Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
HOA GIEO TỨ TUYỆT by buixuanphuong09 Today at 07:37

AN TÂY HÀNH LỮ ĐỒ by HanSiNguyen Today at 06:08

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Yesterday at 19:08

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Tue 22 Aug 2017, 17:28

TỰ NHỦ (MT-142) by Ntd Tue 22 Aug 2017, 14:42

Phong thủy bàn thu ngân trong kinh doanh nên tránh by Min Đặng Tue 22 Aug 2017, 14:15

Câu đối NGỰA by HanSiNguyen Tue 22 Aug 2017, 11:52

Anh đứng trông theo by HanSiNguyen Tue 22 Aug 2017, 11:35

<iframe width="560" height="315" src="https://www.youtube.com/embed/sI929ZX8R-Y" frameborder="0" all by vamcodonggiang Tue 22 Aug 2017, 02:42

ÐÔI MẮT NGỌC by BachVanNhi Tue 22 Aug 2017, 02:20

<iframe width="560" height="315" src="https://www.youtube.com/embed/sI929ZX8R-Y" frameborder="0" all by vamcodonggiang Tue 22 Aug 2017, 01:12

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Tue 22 Aug 2017, 01:00

THI NHẠC GIAO DUYÊN by HanSiNguyen Mon 21 Aug 2017, 21:32

Tấm lòng cụ Trần Trọng Kim với đất nước by Trà Mi Mon 21 Aug 2017, 07:39

Người Việt hợp tác với giặc Minh by Trà Mi Mon 21 Aug 2017, 07:29

Mạc Đăng Dung và triều đại nhà Mạc (1527-1592) by Trà Mi Mon 21 Aug 2017, 07:20

NHÀ BIÊN KHẢO LÊ VĂN LÂN TRƯỚC KHI NHẮM MẮT ĐÃ BẢO TÔI by Ma Nu Mon 21 Aug 2017, 00:16

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Sun 20 Aug 2017, 17:03

Dòng Thơ Bảy Chữ Tám Câu - Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Sat 19 Aug 2017, 16:54

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 18 Aug 2017, 14:14

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 18 Aug 2017, 14:08

MẮT NÂU VỀ CHƯA by HanSiNguyen Thu 17 Aug 2017, 15:49

LẠI TẾU CHO VUI: THU MƠ <==> THƠ MU by Ma Nu Wed 16 Aug 2017, 23:13

SỢ... by HanSiNguyen Wed 16 Aug 2017, 22:33

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Wed 16 Aug 2017, 17:40

Hoàng Vũ Luân by Hoàng Vũ Luân Tue 15 Aug 2017, 11:16

Nhóm lại lửa Đường by buixuanphuong09 Mon 14 Aug 2017, 08:15

Họa thơ Cẩn Vũ by buixuanphuong09 Mon 14 Aug 2017, 06:57

THƠ VUI CẨN VŨ. by buixuanphuong09 Mon 14 Aug 2017, 06:55

Quán Tạp Kỹ - Đồng Bằng Nam Bộ by Thiên Hùng Mon 14 Aug 2017, 06:10

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5  Next
Tác giảThông điệp
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 02 Jul 2013, 13:13

Chương 12


Thằng Chương cứ tưởng bở!
Đâu phải thằng nào cũng khoái đi diễn văn nghệ - dù cho là văn nghệ liên trường - khi mà trường Petrus Ký không chơi kích động nhạc với đàn điện, dàn trống giống như những thần tượng Beatles, Rolling Stones, Bee Gees, The Monkees... mà lại chơi đàn như mấy thằng cha chuyên chơi nhạc ở các đám ma.
Thằng Việt là một thằng như vậy!
Thằng Chương - dù là trưởng ban văn nghệ trong lớp nhưng nó lại không biết rằng thằng Việt đã tham gia vào ban kích động nhạc của thằng Hữu. Hàng tuần thằng Việt đến nhà thằng Hữu ở cư xá cảnh sát để vào CLB quân nhạc tập dợt những bản nhạc “Top hit” ngoại quốc. Ba thằng Hữu là trưởng ban quân nhạc cảnh sát nên thằng này có quyền dẫn bạn bè vào câu lạc bộ văn nghệ có đầy đủ dụng cụ điện tử trong cư xá để tập dợt. Thằng Hữu để tóc dài, có hai mai tóc bản bự như Elvis Presley - thần tượng của nó. Vì mái tóc này, nó luôn phải đội nón sùm sụp trên đầu và phải luôn vào lớp bằng cách trèo tường từ cửa sau của trường để tránh gặp mặt các thầy giám thị. Đâu phải chỉ trốn giám thị mà thôi, nó còn tìm cách tránh mặt ba nó khi nào có thể. Ba nó, dù là tay văn nghệ trong ban quân nhạc cảnh sát, nhưng đầu tóc luôn luôn ở trong tình trạng húi cua ba phân, vả lại ba nó là một người - theo nhận xét cụa nó - là thủ cựu, cổ lỗ sĩ luôn nhìn những thằng hippy tóc dài là dân cao bồi, du thủ, du thực. Mỗi lần nó gặp ba nó thì câu đầu tiên mà nó nghe là “mầy mà không hớt tóc cao thì có ngày tao lấy kéo xẻn tóc mầy." Nó tưởng ba nó chỉ hăm dọa suông. Đêm nọ, đang ngủ nó giật mình tỉnh giấc khi thấy một bóng đen đang vào phòng ngủ của anh em nó. Thoạt đầu, nó tưởng là ăn trộm nên he hé mắt để nhìn. Khi mắt đã định thần trong bóng đêm thì nó nhận ra bóng đen đó chính là ba nó. Hãi hùng hơn là khi nó thấy ông ấy đang cầm cái kéo trong tay đang tiến về phía giường của mình. Nó liền thét lên một tiếng và tông cửa chạy ra khỏi nhà. Sau đó, nó leo lên mái nhà và ngồi trên đó suốt đêm, đến sáng mới chui vào nhà. Kể từ đó, coi như ba nó bất lực với mái tóc nửa Beatles, nửa Elvis Presley của nó.
Thằng Việt không theo gương thằng Hữu trong việc để tóc mà nó chỉ khoái thằng này trong việc chơi kích động nhạc và nhất là dàn nhạc đủ bộ từ ghita lead, ghita bass, trống với giàn khuếch âm chỉ nhìn thôi cũng thấy đã rồi. Trong dàn nhạc, thằng Việt chơi đàn bass vì nó khoái những âm thanh trầm của cây đàn này, ngoài ra nó cũng tập hát những bài của ban Beatles như "Don't let me down”, “Hey Jude”... Bởi vậy khi nó nghe thằng Chương mời tham gia chương trình quốc nhạc thì nó cười hì hì:
“Hả, mấy cái bài Lý của thầy Ba dạy đó hả? Thôi bỏ qua đi tám. Làm sao mà chơi lại với mấy thằng kích động nhạc Chu Văn An, Lasan Taberd. Nhạc gì mà quẽ thấy mẹ.”
“Mấy thằng kích động nhạc tụi bây chỉ chạy theo nhạc ngoại quốc, có thể hay với nước nó, làm sao hay với nước mình được...” thằng Chương phản bác.
Thằng Dũng thuyết phục:
“Nhưng mình làm khác thì mình sẽ thắng. Bây giờ là trào lưu nhạc trẻ, trường nào cũng hát nhạc ngoại quốc, mình chơi nhạc dân ca bằng mấy nhạc cụ dân tộc thì chì lắm, sẽ làm mọi người ngạc nhiên...”
“Nhưng đàn tranh, đàn cò, đàn bà... ủa đàn bầu có gì hay đâu. Làm sao bằng đàn ghita được tụi bây?”
Thằng Chương nổi cáu vì là trưởng ban văn nghệ của lớp mà không có uy với thằng Việt:
“Chưa chắc à. Mầy đừng coi thường cây đàn cò nghe mậy. Đàn ghita mầy chơi bản nhạc nào được thì đàn cò cũng chơi được nghe mậy, đừng có khi dễ nghe..."
“Thôi bỏ qua đi tám, sức mấy mà đàn cò chơi được nhạc Tây phương mậy. Cái gì mà hò, xự sang, xê cống loạn cào cào...”
“Thì nó cũng là bảy nốt nhạc Tây mà đàn cò gọi tên khác thôi...”
“Tao không tin.”
“Mầy dám thử không?”
“Thử làm sao?”
“Mầy chơi đàn điện bài gì thì tao chơi đàn cò bài đó.”
“Sức mấy mà ngán mầy mậy. Chiều mai, sau giờ tan học lại nhà thằng Hữu chơi đi.”
Hai thằng ngoéo tay nhau hẹn thi đấu một cuộc tranh tài văn nghệ kỳ lạ. Bất chợt thằng Thạch hớt ha, hớt hải chạy vào thông báo: “Tụi bây biết chuyện gì chưa?”
Tụi nó bu lại thằng này, nhao nhao hỏi:
“Chuyện gì?”
“Sau giờ tan học, trường mình có biễu diễn văn nghệ”
“Đoàn nào biểu diễn vậy?”
“Nước đá cục.”
“Xạo mầy, đoàn văn nghệ gì tên ngộ vậy?”
Thằng Thạch giải thích:
“Nước lạnh quá thì thành nước đá cục không phải sao...”
“Ừ... ừ... có lý.”
“Mà nước lạnh quá người ta kêu bằng nước gì tụi bây biết không?”
Tụi nó nóng ruột không muốn nghe thằng Thạch nói lòng vòng nữa:
“Thôi, nói lẹ đi mầy. Chuông reng bây giờ.”
“Nước lạnh quá người ta kêu bằng nước Đại Hàn đó.”
“Đại Hàn trình diễn văn nghệ hả, làm sao nghe được tiếng Đại Hàn?”
Thằng Chương xen vào:
“Tụi bây có nhớ kỳ mình xem nhạc Đồng Quê của Mỹ không?”
“Đúng là không hiểu gì hết.”
Năm ngoái, cũng vào dịp gần giáp tết, một đoàn văn nghệ chuyên hát nhạc đồng quê của Mỹ đã đến trường nó biểu diễn. Đoàn này gồm hai nam và một nữ, ăn mặc như những tay cao bồi trong phim Django, đầu đội nón rơm. Hai nhạc công nam chơi đàn Banjo, và kèn armonica còn nhạc công nữ thì chơi tamboura. Chỉ có ba người mà họ hát và nói gần một tiếng đồng hồ. Thằng Dũng ngồi nghe như vịt nghe sấm vì không hiểu lời của ca khúc nhưng thấy nghe điệu nhạc, nhất là đầu tiên nó được nghe tiếng đàn banjo nên cũng thấy hay hay. Còn thằng Việt và thằng Hữu thì bĩu môi chê “thời buổi này người ta chỉ khoái nhạc trẻ chứ ai khoái mấy cái nhạc đồng quê này”. Riêng thằng Chương thì có ý ngược lại khi nhận xét: “Nhạc đồng quê là nhạc chuẩn của nhạc Mỹ. Mai mốt mấy cái ban Bee Gees, Rolling Stone gì gì đó không còn nhưng nhạc đồng quê thì vẫn còn người hát...” Mấy thằng còn lại như thằng Thuật, Thạch, Khải, Mai... thì hò hét, vỗ tay khi cô gái chơi tamboura nhún nhẩy, lắc mông diễn tả cảnh con ngựa đang phi nước đại trên đồng cỏ xứ Texas. Không cần hiểu những nhạc công người Mỹ đó hát về cái gì chỉ cần biết tụi nó có một buổi chiều vui khi được hò hét, quăng cặp, quăng nón lên trời. Có thằng còn nhảy tưng tưng và chính điều này lại làm các nghệ sĩ người Mỹ đó vỗ tay hoan hô và kêu gọi tụi nó nhảy theo thằng này. Đúng là Mỹ không chịu nổi!
Bởi vậy khi nghe chiều nay có văn nghệ Đại Hàn là tụi nó khoái ngay, nghĩ lại buổi chiều vui của nhạc đồng quê. Thằng Dũng hỏi thằng Thạch:
“Chắc tụi Đại Hàn lại hát nhạc đồng quê nữa chứ gì?”
Cái này thì thằng Thạch bí lù. Thằng Chương đỡ lời:
"Đại Hàn chi có dân ca nhưng không có nhạc đồng quê.” Thằng Thạch đoán:
“Vậy chắc tụi Đại Hàn cho mình nghe dân ca quá.”
“Không biết có con gái Đại Hàn hát không, chứ mấy thằng đực rựa không thì “bô sịt”. Nghe nói ghệ Đại Hàn đẹp lắm, đẹp hơn ghệ Việt Nam nữa.” Thằng Thuật chen vào.
Nỗi lo chỉ được coi toàn đực rựa Đại Hàn biểu diễn văn nghệ của thằng Thuật đã được giải tỏa khi đang ngồi học tụi nó thấy một chiếc xe buýt chở các diễn viên Đại Hàn vừa nam, vừa nữ chạy vào sân trường. Tụi nó đồng thanh nhìn theo chiếc xe mà bàn luận. Tụi nó náo nức, không còn tâm trí để nghe bài giảng hình học của giáo sư Dĩnh, dù cho thầy có cho “zero tất” đi nữa. Mà không chỉ có riêng lớp tụi nó. Sự náo nức, chộn rộn này hình như đã lan truyền một cách vô hình từ lớp này qua lớp khác mà tụi nó có thể cảm nhận được.
Không biết vì có phải dành thời giờ cho học sinh xem biểu diễn văn nghệ không mà chuông reo báo giờ tan học hơi sớm hơn ngày thường. Tụi nó vội vàng thu gom sách vở bỏ vào cặp rồi chạy nhanh ra giữa sân cột cờ, nơi mà sân khấu dã chiến đã được dựng lên. Tụi nó chí chóe giành nhau chỗ ngồi gần sân khấu. Bọn thằng Dũng, thằng Thuật, Thạch, do lớp học gần hành lang danh dự nên tụi nó chỉ cần leo qua hành lang, phóng xuống sân nên giành được chỗ tốt. Còn mấy đứa học đệ thất, đệ lục... thì chỉ được đứng từ phía sau nhìn lên sân khấu. Một đặc quyền cho các học sinh lớp lớn là như vậy. Một mục tiêu để cho bọn lớp nhỏ phấn đấu trở thành học sinh lớp... đàn anh.(!?)
Xem văn nghệ Đại Hàn hấp dẫn hơn ca nhạc đồng quê của Mỹ nhiều vì trong chương trình của đoàn này có mấy tiết mục dân vũ mà mấy cô diễn viên Đại Hàn mặc quần áo truyền thống nước họ trông thật là ngầu. Tất nhiên là tụi nó chỉ khoái các cô gái biễu diễn điệu múa thôi chứ họ hát cái gì thì... kệ họ. Chương trình được thay đổi liên tục bằng các điệu múa. Té ra đây là một chương trình giới thiệu dân vũ - những điệu múa truyền thống của người Đại Hàn. Một chương trình văn nghệ đầy màu sắc, hấp dẫn và vui nhộn đã lôi cuốn tụi nó từ ngay màn mở đầu.
Bỗng dưng thằng Thuật khều thằng Thạch và thằng Dũng nói nhỏ: “Tụi bây đi theo tao.”
“Đi đâu? Chương trình đang hấp dẫn mà.”
Thằng Thuật bí mật:
"Đi theo tao. Chỗ nay còn hấp dẫn hơn. Đừng cho thằng nào biết.”
Thằng Thuật rời chỗ ngồi, lôi thằng Dũng đi còn thằng Thạch thì lót tót chạy theo sau. Thằng Thuật đi ra khu nhà để xe học sinh. Vì tụi học sinh đang tập trung xem văn nghệ nên sân trưởng phía sau nhà để xe chẳng có bóng một học sinh nào. Thằng Thuật dẫn thằng Dũng và Thạch đi men theo dãy phòng học của các lớp đệ tứ - các phòng học này có cửa sổ nhìn ra phía nhà để xe học sinh. Thằng Thuật vừa đỉ vừa ngó các cánh cửa sổ phòng học. Tất cả các cửa sổ phòng học của dãy này đều mở chỉ trừ có phòng học của lớp tứ 5 đóng kín mít. Thằng Thuật lẩm nhẩm “phòng tứ 6... tứ 5... đúng rồi” Nó quay lại bảo với thằng Thạch và thằng Dũng: “Để tao thám thính trước rồi tao kêu tụi bây nghe.”
Nói xong, nó nắm cái gờ cửa sổ của lớp tứ 5 đu lên. Hai chân nó đặt lên thành gờ làm đế, còn tay nó nắm chặt cửa sổ. Nó suýt té xuống đất vì cánh cửa sổ chỉ khép hờ, không được cài chặt từ bên trong. Nhưng nhờ vậy mà nó có thể nhìn vào lớp học từ cánh cửa sổ khép hờ này. Sau đó, nó quay xuống kêu thằng Dũng và thằng Thạch đu lên cửa sổ để nhìn vào những bí mật mà thằng Thuật khám phá được từ bên trong lớp học.
Hai thằng Thạch và Dũng háo hức nắm gờ cửa sổ đu lên. Khi hai thằng này nắm được cánh cửa sổ rồi, thằng Thuật liền nhường cho hai thằng này nhìn vào khoảng mở nhỏ giữa hai cánh cửa.
Hai thằng này nheo mắt để nhìn cho rõ vì trong phòng học đã đóng cửa kín mít, chỉ sử dụng đèn tuýp để chiếu sáng. Qua khe hở của hai cánh cửa, tụi nó thấy chỉ thấy được một khoảng không gian rất nhỏ nhưng củng đủ để tụi nó thấy được cảnh các cảnh vũ công nam và nữ thay trang phục biểu diễn. Đây là lần đầu tiên trong đời - và cũng không biết khi nào có được lần thứ hai. Các cô vũ công Đại Hàn thay trang phục biêu diễn một cách tự nhiên trước mặt các nam và nữ vũ công khác khi họ không mặc cả sú-chiên. Các vũ công nam không ngượng thì đã đành nhưng các nữ vũ công không chút ngượng ngùng mắc cỡ. Họ vừa thay trang phục vừa nói xí xô - xí xào, cười giỡn như chốn không người.
“Ê, để tao coi một chút với tụi bây... Công khám phá của tao mà... Thằng Thạch mày nhảy xuống đi, để tao thế chỗ, ba thằng chật lắm, coi không được.”
Té ra khi tụi nó đang chăm chú xem biểu diễn thì thằng Thuật đã nhìn thấy các vũ công sau khi diễn đều đi vào phòng học của lớp tứ 5, nên nó đoán đây là phòng thay trang phục của các vũ công. Thằng Thạch thúc cùi chỏ vào sườn thằng Dũng:
“Mầy xuống đi Dũng, để tao coi chút nữa rồi mầy coi.” Thằng Dũng thấy coi nãy giờ cũng đủ mãn nhãn rồi nên nó nhảy xuống đất.
“Mấy em xem cái gì vậy?”
Thằng Dũng ú ớ. Trước mặt nó là thầy giám thị đang đứng nhìn hai thằng còn lại đang nắm cửa sổ đu đưa.
Nghe tiếng động thằng Thuật quay xuống nhìn. Vừa thấy thầy giám thị nó buông tay nhảy xuống liền. Thằng Thạch cũng nhảy xuống theo. Thầy giám thị lặp lại câu hỏi.
Thằng Thuật không biết trả lời sao. Nhanh trí, thằng Thạch chỉ lên cửa sổ:
“Không biết có cái gì ở trong đó, kỳ lắm thầy... Thầy leo lên xem thử.”
Tò mò vì không biết tụi học trò này thấy những gì, thầy giám thị bèn leo lên như cách tụi nó đã leo lên hồí nãy. Khi thấy tay thầy giám thị vừa nắm cánh cửa sổ, thằng Thạch hô lên:
“Chạy tụi bây...”
Ba thằng liền cắm cổ, quay đầu chạy vào sân trường. Trong khi đó, thầy giám thị vừa nhìn vào khe cửa liền nhảy xuống, kêu với theo:
“Đứng lại... đứng lại... Mấy em tên gì, lớp nào?”
Thằng Thạch la lớn lên:
“Dạ, em tên Thành, lớp tứ 3.”
Ba thằng chạy vào chỗ các học sinh đang ngồi xem biểu diễn, ngồi trà trộn trong đám khán giả đang lố nhố xem văn nghệ. Thằng Thạch khẽ thúc tay vào thằng Thuật:
“Chết mẹ rồi, giám thị đang tìm tụi mình. Làm sao đây mậy?” Thằng Dũng run run nói:
“Đừng nhìn ổng.”
Thằng Thuật chỉ huy:
“Bây giờ tao tính vầy. Thế nào ổng cũng chận ngay cổng ra vào. Tụi mình chỉ còn cách leo qua hàng rào sân vận động...”
“Nhưng làm sao lấy xe. Xe đạp tụi mình để ở trong nhà xe mà.”
“Ậy, nghe tao nói tiếp. Tụi mình sẽ chạy thật nhanh ra trước cổng ra vào, đứng ở ngoài đường, khí thấy thằng nào trong lớp mình đi ra, mình nhờ tụi nó quay trở vô lấy xe giùm tụi mình. Dễ ợt, chứ có gì đâu.”
“Ừ, vậy cũng được. Bây giờ tụi mình phải ngồi tách ra, chứ ba thằng ngồi một chỗ là ổng nhớ mặt.”
Theo ý kiến của thằng Thạch ba thằng tách ra, mỗi thằng một hướng trà trộn vào đám đông. Ngay sau khi chương trinh vừa chấm dứt, đám học sinh túa ra, chạy thật nhanh về hướng nhà để xe. Muốn qua được nhà để xe, từ giữa sân trường chỉ có thể đi qua bằng một ngõ duy nhất mà ngay “cửa ngõ” này đã bị thầy giám thị đang đứng nhìn mặt từng đứa để tìm ba thằng đu cửa sổ nhìn trộm.
Thằng Dũng đi cạnh thằng Mai. Khi đi ngang chỗ thầy giám thị đang đứng, nó làm bộ cúi gầm mặt xuống. Nhưng xui cho nó. Hồi nãy, khi từ trên của sổ nhảy xuống thì nó là người mà thầy giám thị gặp đâu tiên nên thây đã nhớ mài mại gương mặt ốm nhom của nó. Bởi vậy thấy nó vừa đi ngang thì thầy giám thị liền chụp tay nó lại.
“Em tên gì, lớp nào.”
Thằng Dũng run run:
“Dạ, Dũng, lớp tứ 7”
“Hai trò nữa đâu?”
Thằng Dũng giả nai:
“Dạ, thầy hỏi ai?”
“Tôi hỏi hồi nãy trò đu lên cửa sổ để nhìn trộm với ai?” Thằng Mai, khi thấy thằng Dũng bị thầy giám thị bắt lại thì nó tự hỏi không biết đã xảy ra chuyên gì. Nhưng khi nghe thầy giám thị hỏi thằng Dũng thì nó lờ mờ đoán ra sư việc nên nhanh trí:
“Dạ, thầy... hồi nãy giờ nó ngồi coi với em suốt buổi mà thầy.”
“Trò ở lớp nào?”
“Dạ, em ở tứ 7. Thằng Dũng đâu có đi đâu. Em làm chứng là nó ngồi cạnh bên em và thằng...”
Thằng Mai quay lại cạnh bên nó thấy một thằng học sinh ở lớp khác, có vẻ nhỏ hơn đang tò mò đứng xem, liền chỉ vào thằng này:
“Thầy hỏi thằng này thử xem, có phải là thằng Dũng ngồi cạnh em với thằng này không?” Vừa nói, nó vừa nháy mắt với thằng học sinh này. Thằng này hiểu ý, gật đầu lên tiếng liền: “Dạ, đúng rồi thầy, anh này ngồi kế bên em.”
Thầy giám thị lưỡng lự. Thật ra thì thầy cũng nhớ mài mại, không chắc ỉắm. vả lại gương mặt mấy thằng học trò này, đôi lúc cũng có nét na ná nhau. Không chắc là đúng, nếu lầm thì tội cho nó. Thầy chỉ có ý định là cảnh cáo cho tụi nó sợ, chứ bọn học trò mà, với lứa tuổi mới lớn của nó cũng có nhiều thứ để tò mò. Học trò thời nào chẳng vậy! Làm căng chỉ tội nghiệp cho tụi nó mà thôi. Nghĩ vậy nên thầy giám thị thả cho thằng Dũng đi.
Trong khi đó, hai thằng Thạch và Thuận nhân cơ hội thầy giám thị chỉ chú tâm vào thằng Dũng nên đã lẻn ra được nhà để xe mà không cần phải nhảy rào ra phía sau sân vận động Lam Sơn. Hai thằng hí ha, hí hửng lấy xe đạp và đi ra khỏi cổng trường, đứng đợi thằng Dũng.
Khi đi ra nhà để xe, thằng Mai hỏi thằng Dũng:
“Hồi nãy tụi bây rình coi cái gì vậy?"
“Coi tụi con gái Đại Hàn thay đồ.”
Thằng Mai hỏi tiếp:
“Mầy có thấy cái gì không?”
“Chỉ thấy tụi nó thay quần áo thôi.”
Thằng Mai chắc lưỡi, tiếc rẻ:
“Vậy mà tụi bây không kêu tao.”
“Vậy mà tụi bây không kêu tao” không phải để chỉ sự tiếc rẻ của riêng thằng Mai khi không thấy được con gái ngoại quốc thay đồ mà là của nhiều thằng trong lớp khi nghe thằng Thuật nổ vào buổi chiều hôm sau.”
“Đ. M hai “trái dừa” của nó bự bành ki nái, bảo đảm nữ hoàng sexy Loan Nhung cũng không bự bằng...”
Nhiều thằng thắc mắc:
“Khi nó thay quần mầy có thấy không?”
Thằng Thạch cũng chứng tỏ mình ngon, nổ tiếp:
“Sao không thấy mậy. Tao thấy nguyên con luôn. Y như mấy cái hình 36 kiểu mà thằng Cậu chó đưa tao coi.”
Đứa nào, đứa nấy chắc lưỡi hít hà:
“Vậy mà tụi bây không kêu tao.”
“Kêu tụi bây thì đông quá, lỡ thầy giám thị bắt cấm túc thì “hao dầu” lắm.”
Thằng Khải nói ngon:
“Cấm túc thì cấm túc chớ. Nếu tao có coi thì mười cái tao cũng chịu chứ đừng nói có một cái.”
Đứa nào cũng nói ngon cái miệng nhưng lúc thầy giám thị vào lớp để đưa giấy gọi đi cấm túc thì cả lớp ngồi im re. Thầy Sum nhìn vào giấy gọi cấm túc và đọc:
“Trần Tiến Thuật, chủ nhật này đi cấm túc.”
Thằng Thuật buột miệng chửi thề khe khẽ:
“ĐM, sao mấy ổng biết được vậy ta?”
Còn thằng Dũng và thằng Thạch ngồi run để chờ gọi tên. Nhưng thầy Sum đã tiếp tục giảng bài, điều đó có nghĩa là chỉ một mình thằng Thuật bị đi cấm túc mà thôi. Bây giờ đến phiên thằng Thuật thắc mắc với thằng Dũng:
“Bộ hôm qua mầy khai tao hả?”
“Đâu có. Tao có khai ai đâu!”
“Như vậy, tại sao tao bị cấm túc?”
“Làm sao tao biết được.”
“Chỉ có mầy thôi. Bạn bè mà mầy chới như con... c...”
Thằng Dũng ức quá:
“Tao mà có nói gì tới tên mày cho tao bị xe nhà binh 10 bánh cán chết không kịp ngáp đi..."
Thằng Dũng thề độc như vậy mà thằng Thuật vẫn chưa tin. Thầy Sum đang giảng bài trên bảng nghe tiếng lào xào từ khu nhà lá của thằng Thuật liền quay xuống. Thằng Thuật bèn ôm cục tức, im re. Nó tính đến giờ ra chơi nó sẽ cho thằng Dũng biết tay.
Khi hết giờ thầy Sum đưa cho thằng Tuấn trưởng lớp giấy phạt cấm túc của thằng Thuật. Thằng Tuấn đọc giấy phạt cấm túc của thằng Thuật mà ngơ ngác. Nó đưa cho thằng Thuật. Thằng này nhìn lướt qua giấy phạt cấm túc thì thấy lý do nó bị phạt là “vi phạm thuần phong mỹ tục với nữ sinh trường Gia Long”. Nó nhìn giấy phạt mà không hiểu nó đã vi phạm thuần phong mỹ tục hồi nào mà nó không hay. “Chết cha. Thế này thì mình nghi oan cho thằng Dũng rồi.!” Té ra nó bị phạt không phải chuyện xem mấy vũ nữ Đại Hàn thay quần áo mà bởi vì tội nó đánh vào mông con nhỏ bán báo trường Gia Long. Nó lẩm nhẩm cái miệng, xếp tờ giấy phạt vào túi: “Bô sịt. Bị phạt cái tội không giống con giáp nào. Hao dầu thiệt.”
“Anh Thuật, anh Thuật...”
Thằng Lê đang khe khẽ giật tay nó. Thằng này thuộc loại con nhà lành trong lớp, chỉ biết học nhưng học lực cũng thuộc loại trung bình. Nhỏ xíu con, trắng trẻo lại đeo cái kính cận thị giầy cộp, áo quần lúc nào cũng sạch sẽ trông như một chàng công tử bột. Bởi vậy, trong lớp nhiều thằng chẳng xếp nó vào một thứ hạng nào vì cái gì nó cũng thuộc loại nhờ nhờ. Tụi nó thường gọi thằng Lê là đồ gà chết hay “chíc-cần-đai.” (chicken die)
“Cái gì mậy?”
“Chủ nhật nay anh bị cấm tức hả?”
“Ừ. Mầy hỏi làm chi vậy. Dân “chì” là phải đi cấm túc.” Biết thằng Lê khoái làm dân chì lắm lên thằng Thuật chợc quê nó.
Thằng Lê cũng muốn làm dân chì lắm. Nhưng khổ một cái là nó không biết làm sao để bị phạt đi cấm túc cả. Cái gì má nó cũng lo cho nó cả. Tóc nó hơi dài một chút là má nó đã bắt nó đi hớt tóc, nó có muốn để tóc dài cũng chẳng được. Trước mỗi buổi đi học là má nó kiểm soát xem nó mặc áo có đeo phù hiệu không? Có đi giày Bata không? Má nó nói “học sinh trường Petrus Ký phải kỷ luật đàng hoàng.” Má nó hãnh diện vì có được một đứa con là học sinh trường Petrus Ký làm hai anh, chị nó - học sinh trường Hưng Đạo ghen ty. Có một đứa con học trường Petrus Ký là một niềm kiêu hãnh ngấm ngầm giữa các bà buôn bán vải trong chợ Bến Thành.
“Nghe nói là đi cấm túc thì mình không cần mặc áo trắng cũng vô trường được hả anh?”
“Mầy mặc đồ bình thường không cần đồng phục.”
“Thầy giám thị không phạt hả anh?”
“Mầy đi cấm túc rồi còn phạt cái gì nữa.”
“Đi cấm túc vui lắm hả anh?”
“Vui chết mẹ luôn. Vô lớp mầy muốn làm gì mầy làm." Thàng Lê ngập ngừng đề nghị:
“Vậy anh để tôi... để tôi...”
“Mầy muốn cái gì?”
“Anh để tôi đi cấm túc giùm anh lần này được không?” Thấy thằng Lê có vẻ cù lần thằng Thạch nhào vô ăn có: “Sao được mậy. Hồi nãy tao đã xin thằng Thuật cho tao đi thế rồi. Tao đi một lần rồi vui lắm. Với lại tụi nó nghe mình đã đl cấm túc rồi tụi nó sợ lắm...”
“Tại sao vậy anh?”
“Chỉ có mấy thằng chì mới đi cấm túc thôi. Mấy thằng gà chết như mầy làm sao đi cấm túc được.”
“Thôi mấy anh để cho tôi đi lần này đi. Tôi bao mấy anh ăn bánh.”
Thằng Thạch chép miệng:
“Mấy cái?”
“Mỗi anh hai cái bánh su.”
“Không được. Mỗi người năm cái để tụi tao còn chia cho mấy thằng khác nữa chứ!”
Thằng Lê ngần ngừ. Thằng Thuật cảm thấy tội nghiệp thằng Lê nên hạ giá:
“Thôi ba cái được rồi.”
Thằng Lê đồng ý. Ba thằng đi xuống chị Lan bán bánh su, bánh dừa. Thằng Lê hỏi:
“Giấy phạt của anh đâu?”
Thằng Thuật móc túi lấy ra tờ giấy phạt đưa cho thằng Hoàng, căn dặn:
“Mầy nhớ tên tao nghe chứ mầy nói tên mầy là lộ hết đó.” Khi thằng Lê hí hửng đi với giấy phạt cấm túc thì thằng Thuật cười:
“Đỡ quá. Để chủ nhật ở nhà ngủ cho ngon. Sao mà thằng này mê đi cấm túc không hiểu được.”
Thằng Thạch cắn miếng bánh su, kem chảy quanh miệng: “À tại nó muốn làm dân chơi cầu ba cẳng.”
Nói xong, nó gói hai cái bánh su, bỏ vào túi.
“Sao mầy không ăn hết đi. Ngán hả?”
“Không tao để dành cho thằng Mai. Thằng này thèm bánh su lắm nhưng không có tiền ăn.”

Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Thu 18 Jul 2013, 13:13

Chương 13

Khi tụi thằng Chương, Dũng, Mai và có cả anh Trang - do thằng Chương mời đi để ủng hộ tinh thần - đến nhà thằng Hữu ở khu cư xá Sĩ quan cảnh sát thì đã thấy thằng Việt cùng một số thằng trong ban nhạc trẻ của tụi nó. Những thằng này đều để tóc kiểu “bom bê”, tóc dài trùm ót, chấn ngay một đường thẳng ở phần tóc trước trán. Ngoài việc cùng một kiểu tóc, tụi nó cũng ăn mặc giống hệt nhau: áo bó sát thân người - bất kể thằng mập, thằng ốm, quần ống voi, bó phần bắp vế nhưng phần từ bắp chuối xuống mắc cá thật rộng, với phần bản lưng quần thật to, chân mang hia “cối”. Tất cả những gì tụi này diện trên người đều là mốt thời tráng thịnh hành trong giới trẻ. Qua cách bọn nó nói chuyện với giọng điệu tự hào, thằng Dũng biết tụi này là học sinh của các trường Lasan Taberd, J.J Rousseau, nó nói thầm: “Mẹ, tưởng học trường Tây là ngon lắm à!”
Đây là tâm lý không chỉ riêng của thằng Dũng hay một học sinh Petrus Ký nào mà gần như là thái độ của những thằng học chương trình Việt đối với bọn học trường Tây. Và ngược lại. Cũng có thể xuất phát từ tâm lý trịch thượng của học sinh trường Tây, xem bọn học sinh các trường học chương trình Việt là không có đẳng cấp, sức học yếu và không phải là giới thượng lưu - dù cho trong đám học sinh các trường Petrus, Chu Văn An, Gia Long... cũng có đứa là con của các công chức cao cấp hoặc những thương gia, giáo sư nổi tiếng. Dân Tây học trường Tây đã đành, đằng này những tay trọc phú cũng cố gắng tìm cách cho con mình vào học trường Tây để chúng có thể nói tiếng Tây, chơi như Tây cho giống... Tây. Thật là lạ, có điều không ai hiểu được là dân Tây thứ thiệt thì lại không để ý đến chuyện phân biệt đẳng cấp nhưng những ông Tây Việt Nam giả cầy thì thật là “mẹc-xà-lù” cả lũ, nhìn những thằng học sinh học chương trình Việt ngữ như là người đến từ hành tinh khác như trong phim của Louis de Funes. Như mấy thằng trong ban nhạc trẻ này chẳng hạn.
Vì vậy không khí có vẻ đã nặng nề ngay từ đầu vì không bên nào cảm thấy gần gũi với nhau. Thằng Chương nói riêng với thằng Việt khi tụi nó đi trên đường vào câu lạc bộ:
“Tao nói thật với mày nghe Việt. Chuyện mời mày tham gia văn nghệ là do thằng Mai giới thiệu. Thực ra, tụi tao cũng chưa biết mấy anh có chịu không nữa, nhưng tại mầy có vẻ khi dễ ban dân ca của tụi tao quá nên tao mới thi đấu với mày."
“Tao nói rồi, chừng nào tao nghe khoái thì tao tham gia...”
“Chưa chắc lúc mày khoái thì tụi tao đã chịu.”
Tụi nó vào câu lạc bộ sinh hoạt văn nghệ của cư xá. Đúng là một câu lạc bộ dành cho những ban nhạc trẻ thứ thiệt. Ba bốn cây đàn ghita lead, bass nằm cạnh giàn tăng âm Kenwood, dây nhợ gắn lòng thòng với mấy cái loa Bose to tổ chảng. Thằng Chương nhìn dàn nhạc cụ này rồi nghĩ đến những cái loa cũ, rách với giàn tăng âm từ thời Bảo Đại ở truồng tắm mưa, chỉ dùng để phát loa thông báo sinh hoạt trong trường mà nó phát buồn đang được ban dân ca tận dụng để tập dượt. Nó rất mong có một nhà hảo tâm nào tặng cho ban dân ca một giàn âm thanh như thế này thì sẽ biết sức của tụi nó tung hoành đến đâu.
Thằng Việt làm trọng tài:
“Bây giờ mỗi bên chơi một bản tân nhạc tự chọn đi. Nhạc Việt hay nhạc trẻ đều được.”
Thằng Chương để bên thằng Hữu biểu diễn trước. Như một sự tất nhiên, nhóm nhạc trẻ của thằng Hữu hòa tấu bản Yesterday của ban Beatles đang thịnh hành trong giới chơi nhạc trẻ. Nhóm nhạc trẻ của thằng Hữu chơi như đang lên đồng. Tụi nó lắc lư cả thân mình, có thằng thì quỳ xuống, có thằng thì nhảy cà tưng theo điệu nhạc. Không khí trong câu lạc bộ vô cùng hứng khởi, những người nghe, kể cả nhóm thằng Chương cũng gần như bị cuốn hút theo giai điệu của bài Yesterday.
Khi nhóm thằng Hữu kết thúc bản hòa tấu, tất cả những người có mặt trong CLB đều vỗ tay cổ vũ. “Bis, bis...” tiếng huýt sáo của nhóm ủng hộ ban nhạc của thằng Hữu làm huyên náo cả căn phòng. Thằng Dũng thấy lo cho thằng Chương. Không khéo thì mất mặt, ê càng như chơi. Thằng Mai động viên thằng Chương: “Chơi ngon nghe mậy”.
Thằng Chương xách cây đàn cò bước đến trước micro. Tiếng cười của nhóm thằng Hữu cất lên khi thấy thằng này xách một cây đàn không giống ai, xấu hoắc và nhẹ tênh so với những cây đàn điện bắt mắt bằng những đường cong và những dây đàn kim loại lóe sáng lấp lánh. Thằng Chương sẽ biểu diễn đàn cò một mình, không có giàn nhạc đệm theo. Nó nhìn xuống anh Trang. Trong không khí này, nó cảm thấy mất tự tin. Nhưng trót leo lên lưng cọp rồi thì nó cũng phải ráng tới đâu hay tới đó. Dầu gì cũng là trưởng ban văn nghệ của lớp tứ 7, một thành viên của ban dân ca nhà trường. Dù có thua bọn tóc dài, tên Tây, hippy này thì cũng phải biểu diễn cây đàn nhị cho ngon, nó thầm nghĩ để tự động viên mình.
Nó ngồi xuống ghế, bắt chéo chân, gác cây đàn nhị trên một bắp vế, nó kéo cây micro thấp xuống ngang với gáo đàn, không cần nói tên bản nhạc, nó bắt đầu kéo. Nhóm nhạc của thằng Hữu bắt đầu lắng tai nghe, rồi bọn nó ồ lên, ngạc nhiên khi nghe khúc mở đầu nổi tiếng của bản “Love is blue”. Anh Trang gật đầu, nghĩ “thằng này biết chọn bài để chơi” vì âm hưởng của cây đàn nhị rất phù hợp với giai điệu buồn của bài hát. Bỗng dưng anh Trang nổi hứng, bước lên bục, cầm cây ghita điện so giây và hòa điệu theo tiếng đàn nhị của thằng Chương. Quả là một buổi biểu diễn văn nghệ mà tất cả những đứa có mặt trong phòng CLB đều chưa được xem và nghe qua: Một bản nhạc nước ngoài được thể hiện qua tiếng đàn nhị với tiếng đàn ghita điện đệm theo.
Cũng tiếng vỗ tay không kém gì ban nhạc của thằng Hữu khi thằng Chương chấm dứt cũng bằng những giai điệu khó quên của bài “Love is blue”. Điều này làm thằng Chương vững tin hơn. Anh Trang gật đầu cười với nó. Thằng Việt bước lên bục sân khấu:
“Tiếp theo sau đây là chương trình so tài trực tiếp. Mỗi người chơi cùng một bản nhạc Việt Nam. Thí dụ như thằng Hữu chơi bản “Hàn Mặc Tử' thì thằng Chương cũng chơi bản “Hàn Mặc Tử". Nếu bên nào thắng thì bên đó được quyền đưa ra bản nhạc tiếp theo, còn hai bên đều chơi được thì bên kế tiếp sẽ được chơi bản nhạc mình chọn và bên kia phải chơi theo bản nhạc đó. Hai bên chỉ chơi ba bản là chấm dứt chương trình của ban Tùng Lâm. Hiểu chưa.”
“O. K sa lem!” Bên nhóm của thằng Hữu la lên.
“Sao Chương mầy đồng ý không? Đồng ý thì chơi, không đồng ý coi như bỏ cuộc. Đồng ý hả, vậy bắt đầu vào cuộc thi nghen. Trước hết là phải bắt thăm xem ai được quyền chơi trước.”
Thằng Việt bỏ hai lá thăm vào cái nón:
“Nào, mời hai đội bắt thăm. Ai bắt được lá thăm có dấu cộng sẽ được chơi trước.”
Vận may đến với nhóm của thằng Hữu. Khi chuẩn bị nhạc cụ, bọn nó tập trung lại để hội ý. Sự bối rối lộ rõ trên gương mặt của thằng Hữu. Thật ra chơi nhạc Việt Nam không phải là một thế mạnh của nhóm tụi nó khi tụi nó chỉ tập trung tập dượt những bài hát của các nhóm nhạc trẻ nước ngoài. Thằng Hữu chơi khôn, đề nghị:
“Mình chơi nhạc hát lời Việt được không?”
Thằng Việt quay xuống khán giả hỏi:
“Đồng ý không các bạn.”
“Đồng ý... Đồng ý...”
Sự đồng ý của đám khán giả đang dự khán cuộc thi - vốn là ủng hộ viên của nhóm thằng Hữu đã gỡ bí cho nó. Hữu gật đầu. Thằng đánh trống lấy hai cái dùi trống đánh vào nhau ba tiếng làm hiệu vào nhạc. Giai điệu của bài Green Field nổi tiếng của nhóm Brothers Four bao trùm khắp căn phòng. Một thằng chụp cái micro đứng hát bằng tiếng Việt, giọng lơ lớ: “Đồng xanh là chốn đây...”, lời bài hát Green Fieìd được viết bằng tiếng Việt với tên “Đồng Xanh”, ủng hộ viên của nhóm, cũng trong trang phục không thể nhầm lẫn được: áo bó thân, hai bâu áo cổ to, quần xì gà.. vỗ tay ầm ĩ. Thằng Chương dợm đứng lên phản đối nhưng anh Trang đã nắm tay kéo nó ngồi xuống. Thằng Chương hậm hực: “tụi nó chơi ăn gian.” Anh Trang nói nhỏ: “Kệ tụi nó. Quan trọng là em chơi bài này được không?”
Không trả lời anh Trang, thằng Chương cố gắng nghe giai điệu của bài hát. Bài này được viết theo âm giai thứ, thế thì các nốt hò, xự sang xê cống... cái nào hợp cà? Nó thừ người suy nghĩ. Như bắt mạch đúng tâm trạng nó, anh Trang kề tai nó nói nhỏ.
Do đang tập trung lắng nghe giai điệu của bài nhạc nên thằng Chương giật mình khi nghe tiếng vỗ tay nổi lên trong căn phòng. Nó biết nhóm thằng Hữu đã chấm dứt bản nhạc và bây giờ tới phiên nó. Nó đang hình dung lại giai điệu bài hát trong đầu. Nó đã từng nghe ban Phượng Hoàng với giọng ca của Elvis Phương - một ca sĩ của nhóm xuất thân từ học sinh Lasan Taberd hát bài này. Nó run run cầm cây đàn nhị trong bàn tay đang rịn mồ hôi. “Ăn thua là phải bắt cho được nốt nhạc đầu tiên... nghe mậy”, nó thầm nói với... cây đàn - một cách đùa vui để khống chế nỗi sợ hãi mà nó thường bắt gặp khi đối diện chúng. Nó hát thầm trong đầu để bắt âm giai “Đồng... đồng... đồng... đồng..ề". Thế rồi, qua bộ máy tăng âm, tiếng đàn nhị ngọt ngào - nhiều lúc nghe chừng như âm hưởng của cây đàn violon của thầy Nguyễn Hữu Ba thưởng kéo cho tụi nó nghe, mà có lần thầy đã nói vui trong lớp rằng “cây đàn nhị cũng như cây đàn violon - chỉ khác một điều là một đàn có nhiều dây và một đàn chi có hai dây...” - đi vào đoạn đầu bài Đồng Xanh rất êm. Không khí trong căn phòng im lặng chỉ còn nghe tiếng đàn nhị của nó thể hiện những âm điệu ngọt lịm. Anh Trang vỗ tay, tiếp đó là tụi thằng Chương, thằng Mai. Và sau đó là của tất cả khán giả, những người sống trong cư xá sĩ quan biết có văn nghệ trong CLB nên đến xem chật cả căn phòng. Thằng Chương như tự tin hơn vì tâm hồn, trí óc nó đã đi được vào giai điệu của bài hát thể hiện qua cách nó kéo cây vĩ và năm ngón tay nhấn phím phía trên cần đàn. Làm chủ cảm xúc và cây đàn, nó chấm dứt bài hát một cách điệu nghệ khi tung cây vĩ lên cao và chụp lấy bằng tay mặt mà tay trái nó vẫn còn nhấn phím nốt nhạc cuối cùng ở sợi dây buông.
Nhiều lời bình phẩm vang lên:
“Ngộ quá hé... cây đàn cò mà cũng kéo được nhạc Tây...”
“Tại hồi xưa tới giờ mình chỉ thấy nó kéo trong hát cải lương, hát bội, đám ma không nên đâu biết...”
Thằng Việt tiếp tục giữ vai trò người hướng dẫn cuộc thi:
“Theo thể lệ cuộc thi thì bây giờ bên đàn cò chơi trước, sau đó bên nhóm thằng Hữu chơi sau.”
Thằng Chương bắt đầu để cây vĩ vào kéo. Một âm điệu rất lạ vang lên trong nhịp hai bốn, vừa buồn lại vừa có vẻ tâm sự. Bên nhóm thằng Hữu trố mắt ngạc nhiên vì tụi nó không biết thằng này đang chơi bài gì. Một thằng ra dấu phản đối, và hỏi lớn:
“Bài này là bài gì vậy? Có phải tân nhạc không?”
Thằng Việt thay mặt cho thằng Chương trả lờ:
“Bài này hợp lệ. Nó là bài “Gia tài của mẹ” nhạc của Trịnh Công Sơn.”
“Nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc phản chiến hả, không chấp nhận...”
Thằng Dũng quay sang hỏi anh Trang:
“Ủa bài này là nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn hả anh?”
“Ừ” Anh Trang khẽ hát. “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm đô hộ giặc Tây..."
Thằng Dũng sực nhớ mấy bài phản chiến mà thằng Chương đã dạy cho nó:
“Còn mấy bài Diễm xưa... Cũng là nhạc phản chiến phải không anh?"
“Không phải. Đó chỉ là nhạc tình thôi. Trịnh Công Sơn có viết nhạc phản chiến in trong các tập Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam..."
Nó buột miệng:
“Vậy mà...”
Phía trên sân khấu vẫn tiếp tục cuộc khẩu chiến thay cho “đàn chiến”. Bên thằng Hữu vẫn không đồng ý chơi nhạc phản chiến của Trịnh công Sơn. Thằng Việt đưa ra giải pháp: “Thôi, chỉ trừ nhạc phản chiến, thằng Chương có thể chơi bất cứ bản nhạc tình cảm nào của Trịnh Công Sơn. Đồng ý không?”
“Đồng ý”.
Thằng Chương không nói không rằng bắt đầu cầm cây vĩ lên kéo bài “Giọt mưa trên lá" - một bài nhạc của Phạm Duy “Giọt mưa trên lá, nước mắt mẹ già, trên xác con lạnh giá...” theo điệu valse chậm buồn tha thiết. Tụi thằng Hữu lại ngẩn ngơ như chưa nghe bài hát này bao giờ. Tuy nhiên với những đôi tai có thẩm âm tốt, tụi nó vẫn có thể bắt được giai điệu nhốt vào đầu và thể hiện bằng đôi tay điêu luyện trên cần đàn. Những nhóm nhạc trẻ đã được tôi luyện bằng cách nghe đi, nghe lại những bài hát của các ban nhạc nước ngoài qua băng rồi chơi lại làm sao cho thật giống. Nhóm nhạc trẻ của thằng Hữu cũng vậy. Nhiều thằng chơi đàn nhưng chẳng biết phân biệt được nốt nhạc, rất dốt nhạc lý, nhưng tụi nó chỉ nghe băng nhạc mới chỉ một hai lần là có thể chơi được lại bản nhạc đó giống tới tám, chín mươi phần trăm. Vì vậy, sau khi thằng Chương chơi hết bài “Giọt mưa trên lá” thì nhóm thằng Hữu bắt đầu chơi lại bài này không một chút khó khăn. Anh Trang gật gù nói với thằng Dũng: “Nhóm này chơi cũng hết chì há”.
Sau đó là đến lượt nhóm thằng Hữu chơi. Anh Trang kêu thằng Việt xuống nói nhỏ. Thằng Việt gật đầu và bước lên bục nhạc cầm lấy micro nói:
“Một đàn anh của chúng ta trong trường Petrus Ký, anh Trang là trưởng ban văn nghệ của trường có đề nghị là hal nhóm sẽ chơi chung một bài nhạc...”
Một thằng trong nhóm của thằng Hữu chửi thề:
“ĐM, đàn anh của mấy thằng Petrus chứ đâu phải đàn anh của tụi tao..., tao không chơi...”
Thằng Hữu trừng mắt cũng chửi thề:
“C... thằng nào không chơi thì tao cũng chơi. Tao là học sinh Petrus Ký thì ảnh là đàn anh của tao... Mình chơi với tinh thần văn nghệ mà...”
“Nhưng tao không thèm chơi tân nhạc...”
“OK Salem.”
Thằng Hữu nói với anh Trang:
“Hai nhóm cùng chơi một bản nhạc trẻ được không anh?”
Anh Trang gật đầu.
“Tùy ý bên nhóm các em.”
Thằng Hữu cầm cây ghita lead lên, so dây. Sau đó, nó dạo vài nốt đầu tiên của bản “CaIifornia dreaming..." Vì đã tập dượt bản này với nhau nhiều lần nên khi nghe vài nốt dạo đầu bắt nhịp là nhóm nhạc trẻ của thằng Hữu hòa đàn cùng nhau ngay lập tức. Sau khi để cho thằng đánh trống biểu diễn hai cây dùi solo một đoạn là bắt đầu đoạn chơi solo của cây lead, nhưng thằng Hữu lại không đàn mà nhìn thằng Chương như ngõ ý “nhường” đoạn biểu diễn cho thằng này thi thố tài nghệ. Thật ra thằng Hữu cố tình gài bẫy thằng Chương vì đoạn solo này với sức của thằng này thì rất khó biểu diễn. Biết ý của thằng Hữu, anh Trang liền cứu nguy cho Chương bằng cách đưa cho thằng Chương cây kèn ácmonica và lấy cây đàn nhị từ tay thằng này. Thế rồi anh bắt đầu kéo vĩ vào hai dây đàn của cây đàn nhị. cả nhóm thằng Hữu ngưng đàn đứng nghe anh Trang kéo cây đàn nhị trong tiếng kèn acmonica của thằng Chương. Bỗng dưng, như bị tiếng đàn nhị hấp dẫn, thằng Hữu bắt đầu chơi cây lead đi theo sau đó là cả nhóm nhạc. Bây giờ, là một cảnh tượng vui nhộn xảy ra khi cả hai nhóm thuộc loại “tân - cổ” đang giao duyên với nhau một cách ngọt lịm. Hết bản “California dreaming” thằng Chương bắt luôn bài “Five hundred miles” và cả hai nhóm hòa đàn cùng nhau trong hứng khởi.
Đợi cả hai nhóm vừa chấm dứt bài nhạc, thằng Việt lên ngay sân khấu, cầm micro nói:
“Cuộc vui nào cũng tàn. Để “đồng bào” trong cư xá nghỉ ngơi, chương trình hợp tấu cổ kim hòa điệu tạm ngưng tại đây. Hẹn dịp khác, mong “quáo đồng bì”...” nó cố tình nói lái để pha trò “ủa quên quý đồng bào” thông cảm.” Rồi nó hát một bài của nhạc vui của ban tạp lục Tùng Lâm “Đến đây chấm dứt chương trình của ban Tùm Lum... làm quý đồng bào trước khi ra về cũng còn có một tràng cười qua xá cỡ cho cái thằng xướng ngôn viên ăn nói có duyên “thấy cười chết mẹ” như một “đồng bào" nào đó trong cư xá nhận xét.
Anh Trang, thằng Chương bắt tay những thành viên trong nhóm của thằng Hữu khen ngợi thật lòng:
“Các bạn chơi hay lắm. Hy vọng ngày nào đó chúng ta có dịp chơi chung một lần nữa..”
Thằng Hữu cũng nói thật tình với thằng Chương:
“Tao không ngờ cây đàn cò của mình cũng chơi được tân nhạc nữa..”
Thằng Chương cũng thú nhận, không khách sáo:
“Coi vậy chứ cũng phải tìm được bài nhạc phù hợp mới thể hiện được hết...”
Tụi nó chào tụi thằng Hữu rồi chia tay. Trước khi từ biệt thằng Chương để đi về hướng Chợ Lớn, thằng Dũng trách thằng này: “Mày xạo với tao...”
“Xạo với mày, vụ gì?”
“Mầy nói bài Diễm xưa là nhạc phản chiến..”
“À... à... tao sợ mầy hát bậy, bị cảnh sát bắt. Nghe nói nhạc này bị cấm đó.”
“Vậy sao hồi nãy mầy dám đàn...”
“Tao phải chơi vậy mới ăn tụi nó chớ...”
Tất nhiên thằng Dũng hiểu không phải vì nó hát nhạc phản chiến “cùi” mà Xuân Chi coi thường nó. Cái chính là con Chi xem thường nó vì nó nghèo, không xứng làm bạn với con Chi. Đi học, con Chi phóng xe PC vù vù còn nó cứ lọc cọc chiếc xe đạp thiếu cả cái chắn sên làm nó phải dùng cái kẹp để kẹp ống quần cho khỏi dính dầu nhớt làm đen thùi lùi hai ống quần. Bởi vậy nó cũng không trách thằng Chương đã chơi trát nó. “Hãy can đảm chấp nhận và nhìn vào thực tế”, nó nhớ đến câu danh ngôn chép ở sổ tay. Thực tế là dù có hát nhạc phản chiến thì nó cũng là kẻ thua trận trong cuộc chiến giữa nó và con Xuân Chi. Phản chiến làm gì cho mất công!

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Thu 18 Jul 2013, 13:43

Chương 14

Ngủ nướng gần đến 9 giờ, khi thằng Thạch thức dậy thì ba má nó đã đi khỏi nhà. Nó hỏi chị Năm - người giúp việc thì biết chỉ còn chị nó ở nhà. Làm vệ sinh xong, nó mặc cái quần pat xì-gà và cái áo ôm mới kẻng xuống phòng chị nó.
Tiếng hát của Sylvi Vartan từ chiếc máy magnetophone hiệu Akai với chất lượng âm thanh 4 chiều tuyệt hảo phát từ phòng của chị nó nghe vô cùng sống động. Đây là quà tặng của ba nó sau khi chị nó thi đậu Tú tài hai. Hiện chị nó đang học ghi danh tại hai đại học: Luật khoa và Văn khoa. Nó gõ cửa phòng, rồi tự động mở cửa bước vào.
“Ủa sáng chủ nhật mà anh Phát không lại rủ đưa chị đi bát phố à?"
Chị nó ngáp dài:
“Tối hôm qua tao đi “bai” nhà người bạn, khuya quá...”
“Chị cho em mượn chiếc PC nhe..."
“Mầy định đi đâu? Không lo học, đi chơi hoài vậy? Năm nay là năm thi lên đệ tam mầy không lo...”
“Chủ nhật mà. Chị đi chơi được bộ em đi không được sao? Năm nay bỏ thi trung học đệ nhất cấp rồi chị ơi.”
“Bỏ thì bỏ nhưng lớp đệ tứ là căn bản của lớp đệ nhị. Mầy mà yếu năm đệ tứ thì coi như năm đệ nhị chạy không kịp nhe em.”
“Em biết mà chị. Chị cho em mượn chiếc PC đi, em đi một chút em về.”
“Tao không cho mầy mượn, mầy chạy xe ẩu, hư xe của tao hết.”
“Lần trước xe chị bể “bô” em đi hàn giùm chị đó. Chị cho em mượn xe, hư em chịu trách nhiệm đi sửa cho chị...”
Biết không thể chịu được tính dai như đỉa của thằng Thạch nên chị nó đành phải đưa chìa khóa xe cho thằng Thạch. Chìa khóa này dùng để mở khóa cổ xe chứ xe PC không dùng chìa khóa để mở máy. Lấy chìa khóa xong, thằng Thạch gãi gãi đầu: “Ba má đi dâu sớm vậy chị?”
“Nghe nói ba chở má đi coi cái nhà nào đó ở trong Chợ Lớn.”
“Trời ơi, ba má đi sớm quá không cho em tiền, lấy gì em ăn sáng với đi chơi đây. Thôi, chị cho em mượn đỡ năm choạc nghe...”
Chị nó nhăn mặt:
“Cho mầy mượn xe, rồi mầy cồn bắt địa tao nữa hả?”
“Bắt địa đâu mà bắt địa. Em mượn chị em trả đàng hoàng. Tới đầu tháng ba má cho tiền tháng là em trả chị liền. Chị mà cho em mượn tiền, tối chị đi chơi khuya, em thức mở cửa cho chị vô nhà. Chịu không? Hôm trước má hỏi em có thấy chị đi chơi khuya không, em nói là không thấy.”
Chị nó phì cười:
“Mầy có mấy chiêu bắt địa học ở đâu hay há. Nè, năm chục nè thằng quỷ. Mầy mà đi chơi nhiều tao méc ba cho mầy coi.”
“Hê... không biết ai đi chơi nhiều à ta. Cám ơn chị yêu của em nhiều nha..."
Thằng Thạch biết chị nó rất tình thương mến thương với nó nên hay nhõng nhẽo. Nhà chỉ có hai chị em, ba mẹ nó thường đi lại do công việc thầu khoán nên vắng nhà thường xuyên, chỉ gặp nhau vào bữa cơm tối nên có gì hai chị em thường tâm sự cho nhau. Với lại, thằng này cũng khéo biết nịnh chị nó nên khi nào bí lối thì chị nó luôn luôn là qưới nhơn độ trì. Như sáng hôm nay chẳng hạn.
Chiều hôm qua khi gặp nhau ở nhà để xe, thằng Thạch rủ thằng Dũng:
“Ê, mai đi coi xi-nê mậy, tao bao?”
“Tuồng gì, rạp nào?”
“Việt Long, tuồng gì tao chưa biết. Chắc tuồng mới. Rạp Việt Long chiếu toàn phim hay.”
Thằng Dũng sực nhớ:
“Không được. Ngày mai tao phải tổng dợt chương trình văn nghệ...”
“Chừng nào xong...”
“Làm sao tao biết được.!”
Thực ra chuyện thằng Thạch muốn xem phim chỉ là phụ mà chuyện chính là nó muốn gặp lại cô bé Gia Long bán bánh mì trước cửa rạp hát Việt Long. Nó muốn tìm một cái cớ gì rất tự nhiên chứ không muốn để cô bé Gia Long biết là nó tìm cách gặp cô bé. Con gái biết mình đi theo, sẽ coi thường. Đó là lời của chị nó.
Nó phóng xe PC lên thẳng rạp Việt Long. Đến trước của rạp, ngang chiếc xe bán bánh mì nó đảo xe qua lại hai ba vòng. Khi thấy bóng dáng của cô bé đang đứng sau chiếc xe bánh mì, nó ngừng lại.
“Bán cho khúc bánh mì thịt 10 đồng.”
Cô bé cũng chẳng buồn ngẩng đầu lên:
“Anh ăn đồ chua, hành ớt không?”
“Đầy đủ. Bánh mì thịt mà thiếu đồ chua thì đâu có ngon.” Nó nói như mình là người sành ăn bánh mì chứ thực ra sáng nào nó cũng ăn phở, hủ tíu mì, bánh ướt chứ không ăn bánh mì vì nó chê khô khốc. Cô bé đưa cho nó ổ bánh mì và cũng chẳng thèm nhìn nó, làm cho nó chẳng biết mở miệng ra làm sao. Nó đưa tiền cho cô và... run run định mở miệng hỏi thì có hai thằng hippy, tóc dài chạy xe Honda 90 ngừng lại ngay xe bánh mì. Một thằng nhìn vào nó, còn thằng kia vừa rồ ga xe, vừa nói:
“Cho tụi anh hai ổ bánh mì xíu mại, em bé...”
Cô bé cũng không nói gì, hai tay thoăn thoắt lấy hai ổ bánh mì bỏ xíu mại vào. Cô cũng hỏl câu hỏi y như đã hỏi với nó: “Anh ăn đồ chua hành ớt không?”
“Không. Mấy thứ đó hôi lắm. Dân Mẽo ăn bánh mì đâu có ăn đồ chua... Ăn đồ chua là đồ nhà quê ba bốn cục...”
“Cô bé ơi, cô bé tên gì?”
Cô bé vẫn lặng im, coi như không nghe thấy câu hỏi của thằng hippy mặt mụn. Thằng này cũng thuộc loại lì, nó vẫn tiếp tục hỏi:
“Nhà cô bé gần đây không? Bé có thích đi “bum” không anh mời?”
Cô bé đưa cho hai thằng này hai ổ bánh mì nói gọn lỏn: “Hai ổ, hai chục.”
“Sao rẻ vậy. Anh trả 50 nghe.”
Thằng hippy mặt mụn đưa cho cô tờ giấy 50 đồng. Cô mở tủ tiền đưa cho thằng này 30. Thằng mặt mụn tranh thủ cầm tay cô bé:
“Tay mềm thiệt...”
Thằng Thạch cảm thấy nóng mặt liền nói:
“Bán cho tôi ổ bánh mì thịt nữa đi...”
Cô bé ngước quay mặt qua nhìn nó một cái như ngầm hiểu là nó đã “cứu nguy” cho cô ta. Thằng hippy mặt mụn nhìn thằng Thạch một cái, nói trống không “chì há!”
Lúc đó, từ rạp hát có mấy người đến mua bánh mì. Hai thằng hippy phóng xe vọt đi. Thấy khách mua bánh mì đang đứng đợi, thằng Thạch biết không thể nào nói chuyện được với cô bé nó bèn đạp chiếc PC cho nổ máy.
Cầm khúc bánh mì, nó bỏ vào giỏ xe. Trước khi đi đến đây nó đã ghé quán phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ, đối diện chợ cá làm một tô chật ních bụng rồi, sức đâu mà ăn nữa. Mua bánh mì chỉ là cái cớ để gặp được cô bé Gia Long. Không có thằng Dũng nó cũng chẳng muốn xem phim nữa. Nó đánh vòng xe chạy về trường vì nó biết hôm nay thằng Dũng đang tổng dượt chương trình văn nghệ gì đó.
Đến trường nó chạy thẳng xe vào nhà để xe, đi lên phòng sinh hoạt hiệu đoàn vì nó nghĩ ban nhạc sẽ tập dượt ở đây. Nhưng quái lạ, cửa phòng sinh hoạt hiệu đoàn đóng kín mít.
Nhìn vào bảng thông báo nó thấy có ghi mấy dòng chữ “Ban dân ca tổng dượt tại nhà anh Kiệt.” Nó buột miệng chửi thề. Một sáng chủ nhật xui xẻo.
Nó lại quay ra nhà để xe. Đang đi bỗng dưng nó quay phắt lại phòng học dành cho học sinh bị cấm túc. Nó len lén đứng ở ngoài cửa nhìn vào. Trên bàn giáo sư vẫn là giám thị Tư đang ngồi đọc quyển sách gì đó. Phía dưới các dãy bàn thì có chừng mười thằng đang ngồi chép bài phạt, “ủa", nó kêu lên ngạc nhiên “sao lại có thằng Lê nữa ta?!” Thằng Lê là thằng cù lần lửa trong lớp mà, không giỏi cũng không dở; không bao giờ dám cúp cua hay vi phạm kỷ luật mà sao hôm nay lại bị cấm túc. Thằng Thạch quên mất chuyện thằng Lê đi cấm túc dùm thằng Thuật mà nó có ăn ké theo mấy cái bánh su cúa chị Lan nên nó đứng ở ngoài đợi thằng Lê để tìm hiểu, vả lại bây giờ nó chẳng biết đi đâu, hỏi chuyên thằng Lê cũng vui.
Một lát sau, thằng Lê đi ra khỏi phòng cấm túc, cái mặt bí xị chứ không hí hửng như lúc sáng nó đi vào trường. Lần đầu tiên đi vào trường ngày chủ nhật, lại là lần đầu tiên, trong bốn năm qua, vào trường mà không phải mặc quần xanh, áo trắng đeo phù hiệu nên nó cảm thấy mình là người lớn hẳn ra, là anh chị thứ thiệt chứ không phải “dân chơi cầu Ba Cẳng” như mấy thằng trong lớp hay nói về nó với vẻ coi thường. Nhưng khi nó trình giấy cấm túc cho thầy giám thị Tư thì nó đỏ bừng mặt khi nghe thầy nói: “Cha... bị cấm túc vì sờ mông con gái hả? Hết chuyện làm rồi sao con? Chép phạt 500 câu tôi không vi phạm thuần phong mỹ tục trong trường”. Lúc ấy có mấy thằng học sinh lớp khác cũng đang trình giấy cấm túc nghe được liền cười hình hích. Nó đỏ lừ mặt. Bao nhiêu sự vui sướng mà thằng Thuật mang lại cho nó ở quán cà phê Năm Dưỡng sáng nay không bù được cái quê này.
Thằng Thuật đã mời nó uống cà phê sữa và ăn sáng ở quán cà phê Năm Dưỡng trước khi vào trường cấm túc. Buổi sáng hay buổi chiều, quán cà phê Năm Dưỡng vẫn có khách ngồi chật kín hết cả bàn, cả trong lẫn những bàn đặt ngoài lề đường. Trong đám khách thường xuyên này là những cậu học sinh Petrus Ký. Và tụi nó thường nói đến quán cà phê này như là biểu tượng của dân chơi thứ thiệt, của những tay học trò mơ làm nghệ sĩ, triết gia và của những thằng muốn chứng tỏ mình cũng là dân có máu mặt để khỏi bị mấy thằng chì hơn mình ăn hiếp.
Quán cà phê nay rất thuận tiện cho tụi nó hẹn gặp nhau vì rất gần trường Petrus Ký. Chỉ cần qua khỏi bồn binh Cộng Hòa, hướng ra đường Hồng Thập Tự, quẹo trái vào đường Nguyễn Thiện Thuật khoảng chừng vài chục mét có một con đường nhỏ thông qua đường Lý Thái Tổ. Quán cà phê Năm Dưỡng nằm trên con đường nhỏ này.
Cà phê Năm Dưỡng tập hợp được khách sành điệu khắp “bốn vùng chiến thuật” vì ly cà phê sữa ở quán này thật đậm đà phê và béo ngậy nhờ sữa mà giá lại bình dân - bọn học sinh có thể chịu được. Nhiều đứa gần như ghiền ly cà phê sữa của quán Năm Dưỡng. Bởi vậy khu vực đường Nguyễn Hoàng, đối diện công viên Đại Hàn, có quá nhiều quán cà phê, bàn ghế khá sang trọng nhưng tụi nó chỉ hẹn nhau tập trung ở quán Năm Dưỡng. Thằng Thuật cho rằng chủ quán này bỏ á - phiện trong cà phê, thằng Thạch cãi lại vì cho rằng giá tiền một ly cà phê sữa rất rẻ bỏ á phiện vào cho lỗ sặc gạch sao.
Khi thằng Thuật mời thằng Lê, sáng chủ nhật, trước khi vào trường thì ghé quán cà phê Năm Dưỡng uống cà phê và ăn bánh patêsô. Thằng Lê hấp háy con mắt cận:
“Quán này có gì đặc biệt không anh?”
Biết tính thằng Lê này sợ người ta chê mình cù lần nên thằng Thuật dụ:
“Quán dành cho dân chơi không đó. Mấy thằng dân chơi cầu Ba Cẳng thì sức mấy mà được uống cà phê ở đây.”
“Lớp mình có đứa nào đến quán này chưa?”
Thằng Thuật kể tên một vài thằng ở “xóm nhà lá”, thằng Lê trố mắt vì chưa bao giờ nó biết được là mấy thằng này “gồ-ghề” như vậy uống cà phê ở quán chỉ dành cho dân chơi thứ thiệt.
Sáng chủ nhật khi thằng Lê đến đã thấy thằng Thuật ngồi đó bên ly cà phê sữa bốc khói, thơm lừng. Còn thằng Thuật thì ngạc nhiên khi thấy thằng Lê đã “thoát xác” trong bộ quần áo màu mè để chứng minh mình là dân “có máu mặt”. Kéo ghế cho thằng Lê ngồi, thằng Thuật gật đầu khen:
“Hôm nay mầy ngầu dữ a. Mấy thằng trong lớp thấy mầy tụi nó sẽ teo chim luôn.”
“Thì lâu lâu được một lần chứ anh.”
Người phục vụ bưng ra một ly cà phê sữa nóng, một cái bánh pate sô, thằng Lê hít hà:
“Cà phê thơm quá anh hé, ở nhà má em cứ cho uống sữa ông Thọ không hà."
Thằng Thuật trêu:
“Ông Thọ làm sao có sữa mậy? May phải uống sữa con chim hay sữa của nứ nghệ sĩ Kim Cương mới phải chớ.”
Thấy thằng Lê có vẻ không hiểu câu nói đùa, thằng Thuật tiếp:
“Sáng nay mầy nói với “Khứa mẫu” mầy đi đâu?”
“Khứa mẫu” là gì anh?”
“Là má đó. Mầy đúng là cù lần.”
“Em nói với “khứa mẫu” là em được đi cấm túc nghĩa là được đi học thêm sáng chủ nhật. Khứa mẫu khoái lắm.”
“Còn “khứa lão” của mầy?”
“Khứa lão” là ba đó hở anh? ở nhà em, chỉ có “khứa mẫu” mới là người quan trọng... “
“… là đại Cathay”, thằng Thuật nói tiếp.
Thằng Lê cảm thấy lớn hẳn ra khí được thằng Thuật dạy cho một số tiếng lóng đang thông dụng trong ngôn ngữ của “xóm nhà lá”. Điều bổ ích đầu tiên trong buổi đi cấm túc này là biết được thêm mấy chữ “khứa lão”, khứa mẫu”, “đại ca thay”... Bỗng dưng nó trố mắt, kêu lên:
“Anh Thuật ơi ca sĩ Chế Linh kìa..."
Thằng Thuật nhìn vào cái bàn phía trong quán. Ca sĩ Chế Linh trong bộ đồ lính đang ngồi với hai thằng trạc tuổi thằng Lê có gương mặt hao hao ca sĩ Hùng Cường. Thằng này trầm trồ vì đây là lần đầu tiên nó được thấy thần tượng của những người bạn của má nó ở chợ Bến Thành:
“Sao ổng ở ngoài đen thui vậy?”
“Chế Linh là người Chàm mà.”
“Trời ơi, ổng cũng uống cà phê ở đây nữa hả anh, có thường không?”
“Tao không biết. Nhưng nhà Hùng Cường ở bên kia đường Nguyễn Thiện Thuật. Chắc thường xuyên Chế Linh đến đây để chơi với Hùng cường. Hai thằng nhóc kia chắc là con của Hùng Cường, nhìn mặt thấy giống quá...”
“Ổng hát hay quá hả anh.”
“Hay cái gì. Đâu bằng Duy Khánh. “Khứa” này hát nhão nhẹt hà. Chỉ có mấy em mari sến mới mê giọng ca của "khứa” này.” Thằng Lê nghiệm lại đúng là chỉ ngồi uống ở quán cà phê Năm Dưỡng lần đầu thôi mà nó biết được quá nhiều điều. Vậy mà má nó cứ bắt ở nhà học bài, không được đi ra khỏi nhà sau khi ở trường về. Hôm nay chỉ cần nói đi cấm túc, gặp được ca sĩ Chế Linh nói lái là “lính chê” là má nó sẽ phục lăn ra, rồi má nó sẽ đi khoe chuyện cho mấy người bạn hàng trong chợ Bến Thành tới tuần sau quá. Mặc dù thằng Thuật chê giọng ca của Chế Linh nhưng má nó và mấy bà trong chơ Bến Thành mê giọng ca của “khứa” ca sỡi này tít thò lò... Lạ thiệt!
Thằng Thạch hỏi to làm thằng này quay trở về thực tại: “Ê, sao bị cấm túc vậy mậy?”
“Tao đi cấm túc dùm anh Thuật. Bộ mày không nhớ sao? Tao bao mầy với anh Thuật mấy cái bánh su đó.”
“Ờ... ờ tao nhớ rồi. Mầy chì quá hé.”
“Chì cái nỗi gì, quê gần chết."
“Ủa, quê sao? Tao tưởng mầy vui lắm chứ.”
“Vui cái gì mà vui. Mấy thằng đi cấm túc chung nó tưởng tao rờ đít mấy đứa trưởng Gia Long nó bu theo hỏi hoài.” Thằng Thạch cố nín cười. Từ sáng tới giờ chỉ có lúc này là vui nhất. Nó hỏi tới:
“Tụi nó hỏi cái gì?”
Tình thật thằng Lê kể một hồi:
“Tụi nó hỏi có êm không? Có mềm không? Có độn cao su không? Tao đâu có rờ làm sao tao trả lời được.”
“Mầy ngu quá...”
“Ngu làm sao?”
“Đáng lẽ mầy phải nổ cho tụi nó sợ.”
“Nổ làm sao?”
“Mầy phải nói là mầy có rờ cho tụi nó thèm, đâu có phải thằng nào cũng rờ được đít con gái, mà nhất là con gái Gia Long?”
“Bộ đít con gái Gia Long khác con gái trường khác hả?”
“Chắc chắn rồi.”
“Tại sao vậy?”
Thằng Thạch đía:
“Tại vì trường Gia Long kỷ luật dữ lắm. Tao nghe chị tao nói là con gái Gia Long trước khi đi học phải bó đít cho thật kỹ chứ không để nó đu đưa. Mầy không thấy tụi nó mặc áo dài còn có áo lá bên trong để không thấy cái tam giác nho nhỏ ngay eo sao?”
“Kỳ quá hé. Còn con gái Trưng Vương?”
“Tao không biết. Nhưng tao nghĩ là đít tụi nó khác nhau.”
“Tao có con bạn học trường Trưng Vương, hôm nào tao hỏi thử.”
“Ừ, hỏi xong cho tao biết.”
Dẫn xe ra khỏi cổng trường hai thằng chia tay nhau. Trước khi leo lên yên xe Mobylette, thằng Lê rờ đít nó và tự hỏi “Không biết đít học sinh Petrus có khác hqc sinh Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi hay không?”

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 13 Aug 2013, 13:18

Chương 15

Trong lúc thằng Thạch và thằng Lê đang nói về sự khác nhau của mông nữ sinh trường Gia Long và nữ sinh các trường khác thì thằng Dũng và Mai - và có cả thằng Việt đang ở nhà anh Kiệt để tổng dượt chương trình văn nghệ.
Không biết mọi người thì sao nhưng riêng thằng Dũng thì vô cùng khoái chí. Nó thầm cám ơn mấy ông thợ hồ. Đáng lẽ, theo chương trình là hôm nay tập ở phòng sinh hoạt hiệu đoàn nhưng mấy ông thợ vẫn sơn phết chưa xong. Từ nhà nó đến nhà anh Kiệt thì gần hơn đến trường. Nhưng đó không phải là điều quan trọng vì hàng ngày nó vẫn đi đến trường được mà. Nó vô cùng vui vì tập ở nhà anh Kiệt nó sẽ có cơ hội gặp lại cô bé Thanh Danh.
Ngay từ khi đến chỗ tập nó trở nên ba hoa chích chồe - tường thuật lại cuộc thi đấu giữa thằng chương và nhóm nhạc của thằng Hữu. Hôm nay, hưng phấn vì có cô bé Danh đang ngồi chống tay nghe một cách im lặng nên nó kể thật sống động. Thằng Chương nghe thằng Dũng ca ngợi mình cũng khoái nên cứ để-mặc cho thằng này thoải mái thêm mắm dặm muối. Sau khi nghe thẳng Dũng kể xong, Thanh Danh buột miệng “Anh Chương giỏi ghê” thì thằng Dũng biết mình đã vô tình quảng cáo hình ảnh oai hùng của thằng Chương cho cô bé Danh. Thế là cu cậu im bặt.
Còn thằng Việt thì tự đến. Thằng Chương không mời thằng Việt sau buổi tối “chiến đấu" đó vì thằng Chương muốn biểu lộ thái độ bất cần sự có mặt của thằng này. Nhưng thằng Việt sau khi xem xong cuộc thi đấu cúa thằng Chương trong đầu nó đã nảy ra một ý nghĩ. Nó định hôm nay gặp anh Trang và ban nhạc để trình bày. Nó ngồi im lặng trong góc phòng nhìn mọi người tập dượt. Trong lúc mấy anh Kiệt, Duy Anh, Nhơn đang hòa đàn thì anh Trang tiến lại và đặt tay lên vai nó hỏi: “Em thấy chương trình ra sao?”
“Dạ... em thấy hay anh.”
“Tụi nó nói là em làm hoạt náo viên hay lắm vào buổi thi đàn giữa hai nhóm. Nãy giờ em đã xem chương trình diễn của tụi anh, em thử lên làm hoạt náo viên thử xem.”
Thằng Việt không ngờ anh Trang lại đề nghị nó làm hoạt náo viên nên nó lúng túng:
“Dạ, em chưa chuẩn bị kỹ, sợ...”
“Không sao. Hôm nay mình chỉ làm nháp thôi mà. Có gì đâu...”
“Dạ, thôi anh. Muốn làm hoạt náo viên tốt phải chuẩn bị nội dung liên quan đến tiết mục mà em thì chẳng chuẩn bị gì, em muốn trình bày với anh ý kiến này...”
“Ừ, em nói đi, anh nghe...”
Trong tiếng ồn ào của âm thanh các loại nhạc cụ đang hòa vào nhau thì thằng Việt cố gắng trình bày kế hoạch của nó cho chương trình văn nghệ. Anh Trang ngồi lắng nghe hết sức chăm chú dù cho tai anh vẫn nghe tiếng nhạc và mắt anh vẫn theo dõi đội hình của ban nhạc đang diễn tập. Anh gật gù liên tục theo những lời thằng Việt đang gắng gân cổ lên mà nói.
Trong khi đó thì thằng Dũng chăm chú nhìn vào quyển sổ tay chép nhạc của nó để dò theo lời bài hát mà ban nhạc đang diễn tấu. Nó vừa nghe vừa khe khẽ hát theo. Con bé Thanh Danh nhìn thấy dáng điệu của thằng này, ngạc nhiên hỏi: “Anh đang xem quyển gì vậy? Cho Danh mượn xem được không?”
Thằng Dũng đang thả hồn theo lời nhạc, giật mình:
“À... à..., được chứ, đây là sổ chép nhạc...”
Nó liền đưa sổ chép nhạc cho con bé Danh. Con nhỏ cầm lấy, lật xem vài trang rồi buột miệng:
“Đẹp quá... Anh Dũng vẽ hả?”
Nhìn vào bức tranh minh họa bài hát Dũng hãnh diện gật đầu.
Con bé Danh tiếp tục lật quyển sổ nhạc, xem từng trang. Đây là quyển sổ chép tay những bài nhạc mà thằng Dũng ưa thích. Mỗi bài nhạc đều được nó trình bày cẩn thận, y như tờ nhạc được bán ngoài các sạp báo có lởi và nốt nhạc hẳn hoi. Lời nhạc được nó viết nhái theo các kiểu chữ in, còn những hình nốt được nó kẻ bằng thước, nốt đen ra nốt đen, móc đơn ra móc đơn thật rõ ràng. Quả là những ngày học nhạc với giáo sư - nhạc sĩ Hoàng Lang thật không uổng công chút nào cả! Nhưng cál điều làm con bé Danh thích thú, và cũng làm nó mất công “đầu tư” hơn cả là nó vẽ thu nhỏ lại cái bìa bản nhạc với tranh bìa góc cạnh lập thể của họa sĩ Duy Liêm, những nét tả chân của họa sĩ Kha Thùy Châu trong nhóm CVĐ... y như thật. Tất nhiên là không đẹp bằng vì nét vẽ của nó còn ngây ngô, đôi lúc méo xẹo còn hơn cả nét vẽ lập thể của họa sĩ Duy Liêm. Mặc dù méo cỡ nào thì méo nhưng cáí tranh bìa đầy màu sắc thu nhỏ vẫn là nét độc đáo của quyển sổ chép nhạc đang là tâm điểm hấp dẫn con bé Danh. Con bé Danh thốt lên:
“Chắc anh có hoa tay nhiều lắm?!”
Thằng Dũng ba hoa:
“Dũng có cả... hoa chân nữa.”
Nó biết nó chẳng có hoa tay, hoa chân gì ráo. Nó vẽ được như thế này là nhờ vào những giờ học hội họa với thầy Đặng Công Hầu “màu đỏ pha với màu vàng cho ra màu cam. Đen, Trắng không phải là màu mà là sắc...” cộng với công phu gạch ca rô nát cả bản nhạc để định vị sự cân đối cho các hình thể trong hình vẽ lại của nó.
“Danh cũng có một quyển sổ nữa...”
“Chép nhạc hả?"
“Không. Danh chép thơ. Nhưng mà xấu lắm. Hôm nào anh Dũng trang trí giùm cho Danh được không?”
Thằng Dũng khoái chí trong bụng nhưng giả vờ suy nghĩ. Cái “bài” này là do một sư phụ ký giả nào nói mà nó nghe lóm được ở nhà in “dù là chuyện gì thật dễ nhưng con gái nhờ là phải làm như thật khó mới tăng giá trị của mình lên.”
“Ờ... ờ... để coi lúc nào Dũng rảnh. Bây giờ đến tết nhiều sinh hoạt với lại bài vở năm đệ tứ nhiều kinh khủng.”
Con bé Danh xịu mặt xuống:
“Thì Danh nói lúc nào Dũng rảnh mà. Nhờ có chút xíu xìu xiu mà...”
Nghe mấy tiếng “xíu xìu xiu” thoát ra tứ cái đôi môi chúm chím phớt hồng thằng Dũng cũng muốn “xíu xíu xìu xiu” luôn. Nó chợt nhớ đến câu thơ “Ai bảo em là giai nhân...”
“Dũng cũng có một cuốn sổ chép thơ với lại mấy câu danh ngôn...”
“Danh ngôn là lời hay ý đẹp, hoa thơm cỏ lạ đó hả anh?”
“Ừ. Nhiều câu hay lắm...”
“Anh chép thơ của thi sĩ nào?”
“Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du, Nguyễn Hữu Thiết...”
“Anh xạo. Nguyễn Hữu Thiết là nhạc sĩ...”
Thằng Dũng cười:
“Nhưng nhiều câu nhạc giống thơ... Nguyễn Bính thí dụ như Ai đang đi trên đường đê, tai lắng nghe muôn câu hò đê mê... ”
“Nhà thơ Nguyễn Bính, Danh đâu có nghe hoặc đọc thơ ổng bao giờ đâu. Danh với chị Liên thường nghe chương trình thơ Mây Tần của thi sĩ Kiên Giang trên đài phát thanh nhưng đâu có nghe đọc thơ Nguyễn Bính...”
Thằng Dũng tỏ vẻ hiểu biết:
“Nhà thơ Kiên Giang là bạn nhà thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ Nguyễn Bính là nhà thơ tiền chiến hiện đang ỏ Hà Nội. Ông ấy cùng thời với nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng...” Cô bé Danh há hốc mồm ra ngồi nghe. Còn thằng Dũng như được bắt trúng băng tần nên kể về mấy ông nhà thơ này theo trí nhớ ghi lại từ những chuyện nghe được ở quán cà phê trong xóm Sáu Lèo. Cô bé Danh năn nỉ:
“Hôm nào anh chép cho Danh mấy bài thơ tiền chiến nghe...”
“Còn Danh đang chép thơ của ai?”
Cô bé Danh đỏ mặt:
“Danh chỉ chép trong tạp chí Tuổi Hoa, bởi vì Danh cũng tập viết cho tờ báo này.”
“Danh có thơ đăng trong tờ báo này à?”
“Không. Danh chỉ viết đoản văn thôi. Làm thơ khó quá!”
“Danh ký bút hiệu là gì? Diệp Đoan hở?”
“Sao anh biết?”
“Dũng có đọc thơ của nhà thơ Diệp Đoan trên báo xuân Gia Long năm nay..."
Con bé Danh đỏ mặt xấu hổ. Nó không ngờ thằng Dũng lại nhớ đến bút hiệu của nó. Nó đánh trống lảng:
“Sao tờ báo Tuổi Hoa không đăng thơ của các nhà thơ tiền chiến hở anh Dũng?”
Ra vẻ sành sỏi, thằng Dũng đáp:
“Tờ báo này chỉ có thơ học trò thôi, không có thơ của các nhà thơ nổi tiếng đâu. Tờ Tuổi Ngọc thỉnh thoảng có đăng... Nhưng thôi, Danh chỉ cần học thơ trong chương trình quốc văn đệ ngũ được rồi...”
“Nhưng thơ cổ không hà. Danh không thích.”
“Thì có cổ mới có kim chứ. Học mấy bài thơ của ông vua Lê Thánh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan, hay Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng hay vậy...”
“Danh học hoài không thuộc vì đọc hoài không thấy ra... thơ như “Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương, trẫm mới lên ngôi giữ mối giềng..." khó nhớ quá...”
“Tại Danh không phải là vua hay hoàng hậu nên không hiểu đó thôi. Mấy bài thơ này thuộc loại văn học sử, thích không thích cũng phải học thôi. Nhưng chắc khi mình lớn lên sẽ thấy có ích còn bây giờ... hì hì... ráng mà học để còn lên lớp...”
Đang lúc thằng Dũng đang ba hoa thì bất ngờ thằng Mai chạy lại đập lên vai nó:
“Tới màn thầy bói rồi kìa..."
Thằng Dũng nhìn cô bé Danh một cái:
“Để Dũng lên tập. Chút nữa Danh đưa cuốn sổ thơ cho Dũng..."
Thằng Dũng lên tập lại vai ông thầy bói trong tâm trạng lơ lơ, lửng lửng. Nó không ngờ cô bé Danh lại nhờ nó chép thơ, trình bày cuốn sổ chép thơ của cô bé. Nó biết rằng những quyển sổ này là những bí mật, rất riêng tư của tuổi học trò con gái. Con gái thích giữ những bí mật riêng tư trong nhật ký, trong những bài thơ chép trong sổ tay, chỉ chia sẻ cho những người bạn thân. “ít nhiều thiếu nữ buồn không nói/tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”. Có những thiếu nữ sẽ không nhìn xa nghĩ ngợi mà họ sẽ làm thơ, chép thơ như cô bé Danh đây. Thế mà cô bé Danh lại nhờ nó trình bày, chép thơ. Cho nó có dịp đi vào nỗi buồn, nội tâm, những suy nghĩ riêng của cô bé như những người bạn thân. Càng nghĩ về cô bé Danh thằng Dũng càng không tập trung vào vai ông thầy bói làm thằng Mai phải nhắc nhỏ để nó có thể diễn đúng vai. Nó nhìn thằng Mai cười. Thằng Mai cũng nhìn nó cười. Chỉ có một người không cười đó là anh Trang:
“Hôm nay sao thằng Dũng tập kỳ vậy?”
Thằng Chương thấy thằng Dũng nói chuyện nhiều với bé Danh nên hơi tức, bèn chọc quê:
“Hôm nay chắc thi sĩ Dũng ghiền đang mần thơ ế.”
Thằng Dũng nhìn thằng Chương một cách trách móc. Nó không thích biệt danh Dũng ghiền mà bạn bè đặt trong lớp, nhất là khi thằng Chương “tiết lộ” biệt danh của nó trước mặt cô bé Danh. Biết mình lỡ lời nên thằng Chương im lặng.
Buổi tổng dượt kéo dài đến gần xế trưa. Ai cũng có vẻ mệt nhoài nhưng bù lại là chương trình tổng dượt hết sức trơn tru. Thằng Mai và thằng Dũng, vì chỉ đóng vai thầy bói và lính thú nên đã hết nhiệm vụ, có thể về sớm hơn thằng Chương và mấy anh khác trong dàn nhạc. Thằng Việt cũng định về nhưng anh Trang bảo nó ở lại. Khi thằng Dũng dẫn xe đạp ra khỏi cổng bưu điện thì đã thấy cô bé Thanh Danh đứng đó, tay cầm quyển sổ, bìa màu tím, đưa cho nó và dặn nhỏ: “Chừng nào anh Dũng chép xong, anh Dũng để trên nóc thúng thư phía ngay quày, hàng ngày Danh sẽ ra tim trên nóc thùng thư. Ba Danh khó lắm, ổng mà hay được thì Danh ăn đòn nhừ tử luôn. Nhớ nhe anh.”
Thằng Dũng cầm lấy cuốn sổ tay, đưa mắt nhìn vào thùng thư bưu điện phía trong quày rồi gật đầu.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 13 Aug 2013, 13:20

 Chương 16

Chỉ còn hơn tháng nữa là đến tết âm lịch nhưng không khí trong con xóm nhỏ của thằng Mai đã rộn ràng không khí tết. Những sòng bầu cua cá cọp, sòng bài có thể mọc lên bất cứ chỗ nào miễn là có từ hai con bạc là đã đủ tụ ăn thua. Người ta ăn, người ta nhậu và người ta tìm đủ mọi cách để có tiền đánh bạc, ăn và nhậu. Hình như đối với người nghèo, nhất là con nít sinh ra trong những gia đình nghèo chỉ có dịp tết là dịp để được ăn chơi nên họ ăn chơi trước từ tháng 11 âm lịch. Và dịp này cũng là dịp để họ kiếm tiền tứ đủ loại dịch vụ sinh ra từ tết.
Sáng nay trời đột ngột se lạnh. Nghe nói là có cơn bão rớt nào đó từ miền Trung nên suốt cả đêm trời cứ mưa liên tục. Đêm qua, thằng Mai cứ ngủ chập chờn vì phải canh hứng nước mưa từ những chỗ dột trên mái nhà. Nó không muốn má nó phải làm chuyện này vì buổi sáng bà phải thức dậy sớm để nấu bánh canh, rồi gánh ra bán tại trường tiểu học Bình Tây. Trong những lúc không ngủ được, nó tranh thủ đốt đèn dầu để ôn lại bài học. Nhiều bài khó quá, nó không hiểu được, phải vào lớp nhờ bạn bè chỉ thôi. Nhiều đứa ngoài giờ học trong lớp nó còn đi học thêm các “cua” toán, lý, hóa tại các trường tư cúa các giáo sư nổi tiếng để bắt kịp chương trình. Thằng Mai cũng muốn được đi học thêm lắm nhưng không có tiền.
Phải chi anh nó đừng bị bắt đi quân dịch thì khoản học phí anh nó có thể cho nó được. Nhà có ba anh em. Ba nó mất sớm vì bệnh phổi khô - một bệnh do phải thổi ống chai trong một xưởng làm chai thủy tinh cúa người Tàu tại quận 11. Có lần nó được ba nó dẫn vào xưởng xem thợ thổi chai. Giữa khu xưởng sản xuất có một cái lò khổng lồ được dùng để nấu những chai, lọ thủy tinh bể. Bây giờ nó mới biết tại sao, thỉnh thoảng trong khu xóm của nó xuất hiện những ông già người Tàu, gánh hai cái cần xé vừa đi vừa rao “mua chai, ly “pể”... lây... có ai bán chai pể... khôn...”. Đôi khi ông già người Tàu này là nơi “cung cấp” cho tụi con nít trong xóm tiền bánh kẹo khi tụi nó bán cho ông những cái chai bể, những tĩn nước mắm không. Thằng Mai cũng nằm trong số hưởng “đặc ân” của ông già gánh ve chai mà tụi nó gọi là ông địa do cái dáng vẻ mập mạp, lùn tịt. Đôi khi, trên đường đi học về, thấy một cái chai, ly bể nằm trong đống rác, thằng Mai lượm bỏ vào cái cần xé nhỏ để trong góc nhà. Cái cần xé là kho tàng ve chai bể của ba anh em nó. Lúc đó nó không biết ông địa mua ve chai bể để làm gì. Có lần nó hỏi thì ông địa trả lời: “Hà... ngộ bán lại cho mấy lò thổi ve chai lớ...’’.
Khi vào lò thổi ve chai nó mới biết được chai bể được các ông mua ve chai dạo bán lại cho các lò, được thợ nấu ve chai phân loại, rửa sạch sau đó bỏ vào một cái lò thật là bự để nấu chảy ra thành một chất sền sệt, đỏ rực và nóng kinh
khủng. Những người thợ thổi chai, tay cầm một ống thủy tinh dài ngoằng, một đầu hứng thủy tinh vừa nấu chảy từ những cái lò đặt trước một cái khuôn rồi kê miệng lên một đầu của ống thủy tinh dài thổi thật mạnh. Chất thúy tinh lỏng nằm trong khuôn qua sức thổi của người thợ thổi chai sẽ thành hình cái chai dài hoặc bầu tùy theo hình dạng cái .khuôn mà thủy tinh được thổi vào. Những người thợ thổi chai, do thường xuyên dùng hơi thở thổi thủy tinh nóng nên dễ bệnh khô phổi.
Ba thằng Mai bị bệnh khô phổi và phải vào nằm trị bệnh tại trung tâm bài lao Hồng Bàng. Khi nó vào thăm thì nó thấy thân hình ba nó, trước kia lực lưỡng dường nào bây giờ giống như hình dạng bộ xương mà nó học trong giờ cách trí năm lớp ba. Ông xoa đầu bằng bàn tay khô đét mà nó cảm nhận được qua những ngón tay gần như chỉ còn da bọc xương nói không ra hơi, thều thào: “Sinh nghề tử nghiệp biết oán trách ai. Con ráng học để sau này đỡ khổ thân...”
Không bao lâu sau khi vào nằm ở trung tâm bài lao thì ba nó chết. Gánh nặng gia đình đè lên đôi vai gầy guộc của má nó. Thằng anh nó, đang theo học lớp đệ thất trường Quốc Việt phải nghỉ học đi làm ở một cơ sở làm cửa sắt vì má nó không thể chịu nổi học phí trường tư ngày càng cao theo mỗi bậc lớp, một phần là anh nó muốn tìm tiền phụ thêm để nuôi nó và đứa em gái ăn học cho thành tài. Anh nó nói với nó “mầy phải đậu đệ thất trường công mới được đi học tiếp chứ không có tiền học trường tư đâu”. Bởi vậy khi lên lớp nhất nó quyết tâm đậu cho được vào trường công. Lần đầu tiên, sau khi vừa học hết lớp nhất ở một trường tiểu học nhỏ, nó thi rớt đệ thất. Nó được anh nó khuyến khích học luyện thi đệ thất ở một trường chuyên dạy luyện thi của một ông giáo già có kinh nghiệm, ở lớp này, nó chỉ học tập trung những môn sẽ được dùng trong kỳ thi tuyển. Không hiểu sao, trong lớp học luyện thi này nó lại là một trong những đứa học sinh giỏi nhất lớp. Nó nghĩ là có thể ba nó phù hộ cho nó. Thoạt đầu nó định thi vào trường Mạc Đĩnh Chi nhưng theo lời ông giáo già nhiều kinh nghiệm khuyên nên nó nộp đơn thi vào trường Petrus Ký. Thật là hú hồn. Dù cho nó là thủ khoa của lớp chuyên luyện thi của ông giáo già đi chăng nữa thì nó chỉ đủ điểm để đứng vào danh sách học sinh đậu vớt. Học sinh đậu vớt chỉ có một cơ may được vào học là khi những học sinh đậu chánh thức nhưng lại không nhập học. Trong khi nó hụt hẫng và tiếc nuối với sự oán trách tại sao không chọn thi vào trường Mạc Đĩnh Chi vì nó chọn trường này thì với số điểm đó nó có thể trúng tuyển rồi thì dịp may rất hiếm khi xảy ra lại đến với nó: một học sinh trúng tuyển, con của một vị đại sứ đã theo cha mẹ ra nước ngoài. Thư của nhà trường gọi nó vào nhập học đến trong lúc nó đang phân vân nên đi học tiếp hay đi làm. Lức này nó cũng chán nản việc học vô cùng vì nó nghĩ rằng con nhà nghèo như nó không thể nào sống được để đi học. Nhìn vào tất cả những thằng bạn trạc tuổi trong xóm nó, kể cả những người bạn của anh nó, có ai được đi học đâu. Học hết lớp nhất, thi rớt đệ thất rồi kiếm công việc gì đó để mưu sinh. Có thằng thì có nghề có ngỗng đàng hoàng, còn có thằng thì sống bằng đủ thứ nghề không tên, kể cả trộm cắp và móc túi.
Với trình độ của nó, với một gia đình mà sự học không phải là truyền thống, tự học mà không có người kềm cặp, và không có tiền để đi học thêm ở những lớp riêng nên thằng Mai gần như là những thằng luôn đội sổ trong lớp từ đệ thất. Nó được lên lớp cũng với thứ hạng đội sổ vì nó nhờ những môn học thuộc lòng như sử, địa, công dân, kim, cổ văn, nhạc, họa để kéo điểm trung bình lên lớp bù lại những môn học yếu như toán, lý, hóa. Nhiều đứa bạn như thằng Dũng, thằng Thạch, thằng Khải đã thương tình cho nó “cọp dê” các môn Anh văn, toán, lý, hóa vào những kỳ thi này để nó khỏi bị “si-rô” điểm mà không đủ điểm lên lớp.
Cũng phải nói thêm cho công bằng, trong khi những đứa bạn của nó, ngoài giờ học về nhà còn có thời gian để ôn lại bài thì sau giờ học ở trường nó còn phải đi làm phụ xe ba bánh cho chú Hóa trong xóm để kiếm tiền mua sách, vở cũng như tiêu vặt. Cũng như sáng nay.
Lấy hai đồng mà mỗi sáng má nó để sẵn trên bàn, đó là số tiền mà má nó cho để ăn sáng. Nó mặc bộ quần áo bằng ka ki dính đầy dầu mỡ mà anh nó để lại, đội cái nón lên đầu rồi đi ra đầu ngõ. Với hai đồng nó có đủ tiền để ăn khúc bánh mì cá mòi, hoặc xíu mại nhưng nó sẽ không còn tiền để uống nước buổi chiều, nếu như sáng này không tìm được mối đi xa nào. Nó đi ra đầu ngõ tìm đến gánh bánh mì của bà Tư móm ở đầu ngõ.
- “Cho con ổ bánh mì không bà Tư.”
Bà Tư luôn nhai cái miệng móm mém. Thằng Mai tự hỏi không biết bả nhai cái gì mà nhai liên tục vậy không biết. Bà Tư lấy một ổ bánh mì đang nướng trên cái dĩa đựng than nhỏ đặt dưới một quang gánh, gói bằng miếng giấy nhựt trình đưa cho nó. Thằng Mai mở gói, lấy miếng giấy nhật trình, rồi đưa cho bà Tư ổ bánh mì:
- “Cho con ổ bánh mì không bà Tư.”
Lần này bà Tư không nhai nữa mà lại phàn nàn:
- “Sao mầy ưa xin đồ chua quá vậy mậy? Lần nào cũng xin...”
- “Bánh mì có đồ chua ăn mới ngon!”
Nó không dám nói thiệt là ăn bánh mì không thì ngán chết.
- “Cho con xin miếng nước tương bà Tư.”
- “Sao mày không xin thêm miếng thịt nữa?”
- “Dạ, con sợ bà Tư không cho chứ bà Tư cho là con xin liền.”
Bà Tư móm cầm chai tàu vị yểu hiệu Ba con mèo xịt vào ổ bánh mì cho nó. Nó làm bộ khen cho bà Tư vui lòng:
- “Tàu vị yểu Ba con mèo là tàu vị yểu thứ thiệt chứ không phải tàu vị yểu nấu bằng xương bò, mấy tờ nhựt trình nói như vậy. Chắc tàu vị yểu này mắc hơn mấy thứ tàu vị yểu kia hả bà Tư?”
Bà Tư tiếp tục nhai cái miệng không:
- “Mấy thằng ăn học chữ nghĩa như mầy biết nhiều thứ chuyện dữ ha.”
Nó không hiểu bà Tư nói vậy là khen hay chê, tuy nhiên nó cũng chẳng cần vì nó đang cầm khúc bánh mì nóng hôi hổi. Nó cầm ổ bánh mì đưa lên mũi ngửi để tận hưởng mùi thơm đạc trưng của bánh mì. Mùi bánh mì này chỉ có những lò bánh mì than mới có chứ mấy lò bánh mì điện thì làm sao có được. Không chịu nổi cái mùi thơm lựng làm bụng nó réo sôi sùng sục, nước miếng nó bắt đầu ứa ra, nó đưa ổ bánh mì giòn tan lên miệng nhai ngốn ngấu. Đồ chua và vị mặn của tàu vị yểu làm cho vị ngọt của ổ bánh mì thêm đậm đà. Chẳng mấy chốc, nó liếm mép để tìm xem còn vụn bánh mì nào dính trên khóe miệng hay không. “Tiêu diệt” xong ổ bánh mì, nó đến vòi nước ở cái “phông tên” công cộng làm vài ngụm là coi như đã no suốt buổi sáng. Sau đó nó ra đầu cầu Bình Tiên ngồi chờ xe ba bánh gắn máy của chú Hóa chạy ngang xem có đi được mối hàng nào không. Trước nó cũng có mấy thằng trạc tuổi nó ngồi đợi xe ba bánh của chú Hóa đến. Một thằng nhìn nó nói:
- “Cha, có bộ đồ coi gồ ghề há.”
- “Ừ, mặc đồ này để khiêng đồ cho dễ.”
- “Ngày hôm qua kiếm được bao nhiêu?”
- “Ngày hôm qua tao đâu có đi.”
Thằng nhỏ kia, phun nước miếng xuống đất than thở:
- “Đ. M gần tết rồi mà không kiếm được “miếng gió” nào hết, coi như “mông tại”..”
Từ đàng xa, tụi nó đã thấy bóng dáng chiếc xe ba bánh gắn máy của chú Hóa xuất hiện. Chú Hóa chỉ chuyên chở thuê cho những cơ sở làm đồ sắt nên mỗi lần chở chú phải cần từ hai đến ba thằng phụ giúp chú khiêng hàng chất lên xe và xuống xe. Mỗi chuyến chú cho mỗi đứa hai đến ba đồng. Nếu như ngày nào nhiều mối tụi nó cũng kiếm được năm, sáu đồng. Công việc chỉ nặng nhọc khi khiêng hàng lên, xuống chứ lúc ngồi trên xe ba bánh chạy dọc phố phường thì như được ngồi trên xe xích lô máy đi chơi không tốn tiền. Chú Hóa chạy xe ba bánh gắn máy như một tay đua xe, phóng ào ào trên đường phố làm mấy ĩhằng nhóc ngồi trên xe la hét ỏm tỏi. Tụi nó càng la chú Hóa càng phóng xe nhanh hơn.
Chú Hóa, đầu hớt cao gần như trụi lũ với hàm răng hơi hô nên nhìn gương mặt chú không biết là chú có đang cười hay không và cũng để cho chú không mím môi được khi rồ hết ga. Khi rảnh, hoặc ngày nào không có mối chạy xe, chú đem chiếc xe Goebel - mà chú gọi là con ngựa chiến, vào sân Cộng Hòa để luyện tập cho những cuộc đua xe thỉnh thoảng được tổ chức tại đây. Thằng Mai nhớ lại có lần nó được chú Hóa cho một diễm phúc là làm người “chăn xe” cho chú trong lần đầu tiên chú tham dự một cuộc đua xe gắn máy giành cúp nổi tiếng. Mỗi tay đua tham dự cuộc thi đều có một “chăn xe”. Để mình không bị mất uy, chú Hóa kêu thằng Mai đi theo làm chăn xe vì thằng này ít nhiều cũng có chữ nghĩa, dễ ăn nói với người ta. Thật ra “chăn xe” là từ dùng để chỉ công việc của mấy chú “tiểu đồng” là lau xe, rửa xe, chùi bugi, coi lại bánh xe cho chiếc xe sau mỗi chặng đua chứ chẳng có dùng miếng chữ nghĩa nào như chú Hóa tưởng. Nhờ làm việc “chăn xe” mà nó được ở dưới sân, nhìn được tận mắt các tay đua xe gắn máy nổi tiếng trong các giải đua xe gắn máy trước đây. Và nó cũng được thấy chú Hóa trong bộ quần áo của cua-rơ đua xe gắn máy ngầu hết biết. Chú đội cái mũ bảo hiểm trên đầu kín mít chỉ chừa hai con mắt và cái lỗ mũi để thở, mặc một bộ quần áo bảo hộ giống như quần áo phi công. Nhìn chú trong bộ dạng này thì không ai ngờ rằng đây là chú Hóa “hăng rô” chạy xe ba bánh máy.
Nó còn nhớ rõ như in khi chú đậu xe trong đội hình ở vạch xuất phát để chờ lệnh bắt đầu cuộc đua, chắc do căng thẳng nên chú rồ ga xe liên tục. Khi trọng tài phất cờ, chú cài số 1 rồi nhả tay “côn” mà quên rằng mình đang rồ hết tay ga nên chiếc xe chồm lên, bánh trước giựt cao lên khỏi mặt đất. Chiếc xe quăng chú ra khỏi đường băng, bay vào thảm cỏ, nằm một đống như lúc chú đang uống rượu say. Không ngờ thằng “chăn xe” có thêm nhiệm vụ mới là khiêng “anh hùng xa lộ” vào sân với xương bánh chè không chiu nằm đúng chỗ mà trời sinh ra. Chú Hóa, lần này đã tính không lầm khi kêu thằng “có chữ nghĩa” đi "chăn xe”. Với cái miệng của nó khi diễn tả chú Hóa oai hùng trong bộ quần áo tay đua, rồi hình ảnh chú bay vào thảm cỏ do các tay đua khác chơi xấu. Té ra chữ nghĩa của nó được dùng vào việc nói dóc!
Với câu chuyện nầy nó kể cho mấy thằng bạn đi khiêng hàng chung suốt cả tháng làm tụi này nhìn nó với một cặp mắt ngưỡng mộ nó giống như ngưỡng mộ chú Hóa. Riêng chú Hóa rời bỏ mộng trở thành tay đua chuyên nghiệp từ đó để trở về với việc đua xe ba bánh gắn máy khi chở hàng. Nhờ chạy xe nhanh nên chú được các chủ hàng tín nhiệm, chứ đâu có biết rằng thinh thoảng chú cũng bị cảnh sát công lộ phạt vi cảnh vì tội chạy xe ẩu. Lâu lâu có nhớ đường đua, chú chạy chiếc xe Goebel vào sân Cộng Hòa, cua cua vài vòng sân cho đỡ nhớ lại ngày nằm dài trên thảm cỏ.
Chiếc xe chạy qua mấy con đường lớn rồi tấp vào chành gạo “Vạn Thịnh” ở đường Phạm Phú Thứ. Chú Hóa ngừng xe, bảo với tụi nó:
“Tụi bây vào khiêng gạo chất lên xe.”
Chú Hóa dẫn hai đứa vào trong chành, chỉ vào chỗ các bao gạo đã được chuẩn bị sẵn để chuyển đi. Thằng Mai với thằng nhỏ kia, mỗi thằng nắm ở hai đầu bao ì à, ì ạch khiêng từng bao gạo chất lên xe. Khiêng mới được vài bao gạo thằng Mai có cảm tưởng như ổ bánh mì mới ăn hồi sáng đã biến đi đâu mất. Tay nó run lên. Thằng nhỏ kia hỏi:
- “Mầy sao vậy?”
- “Hổng biết sao, tao đói quá.”
Thằng nhỏ kia móc trong túi quần xọt, lấy ra củ khoai lang đưa cho thằng Mai:
- “Mầy ăn đỡ đi. Chút nữa chạy ngang đâu nói chú Hóa ngừng lại mua khúc bánh mì không gặm là đỡ rồi..”
Thằng Mai cầm lấy củ khoai, không khách sáo, nhai lấy nhai để. Nó cảm thấy dễ chịu dần. Nó không hiểu sao lúc này mỗi buổi sáng nó ăn một ổ bánh mì vẫn chưa đủ no. Nó nghĩ, chút xíu nữa có tiền ăn tô hủ tíu cho nó đã. Hôm nay vác gạo kiểu này chắc cũng kiếm “khẳm tại”.
Đi xe cho chú Hóa, có khi có tiền, có khi không, tùy theo ngày đó chú tìm được mối hàng nhiều hay ít không bằng lúc nó đi theo thằng Lúi làm lơ xe đò chạy Lục tỉnh lúc nó nghỉ hè năm lớp đệ lục. Thằng Lúi, lớn hơn thằng Mai vài tuổi nhưng đã bỏ nhà đi giang hồ sớm. Nó làm đủ thứ nghề không tên, nắng gió giang hồ ở các bến xe, sòng bài, ổ điếm đã làm mặt nó chai sạn. Nó thường mặc cái áo lính biệt động quân rằn ri, cắt cụt tay áo tới vai để lộ những hình xăm chằng chịt ngay cánh tay, dấu ấn của trại tế bần. Dù hồi nhỏ hai thằng chơi thân với nhau, đã từng rủ nhau xem hát cọp, đánh nhau với bọn con nít xóm Lò heo, nhưng khi gặp lại thì thằng Lúi giống như một đại ca, chơi với thằng Mai rất đẹp. Thằng Lúi vẫn thương thằng Mai như lúc hai thằng còn đi học ở trường tiểu học Bình Tây mặc dù bây giờ thằng Mai có chữ có nghĩa hơn nó nhiều. Thằng Lúi thường bao thằng Mai uống cà phê sữa đá khi trong túi nó rủng rỉnh tiền có được từ việc đi làm lơ xe cho các chuyến xe đò chạy Lục tỉnh. Một hôm, đang ngồi uống cà phê thì thằng Lúi rủ:
- “Đ. M mầy đang nghỉ hè hả? Có định đi làm gì môi tại không?”
- “Tui đâu có biết làm gì đâu anh? Làm cái gì cũng phải làm lâu, làm vài tháng chủ đâu có chịu. Chắc đi theo thằng Chim đi vá xe...”
Thằng Lúi phun nước miếng chửi thề:
- “C... đi theo tụi thằng Chim kiếm được bao nhiêu tiền. Mầy đi theo tao làm lơ xe phụ, suốt kỳ nghỉ hè này mầy kiếm vài bách như chơi. Mà còn được ăn uống ngon lành nữa...” Vài trăm! Vài trăm là bao nhiêu? Hai trăm, ba trăm... Nó chỉ cần có một trăm thôi là cũng đủ tiền mua thêm sách giáo khoa cũ, sắm thêm bộ đồ vì nó đã nhổ giò, cái quần cũ đã rút lên khỏi mắt cá. Vậy mà nó có tới vài trăm, ừ, dư chút đỉnh mua thêm quần áo cho con Thắm - em nó.
- “Nhưng tui có biết làm gì đâu anh.”
- “Dễ ẹt. Khiêng đồ hành khách lên mui xe. sắp xếp chỗ ngồi... thu tiền... khách...”
Thằng Mai nghĩ đến tướng tá của mình, rồi nó ngập ngừng:
- “Nhưng chủ xe chịu không anh?”
- “Xì. Tao nói một tiếng là con mẹ chủ xe đò chịu liền.”
Nhân lúc anh nó đi theo thầu khoán lên Biên Hòa làm thợ hồ, nó chỉ nói với má nó là nó tìm được việc làm ngắn ngày, ăn cơm và ở nhà chủ. Ngày hôm sau nó theo thằng Lúi ra bến xe Petrus Ký nằm ngay góc đường Thành Thái - Petrus Ký để gặp bà chủ hãng xe đò Phi Thanh. Sau khi nghe thằng Lúi giới thiệu thằng Mai sẽ là phụ lơ cho nó, bà chủ nhìn thằng Mai ước lượng như đang mua gà hay mua vịt:
- “Sao nó nhỏ xíu con vậy. Làm sao đủ sức giành khách với mấy hãng xe đò khác?”
- “Bà chủ khỏi lo. Chuyện giành khách là của tui.”
Bà ta ngần ngừ:
- “Thôi, mầy kiếm thằng khác đi.”
Thằng Lúi nói ngang phè:
- “Ừ để tui kiếm thằng khác thay nó. Còn bà kiếm thằng khác thay tui nghe. Mấy hôm rày bên Minh Hùng kêu tui hoài mà tui chưa qua.” Nó quay qua thằng Mai: “Đi mày, đi qua Minh Hùng làm mày...”
Bà chủ kêu giựt giọng:
- “Ê, đi đâu vậy mậy. Tao nói chơi mà bỏ đi sao. Ừ, kêu thằng bạn mày vô làm luôn. Bắt đầu chuyến tài 3...”
Thằng Lúi đã nắm được thóp bà chủ. Mỗi hãng xe đò cần phải có những thằng lơ xe thật ngầu, thật chì, đã từng vào trại Tế bần hay Chí Hòa càng tốt. Chạy xe đò đường dài là phải cạnh tranh lẫn nhau để giành khách. Nhiều khi xe của hãng A đến trước trước, đang chuẩn bị đưa khách lên xe thì xe đò sau chạy trờ tới. Thằng lơ của chiếc xe đò sau ỉíền nhảy xuống xe, nhìn lơ thằng xe đò trước, hất hàm “Ê, khách của tao mà giành hả?” Thế là chuyến xe đò trước phải để khách lại. Đã có nhiều trận thanh toán nhau giữa các lơ xe bằng maniquen, cờ-lê mở bánh xe và cả dao nữa. Thằng lơ xe nào gan lì, chịu chơi thì sẽ tồn tại trong những chuyến đi đường dài. Thằng Lúi đã tồn tại nhờ những ngày ở trại Tế bần, học đủ cách chơi với bọn anh chị giang hồ giới xe đò. Bà chủ hãng xe đò Phi Thanh phải dựa vào nó. Bà còn đang tính mua cho nó cái giấy hoãn dịch giả khi nó đến tuổi đi quân dịch.
Tất nhiên thằng Mai đã nể thằng Lúi nhưng thấy thái độ nó nói chuyện với bà chủ nó còn phục hơn. Thấy còn sớm, thằng Lúi dẫn nó đi ăn mỳ Lakai ở ngã sáu. Lần đầu tiên nó được ăn mì ở khu nổi tiếng của người Tàu nên vô cùng e dè, khép nép. Trong khi đó thì thằng Lúi xử sự như một khách hàng thường xuyên vào những khu vực sang trọng như thế này. Thằng Lúi ngồi dựa ngửa, dõng dạc gọi “Ê, phổ ky, cho lượng cô phảnh - mìn. Lượng búi... lượng búi... cà phê sữa.” Mấy anh phổ ky người Tàu dạ vang rân. Đâu có ai biết tụi nó là lơ xe đò đâu. Có tiền là làm “xì thẩu” ngay!
Ăn no căng bụng, thằng Mai theo thằng Lúi trở về bến xe để bắt đầu ngày làm lơ phụ. Những chuyến xe đò đi Lục tỉnh, khi xuất bến thường dư một ít chỗ, nên các tài xế thường dừng xe đón khách ở dọc lộ trình. Công việc của lơ xe là sắp xếp cho khách chỗ ngồi, chất hàng hóa của khách lên mui xe và thu tiền của khách. Thằng Mai mới vô nghề chỉ được làm lơ xe phụ chứ chưa được làm lơ xe chính. Lơ xe chính là thằng Lúi.
Thằng Lúi phân công cho nó soát vé hành khách, kiểm tra xem hành khách ngồi đúng số ghế chưa rồi cùng thằng Lúi ra chất hàng hóa của hành khách lên nóc mui xe. Công việc cũng khá dễ dàng chỉ mệt nhất là lúc khiêng hàng hóa do nó chưa quen. Tuy vậy, nó vẫn làm hết sức mình và khi thằng Lúi nhìn nó cười ra vẻ hài lòng thì cảm giác mệt mỏi tan biến ngay. Nó không muốn làm mất lòng tin người đã tin tưởng nó.
Từ khi xe xuất bến đến khi qua khỏi cầu Long An, nó chỉ có việc duy nhất là đứng ở cửa lên xuống phía sau xe nhìn phong cảnh hai bên đường lướt qua vùn vụt hai bên mắt nó. Đây là lần đầu tiên nó được đi xa, ra khỏi nhà mở rộng được tầm mắt như thế này. Thỉnh thoảng, theo lời thằng Lúi, nó lấy tay đập vào thân xe la lên “Vô... Vô...” khi đi ngang nơi nào có khu dân cư hoặc nơi có bà con nông dân phơi rạ ngoài đồng. Thật là lâu mới có hành khách, với hành lý tay xách nách mang, đứng bên lề đường đón xe. Thằng Lúi đứng ở cửa trên, chửi thầm trong bụng: “ĐM, khách như vầy là húp cháo rồi.”
Số tiền lơ xe và tài xế kiếm được do chia nhau tiền đón khách dọc đường. Tài xế đã được lãnh lương cúa chú nhà xe nên chỉ hưởng được ít nhiều tùy theo lòng hảo tâm của thằng lơ bởi vì đây là nguồn sống chính của nó. Lơ xe không lãnh lương của chủ nhà xe. Có chuyến xe thằng lơ có thể kiêm được nhiêu, cũng có chuyến tụi nó phải “húp cháo rùa”. Những chuyến đi xui xẻo như vậy thằng Lúi thường nghĩ là do nó kiểm tra hàng hóa hành khách mang theo không kỹ. Có thể họ đã mang theo những con vật xui xẻo như rùa, mèo mà nó không được biết. Hoặc tệ hơn nữa là mấy bà có chửa, bụng thù lù. Xe có chở rùa ư thì xe sẽ chạy như rùa bò vì trên đường sẽ xảy ra bao nhiêu thứ chuyện không biết trước, khiến hành trình sẽ chậm lại. Có mèo ư? Tài xế và lơ xe sẽ nghèo vì không có khách dọc đường. Mấy bà bầu ư? Một người có bốn con mắt nhìn vào xe thi còn làm ăn gì nữa? Trước khi xe xuất bến, thằng Lúi đã dặn dò thằng Mai rất kỹ những điều cấm ky cho một chuyến đi đường dài. Ngoài ra phải lấy tiền xe của mấy người đón giữa đường cao hơn những hành khách mua vé trong bến. Ai không đồng ý thì... đuổi họ xuống vì lơ xe có được tiền nhiều hay ít là do khoản thu không vé này đây. Nhưng tuyệt đối không được lấy tiền mấy thằng cha dân vệ, địa phương quân, nói chung là thấy ai mặc đồ lính mà lấy tiền thì còn xui hơn xe có rùa, mèo hay đàn bà có chửa nữa!
Xe đến Bạc Liêu vào khoảng bốn giờ chiều. Giờ này bến xe hầu như vắng khách, thỉnh thoảng chỉ thấy một vài người đến hỏi chuyến xe tài nhứt về Sài Gòn xuất bến lúc mấy giờ. Xe thằng Lúi nghỉ đêm tại bến xe, mai xuất bến tài nhất vào lúc 5 giờ sáng.
Sau khi rửa mặt, tay chân thằng Lúi dẫn bác tài xế và thằng Mai vào quán nhậu gần bến xe. Bà chủ quán, người tròn lẳn, cổ đeo sợi dây chuyền vàng to như thể để tương xứng với cái cổ mập, tròn chia rõ ba ngấn đàng hoàng, hỏi thằng Lúi như một khách quen:
- “Lẩu cá, la-de con cọp như mọi khi hả mậy!” Nhìn thằng Maí bả hỏi “đệ tử mới hả, thằng cũ đâu rồi? Thằng quỷ đó còn thiếu tiền mấy chai la-de rồi dông tuốt. Bán cho mấy thằng lơ xe kiểu này thì có ngày đóng cửa quán...”
Nghe bà chủ quán nói, bây giờ thằng Mai mới biết thằng Lúi cũng có thằng đệ tử trước nó. Thằng Mai nhìn cái cổ bà chú quán rồi tự hỏi không biết bà này có phải ma lai không rồi tự cười với mình. Đối với nó chuyến đi đầu tiên như vầy là quá vui. Một chút nữa thằng Lúi cho nó tiền làm lơ thì còn vui ác!
Sau khi cụng ly la-đe với anh tài xế, thằng Lúi móc tiền trong túi ra để tính toán xem chuyến xe này kiếm được bao nhiêu. Nó ngồi vuốt những tờ giấy bạc cho thẳng thớm, sau đó thấm nước miếng vào ngón tay rồi thong thả đếm trước cặp mắt của anh tài xế.
- “Được 75 đồng. Hôm nay ế khách quá. Trước khi xuất bến có cúng không anh Hai?”
Anh Hai tài xế sẳng giọng vì thấy thằng này có vẻ trút gánh nặng lên chuyện cúng bái của tài xế:
- “Sao lại không có mậy! Phật Bà Quan âm, thổ địa thần tài, ai tao cũng cúng hết... Đi xe về đây êm trót lọt, không bị kẹt hai cái bắc Mỹ Thuận, cần Thơ, đường không bị đắp mô là ngon rồi, còn đòi gì nữa mậy?”
Nó đưa cho thằng Mai hai chục, anh tài xế 15 đồng, còn bao nhiêu nó cất vào túi. Anh Tài xế nằn nì:
- “Mầy chia cho tao thêm 10 dồng nữa đi, lúc này tao kẹt quá.”
- “Thôi anh. Lúc nào anh chẳng kẹt. Ai biểu đi đâu cũng có vợ lớn vợ nhỏ làm chi...”
- ‘Mầy không biết, đời tài xế thằng nào không hai ba vợ mậy. Đến bến nào thì cũng phải ráng kiếm chỗ ngủ chớ.”
- “Đ. M Sao không mướn ghế bố ngủ, hay ngủ trong xe như tụi tui nè..”
- “Tụi bây làm lơ có thể kiếm nghề khác còn mấy thằng tài xế thì cả đời phải gắn với cái vô lăng, đến bến tỉnh nào thì cũng có cái chỗ để ngủ chớ. Như thằng nhỏ Mai nay nè, làm chừng vài tháng là nghỉ, mầy cũng vậy thôi...”
- “Kiếm vợ thì để vợ nó nuôi.”
Bưng ly la-de rót vào miệng nghe cái ọt như người sành điệu, thằng Lúi khề khà:
- “Tui hả, Đ.M tui lấy vợ là vợ phải nuôi... Tui chắc bỏ nghề lơ xe không được. Chừng một hai năm nữa đi quân dịch rồi tính. Biết đâu mà lần...”
Nó vén áo cho anh tài xế và thằng Mai xem hình xăm: “Đ. M đời tụi này như cái quan tài với ba ngọn đèn cầy vậy. Khi tôi chết ai là người xây nấm mộ, cạnh quan tài ai khóc tiễn đưa tôi.”
Nó quay qua, đưa ly la-de cho thằng Mai:
- "Uống đi mầy, cho biết với người ta. Thằng này đang đi học, có chữ, có nghĩa ráng nghen mậy, ráng để khỏi phải đi lính. Mầy phải làm kỹ sư, bác sĩ, trạng sư cho tao để sau này tao nói với mọi người là tao có bạn làm kỹ sư, bác sĩ chớ...” Thằng Mai cười. Nó cũng ráng học nhưng không biết sức học nó có theo nổi những thằng bạn trong lớp không. Bây giờ ráng kiếm tiền phụ má nó tiền sách vở cái đã, để má nó khỏi lo lắng.
Chiều xuống dần. Quán nhậu gần bến xe tỉnh ly đèn mờ âm thầm, buồn bã. Bến xe tỉnh ly chiều tối quạnh hiu như những kiếp người lưu lạc, tha phương. Mùi nước tiểu bốc lên khai ngấy theo từng cơn gió thốc đến. Ly la-de vơi. Chai la-de cạn. Vài cái ghế ngả nghiêng. Giọng ca của sầu nữ Út Bạch Lan vang ra từ cái radio “National - ấp chiến lược” nghe nghèn ngẹt làm buồn thêm bến xe vắng khách. Thinh thoảng thấy một vài bóng người vào bến xe ngồi chờ chuyến xe buổi tối. Thằng Lúi hỏi anh tài xế:
- “Xe đêm còn mấy chuyến?”
- “Chẳng biết. Tùy theo tình hình chiến sự.”
- “Anh ngon quá há, không phải đi lính."
- “Tao có tới mấy đứa con lận mậy, nhưng cũng tốn tiền mua giấy hoãn dịch vì lý do gia cảnh chớ mầy tưởng tự nhiên mà tao được hoãn dịch à..."
Thằng Mai nghĩ đến anh nó. Sang năm là anh nó đã đến tuổi bị bắt đi quân dịch, má nó đang tìm cách kiếm tiền để chạy giấy hoãn dịch cho anh nó. Có người đi quân dịch đã bị chết khi ra trận. Có người bị cụt tay, cụt chân khi trở về xóm. Như lời bài hát trong một bài ca buồn qua giọng Duy Khánh “Bạn bè tôi tới lớp tuổi ra đi. Dăm đứa thân nay chẳng thấy trở về” Bởi vậy trong xóm nó có rất nhiều thanh niên trốn lính.
Làm xong ba chai la-de, anh Hai tài xế từ giã hai thằng để về nhà cô vợ bé bên cầu quay. Thằng Lúi chọc quê:
- “Ê, Đ.M... nhớ giữ sức khỏe, mai dậy sớm chạy chuyến tài đầu nghe cha...”
Hai tài xế lè nhè:
- “Đ. M mầy mới là thằng nhớ giữ sức đó nghe con... Mẹ, lần trước mầy quần thảo với con Hồng suốt đêm sáng bò lê, bò càng dậy không muốn nổi mà còn nói tao. Thôi tao dông nghe...”
Thằng Lúi dẫn thằng Mai đi vào bến xe để mướn ghế bố ngủ. Đã gần 9 giờ đêm, trước hàng hiên các phóng bán vé nằm trong khuôn viên bến xe những chiếc ghế bố - đã được giăng sẵn mùng - nằm kề nhau san sát. Trong ánh sáng lờ mờ của những chiếc đèn tuýp chiếu ra từ trong phòng vé thằng Mai thấy trên những chiếc ghế bố đã có người nằm. Có một vài tay lơ xe hay tài xế vẫn còn thức, ôm cây đàn ghita hát nghêu ngao bài “Tình anh bán chiếu” với giọng ca buồn bã chen lẫn với tiếng rao "Ai ăn hột vịt lộn, chè đậu đen, bún tàu, đường cát trắng không...?” của bà bán chè đêm đang ngồi trước cái đèn dầu hột vịt soi leo lét cái thúng tro đang ủ nóng hột vịt lộn và cái nồi chè đang nghi ngút khói. Một vài tay dân vệ hay lính địa phương quân đeo súng carbin đi tuần tra vòng vòng trong bến xe rồi mất hút trong mấy quán cóc bán khô mực nướng nhậu với rượu đế. Chi riêng có những chiếc xe đò thì nằm im lặng dường như nghỉ mệt để mai bắt đầu cuộc hành trình thường xuyên của nó.
Thằng Mai nằm trằn trọc. Đêm xa nhà đầu tiên trong đời làm nó khó ngủ. Quanh đâu đây có tiếng ngáy đều đều nghe đến từ một giấc ngủ ngon lành. Nó hết quay qua rồi quay lại trên ghế bố. Mặc dù người nó thấm mệt sau cuộc hành trình từ Sài Gòn xuống Bạc Liêu - một quãng đường dài hơn 300 cây số với hai cái bắc. Để qua hai cái bắc Mỹ Thuận và Cần Thơ, dù không bị kẹt xe, đã mất hai tiếng đồng hồ. Bù lại, nó được đứng trước mũi của chiếc phà nhìn con sông Cửu Long đục ngầu phù sa mênh mông, tít tắp - con sông mà nó đã học trong bài địa lý mà bây giờ nó mới biết.
Thằng Mai nghe có tiếng phụ nữ thầm thì. Có tiếng cười từ cái ghế bố của thằng Lúi. Té ra thằng này vẫn chưa ngủ, nhưng tại sao lại có tiếng của phụ nữ. Chắc thằng này có “ghệ” giống như anh Hai tài xế. Nó giật mình. Một bàn tay đang thò vào mép mùng của nó, vén lên. Một gương mặt phụ nữ đầy phấn, mùi dầu dừa toát lên nồng nặc nhìn nó cười: “Đi không anh, một “dù” năm đồng. “Xào khô” hay “xào ướt” gì cũng được.”
Nó ngồi bật dây, ôm cái mền vào người thụt lui:
- “Không... không...”
Nghe giọng nói của nó, người phụ nữ thả cái mùng xuống, chửi thề:
- “ĐM... tối nay xui rồi. Thằng này còn con nít..”
Giọng một người phụ nữ khác vang lên:
- “Con nít người lớn gì, cổ tại là chơi mút mùa Lệ Thủy. Con nít còn đã nữa... Đồ din mà còn chê... hé... hé...”
Dù run cầm cập nhưng thằng Mai vẫn nghe được tiếng thở hổn hển, tiếng thì thầm, tiếng rên và tiếng cười nho nhỏ cùng tiếng chuyển động từ chiếc ghế bố của thằng Lúi. Rồi nó nghe tiếng chửi thề của thằng này:
- “ĐM... đồ điếm thúi...”
Trong một ngày làm phụ lơ xe đò nó đã biết được nhiều điều mà trường học không dạy nó, trong đó có cả việc biết thêm về thằng Lúi. Những điều này có nên học không?!

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 13 Aug 2013, 13:20

 Chương 17

Nó đã đi được với thằng Lúi ba chuyến xe. Mỗi chuyến đi đến những tỉnh khác nhau. Điều này làm thằng Mai đỡ buồn chán vì nó biết được thêm nhiều nơi, ăn nhiều món lạ và sướng nhất là lại để dành được gần cả trăm đồng. Thật là một thời kỳ huy hoàng vì chưa bao giờ nó được ăn no, ăn ngon mà lại còn có tiền để dành nữa. Với số tiền này, ngoài việc cho tiền con Thắm mua ít quần áo mới, nó còn dư tiền để đầu năm học mua sách giáo khoa và vài bộ quần áo, khỏi phải xin tiền mẹ nó.
Buổi chiều nay xe nó xuất bến tài chót, là chuyến xe cuối cùng từ Rạch Giá về Sài Gòn. Trời đã chạng vạng khi đến ngã ba lộ tẻ thì có một người đàn ông đứng giơ tay vẫy đón xe. Thằng Lúi ra hiệu cho xe ngừng lại, còn thằng Mai - theo sự phân công thì nhảy xuống, xách đồ của người hành khách chất lên xe. Bỗng dưng thằng Lúi kêu lớn:
- “Khoan mầy, không rước khách này... Có con mẹ có chửa, bụng lùm lùm...”
- “Mấy anh làm ơn... Nãy giờ, tôi đón nhiều xe lắm rồi mà không xe nào chở, cháu tôi nó sắp sanh rồi... Mấy anh tính bao nhiêu tiền vé cũng được.”
Thằng Mai nghe giọng nói quen hết sức. Nãy giờ nó chỉ lo khom người xuống xách hành lý chẳng nhìn người đàn ông. Nó đứng lên, nhìn người đàn ông đang năn nỉ thằng Lúi. Đập vào mắt nó đầu tiên là màu của một cái quần rất quen thuộc mà lớp đệ thất hàng tuần nó thấy ba lần. Cái quần màu tím than của thầy Sinh - sữa dê.
Thầy Sinh - sữa dê dạy môn Anh vãn cho tụi thằng Mai năm đệ thất. Thầy có hai điều đặc biệt mà nó nhớ mãi. Mỗi khi đến giờ ra chơi, thầy đều lấy một chai sữa trong cái cặp da ra uống, ngoài ra có một điều đặc biệt vô cùng dễ nhớ khi gặp thầy, dù nhìn từ xa: đó là cái quần màu tím than mà thầy mặc một cách trường kỳ.
Thằng Phạm An Ninh luôn luôn thắc mắc một điều là không biết thầy uống sữa gì? Một hôm, trong giờ ra chơi, sau khi đã làm xong “thủ tục”, thầy cất chai sữa còn dư vào cái cặp bằng da, bự tổ chảng đã lên màu bóng lưỡng, rồi đi ra khỏi lớp. Nhờ một thằng đứng canh trước cửa, thằng Ninh lén mở chiếc cặp da, lấy ra chai sữa bí mật, rồi nó đưa lên miệng, liếm một miếng. Nó nhắm mắt, chăm chắp cái miệng rồi phán: “Sữa bò tươi... sữa bò tươi tại bây ơi...”
- “Chớ không phải sữa của nghệ sĩ Kim Cương sao?” Thằng Thuật, già đầu nhất lớp nói hàm ý hai nghĩa.
- “Không, tao nghi sữa Thanh Nga quá”, thằng Thạch góp vào. Thằng Ninh dứt khoát:
- "Tao nói là sữa bò tươi, nhà tao nuôi hàng trăm con bò ở dưới quê..”
- “Thôi đừng nổ mày”, thằng Thạch chọc quê thằng Ninh, vì thằng này thuộc loại vua xạo trong lớp. Cái gì nhà nó cũng có và cái gì nó cũng biết trừ cách giải mấy bài toán hình học thì trớt huơ, trớt hướt.
- “Để tao thử cho.”
Thằng Hưng, tròn quay như thằng cha vỏ xe Mít-sơ-le, lạch bạch đi lên, lấy chai sữa từ tay thằng Ninh, đưa lên mũi ngửi trước. Nó hít hít cái lỗ mũi, rồi giống như thằng Ninh, đưa chai lên miệng uống một miếng. Nó reo lên, chắc nịch:
- “Sữa dê. Tao bảo đảm là sữa dê”
Thằng Ninh nổi khùng vì có thằng dám giành quyền dự đoán sữa với nó:
- “Mầy biết con c... gì... Sữa này là sữa bò tươi...”
Thằng Hưng cũng tức lên:
- “Ê, không có chửi thề nghe... sữa dê, tao nói là sữa dê!”
- “Sao mầy biết?”
Lúc này mặt thằng Hưng bỗng dưng đỏ lên, nó lí nhí, ngập ngừng:
- “Tao... tao... có uống sữa... dê”
Thằng Ninh vẫn tiếp tục giành quyền xác định sữa bò tươi của mình:
- “Sữa bò... bờ o bo... huyền bò... Mầy xạo vừa thôi, lớn như mầy mà còn uống sữa nữa hả. Bộ nhớ đôi dòng sữa mẹ của Tạc-dăng à?”
- “Sao thầy Sinh lớn rồi mà còn uống?” thằng Hưng vặc lại.
Bây giờ là cách thức của thằng Thạch giải quyết “trận đấu sữa”:
- “Ê, cá tụi bây. Thằng nào bắt theo thằng Hưng giơ tay lên, còn thằng nào bắt thằng Ninh giơ tay lên. Thằng thua chung thằng ăn một cái bánh dừa. Tao bắt theo thằng Hưng, tao nói sữa dê.”
Thế là theo sự dẫn dắt của thằng Thạch, thằng chuyên môn tổ chức bắt cá ăn bánh, tụi trong lớp chia làm hai phe. Số đông theo phe thằng Ninh. Thằng Thạch nói tiếp:
- “Vậy là thằng nào theo phe thằng Hưng một ăn ba nghe. Thua thì chung ba cái, ăn thì ăn ba cái chịu không?”
- “Nhưng lấy gì để chứng minh là sữa dê.”
Thằng Hưng nói, giọng chiến thắng:
- “Tao chứng minh được.”
Tụi nó đồng lòng bắt cá như thằng Thạch quy định. Thằng Ninh kêu lên:
- “Rồi, thằng Hưng chứng minh đây là sữa dê đi. Dám đưa qua phòng thí nghiệm lắm à!”
Thằng Hưng không nói, không rằng, đi xuống bàn nó ngồi, lấy trong cặp ra chai sữa:
- “Nè, mầy uống coi giống chai sữa của thầy Sinh không?”
Nó ngập ngừng, hơi quê vì phải nói ra bí mật của nó:
- “Ngày nào tao cũng uống sữa dê mà không biết sao được.”
Thằng Ninh lấy chai sữa của thằng Hưng, đưa lên miệng uống thử một miếng. Nó nói thầm “chết cha đúng là sữa dê rồi”, nhưng nó vẫn nói cứng:
- “Sữa bò chứ sữa dê sao được. Đây là sữa bò, sữa bò...”
Sở dĩ nó ăn gian như vậy vì nó biết rằng ngoài nó và thằng Hưng ra, không thằng nào trong lớp có thể phân biệt được sữa dê và sữa bò.
Bên phía thằng Hưng và thằng Thạch thì lại không chịu kết quả do thằng Ninh đưa ra. Trong lúc hai bêu đang cãi nhau như mổ bò thì thằng Thạch chợt có ý kiến:
- “Bây giờ chỉ có ý kiến của thầy Sinh là chắc nhất, tụi bây đồng ý không?”
Thằng Hưng và thằng Ninh trả lời:
- “Đồng ý.”
- “Nhưng làm sao hỏi thầy Sinh đây? Không lẽ hỏi thầy uống sữa gì hay sao?”
Thằng Dũng chen vào:
- “Câu hỏi có hai cách, gián tiếp và trực tiếp. Mình hỏi gián tiếp là được chứ gì?”
Thằng Thạch tiếp tục:
- “Để tao nhờ thằng Hòe.”
Thằng Thạch đi tìm thằng Hòe. Hòe là thằng học giỏi Anh văn nhất lớp, được thầy Sinh rất cưng. Tụi nó thấy thằng Thạch nói với thằng Hòe cái gì đó mà thằng Hòe gật đầu lia lịa.
Giờ ra chơi đã hết. Khi thầy Sinh vào lớp bắt đầu dạy giờ thứ hai, thì thằng Thạch giơ tay hỏi:
- “Thưa thầy, sữa bò tiếng Anh là gì thầy?”
Thầy Sinh trả lời:
- “Cow’s milk.”
- “Dạ, còn sữa dê thầy?”
- “Goat’s milk.”
Lúc này, theo kế hoạch của thằng Thạch, thằng Hòe giơ tay hỏi bằng tiếng Anh:
- “Exucuse me. Which do you like best, goat’s milk or cow’s milk?” (Thầy thích sữa nào nhất, sửa dê hay sữa bò?)
Thầy Sinh trả lời, cũng bằng tiếng Anh:
- “Goat’s milk, of course.”
- “You like goat’s milk?”
- “Yes, I do like!”
Thằng Hưng phấn khích cũng la to:
-“I like too.”
Phe thằng Thạch vỗ tay, la hét, cười nhìn về phía bọn thằng Ninh đang yểu xiu. Thầy Sinh vô cùng ngạc nhiên vì không biết tại sao tụi học trò lại cười khi nghe mình nói là thích uống sữa dê. Bất chợt, theo quán tính, thầy Sinh liền mở cặp da, nhìn vào. Tụi nó lại càng cười hơn nữa. Thầy Sinh có biệt hiệu là Sinh - sữa dê từ đấy.
Giờ ra chơi, thằng Ninh vẫn cay cú vì thua cá, nó gặp thằng Thạch ở hành lang, ngay quày bánh cúa chị Lan:
- “Mầy có ngon, bây giờ tao với mầy cá chuyện này...”
Vừa nhai bánh, thằng Thạch vừa hỏi:
- “Cá vụ gì? Coi chừng thua nữa nghe.”
- “Tao cá với mày làm sao để biết được thầy Sinh có một hay mấy cái quần.”
Đó gần như là thắc mắc của tụi nó khi thấy lúc nào thầy Sinh cũng mặc có một cái quần màu tím than nhạt.
- “O.k sa lem.”
- “Rồi, mầy chỉ cần nói cách mầy làm để chứng minh thầy Sinh có một hai hay cái quần là tao thua mầy năm cái bánh dừa, bánh su để tụi bây chia nhau. Nhưng có chuyện tao hỏi thật, mầy nói cho tao nghe được không?"
- "Chuyện gì?”
- “Làm sao mầy biết thằng Hưng nói đúng mà mầy cá theo nó?”
- “Trời ơi, có gì khó đâu. Tao thấy nó len lén lấy chai sữa ra uống. Có lần giờ ra chơi tao mở cặp nó lấy chai sữa uống thử. Sữa gì không giống sữa bò, tanh thấy mẹ, tao liền nhổ lại vào trong chai. Sau này tao nghe nó nói ba nó có quán bán lẩu dê nên tao nghi là sữa dê. Suy luận toán học mà mậy. Nếu không A thì là B, nếu không bò là dê thôi..”
Thằng Ninh bật cười:
- “Mầy đúng là thằng láu cá.”
- “Ba tao nói đời không láu cá làm sao sống được.”
- “Láu gì thì láu mầy phải nói cho tao cách mày làm để biết được thầy Sinh có mấy cái quần.”
- “Ngày mai, ngày mốt có giờ thầy Sinh không?”
- “Mai, mốt có hết.”
- “Vậy ngày mốt tao cho mầy biết.”
- “Ngoéo tay nghen.”
Sau cái ngoéo tay với thằng Ninh, thằng Thạch cảm thấy thua vụ cá này tới nơi. Làm cách nào để biết được thầy Sinh có một hay hai cái quần mà thầy Sinh không biết? Không lẽ hỏi thẳng từ thầy thì kỳ chết. Nó ôm câu hỏi cho đến giờ cơm mà nó vẫn ngồi trầm ngâm suy nghĩ lảm cho ba nó phải thắc mắc:
- “Cái thằng này, sao hôm nay im re vậy?”
Chị nó nhân cơ hội đổ dầu vào lửa:
- “Chắc nó bị lãnh trứng vịt rồi."
Má nó bỗng nhìn vào vai áo của nó rồi cằn nhằn:
- “Rồi, áo lại dính mực nữa. Sao con không cẩn thận chút nào vậy Thạch?”
Suýt chút nửa thằng Thạch la lên “eureka” như nó nhớ chuyện ông Archimede. Áo dính mực... áo dính mực...
Chiều hôm sau, trước khi vào lớp, thằng Thạch đợi thằng Dũng ở nhà xe để nhờ thằng này làm giúp nó một chuyện liên quan đến kế hoạch giữa nó và thằng Ninh, sở dĩ nó nhờ thằng Dũng vì thằng này ngồi ở dãy bàn đầu của lớp.
Đang chăm chú ngồi làm bài tập, thằng Dũng giơ tay lên: “Tít-chơ. Tít-chơ”..., trong giờ học, tụi nó thường gọi thầy Sinh là tít-chơ.
Nó giơ quyển sách Let’’s Learn English, ngỏ ý muốn hỏi điều gì đó không hiểu trong quyển sách. Thầy Sinh từ trên bàn giáo sư đi xuống, đến chỗ bàn thằng Dũng. Thằng này hỏi: “Thưa thầy động từ “tu be” mà sao lại còn am, is, are” nữa thầy?”
Thầy Sinh đứng tựa vào bàn, áp hẳn cái quần tây màu tím than vào cạnh bàn của thằng Dũng giải thích. Thầy Sinh nói gì thì thằng Dũng chẳng có nghe vì nó đang chú ý đến cái việc thầy Sinh đang “đóng dấu” cái quần vào cạnh bàn của nó. Phía dưới dãy bàn cuối, thằng Thạch cũng đang thò lõ mắt theo dõi. Khi thấy thầy Sinh đứng tựa vào bàn của thằng Dũng, thằng Thạch búng ngón tay nghe cái chóc.
Giờ ra chơi, thằng Thạch gặp thằng Dũng hỏi: “Được không? Mầy thấy rõ không?”
- “Ngon lành. Tô cháo huyết nghen mậy.”
Nắm được thông tin, thằng Thạch tìm thằng Ninh:
- “Ê, ngày mai tao sẽ cho mầy biết kết quả.”
- “Bữa này không được sao?”
- “Mầy chưa học hóa học hả? Thí nghiệm phải chờ một thời gian mới có kết quả.”
- “Bộ mầy làm thí nghiệm hóa học với cái quần của thầy hả?”
- “Ừ. Bí mật.”
- “Mầy làm thí nghiệm với chất gì vậy?”
- “Tô cháo huyết!”
Thằng Ninh bán tín, bán nghi. Thằng Thạch là thằng láu cá, nó bày ra đủ thứ trò trorig lớp. Cứ chờ đến ngày mai đi.
Tụi nó, thằng Thạch, Ninh, Dũng nóng lòng chờ đến ngày mai. Ngày mai tụi nó, những thằng học lớp thất 7 sẽ có lời giải đáp cho mấy đứa học các lớp đệ thất 5, 6, 8, 9 - những lớp đệ thất học Anh văn là môn sinh ngữ chính biết thầy Sinh dạy Anh văn có... mấy cái quần. Đây là nỗi tâm lý hết sức là... học trò: “được biết những bí mật của thầy cô”. Đối với bọn chúng, những đứa học sinh đệ thất, vẫn còn mang tâm lý của những đứa học sinh tiểu học, thích biết được những bí mật của thầy, cô. Khác với các khán giả hâm mộ cải lương vẫn muốn biết cuôc tình của Thanh Nga, Thành Được, Út Bạch Lan trên các báo. Khán giả biết chỉ để thỏa trí tò mò, để đi xem Thành Được diễn với Thanh Nga có mặn nồng hơn khi diễn chung với Út Bạch Lan không để mà, mỗi sáng khí ra chợ sẽ bình luận cho hết ngày để tối... đi xem hát tiếp. Còn tụi học sinh biết được bí mật của thầy cô để mà “tôn thờ” rhêm những bí mật của những thần tượng của chúng. Thầy, cô đối với bọn chúng là những thần tượng. Những điều thấy cô nói là chân lý. Đôi khi cha mẹ của chúng chỉ được xếp vào hàng thứ hai, sau thầy cô. Tụi thất 7 đã thành công trong việc khám phá ra thầy Sinh uống sữa dê thì tụi nó sẽ tìm ra được bí mật thầy Sinh sữa dê có mấy cái quần.
Chiều hôm đó, thằng Thạch, thằng Dũng đã dành đứng ngay hàng đầu trước cửa lớp. Khi thầy Sinh cầm cái cặp da vừa bước ngang chỗ tụi nó sắp hàng để vào lớp thi hai thằng này liền khom khom cái lưng xuống để nhìn vào phần trên của cái quần. Thầy vừa đi vào lớp, thằng Thạch đứng ngày đầu hàng vẫn chưa vào, giơ hai ngón tay, nhảy cẩng lên: “Hai cái quần tụi bây ơi!”
Thế là tụi nó chuyền cái tin ấy đi trong hàng:
- “Hai. Thầy có hai cái quần.”
- “Vậy mà tưởng thầy có cái quần bận hoài, tội nghiệp.” Thằng Thạch bước vào lớp mà vẫn đưa hai ngón tay, rồi kế đến là thằng Dũng cũng đưa hai ngón tay. Thầy Sinh thấy vậy hỏi vui:
- “Hôm nay mấy trò phản chiến hả? Hay phản đối giờ học?”
- “Thưa thầy, thằng Ninh phản chiến cái quần thầy.”
Thầy Sinh ngơ ngác:
- “Phản chiến cái quần?”
Nhìn vẻ mặt ngơ ngác của thầy tụi nó càng cười lớn hơn. Gíờ ra chơi, thằng Ninh dẫn thằng Thạch và thằng Dũng xuống quày bánh của chị Lan. Chưa mua bánh vội, thằng Ninh truy vấn thằng Thạch:
- “Làm sao mầy biết thầy Sinh có hai cái quần?”
- “Có thể hơn hai cái. Mầy hỏi thằng Dũng.”
Thằng Ninh ngó thằng Dũng, thằng này gật đầu:
- “Thằng Thạch kêu tao thoa mực vô cạnh bàn để khi thầy đứng dựa vào sẽ dính vô quần. Nếu hôm nay thấy quần thầy dính mực thì thầy có một cái, nếu không dính thì có hai cái trở lên..."
Thằng Ninh vẫn còn thắc mắc:
“Nhưng khi về nhà, vợ thầy giặt quần rồi làm sao biết?” Thằng Thạch trả lời tỉnh khô:
- “Tao kêu thằng Dũng lấy mực bút Bic làm dấu. Mực này mà dính vào quần, áo thi giặt không ra. Thôi mua bánh đi mầy.” Đúng như thằng Thạch nói. Vào giờ học Anh văn tuần sau, thằng Ninh thấy cái quần màu tím than của thầy có dính vết mực viết Bic!
Cái quần màu tím than đang ở trước mặt nó, mặc dù đã cũ nhưng không có vết mực viết Bic nào cả như thằng Dũng đã kể với nó vào năm hai thằng học đệ thất. Đã hai năm qua, thầy Sinh vẫn không thay đổi thói quen ăn mặc của mình. Nhờ vậy thằng Mai nhận ra ngay thầy Sinh.
Nhưng cũng không cần phải nhìn đến cái quần. Giọng nói đó, giọng nói đã hướng dẫn tụi nó đọc từ từ tiếng Anh: red, yellow, white..., với cái dáng đi lững thửng đó không thể nào nó quên được. Bây giờ làm sao đây? Nó không thể nào bỏ thầy với đứa cháu sắp sinh đẻ mà không rước cho được khi mà không còn chiếc xe nào chạy trên đoạn đường này nữa. Nhưng điều này lại trái với luật của thằng Lúi. Nó ướm lời với thằng Lúi:
- “Lúi ơi, chở giùm bác này đi tội nghiệp."
Thằng Lúi lườm nó:
- “Chở bà bầu xui lắm mầy.”
- “Lần này thôi. Thấy tội nghiệp quá.”
- “Không được.”
Phía trên vô lăng, Hai tài xế bóp còi, thúc giục. Thằng Mai biết rằng một mình nó không thể nào làm thằng Lúi thay đổi ý kiến. Nó chạy lên phía trước, nói nhỏ vào lỗ tai Hai tài xế. Nghe thằng Mai nói xong, Hai tài xế gật gù:
- “Mầy nhớ nghe, ừ, lâu lâu cũng để đức cho vợ con một chút... Vợ tao nó cũng sắp đẻ rồi.”
Thằng Mai mừng rơn vì nó biết tài xế đã đồng tình. Dầu sao, tài xế cũng là người quyết định xe chạy hay không. Hai tài xế từ trên vô lăng, quay xuống nói với thằng Lúi:
- “Ê, cho người ta đi đi mầy...”
Nhiều hành khách trên xe cũng lên tiếng:
- “Thôi, cho người ta đi đi. Tộí nghiệp, sợ không xe nào rước. Đẻ bờ, đẻ bụi thì nguy hiểm lắm..."
Thằng Lúi cứng cựa:
- “Nhưng xui anh chịu nha.”
- “ô kê sa lem. Lính mà em.”
Thằng Mai mừng quýnh khiêng hành lý của thầy Sinh và đưa con gái lên xe. Vừa ngồi xuống ghế, thầy Sinh móc ra tờ giấy bạc hai trăm đưa cho thằng Mai. Nó cầm tiền và lấy tiền trong túi trả lại cho thây Sinh 150 đồng - nó chỉ lấy tiền đúng theo giá mua vé xe tại bến. Thầy Sinh ngạc nhiên, nói với nó: “Em có tính lộn không? Một mình tôi đi phải trả 50 đồng rồi mà đây tới hai người lận.” Nó tảng lơ, nhìn lên phía trước đầu xe, không trả lời. Thầy Sinh tiếp tục hỏi:
- “Tôi thấy em quen quen... Em có... có...”
Thầy Sinh định hỏi “Em có học ở trường Petrus Ký không?" nhưng thầy đã kịp thời ngừng lại vì thầy không nghĩ là một thằng bé, đi làm lơ xe lại được đi học và học ở trường Petrus Ký. Có lẽ thầy đã gặp một đứa học sinh nào hao hao giống nó chăng? Thầy đã dạy bao nhiêu lứa học sính rồi, làm sao nhớ cho hết!
Riêng thằng Mai nó muốn nói với thầy Sinh. “Thầy ơi em đây! Em là thằng Mai, học sinh của thầy đây” như nhân vật Carnot, trong một cái truyện nó đã đọc trong “Tâm hồn cao thượng”, khi đã làm quan về thăm thầy cũ đã nói “Thưa thầy, em là Carnot, học trò cũ của thầy đây..." Nhưng làm sao nó nói được khi, lúc này nó chỉ là thằng lơ xe đò, trong cái nón kết đội sùm sụp và bộ quần áo dơ bẩn, bụi đời không phải là đồng phục quần xanh áo trắng. Phải chi nó làm được như ông Carnot hoặc nhỏ hơn, cỡ ông quận trưởng hoặc tệ lắm là phường trưởng gì đó nó sẽ kêu lên “thầy ơi, con đây, con là thằng Mai, học trò của thầy đây, nhờ thầy dạy bảo nay con đã nên người... Thầy có nhớ có lần đã tha tội cho con không?” Chứ không lẽ nó nói: “Thầy ơi, con là thằng Mai, thằng lơ xe là học trò cũ của thầy đây...”, nghe sao được! Chắc thầy bỏ xe mà nhảy xuống quá!
Nó còn nhớ trong giờ học Anh văn lớp đệ thất, thỉnh thoảng thầy có cho tụi nó nghe dĩa tiếng Anh theo bài học trong sách Let”s Learn English. Giờ học đó là giờ sướng nhắt của tụi nó vì tụi nó được ngồi nghe... dĩa.
Thầy Sinh đặt cái máy quay đĩa hướng xuống lớp học, đặt cái dĩa hát than vào máy, sau đó thầy đặt đầu kim lên dĩa rồi quay dây thiều. Từ trong cái loa giống như chiếc kèn, tòe loe ở đầu tụi nó nghe vang ra giọng nói bằng tiếng Anh những câu, từ mà tụi nó đã học trong sách. Thầy Sinh bắt tụi nó lặp lại theo giọng nói trong dĩa. Nhiều khi giữa chừng giọng nói bỗng dưng chầm chậm và nhừa nhựa vì giây thiều hết tua. Thế là thầy Sinh, nếu đang ở phía cuối lớp, hộc tốc chạy lên để tiếp tục quay dây thiều. Sau này, thầy kêu thằng Việt lên ngồi gần cái máy để làm công việc hết sức quan trọng là quay dây thiều cho cái máy hát. Thằng này đau khổ vô cùng vì phải ngồi tách xa tụi bạn đang chơi ca- rô ăn bánh, vì phải quay dây thiều mỏi cả tay. Nhìn cái mặt nó chảy dài, thiểu não, tay quay cái cần máy hát đĩa chầm chậm theo quán tính thằng Mai thấy mắc cười. Đôi lúc, tụi nó thấy thằng Việt ngồi ngủ gật gà, gật gù đến nỗi quên cả việc quay dây thiều cho dĩa chạy. Trong khi tụi nó ngồi dưới này, ngoài thằng Hòe và một vài đứa học giỏi tiếng Anh là nghe hết sức tập trung - còn tụi học trò trong lớp ngồi chơi là chính chứ có nghe gì đâu. Làm sao mà nghe nổi khi cái giọng nói, phát ra từ cái loa của cái máy quay dĩa cũ xì, nghe như người bị nghẹt mũi. Có lần, trong lúc thằng Việt thiu thiu ngủ còn thầy Sinh đã đi lên phòng giáo sư, nó rắn mắt lén thay cái dĩa học tiếng Anh bằng dĩa hát cải lương Lan và Điệp rồi quay dây thiều cho máy chạy. Từ chiếc loa rè rè vang lên tiếng hát vọng cổ của Hữu Phước “Ai nức nở quỳ bên chánh điện, khi chuông chùa vừa điểm tiếng công phu... Lan ơi, sao em nỡ cắt đứt dây chuông...'' mà thằng Việt vẫn ngồi ngủ gục ngon lành. Một tay nó chống cằm, đầu gật lên gật xuống như tán thưởng theo nhịp điệu của cải lương. Lúc này, tụi nó dường như ngừng tất cả hoạt động chơi đùa để nhìn thằng Việt ngủ gục bên máy quay dĩa đang phát ra bài cải luơng mùi mẫn mà cười ầm.
Thằng Mai cũng khoái giờ này lắm, ngoài cái chuyện được ngồi chơi ra, nó còn được đi ra khỏi lớp, lên phòng học cụ để khiêng máy quay dĩa về lớp.
Mỗi khi thầy Sinh hỏi: “trò nào lên phòng học cụ mượn máy quay dĩa?” là nó nhanh nhẩu giơ tay lên ngay. Thường thường thì nó đi với thằng Cường, vì phải có hai đứa mới khiêng nổi cái máy quay dĩa. Trong giờ học, với cái giấy mượn máy do thầy ký trong tay, được đi thong dong trong cái không khí tĩnh lặng của trường là một hãnh diện ngầm của nó. Nó có thể đi ngang các lớp học, nhất là các lớp đàn anh, nhìn vào và nghe tiếng giảng của các giáo sư vang ra từ trong lớp. Vừa đi nó vừa tưởng tượng sau này nó sẽ ngồi học ở những lớp này, sẽ trở thành những lớp đàn anh nhìn những thằng đệ thất mới vào với cặp mắt khinh khinh. Nó có thể được nhìn khuôn viên trường, cô tịch không một bóng người, có thể nhìn tượng cụ Trương Vĩnh Ký. Và đã nhất là nó không phải... ngồi trong lớp. Nó muốn như vậy và nó biết nhiều đứa trong lớp nó cũng muốn như vậy! Được đi chơi trong giờ học, được ra ngoài vì “học vụ” trong khi mấy thằng bạn vẫn phải ngồi trong lớp không phải là điều thích thú hay sao?
Đi lấy máy quay dĩa với thằng Mal, thằng Cường lúc nào cũng chê bai cái máy hát cũ xì, thua cái giàn máy quay đĩa của nhà nó mà anh chị thường dùng để nghe nhạc khi mở “bum”. Nó luôn phàn nàn: “Không hiểu sao bố tao lại bắt tao thi vào trường này trong khi anh chị tao được theo học trường Tây. Nghe anh tao nói trường J.J. Rousseau to hơn trường Petrus Ký nhiều, đi từ đầu trường đến cuối trường là mỏi cả chân...” Thằng Mai thắc mắc hỏi:
- “Sao mầy không thi vào Chu Văn An? Chu Văn An là dành cho học sinh người Bắc mầy mà...”
Nó bĩu môi:
- “Bố tao nói học sinh trường Chu Văn An không có ai làm lớn. Muốn làm lớn phải học trường Petrus Ký.”
- “Vậy là học trường J.J Rouseau chắc cũng không làm lớn được nên ba mầy mới không cho mầy đi học.”
Thỉnh thoảng thằng Mai mới nói với thằng này vài câu chứ nó cũng chẳng khoái nói chuyện với thằng này cho lắm. Thằng Mai nghe thằng Cường độc thoại về chuyện ba nó quen biết ông trung tá này, ông dân biểu nọ, những cái tên nghe lạ hoắc... Lâu lâu nó lại hãnh diện khoe “Bố tớ học chung với ông Nguyễn Cao Kỳ ngoài Bắc...” đến nỗi thằng Mai chán quá kêu lên “Vậy sao mầy không ở ngoài Bắc luôn đi vào đây làm cái gì?”.
Thằng Mai nhỏ con, ốm yếu hơn thằng Cường. Thế mà mỗi khi đi mang máy quay dĩa về lớp, thằng này lại đùn đẩy việc khiêng cái máy quay dĩa cho thằng Mai, còn nó chỉ ôm có cái loa nhẹ tênh. Nó cứ thảnh thơi vừa đi vừa “độc thoại” còn thằng Mai thì khiêng cái máy trong tư thế khom khom, cà ì, cà ạch, vừa đi vừa thở. Thằng Cường chẳng khoái cái vụ đi khiêng máy này nhưng đây là cơ hội để nó cảm thấy oai nên nó đành phải chịu khổ cực ôm cái loa. Ở nhà nó, mọi việc đều có lính của ba nó lo hết, anh chị nó chẳng mó tay vào việc gì trong nhà cả. Ngay cả đi học nó cũng được lính của ba nó chở bằng xe Jeep tới trường. Bởi vậy chuyện thằng Mai khiêng máy nặng hơn nó cũng là chuyện bình thường. Đáng lẽ nó không cần phải ôm cái loa nhưng đi về lớp tay không thì nó cũng thấy... kỳ kỳ với chúng bạn.
Thế rồi, trong một lần đang khiêng máy quay dĩa về lớp, thằng Mai đang đi nhưng bỗng dưng khi bước xuống bậc tam cấp thì nó bị hụt chân. Nó cố hết sức giữ thăng bằng để không phải làm rơi cái máy quay dĩa xuống đất nhưng cái dĩa tiếng Anh bằng đá rơi xuống đất bể thành mấy mảnh.
Thằng Mai mặt xanh lè, không còn giọt máu nó nhìn thằng Cường cầu cứu. Thằng này bình thản nói: “Tại mày chứ không phải tớ à nha.”
- “Chết tao rồi Cường ơi, chắc bị đuổi học quá", thằng Mai nói như muốn khóc.
- “Tại sao mày đi mà mày không cẩn thận?”
- “Tao cẩn thận chớ nhưng tao bị hụt chân ngay tại bậc tam cấp.”
- “Thế thì mày cứ nói như thế với thầy...”
- “Tao sợ... sợ bị đuổi học vì tội phá học cụ...”
- “Chắc đền tiền cái dĩa là xong chứ gì...”
- “Nhưng tao làm gì có tiền?”
- “Thì bảo bố mẹ mày cho. Không lẽ ổng bả không cho tiền sao?”
Thằng Mai định nói cho thằng Cường hiểu hoàn cảnh của gia đình nó cho thằng này nghe nhưng nghĩ sao nó lặng im. Nó tự hỏi cái dĩa có đắt tiền không? Nếu đắt tiền làm sao nó mua nổi. Ba nó vừa chết, một mình má nó phải gánh hết cả gia đình. Anh nó mới vừa tìm được việc phụ hồ nhưng chẳng có bao nhiêu tiền. Lo cho nó đi học như vầy là má nó đã gắng hết sức. May mà nó thi đậu, nếu không...
Thằng Mai, khi vào lớp đã thưa thật với thầy Sinh chuyện nó làm rớt bể cái dĩa học tiếng Anh. Thầy Sinh im lặng, ngẫm nghĩ. Thằng Mai đứng khoanh tay, run sợ. Bị kỷ luật, bị cấm túc là còn nhẹ chứ chuyện ra hội đồng kỷ luật của nhà trường là cái chắc. Suy nghĩ một hồi, thầy Sinh ngó xuống lớp lên tiếng hỏi:
- “Trò nào đi học bằng xe gắn máy?”
Tụi học trò trong lớp ngạc nhiên vì câu hỏi của thầy chẳng thấy liên quan gì đến việc thầy xử trí ra làm sao với cái tội của thằng Mai.
Thằng Thuật giơ tay. Thầy Sinh viết gì đó vào một tờ giấy và gọi nó lên bàn giáo sư, căn dặn:
- “Trò lấy xe đến nhà thầy gấp, đưa thư này cho cô. Còn tờ giấy này, trò đưa cho thầy giám thị khi ra cổng.”
Thằng Thuật khoái quá, hí hửng đi nhanh ra khỏi lớp. Trong giờ học được xách xe đi ra khỏi trường, nhong nhong có “sự vụ lệnh” của thầy đàng hoàng thì sướng còn gì bằng.
Sau khi bảo thằng Mai trở về bàn học, thầy Sinh bắt học sinh lấy tập ra làm bài tập trong lớp thay cho giờ nghe dĩa.
Tụi nó thở dài, đang chuẩn bị để được chơi bây giờ phải làm bài tập thì thằng nào lại không buồn. Thằng Thạch nhìn theo dáng thằng Thuật đang đi ra khỏi cửa lớp với dáng điệu hiên ngang mà tức trong lòng. Còn thằng Dũng thì hỏi thăm thằng Mai về tai nạn vừa mới xảy ra. Nghe xong chuyện thằng Dũng an ủi:
- “Chắc không sao đâu. Nãy giờ có thấy thầy Sinh nói gì đâu... Chắc qua rồi quá.”
- “Nhưng lấy cái dĩa đâu ra đền cho trường?”
- “Đi ra chợ dĩa hát “sôn” kiếm hay là đi kiếm ở mấy nhà sách.”
- “Nhưng... nhưng... nghe thằng Cường nói dĩa hát mắc lắm...”
- “Mầy đừng nghe lời thằng Cường mông. Nó sinh ở kho đạn mà, nổ tới trời luôn...”
- “Tao đâu có đú tiền mua.”
- “Kêu tụi trong lớp đóng góp như đóng tiền cứu trợ xã hội vậy... Đứa năm cắc, đứa một đồng thì cũng đủ. Mầy yên tâm... Có gì tụi tao bàn với thằng Tuấn trưởng lớp xin thầy cho mày.”
Được thằng Dũng nói những lời động viên, chia sẻ thằng Mai cũng thấy an tâm. Trong thâm tâm nó chỉ mong được đền bù lỗi lầm bằng đi cấm túc. Nó cầu trời cho tai qua nạn khỏi, nó sẽ xin tiền má để mua nải chuối cúng.
Khi tụi nó làm bài gần xong thì thằng Thuật hộc tốc đi vào. Trên tay nó là một cái dĩa hát, bên ngoài được bọc bằng một tờ giấy nhật trình. Thầy Sinh cầm lấy cái dĩa, nhìn xuống dưới lớp kêu:
- “Trò Việt...”
Thằng Việt biết là giờ quay dĩa của nó đã đến nên bước lên. Té ra hồi nãy thầy Sinh đã kêu thằng Thuật về nhà thầy lấy cái dĩa. Biết được đến giờ vừa nghe dĩa vừa chơi nên tụi nó vỗ tay hoan hô. Thầy Sinh ngạc nhiên vì không hiểu tại sao học sinh lại khoái giờ học nghe này quá vậy? Như vậy phương pháp dạy của thầy đã đúng. Học sinh ngữ không phải học tủ mà là cần phải học nghe trước cho nó nhập tâm. Không phải là đứa con nít từ nhỏ nó đã nghe rồi nó bắt chước nói. Nói trật nhưng nhiều lần trật nó sẽ nói trúng một cách tự nhiên, rồi sau đó mới đến học chữ. Giữa thầy và các đồng nghiệp vẫn còn đang tranh cãi về phương pháp dạy này. Thầy Sinh nghĩ “Bên Hội Việt Mỹ đã dạy theo cách này lâu rồi, bởi vậy học trò Hội Việt Mỹ nghe, nói đều giỏi hơn học sinh Việt, vì nhà trường Việt chỉ chú trọng việc dạy ngữ vựng và văn phạm...”
Khi hết giờ học, thầy kêu thằng Khải và thằng Tuấn mang máy quay dĩa cùng cái dĩa của thầy trả cho phòng học cụ.
Giờ ra chơi là giờ của thằng Thuật nổ về việc nó được đến nhà của thầy lấy dĩa. Được biết nhà thầy là vinh dự ghê lắm vì theo ý nghĩ của tụi nó được biết nhà thầy, cô là đã được biết gần hết bí mật của họ.
- “Nhà thầy đẹp, sang trọng lắm nghe, trong cư xá Trần Quang Diệu. Trời ơi tụi bây biết ai lấy cái dĩa đưa cho tao không?”
- “Ai? Vợ thầy hả? Cổ đẹp không?”
- “Con gái của thầy.”
- “Đẹp không?”
- “Quá đẹp luôn.”
- “Con gái thầy nói gì với mầy?”
- “Con gái thầy nói với tao: em giữ dĩa cần thận nha. Ba quý mấy cái dĩa này lắm. Có lần chị làm bể đã bị ba đánh đòn...”
- “Vậy tụi tao cứ tưởng con gái thầy còn nhỏ.”
Thằng Dũng chen vào:
- “Ê, trưởng ban xã hội...”
Thằng Thịnh kẹo ngó thằng Dũng:
- “Gì mậy?”
- “Tụi mình đóng góp cứu trợ đi!”
- “Cứu trợ ai. Đâu có thiên tai, lũ lụt gì đâu?”
“Cứu trợ xã hội cho thằng Mai mua cái dĩa để trả cho trường chứ không lẽ lấy cái dĩa của thầy. Trưởng ban xã hội mà không chịu làm việc cho xã hội sang năm tao không bầu mầy nữa.”
Thằng Thịnh gật đầu:
- “Ừ, hén, tao quên. Thì trưởng ban báo chí phải viết báo chứ rồi xã hội mới biết mà làm chứ. Rồi, mỗi đứa năm cắc, một đồng gì đó. Tao đóng năm cắc...”
- “Trưởng ban phải một đồng mầy.”
Thằng Thuật nhăn mặt:
- “Ừ, thì một đồng. Làm trưởng ban lỗ thật...”
Những ký ức của lớp đệ thất với thầy Sinh như cuộn phim chiếu chậm mà nhiều khi đã vụt qua nhanh trong ký ức tuổi thơ nhưng khi gặp lại một gương mặt thương yêu, kính trọng cuộn phim ấy như có được ngọn đèn chiếu và bắt đầu quay. Nhiều lần nó định bắt chuyện với thầy Sinh nhưng không hiểu sao nó lại im lặng. Không nên để thầy gặp nó trong cảnh ngỡ ngàng này.
Xe về tới bến trời đã tối hù. Suốt chuyến đi không có chuyện gì xui xẻo xảy ra làm thằng Mai rất mừng vì thằng Lúi chẳng nói với nó tiếng nào. Lỡ có chuyện gì làm chậm chuyến đi hoặc gặp lính địa phương quân, nghĩa quân... chận lại xin tiền thì nó sẽ khốn khổ với thằng Lúi. Khi xuống xe, thầy Sinh còn nhìn lại thằng Mai và nói:
- “Cám ơn em.”
Nó trả lời theo quán tính từ lúc học năm đệ thất:
- “Dạ, chào thầy về.”
Thầy Sinh khựng lại nhìn nó, nhíu mày có vẻ suy nghĩ. Thầy định nói gì đó nhưng cô con gái đã níu tay thầy leo lên chiếc xe xích lô máy đã chờ sẵn, còn thằng Mai thì đang đi lại phía anh Hai tài xế.
Thằng Mai móc túi đưa cho anh Hai tài xế hai chục như đã hứa khi đề nghị anh ủng hộ nó trong việc cho thầy Sinh và đứa cháu gái đi xe. Thằng Lúi, mặt chù ụ, hất hàm hỏi nó: “Mầy lấy tiền xe hai cha con đó bao nhiêu?”
- “Năm chục.”
- “Thiệt hông mậy? Tại sao mầy lấy rẻ vậy?”
- “Thiệt chứ sao không. Tao nói láo tao bị xe nhà binh mười bánh cán chết, ông ấy là thầy tao.”
Thằng Lúi chửi thề:
- “Đ. M...”
- “Sao mầy chửi tao? Thì coi như tao không lấy tiền chuyến đi xe này để bù cho mầy...”
- “Đ. M... cái… con… c... ai thèm lấy tiền của mầy. Tại sao hồi nãy mầy không nói ổng là thầy của mầy. Thầy của mầy cũng là thầy của tao... Ê, anh tài trả lại nó tiền đi...”
Thằng Lúi đối với nó rất tốt. Trong ba tháng hè chờ nhập trường năm đệ ngũ nó đi được bảy chuyến và kiếm cũng được gần 200 đồng. Chưa bao giờ nó có số tiền lớn như vậy. Khi đi chuyến cuối cùng, thằng Lúi nói với thằng Mai:
- “Thôi mầy làm kỳ này thôi, cái tạng của mầy không làm lơ xe như tao được. Không có tao tụi nó ăn hiếp mầy chết...” Kiếm được tiền thằng Mai ham quá. Nó không còn nghĩ đến việc trở lại trường đi học nữa vì không biết bao giờ nó mới kiếm được tiền nhiều như thể này. Mới đi ba tháng đã kiếm được hai trăm đồng, một số tiền không nhỏ đối với nó. Đi làm phụ lơ một thời gian nó sẽ làm lơ chính như thằng Lúi, tiền trong túi rủng rỉnh. Lúc nào cũng có thể ăn cơm sườn, hủ tíu mì, uống cà phê sữa đá, thỉnh thoảng còn uống bia nữa. Còn đi học thì bao giờ nó mới đậu tú tài? Bao giờ nó mới có tiền riêng bỏ túi? Bao giờ nó mới có tiền ăn uống thật ngon nếu như còn phải đi học. Phải chi nhà nó như nhà thằng Thạch và một số thằng khác trong lớp thì nó sẽ yên tâm học hành. Chuyện học là loại hàng hóa xa xỉ không dành cho những thằng như nó.
- “Mầy cho tao làm phụ lơ cho mầy luôn được không?” Thằng Lúi thò lố mắt nhìn thằng Mai:
- “Mầy nói chuyện ngu như con c... Đi học mới có tương lai. Mầy tưởng đi làm lơ xe kiếm tiền được là ngon hơn đi học sao? Đi học là có chữ, có nghĩa. Không thằng nào dám khinh mày. Có tiền nhờ đi làm lơ xe như tao cũng bị người ta khinh, tương lai đéo biết ra sao? Quân trường hay quân lao? Xanh cỏ hay đỏ ngực, tao đéo biết. ĐM nhiều khi đời buồn chán bỏ mẹ. Kiếp lơ xe có gì ham con. Gia đình tụi mình ở dưới đáy xã hội. Sợ luôn cả thằng cha liên gia trưởng. ĐM tao đi lính về quăng lựu đạn cho chết mẹ thằng liên gia trưởng, khóm trưởng... Nó ức hiếp gia đình tao. Còn mầy, mầy may mắn được đi học thì còn có cơ hội. Mầy là thằng chữ nghĩa. Thôi, mầy đang có chữ nghĩa, phải ráng học... Đừng đi theo tao nữa. Không có chỗ cho mầy đâu. Tao kiếm được thằng đệ tử khác rồi. Thằng này dám đâm người ta, mầy dám đâm không?"
Nó phẫn uất nói một tràng dài, nói sùi cả bọt mép. Nó nói như lúc nó say rượu. Mặc dù hiện giờ nó chưa có giọt nào trong người. Nói xong nó quay lưng bỏ đi. Thằng Mai đau lắm. Nhưng nó cũng biết thằng Lúi còn đau hơn nó!
Sau này, gần giữa năm đệ ngũ nó nghe tin thằng Lúi bị bắt đì lính rồi đến bây giờ nó chẳng nghe được tung tích của thằng này.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 13 Aug 2013, 13:21

 Chương 18

Mặc dù từ trường Petrus Ký gần xịt trường Đại học Sư phạm, chỉ cần đi hết con đường Cộng Hòa tới đầu đường Thành Thái, nhưng trường cũng cho một chiếc xe Volkswagen chở ban nhạc vì những nhạc cụ lỉnh kỉnh. Tụi thằng Mai, Dũng, Việt - những thằng học sinh đàn em được dịp ngồi chung xe, diễn văn nghệ chung với các bậc đàn anh đang học năm cuối trong trường rất lấy làm hãnh diện. Các anh Kiệt, Trang, Duy Anh trong những bộ áo dài, khăn đóng cũng vui không kém tụi nó. Mấy anh bắt nhịp, hát hò:
- “Chiều nay, dô ta...”
Bọn thằng Dũng cũng hòa nhịp theo:
- “Dô... ta...”
Anh Trang tiếp tục bắt giọng:
- "... Kiến cắn cu sưng chù vù... không có tiền mua thuốc dán, dán... con cu...”
- “Dô ta... hò dô ta...”
Sau đó tới phiên anh Duy Anh làm trò giới thiệu:
- “Kính thưa quý vị đây là ban “dâm ca” của học sinh trường Petrus Ký xin hát mấy bài dâm ca kính tặng nữ sinh trường Gia... Heo..”
Tụi thằng Dũng không ngờ mấy anh lớn cũng vui vẻ, cũng nói bậy quá trời, quá đất. Vui đến nỗi tụi nó chỉ thấy xe đi một chút xíu là tới. Để chứng tỏ mình là cũng là dân đi tham dự biểu diễn văn nghệ như ai, thằng Mai, thằng Dũng... giành phần ôm mấy cây đàn. Thằng Chương và Việt thì lo khiêng mấy cái trống. Tụi nó gần như hất mặt lên trời khi gặp mấy đưa học sinh trong trường đi xem biểu diễn ủng hộ, nhất là khi đi ngang các tà áo dài trắng Gia Long và Trưng Vương. Tụi nó đã thành... nghệ sĩ rồi!
Vào phía sau hậu trường, thằng Dũng gần như hoa cả mắt khi thấy màu sắc từ các phục trang của các “nghệ sĩ học sinh”. Trong những gương mặt đã hóa trang tụi nó đi qua, đi lại nhộn nhịp; tiếng gọi nhau, tiếng nhắc nhở, tiếng tập hát của các nhóm văn nghệ vang lên từ các góc. Thằng Dũng nghe trong không khí mùi thơm của son phấn. Nó ngất ngây đứng nhìn các cô gái Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt trong những cái áo tứ thân, bà ba hay áo dài gấm có hoa văn trang nhã. Còn những chú chàng như những con gà trống trong những bộ phục trang lượn lờ chung quanh các nàng. Phía ngoài sân khấu, màn đã mở. Buổi diễn đã được bắt đầu bằng bài đồng ca “Việt Nam” của Phạm Duy do ban văn nghệ liên trường đồng biểu diễn. Một giọng ca nam của trường Mạc Đĩnh Chi hát chính. Giọng hát khỏe mạnh, truyền cảm, được dàn bè cao làm nền nghe nghe rõ từng lời nhạc trầm hùng đến nổi cả da gà: ‘‘Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời, Việt Nam hai cầu nói bên vành môi, Việt Nam nước tôi..."
Nhóm nhạc trẻ của trường Lasan Taberd với những bản nhạc nước ngoài được viết bằng lời Việt và cách biểu diễn như những ban nhạc trẻ đang thịnh hành đã tạo không khí sôi nổi qua cách biểu diễn. Tiếng vỗ tay vừa chấm dứt thì các nữ sinh trường Gia Long xuất hiện trong tiết mục múa thiết hài “can can". Các cô gái Gia Long trong phục trang của nam, vẽ râu trên mặt, áo bỏ trong quần, thắt nơ đội nón rộng vành rất điệu nghệ và đều tăm tắp trong những lúc rãy gót chân xuống sàn sân khấu tạo ra những âm thanh lóc cóc đặc trưng của điệu múa thiết hài. Trong trang phục con trai, trông các cô bé điệu đàng và ngây thơ, dễ yêu vô cùng.
Chưa đến tiết mục biểu diễn nên thằng Mai và thằng Dũng chạy xuống khán phòng xem chương trình biểu diễn của nữ sinh trường Trưng Vương. Trên sân khấu, trong hoạt cảnh “Trưng Nữ Vương”, hai vị nữ lưu Trưng Trắc và Trưng Nhị trong áo hoàng bào xuất hiện trên kiệu, tay cầm kiếm, uy nghi theo điệu nhạc bài Trưng Nữ Vương. Những tên giặc Đông Hán - vẫn do các nữ sinh Trưng vương giả trai đóng bị Hai Bà đánh cho tan tác tơi bời. Cả hội trường vỗ tay vang dội, tán thưởng còn nhiều hơn tiết mục của nữ sinh Gia Long trong tiết mục thiết hài. Bỗng dưng thằng Mai reo to, tay chỉ lên sân khấu:
- “Chị Dung... chị Dung... Mầy ơi... chị Dung... chị Dung đóng vai Trưng Trắc, tay đang múa kiếm đó...”
Thằng Dũng thắc mắc:
- “Dung nào? Tao đâu có biết chị Dung nào đâu?”
- “Trời ơi, chị Dung... mình gặp ờ tiệm sách Khai Trí đó... Chị Dung học ở kịch nghệ đó...”
- “À... à... tao nhớ rồi. Chị Dung chỉ cách mầy thi vào trường Quốc gia Âm nhạc kịch nghệ đó hả? Hèn chi, chị ầy đóng hay ghê.”
- “Chị ấy đẹp quá.”
Thằng Mai đứng xuýt - xoa mãi cho đến khi màn đóng mà nó vẫn đứng nhìn lên sân khấu như bị thôi mien. Mãi cho đến khi màn mở giới thiệu tiết mục đơn ca “Hòn Vọng Phu” của một nam sinh trường Mạc Đĩnh Chi, thằng Mai mới hết bần thần. Nghe giọng hát của nam sinh này, thằng Dũng nhận xét: “Anh này hát hay ghê... Hình như hồi nãy anh ấy lĩnh xướng bài Việt Nam - Việt Nam?"
- “Giọng ảnh ấm ghê hé... Lại đẹp trai nữa. Kiểu này chắc mấy con ghệ chết hết. Có nghe giới thiệu ảnh tên gì không?”
- “Hình như là Nguyễn Chánh Tín... thì phải. Học đệ nhứt đó nghe mậy!”
Thằng Chương xuất hiện, ra dấu cho tụi nó vào hậu trường. Thằng Dũng tỏ vẻ tiếc khi không được đứng nghe nam sinh này hát hết ba bài Hòn Vọng phu với màn hoạt cảnh phụ họa.
Thằng Việt từ trong hậu trường đi ra đứng trước micro. Nó nói một cách tự nhiên không cần cầm giấy:
- “Kính thưa quý vị quan khách, các thầy cô và các bạn học sinh liên trường. Trong những năm qua, với ý định phục hưng nền quốc nhạc, trường trung học Petrus Ký, dưới sự hướng dẫn của nhạc sư Nguyễn Hữu Ba đã đưa dân ca vào trong chương trình học. Không thể nghĩ rằng người Việt Nam chỉ biết hát nhạc Mỹ, những bản nhạc thời thượng, thị trường. Muốn được như vậy, học sinh, rường cột tương lai của nước nhà, những công dân Việt Nam mai hậu phải được học và hiểu về âm nhạc dân tộc. Trong chương trình hôm nay, trường trung học Petrus Ký xin được giới thiệu những tiết mục nhỏ như là trình bày thành quả mà thầy và trò chúng tôi đã cố gắng trong nhiều năm qua.”
Quả thật thằng Việt rất có khiếu ăn nói. Nó giới thiệu thật lưu loát và có chuẩn bị nội dung hẳn hoi. Tiết mục chưa biểu diễn nhưng khán giả đã vỗ tay rào rào trong khắp khán phòng.
Thằng Mai và thằng Dũng, trong phục trang của hai chàng lính thú với những động tác múa thuần thục, hòa trong nền nhạc cổ gồm đàn tranh, đàn bầu, sáo, đờn nhị, sanh tiền, trống do các anh Kiệt, Duy Anh, Trang, anh Nhơn, thằng Chương biểu diễn. Tất cả các anh trong ban nhạc đều trong trang phục khăn đóng, áo dài đã tạo một nét khác lạ trong trang phục sân khấu của học sinh các trường khác. Thằng Mai biểu diễn anh chàng lính thú buồn rầu bước xuống thuyền rất linh động, làm cho khán giả liên tưởng đến thân phận lính thú qua lời hát dựa theo bài ca dao “Lính thú ngày xưa”: “Ngang lưng thì thắt bao vàng đầu đội nón dấu vai mang súng dài Một tay thì cắp hỏa mai Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền Thùng thùng trống đánh ngủ liền Bước chăn xuống thuyền, nước mắt như mưa...”
Hai thằng Mai và Dũng bước vào sân khấu bằng những động tác bước xuống thuyền làm khán giả cười và vỗ tay khen ngợi. Nhất là thằng Mai, trong gương mặt đã hóa trang, đã diễn tả được sự buồn khổ của chàng lính thú làm mọi người trầm trồ cho đến khi màn kéo lại.
Thằng Việt lại bước ra sân khấu, liến thoắng:
- “Vừa rồi quý vị được xem tiết mục những người lính thú mà không, họ lại không thú lắm khi làm lính. Ngày xưa, có lẽ mấy ông quan muốn thanh niên trai tráng đi lính nên đặt là lính thú làm mọi người lầm tưởng đi lính là thú. Rốt cuộc người đi lính thú lại không thú chỉ có các ông quan là thú thôi, phải không thưa quý vị?!”
Khán giả vỗ tay cười vì sự nhận xét, pha trò có duyên và mới mẻ đó. Thằng Việt tiếp tục:
- “Nhưng sau đây là một tiết mục sẽ làm quý vị quan khách thích thú khi chúng tôi giới thiệu một cây đàn của người Việt Nam biết bay...”
Khán giả xì xào “một cây đàn Việt Nam biết bay...?" chờ cho tiếng xì xào chấm dứt và sự im lặng trở lại khán phòng, thằng Việt nói tiếp:
- “Dạ, cây đàn biết bay đó là cây đàn... cò. Con cò thì phải biết bay phải không quý vị?”
Khán giả cười đồng tình. Nó tiếp tục:
- “Đó là bay theo nghĩa đen, còn nghĩa bóng là bay bổng, bay vượt cùng với âm thanh của những cây đàn nổi tiếng trên thế giới.”
Anh Trang: (từ trong hậu trường bước ra): Tôi không tin.
Việt: Chúng tôi, học sinh trường Petrus Ký, sẽ chứng tỏ cho anh thấy.
Anh Trang: Bằng cách nào?
Việt: Anh đàn bản gì, chúng tôi chơi đàn cò bản đó.
Anh Trang: Tôi chơi một loại nhạc cụ được gọi là nữ hoàng của các nhạc cụ, đàn violon.
Việt: Còn chúng tôi sẽ chơi một loại nhạc cụ được gọi là nhạc cụ dân tộc, đó là đàn cò hay còn gọi là đàn nhị...
Anh Trang: Nào chúng ta cùng so tài.
Việt: Khoan... Khoan...
Anh Trang: Sợ rồi hả anh bạn?
Việt: Đúng vậy. Tôi sợ vì tôi khòng biết chơi đàn nên không thể thi đua với anh. Tôi xin giới thiệu học sinh Minh Chương, học sinh đệ tứ Petrus Ký và là nhạc sinh năm thứ hai của trường Quốc gia Âm nhạc kịch nghệ sẽ chơi đàn cò.
Chương từ trong hậu trường, vẫn trong trang phục khăn đóng áo dài, tay xách cây đàn nhị bước ra. Khán gíả lại tiếp tục vỗ tay vì đây là lần đầu tiên họ được xem tiết mục so tài giữa cây đàn violon và cây đàn nhị. Thằng Việt vẫn tiếp tục đứng ra làm người giới thiệu cuộc tranh tài.
- "Tôi xin mời anh đàn trước rồi đàn cò sẽ đáp lễ.”
Anh Trang gật đầu chào khán giả rồi bắt đầu đưa vĩ lên kéo đoạn đầu bài “Trở về mái nhà xưa”.
Sau khi anh Trang ngừng đàn, thằng Việt quay qua thằng Chương:
- “Anh có sợ không? Sợ thì chịu thua cho rồi.”
Thằng Chương lắc đầu.
- “A... anh Cò không sợ... vậy xin mời kéo.”
Thằng Chương co một chân, đặt cây đàn nhị co vào bắp vế, bắt đầu kéo đoạn nhạc bài “Trở về mái nhà xưa”.
Khán phòng im phăng phắc, sau đó tiếng vỗ tay tràn ngập kéo dài vang lẫn trong tiếng huýt sáo và tiếng “bis... bis...”. Đợi cho khán phòng im lặng trở lại, thằng Việt nói với khán giả:
- “Đó quý vị thấy không, đánh đàn cò là phải co một chân lên như con cò có cái cẳng cong cong có cái cổ co co...” Một tràng cười vang lên. Thằng Việt quay sang anh Trang: “Sao, anh có định kéo thêm vài bài nữa không?”
Anh Trang đưa cây đàn lên gật đầu. Sau đó, anh liền kéo đàn bài “Serenade” của Schubert. Lần nay, không cần sự đưa đẩy của thằng Việt, thằng Chương co chân, đặt đàn lên, chơi lại. Anh Trang đàn tiếp vài bài nữa và bài nào cũng được thằng Chương đáp lễ liền. Khán giả vừa vỗ tay hoan nghênh vì ngoài việc lần đầu tiên họ được nghe cây đàn nhị chơi nhạc cổ điển họ còn được thấy nhạc công vừa đánh đàn vừa co chân lên như con cò. Vui không thể chịu được. Ngay cả trong hậu trường, các diễn viên học sinh của các trường bu quanh bên cánh gà nhìn xem cuộc tranh tài đàn ngộ nghĩnh này.
Sau cùng, để chấm dứt tiết mục so tài, hai tay đàn cùng song tấu bài “Thu khói lửa” của thầy Nguyễn Hữu Ba. Phải nói là, bài nhạc này khá lạ đối vơi một số quan khách và học sinh vì bài nhạc đã được thầy viết vào những năm kháng chiến chống Pháp. Một số quan khách và các giáo sư ngồi xem có nhận xét “Chương trình văn nghệ của trường Petrus khá độc đáo, biết xây dựng những tiết mục lạ, không trùng lắp.” Khi các các “diễn viên” trong ban văn nghệ dân ca của trường Petrus Ký biểu diễn xong vừa ra khỏi hậu trường đi ra hành lang dọc theo khán phòng thì có hai vị khách bất ngờ xuất hiện. Thấy hai vị khách này, anh Trang và các thành viên trong nhóm đều khoanh tay cúi đầu chào trong sự xúc động “Dạ, tụi con chào thầy hiệu trưởng. Dạ, tụi con chào thầy...” Hai vị khách bất ngờ đó không ai khác hơn là thầy hiệu trưởng và thầy Nguyễn Hữu Ba. Té ra nãy giờ hai thầy ngồi dự trong khán phòng cùng khán giả mà tụi nó không biết. Thầy hiệu trưởng xoa đầu thằng Chương:
- “Mấy con chơi hay quá. Thầy có lời khen ngợi các con đã làm rạng danh trường ta...”
Thầy Ba nói thêm:
- “Các em nghĩ ra tiết mục hai cây đàn thi đấu thật là tài tình...”
Anh Trang thay mặt nhóm văn nghệ giới thiệu:
- “Thưa thầy người nghĩ ra tiết mục này là em Việt..."
Thật không ai ngờ người nghĩ ra tiết mục vinh danh cây đàn cò và giới thiệu thật sinh động lại là thằng Việt. Tiết mục này đến với nó một cách bất ngờ sau đêm thi đấu của thằng Chương và nhóm văn nghệ của thằng Hữu. Sau đó, thằng Việt gặp anh Trang đề xuất ý kiến này và được anh Trang đồng ý, bổ sung vào thời gian chót. Không ngờ nay lại là một tiết mục, dù không ồn ào trong cách biểu diễn nhưng lại có chiều sâu là giới thiệu được tính năng độc đáo của cây đàn dân tộc. Thầy hiệu trưởng cười:
- “Còn hai em nào đóng vai lính thú đâu?"
Anh Trang chỉ hai thằng Mai và Dũng:
- “Dạ, hai em này đây thầy.”
- “Cha... đây là hai kịch sĩ tài danh tương lai của trường ta đây hả...” Rồi thầy nói thêm: “Ráng học nghe...”
Tụi nó nghe thầy khen như mở cờ trong bụng. Khi hai thầy vào trong hội trường rồi tụi nó vẫn còn đứng đó ngất ngây. Tụi nó không ngờ hai thầy vẫn dành thời giờ để xem tụi nó biểu diễn. May mà các tiết mục được đầu tư, xây dựng đàng hoàng nếu không thì chắc làm phụ lòng các thầy vì làm mất danh tiếng của trường.
- “Chào anh lính thú.”
Thằng Dũng giật mình quay lại. Cô bé Thanh Danh đang đứng sau lưng nó. Thằng Dũng vừa ngạc nhiên vừa vui, nó lắp bắp:
- “Danh... Danh cũng có xem nữa hả...?”
-“Đi xem ủng hộ anh Kiệt.”
- “Không ủng hộ trường mình hả?”
- “Trường Gia Long có nhiều người ủng hộ rồi. Cũng không ủng hộ Petrus Ký chỉ ủng hộ anh Kiệt thôi.”
Thằng Dũng trêu:
- “Không ủng hộ Dũng sao?”
- “Không.”
- “Không ủng hộ Dũng, làm sao Dũng vẽ cuốn sổ thơ”
- “Ý... cuốn sổ thơ hả... Vậy thì Danh ủng hộ nguyên ban nhạc được không?”
- “Ừ... vậy thì được.”
- “Anh Dũng nói cuốn sổ thơ...”
- “Chưa xong.”
- “Xí... Vậy mà cũng nói làm Danh mừng hụt.”
- “Tại mấy hôm nay chuẩn bị cho văn nghệ quá...”
- “Vậy mà Danh cứ tưởng..."
- “Ngày mốt nhé... ngày mốt Danh cứ lại thùng thư, sẽ có một quyển thơ thật đẹp để trên nóc...”
Tụi nó quay trở lại vào hội trường. Bây giờ là phần quan trọng nhất của buổi liên hoan văn nghệ liên trường là phần công bố giải. Một vị quan khách đại diện cho Nha trung học thuộc Bộ Giáo dục đứng trên bục phát biểu ý kiến:
- “Tôi chưa bao giờ được xem những cuộc tranh tài văn nghệ học sinh giữa các trường trung học công lập hay và thích thú như thế này. Hy vọng rằng trong tương lai những nhân tài trong buổi biểu diễn liên hoan sau đây sẽ trở thành những danh tài cho nền văn nghệ nước nhà mai sau... Và các em nên nhớ là dủ đoạt giải cao hay thấp cũng chỉ là một sự xếp hạng tương đối, điều này không định đoạt được sự phát triển của nền văn nghệ từng trường hay của từng cá nhân. Đồng giải nhất: trường Petrus Ký, trường Trưng Vương và học sinh Nguyễn Chánh Tín trường Mạc Đĩnh Chi. Giải nhì được trao cho trường Gia Long và trường Chu Văn An, giải ba.
Anh Trang đại diện cho trường Petrus Ký, chị Ngọc Dung đại diện cho trường Trưng Vương cùng với đại diện các trường khác ra sân khấu nhận giải... trong tiếng nhạc hòa tấu hào hùng của bài “Học sinh hành khúc” của nhạc sĩ Lê Thương. Những người đại diện cho các trường nắm tay nhau. Thằng Mai thấy Nguyễn Chánh Tín nắm tay chị Ngọc Dung. Nó ước gì minh là Nguyễn Chánh Tín. Cả khán phòng rộn ràng trong những tiếng vỗ tay cổ vũ. Thằng Mai đứng đợi chị Ngọc Dung trong hậu trường chứ chưa vội theo thằng Dũng ra xe. Nó muốn chào chị Ngọc Dung. Chỉ chào thôi, nhưng sao mà tim nó vẫn run lên trong lồng ngực. Nó nói thầm “em chào chị... em chào chị...” mà không để ý rằng chị Dung đang đứng cạnh nó, đang nói chuyện với một cô gái nào đó. Khi nghe tiếng chị Ngọc Dung, nó giật mình, run run gật đầu chào: “Em chào chị...”
Ngọc Dung nhìn nó. Mặt nó vẫn chưa tẩy trang, vẫn còn trong gương mặt của chàng linh thú sầu não:
- “Em... em... là lính thú hồi nãy hả. Diễn hay nghe..."
Nó mạnh dạn nói ngay:
- “Chị... chị quên em rồi hả... Em là Mai... Mai... khỉ...”
Ngọc Dung đưa tay gãi đầu, ngờ ngợ để xem gặp chú chàng này ở đâu:
- “Em... chị...”
- “Em gặp chị ở nhà sách Khai Trí đó... Em nhờ chị hướng dẫn cho em thi vào trường Quốc gia Âm nhạc kịch nghệ đó, chị nhớ chưa?”
- “A... Chị nhớ rồi... Tại em... chưa tẩy trang chị nhận không ra. Em có khả năng đó... Để chị hướng dẫn thêm cho em... Hôm nào lại nhà chị nghe, nhà chị ở số 123 Trần Quý Cáp... Có lại thì lại vào ngày chủ nhật, mấy ngày kia chị đi học hết rồi...”
- “Dạ."
Nó nhẩm trong đầu 123 Trần Quý Cáp, 123 Trần Quý Cáp cho đừng quên. Nó muốn thét lên hay gặp ngay thằng Dũng để nói lại chuyện chị Dung đã cho nó địa chỉ và kêu nó đến nhà chơi. Trời ơi, hôm nay nó sung sướng quá! Việc ban văn nghệ đoạt giải thưởng vẫn không bằng nó vừa được chị Dung cho địa chỉ nhà. Nó lâng lâng trong người như đang lên đồng.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 13 Aug 2013, 13:22

 Chương 19

Chỉ còn nửa tháng nữa là tết.
Tụi nó được thông báo là sẽ ăn tất niên vào ngày 27 âm lịch sau đó nghỉ cho đến hết mùng bảy tết.
Những ngày này được tụi nó tính bằng ngày âm lịch 16 tết, 17 tết cho đến ngày đưa ông táo chứ tụi nó không thèm tính bằng ngày dương lịch. Nếu tính bằng dương lịch tụi nó sẽ thấy khổ vì những ngày tết rớt vào tháng 2 dương lịch. Điều đó có nghĩa là sau tết, tụi nó sẽ bắt đầu vật lộn với bài vở để chuẩn bị cho thì kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt vào tháng 4. Nhưng trong đầu đứa nào cũng nghĩ đến hai chữ “kệ nó”. Thằng Thuật còn phán câu “Học cho lắm, tắm cũng ở truồng!” Kệ nó, ăn tết cái đã!
Ăn tết là vui. Ăn tết là có quần áo mới, có tiền lì xì và... được nghỉ học đi chơi, xem phim thoải mái. Tết cũng là dịp cho những thằng học sinh nhà nghèo như thằng Mai, thằng Dũng kiếm tiền trong những ngày giáp tết để... tiêu trong những ngày tết. Vì thế, thằng nào cũng chờ đợi tết.
Không chỉ tụi nó mà ngay cả không khí trong trường cũng làm tụi nó chộn rộn. Nào là ban đại diện tổ chức đi bán báo xuân ở các tỉnh xa, rồi tổ chức Cây Mùa Xuân cho những gia đình nghèo nạn nhân chiến cuộc nhưng rộn ràng hơn là tụi nó dự định tổ chức chương trình liên hoan tất niên sao cho thật xôm tụ.
Một cuộc họp lớp được tổ chức trong giờ giáo sư bận họp vắng, chỉ được nghỉ một tiếng nên tụi nó ở lại luôn trong lớp. Thằng Tuấn trưởng lớp đứng giữa lớp phát biểu, còn tụi trong lớp vẫn ngồi tại chỗ. Thằng Thuật đề nghị:
- “Mầy lên bàn giáo sư ngồi luôn cho nó oai mậy.”
- “Ờ, chừng vài năm nữa, mầy đi học lại, tao sẽ dạy mầy... Ê, tụi bây... ủa các bạn chú ý...”
Thằng Tuấn vỗ tay, tiếng ồn ào ngưng bặt. Thằng Tuấn phát biểu:
- “Năm ngoái lớp tụi mình tổ chức ăn tất niên buồn quá. Năm nay làm sao phải vui hơn, đông hơn... tụi mình phải tham dự đủ. Năm nay là năm cuối trung học đệ nhất cấp, năm sau có thể một số anh em chia tay...”
- “Ê, đừng nói xui mậy... anh em đều lên đệ tam hết...”
- “Thì tao có nói anh em rớt đâu nhưng tụi mình học các lớp khác nhau, không còn gặp nhau nữa. Do đó, nằm nay mình phải ăn tất niên cho đủ mặt, có chụp hình để dành làm kỷ niệm nữa...”
Thằng Hữu nói to:
- “Đồng ý, bây giờ mình bàn chương trình đi...”
Thằng Ninh hét lên:
- “Mình mở “bum” đi.”
Thằng Thạch cà khịa:
- “Đồng ý. Sau khi liên hoan mình mở bum ở nhà thăng Ninh.” Thằng Ninh nhìn thằng Thạch chửi:
- “Đ. M mầy con...”
Thằng Dũng đứng lên:
- “Tao thấy tụi mình nên có một dàn nhạc, có chương trình văn nghệ cho nó xôm tụ...”
Có nước ngọt, bánh kẹo...”
- "... Có đủ thứ nhưng đóng tiền in ít thôi...”
- “Có được mời khách không?”
- “Phải mời khách chứ, có mấy con ghệ nữa mới vui...”
- “Năm ngoái, thằng Thuật có mời con ghệ gì thấy mà ghê...”
- “Chắc vợ nó ở dưới quê Mỹ Tho... he... he...”
Thằng Thuật quê quá, lên tiếng:
- “Năm nay, nhìn ghệ của tao tụi bây lé mắt luôn...”
Thằng Tuấn vãn hồi trật tự:
- "Tao tính vầy nè, thằng Hữu chơi ban nhạc đầy đủ đàn, trống, loa nghen. Mình đi mướn mấy dụng cụ này đi. Thằng Dũng lo trang hoàng lớp cho đẹp, thằng Thạch lo vụ bánh kẹo, còn thằng Khải, Thuật, Ninh, Hoàng, Việt, Mai... và một số thằng nữa, thôi tất cả anh em mình lo khiêng bàn...”
- “Còn mầy làm gì, không thấy tên mầy?”
- “Tao chỉ huy. Phải có chỉ huy mới thành công. Tao đi hướng đạo nên biết thuật chỉ huy...”
- “Mỗi thằng phải đóng bao nhiêu.”
- “Mười đồng. Thằng nào mời khách là 20 đồng.”
- “Sao mắc vậy. Khách cũng bằng giá với tụi mình sao.”
- “Vậy tao không mời con ghệ nào hết.”
- “Thôi giảm xuống, thằng nào mời khách thì đóng 15 đồng. Khách đâu có được ăn chùa đâu”, thằng Tuấn kết luận.
- “Đóng tiền cho ai?”
- “Đóng tiền cho thằng Thịnh kẹo.”
Thằng Thạch đứng lên:
- “Đồng ý đóng tiền cho thằng Thịnh kẹo, nhưng khi lấy tiền mua bánh, kẹo với nước ngọt là phải xuất tiền liền nghe chưa. Thằng này, tiền mà vô túi nó là biệt có lấy ra được...”
Đến phiên thằng Thịnh:
- “Mua số lượng nhiều được giảm giá đó nghe Thạch, nhớ trả giá. Trước khi mua nói giá cho tao biết trước.”
- “Bộ mầy nói tao ăn lời hả? Tao đâu có giống mầy đâu mậy. Tao sẽ đặt chị Lan bán bánh ở hành lang mua giùm mình cho khỏe...”
Thằng Thịnh nói giọng chỉ huy:
- “Rồi bắt đầu từ hôm nay, đứa nào có tiền đóng liền. Hạn chót là ngày đưa ông Táo. Thằng nào không đóng là khỏi dự liên hoan tất niên..."
Trong khi tụi nó đang bàn luận sôi nổi về chuyên tổ chức liên hoan tất niên sao cho xôm tụ, thì ở dưới này, thằng Dũng lấy ra miếng giấy trong vở tập vẽ và gấp đôi lại. Nó bắt đâu lấy bút chì vẽ gương mặt một người con gái, mấy nhành mai và viết thêm vài câu thơ của Xuân Diệu: “Xuân đang tới nghĩa lá xuân đang qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già” mà nó rất đắc ý. Nó sẽ gửi tâm thiệp xuân này đến cho cô bé Thanh Danh.
Thằng Dũng mở cuốn vở chép những bài thơ hay của nó lấy ra mảnh giấy pơ-luya gấp tư, có những giòng chữ con gái mang màu mực tím. Nó đã đọc trang thư này nhiều lần rồi nhưng bây giờ nó vẫn lấy ra ngắm những giòng chữ mực tím đó để tìm thi hứng. Đây là phần thưởng cho những buổi nó ngồi cặm cụi chép thơ của các nhà thơ tiền chiến vào quyển sổ sưu tầm thơ của cô bé Thanh Danh. Nó chép bằng ngòi viết rôbic để có những nét chữ nghiêng đẹp. Nó đã trình bày những bài thơ đó với những bức tranh nho nhỏ bắt chước theo những tranh trong các báo. Nhiều lúc vừa chép thơ, vừa gãi chân vì bị muỗi cắn, nó lại nghĩ đến tâm trạng của những nhà thơ khi “Hồn lơ đăng mộng ra ngoài cửa lớp” của thi sĩ Đinh Hùng, ôi nó thích bài thơ của thi sĩ này chỉ ở mấy câu "Làm học trò không có sách cầm tay. Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ”. Nhiều lần nó đã đem tâm sự của mình nói cùng cây bông giấy trước hàng rào nhà con bé Xuân Chi. Nhưng cây bông giấy chẳng nghe mà con bé Xuân Chi lại chẳng cần nghe!
Khi chép xong quyển sổ sưu tầm thơ cho cô bé Thanh Danh xong, theo .lời hẹn nó lại nhà cô bé - Ty bưu điện quận 6 để gửi. Vừa qua khỏi cổng ty bưu điện, nó thấy một ông đeo kính, dáng người tròn tròn, áo sơ mi dài tay, bỏ trong quần, chắp tay sau đít, đi qua, đi lại nhìn nó với cặp mắt khả nghi. Nhưng nó bình tĩnh, làm bộ mở cặp lấy ra cái bì thư - vì nó đã chuẩn bị cho tình huống bất ngờ này - đi đến chỗ người đàn ông và hỏi một cách lễ phép:
- “Thưa bác, con muốn gửi thư bảo đảm phải vào quày nào ạ?”
Người đàn ông mập phệ này nhìn nó một cách cẩn thận, từ trên xuống dưới một chặp làm nó hồi hộp, muốn run lên, rồi trả lời:
- “Hầy, cái lầy ngộ lâu có piết. Ngộ đợi người quen đi nhẩm xà...”
Thằng Dũng hơi bị quê nên nói chọc tức:
- “Cái lị này nhẩm xà ngầu lôi tăng cể á.”
Mặc cho ông này đang ngơ ngác vì câu nói nửa nạc, nửa mỡ của nó, thằng Dũng đi vào trong quày ghi - sê nơi có đặt thùng thư dành cho khách bỏ thư bảo đảm. Chính cái nóc thùng thư này là địa điểm bí mật mà cô bé Thanh Danh bảo thằng Dũng đặt quyển sổ chép thơ lên trên vì thùng thư đặt khá cao, khuất tầm nhìn của mọi người.
Nó lấy quyển sổ ra, mở ra để nhìn xem “kiệt tác” của nó rồi kiểng chân lên đặt quyển sổ trên nóc thùng thư. Khi vừa đặt quyển số xuống nóc thùng thư thì bàn tay nó phát hiện một cái bì thư đã đặt sẵn tại đó. Nó không hiểu là thư của ai bỏ quên nên cũng chẳng để ý chỉ lo đặt quyển sổ thơ lên cái đã rồi mới tính sau. Khi đặt quyển sổ lên nóc thùng thư xong rồi, nó liền đi ra cửa, thở phào vì nhiệm vụ bí mật đã xong như trong phim tivi Mỹ “Mission impossible”, mà hàng tuần tụi nó phải canh xem cho bằng được, mặc dù chẳng hiểu các nhân vật trong phim nói gì nhưng đoán cốt truyện thì tụi nó cũng hiểu được lờ mờ.
- “Cháu ơi...”
Giọng của một người đàn ông đang gọi nó. Thằng Dũng quay lại. Một người đàn ông gầy, mái tóc hoa râm, cặp mắt kính cận nằm trên gương mặt hiền từ khắc khổ từ đâu xuất hiện nó cũng chẳng rõ. ông ta huơ huơ lá thư trên tay, hỏi:
- “Cháu làm rớt thơ nè...”
- “Dạ...”
Ông ta đưa cái bì thơ cho nó. Thằng Dũng ngần ngừ rồi cầm đưa hai tay cầm lấy “Con cám ơn chú” rồi liếc nhìn xuống dòng chữ đánh máy phía ngoài bì thư. Nó giật mình. Giòng chữ đánh máy chính là tên của nó. Đây là thư của con bé Thanh Danh gửi cho nó. Nó quay lại nhìn người đàn ông thì thấy ông ta đẩy cánh cửa ăn thông từ ghi-sê dành cho khách gửi thư vào phòng làm viêc của trưởng ty bưu điện. “Chết cha, không lẽ đây là ba của Thanh Danhệ Hú hồn, hú vía.”
Người đàn ông tốt bụng đó có phải là ba của cô bé Thanh Danh không thì cũng chưa chắc chắn lắm nhưng chắc nhất là cái thư này là của cô bé gửi cho nó. Nhưng dù sao thì cũng hú hồn!
Vừa ra khỏi cửa ty bưu điện, thằng Dũng vẫn còn thấy người đàn ông bụng phệ đứng đó, với tâm trạng vui vẻ nó gật đầu chào. Dựa chiếc xe đạp vào góc tường, nó liền mở thư ra xem. Nét chữ nghiêng viết bằng mực tím trên giấy pơluya màu xanh "Kính gửi anh Dũng. Danh nghe anh Kiệt nói anh cũng có làm thơ cho tờ giai phẩm xuân Petrus. Danh có đọc và thấy hay lắm. Hay hơn đoản ván của Danh nhiều. Danh cám ơn anh về việc anh Dũng chép dùm Danh mấy bài thơ sưu tầm. Anh Dũng có biết giai thoại về hoa Forget - me - not không kể cho Danh nghe với. Tiếng Anh phải viết là Don”t forget me mới đúng văn phạm chứ. Xí nữa Danh quên, hôm xem anh đóng vai lính thú đời xưa vui ghê. Nếu anh có viết thư cho Danh thì nhớ để ở chỗ này nghe chưa. Thanh Danh.”
Bức thư có bao nhiêu đó chữ nhưng thằng Dũng cứ xem đi xem lại như muốn tìm ra ẩn ngữ trong những giòng chữ nghiêng màu mực tím đó. “Hoa Forget - me - not - Đừng quên tôi có thể là ẩn ngữ cúa loài hoa tương tư thảo và cũng là ẩn ngữ của cô bé Thanh Danh. Phải giải thích cho cô bé thế nào đây giữa Don”t forget me va “forget - me - not”, phải hỏi mấy sư phụ ở nhà in thôi!
- “Mầy vẽ cái gì vậy?”, tiếng của thằng Mai đã đưa thằng Dũng trở về với thực tại.” À… à mầy vẽ thiệp xuân hả. Vẽ giúp tao một cái đi”, thằng Mai nằn nỉ.
- “Mầy cũng tặng thiệp xuân nữa à?”
- “Không. Tao làm thiệp mời.”
- “Thiệp mời?”
- “Ừ, mời ăn tất niên với lớp mình.”
- “Há...” thằng Dũng kêu lên ngạc nhiên. “Mầy mời ai, bạn gái hả?”
- “Không phải bạn gái, nhưng bí mật. Mầy cứ vẽ giùm tao đi.”
- “Rồi, nhưng cũng phải đợi vài hôm nữa nghe.”
- “Mầy vẽ cho tao một cái nữa”, tiếng thằng Thạch vang lên. Thằng Dũng cằn nhằn:
- “Mấy thằng tụi bây như tía tao vậy...”
Thằng Thạch cười hì hì:
- “Giúp đỡ anh em mà, nữa tao bao mầy đi coi xi-nê...”
Nghe nói đi xem xi-nê thằng Dũng dịu giọng xuống liền: “Ừ, nhưng cũng phải từ từ nghe...”
- “Chừng nào có?”
- “Qua tết.”
- “Ừ, vậy thì đợi qua tết coi xi-nê luôn.”
Thằng Thạch biết cái vụ xem xi-nê là chỗ yếu của thằng Dũng nên đem ra hù. Mà quả thật, khi nghe đến việc xem xi-nê ỉà thằng Dũng chịu thua ngay.
- “Giỡn chơi với mày cho vui, vài hôm nữa có.”
- “Mầy nhớ vẽ cái thiệp có hình một đứa con gái tóc thắt bím nhe, cái mặt hơi tròn tròn...”
Nó định nói thêm “giống như con nhỏ bán bánh mì ở rạp Việt Long” nhưng thôi vì thằng Dũng đâu có biết con nhỏ này mà nó cũng chẳng cần biết để làm gì...
Trong khi mấy đứa trong lớp bận bịu với việc tổ chức tất niên sao cho xôm tụ thì thằng Hòe lại phải học tổng quát gần hết cả chương trình đệ tứ để tham dự kỳ thi “Đố vui để học “giữa liên trường Petrus Ký, Gia Long và Chu Văn An để đấu với học sinh liên trường Marie Curie, J.J. Rousseau và Regina Pacis. Được chọn là học sinh để tham, dự kỳ thi này quả là một sự hãnh diện cho thằng Hòe và học sinh lớp tứ 7 vì trong 9 lớp đệ tứ cả trường, chỉ một mình mình học sinh của lớp tứ 7 được chọn.
Thằng Hòe được chọn cũng đúng thôi. Nhìn vào thành tích biểu1 của nó từ lớp đệ thất đến đệ tứ thì toàn chỉ thấy ba con số 18, 19, 20 cho các môn học. Năm nào thằng Hòe cũng nhận được học bổng cho học sinh giỏi. Tụi học sinh trong lớp tứ 7 chẳng lấy làm lạ vì gia đình thằng Hòe là một gia đình có truyền thống học hành. Chẳng những ba nó là giáo sư toán, mà mẹ nó lại là giáo sư Pháp văn nên chuyên học hành trong nhà nó rất được coi trọng. Không chỉ nó là học sinh giỏi mà cả hai thằng em nó, đều là học sinh có hạng của trường Petrus Ký. Nói đến tên thằng Hòe thì học sinh cấp lớp đệ tứ đều biết.
Thầy giám học của trường Petrus Ký là giáo sư hướng dẫn của đội liên trường học theo chương trình Việt đã có buổi gập gỡ ba học sinh của trường Petrus, Gia Long và Chu Văn An. Thầy nói:
- “Cuộc thi này là của học sinh các em, thầy là giáo sư hướng dẫn chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn và giải thích những điểm cụ thể về cuộc thi hoặc giải thích, hướng dẫn cho các em những vấn đề trong học tập do các em đặt ra. Các em phải phối hợp, cùng học với nhau, tự đặt ra những câu hỏi và tự cùng nhau giải thích, trả lời theo nội dung chương trình các em đã học. Các em phải làm sao để giữ được uy tín của trường Việt Nam, của chương trình học Việt Nam khi thi đấu cùng các học sinh trường Pháp. Thầy được biết các em đều là học sinh giỏi, thầy mong các em hãy cùng đoàn kết với nhau trong học tập. Dù là học sinh trường Petrus Ký hay Chu Văn An, Gia Long... đều là học sinh đại diện cho một ngôi trường duy nhất đó là trường trung học Việt Nam. Có thể ngôi trường của chúng ta còn thiếu thốn về cơ sở, về học cụ nhưng tinh thần ham học cúa học sinh chúng ta không nghèo...”
Thầy giám học nói tiếp về chương trình thi “đố vui để học”: “Chúng ta sẽ tập trung vào các môn toán và sinh ngữ và địa lý cồn sinh ngữ thì chúng ta thi hai môn Anh và Pháp. Phần Anh ngữ thì em Hòe và em Tịnh phải lo, em Huy tập trung phần Pháp ngữ.”
Thằng Hòe được thầy giám học chỉ định làm trưởng nhóm. Nó từ chối và xin nhường lại cho thằng Huy, học sinh trường Chu Văn An. Thầy giám học hỏi:
- “Hai em có ý kiến gì không? Các em là thành viên trong một đội, người đội trưởng phải được thành viên trong đội đồng ý mới được. Em Tịnh có ý kiến gì cứ nói.”
Tịnh, học sinh trường Gia Long, lắc lắc mái tóc thắt bím, nói nhẹ nhàng:
- “Dạ, em bầu cho anh Hòe.”
- “Em cũng bầu cho anh Hòe”, thằng Huy cũng có ý kiến. Thầy Lễ nói:
- “Em Hòe không thể từ chối được. Hai bạn trong đội đã đồng ý chọn em làm đội trưởng, vậy em phải tổ chức kế hoạch học tập cho toàn đội, kỷ luật trong đội khi tham dự ngày thi đấu tại đài truyền hình.”
Thằng Hòe gãi gãi đầu: “Em... em...”
Thằng Huy trêu:
- “Còn em em cái gì nữa. Tụi tui đang đợi bồ chỉ huy đây.” Con bé Tịnh hỏi đố thằng Hòe:
- “Anh biết vì sao tui bầu anh làm trưởng nhóm không?”
- “Tại tui cù lần chứ gì?”
- “Vì tôi biết khi bầu anh thì đội tụi mình sẽ thắng giải vì tên anh là Nguyễn Văn Hòe.”
Cả thầy giám học lẫn thằng Hòe và thằng Huy đều thắc mắc: “Tại sao tên Nguyễn Văn Hòe lại thắng cuộc thi?”
- “Vì ngày xưa có một ông trạng tên là Nguyễn Hòe. ông ấy rất giỏi.”
Thằng Hòe hỏi tiếp:
- “Tịnh đọc ở đâu vậy?”
- “Ở trong giấy gói bánh mì chứ đâu... Ủa trong sách chứ. Trong sách, sau đó, khi đọc xong ngưởi ta bán ve chai làm giấy gói bán bánh mì.”
Thằng Huy nhận xét:
- “Như vậy có thể nói khi đọc sách xong nên đem sách bán ve chai để ai ăn bánh mì có thể đọc tiếp...”
Cô bé Tịnh lắc cái bím tóc:
- “Anh Huy nói vậy là không đúng đâu. Nếu mình có sách thì mình phải giữ nó chứ, sao lại bán...”
Hòe gỡ cho Huy thế bí:
- “Chắc Huy nói chơi vậy mà. Tụi mình đâu còn thời giờ đọc sách nữa."
Thấy tụi nó mới gặp nhau lần đầu nhưng có vẻ như khá hòa hợp nên thầy giám học rất mừng. Thầy sợ nhất là tụi nó chỏi nhau vì tự ái thì khó có sự thống nhất trong cách ôn tập và phân công.
Khi tụi nó chuẩn bị ra về, thằng Hòe nói với cô bé Tịnh: “Hôm nào, Tịnh kể cho tui nghe câu chuyện về ông trạng Nguyễn Hòe được không?”
- “Được chứ. Để Tịnh về xem lại chứ lâu quá cũng chỉ nhớ mang máng. Biết đâu anh Nguyễn Văn Hòe là cháu mấy chục đời của ông trạng Nguyễn Hòe thì sao?”
- “Miễn là đừng có bà con với Quách Hòe thì được”, thằng Huy nói vui.
- “Quách Hòe là người Tàu thời Bao Công mà” - con bé Tịnh chữa lại.
Thằng Hòe trở lại vị trí trưởng nhóm của mình:
- “Mấy bạn về tự ôn tập nhé. Từ đây đến ngày thi đấu còn hơn tháng rưỡi nữa...”
- “Hết ăn tết rồi”, thằng Huy le lưỡi.
- “Mỗi tuần chúng ta gặp nhau vào ngày chủ nhật. Lần đầu tiên tại nhà tui ở đường Nguyễn Trãi, xóm Bàu Sen, lần sau là nhà của Huy rồi đến nhà Tịnh cho nó công bằng.”
Con Tịnh lắc đầu định có ý kiến gì đó nhưng nó lại im lặng. Thằng Hòe nói tiếp:
- “Mỗi buổi gập nhau tụi mình tự ra câu hỏi rồi sẽ cùng nhau trả lời như thi thật vậy. Nhớ là ai cũng phải ra câu hỏi hết để bắt người khác trả lời.”
Con Tịnh thắc mắc:
- “Nếu không ai trả lời được thì sao.”
- “Thì người ra câu hỏi phải giải đáp. Và ai cũng phải ráng ra câu hỏi thật khó nhé."
Cô bé Tịnh trêu:
- “Tịnh sẽ ra câu hỏi mà cả hai anh đều trả lời khác nhau cho coi.”
Thằng Huy cũng muốn thử tài con Tịnh:
- “Thử đặt câu hỏi bây giờ xem.”
- “Tịnh sẽ cho ra một câu hỏi rất ư là dễ nhưng hai anh lại trả lời không giống nhau. Chú ý nhé.”
Con Tịnh lấy quyển tập ra rồi nói:
- “Hai anh không được nhìn khi Tịnh vẽ.”
Hai thằng quay mặt đi, con Tịnh hí hoáy vẽ gì đó vào tập. Sau đó nó nói:
- “Xong rồi. Bây giờ Tịnh sẽ cho từng anh xem Tịnh ra câu hỏi gì rồi các anh viết câu trả lời vào giấy, sau đó sẽ mở ra một lượt nghen.”
Thấy có vẻ vui, hai thằng con trai đồng ý để cho con bé Tịnh chỉ huy cuộc thi. Con bé Tịnh cho thằng Huy xem câu hỏi bí mật trong tập trước. Khi nhìn vào tập của con bé Tịnh thằng này ngồi ngẩn người, rồi gãi đầu, lẩm nhẩm “lạ nhỉ... lạ nhỉ...” Con bé Tịnh nhắc:
- “Anh Huy viết câu trả lời lẹ lên. Dễ như ăn chè đậu mà”. Sau đó, nó chuyển qua thằng Hòe. Thằng này hăm hở nhìn vào đề thi bí mật rồi cũng như thằng Huy, nó cũng ngồi ngẩn ra một lát và tự hỏi: “đề thi gì kỳ vậy?”. Khi hai thằng đã trả lời xong câu hỏi vào giấy của mình thì con bé Tịnh bèn mở đề thi ra. Đó là hình vẽ một con heo nhưng nhìn thì hơi hơi giống con chó hay con ngựa với câu hỏi “Đây là con gì?” Xong xuôi, con bé Tịnh bảo cả hai thằng:
- “Đâu, hai câu trả lời của hai anh đâu?”
Thằng Huy mở tờ giấy trả lời của nó ra. Trong tờ giấy đó, nó viết hai chữ “Con lợn”. Sau đó, đến lượt thằng Hòe. Tờ giấy của nó có bốn chữ: “đây là con heo”.
Ba đứa cùng cười phá lên vì trò vui của con Tịnh. Bây giờ đến lượt con Tịnh thắc mắc:
- “Ừ, mà không hiểu sao trường Chu Văn An toàn dân Bắc Kỳ không vậy anh Huy hé?”

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 13 Aug 2013, 13:22

 Chương 20

Thằng Mai đạp chiếc xe đạp không vè, không gạc-đờ-bu chạy vòng lên vòng xuống số nhà 123 Trần Quý Cáp, đến mấy lần mà vẫn không dám dừng lại. Đây là một căn nhà lầu bốn tầng, bề thế mà trước cửa lại có cảnh sát đứng gác. Thằng Mai nhìn kỹ lại số nhà mà nó đã viết trong mảnh giấy. Đúng là số nhà này. Nhưng là nhà sao lại có bóng dáng cảnh sát gác cửa. Hay là mình đã ghi lộn?”.
Thế là nó tự đảo thứ tự những con số nó đã ghi trong mảnh giấy. 123 không phải. Đổi lại số nhà 132 xem sao? Nó đạp xe đến số nhà 132 và bấm chuông. Cánh cửa sắt mở hé. Từ trong đó, một cái đầu với mái tóc dài hippy xuất hiện:
- “Kiếm ai mậy, nhỏ?”
- “Dạ, đây có phải nhà chị Ngọc Dung không ạ?”
“Ngọc Dung nào? Nhà này không có ai tên Dung hết!” Thằng hippy kéo cánh cửa sắt lại cái rột, không kịp cho thằng Mai cám ơn. Thằng Mai đứng tần ngần rồi lẩm bẩm “hay là 321?”.
Nó lại đạp ngược xe về hướng đường Lê Văn Duyệt, gần ngã tư rạp Nam Quang, số nhà 321 là của công ty Xuất nhập cảng 18 ngành Long Phụng, đang cửa đóng then gài vì là ngày chủ nhật, chỉ có bóng một chú Chà và thấp thoáng đàng sau cánh cửa sắt. Nhìn thấy bóng chú Chà và thằng Mai bỗng thấy sợ vì nó thưởng nghe nói đến khả năng thư ếm bủa ngãi của mấy chú Bảy Chà kem đánh răng Hynos này.
Không nản lòng, thằng Mai bắt đầu chuyển qua số nhà 312. Nó tự nhủ trong lòng, trong buổi sáng này thế nào cũng đi hết những số nhà do nó đảo lộn thứ tự từ con số 123. Chắc chắn là căn nhà số 312 rồi vì nó nhìn vào thì thấy một cây đàn dương cầm to lớn nằm giữa phòng khách. Căn nhà có vẻ văn nghệ như chị Ngọc Dung vậy.
Một người phụ nữ trạc 45 - 50 tuổi mở cửa. Bà ta nhìn thằng Mai từ trên xuống dưới như đang để đánh giá thằng này là ai mà dám nhấn chuông cửa. Thằng Mai rụt rè:
- “Dạ thưa bác, đây có phải là nhà chị Ngọc Dung không ạ?”
- “Mầy là gì của con Dung?”
Thằng Mai mừng rơn:
- “Dạ, con là em... không phải... nhưng cũng xem như là em chị Dung...”
- “Mầy bao nhiêu tuổi?”
- “Dạ, 14 tuổi.”
- “Con Dung nhà này chỉ có 8 tuổi. Thôi, cút xéo. Mấy thằng cao bồi như tụi bây giả dạng hở? Nhà này có an ninh quân đội đó nhá, đừng có nhòm ngó, có ngày ở tù mọt gông. Thôi... đi... đi..."
Thằng Mai hoảng quá đạp xe chạy một nước. Mà quả thật, nhìn bộ dạng ốm o, trong một bộ quần áo cũ, nhàu nát của nó thì không ai có thể tin tưởng được.
- “Mai, ê Mai...”
Nó giật mình, quay lại nhìn xem ai đã gọi mình, ở con đường sang trọng của quận 3 này thì nó đâu có quen ai. Nó chỉ định đi tìm nhà một người chị mà nó ngưỡng mộ chứ chưa dám nói là được quen. Không biết chị Dung sẽ đối xử với nó ra sao khi thấy nó đi tìm? Thế mà có người đang gọi nó.
Thằng Thạch đang ngồi trên chiếc xe PC, quần ống loe đen, áo bó, cổ bự, mang hia cối. Trông thằng Thạch như là một tay hippy chính hiệu. Thằng Mai đạp xe lại chỗ thằng Thạch đang ngừng xe.
- “Mầy gồ ghề quá ta”, thằng Mai trầm trồ. Thằng Mai ước được có bộ quần áo như thằng Thạch đã lâu.
- “Mầy đi đâu vậy?”
- ‘Tao tìm nhà một người...”
- “Tìm được chưa?”
- “Chưa.”
- “Thôi, mầy đi với tao lại chỗ mua sách lạc-son đi.”
- “Ở đâu?”
- “Gần rạp Nam Quang, trước cửa trường Trường Sơn.”
- “Mầy cũng mua sách lạc-son nữa à?”
- “Sách mới với sách lạc-son đâu có khác gì đâu, mà còn rẻ hơn... lời được vài chục đi coi phim. Mua sách xong, tao phụ với mày đi kiếm nhà người quen cho.”
Thằng Mai lưỡng lự, rồi cũng gật đầu, đạp xe chạy theo thằng Thạch đi về hướng đường Lê Văn Duyệt.
Trước cổng trường Trường Sơn, bên cạnh rạp chiếu bóng Nam Quang là những gian hàng bán sách cũ; Gọi là gian hàng chắc cũng chưa chính xác vì sách được bày trên những tấm nilon, nằm phơi mưa nắng trên lề đường. Điều đặc biệt của khu bán sách này là chỉ bán sách giáo khoa. Bởi vậy, khu bán sách này tấp nập những học sinh, sinh viên đến mua, bán, trao đổi. ở đây, học sinh có thể tìm được sách giáo khoa đủ các môn học như Quốc văn, hình học, đại số, Việt sử, thế giới sử từ đệ thất đến đệ nhất của các giáo sư nổi tiếng như Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim, Trần Hữu Quảng, Đào Văn Dương, Nguyễn Đức Kim, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tá, Bùi Hữu Đột, Lê Xuân Mai, Vũ Đình Lưu... Sách nào cũng được các tác giả hoặc nhóm tác giả là giáo sư đang dạy tại các trường trung học lớn tại Sài Gòn soạn theo chương trình của Bộ Quốc gia giáo dục ban hành.
Thằng Thạch hỏi một ông chủ đang ngồi chồm hổm trước tấm nilon chất đầy sách đủ màu rực rỡ:
- “Chú ơi, ở đây có cuốn giải bài tập hình học của Đặng Sĩ Hỷ không?”
- “Có chứ. Có cả giải bài tập đại số nữa.”
Thằng Mai ngạc nhiên, hỏi thằng Thạch:
- “Sao mầy không mua mấy quyển của Đào Văn Dương, Nguyễn Đức Kim...?”
- “Mầy không biết, sách của Đặng Sĩ Hỷ giải thích và hướng dẫn làm bài tập dễ hiểu hơn. Để tao đưa mầy coi...”
Thằng Mai lật lật quyển sách xem vài trang. Thằng Thạch nói tiếp:
- “Mầy thấy thằng cha này chỉ cách giải tường tận từng bước, phù hợp với trình độ của mấy thằng học yếu như tụi mình. Mầy biết tại sao không... Tại vì, tao nghe nói là thằng cha Hỷ này chưa đậu tú tài nữa nhưng thằng chả lại đủ sức soạn sách mới là tàn chi quái đao chứ...”
- “Vậy mầy học theo sách này có bị mấy thầy la không?” Người bán sách thấy hai thằng này bàn luận hoài, có vẻ sốt một:
- “Mua mở hàng đi mấy em. Sách của Đặng Sĩ Hỷ bán chạy như sách của nhà xuất bản Trường Thi vậy. Chú chỉ có một bộ này thôi đó vì mới mua được ngày hõm qua. Mỗi cuốn 10 đồng thôi...”
Nhìn thấy giá bìa ghi ở cuối sách là 50 đồng, thằng Mai giục thằng Thạch:
- “Giá rẻ quá, mua đi mầy.”
Thằng Thạch nhìn cặp mắt thèm thuồng của thằng Mai, nó hỏi:
- “Mầy cần học môn gì, hình học hay đại số?”
- “Môn nào tao cũng cần nhưng có lẽ hình học trước.” Thằng Thạch nói với ông chủ hàng sách:
- “Chú lấy cho hai quyển hình học và đại số của Đặng Sĩ Hỷ.” Cầm hai quyển sách trên tay, thằng Thạch đưa cho thằng Mai quyển hình học:
- “Mua cho mầy đó. Chừng nào mầy học xong, cần quyển đại số mầy nói, tao đưa.”
Thằng Mai ngần ngừ nhưng sau cùng nó cũng cầm lấy. “Bây giờ mầy đi theo tao. Tao nhờ mầy một chuyện, rồi sau đó, đi tìm nhà người quen của mầy.”
- “Chuyện gì?”
- “Đi theo tao xuống rạp Việt Long.”
Thấy thằng Thạch có vẻ bí mật quá, thằng Mai cũng tò mò. “Ừ, cũng gần mấy cái địa chỉ tao đang đi tìm.”
Từ Lê Văn Duyệt hai thằng quay đầu xe trở lại đi về hướng đường Cao Thắng. Chưa đến rạp Việt Long, thằng Thạch ngừng xe bảo thằng Mai:
- “Mầy thấy cái xe bánh mì đó không?”
Nghe đến ăn, thằng Mai khoái chí:
- “Thấy, mua bánh mì ăn hả?”
- “Ừ. Nhưng khi mua xong, mầy phải như không thèm trả tiền y như mấy thằng du côn vậy mà...”
- “Nó kêu lính bắt sao? Nhưng bộ mầy không có tiền sao?”
- “Sao không có mậy. Khi ra đường không có tiền tao thiếu tự tin lắm. Lỡ đạp nhằm bánh tráng không có tiền trả thì quê một cục.” Câu này, thằng Thạch chỉ học lại của chị nó mà thôi chứ chẳng phải do nó nghĩ ra.
- “Vậy tại sao mầy kêu tao không trả tiền?”
- “Thì mầy cứ dọa con nhỏ bán bánh mì cho tao, còn tiền thì tao trả lo gì. Nhưng lúc ấy, tao nói gì mầy cũng phải nghe tao, nhớ chưa! Ờ, quên nữa mầy cũng phải tán nó một chút nghe, kiểu mấy thằng nhà quê đi cua ghệ vậy đó.”
- “Ok Salem.”
Thằng Mai đạp xe tới xe bán bánh mì. Cô bé bán bánh mì đang ngồi đọc gì đó từ những miếng giấy báo được cắt ra để gói bánh mì vì đang vắng khách. Thằng Mai dõng dạc kêu: “Bán cho ổ bánh mì thịt, đầy đủ. Nhiều thịt nghen.”
- “Anh ăn ổ bao nhiêu?"
- “Thường thì em bán một ổ bao nhiêu?”
- “Mười đồng.”
- “Bán cho anh ổ 15 đồng đi. Nhiều thịt, hành ớt, đồ chua đầy đủ.”
Cô bé. bánh bánh mì im lặng, xẻ ổ bánh mì và làm ổ bánh mì thịt cho nó. Thằng Mai bắt đầu giở trò cà khịa:
- "Sao em bỏ thịt ít vậy, anh mua mười lăm đồng mà...”
- “Vậy là nhiều rồi đó anh. Lúc này vật giá gia tăng... Nếu anh muốn nhiều mua ổ hai chục đồng đi...”
- “Sao muốn chém dữ vậy em gái. Coi em cũng được sao mà mài dao bén vậy?”
Cô bé im lặng không trả lời, vẫn tiếp tục làm ổ bánh mì cho nó.
Thằng Mai vẫn tiếp tục cà khịa:
- “Thịt thì ít mà ổ bánh mì thì nhỏ. Xe bánh mì này bán mắc thiệt.”
Cô bé ngừng tay, quay qua nhìn thằng Mai:
- “Anh có mua thì tui bán, không thi thôi. Giá 15 đồng thì cỡ vậy.”
- “Nói một chút cũng không được nữa sao? Con gái gì mà khó chịu dữ vậy?
- “Đi với ma mặc áo giấy, anh ơi.”
Thằng Mai hơi quê vì thấy cô bé này cũng đáo để. Nó cũng không thích cái trò “cua ghệ” ngoài đường này nhưng vì nể thằng Thạch nên phải cố. Mà nó cũng không biết tại sao thằng Thạch lại bày ra cái trò này.
Cô bé đưa ổ bánh mì cho thằng Mai, thuận tay, nó cầm lấy bàn tay của con nhỏ. Vừa cảm giác được sự mềm mại của làn da mát rượi thì thằng Mai bỗng cảm thấy mắt nổ đom đóm vì hai cái tát vừa in lên má nó. Giật mình, theo bản năng, nó chửi thề:
- “Đ. M...”
Lúc ấy thằng Thạch phóng xe tới để cứu bồ vì thấy thằng Mai phạm phải lỗi lầm không có trong kịch bản. Vừa ngừng xe, nó hỏi cô bé bán bánh mì:
- “Thằng này nó chọc em hả...?”
Thằng Mai vừa thấy thằng Thạch xuất hiện liền đạp xe đi nhưng không cầm theo khúc bánh mì để khỏi mang tiếng là mua không trả tiền - và vẫn theo kịch bản, mọi chuyện còn lại là do thằng Thạch giải quyết, nó chỉ có nhiệm vụ đợi ở góc đường.
Khi thằng Mai vừa vọt xe đi, thằng Thạch nhìn vào cô bé, rồi chưng hửng:
- “Ủa...”
Té ra con bé bán bánh mì này không phải là con bé mà nó đang theo tán tỉnh, nhưng không lẽ bỏ chạy theo thằng Mai, nó đành tiếp tục:
- “Khúc bánh mì của nó bao nhiêu vậy em... Để anh mua giùm em. Cái thằng đá cá lăn dưa, em mà không đánh nó thì anh cũng cho nó một bài học...”
- “15 đồng...”
Nó móc tiền ra trả và thầm nghĩ “sao nó mua khúc bánh mì nhiều tiền dữ vậy, thằng này cũng biết thừa nước đục thả câu quá... ăn tát cũng đáng đời...”
Thằng Thạch cầm ổ bánh mì thịt mà cô bé bán bánh mì đưa cho rồi phóng xe chạy lại chỗ hẹn với thằng Mai. Vừa gặp thằng Thạch, thằng Mai nói liền:
- “Sao con nhỏ này dữ vậy?”
- “Ai biểu mầy làm càn bị ăn tát là phải chứ sao, còn nói người ta dữ nữa.”
- “Ổ bánh mì của tao đâu?”
- Nè, cũng không quên nữa hả?”
- “Bánh mì đau khổ mà mậy. Hai cái tát chứ mầy tưởng nhẹ sao. À, mầy không được nói với ai, kể cả thằng Dũng nữa nghe không. Quê thấy mẹ. Tại mầy nhờ, chớ tao đâu có khoái mấy màn cua ghệ ngoài đường này.”
- “OK Salem. Tao sẽ không nói với đứa nào.”
- “Bây giờ tao với mầy đi tìm địa chỉ nhà của người quen tao đi.”
Muốn trả thù lại thằng Thạch, thằng Mai cho nó địa chỉ căn nhà có lính cảnh sát đứng gác để thằng này bị cảnh sát hù chơi cho biết mặt.
- “123 Trần Quý Cáp.”
- “Người quen mầy tên gì?”
- “Ngọc Dung.”
Thằng Thạch trợn mắt:
- “Hả, mầy có quen ghệ nữa hả? Tàn chi quái đao vậy ta!”
- “Không phải. Chị Dung lớn tuổi rồi. Học đệ nhứt trường Trưng Vương.”
- “À... à... té ra mầy không khoái ghệ mà chỉ khoái chị em kết nghĩa hả, thôi cũng được. Để tao tìm cho. Nếu chị Dung mầy đẹp, thì tao cũng cố gắng để làm anh mầy...”
Bây giờ đến phiên thằng Thạch háo hức muốn biết chị của thằng Mai nên nó hăng tiết vịt phóng xe đi trước đến địa chỉ mà nó đã biết. Còn thằng Mai bây giớ cứ tà tà vứa đạp xe, vừa nhai bánh mì vì từ khi nhìn thấy xe bánh mì là bụng nó đói sôi lên, nước miếng gần như ứ ra nhưng nó cố gắng nuốt xuống cổ để cho khỏi lộ trò chơi theo yêu cầu của thằng Thạch. Nó tiếc rẻ “phải chi hồi nãy mua ổ bánh mi hai choạc, vừa lấy le với ghệ mà còn có khúc bánh mì ngon lành nữa. Mà thôi, tí xíu bắt nó mua chai xá xị con nai uống là “suya” rồi.
Đến trước cửa số nhà 123, thằng Mai đứng xa xa nhìn về hướng thằng Thạch đang nói chuyện với ông cảnh sát. Trông nó không có vẻ gì sợ hãi mà còn có vẻ tự nhiên khi thằng Mai thấy ông cảnh sát vung tay chỉ về hướng con đường phía trên, còn nó cứ gật đầu. Thằng Mai nể thằng Thạch quá cỡ, không ngờ thằng này cũng biết xã giao như vậy.
Sau khi nói chuyện với người cảnh sát xong, thằng Thạch quay đầu xe, ngược về hướng đường Lê Văn Duyệt, nói với thằng Mai:
- “Nếu mầy muốn tìm chị Dung của mầy thì phải đi ngược đường hơi xa, đạp xe nổi không?”
- “Ủa, có phải nhà chị Dung không?”
- “Ừ, nhà chị Dung của mầy đó.”
- “Đi về đường nào?”
- “Đến sân vận động Phan Đình Phùng”
- “Bộ ông cảnh sát đó chỉ cho mầy hả?”
- “Ừ. Tao hỏi mầy đạp xe có nổi không?”
- “Chắc được. Nhưng đừng đi lẹ quá. Mầy đi xe PC còn tao đi xe đạp, rượt theo mầy muốn đứt hơi.”
Thế là hai đứa tụi nó đi ngược từ Trần Quý Cáp về hướng đường Công Lý. Thằng Thạch cố gắng kềm tốc độ chiếc PC sao cho bằng chiếc xe đạp cọc cạch của thằng Mai.
- “Sao nhà chị Dung lại có lính gác vậy mậy?”, thằng Mai tuôn cái thắc mắc từ sáng tới giờ của nó ra.
- “Ủa, chị em kết nghĩa của mầy mà mầy không biết sao?”
- “Biết cái gì?”
- “Chị Dung của mầy là con của Dân biểu Hạ nghị viện đó.’’
- “Hả, ba chị Dung làm lớn vậy hả?”
- “Bộ chị ấy không nói với mầy sao?”
Thằng Mai sợ quê với thằng Thạch nên đâu dám tiết lộ cho thằng này biết là nó chỉ mới biết chị Dung và cũng đang nhờ chị ấy hướng dẫn thi vào trường Quốc gia Âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn.
Hai đứa đếri trước cổng sân vận động Phan Đình Phùng ở phía đường Trần Quý Cáp. Thằng Thạch nói:
- “Mầy cứ vào một mình đi, tao coi chừng xe cho nhưng lẹ lẹ nha mậy.”
Thằng Mai không nói tiếng nào, dựng chiếc xe đạp ngay lề đường rồi chạy vào cổng sân. Nó quáng mắt vì sân vận động quá sức đông người vào buổi sáng chủ nhật. Nó đi vòng vòng qua sân bóng rổ, rồi sân bóng chuyền, sân quần vợt nhưng đều không thấy bóng dáng của chị Dung. Bây giờ không lẽ đến lượt thằng Thạch chơi mình, nó tự hỏi. Chị Dung là dân văn nghệ làm sao mà lại thích chơi thể thao cho được.
Khi đi ngang bãi cỏ trên đường chạy điền kinh thì nó nghe tiếng cười nói của các cô gái vang lên một cách trong trẻo. Thằng Mai quay lại nhìn. Các cô gái trong bộ đồng phục của dân điền kinh: áo thun trắng, quần xọt ngắn để lộ những đôi chân ngăm đen vì bắt nắng. Thấy nó quay lại nhìn, một trong những cô gái nói với theo:
- “Tìm gì vậy em trai. Mấy chị của em nè.”
Thằng Mai đột nhiên đỏ mặt, nó cố hết sức đi nhanh nhưng tai nó vẫn nghe giọng nói của cô gái khác:
- “Thôi tụi bây ơi, ưa chọc phá mấy đứa con nít quá vậy, ủa..." Tim thằng Mai chợt đập thình thịch, nó nghe giọng nói này quen quen:
- “Mai... Mai...”
Nó quay lại. Chị Dung của nó đây rồi. Chị Dung hôm nay không mặc hoàng bào bà Trưng nữa mà chỉ mặc độc cái áo thun trắng và cái quần thun ngắn, chân mang đôi giày Adidas của dân chạy đua. Ngọc Dung đứng lên, đi về phía thằng Mai: “Mai, phải Mai không?”
Giọng thằng Mai run run:
- “Dạ, em...”
- “Em tập gì trong này?”
- “Dạ, em đi tìm chị...”
- “Sao biết chị ở đây mà tìm?”
- “Dạ, em có đến nhà.”
- “Em tìm chị có chuyện gì không?”
Nó không trả lời câu hỏi của Ngọc Dung mà nó lại hỏi: “Chị cũng là lực sĩ điền kinh nữa hả?”
- “Ừ, chị nằm trong đội tuyển chạy 100m. Đội của chị đang tập cho đại hội thể dục thể thao học sinh liên trường vào tháng 3 tới.”
- “Trời ơi, chị vừa học kịch vừa tham gia thể thao với sinh hoạt văn nghệ trong trường, mà chị lại sắp thi thi Tú tài hai..."
Giọng Ngọc Dung tự tin:
- “Không sao đâu em. Nếu em học có căn bản mà học đều đều nữa thì khi thi cũng không có ảnh hưởng gì đâu. Nhưng có điều chắc chắn là không đậu hạng Ưu được, cỡ Bình hay Bình thứ là cùng. Đi học mà chỉ biết có học không thì cũng chẳng hay vì thời gian học trung học là thời gian mà mình có bạn bè, và mình ước mơ mình trở thành cái gì trong tương lai.”
Giọng thằng Mai như sôi nổi:
- “Sau khi đậu Tú tài 2 em sẽ làm tài tử thoại kịch như La Thoại Tân, Ngọc Đức, Vân Hùng.”
- “Nhưng mà em đi tìm chị có chuyên gì không?”
Thằng Mai sực nhớ đến mục đích sáng nay nó đi tìm Ngọc Dung. Nó bẽn lẽn lấy trong tái áo cái thư mời do “họa sĩ” Dũng nắn nót vẽ giùm nó đưa cho Ngọc Dung:
- “Dạ, em mời chị đến tham dự liên hoan tất niên với lớp của tụi em...”
Ngọc Dung cầm tấm thiệp xem:
- “Thiệp đẹp ghê há. Để chị xem hôm đó chị có rảnh không, chỉ sợ trùng với tất niên lớp chị."
- “Nếu chị không có gì bận thì đến với lớp tụi em nghe. Lớp em tổ chức tất niên vào buổi chiều... Em về chị nghen...”
- “Ừ, em về. Chị không hứa nghen. Nếu được chị sẽ đến.
Chị không thích hứa những gì mình không chắc là mình sẽ làm được.”
Thằng Mai quay đi nhưng tai nó vẫn nghe tiếng các cô bạn của Ngọc Dung đang trêu:
- “Ê thằng kép gì nhỏ xíu vậy mậy?”
- “Kép gì mậy?! Chỉ là như thằng em thôi. Nó học Petrus Ký đó.”
- “Cha, bữa nay con Dung không thèm chơi với các em Võ Trường Toản hay Chu Văn An nữa mà quay qua Bê lắc ký rồi tụi bây ơi...”
- “Ừ, tao thấy Bê lắc Ký coi bộ dễ thương hơn tụi Chết Vì Ăn”, tiếng chị Dung làm nó ấm lòng. Vừa đi, nó vừa tưởng tượng đến một ngày nào đó nó được đóng kịch chung với chị Dung. Chị sẽ đóng vai Lan còn nó sẽ đóng vai Điệp như Kim Cương đóng với Vân Hùng. Nó sẽ là Vân Hùng còn chị Dung sẽ là Kim Cương lấy nước mắt khán giả. Nó sẽ là tài tử La Thoại Tân, còn chị Dung sẽ là Thẩm Thúy Hằng... Mà bất kể là ai miễn là đóng cặp với chị Dung là được.
Vừa ra khỏi cổng sân vận động, thằng Mai thấy thằng Thạch đang ngồi trên xe nhìn qua khu “trung tâm sinh hoạt Pasteur” :
- “Nhìn gì dữ vậy mậy?”
- “Ê cái “Trung tâm Pasteur” này hay nghe mầy. Nó dạy miễn phí nhiều môn sinh ngữ nghe. Có cả tiếng Nhật nữa...”
- “Cha hôm nay tao thấy mày ham học dữ nghe.”
- “Trong trung tâm này có nhiều nữ sinh lắm đẹp tàn chi quái đao luôn. Mầy có bà chị gì bự như cái thùng phuy vậy, bộ bả là lực sĩ kiến càng hả?”
Thằng Mai định đính chính nhưng nó sực nhớ là trong lúc nó nói chuyện với chị Ngọc Dung thì nó nhác thấy một nữ lực sĩ ném tạ đang đứng gần đó.
- “Thôi, kệ cho mầy hiểu lầm thì đâu có sao! Để hôm tất niên chị Dung đến thì mầy sẽ biết.”

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
unikey

avatar

Tổng số bài gửi : 363
Location : Somewhere
Registration date : 22/11/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa   Tue 13 Aug 2013, 13:23

 Chương 21

Trong lớp tứ 7 này, không nói đến thằng Lý đen quả là điều thiếu sót. Tụi thằng Thuật vẫn không biết tại sao thằng này đen thui - tất nhiên chưa bằng mấy thằng Mỹ đen trong khi mấy thằng anh nó, cũng học trong trường thì nước da lại bình thường. Nó là một thằng ăn mặc khá chỉn chu trong lớp. Lúc nào đi học, chiếc áo trắng tetoron mỏng thấy cả cái áo thun ba lỗ bên trong, và cái quần tergal xanh luôn luôn được úi thẳng nếp mà thằng Dũng chọc là “rờ đứt tay”. Chỉ tội nó vừa đen, mặt lại lấm tấm những hạt mụn cám mặc dù hàng ngày, sau khi đi học về, hay đi chơi nó đều rửa mặt để không bị bụi bám vào da.
Nó ngồi cạnh thằng Hòe từ năm đệ thất. Thằng Hòe bẽn lẽn hiền lành, da trắng như con gái bao nhiêu thì thằng Lý đen như là một hình ảnh đối nghịch bấy nhiêu. Tuy nhiên, ở hai thằng này có nét tương đồng là đều giữ gìn tập chép bài rất sạch sẽ. Thằng Lý đen lại bị thêm cái bệnh mồ hôi tay nên mỗi khi viết bài nó đều lót miếng giấy chậm để lót lồng bàn tay, viết đến đâu chậm đến đó.
Từ ngày quen với cô bé Thanh Danh thằng Dũng trở nên quan tâm tới thằng Lý đen nhiều hơn vì thằng này có liên quan đến... bưu chính và tem thư. Mấy thằng bạn trong lớp hay đùa với thằng Lý đen rằng ước mơ sau này của nó là trở thành trưởng ty bưu điện vì thấy thằng này say mê sưu tập tem. Trong khi mấy thằng... Có cả một cuốn sổ dán đủ hình các loại máy bay từ B.52, đến cánh chuồn, máy bay đầm già là mốf thời thượng thì thằng Lý đen đã có một cuốn album tem. Nó nói với thằng Dũng:
- “Chơi hình máy bay đâu có hay, không đẹp, lại không có tiền nữa.”
- “Chơi tem có tiền nữa?”
- “Mầy có nhưng con tem cũ, hiếm thì bán nhiều tiền lắm."
- “Tem cũ là tem làm sao? Tem xài rồi hả?”
- “Tem xài rồi nhưng tem này phải được in từ hồi “oảnh tạc” mới được.”
Thằng Dũng sực nhớ:
- “Ê, tao có thể kiếm được tem cho mầy!”
- “Bằng cách nào?”
- “Bí mật. Nhưng mầy cũng phải đổi lại cho tao nữa à.”
- “Đổi cái gì?”
- “Mầy thấy ai có sách cũ xin cho tao.”
- “Sách giáo khoa đó hả?”
- “Không phải. Sách truyện như truyện Tề Thiên, chuyện Bàng Quyên Tôn Tẩn hay là truyện gì cũng được...”
Thấy ý của thằng Dũng cũng hay hay, thằng Lý đen liền gặp thằng Cường, thằng này khoái sưu tầm hình máy bay. Mộng ước của nó là sau nay trở thành phi công lái máy bay nên bây giờ “phải biết hết tất cả các loại máy bay”. Trong quyển sổ sưu tầm của nó, dưới mỗi hình chiếc máy bay là những chi tiết kỹ thuật về chiếc máy bay đó mà không biết nó sưu tầm từ đâu. Thằng Lý đen đề nghị:
- “Chừng nào mầy có tem mầy cho tao, tao sẽ cho mầy lại hình máy bay.”
Thằng Cường khoái chí:
- “Ừ, tao đang có mấy con tem hình máy bay mà tao không khoái. Phải là hình máy bay thật chứ không phải hình vẽ.” Nghe nói đến tem là thằng Lý đen vồ ngay:
- “Đâu, mai mầy đem mấy con tem đó tao coi thử.”
Thằng Dũng vào nhà in, gặp cô thư ký văn phòng của ông chủ bút xin những bì thư của bạn đọc gửi đến tòa báo để lấy những con tem đưa cho thằng Lý đen để đổi lấy những cuốn sách cũ mà thằng nay xin của anh chị nó. Thằng Dũng cắt hình những chiếc máy bay trong các tờ báo cho thằng Cường, hình ca sĩ đưa cho thằng Chương, program phim đổi cho thằng Thạch để đổi lấy những quyển sách càng xưa càng tốt. Không biết lúc nào, khi chờ đợi những bản chữ đã được đổ bản kẽm, thằng Dũng đọc được bài viết của ông Vương Hồng sển về thú chơi sách trong một tờ báo cũ trong đống báo đang chờ nhúng mực xanh để bán cân ký. Nó gặp nhà thơ Kiên Giang đang phụ trách mục Vườn thơ của tờ báo để hỏi về ông Vương Hồng sển thì ông gật gù:
- “Ông ấy là chồng của bà Năm Sa Đéc đó.”
- “Con có thấy ông ấy viết cho tờ báo của mình...”
- “Bài gì vậy?"
- “Cái gì về thú chơi sách."
- “Ê, chơi sách hay lắm đó. Mấy cái vụ chơi đồ cổ thì ông Sển là nhà chuyên môn, không ai qua ổng nổi đâu.”
- “Nhưng muốn chơi sách như ổng thì phải làm sao?”
Nhà thơ trầm ngâm:
- “Trước hết là phải có đam mê. Có đam mê thì mới có thành công thứ hai là con phải... có tiền. Nhưng nêu không có tiền thì cũng có cách khác...”
- “Cách gì chú, chỉ con với.”
- “Nếu con thích thì con đi xin. Xin mỗi người một cuốn, nếu có cuốn nào trùng với nhau thì cứ để dàrih rồi lấy cuốn sách dư đó đem ra hàng sách lạc-son đổi...”
Nhà thơ rít hơi thuốc Melia khét ngẹt, phun trên trần nhà: “Như chú nói điều đầu tiên là phải có đam mê. Từ đam mê mới suy nghĩ ra cách kiếm sách... Đầu tiên, chú sẽ khai trương cho con bộ sách này hay lắm...”
Mắt thằng Dũng sáng lên:
- “Hả, bộ gì chú?”
- “Tuấn, chàng trai nước Việt của anh Nguyễn Vỹ.”
- “Nhưng chú chỉ có một bộ mà sao chú cho con được?”
- “Bộ đầu tiên thì họa sĩ Trần Văn Tấn, người vẽ bìa sách tặng chú, bộ thứ hai thì do chính tác giả tặng. Chú dư một bộ. Chú sẽ cho con bộ cúa họa sĩ Tấn. Họa sĩ Tấn là người vẽ bìa chính cho báo Thằng Bờm của anh Nguyễn Vỹ.”
Nó vỗ tay:
- “Hay quá, cơn cám ơn chú...”
Như lời hứa, nhà thơ Kiên Giang cho nó bộ sách “Tuấn, chàng trai nước Việt” gồm ba quyển. Nó nhìn bộ sách đồ sộ, cuốn nào cuốn nấy dầy cui rồi đọc thử vài trang nhưng không cảm thấy hấp dẫn nên đem cất vào tủ sách. Tuy nhiên khi nhìn bộ sách nó vẫn cảm thấy có cái gì đó khá hấp dẫn con mắt. Chỉ nhìn cũng được rồi!
Biết thằng Mai khoái sưu tầm hình nghệ sĩ nên thằng Dũng gặp thằng này dụ:
- “Tao sẽ cắt hình nghệ sĩ trong báo cho mầy, khi nào mầy thấy mấy bà bán ve chai cân ký sách lạc-son, mầy mua đổi cho tao. Nếu nhiều quá tao bù tiền cho mầy...”
Từ đó, tụi nó hình thành một nhóm trao đổi tem, sách, hình máy bay, hình ca sĩ, mấy tấm program chiếu bóng... mà thằng Dũng đặt tên là “nghiệp đoàn trao đổi” dựa theo tên của “nghiệp đoàn báo chí Nam Việt” mà nó nghe các ký giả thường trao đổi về nghiệp đoàn này mỗi khi uống cà phê ở đường hẻm Sáu Lèo. Nhưng trong cái “nghiệp đoàn” của tụi nó ai cũng tự cho mình là thủ lĩnh. Đứa nào cũng nghĩ rằng bộ sưu tầm của nó là nhất, không thằng nào chịu thua thằng nào. Thằng Lý đen, tay cầm kính hiển vi, tay cầm cây cặp tem, gắp từng con tem bỏ vào quyển album tem, lên giọng: “Chơi tem là sang nhất. Chỉ có nhà giàu mới có thể chơi tem được nghe tụi bây. Trên thế giới chỉ có tỷ phú mới chơi tem vì có những con tem bán được cả triệu đồng...”
Thằng Cường với mộng ước phi công nên hết sức bảo vệ thú sưu tập hình máy bay của nó:
- “Làm sao giàu bằng mấy thằng chủ máy bay được?”
- “Mầy hô như con khỉ đột làm sao làm phi công lái máy bay được con. Pilot toàn là mấy thằng đẹp trai không” - thằng Lý đen phản pháo.
- “Tao đâu có lái máy bay mậy. Tao làm chủ máy bay.”
- “He... he... tàu bay giấy thì thằng nào đi chẳng được!”
Còn thằng Dũng thì tự hào về tủ sách... hai chục cuốn của nó:
- “Muốn tìm kiến thức thì phải đọc sách. Người sưu tầm sách là những bậc triết gia, danh nhân, thi sĩ...”
- “Còn mấy thằng chuyên sưu tầm sách Playboy thì sao?”, thằng Thạch chọc thằng Thuật.
Thằng Thuật bình tĩnh trả lời:
- “Mấy thằng đó thuộc loại Thông minh nhất nam tử, yếu vi thiên hạ kỳ”, nó nói một hơi một câu thơ mà thật tình nó cũng không hiểu nghĩa là gì.
Đứa nào cũng cho rằng bộ sưu tầm của nó là số một, là tao nhã chỉ có thằng Mai là không nói tiếng nào. Nó lẳng lặng tự cắt dán những tấm hình của các tài tử La Thoại Tân, Ngọc Đức, Vân Hùng, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Hùng Cường, Thanh Tú, Hữu Phước, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Thành Được, Diệp Lang... mà nó tìm được trong những tờ prồ - gram, trong những tờ báo mà thằng Dũng cho nó vào một cuốn sổ ca-rô. Đây là bộ sưu tầm cúa nó - một bộ sưu tầm những thần tượng không tốn tiền. Chuyện sưu tầm của nó mấy đứa trong lớp không biết, chỉ trử thằng Dũng vì hai đứa phải đổi chác cho nhau.
Một hôm, trên bục thầy Minh đang giảng bài thì phía dưới này thằng Cường hô, cùng thằng Lý đen say sưa xem bộ sưu tầm của thằng Mai rồi quăng trả lại trên bàn thằng Mai với lời bình phẩm:
- “Đồ cải lương. Hết chuyện sưu tầm rồi sưu tầm mấy thằng hát cải lương.”
Thằng Mai điên tiết lên. Nó không biết hai thằng này lấy cuốn sổ của nó lúc nào, đã đụng chạm vào sự bí mật của nó, lại còn nhận xét kiểu cha chú, không dằn tức được nên nó chồm lên bàn thằng Cường, giật lấy cuốn sổ sưu tầm máy bay của thằng nầy liệng xuống đất. Đến phiên thằng Cường nóng gà, thẳng tay thoi vô mặt thằng Mai cái bốp. Thằng Mai giơ tay định đánh lại thì thằng Thạch ôm lại, cản hai thằng ra.
Nghe tiếng ồn ào, thầy Minh đang chép một công thức trên bảng quay xuống. Ngưng giảng, thầy kêu cả hai thằng lên trên bàn thầy, cả hai thằng đứng khoanh tay lần lượt trình chuyện đã xảy ra như thế nào. Nghe xong, thầy quay xuống lớp hỏi: “Hai em này đã trình bày sự việc. Đáng lẽ thầy không muốn làm mất giờ học của các em nhưng thầy thấy đây là một vấn đề chung, thuộc loại văn hóa và cách xử thế của con người nên thầy tạm ngưng giảng để nói với với các em hiểu để sau này tránh khỏi mắc sai lầm.”
- “Sưu tầm là một thú chơi, một sở thích rất tốt. Điều này là lành mạnh. Tuy nhiên, sở thích quá độ coi chừng dẫn đến cực đoan và điên cuồng vì nó. Tại sao thầy nói như vậy? Vì sở thích quá độ làm người ta yêu và tin rằng cái sở thích của mình là độc tôn, là số một và cho rằng sở thích của người khác là thấp kém hơn mình, rồi chê bai, rồi khinh bỉ sở thích của họ. Từ đó sẽ sinh ra đố ky và hận thù. Không có sở thích sưu tầm nào thấp kém cả..." Phía dưới này thằng Thuật nói khẽ với thằng Dũng:
- “Thấy chưa mậy, không có sở thích sưu tầm nào thấp kém nghe mậy, kể cả sưu tầm báo Playboy..."
Thầy Minh nói tiếp:
- “Ngay cả những người không có sở thích sưu tầm...”
Đến phiên thằng Thạch hí hửng:
- “Nghe chưa tụi bây, tao không khoái sưu tầm thì cũng như tụi bây thôi...”
Tụi xóm nhà lá ra dấu bảo thằng Thạch im lặng để nghe thầy Minh nói tiếp:
- “Mỗi người đều có sở thích riêng của mình và không ai có quyền xâm phạm đến sở thích của người khác... Mỗi em có một bộ sưu tầm riêng là điều rất đáng khuyến khích. Bộ sưu tầm của các em có thể nói lên khuynh hướng chọn lựa nghề nghiệp sau này. Có thể em Cường sẽ trở thành phi công...”
- “Răng nó hô quá làm sao đi phi công được thầy?”
- “Có thể chỉnh hình hoặc làm chủ máy bay riêng, thuê pilot lái có sao đâu, phải không các em. Còn em Mai, biết đâu sau này trở thành kịch sĩ đại tài, ra đường mấy cô gái chạy theo xin chữ ký đầy đường thì sao? Các em còn có cả tương lai trước mắt. Cứ nuôi dưỡng ước mơ của mình. Cứ tìm rồi sẽ thấy.”
- “Hồi thầy đi học thầy sưu tập cái gì thầy?”, thằng Tuấn trưởng lớp hỏi.
- “Thầy sưu tập bộ trứng ngỗng.”
Cả lớp cười ồ vì câu trả lời vui của thầy Minh. Thầy hơi gằn giọng, nhấn mạnh. Tụi nó biết đây là đoạn quan trọng mà thầy sắp nói tới vì thầy có thói quen những đoạn quan trọng cần được quan tâm trong bài học thường được thầy gằn giọng. Và thầy nhắc lại sở thích quá độ coi chừng dẫn đến cực đoan và điên cuồng vì nó... Thầy nhìn đồng hồ đeo tay “Còn ít phút nữa hết giờ học, thầy sẽ kể cho các em nghe một chuyện về sở thích sưu tầm... Còn hai em Cường và Mai về lại chỗ đi...”
Tụi nó khoái quá vì vừa được nghỉ sớm lại được nghe kể chuyện nên ngồi im thin thít. Thầy Minh bắt đầu vào chuyện: “Chuyện này liên quan đến một nhà sưu tập tem. ông ta là tỷ phú nên những con tem nào có giá trị cao nhất trên thế giới đều có mặt trong bộ sưu tập của ông ta. Tuy nhiên, bộ sưu tập hiện nay của ông chưa hoàn hảo vì còn thiếu một con tem cực hiếm. Một hôm có một người xin gặp ông để cho ông xem con tem hiếm đó mà anh ta có được do thừa kế. Nhà sưu tập tem mừng quá và tự nhủ trong lòng với giá nào ông ta cũng sẽ mua để bộ sưu tập của ông ta được hoàn chỉnh. Hai người gặp nhau và nhà tỷ phú đã tận mắt chứng kiến con tem quý mà mình còn thiếu, ông ta ra giá mua thật cao nhưng người chủ con tem đó nhất định không bán. Bây giờ thầy đố các em nghe.. Người chủ con tem sẽ làm gì? Ai trả lời? À... em...”
Thằng Thịnh nhà là chủ vựa gạo đứng lên:
- “Người chủ con tem sẽ ra giá thật cao, cao hơn giá của nhà tỷ phú đưa ra gấp nhiều lần...”
- “Tại sao em nghĩ vậy?”
- “Dạ thưa thầy cái gì hiếm thì giá phải cao ạ, nhất là người bán biết rằng người mua nhất định mua cho được...”
- “Em chắc là nhà buôn bán giỏi sau này.”
Tụi nó nhao nhao:
- “Nhà thằng này là chủ vựa gạo mà thầy.”
Thằng Thạch giơ tay:
- “Người chủ con tem sẽ trao đổi những con tem khác mà ông ta đang thiếu...”
Thằng Thuật cũng tham gia ý kiến:
- “Thưa thầy, chắc ông chủ con tem này muốn cưới con gái ông tỷ phú, vừa được vợ và sau này khi ông tỷ phú mất đi thì ông ta thừa hưởng luôn bộ tem quý đó.”
Tụi trong lớp vỗ tay khen câu trả lời của thằng Thuật đúng là một ý kiến rất là láu cá. Thầy Minh cười rồi nói:
- “Mỗi em đứng ở tâm lý của mình đều có cách giải quyết rất là hay. Riêng người chủ con tem có cách giải quyết riêng của mình. Ông ta lấy hộp quẹt rồi binh tĩnh, chậm rãi... đốt con tem trước mặt nhà tỉ phú...”
Tụi trong lớp đồng thanh vì khó tin một cách giải quyết như thế.
- “Đốt con tem...”
Trước sự bất ngờ của bọn nó, thầy Minh tiếp tục câu chuyện: Khi người chủ đốt con tem thì ông tỷ phú trợn mắt, ôm ngực và gục xuống chết vì đau tim. Người chủ con tem nhìn ông tỷ phú gục xuống, chết trước mặt mình một cách hài lòng vì mục đích của anh ta là trả thù nhà tỷ phú. Chính nhà tỷ phú trước kia cũng vì những con tem quý mà đã hại cha anh ta - vốn cũng là một nhà sưu tập tem - chết. Người chủ con tem quý này biết nhà tỷ phú bị bệnh đau tim và khi xúc động cao độ có thể chết vì đột quy nên anh ta đã hy sinh con tem quý của mình...”
Tụi nó suýt xoa:
- “Uổng quá... chỉ vì muốn trả thù mà anh ta đốt cả một gia tài...”
Thầy Minh gật gù:
- “Đúng, chỉ vì mối thù mà anh ta đã làm mất đi một gia tài và thế giới tem mất đi một con tem quý.”
Thằng Dũng giơ tay:
- “Thưa thầy em nghĩ là người chủ con tem này không mất cả gia tài đâu ạ.”
- “Tại sao vậy?”
- “Dạ thưa thầy em nghĩ ông ta cho ông tỷ phú xem con tem thật nhưng khi đốt ông ta đã tráo con tem giả vào. Ông ta vẫn trả thù được ông tỷ phú nhưng không mất gì cả...” Thầy Minh cười, vỗ tay:
- “Ờ... ờ cũng có thể lắm nếu anh ta có đi học ảo thuật của ảo thuật gia Nguyễn Khuyến, Z.27... Ý của em rất là sáng tạo. Em có sưu tầm gì không?”
- “Dạ thưa thầy em sưu tầm sách cũ.”
- “Một thú sưu tầm cũng hay. Chắc em muốn trở thành nhà vãn, ký giả báo chí...”
Thằng Dũng đỏ mặt, lúng búng:
- “Dạ không thầy. Em muốn làm ông chủ nhà ìn.”
Thằng Chương nói chen:
- “Sưu tầm sách cũ chắc không bị ai giết ngoài mấy ông bán ve chai, lông vịt. Cũng đỡ lo thầy ơi...”
Thầy Minh nói như khuyên thằng Dũng:
- “Nhiều khi sau này nghề nó chọn mình chứ mình không chọn nghề. Học sinh Petrus Ký có rất nhiều học sinh trở thành chính khách, có người trở thành nhạc sĩ, cầu thủ đá bóng, giáo sư nổi tiếng nhưng chưa có nhà văn, nhà thơ... Hy vọng rằng trong lớp tứ 7 sẽ có một nhà văn trong tương lai, thêm một nhà văn xuất thân tử học trò Petrus Ký. Nhà văn Bình Nguyên Lộc là học sinh Petrus Ký. Hiện nay đã có nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, anh ấy là học trò Petrus và hiện nay đang lắ giáo sư triết của chính trường này và thêm một hay nhiều nhà văn nữa thì hay biết bao nhiêu...”
Thằng Dũng nghĩ như thầy Minh nói vậy vẫn chưa đủ. Một nhà văn xuất thân từ học trò Petrus Ký là để viết về trường Petrus Ký, những kỷ niệm của đời học trò ở ngôi trường này. Đúng là chưa có một nhà văn nào làm cho ký ức của học sinh Petrus bùng dậy hoặc làm cho những người khác biết, hiểu thêm về đặc tính, những tiềm ẩn, những bản sắc đã tạo nên ngôi trường này. Người Sài Gòn dù chưa một lần về cầu Bo, chưa một lần về Thái Bình nhưng họ đã cảm, đã nghĩ, đã ngửi được cái cầu Bo của tuổi thơ “Thằng Vũ”, “Con Thúy”... trong những tác phẩm về tuổi thơ cúa nhà văn Duyên Anh. Nhà văn của trường Petrus Ký, dù là một nhà văn hạng bét, phải thổi được cái hồn Petrus Ký đó cho mọi người, để ai đi ngang ngôi trường này cũng phải ngước nhìn, để mọi học sinh, khi đã già đều tự hào với con cháu rằng ta đã là học sinh ngôi trường ấy mặc dù ta là học sinh dở nhất lớp, dở nhất trường. ít nhất đó là cái hồn, phần bí mật, chìm ẩn mà nhà văn của trường Petrus Ký phải viết trong những tác phẩm của mình cho bằng được. Trước khi chết, nhà văn - học trò phải nói được tinh thần, tình yêu, tuổi thơ, những kỷ niệm trong ngôi trường Petrus Ký của mình.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
 
Mùa hè năm Petrus - Lê Văn Nghĩa
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 3 trong tổng số 5 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện Sưu tầm :: Tiểu thuyết-