Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
HOA GIEO TỨ TUYỆT by buixuanphuong09 Yesterday at 21:32

Câu đối NGỰA by HanSiNguyen Yesterday at 21:26

Dòng Thơ Bảy Chữ Tám Câu - Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 16:54

EM CÓ PHẢI LÀ HỒN XINH… by Phạm Khang Yesterday at 12:24

BƯỚM VÀNG BÊN LỐI NHỎ ANH VỀ… by Phạm Khang Yesterday at 12:23

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Fri 18 Aug 2017, 17:36

TỚI NAM ĐỊNH NHỚ VŨ HOÀNG CHƯƠNG… by Phạm Khang Fri 18 Aug 2017, 17:00

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 18 Aug 2017, 14:14

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 18 Aug 2017, 14:08

ĐÊM THÀNH NAM BÊN HỒN VĂN HỒN BÁO… by Phạm Khang Thu 17 Aug 2017, 17:38

MẮT NÂU VỀ CHƯA by HanSiNguyen Thu 17 Aug 2017, 15:49

Mạc Đăng Dung và triều đại nhà Mạc (1527-1592) by Trà Mi Thu 17 Aug 2017, 14:12

Tấm lòng cụ Trần Trọng Kim với đất nước by Trà Mi Thu 17 Aug 2017, 12:54

Người Việt hợp tác với giặc Minh by Trà Mi Thu 17 Aug 2017, 09:27

LẠI TẾU CHO VUI: THU MƠ <==> THƠ MU by Ma Nu Wed 16 Aug 2017, 23:13

SỢ... by HanSiNguyen Wed 16 Aug 2017, 22:33

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Wed 16 Aug 2017, 22:05

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Wed 16 Aug 2017, 17:40

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Tue 15 Aug 2017, 15:58

Hoàng Vũ Luân by Hoàng Vũ Luân Tue 15 Aug 2017, 11:16

Nhóm lại lửa Đường by buixuanphuong09 Mon 14 Aug 2017, 08:15

Họa thơ Cẩn Vũ by buixuanphuong09 Mon 14 Aug 2017, 06:57

THƠ VUI CẨN VŨ. by buixuanphuong09 Mon 14 Aug 2017, 06:55

Quán Tạp Kỹ - Đồng Bằng Nam Bộ by Thiên Hùng Mon 14 Aug 2017, 06:10

Thơ PHẠM KHANG by Phạm Khang Sun 13 Aug 2017, 22:22

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Sat 12 Aug 2017, 22:52

Chân dung nhà văn - Xuân Sách by Trà Mi Sat 12 Aug 2017, 13:44

Chân dung hay chân tướng nhà văn - Nhật Tuấn by Trà Mi Sat 12 Aug 2017, 13:32

Đi tìm cái tôi đã mất - Nguyễn Khải by Trà Mi Sat 12 Aug 2017, 13:12

Trang Thơ Phạm Đa Tình by Phạm Đa Tình Fri 11 Aug 2017, 19:30

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 Nam Hải Dị Nhân - Phan Kế Bính

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Tác giảThông điệp
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: LƯƠNG THẾ VINH   Wed 30 Dec 2009, 20:44

LƯƠNG THẾ VINH


Lương Thế Vinh hiệu là Thụy Hiên, người ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bảo, tỉnh Nam Định. Khi còn bé đã có tiếng đồn là thần đồng. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng nguyên trong năm Quang Thuận đời vua Thánh Tôn nhà Lê.

Tục truyền Thế Vinh đã thác sinh ở huyện Nam Xang. Khi lên 7, 8 tuổi, cùng với trẻ con đi học. Bên cạnh đường có một con chó đá, mỗi khi Thế Vinh đi qua, thì con chó đá vẫy đuôi mà mừng.

Về nói chuyện với cha, cha bảo rằng:   
- Nó đã biết vẫy đuôi, thì hẳn nó cũng biết nói, thử hỏi vì cớ gì mà mừng.

Hôm sau Thế Vinh đi qua, con chó ấy lại vẫy đuôi. Thế Vinh hỏi, thì nó nói rằng: “Ngày sau ông đỗ Trạng nguyên cho nên tôi mừng thay cho ông”.

Thế Vinh về nhà lại nói với cha như thế. Cha tự bấy giờ chắc ngày sau con làm nên, sinh ra kiêu ngạo, thường hay tranh cạnh với người ta và đe rằng:
- Mai sau con ông đỗ Trạng, ông sẽ hỏi tội cho chúng bay.

Thế Vinh thấy cha như thế, can mãi mà cha không nghe, có ý không bằng lòng, buồn rầu mà bảo với mẹ rằng:
- Mẹ có đức hiền hậu mà cha thì kém đức. Con không ở đây nữa, xin từ đi chỗ khác đây.   

Mẹ ngạc nhiên thất sắc nói rằng:
- Sao con nói gở ra thế? Công cha nuôi con bấy nhiêu nay, mong con mai sau khá giả, để mà nương nhờ, con đã lấy gì trả ơn cha nghĩa mẹ, mà dám nói càn như vậy?

Thế Vinh khăng khăng một mực xin đi. Mẹ khuyên dỗ trăm chiều, nhưng cũng không sao giữ được, mới khóc mà bảo rằng:   
- Vậy thì con định đi đâu? Con bảo cho mẹ được biết.

Thế Vinh dặn mẹ cứ đến ngày ấy tháng ấy đến làng Cao Hương, huyện Thiên Bản thì biết, vào dặn giữ lại các sách của mình học. Nói xong thì mất.

Bấy giờ vận nước Nam đang thịnh, người Tàu xem thiên văn, thấy văn tinh giáng xuống nước Nam, mới sang nước ta tìm phương trấn áp. Khi Thế Vinh còn ở Nam Xang, đi chơi với một lũ trẻ con. Người Tàu trông sao, biết văn tinh ở trong đám trẻ con ấy, nhưng chưa biết đích đứa nào. Mới lấy một quả bưởi bỏ vào hố sâu, đố đám trẻ ấy lấy được quả bưởi lên thì thưởng tiền. Thế Vinh không ra mặt lấy, nhưng xui một đứa khác múc nước đổ vào hố cho đầy, rồi quả bưởi nổi lên thì lấy. Người khách gạn hỏi đám trẻ biết là mưu mô tự ông Thế Vinh, muốn tìm phương kế để trừ ông ấy đi.

Người khách chưa kịp dùng mẹo thì ông ấy mất. Trông xem thiên văn, biết thần [liv] ấy chạy sang làng Cao Hương, mới đuổi theo đến tận làng ấy, thì thấy thần ông ấy đã nhập vào trong hòn đá to. Người khách hỏi người chủ có hòn đó, xin mua. Người chủ tưởng là nó hỏi đùa mình, mới nói bỡn rằng: “Hòn đá này phải 100 quan tiền mới bán”. Người khách trả đến 70 quan, người chủ không biết thế nào, tưởng là nó đến cợt mình, nhất định không bán. Người khách thấy không bán, giả tảng đi nơi khác. Xảy có người đàn bà ở ngoài đồng đi về, thấy chúng xúm xít lại nói chuyện người khách hỏi mua hòn đá. Người đàn bà mới giẵm chân vào hòn đá mà nói rằng:
- Hòn đá này mà quí hóa gì mà nó mua đắt đến thế?

Không ngờ thần ông ấy ở trong hòn đá, từ bấy giờ đầu thai ngay vào người đàn bà ấy. Hôm sau người khách trở lại, toan cố vật nài để mua hòn đá cho được. Người có đá cũng định bán vậy cho nó. Nhưng khi đến nơi thì người khách trông hòn đá, biết thần đã xuất mất rồi, mới nói rằng:
- Bây giờ thì một đồng cũng chẳng mua nữa.

Người khách biết là không thể nào trấn áp được, mới trở về Tàu.

Khi Thế Vinh mới sinh ra, ngày đêm chỉ một vị khóc, cha mẹ, hàng xóm thay nhau ôm ẵm cũng vậy. Người mẹ trước nhớ lời con dặn, hỏi thăm đến tận làng ấy, nghe có một nhà mới đẻ con trai, mà chỉ khóc cả ngày lẫn đêm. Hỏi đến tận nhà vào chơi, xin chủ nhà ẵm đứa bé một tí, từ đấy đứa bé mới thôi khóc. Bà kia mới kể chuyện đầu đuôi con mình với nhà chủ, từ đó thường thường đi lại coi như con mình.

Đến khi Thế Vinh mới lớn lên, bảo với bà mẹ trước rằng:   
- Những sách của tôi thuở trước, cùng là tôi có món tiền chôn ở dưới gốc cây chuối thì đem đến đây cho tôi.

Bà kia về đào dưới gốc cây chuối, thì quả nhiên thấy có món tiền, mới đem cả sách và món tiền sang đưa cho Thế Vinh. Cha mẹ đẻ mới lấy làm tin, nuôi bà kia ở đấy một thể.

Thế Vinh học đến đâu, như người học ôn lại. Đến năm 23 tuổi thi đỗ Trạng nguyên.   
Vua Thánh Tôn thấy Thế Vinh là người hay chữ, dùng làm chức Hàn lâm thị thư chưởng viện. Bao nhiêu tờ bồi giao thiệp với nhà Minh tự tay Thế Vinh soạn ra cả. Người Tàu phải chịu nước Nam có tay văn chương giỏi.   

Bộ Đại hành toán pháp là của Thế Vinh làm ra.

Thế Vinh làm quan không được bao lâu thì về trí sĩ. Tính hay khôi hài, lúc về quan rồi, thường chỉ mặc cái áo vải, chơi bời với người trong làng.

Một hôm, ngồi chơi với một vài người ở trong làng, xảy nghe có quan huyện đi qua. Quan huyện xưa nay hách dịch, đi đến đâu rầm rầm đến đấy. Mấy người ngồi hàng đứng dậy tránh cả, chỉ còn một mình Thế Vinh ngồi chơi. Khi quan huyện đến, sai lính vào hàng bắt phu khiêng võng. Lính không biết ông ấy là ai, bắt ra khiêng. Thế Vinh cũng khiêng.

Đi được một lát, ông ấy gặp người làng, nhắn bảo rằng:

- Nhờ bác bảo hộ thằng học trò tôi là Thám hoa làng Vân Cát tên nó là Trần Công Bích, bảo nó ra khiêng đỡ võng quan huyện cho tôi, kẻo tôi mệt quá, không đi được.

Ông huyện nằm trong võng, nghe thấy câu ấy, chẳng khác gì sét đánh ngang tai, giật mình ngã lăn xuống đất, rồi đứng dậy lạy thì thà thì thụp, kêu là không biết, xin thứ tội cho.

Thế Vinh cười bảo rằng:   
- Ông là quan huyện, bắt tôi khiêng võng thế là phải, có việc gì mà tạ!   

Ông huyện kia vật đầu vật tai kêu van mãi, Thế Vinh mới bảo rằng:
- Có phải thế là từ rầy chớ nên bắt phu khiêng võng nữa bác nhé!

Ông huyện vâng vâng dạ dạ, xin khiêng trả võng rước ngài về nhà. Thế Vinh không khiến, người trong làng đổ ra đón Thế Vinh về.

Về sau Thế Vinh mất, được phong làm Thượng đẳng phúc thần. Con là Hiến Công, có công với nước, cũng được phong làm phúc thần. Ngôi mộ ông Thế Vinh đến giờ vẫn còn ở làng Cao Hương.

Khoa Thế Vinh đỗ, Nguyễn Đức Trinh thi đỗ Bảng nhãn, Quách Đình Bảo thi đỗ Thám hoa, ba người cùng có tiếng hay chữ từ thủa nhỏ. Vua có thêu ba lá cờ ban cho mỗi người một lá, để cho vinh qui.

Trong cờ thêu bốn câu rằng:

Trạng nguyên Lương Thế Vinh,
Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh,
Thám hoa Quách Đình Bảo,
Thiên hạ cộng tri danh.
[lv]

Tục truyền khi Thế Vinh còn nhỏ, nghe tiếng Quách Đình Bảo hay chữ, hỏi thăm đến chơi. Đến nhà thấy Đình Bảo đang học ở trong buồng. Thế Vinh trở ra về ngay, nói rằng: “Anh ấy không sợ”. Nghĩa là thi đến nơi rồi mà còn phải học thì hèn lắm, không đủ sợ chi. Về sau, Đình Bảo cũng hỏi thăm đến chơi nhà Thế Vinh thì thấy ông ấy đi chơi thả diều vắng, Đình Bảo than rằng: “Thi đến nơi rồi, mà không cần gì phải xem sách, đó mới thực là thiên tài!”. Nhân thế biết mình không bằng ông ta, xấu hổ trở về.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: VŨ CÔNG DUỆ   Wed 30 Dec 2009, 20:50

VŨ CÔNG DUỆ


Công Duệ người làng Trình Xá, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây. Khi còn nhỏ, cha mẹ đi cầy vắng nhà, Công Duệ chơi với một bọn trẻ con, nặn đất làm con voi, bắt hai con bươm bướm làm hai tai, cắm con đĩa làm vòi, lấy bốn con cua làm chân. Thành ra con voi đất mà vẫy được tai, vòi co lên quắp xuống và chân đi được, ai trông thấy cũng cho là tinh quái.

Một khi, có người đến đòi nợ, hỏi rằng:   
- Bố mày đâu?   

Đáp lại:   
- Bố tôi đi giết người.   
- Mẹ mày đâu?   
- Mẹ tôi đi cứu người.

Người đòi nợ lấy làm lạ, không biết nói thế là ý tứ ra làm sao, hỏi căn vặn mãi thì nói rằng:   
- Hễ có tiền thưởng thì tôi sẽ nói rõ cho mà biết.   

Người kia mới dỗ bảo rằng:
- Mày cứ nói đi cho thật, tao sẽ tha nợ cho nhà mày không đòi nữa.   

Công Duệ sẵn cầm một cục đất dẻo, bảo người kia in tay vào đấy để làm tin.

Người kia cũng thử in tay vào xem nói ra làm sao. Công Duệ mới nói rằng:   
- Cha tôi đang nhổ mạ mà mẹ tôi thì đang cấy.   

Người kia lấy làm kì dị. Hôm khác lại đến đòi nợ. Công Duệ đưa ngay hòn đất hôm trước ra, và nói rằng:   
- Tay ông ký vào đây, còn đòi gì nữa?   

Người kia đứng ngẩn mặt ra, không biết nói lại ra làm sao, nhân khuyên cha mẹ Công Duệ cho đi học, và giúp món nợ ấy để lấy tiền mua sách.

Công Duệ học thông minh lắm, nội các sách vở, chỉ học qua một lượt là thuộc. Đến năm Hồng Đức thứ 23 đời vua Thánh Tôn nhà Lê, Công Duệ đã ngoài 20 tuổi, thi đỗ Trạng nguyên khoa ấy.

Lúc làm quan, tính khí cương trực, vua cất lên làm Đô ngự sử, các quan ai cũng kính sợ.   

Đến khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, đình thần nhiều người a dua về Mạc Đăng Dung, ai không nghe phải giết. Đăng Dung sai người dụ Công Duệ theo về làm quan với mình, Công Duệ chửi mắng rầm rã, nhất định không thèm theo kẻ nghịch thần; nhưng liệu mình cũng không thoát được tay nó, mới đeo cả quả ấn Ngự sử đâm đầu xuống cửa bể Thần Phù mà chết.

Cách 60 năm nữa, nhà Lê trung hưng, khôi phục được kinh thành Thăng Long, sai đúc ấn Ngự sử, thì đúc mãi không thành được quả ấn, mới sai người lặn xuống cửa bể Thần Phù tìm quả ấn trước. Người lặn xuống đến nơi thì thấy Công Duệ vẫn mặc áo đội mũ chỉnh tề, cổ đeo túi ấn, ngồi xếp bằng tròn ở dưới đáy bể như thuở sinh thời.

Người ấy sợ hãi, lên tâu chuyện với vua Trang Tôn. Vua lấy làm lạ, chắc là bụng tinh thành của Công Duệ kết lại, mới sai quan làm lễ khấn bái, rồi sai người đem xác Công Duệ lên, dùng lễ khâm liệm, bỏ vào áo quan, làm ma đưa về đến làng Trình Xá an táng, truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: GIÁP HẢI   Sat 02 Jan 2010, 00:26

GIÁP HẢI


Giáp Hải thi đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Tuất năm Đại Chính nhà Mạc (1538). Mẹ Giáp Hải là người làng Công Luận, huyện Văn Giang. Bà cụ ấy khi còn trẻ nghèo lắm, chỉ có vài gian nhà tranh ở cạnh đường bán hàng nước. Bấy giờ có một người Tàu đi qua đường vào hàng nghỉ, lúc đi bỏ quên một túi bạc. Cách nửa tháng nữa mới hốt hoảng lại hỏi, thì bà ấy đem cả túi ra trả vẫn nguyên như lúc trước.

Người khách xin biếu lại một nửa, bà ấy không lấy nói rằng:   
- Tôi chỉ vì không ưa của bất nghĩa, cho nên mới nghèo thế này, sao bây giờ tôi lại chịu lấy của ông.   

Người khách cảm tạ bụng ấy, mới hỏi rằng:
- Mồ mả đấng tiên nhân nhà bà ở đâu, tôi tìm giúp cho bà một ngôi đất hay.   

Bà kia nói:
- Tôi là đàn bà, chỉ có trọi một mình, không có anh em nào cả. Nay đã ngoài 40 tuổi, dù được đất hay, thì bao giờ cho phát đạt? Mà phát đạt thì làm gì nữa?   

Người khách hỏi:
- Nếu được chỗ đất hay, thì dẫu đàn bà cũng phát phúc.   

Bà ấy mới đưa người khách đến chỗ ngôi mộ cha bà ấy. Người khách lập tức tìm đất cất cho, rồi dặn rằng:
- Về sau thấy ai có nạn đến đây, sẵn lòng mà cứu người ta, thì sẽ có cát báo [lvi].

Bà ấy ở đấy được nửa năm, xảy có người làng Bát Tràng, nhà nghèo đi làm mướn kiếm ăn; khi ấy trời đã tối, gặp phải mưa gió, quần áo ướt lướt thướt, rét run cầm cập, qua hàng bà ấy xin vào trọ một tối. Bà ấy hỏi đầu đuôi cặn kẽ, cho vào ngủ, rồi đốt lửa cho sưởi và dọn cơm cho ăn, đêm hôm ấy rét lắm, mà nhà thì chỉ có độc một chiếc chiếu. Người kia thì rét không có chiếu không chịu được, mà bà ấy cũng không thể nào mà nhường được chiếu cho. Mà để cho khổ thì chẳng đành lòng, mới cho nằm chung một giường mà ngủ.

Chàng kia đã được no ấm, lại nằm chung với đàn bà, lạ gì lửa gần rơm, té ra thành tư thông với nhau. Không ngờ chàng kia bị chứng hàn thấp chỉ một lúc thì tắt hơi. Bà ấy kinh hoảng vô cùng sợ người ta phát giác ra, đang đêm phải lôi ra đám tha ma vùi xuống; mà bà ta cũng có mang từ đấy.

Được vài tháng nữa, người Tàu lại đến, hỏi rằng:   
- Tự khi táng mả đến giờ, đã cứu được việc gì cho người nào chưa?   

Bà ấy không giấu giếm gì, kể cả sự trước cho người khách nghe.
Người khách hỏi:   
- Chôn chỗ nào, thử chỉ cho tôi xem.   

Bà ấy đưa ra chỗ mả chàng kia. Người khách ngắm nghía một hồi rồi nói rằng:   
- Chỗ này là huyệt thiên táng đấy, nếu có thai thì tất sinh ra Trạng nguyên Tể tướng.

Bà ấy đầy năm, quả nhiên sinh được con trai, cốt cách lạ thường. Khi lên 4 tuổi ra chơi ngoài bờ sông, xảy có người lái buôn ở làng Sinh Kế, huyện Phượng Nhỡn, bơi thuyền qua bến, trông thấy thằng bé nhẵn nhụi, ăn cắp đem xuống thuyền đi mất.

Bà kia tìm con đâu cũng không thấy, tưởng là chết đuối dưới sông rồi, sầu thảm không biết ngần nào.

Người lái tự khi đem đứa bé về, yêu mến lắm, khi mới lớn lên tìm thầy cho đi học. Giáp Hải học rất thông minh, nổi tiếng thần đồng. Mỗi ngày học hành một tấn tới, văn chương hay nhất trong làng. Đến năm 32 tuổi, thi đỗ Trạng nguyên.

Hôm vinh qui về làng, phải phục dịch khó nhọc, có người biết nguyên ủy ông ấy, bảo riêng với nhau rằng:   
- Không biết người ở xứ nào, đến đây mà làm khổ dân ta thế này!

Giáp Hải nghe lỏm được câu ấy, không biết vì cớ làm sao. Một hôm, xem xét các mồ mả tổ tiên, thì không có ngôi nào đáng phát Trạng nguyên, trong bụng hồ nghi lắm. Nhân mới hỏi những người quen thuộc, có người biết chuyện nói với ông ấy, Giáp Hải mới đến tận làng Công Luận dò xem, thì thấy có bà cụ già ngoài 70 tuổi, bán hàng bên cạnh đường, trông ra tình cảnh khốn đốn lắm.

Giáp Hải sai người vào hỏi rằng:   
- Bà cụ kia có chồng con gì không, sao mà khốn khó đến thế?   

Bà cụ nói:
- Tôi là người ở làng này, khi xưa có sinh được một mụn con trai, đã 4, 5 tuổi, chơi với trẻ con ở bờ sông, rồi không biết nó lạc đi đâu mất. Bấy giờ chỉ có một thân, không biết nương cậy vào đâu, tình cảnh sầu thảm, nói ra không xiết.

Giáp Hải đồ là mẹ mình, mới sai người bảo rằng:   
- Bà cụ già cả mà không có ai trông nôm thì theo về với tôi để tôi nuôi cho có bằng lòng không?   

Bà kia nói:
- Nếu quan lớn có bụng thương tôi như thế, thì phúc cho tôi lắm!

Giáp Hải mới đem về nuôi nấng, nhưng cũng chưa dám chắc hẳn là mẹ. Chân Giáp Hải vốn có cái nốt ruồi đỏ, thường khi ngồi nhàn để lộ ra. Bà cụ ấy một hôm trông thấy, cứ nhìn tròng trọc không chớp mắt.   

Người nhà quở rằng:
- Quí thể quan lớn, bà cụ kia sao dám nhìn mãi thế?   

Bà kìa nói:
- Tôi khi xưa sinh được một đứa con trai, cũng có cái nốt ruồi như thế, nay tôi trông thấy, tôi lại nhớ đến con tôi, cho nên tôi nhìn ngắm một chút, xin quan lớn thứ lỗi cho tôi.

Giáp Hải lập tức gọi bà ấy hỏi cặn kẽ từng tí, bà cụ ấy kể rạch ròi thủy chung. Giáp Hải buồn rầu mà than rằng:
- Ta bậy bạ uổng mất một đời, có mẹ mà không biết, may nhờ trời mà lại được gặp đây, mới biết đến mẹ.   

Tự bấy giờ mẹ con nhìn nhận nhau, hết đạo phụng thờ sớm tối.

Về sau, Giáp Hải làm Đề điệu trường thi hương ở tỉnh Sơn Nam. Hôm vào trường, Giáp Hải ra đầu bài hiểm hóc, học trò nhao nhao, toan sự phá trường mà ra, Giáp Hải phải điều đình ra đầu bài khác, học trò mới yên. Sai người dò xét, bắt được người thủ xướng phá trường sai điệu ra ngoài cửa trường kết án trảm quyết. Người học trò ấy kêu nhà độc đinh [lvii] xin nộp nghìn quan tiền chuộc tội, nhưng Giáp Hải không nghe, nhất định chính pháp [lviii].

Được ít lâu con Giáp Hải là Giáp Phong, cũng đã đỗ Tiến sĩ, làm quan trong tòa Hàn lâm, đã ngoại 30 tuổi, bỗng nhiên một hôm vô bệnh [lix] mà mất. Rồi bốn con trai, hai con gái cũng mất luôn cả một dạo. Giáp Hải thương xót vô cùng, mời thầy phù thủy đánh đồng thiếp.

Thầy phù thủy bảo Giáp Hải ngồi tĩnh nhắm mắt lại, rồi thư phù niệm chú một lúc, bỗng nhiên Giáp Hải ngã gục xuống. Trong khi ấy, thấy có một người sứ giả, đưa đến một nơi cung phủ, trong có ba bộ ngai ngồi, bên cạnh có một tấm phản, và có một cái gông sơn đỏ để đấy.

Giáp Hải hỏi những người canh cửa rằng: dinh tòa nào, thì họ nói rằng:   
- Đây là tòa Diêm vương hỏi kiện đây, cái gông sơn đỏ để chờ quan Trạng nguyên ở làng Sinh Kế đấy.

Giáp Hải nghe nói lập tức ra ngay. Sứ giả lại đưa đến một chỗ đền đài mát mẻ, phong cảnh lạ lùng. Giáp Hải trông thấy con là Giáp Phong đang ngồi đánh cờ với một ông quan khác. Phong trông thấy cũng ngảnh mặt nhìn ra, nhưng không nói một câu gì.

Ông quan kia hỏi rằng:   
- Ông cũng quen người ấy đấy ư, sao mà nhìn mãi người ta thế?   

Phong nói rằng:
- Tôi trước kia ở trên trần, có trọ nhà ông ta hơn 30 năm, vì ông ta giết oan mất một người, cho nên tôi không ở nữa; nay thấy ông ta đến đây, chẳng lẽ không nhìn một chút.

Ông ấy thấy nói vậy, không hỏi gì nữa, đi ra. Sứ giả đưa về thì tĩnh. Biết là cái nợ oan gia, mà lẽ báo ứng của nhà Phật cũng có. Vì thế sai gọi nhà người học trò bị giết khi trước, cho tiền về làm chay cho anh ta. Từ bấy giờ nhà ông ấy cũng yên ổn không việc gì.

Về sau, làm đến Lại bộ Thượng thư, Thái bảo Sách quốc công, về nhà trí sĩ.

Giáp Hải nhận tổ mộ ở làng Bát Tràng, cho nên văn chỉ huyện Gia Lâm phải thờ ông ấy. Đến sau có ông Tiến sĩ Nguyễn Mậu Thịnh, cho Giáp Hải là người làng Sinh Kế, và lại làm quan nhà Mạc, muốn tước tên ông ấy ở trong sổ tiên hiền huyện Gia Lâm. Đêm nằm mơ thấy Giáp Hải đòi lại mắng rằng:
Tao tội gì tước tên tao, mày là bọn hậu sinh, sao dám khinh lờn tiền bối, sẽ có báo ứng cho mày xem”. Ông kia vì thế sợ hãi, không dám xóa tên đi nữa. Nay huyện Gia Lâm vẫn có thờ, mà làng Bát Tràng cũng phải cúng tế.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: PHẠM TRẤN, ĐỖ UÔNG   Sat 02 Jan 2010, 18:14

PHẠM TRẤN, ĐỖ UÔNG


Huyện Gia Phúc (bây giờ là Gia Lộc), tỉnh Hải Dương, một người tên là Phạm Trấn ở làng Lâm Kiền, một người tên là Đỗ Uông ở làng Đoàn Lâm, hai làng giáp giới với nhau.

Làng Đoàn Lâm có một con yêu tinh thường thường biến hiện trăm vẻ, trêu ghẹo người ta, làng ấy tìm phương kế trừ mãi không được.

Ông Đỗ Uông khi còn nhỏ, một đêm ngồi học trong nhà, con yêu tinh thò tay vào trong cửa sổ trước chỗ bàn học để trêu ghẹo Đỗ Uông. Đỗ Uông nói chuyện với thầy phù thủy, thầy phù thủy xui lấy chỉ ngũ sắc mà buộc lấy tay nó. Đêm hôm sau, con yêu quen thói lại đến. Đỗ Uông vội vàng cầm chỉ ngũ sắc trói lại, buộc vào cửa sổ. Con yêu quả nhiên không biến được nữa, mới kêu van, Đỗ Uông nhất định không tha. Mãi đến gần sáng, con yêu lại kêu rằng:
- Ông ngay sau đại quí, tôi muốn bỡn ông đấy thôi, nỡ nào ông lại hại tôi?   

Đỗ Uông hỏi:   
- Như tài sức tao, thì có đỗ được Trạng nguyên không?

Con yêu nói:   
- Trạng nguyên đã có một ông họ Phạm, ông chỉ đỗ được Bảng nhãn mà thôi.   

Lại hỏi:
- Mày có của gì mà thiêng được, hễ cho tao xem thì tao sẽ tha cho mày.   

Một lát, thấy con yêu nôn ọe, thổ ra một hòn ngọc, cầm ở trong tay, ánh sáng lòe vào trong nhà, rồi nói rằng:
- Tôi chỉ nhờ có của này mới thiêng, nay xin dâng ông để giúp thêm việc học hành.

Đỗ Uông cầm lấy hòn ngọc, nuốt vào bụng, rồi mới cởi trói tha cho nó đi. Từ bấy giờ con yêu mất thiêng, không quấy nhiễu gì nữa. Mà ông Đỗ Uông từ khi nuốt hòn ngọc ấy, văn chương mỗi ngày một hay, nổi tiếng trong các trường, văn ông Phạm Trấn vẫn không kịp.

Đến khoa thi hội thời Quang Bảo nhà Mạc, hai ông cùng trạc 34 tuổi, và cùng đỗ hội. Đến hôm đình thí, Đỗ Uông trông thấy đầu bài, toàn chỗ nhớ cả, chắc là Trạng nguyên trong tay. Bấy giờ Phạm Trấn ngồi trong lều làm văn, phảng phất như có hai người giúp đỡ. Một người là Đông Phương Sóc[lx], một người là Hàn Kỳ. Hai người đứng cạnh đọc lên cho Phạm Trấn viết. Rồi lại thấy Đông Phương Sóc bảo với Hàn Kỳ rằng: “Phải có một người sang làm cho Đỗ Uông đau bụng để giảm bớt sức văn của hắn đi mới được”. Một lát nghe tiếng Đỗ Uông ngồi lều bên kia, rên lên khừ khừ, không sao viết được. Đến lúc Phạm Trấn viết hơn một đoạn, thì Đỗ Uông mới bớt đau bụng, làm được văn, cho nên nhớ nhiều mà sức văn hơi kém.

Khi xướng hồi danh, quả nhiên Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên, mà Đỗ Uông thì đỗ Bảng nhãn. Phạm Trấn mừng lắm nói rằng:   
- Phen này ta mới đè nổi được Đỗ Uông!

Đỗ Uông nghe vậy tức lắm. Đến lúc vinh qui, Trạng, Bảng cùng về một đường. Bảng nhất định không chịu nhường Trạng đi trước, cứ sóng cương ngựa đi ngang hàng nhau. Đi mãi đến chợ Bồng Khê làng Hoạch Trạch, người làng ấy vốn biết tiếng hai ông hay chữ, nay cùng vinh qui về qua cầu làng, mới ra xin hai ông cho một bài thơ đề vào cầu.

Hai ông bảo nhau rằng:   
- Cầu ngói này hơn mười gian, hạn đi qua bảy gian, thì phải vịnh xong một bài thơ, hễ ai làm xong trước thì đi trước, không được tranh nhau.

Phạm Trấn y ước, ngồi trên ngựa vừa đi vừa vịnh, đi khỏi bảy gian, thì vừa xong tám câu thơ. Ai cũng chịu là tài, chỉ Đỗ Uông không chịu, nói rằng:
- Bài ấy chẳng qua làm sẵn tự bao giờ, không phải mới làm, tài gì mà khen.

Nói thế rồi lại cứ đi ngang hàng. Đi đến làng Minh Luân, lại có người mới làm nhà xong, đón đường xin một bài thơ để mừng nhà mới.   

Phạm Trấn ứng khẩu đọc một bài rằng:

Năm năm thêm phú quí,
Ngày ngày hưởng vinh hoa.
Xưa có câu như thế,
Nay mừng mới làm nhà.


Đỗ Uông đã hơi chịu tài nhanh hơn mình. Khi đến cầu làng Đoàn Lâm, tục gọi là cầu Cốc, trong cầu có một người con gái bán hàng, tên là cô Loan. Hai ông mới thách nhau làm bài thơ nôm, đầu bài ra: “Cô Loan bán hàng cầu Cốc”. Hạn phải mỗi câu dụng hai tiếng thuộc về giống cầm, qua cầu phải xong bài thơ, hễ ai xong thì được đi trước, không được tranh nhau nữa.

Ông Phạm Trấn ngồi trên ngựa lại ngâm xong trước.   
Thơ rằng:

Quai vạc đôi bên cánh phụng phong,
Giở giang bán trác tựa đồ công.
Xanh le mở khép nem hồng mới,
Bạc ác phô phang rượu vịt nồng.
vân vân [lxi]

Đỗ Uông bấy giờ mới chịu nói rằng:   
- Thò đọc ra đã thành thơ, nếu không có quỉ ngâm thần trợ, thì sao được thế này?

Từ đấy mới nhường Trạng đi trước. Một hôm, Đỗ Uông đi lẻn xem ngôi mả tổ nhà ông Phạm Trấn, thấy có hai cái gò đất nhỏ ở hai bên ngôi mộ, tục gọi là gò Thần Đồng. Đỗ Uông trỏ vào nói rằng:
- Mấy phen thằng ấy nó đè ta là bởi có hai đống đất này đây!

Mới lấy chân đạp vào hai gò đất ấy. Phạm Trấn từ khi ấy phải bệnh điếc tai, chữa thuốc mãi không khỏi. Có người mách với Phạm Trấn rằng: Đỗ Uông đạp vào gò Thần Đồng, Phạm Trấn kêu với vua, vua bắt Đỗ Uông phải tạ mả tổ nhà ông Phạm Trấn, bấy giờ mới khỏi.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: LÊ NHƯ HỔ   Sun 03 Jan 2010, 19:21

LÊ NHƯ HỔ


Lê Như Hổ người làng Tiên Châu, huyện Tiên Lữ (bây giờ thuộc về tỉnh Hưng Yên). Như Hổ to lớn đẫy đà, cao 5 thước 5 tấc, lưng rộng 1 thước rưỡi, nhà nghèo mà hay học; ăn thì cực khỏe, mỗi bữa ăn một nồi bảy cơm mà chưa no. Học được nửa năm, vì nhà nghèo không đủ ăn, mới ở gửi rể một nhà giàu ở làng Thiên Phiến. Nhà vợ mỗi bữa cho ăn một nồi năm cơm, thì Như Hổ thường lơ lửng nhác học.

Bố vợ hỏi bố đẻ Như Hổ rằng:   
- Trước tôi nghe thấy con ông chăm học lắm, sao từ khi hắn đến ở nhà tôi, thì lười biếng không chịu học, là cớ làm sao?

Ông này hỏi:   
- Từ khi cháu ở nhà ông, ông cho ăn uống thế nào?   

Ông kia nói:   
- Mỗi bữa nồi năm cơm rồi đấy!

- Nhà tôi nghèo như thế, mỗi bữa còn phải cho nó ăn nồi bảy cơm. Ông cho nó ăn ít làm vậy, trách nào mà nó chẳng biếng học?

Ông kia nghe lời, mới cho ăn hơn khi trước, từ bấy giờ Như Hổ học thêm được một vài tiếng lại thôi.   
Mẹ vợ bảo với chồng rằng:

- Ông khéo kén được rể quí hóa nhỉ! Chỉ được bộ ăn khỏe thì không ai bằng. Dù có gượng mà học nữa, cũng không làm trò gì được tuồng hay ăn ấy.   

Bố vợ biết điều, bảo rằng:
- Nó ăn hơn người, sức nó tất cũng hơn người, can gì mà lo?   

Mẹ vợ nói:
- Có phải sức nó hơn người, tôi có vài mẫu ruộng bỏ cỏ rậm kia, ông thử bảo nó dọn cỏ đi cho tôi, xem nó có làm được không.

Như Hổ nghe thấy nói như vậy, sáng sớm mai, lập tức vác dao phát bờ đem ra ruộng. Đến chỗ gốc cây đa to, thấy chỗ ấy mát mẻ, mới nằm ngủ ở dưới gốc cây.

Mẹ vợ thấy rể vác dao ra đồng, cũng đi chợ mua đồ ăn để về làm cơm cho rể ăn. Khi về qua ruộng, thấy rể nằm ngủ khì ở dưới gốc cây, bà ấy điên tiết, chạy tất tả về bảo với chồng rằng:

- Ông còn bảo thổi cơm cho nó ăn nữa thôi? Gớm mặt nó! Nó nói ra đồng dọn cỏ, thế mà từ sáng đến giờ vẫn còn nằm chương thây chương xác ra ngoài ấy, rể ông quí thật!

Hai ông bà mới dắt nhau ra đồng xem. Không ngờ từ lúc bà kia đi về, thì Như Hổ lập tức đứng dậy phát cỏ. Chỉ một lúc, dọn sạch quang cả vài mẫu ruộng. Cá dưới ruộng chạy không kịp, chết nổi lều bều cả lên mặt nước. Khi hai ông bà đến nơi, thì thấy ruộng đã sạch rồi, bấy giờ mới biết tài sức của Như Hổ.

Khi lúa chín, mẹ vợ thổi sẵn nồi 20 cơm, sai Như Hổ ra gọi thợ gặt. Như Hổ ra ngoài một lát, trở về nói dối rằng:   
- Tôi đã gọi nhưng không ai chịu làm, vậy để tôi ăn xong sẽ gặt giúp cho mẹ.

Nói rồi dọn cơm ra ăn, một mình đánh hết nồi 20 cơm.   
Mẹ vợ lấy làm quái lạ, nói rằng:   
- Cối xay nào mà chứa được thế, có vỡ bụng ra mất không?

Như Hổ nói:   
- Mẹ đừng ngại, việc gặt hôm nay, tôi xin nhận làm một mình.   

Mới lấy một cây tre to làm đòn càn, và đem sẵn liềm hái thừng trạc ra đồng. Vừa được nửa buổi thì gặt xong hai mẫu ruộng lúa, bó làm bốn gánh quảy về. Mẹ vợ từ đấy mới có bụng yêu, mỗi bữa cho ăn thật no để mà học.

Làng bên cạnh có hội đánh vật, năm nào Như Hổ cũng đến phá giải. Các đô vật ai cũng chịu, không ai dám ganh sức với Như Hổ, vì thế đặt tên là Như Hổ.

Đến năm gần 30 tuổi, văn chương hay lừng lẫy có tiếng ở đời, rồi thi đỗ Tiến sĩ trong thời Quang Hòa nhà Mạc.

Bấy giờ có người đỗ đồng khoa với Như Hổ tên là Nguyễn Thanh, ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh, có khi nói chuyện đến gia tư [lxii] nhà mình. Như Hổ nói bỡn rằng:
- Gia tư nhà bác, chỉ đủ cho tôi ăn một tháng là cùng.  

Nguyễn Thanh nói:
- Ông khinh tôi quá làm gì thế, tôi tuy chẳng có gì những cũng đủ cung phụng ông được ba tháng.   

- Thôi đừng nói ba tháng, ông thử cho tôi ăn một bữa xem làm sao.

Ông kia vâng lời, hẹn ngày mời Như Hổ vào chơi. Đến hôm hẹn, Như Hổ vào nhà Nguyễn Thanh, không ngờ hôm ấy lại đi vắng.

Như Hổ bảo với người vợ Nguyễn Thanh rằng:   
- Tôi bạn với quan Nghè đây, nhân có việc qua đây, có hơn 30 đứa đầy tớ, nhờ phu nhân một bữa cơm.

Phu nhân lập tức sai người nhà làm thịt con lợn, dọn 5, 6 mâm cơm mang ra.   
Như Hổ bảo người đầy tớ rằng:   
- Mày ra gọi chúng nó vào đây.

Lâu mãi không thấy một người nào, chỉ trọi một mình ông Như Hổ, ngồi đánh hết cả sáu mâm cơm. Ăn xong, gửi lời tạ ơn rồi đi.   

Chiều tối, Nguyễn Thanh trở về, vợ nói rằng:
- Hôm nay có một chuyện nực cười quá chừng! Có một người nói là quen nhau với ông, nhân việc quan đem nhiều đầy tớ đi qua, nhờ một bữa cơm, tôi tưởng là thật, làm 5, 6 mâm cỗ. Té ra chỉ một mình người ấy ngồi ăn, tôi ở trong buồng trông ra, cứ mỗi bát và một miếng, ăn như hùm đơm đó, chỉ một lát hết ba nồi cơm và sáu mâm cỗ, không biết người hay là quỉ đói.

Nguyễn Thanh phàn nàn nói rằng:   
- Đấy là người anh em với tôi, trước có hẹn đến chơi, lỡ ra quên mất, chắc là ông ta lại trách tôi sai hẹn.

Bữa khác, Nguyễn Thanh nhân việc đi qua làng Tiên Châu, vào chơi nhà ông Như Hổ. Như Hổ sai người nhà làm thịt hai con lợn béo và thổi bốn mâm xôi, dọn ra hai bàn, mỗi bàn một con lợn, hai mâm xôi. Một bàn thết Nguyễn Thanh, còn mình ngồi riêng một bàn. Nguyễn Thanh ăn hết một góc mâm và một phần chia tư con lợn. Như Hổ thì ăn hết sạch cả bàn mình, lại ăn thêm sang một góc xôi thịt ở bàn ông kia, chỉ còn một nửa để cho người nhà.

Nguyễn Thanh thất kinh nói rằng:   
- Ngày xưa ông Mộ Trạch đã có tiếng ăn khỏe, mà chỉ hết 18 bát cơm và 12 bát canh là cùng. Nếu ông ấy sinh ra đồng thời với ông, thì cũng phải kém ông ba bậc.

Hai người cùng cười ầm cả lên.   

Về sau Như Hổ làm đến Thượng thư, được phong làm Thiếu bảo Lữ quận công, rồi về trí sĩ, thọ 72 tuổi mới mất.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: PHÙNG KHẮC KHOAN   Tue 05 Jan 2010, 03:24

PHÙNG KHẮC KHOAN


Khắc Khoan người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây.
Tục truyền Khắc Khoan tức là anh em cùng mẹ khác cha với ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình). Nguyên bà ấy tự lúc bỏ ông Văn Định, lên Sơn Tây lấy chồng khác, rồi sinh ra Khắc Khoan. Khắc Khoan sinh ra có tư chất thông minh. Khi mới lớn, bà mẹ cho xuống Hải Dương theo học anh là Bỉnh Khiêm. Bỉnh Khiêm hết lòng dạy dỗ, mới thành ra một người kiêm đủ văn chương tài đức. Nhân khi bấy giờ nhà Lê giữ ở Thanh Hóa, xui Khắc Khoan vào trong ấy để giúp nhà Lê. Khắc Khoan vào thì vua Trang Tôn nhà Lê mừng rỡ tin dùng lắm, bàn mưu lập mẹo, giúp lên được lắm việc to tát. Đến thời vua Thế Tôn nhà Lê khôi phục được kinh thành Thăng Long, vua sai Khắc Khoan sang sứ nhà Minh để cầu phong tước. Nhà Minh phong cho vua Thế Tôn làm An Nam Đô hộ sứ.

Khắc Khoan trả lại sắc vua Tàu và dâng biểu nói rằng:
- Chúa tôi là họ Lê, nguyên là dòng dõi nước An Nam tôi, không có tội gì như nhà Mạc, mà lại phải chịu chức tước như họ Mạc, thì chúng tôi không dám nhận sắc mệnh, xin Hoàng đế thiên triều xét lại cho.

Vì thế vua nhà Minh lại phong vua Thế Tôn làm An Nam quốc vương.

Trong khi đi sứ, gặp ngày Tết nguyên đán, vua Tàu sai các đình thần và các sứ thần ngoại quốc, mỗi người phải dâng bài thơ chúc mừng. Các người kia ai cũng dâng một bài, chỉ Khắc Khoan dâng lên 36 bài, mà bài nào cũng hay. Vua Tàu phê cho đỗ Trạng nguyên, bởi thế mới gọi là trạng Bùng (Bùng tức là làng Phùng Xá, tục gọi là Bùng).

Khi đi sứ trở về, qua tỉnh Lạng Sơn, gặp khi bà chúa Liễu hiện hình chơi trên đỉnh núi. Đôi bên đối đáp với nhau một hồi, rồi bà chúa Liễu biến mất. Khắc Khoan lại trông thấy gỗ ngổn ngang dọc đường, nhận ra chữ “Liễu Hạnh” và chữ “Phùng”, biết là ý bà chúa Liễu muốn nhờ Khắc Khoan đứng lên khởi công lập đền thờ bà ấy.

Về sau, nhân lúc thong thả, Khắc Khoan đem hai người là Ngô, Lý đi chơi hồ Tây, lại gặp bà chúa Liễu phen nữa, có làm thơ xướng họa liên ngâm.

Khắc Khoan làm quan đời trung hưng, công nghiệp rất là hiển hách. Dần dần làm đến Thái phó, được phong làm quốc công, ngoài 70 tuổi mới mất.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: LÊ QUÍ ĐÔN   Tue 19 Jan 2010, 03:43

LÊ QUÍ ĐÔN


Lê Quí Đôn người làng Diên Hà, phủ Thái Bình (bây giờ mới đặt riêng thành tỉnh).

Khi trước ở phủ ấy có một ngôi đất quí, mà ai táng vào thì dân động, lại phải nhổ đi. Các thầy địa lý ai cũng khen kiểu đất đẹp mà không ai dám táng vào. Một hôm, có một người say rượu, lập tâm muốn táng vào ngôi đất ấy, mới nằm liều ở đấy, cho chết đi thì thôi. Nửa đêm thấy có thần nói chuyện với nhau rằng: “Chúng ta giữ đất này, mà có người muốn liều chết để chiếm lấy, chúng ta chẳng hóa ra phải tội với thượng đế ư?”. Một ông thần kia nói rằng: “Hãy thử sờ vào bụng nó xem còn ấm hay lạnh rồi”. Mới lấy tay sờ vào bụng anh ta, anh ta sợ phải đứng dậy chạy về.

Đêm hôm ấy, ông thần báo mộng cho người đàn anh trong làng rằng:
- Ngôi đất này để dành cho họ Lê ở làng Diên Hà dân chúng mày phải giữ, nếu để người khác táng vào thì dân chúng mày sẽ phải vạ cả.   

Người ấy tỉnh dậy lo lắm, hôm sau hội dân lại bàn rằng:
- Ngôi đất ấy có thần giữ, người làng ta táng không được, mà để người xứ khác táng thì dân động. Các nhà địa lý, thường thường đi lại, chỉ sợ tiếng ấy lộ ra ngoài, thì người quyền thế bắt hiếp dân mà táng, dân ta chẳng thiệt hại lắm ư? Bây giờ thần bảo để dành cho họ Lê làng Diên Hà, không biết bao giờ cho họ ấy đến táng, để dân ta đỡ một đoạn khó nhọc.

Giữa lúc đang bàn, thì có một cụ già vào ăn xin.
Người làng hỏi:   
- Ông cụ già kia ở đâu?   
Thưa rằng:   
- Tôi ở làng Diên Hà.
- Họ gì?   
- Thưa tôi họ Lê.   
Cả làng mừng, nói rằng:
- Ở đây có một ngôi đất to, thần cho họ Lê làng Diên Hà. Cụ có phải họ Lê, thì đem tiên phần lại mà táng, về sau phát đạt, chẳng những cụ khỏi phải khổ sở, mà dân tôi cũng đỡ được một sự quan ngại.

Cụ kia mừng rỡ, về ngay nhà đem tiên phần lại táng vào huyệt ấy. Về sau, con ông cụ ấy là Lê Trọng Hứ quả nhiên đỗ Tiến sĩ, làm quan rồi sau được phong là Trung hiếu công.

Trung hiếu công muộn con, cùng với phu nhân cầu tự ở chùa Quang Thừa huyện Kim Bảng. Phu nhân nằm mơ thấy trời cho con Kì lân, mới có thai mà sinh ra Lê Quí Đôn.

Quí Đôn thông minh khác thường, mới lên hai tuổi đã biết được hai chữ “hữu, vô”. Thử một trăm lượt cũng cứ trỏ vào chữ ấy. Lên 5 tuổi, cho học Kinh Thi [lxiii] thì học đâu nhớ đấy, không chữ gì phải bảo đến hai lượt. Lên sáu tuổi, đã biết làm thơ, làm văn.

Khi 7, 8 tuổi cởi truồng đi tắm, có một quan Thượng vào chơi với ông Trung hiếu công. Trông thấy đứa trẻ, hỏi thăm vào nhà ông kia, đứa trẻ ấy đứng giang hai chân ra và bảo quan Thượng rằng:
- Tôi đố ông biết chữ gì đây, hễ ông biết được thì tôi sẽ đưa ông vào nhà.   

Ông kia thấy đứa trẻ con hỗn xược, không thèm nói gì. Đứa ấy cười ầm lên nói rằng:
- Chữ thái () thế mà không biết!

Ông Thượng thấy đứa kỳ dị, hỏi ra mới biết là con ông Trung hiếu công. Lúc vào chơi nhà gọi lên mắng rằng:
- Mày là thằng rắn đầu rắn cổ, phải làm một bài thơ tự trách mình, nếu không làm được thì phải đòn.

Quí Đôn vâng lời làm một bài thơ nôm rằng:

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà.
Rắn mà chẳng học chẳng ai tha,
Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét, mai gầm rát cổ cha.
Chém mép chỉ quen tuồng nói dối,
Lằn lưng cam chịu tiếng roi tra.
Từ rầy Châu, Lỗ chăm nghề học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.


Ông kia thấy bé một tí tuổi, mà văn chương tài hoa, nức nở khen mãi không thôi. Lại một khi, Quí Đôn đến chơi nhà lý trưởng, nhác trông thấy một quyển sổ, biên những người thiếu thuế má, kẻ thì một vài quan tiền, người thì năm bảy đấu thóc. Quí Đôn xem qua một lượt, rồi trả người lý trưởng. Đến sau nhà ấy bị cháy, mất cả quyển sổ, các món nợ kẻ thiếu người đủ, không biết tra khảo vào đâu. Khi gặp Quí Đôn phàn nàn về sự mất quyển sổ.

Quí Đôn bảo rằng:   
- Quyển sổ ấy tôi đã nhớ cả rồi, để tôi đọc cho mà sao lại, can gì mà lo.

Quí Đôn đọc thì không sai lẫn một ly nào, nhưng người lý trưởng cũng chưa dám quyết. Đến lúc chiếu sổ ra thu các món, thì phải cả, không ai cãi cọ gì, mới biết là Quí Đôn sáng dạ.

Năm 18 tuổi thi đỗ Thủ khoa. Ai cũng chắc Quí Đôn thi hội thì đỗ Trạng nguyên. Có một ông quan triều bảo với ông Trung hiếu công rằng:
- Nước ta lâu nay không có Trạng, khoa này con ông hẳn đỗ được Trạng nguyên.   

Lại hỏi rằng:   
- Nội các sách, công tử đã xem được hết cả chưa?

Ông kia nói:   
- Sách nhà tôi thì cũng nhiều, duy còn thiếu một bộ “Trinh quán chính yếu”, vậy thì ngài có bộ ấy, xin cho cháu nó mượn xem vài hôm.

Ông kia cho mượn, nhưng bỏ ra vài tờ để ra đầu bài, vì thế khoa ấy Quí Đôn chỉ đỗ Bảng nhãn.

Khi đỗ rồi, hai cha con cùng làm quan thời vua Hiến Tôn nhà Lê. Vua khen rằng:
Hai cha con nhà ngươi, cùng có bụng trung quân ái quốc, thế mới gọi là trung hiếu truyền gia!   

Về sau, Quí Đôn phụng mệnh sang sứ bên Tàu, các quan Tàu thấy người thông minh, ai cũng có lòng kính trọng.

Có một ông Tú tài Tàu vào bậc hay chữ, thông cả thiên văn, địa lý, tướng số. Nghe tiếng Quí Đôn là người anh tài nước Nam, có ý muốn thử. Một bữa rủ Quí Đôn đi chơi chùa xem bài văn bia. Ngọn chùa ấy, ở cạnh bờ sông, cứ mỗi buổi chiều thì có nước thủy triều tràn lên, ngập cả bia. Khi Quí Đôn mới xem xong thì nước đã kéo đến, ông Tú tài dắt Quí Đôn về chơi nhà, hỏi lại bài văn bia, thì Quí Đôn đọc cả bài, không nhầm một chữ nào. Ông kia chịu là thông minh.   

Ông Tú tài kia bảo với ông Quí Đôn rằng:
- Tôi xem tướng ông, về sau tất phải tội cách hết chức tước. Tôi có ngôi mộ ở trước chùa Quang Minh bên nước Nam, ông có về nước, trong nom sửa sang giúp cho tôi; sau 20 năm nữa, thì tôi chắc đỗ Trạng mà sang sứ bên ấy, thì tôi sẽ cứu cho ông.

Quí Đôn vâng lời từ về, tìm thấy ngôi mộ ấy sửa sang lịch sự. Về sau, con và một người học trò Quí Đôn, cùng có tiếng hay chữ. Đến khoa thi, vua Lê chúa Trịnh đánh cuộc với nhau: vua thì đoán con Quí Đôn đỗ đầu; chúa thì đoán học trò Quí Đôn đỗ đầu. Nhưng Quí Đôn dặn người học trò đánh tráo văn cho con mình, bởi thế người con đỗ đầu, mà người học trò thì đỗ thứ ba. Vua được cuộc mà chúa thì thua. Chúa Trịnh xưa nay vẫn biết sức người học trò hơn mà mình bị thua cuộc, lấy làm tức lắm. Rồi dần dà vỡ cái mưu gian, chúa Trịnh nổi giận, cách chức Quí Đôn và cách cả khoa mục của hai người.

Quí Đôn phải cách [lxiv] buồn rầu lắm. Được vài năm, quả nhiên người Tú tài Tàu đã đỗ Trạng nguyên và sang sứ bên nước Nam. Khi sứ vào đến cửa ải, hỏi thăm biết Quí Đôn phải cách rồi, mới lưu lại ở cửa ải, sai người mang một tấm vóc đề một chữ  và đưa giấy nói rằng:   
- “Đố cả nước Nam biết là chữ gì, nếu không ai biết thì không sang sứ nữa”.

Vua và chúa hội cả quần thần lại hỏi, thì không ai biết là chữ gì. Vua, chúa lấy làm lo lắm. Các quan nói với chúa rằng:
- Việc này phải hỏi đến Lê Quí Đôn mới xong. Xin chúa phục chức cho Lê Quí Đôn, rồi triệu đến mà hỏi.

Chúa Trịnh bất đắc dĩ, phải trả hết lại chức tước của Lê Quí Đôn, rồi cho đòi vào triều đình hỏi chữ ấy.

Lê Quí Đôn trước còn từ tạ không biết, chúa lại trả khoa mục cho con và người học trò, Lê Quí Đôn mới giải nghĩa chữ ấy và viết bốn chữ: “Phỉ xa bất đông” (匪 車 不 東) vào tấm vóc sai người đưa lên cho sứ Tàu.

Vua và chúa bấy giờ mới nghĩ ra là nó đố mẹo; chữ ấy viết không ra hình chữ xa, mà cũng chẳng ra chữ đông. Mà trong Kinh Thi có sẵn câu rằng: “Phỉ xa bất đông”. Đó là đố một câu, nhưng chỉ viết một chữ mà đủ ý cả 4 chữ.   
Sứ Tàu thấy nói trúng vào ý mình mới sang sứ, đó là mẹo nó cứu cho Lê Quí Đôn đấy.

Tính ông Lê Quí Đôn trung tín thành thực, làm quan được bổng lộc, thường chia cho những họ hàng thân thích. Dựng vợ gả chồng cho người trong họ, trước sau cả thẩy 18 người. Những vợ con anh em bạn nghèo khó, cũng thường tư cấp cho ít nhiều. Mà xử vào trong mình rất tiết kiệm, thường chỉ mặc cái áo vải ăn cơm rau mà thôi. Lại hay xem sách, đã làm đến khanh tướng, cũng vẫn học đến nửa đêm mới thôi. Xử với người ta thì cực nhũn, không có kiêu ngạo với ai bao giờ.   

Đến khi trí sĩ, làm một cái nhà tranh, sửa sang vườn cảnh chơi bời, cửa đề hai chữ: “Cấn trai” để tỏ ý mình. Học trò nhiều người làm nên đến khanh tướng.

Một tay Quí Đôn làm ra nhiều pho sách quí lắm, như là: Thánh mô hiền phạm lục, Kim kính lục chú, Hoàng Việt văn hải, Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Thái ất quái vận, Lục nhâm hội thông, Kim cương kinh chú giải, vân vân...

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Nam Hải Dị Nhân - Phan Kế Bính   Tue 19 Jan 2010, 03:54

CHƯƠNG THỨ V: CÁC BẬC MÃNH TƯỚNG


LÊ PHỤNG HIỂU


Lê Phụng Hiểu người làng Băng Sơn, phủ Thanh Hóa (tức là xã Dương Sơn, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa bây giờ). Người cao lớn to tát, râu ria xồm xoàm, gân sức khỏe mạnh. Khi đang trạc 20 tuổi, có hai thôn Cổ Bi, Đàm Xá tranh nhau địa giới, đem dân phu ra đánh nhau. Phụng Hiểu vung cánh tay lên bảo với người làng Cổ Bi rằng:
- Chỉ một mình tôi có thể đánh đổ được muôn người.

Các cụ làng ấy mừng lắm, làm rượu mời Phụng Hiểu ăn uống. Phụng Hiểu uống rượu say rồi ăn hết nồi ba mươi cơm mới no. Bấy giờ mới ra khiêu chiến với người làng Đàm Xá. Khi hai xã giáp chiến, Phụng Hiểu vươn mình lên nhổ một cây to bên vệ đường, cầm ngang trong tay, xông vào đánh dân Đàm Xá. Dân kia rẽ ra mà chạy, không ai dám địch, mà ai địch cũng thua, hoặc chạy không kịp thì chết. Dân ấy sợ hãi phải nhường trả ruộng làng Cổ Bi.

Bấy giờ vua Thái Tổ nhà Lý, kén người có sức khỏe mạnh, để sung vào quân túc vệ. Phụng Hiểu ra ứng mộ hầu hạ vua đắc dụng lắm, dần dần được nhắc lên làm Võ vệ tướng quân.

Khi vua Thái Tổ mất, vua Thái Tôn nối ngôi, có ba vị vương là Dực thánh vương, Võ đức vương và Đông chinh vương mưu làm phản, đem binh phạm vào cửa cung Đại nội, muốn tranh ngôi vua Thái Tôn.

Vua Thái Tôn lo sợ, vời Phụng HIểu mà bảo rằng:   
- Việc kíp đến nơi rồi, trẫm không biết nghĩ ra làm sao nữa, cho người được phép tự tiện mà giúp việc cho trẫm.

Phụng Hiểu vâng mệnh, đem quân túc vệ ra cửa cung, đánh nhau với quân ba phủ kia. Phụng Hiểu trông thấy Võ đức vương cưỡi ngựa đứng ngoài cửa Quảng Dương trỏ bảo quân sĩ, Phụng Hiểu hầm hầm nổi giận, cầm gươm xông thẳng đến trước ngựa Võ đức vương, trỏ vào mặt mà quát mắng rằng:
- Các vương dám dòm nom thần khí, coi thường thiên tử, trên thì quên ơn Tiên đế dưới thì trái nghĩa tôi con. Tôi là Phụng Hiểu đây, xin dâng đại vương một thanh kiếm này!

Nói đoạn, xông thẳng vào chém, các quân chống lại không nổi, chạy dãn ra bốn phía. Võ đức vương toan quay ngựa, nhưng chạy không kịp, bị chém ngã quay xuống đất.

Quân ba phủ kia thấy vậy, người nào người nấy tìm đường tháo thân, quân túc vệ thừa thế đành tràn ra, giết quân ba phủ không còn mống nào, chỉ có hai vị vương kia chạy được thoát.

Vua Thái Tôn thấy Phụng Hiểu thắng trận, gọi vào an úy[lxv] rằng:   
- Trẫm nay được thừa đương cơ nghiệp của Tiên đế, và được toàn vẹn cái thân, toàn do tự sức của ngươi cả. Trẫm xem sử nhà Đường, thấy Uất trì Kính Đức cứu nạn cho vua Đường Thái Tôn, tưởng là các bày tôi đời sau không còn ai trung dũng được như Kính Đức nữa, nay ngươi khỏe mà lại trung với trẫm như thế, thì ra hơn Kính Đức ngày xưa.

Phụng Hiểu lạy tạ nói rằng:   
- Bệ hạ, đức cảm đến cả trời đất, uy khắp đến cả cõi xa; trong triều, ngoài nội, ai ai cũng phải tuân phép; thế mà chư vương dám manh tâm làm phản, thần thánh trên dưới cũng có bụng muốn giết, cho nên mới trừ được loạn, chứ như chúng tôi thì có công gì.

Vua phong cho làm Đô thống thượng tướng quân. Đến năm Thiên cảnh thánh võ (1044), vua Thái Tôn vào đánh Xiêm Thành, sai Phụng Hiểu làm tiên phong, phá tan quân giặc, tiếng lừng lẫy đến ngoại quốc. Khi vua thành công trở về, định phong thưởng cho Phụng Hiểu nhưng Phụng Hiểu từ không nhận tước thưởng, xin đứng ở trên núi Băng Sơn, ném một thanh đao ra ngoài, hễ rơi xuống chỗ nào, thì xin đất đến đấy để lập nghiệp.

Vua ưng cho như thế. Phụng Hiểu đứng ở trên đỉnh núi, ném một thanh đao ra ngoài mười dặm, sa xuống cắm vào làng Đa Mỹ. Vua mới ban ruộng thưởng cho đến chỗ cắm đao, tính ra được hơn nghìn mẫu.

Tự đấy ruộng thưởng cho công thần gọi là ruộng Thác đao (nghĩa là cắm đao), là do sự tích ấy.

Phụng Hiểu hết lòng thờ vua, biết điều gì nói điều ấy, mà động đi đánh trận nào cũng được. Đến năm 77 tuổi mới mất. Dân làng ấy lập miếu thờ làm phúc thần, lịch triều [lxvi] có phong tặng cả.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: ĐOÀN THƯỢNG   Wed 20 Jan 2010, 03:12

ĐOÀN THƯỢNG


Đoàn Thượng người làng Hồng Thị, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Thời vua Huệ Tôn nhà Lý, phụng mệnh trấn thủ ở Hồng Châu.

Đoàn Thượng có sức khỏe hơn người, gân xương như sắt, mỗi khi lâm trận, chỉ một đao một ngựa xông vào đám trăm nghìn người, tung hoành vô địch.

Đến khi Lý Chiêu hoàng nhường ngôi cho vua Trần Thái Tôn, Đoàn Thượng chiếm giữ một châu, không chịu hàng theo về mới nhà Trần. Thái sư nhà Trần là Trần Thủ Độ sai sứ đến dụ hàng. Thượng nhất định không nghe. Chiêu binh tập mã, tự xưng là Đông hải vương, có ý muốn khôi phục giang sơn cho nhà Lý.

Trần Thủ Độ đem quân xuống đánh nhau luôn mấy năm không phá nổi, mới lập mẹo sai người đến giảng hòa, mà kỳ thực thì sai một đại tướng là Nguyễn Nộn đem quân đánh tập công mặt sau.

Đoàn Thượng chắc đã giảng hòa rồi, phòng bị không được cẩn thận như trước, sực nghe tin Nguyễn Nộn đến đánh, mới kéo quân ra cự địch. Đôi bên đánh nhau đang hăng, thì Thủ Độ lại cầm đại quân từ đường Văn Giang đánh đến mé trước. Quân nhà Trần hai mặt đánh dồn vào một, quân của Đoàn Thượng kinh hãi chạy tán lạc mất cả. Đoàn Thượng vội vàng quay ngựa về đánh mặt tiền quân, không ngờ bị một viên tướng nhà Trần, từ mé sau sấn lên chém một nhát vào cổ gần đứt, Đoàn Thượng ngoảnh lại, thì tướng kia sợ hãi mà chạy mất. Đoàn Thượng mới cổi dây lưng ra buộc vào cổ cho khỏi rơi đầu, rồi hầm hầm tế ngựa chạy về phía đông. Chạy đến đâu, quân nhà Trần phải dãn đường cho chạy, chớ không dám đánh.

Khi chạy đến làng An Nhân, có một cụ già áo mũ chững chạc, chắp tay đứng bên đường nói rằng:
- Tướng quân trung dũng lắm, Thượng đế đã kén ngài làm thần xứ này rồi đây! Có một cái gò bên làng cạnh kia, đó là đất hương quả của tướng quân, xin tướng quân để lòng cho.

Đoàn Thượng vâng một tiếng, rồi đến chỗ gò ấy, xuống ngựa gối đầu vào ngọn mác mà nằm, một lát thì mất, mối đùn đất lên lấp thành mồ ngay.

Dân làng thấy vậy, lập miếu tô tượng để thờ. Về sau, nước lụt vỡ đê, tượng trôi vào làng An Nhân, làng ấy lại lập một tòa miếu khác để thờ. Miếu ở cạnh bờ sông Hồng giang, mé trước ngoảnh vào con đường cái chính xứ đông bắc. Thần linh ứng lắm, kẻ qua lại mà ngạo ngược thì có tai nạn ngay. Các khách buôn thuyền qua lại cửa đền, có đồ lễ vào thì buôn bán đắt hàng. Tục truyền những khách buôn chum vại vào bán chợ Hồng, ai mà vào đền lễ thì buôn bán thông đồng chóng hết lắm; mà ai không lễ, thì ế mãi không bán được, thường phải quẳng bỏ ngoài bến sông, nếu không thế thì tất lại có sự sóng gió lo lường.

Lịch triều cũng có phong tặng làm thượng đẳng thần. Miếu ấy đến giờ vẫn còn.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3169
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: PHẠM NGŨ LÃO   Wed 20 Jan 2010, 03:22

PHẠM NGŨ LÃO [lxvii]


Phạm Ngũ Lão là người học trò ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương (bây giờ thuộc về huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), có sức khỏe lạ thường, muôn người khôn địch.

Phạm Ngũ Lão mặt mũi khôi ngô, đủ cả văn võ tài lược. Nhà vốn chỉ có nghề làm ruộng, đến Ngũ Lão mới theo nghề học nho. Trong hai mươi tuổi đã có tính khảng khái. Trong làng có một người tên là Bùi Công Tiến đỗ Tiến sĩ ăn mừng, cả làng kéo đến mừng rỡ, chỉ Ngũ Lão không thèm đến.   

Bà mẹ Ngũ Lão bảo rằng:

- Con làm thế nào cho bằng người ta thì làm. Nay người ta ăn mừng, cả làng mừng rỡ, sao con không đến mừng một chút.   

Phạm Ngũ Lão thưa rằng:
- Thưa mẹ, con chưa làm nên gì để vui lòng mẹ, mà con đi mừng người ta, thì con lấy làm nhục lắm.   

Ngũ Lão tính hay ngâm thơ, thường ngâm một bài rằng:

Ngọn gió non sông trải mấy thâu,
Ba quân tỳ hổ át sao Ngâu,
Công danh nếu để còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe truyện Võ hầu.


Nhà ở bên cạnh đường cái, có một khi Phạm Ngũ Lão ngồi vệ đường vót tre đan sọt, sực có Trần Hưng Đạo Vương từ trại Văn An vào kinh, quân quyền kéo đi rất đông. Quân tiền hô thấy Ngũ Lão ngồi xếp bằng tròn bên cạnh đường, quát lên bắt phải đứng dậy. Ngũ Lão cứ ngồi nghiễm nhiên, như không nghe tiếng. Quân lính cầm ngọn giáo đâm vào đùi, Ngũ Lão cũng cứ ngồi vững không động mình. Đến lúc xe Hưng Đạo Vương đến nơi, trông thấy thế lấy làm lạ, gọi đến hỏi, thì bây giờ mới biết là có quan quân đi qua, và quân lính đâm vào đùi mình.

Hưng Đạo Vương hỏi rằng:   
- Nhà thầy kia ở đâu, sao ta đi qua đây mà cứ ngồi chững chàng làm vậy?   

Thưa rằng:
- Tôi đang mãi nghĩ một việc cho nên không biết là ngài chảy qua đây.

Hưng Đạo Vương lấy làm kỳ, hỏi đến sự học hành, thì hỏi đâu nói đấy, nội về kinh truyện thao lược, không sót chỗ nào, ứng đối nhanh như nước chảy.

Hưng Đạo Vương mới sai lấy thuốc dấu rịt vào chỗ nhát đâm, rồi cho ngồi xe đem về kinh, dâng lên vua Thánh Tôn.

Vua thấy người có sức khỏe, lại có học thức, cho vào làm quản vệ sĩ. Các vệ sĩ không chịu, xin đấu sức với Ngũ Lão. Ngũ Lão xin vâng, nhưng xin vua cho về nhà ba tháng, để thu xếp việc nhà, rồi sẽ xin đấu sức và nhận chức nhân thể. Vua cho về, Ngũ Lão về nhà ra ngoài đồng, tìm chỗ gò cao tập nhảy, cứ cách mười trượng chạy đến nhảy vót qua gò. Tập luyện thành rồi, vào kinh đấu sức. Khi đấu quyền với các vệ sĩ thì không ai địch nổi, rồi Ngũ Lão thách cả các vệ sĩ cùng ra đấu. Các vệ sĩ xúm xít chung quanh, hàng trăm, nghìn người. Ngũ Lão tay đấm chân đá, nhảy nhót như bay, chạm phải ai phi [lxviii] chết thì què gẫy, các vệ sĩ không tài gì mà đánh lại được, bấy giờ mới chịu phục.

Vua thấy người kiêu dũng làm vậy, cho theo Hưng Đạo Vương đi đánh giặc Mông Cổ, thì đánh trận nào cũng được, lập nên công trạng rất nhiều. Hưng Đạo Vương có lòng yêu mến, gả con nuôi là Nguyên quận chúa cho.

Về sau, nước Ai Lao [lxix] đem hơn một vạn voi sang cướp đất Thanh, Nghệ, vua sai Ngũ Lão cầm quân đi đánh. Ngũ Lão sai dân chặt tre đực cứ dài độ một trượng, chồng chất vào các vệ đường. Khi Ngũ Lão kéo quân vào đánh, giặc thúc voi sấn lên, Ngũ Lão chỉ chân tay không sấn vào gặp đống tre nào thì với lấy cái đống tre chỗ ấy, đập vào chân voi. Voi bị đau gầm rống lên chạy về, giầy xéo cả quân Ai Lao. Ngũ Lão mới thúc quân đánh tràn sang, quân Ai Lao tan vỡ, phải trốn về đêm.

Vì có những công to ấy, được thiên [lxx] lên làm Điện tiền thượng tướng quân. Đến khi mất, được phong làm Thượng đẳng phúc thần, người làng Phù Ủng lập miếu thờ ngay ở chỗ nhà Ngũ Lão.

Ngũ Lão nguyên là bộ tướng của Hưng Đạo Vương, cho nên các đền thờ Hưng Đạo Vương, cũng có thờ Ngũ Lão nữa.

Tục lại truyền khi Ngũ Lão còn hàn vi, xin với mẹ đi tìm kế lập công danh, ở trong nước chưa có dịp nào, mới sang ở chăn voi cho vua nước Ai Lao. Ngũ Lão cầm một lá cờ đỏ dạy voi, hễ phất lá cờ thì voi phải quỳ xuống hết. Đến khi nghe tin có giặc Mông Cổ quấy nước Nam, mới về theo Hưng Đạo Vương đi đánh giặc. Về sau nước Ai Lao sang cướp vùng Thanh, Nghệ, vua sai Ngũ Lão đi đánh. Ngũ Lão thấy Ai Lao thúc voi xông vào trận, mới phất lá cờ đỏ, thì voi trông thấy hiệu ông ấy, lại phục cả xuống, vì thế mới phá được quân Ai Lao.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
 
Nam Hải Dị Nhân - Phan Kế Bính
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 3 trong tổng số 6 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Lịch Sử-