IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thẩn thơ thời sự by thanhsingle Yesterday at 22:00

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by Ma Nu Yesterday at 21:46

TỨ TUYỆT HOA by buixuanphuong09 Yesterday at 21:29

Thơ Tùng Văn by Tung Van Yesterday at 21:04

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Yesterday at 15:14

Em là tất cả trong anh ... by Thiên Hùng Yesterday at 12:00

LỀU THƠ NHẠC by Thiên Hùng Yesterday at 11:33

Đắp Mộ Cuộc Tình by Gió Bụi Yesterday at 05:21

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Mon 22 May 2017, 16:26

Sống … Chết … ( Thân mời các thi hữu cùng nhau cảm tác chủ đề ) by thanhsingle Sun 21 May 2017, 20:43

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Sun 21 May 2017, 10:55

TẬP VỊNH SỬ by buixuanphuong09 Sat 20 May 2017, 19:45

Đoản Khúc ... Giao Mùa by Thiên Hùng Sat 20 May 2017, 11:50

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Sat 20 May 2017, 11:11

Hoa Dừa nhà Tôi by Tú_Yên tv Sat 20 May 2017, 11:05

Mai vàng nhà Tôi by Tú_Yên tv Sat 20 May 2017, 11:02

Ký ức về những bài học thuộc lòng thời Tiểu Học by cattuong Fri 19 May 2017, 18:47

SỨc sống cuối đời by buixuanphuong09 Thu 18 May 2017, 10:22

Câu đối NGỰA by Thiên Hùng Wed 17 May 2017, 12:36

Thơ Tú_Yên - Quê Hương by Tú_Yên tv Wed 17 May 2017, 11:14

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Wed 17 May 2017, 10:59

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Wed 17 May 2017, 10:48

Giảm Stress bằng thơ by Tú_Yên tv Wed 17 May 2017, 10:42

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Tue 16 May 2017, 21:34

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Tue 16 May 2017, 13:57

Đồ đàn bà by Trà Mi Mon 15 May 2017, 14:51

THỜI ĐẠI TÔI ĐANG SỐNG - Nguyễn Thị Thanh Yến by Việt Đường Mon 15 May 2017, 01:04

SỢ... by HanSiNguyen Sun 14 May 2017, 07:47

THÀNH KẺ ĐẾN SAU (MT-136-137) by Ntd Sat 13 May 2017, 19:36

Vô Đề by Bảo Minh Trang Sat 13 May 2017, 09:17

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 Nguyễn Thượng Hiền và bài phú độc đáo

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19868
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Nguyễn Thượng Hiền và bài phú độc đáo   Fri 01 Mar 2013, 02:56

Nguyễn Thượng Hiền và bài phú độc đáo


Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925), tự Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn, quê làng Liên Bạt, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hòa, Hà Tây).



Nguyễn Thượng Hiền, Nguyen Thuong Hien

Ông đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1892) khi mới 25 tuổi; từng được bổ dụng làm Toản tu Quốc sử quán, Đốc học Ninh Bình, Nam Định nhưng sau đó thì từ quan, tham gia hoạt động yêu nước, liên lạc với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ… Ông là yếu nhân của phong trào Đông Du, của tổ chức cách mạng Việt Nam Quang Phục Hội. Cuối đời, ông đi tu ở Hàng Châu (TQ) rồi mất ngày 28-12-1925.

Nguyễn Thượng Hiền là người yêu nước, có sự nghiệp văn chương sáng chói với mục đích vận động chính trị – xã hội và đấu tranh cách mạng. Điều đáng quý là ông đã từ bỏ vinh hoa phú quý, từ bỏ tư tưởng Nho giáo lỗi thời để cổ động cho tư tưởng duy tân, dân chủ. Ông trước tác nhiều, hiện còn trên 600 bài thơ, văn Hán Nôm. Tác phẩm chữ Hán có:“Nam chi tập” (Tập thơ văn chim Việt đậu cành Nam, 3 quyển), “Mai Sơn ngâm thảo” (những bài thơ ngâm ngợi của Mai Sơn), “Hạc thự ngâm biên” (chép những bài thơ nơi công quán của chim hạc), “Nam hương tập” (tập thơ hương vị đất Nam); “Hát Đông thư dị” (chép những chuyện lạ ở Hát Đông)… Tác phẩm chữ Nôm có: “Phú cải lương” (dùng toàn tục ngữ và thành ngữ), “Hợp quần doanh sinh thuyết”… Trong đó, “Phú cải lương” là một trong những thành công lớn nhất của ông về văn học.

Phú là một thể loại văn học thuộc lục nghĩa (phong, phú, tỉ, hứng, nhã, tụng). Phú là phô bày, tức là “bày tỏ một cách trực diện những tốt xấu trong nền chính trị” (Trịnh Huyền, 127-200, người Trung Quốc); “Phú là phô trương văn vẻ, tả vật nói chí” (Lưu Hiệp, ?-?, người Trung Quốc). Về nghệ thuật, phú dùng nhiều từ hoa mỹ, chú trọng cái đẹp về thanh điệu, dùng bố cục kiểu tản văn, đan xen câu dài ngắn, sử dụng các biện pháp tu từ và vần đối linh hoạt. Do đó, nó vừa tự do vừa chặt chẽ, có đặc điểm của tản văn lại có cả chất thơ. Ở Việt Nam, so với phú chữ Hán thì phú chữ Nôm (và sau này là phú chữ quốc ngữ) có lợi thế là tiếng nói dân tộc, tiếp thu chất liệu từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao và nhiều yếu tố của ngôn ngữ đời sống… nên mang tính chất bình dân hóa, thông tục hóa, rất phù hợp với với nội dung trào phúng; nội dung hiện thực và nhân đạo.

Có 5 loại phú là: Tao phú, Hán phú, biền phú, văn phú và luật phú; trong đó, được ứng dụng rộng rãi nhất là luật phú. Về cách hiệp vần: Có thể dùng độc vận (1 vần), liên vận (nhiều vần); vần đặt ở cuối vế thứ hai trong những câu đối nhau. Về cách đặt câu, có 5 cách: Tứ tự (mỗi vế 4 chữ); bát tự (mỗi vế 8 chữ); song quan (2 cửa, đặt từ 5 chữ trở lên, 9 chữ trở xuống, tạo thành một đoạn liền); cách cú (mỗi vế có 2 câu, một câu ngắn, một câu dài); gối hạc (mỗi vế thường có 3 đoạn trở lên). Về cách gieo vần: Chú trọng gieo vần ở những chữ cuối đoạn và cuối câu; chữ cuối 2 vế phải đối nhau. Đối với loại câu cách cú và gối hạc, chữ cuối các đoạn trong 1 vế phải đối với chữ cuối câu đó. Về bố cục gồm 6 phần: Lung (mở đầu, bao quát ý nghĩa đầu bài); biện nguyên (nói nguồn gốc, cho rõ ý đầu bài); thích thực (giải thích đầu bài); phu diễn (mở rộng ý đầu bài); nghị luận (bàn về ý đầu bài); kết (thắt lại ý đầu bài).

Trở lại với bài “Phú cải lượng” của Nguyễn Thượng Hiền. Đây là bài phú độc nhất vô nhị xét trên phương diện hình thức nghệ thuật vì dùng toàn tục ngữ, thành ngữ. Bài phú rất dài nhưng tập trung ở 5 nội dung chính, đến nay vẫn có ý nghĩa thời sự. Sau mấy câu mở đầu có tính chất kêu gọi, cảnh báo chung:

Anh em ơi! Anh em ơi!
Xoay vần cuộc thế; khép mở cơ trời
Nghĩ cho hết lẽ; khôn mới ăn người
”.

Tác giả đi vào những vấn đề chính yếu:

Một là, phải phát triển ngoại giao, ngoại thương, việc mà trước đây ta còn yếu kém và chưa chú trọng:

Sóng cạnh tranh lai láng giữa hoàn cầu, người muốn nọ kẻ muốn kia, không ai giống nhau, sống một nết, chết một tật;

Đường giao thiệp mở mang trên đại lục, khôn cũng nhiều dại cũng lắm, trông đó thì biết, người ba đấng của ba loài.

Giống nòi chia sắc vàng, sắc trắng, sắc đỏ, sắc đen, con vua vua dấu, con chúa chúa yêu, ai nấy cũng là chung bụng nghĩ.

Có tiền mua tiên cũng được, nào trung châu, nào biên tỉnh, việc bán buôn trăm đường mở rộng, chớ ngại xa xôi
”.

Hai là, phải thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong lao động sản xuất:

Công việc đủ nghề học, nghề cày, nghề buôn, nghề thợ, của anh anh mang, của nàng nàng xách, ngồi không há chịu để tay quai.

Mật ít ruồi nhiều, nghĩ người ta đang sức đua tranh, khéo đâu đất bỏ hoang, của sẵn mang dâng, cây đổ còn toan đào đứt gốc;

Quýt làm cam chịu, tại kẻ trước hóa bây giờ vất vả, may thay trời mở lối, cơn mê chợt tỉnh, rượu ngon nay đã nếm qua mùi
”.

Ba là, phải quan tâm đến học tập, giáo dục, một vấn đề trọng yếu của mỗi người cũng như của quốc gia:

Chẳng thày đố mày làm nên, kìa cao đẳng, kìa giáo sư, học hành một bụng khuyên răn, sao cho sáng suốt;

Có khôn thì vẽ cho nhau, chớ nghĩ rằng ta dốt mà rước ma cũ bắt nạt ma mới;

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, mấy nghìn năm đức Thuấn ân Nghiêu, mang nặng trên vai, báo đáp sao cho đền được nguyện;

Có bột mới gột nên hồ, ba vạn quyển rừng Âu bể Á, in sâu trong não, văn minh rồi mới dựng ra tài.

Đạo tri giao cốt phải chọn người, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng;

Đường cư xử sao cho biết lối, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
”.

Bốn là, phải rèn luyện lối sống thanh cao; không ngừng tu dưỡng:

Đói cho sạch, rách cho thơm, há như ai đục nước béo cò, chẳng nghĩ con cái mình, nặng tay rìu búa;

Ăn có nhai, nói có nghĩ, chớ toan sự mù trời bắt két, gặp khi thời vận thế, lên mặt cân đai.

Bước công danh vui lắm cũng lo nhiều, trong lưng đã chắc hơn ai, đơm đó ngọn tre, đừng háo hức chi nghề kiếm cá;

Đường danh lợi vinh kia thì nhục đó, có miếng phải mang lấy tiếng, múa tay trong bị, khéo mê man chi sự ăn xổi.

Chớ có như ai há miệng chờ sung, có cấy có trông, có trồng có ăn, ra sức sửa sang, nền hưng vượng có khi xây vững móng;

Suy ra mới biết đứt tay hay thuốc, học ăn học nói, học gói học mở, nhanh chân mau bước, bể trầm luân rồi cũng vượt qua vời
”.

Năm là, thực lòng đoàn kết vì lợi ích chung của đất nước, dân tộc:

Xin đừng giương mắt trông nhau, lắm sãi không ai đóng cửa chùa, phong hội ấy, nước non này, cũng phải lo toan cho hết sức;

Thôi đứng già mồm nói khoác, mười voi không được một bát xáo, chí khí to, công việc lớn, sao cho chắc chắn được như lời
”.

Tuy nhiên, để thực hiện được 5 điều trên, vấn đề cốt lõi theo tác giả chính là mỗi người phải có lòng yêu nước, thương nòi. Ông không hô hào chung chung bằng những khẩu hiệu to tát, sáo rỗng mà thuyết phục bằng cách chỉ ra thực tế lịch sử đất nước, dân tộc và trách nhiệm của mỗi người:

Đất Viêm Bang (VN) tuy dâu bể lắm phen, Đông có mây, Tây có sao, muôn sức phù trì, gặp hội mở mang ra cũng dễ;

Giống Hồng Lạc cùng anh em một họ, sống ở làng, sang ở nước, mấy câu gắn bó, khuyên ai thong thả nghĩ mà coi
”.

90 năm trước, Nguyễn Thượng Hiền với tư tưởng lớn và tầm nhìn xa trông rộng đã nói đến vấn đề giao thương, hội nhập. Qua cách sử dụng tài tình các tục ngữ, thành ngữ, tác giả không chỉ bộc lộ tài năng nghệ thuật mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc đối với tiếng Việt, chữ Việt. Một bài phú, một tấm lòng, một ước mong cho đất nước và dân tộc vươn lên giàu mạnh – thật đáng trân trọng.


Sưu tầm
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19868
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Thượng Hiền và bài phú độc đáo   Fri 01 Mar 2013, 02:57

Phú Cải Lượng (Nguyễn Thượng Hiền)


Anh em ơi! Anh em ơi!
Xoay vần cuộc thế;
Khép mở cơ trời.
Nghĩ cho hết lẽ;
Khôn mới ăn người.

Sóng cạnh tranh lai láng giữa hoàn cầu, người muốn nọ kẻ muốn kia, không ai giống nhau, sống một nết chết một tật;
Đường giao thiệp mở mang trên đại lục, khôn cũng nhiều dại cũng lắm, trông đó thì biết, người của ba đấng ba loài.

Giống nòi chia sắc vàng sắc trắng sắc đỏ sắc đen, con vua vua dấu con chúa chúa yêu, ai nấy cũng là chung bụng nghĩ;
Công việc đủ nghề học nghề cày nghề buôn nghề thợ, của anh anh mang của nàng nàng xách, ngồi không há chịu để tay quai.

Mật ít ruồi nhiều, nghĩ người ta đang ra sức đua tranh, khéo đâu đất bỏ hoang của sẵn mang dâng, cây đổ còn toan đào đứt gốc;
Quýt làm cam chịu, tại kẻ trước hóa bây giờ vất vả, may thay trời mở lối cơn mê chợt tỉnh, rượu ngon nay đã nếm qua mùi.

Bụng nghĩ hay việc làm mới hay, giấc tinh thần đừng giữ mãi thói si, lừ đừ như ông từ vào đền, trông chiều dễ ngán;
Khi trước khác bây giờ lại khác, lối ăn mặc đừng theo chi lối hủ, lượt thượt như lễ sinh mất vở, ngó bộ buồn cười.

Không thầy đố mày làm nên, kìa cao đẳng kìa giáo sư, việc học hành một bụng khuyên răn, sao cho sáng suốt.
Có tiền mua tiên cũng được, nào trung châu nào biên tỉnh, việc bán buôn trăm đường mở rộng, chớ ngại xa xôi.

Thợ may bớt giẻ thợ vẽ bớt hồ, sao bằng người giữ bụng tin ngay, lợi lớn là hơn, của nhặt thấm chi đồ tẹp nhẹp;
Đi giác sắm bầu đi câu sắm giỏ, huống chi sự học nghề chế tạo, đồ làm phải đủ, tay không chưa dễ tỏ mười mươi.

Nói chuyện sinh nhai, bậc làm trên trước phải dè dùng, chồng ăn chả vợ ăn nem, kẻ dưới tội chi không phí phá;
Xem trong đoàn thể, buổi mới đầu cốt cho chung bụng, ông nói gà, bà nói vịt, việc chi cứ để lai nhai.

Có khôn thì vẽ cho nhau, chớ nghĩ rằng mình giỏi mà trên, ma cũ nạt ma mới;
Muốn hay thì bày cho chắc, chớ chơi những kẻ hư mà dở, lợn lành chữa lợn toi.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, mấy nghìn năm đức Thuấn ơn Nghiêu, mang nặng trên vai, báo đáp sao cho đền được nguyện;
Có bột thì vắt nên bánh, ba vạn quyển rừng Âu bể Á, in sâu trong não, văn minh rồi mới dựng ra tài.

Đạo tri giao cốt phải chọn người, gần mực thì đen gần đèn thì sáng;
Đường cư xử sao cho biết lối, ở bầu thì tròn ở ống thì dài.

Gái có chồng như rồng có mây, trăm năm vẹn đạo xướng tùy, án ngọc ngang mày, lữ phải giữ thường ai chẳng nể,
Con có cha như nhà có nóc, một mực chăm bề hiếu dưỡng, vẻ ban quanh gối, lòng trên trông xuống cũng thêm vui.

Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo, dám khuyên ai biết nghĩ biết lo, đứng lại vững chân thì hẳn được;
Đừng đi đường quang bước quàng bụi rậm, kìa những kẻ vẽ khôn vẽ khéo, làm ra lỡ bước sợ không rồi.

Đói cho sạch rách cho thơm, há như ai đục nước béo cò, chẳng nghĩ con cái mình, nặng tay rìu búa;
Ăn có nhai nói có nghĩ, chớ toan sự mù trời bắt két, gặp khi thời vận thế, lên mặt cân đai.

Bước công danh vui lắm cũng lo nhiều, trong lưng đã chắc hơn ai, đơm đó ngọn tre, đừng háo hức chi nghề kiếm cá;
Đường danh lợi vinh kia thì nhục đó, có miếng phải mang lấy tiếng, múa tay trong bị, khéo mơ màng chi sự ăn xôi.

Thảm đến ai vạch lá tìm sâu, được lòng đất mất lòng đò, nghĩ sao cho phải;
Hay chi bọn rán sành ra mỡ, buộc cổ mèo treo cổ chó, đến thế thì thôi!

Xanh vỏ đỏ lòng, chẳng nghĩ chi áo chúa cơm vua, ở chùa đốt chùa, kể nghĩa lý đâu đồ lấc láo;
Chôn nhau cắt rốn, ai chẳng có quê cha đất tổ, ngồi thúng hất thúng, có thủy chung là kẻ hẳn hoi.

Một cây làm chẳng nên rừng, phải dùm nhau cho nên việc tốt tươi, ăn cây nào rào cây nấy;
Hai thưng cũng bằng một đấu, hễ biết tính sợ chi cơn túng bấn, ăn bữa hôm lo bữa mail

Lối dụng tài đã bỏ hết phù hoa, thôi những anh hay thi hay phú hay kinh nghĩa hay sách văn, đứt đuôi nòng nọc;
Đường tiến hóa cốt tìm ra thực hiệu, kìa những kẻ nào mũ nào giày nào ba toong nào ô máy, tốt mã dẻ cùi;

Giậu đổ bìm leo, cũng tại mình nào trách chi ai, mơ màng thác ngủ sống say, gương diệt chủng nay đà treo áp mặt;
Tre già măng mọc, lẫn hơn trước còn mong ở lại, hăm hở tìm khôn học khéo, chuông tự do rày đã đánh vang tai.

Nghĩ cho xa sự thế cũng buồn cười, có khác chi đâu, tò vò nuôi con nhện;
Đứng chưa vững sức mình còn phải nhón, chớ vội rằng được, châu chấu đá ông voi.

Bao giờ to lớn hẵng hay, mèo nhỏ bắt chuột con, sức ấy xem ra đừng có gượng;
Mấy kẻ ngọt ngon chưa rõ, tiền thực mua của giả, sự kia xét kỹ kẻo mà sai.

Giàu làm kép hẹp làm đơn, cơ cuộc dường này, liệu thế đắn đo là kẻ giỏi;
Nhặt che mưa thưa che gió, phong trần hội ấy, ra tay xoay xở đáng tài trai.

Chớ như ai há miệng chờ sung, có cấy có trông có trồng có ăn, ra sức sửa sang, nền hưng vượng có khi xây vững móng;
Rồi mới biết đứt tay hay thuốc, học ăn học nói học gói học mở, nhanh chân mau bước, bể trầm luân rồi cũng vượt qua vời.

Thấy ai ngay thực mới nên tin, đi ra hỏi già về nhà hỏi trẻ;
Nghĩ mình u mê chi chẳng biết, miếng ngon nhớ lâu điều đau nhớ đời.

Việc hồi thiên há một chốc xong ngay, bụng nghĩ cho sâu, đừng láo nháo như cháo lộn cơm, sợ khi nát bét;
Lòng ái quốc dầu trăm năm ghi đó, tay cầm cho vững, kẻo lanh chanh như hành không muối, chưa dễ ăn ai.

Xin đừng giương mắt trông nhau, lắm sãi không ai đóng cửa chùa, phong hội ấy nước non này, cũng phải lo toan cho hết sức;
Thôi đừng già mồm nói khoác, mười voi không được một bát xáo, chí khí to công việc lớn, sao cho chắc chắn được như lời.

Đất Viêm bang tuy dâu bể lắm phen, đông có mây tây có sao, muôn sức phù trì, gặp hội mở mang ra cũng dễ;
Giống Hồng Lạc cùng anh em một họ, sống ở làng sang ở nước, mấy câu gắn bó, khuyên ai thong thả nghĩ mà coi.
Về Đầu Trang Go down
 
Nguyễn Thượng Hiền và bài phú độc đáo
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: BIÊN KHẢO, BÌNH LUẬN THƠ VĂN-