106 USD/người mỗi năm.

Tóm lại, nước Việt Nam đứng hạng số 144 trong tổng số 180 nước kể trên, nếu so với Thái Lan thì Việt Nam: 566/2665 = 21.2% nghĩa là lương của người Việt Nam chỉ bằng 1/5 lương của người Thái Lan mà thôi. Đối với nước Trung Hoa, lương của mỗi người Việt Nam là 566/1411 = 24.9%, nghĩa là người Tàu có lương gấp 4 lần người Việt Nam, còn nếu so với Nga thì 541/566 = 9.43 nghĩa là lương công nhân Nga cao hơn lương công nhân Việt Nam trên 9 lần. Đối với Đại Hàn 14784/566 = 26.12 nghĩa là lương của một người Đại Hàn gấp hơn 26 lần lương của một công nhân Việt Nam.

Đối với Nhật Bản, 37566/566 = 66.37 nghĩa là lương của mỗi người Nhật gấp 66 lần lương của công nhân Việt Nam. Nói khác đi người Nhật làm 1 tháng bằng người Việt Nam làm 5 năm 6 tháng mới bằng.

Người viết chỉ phân tích các sự kiện mà miễn phê bình và chỉ nhớ có một điều là lương của một công nhân Việt Nam được xếp hạng đứng thứ 144 trong 180 nước, nghĩa là dưới 143 nước và chỉ hơn có 36 nước trong đó hơn nước Congo.

  


Ta thấy lương trung bình là 566 USD một năm tương đương với 566/12= 47 USD/tháng (hay tương đương với 47 x 15800 = 745233 đồng VN/tháng).

Hiện nay, theo bảng lương chính thức của nhà nước thì lương tối thiểu của một viên chức Việt Nam làm cho chính phủ là 290 ngàn đồng VN (tương đương với khoảng 19 USD) một tháng. Lương cao nhất nước là lương của Chủ Tịch nước hoặc Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản khoảng 3 triệu 400 ngàn đồng VN (tương đương với 220 USD) một tháng.

Một sinh viên Đại Học 4 năm tốt nghiệp Cử Nhân hay Kỹ Sư làm cho nhà nước chỉ lãnh lương khoảng 500 ngàn, một Bác Sĩ trung bình lãnh lương khoảng 1 triệu, một Đại Tá Quân Đội Nhân Dân lãnh lương khoảng 1 triệu 8.

Tuy nhiên ở nhà quê miền Bắc, bình quân mỗi người chỉ được 1 sào rưởi ruộng, thu hoạch không đủ ăn và lợi tức tương đương khoảng 10 USD hoặc 150 ngàn đồng một tháng. Có nhiều cô ở nhà quê phải lên Hà Nội tới hồ Tây hoặc Trúc Bạch hoặc hồ Thuyền Quang để mò cua bắt ốc đem bán kiếm kế sinh nhai nhưng những người này không lên bắt ốc tại hồ Hoàn Kiếm vì hồ Hoàn Kiếm nước xanh nên có mùi đồng không ai ăn được.

Những người may mắn hơn có bằng Kỹ Sư hoặc bằng Điện Toán (Tin Học) hoặc Quản Trị Kinh Doanh làm cho các công ty ngoại quốc thì lương cao hơn và vì vậy bình quân mỗi người là 740 ngàn đồng VN/tháng vì lương của các nhà Kỹ Thuật này bù đắp lương của các công nhân ở vùng quê hoặc vùng cao (đồng bào Thượng). Vì vậy cho nên ai cũng muốn đi làm cho công ty ngoại quốc, và cả nước đi học tập tiếng Anh kể cả các học sinh Tiểu Học.

Vì vậy nhiều phụ huynh con nhà giàu gửi con tới các trường quốc tế rất đắt tiền mong cho con sau này có thể vào các trường ĐẠI HỌC danh tiếng.

Thí dụ THPT dân lập quốc tế APU trực thuộc AMERICAN PACIFIC UNIVERSITY UNIVERSITY APU-HOA KỲ dạy theo chương trình Mỹ địa chỉ 286 Lãnh Binh Thăng học phí 12-14 triệu đồng/tháng.

Trường TH Quốc Tế Saigon khu nam quận 7 học phí $6200 usa/ năm


Trong các phần sau, chúng ta thử tìm xem làm cách nào sửa đổi giúp cho nền Giáo Dục và Kinh Tế để thu nhập cá nhân của người dân Việt Nam được nâng cao và được sắp hạng khá hơn thứ hạng 144.

 


 




 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đã tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đã sống trong những thời đó thí dụ muốn biết việc thi cử trong khoảng 60--75 thì hỏi những thí sinh và các giáo sư trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ý kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ý kiến của các Bác Sĩ đã từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quý vị góp ý kiến vì không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quý vị.

Nguyễn Văn Thành
Thượng tuần tháng 6, 2005
(còn tiếp)
 
Về Đầu Trang Go down
 
SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-