Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ PHẠM KHANG by VẾT CHÂN CỦA NGÀY Today at 19:42

Xem ngày động thổ cần chú ý điều gì by huyenhoc142 Today at 16:25

HẸN VỚI NGƯỜI DƯNG by Lê Hải Châu Today at 11:35

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 10:32

TẬP THƠ : TAN VỠ TÌNH ĐẦU ! by nguoitruongphu Today at 04:59

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Today at 01:53

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Yesterday at 18:21

BUỒN by Cẩn Vũ Yesterday at 09:20

XƯỚNG - HỌA Cẩn Vũ by Phương Nguyên Yesterday at 00:48

CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Sat 09 Dec 2017, 22:40

KHÚC TÌNH THƠ – TNBC. by NGUYÊNHOANG Sat 09 Dec 2017, 22:27

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Sat 09 Dec 2017, 18:57

ĐÁM CƯỚI NGÀY MƯA by Lê Hải Châu Sat 09 Dec 2017, 17:47

Họa Thơ 2016 và 2017 by mytutru Sat 09 Dec 2017, 16:03

CUỐC GỌI TRÁI MÙA by Lê Hải Châu Sat 09 Dec 2017, 11:32

THƠ VUI CẨN VŨ. by Cẩn Vũ Sat 09 Dec 2017, 08:17

Muốn biết hôn nhân trong tương lai xem ngay chỉ tay đường tình duyên by Min Đặng Fri 08 Dec 2017, 13:55

5 lý do vì sao con gái bây giờ không thích có người yêu by Trà Mi Fri 08 Dec 2017, 13:31

CON DƠI QUỈ QUYỆT by Lê Hải Châu Fri 08 Dec 2017, 13:19

SƯƠNG GIÁ MÙA ĐÔNG by Lê Hải Châu Fri 08 Dec 2017, 13:17

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Fri 08 Dec 2017, 09:42

NGỌN ĐUỐC TÀN (MT-159-160) by Ntd Thu 07 Dec 2017, 17:20

Tổng hợp các cách quyến rũ đàn ông by Trà Mi Thu 07 Dec 2017, 15:41

BÀI THƠ BÊN LUỐNG CÀY by Lê Hải Châu Wed 06 Dec 2017, 15:13

Thử lòng! by Trà Mi Wed 06 Dec 2017, 07:04

ĐÂU LÀ CÁCH LÀM GIẢM MỠ BỤNG NHANH NHẤT CHO DÂN VĂN PHÒNG? by Trà Mi Wed 06 Dec 2017, 07:01

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Wed 06 Dec 2017, 02:15

THƠ PHƯƠNG NGUYÊN by Phương Nguyên Tue 05 Dec 2017, 23:53

LẠI... THAN! by Phương Nguyên Tue 05 Dec 2017, 23:22

Ngồi vắt chéo chân – Thói quen nguy hiểm cho sức khỏe by Trà Mi Tue 05 Dec 2017, 07:47

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Giai Thoại Chữ Nghĩa

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next
Tác giảThông điệp
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Giai Thoại Chữ Nghĩa   Fri 28 Aug 2009, 02:31

Thơ con cóc

Hồi xưa có ba anh chàng dốt văn thơ nhưng rất thích làm thơ và hoạ thơ với nhau. Dốt mà làm thơ cũng chẳng ai cấm, nhưng khổ nỗi mấy anh này làm thơ đã rất tệ, sai vần sai luật, khổ độc tùm lum mà lại cứ dương dương tự đắc, tâng bốc lẫn nhau, tự cho thơ họ là những tuyệt tác phẩm không ai sánh bằng.

Một buổi tối nọ trăng thanh gió mát, xúc cảnh sinh tình, mấy anh chàng rủ nhau làm thơ. Anh thứ nhất chợt thấy góc nhà nhảy ra một con cóc bèn ứng khẩu thành câu:

_ Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra

Anh thứ nhì nhìn con cóc ngồi im thì buột miệng nói theo:

_ Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó

Vừa lúc đó con cóc nhảy vụt ra ngoài, anh thứ ba tiếp lời:

_ Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi

Ba anh ráp ba câu lại thành một bài thơ, tự cho là tuyệt tác phẩm, khoái trí đọc ngâm nga mãi và tán tụng lẫn nhau là những thiên tài thi văn thời đại. Chợt một anh la lên:

_ Chết rồi! Nghe người ta nói rằng thiên tài thường hay chết yểu. Mà mình đã làm ra một tuyệt tác phẩm thì tinh anh phát tiết hết ra ngoài, thế nào mai cũng chết!

Hai anh kia giật mình bảo:

_ Thế thì phải lo sớm, kẻo mai chết đi thì không kịp.

Bèn sai người đầy tớ chạy ra tiệm mua ngay ba cái quan tài về lo việc tống táng. Tên đầy tớ nghe chủ nói lật đật ba chân bốn cẳng chạy ra đường, hấp tấp thế nào đụng phải 1 người đi ngang. Lão ta túm cổ nó hỏi:

_ Giữa đêm hớt hải thế này, chắc là mày đang làm việc gì mờ ám hử?

Tên đầy tớ trả lời:

_ Không phải đâu nào! Tại vì ba cậu chủ tôi mới làm xong được một bài thơ tuyệt hay, mà nghe người ta nói thiên tài sau khi sáng tác ra tuyệt tác phẩm thì sẽ chết nên sai tôi đi mua ba cái hòm về chuẩn bị sẵn, kẻo mai không kịp!

_ Thế mày có nhớ bài thơ đó không?

Tên đầy tớ tự hào nói:

_ Nhớ chứ ạ! Ba cậu ngâm suốt cả đêm tôi nghe đã thuộc lòng đây này.

Rồi nó đọc nguyên văn bài thơ cho lão kia nghe, lão ta phá lên cười sằng sặc. Một lát, lão cố nén cười bảo tên đầy tớ rằng:

_ Nhân thể mày mua luôn giùm tao một cái quan tài nữa nhé?

Tên đầy tớ ngơ ngác hỏi:

_ Chi vậy? Nhà ông có người mới mất à?

Lão ta cười nói:

_ Không phải, tao sợ tao cười một hồi rồi cũng chết theo ba cậu chủ mày đó thôi!

Do truyện đó mà sau này các bài thơ đọc nghe dở hơi, ngớ ngẩn được gọi là thơ con cóc!

Nghe nói ba anh chàng đầu thai lại thành ba ông thi sĩ lừng danh ở đâu đó trên mạng, tiếp tục làm ra những tuyệt tác phẩm CC (xin đọc là con cóc) và lại tiếp tục tán tụng lẫn nhau. Ông nào cũng thủ sẵn một cái quan tài để chình ình giữa nhà!

Ái Hoa

_________________________


Được sửa bởi Ý Nhi ngày Fri 28 Aug 2009, 02:59; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Chữ gì?   Fri 28 Aug 2009, 02:34

Chữ gì?

Năm ấy triều đình mở khoa thi, các thầy đồ nhiều phen bút nghiên lều chõng, lảo đảo trường ốc vẫn chưa đỗ đạt, nay lại lục tục kéo về Thăng Long dự thi. Họ gặp nhau, tay bắt mặt mừng, rủ vào một quán thịt chó gần phường Bích Câu để nhậu. Rượu vào, lời ra, thi văn bốc lên hừng hực. Một ông thầy bắt đầu kể truyện Nguyễn Hiền đời Trần mới 11 tuổi đã đỗ trạng nguyên, bị vua chê không biết lễ đuổi về. Sau sứ thần Trung Hoa sang đưa một bài thơ thách đố vua quan ta. Bài thơ nguyên văn như sau :



兩 日 平 頭日
四 山癲倒 山
兩 王 爭 一 國
四 口從 衡閒



"Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành gian"

dịch nghĩa là :

Hai mặt trời bằng đầu
Bốn trái núi đảo điên
Hai vua tranh một nước
Bốn miệng nằm dọc ngang

Cả triều thần chịu cứng không hiểu ý gì. Cuối cùng nhà vua phải đi rước Trạng về giải. Trạng Hiền chỉ xem qua bài thơ rồi trả lời ngay :

"Hai nhật bằng đầu để sóng hàng
Bốn sơn đảo lộn dọc cùng ngang
Hai vương nghiêng ngửa lo tranh nước
Bốn khẩu liền nhau ghép chữ vàng

đều là chữ "điền" (
= 田) cả!"

Vua quan bấy giờ mới vỡ lẽ ra. Sứ thần nhận câu đáp của Trạng là đúng, phải chịu phục.

Các thầy đồ gật gù khen :
_ Kẻ đố đã giỏi mà kẻ giải được còn tài hơn mấy bậc!

Các thầy thích chí vỗ đùi đen đét làm đổ cả chung rượu. Anh hàng thịt chó ngồi hầu rượu nghe lỏm cũng ngứa ngáy góp lời :
_ Các thầy đây hay chữ, vậy tôi xin đố các thầy :"Lưỡng nghệ lưỡng biên, khuyển trên hoả dưới" là cái gì?

Các thầy đồ nhìn nhau, suy nghĩ nát óc vẫn không biết có chữ gì mà hai bên là 2 chữ "nghệ", trên có chữ "khuyển" và dưới có chữ "hoả". Sau cùng họ phải chịu thua, nhờ anh hàng thịt chó giảng giải.

Anh ta tủm tỉm cười đáp :
_ Thưa, là chữ "chó thui" ạ! Tôi kẹp hai lát nghệ hai bên rồi để lửa (hoả) ở dưới nướng chó (khuyển) ở trên thì thành "chó thui" chứ còn gì nữa?


_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Lê Văn Hưu   Fri 28 Aug 2009, 02:38

Lê Văn Hưu

Tác giả bộ Đại Việt Sử Ký là nhà bác học thiên tài Lê Văn Hưu, giữ chức Hàn Lâm Viện Học Sĩ đời Trần, cũng là thầy dạy Tướng quốc Trần Quang Khải. Thuở nhỏ ông đã nổi tiếng thần đồng. Truyện kể rằng có người đố chú bé Hưu có dám vào núi thử xem vì trong núi có con ma râu dài. Chú bé một mình vào núi chẳng thấy ma mà chỉ thấy một ông lão nông dân đang làm rẫy, tóc râu bạc trắng như cước. Về làng mọi người hỏi bé Hưu có gặp ma không, chú bé đáp :
_ Cháu chỉ gặp tiên thôi.
_ Mày nói thật hay dối?
_ Thật mà! Này nhé, một người đứng bên núi nhìn cháu. Người là chữ "nhân" (人), núi là chữ "sơn" (山), chữ "nhân" ghép với chữ "sơn" thì chả thành chữ "tiên" (仙) là gì?

Mọi người đều phục tài chú bé. Đầu làng có bác thợ rèn trước cũng theo đòi nghiên bút và thích thơ phú. Một bận chú bé Hưu ra lò rèn chơi. Thấy chú bé mặt mũi sáng sủa, bác lò rèn bảo :
_ Mày biết đối không? Tao thử cho mày một câu đối, không đối được tao bắt quai búa.

Hưu đáp :
_ Bác cứ đọc, tàn nhịp điếu cày là cháu đối lại ngay!

Bác thợ ngạc nhiên bảo :
_ Thằng này khoác lác nhỉ? Nghe này :
"Sắt trong lò, than trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, rèn nên dùi sắt".

Câu đối ra có 2 chữ "sắt" và 3 chữ "lò", lại vần với chữ "phò", phải nói là khá hiểm hóc.

Hưu vỗ vào túi sách mang theo, nói :
_ "Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi, giật lấy khôi nguyên".

Chữ "nghiên" đọc trại gần giống chữ "nguyên", 3 chữ "túi" đối với 3 chữ "lò", và vần với chữ "húi", thật là tuyệt diệu.

Mọi người chung quanh thảy đều giật mình. Bác thợ rèn kêu lên :
_ A! Tài thế? Chắc chắn thằng bé này rồi sẽ giật giải khôi nguyên thôi!

Năm Đinh Mùi (1247), nhà Trần mở khoa thi Thái Học Sinh, Lê Văn Hưu trúng tuyển, lúc ấy mới có 17 tuổi. Tuy nhiên, ông không giật được khôi nguyên mà chỉ đậu Bảng Nhãn, dưới Trạng Nguyên Nguyễn Hiền một bậc!

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Nguyễn Hiền   Fri 28 Aug 2009, 02:40

Nguyễn Hiền

Nguyễn Hiền quê làng Hà Dương, huyện Thượng Hiền (Nam Định), thông minh từ thuở nhỏ, học nhà sư ở chùa từ khi 5, 6 tuổi, năm 11 tuổi nổi tiếng thần đồng. Có người ở Kinh Bắc tên Đặng Tính tự thị mình tài giỏi hơn đời, nghe tiếng Hà Dương có thần đồng bèn lặn lội tìm đến thử tài. Đặng ra bài phú đề tài là: "Phụng hoàng sào vu A các, Kỳ lân du vu Uyển hựu" (chim phụng hoàng làm tổ trên A các, con Kỳ lân đi chơi vườn Uyển hựu). Nguyễn Hiền đọc luôn 4 câu:

_ Qui phi Lạc thủy
Long bất Mạnh hà
Ỷ bỉ Hữu hùng chi quốc
Ấp vu Trác lộc chi a"

nghĩa là:

Không phải con rùa sông Lạc thủy
Không phải con rồng sông Mạnh hà
Ấy kia nước Hữu hùng (hùng = con gấu)
Đóng đô ở gò Trác lộc (lộc = con nai)

Câu nào cũng có một giống cầm thú. Đặng Tính lắc đầu le lưỡi rằng:
_ Thiên tài xin nhường cho bác trẻ tuổi này!

Năm đó Nguyễn Hiền đi thi đỗ thủ khoa. Khi vào thi Đình, văn Nguyễn Hiền hay nhất, được vua chấm giải Trạng nguyên. Lúc vào bái mạng, vua thấy bé loắt choắt lấy làm lạ mới hỏi:
_ Trạng học ai ở nhà?

Hiền thưa:
_ Tôi sinh ra đã biết. Chỉ thỉnh thoảng vào chùa hỏi nhà sư vài chữ thôi.

Vua cho là Trạng chưa biết lễ phép, ăn nói không khiêm tốn, cho về nhà học lễ 3 năm rồi mới bổ làm quan.

Không bao lâu có sứ Tàu đem bài thơ ngũ ngôn sang thử tài. Cả triều đình không ai biết nghĩa bài thơ, vua phải sai sứ giả tới làng Hà Dương mời Trạng về triều. Sứ giả tới nơi gặp một đứa trẻ trên đường làng mới kéo lại hỏi thăm thì nó không thèm đáp. Sứ giả cũng là tay hay chữ, bèn nói rằng:
_ Tự là chữ, cất giằng đầu chữ Tử là con, con ai con ấy?
(chữ Tự có nghĩa là chữ, bỏ nét trên đầu thành chữ Tử có nghĩa là con).

Đứa trẻ đáp ngay:
_ Vu là chưng, bỏ ngang lưng chữ Đinh là đứa, đứa nào đứa này?
(chữ Vu có nghĩa là chưng, mất nét ngang giữa thành chữ Đinh có nghĩa là đứa).

Sứ giả biết là Trạng bèn dò tới nhà, gặp Hiền đang lúi húi nhóm bếp lại châm chọc:
_ Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo? (Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp núc, lọ là phải nịnh vua bếp)

Trạng đối liền:
_ Ngã bản hữu qua cư đỉnh nại, khả tạm điều canh. (Ta cốt có chức Tể tướng, còn tạm nấu nồi canh. Ý nói nấu canh cũng như làm tướng, mặn lạt do tay mình)

Sứ giả kính phục bèn kể ý vua rước Trạng về kinh. Hiền nói:
_ Trước Thiên tử bảo ta chưa biết lễ, không ngờ chẳng những Trạng không biết lễ mà Thiên tử cũng vậy.

Rồi nhất định không đi. Sứ giả về tâu, vua phải sai đem ngựa xe cờ lọng đủ lễ thỉnh Trạng mới chịu theo về triều. Liếc qua bài thơ Trạng đã biết ý giải ra ngay, sứ Tàu phải chịu phục (xem bài "Chữ gì" cùng trang ở phía trên). Vua phong Trạng làm Kim tử vinh lộc đại phu, sau thăng Công bộ Thượng thư. Không bao lâu thì mất.

Vua thương tiếc, đổi tên huyện Thượng Hiền thành Thượng Nguyên để tránh húy, bắt dân nơi ấy lập miếu thờ, cấp ruộng dành cho việc cúng tế hàng năm.

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Mạc Đĩnh Chi đi sứ   Fri 28 Aug 2009, 02:43

Mạc Đĩnh Chi đi sứ

Mạc Đĩnh Chi tự là Tiếu Phu quê ở làng Lũng Đổng huyện Chí Linh (Hải Dương), dòng dõi Thượng Thư Mạc Hiển Tích triều Lý. Lớn lên bốn năm tuổi, ông đã lộ tư chất thông minh hơn người. Bấy giờ hoàng tử là Chiêu Quốc Công mở trường dạy học trò, Mạc Đĩnh Chi vào học.


Năm Giáp Thìn (1304) đời Anh Tôn nhà Trần, Mạc Đỉnh Chi thi Đình, văn chương tuyệt thế hơn hẳn mọi sĩ tử khác nhưng vua thấy tướng người xấu xí không muốn cho đỗ đầu. Ông làm bài phú "ngọc tỉnh liên", tự ví mình như hoa sen trong giếng ngọc.

Ngọc Tỉnh Liên Phú
Khách hữu:
Ẩn kỷ cao trai; hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thủy chi thanh trì; vịnh phù dung chi Nhạc phủ.
Hốt hữu nhân yên:
Dã kỳ phục; hoàng kỳ quan.
Quýnh xuất thần chi tiên cốt; lẫm tịch cốc chi cồ nhan.
Vấn chi hà lai; viết: tòng Hoa san
Nãi thụ chi kỷ; nãi sử chi toạ
Phá Đông lăng chi qua; tiến Dao trì chi quả.
Tái ngôn chi lang; tái tiếu chi thả.
Ký nhi mục khách viết: tử phi ái liên chi quân tử dã?
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian ;
Phi đào lý chi thô tục; phí mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi câu kỷ; phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc; phi Linh Quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái họa phong đầu Ngọc tỉnh chi liên.
Khách viết :
Dị tai!
Khởi sở vị: ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng; lãnh tỉ sương hề cam tỉ mật giả da?
Tích văn ký danh; kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hân nhiên; nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất
Nãi phất thập dạng chi tiên, tỉ ngũ sắc chi bút
Dĩ vi ca viết :
Giá thủy tinh hề vi cung; tạc lưu li hề vi hộ.
Toái pha lê hề vi nê; sái minh châu hề vi lộ.
Hương phức úc hề trùng tiêu; đế văn phong hề nhữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương; Tố Nga phân hề nhữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu; vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vi hề trung lưu; hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi hộ lạc hề vô dung, thán thuyền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a; quả hà thường hồ phong vũ .
Khủng phương hồng hề dao lạc; hoài mỹ nhân hề tuế mộ.
Đạo sĩ văn nhi thán viết : Tử hà vi ai thả oán dã?
Độc bất kiến Phượng hoàng trì thượng chi tử vi, Bạch ngọc đường tiền chi hồng dược?
Tuấn địa vị chi thanh cao; ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều; tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc?
Ư thị hữu cảm tư thông, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi; canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến Ngọc tỉnh liên chi phú.


Bài phú được dâng lên vua Anh Tông. Từng câu, từng chữ trong bài phú đã làm cho nhà vua bừng tỉnh và thốt lên :
_ Khanh quả là bậc thiên tài, có tiết tháo!


Ông được lấy đỗ Trạng nguyên. Ngay sau khi đỗ đạt, ông được sung chức Nội thư gia và bốn năm sau (năm Mậu Thân, 1308), ông được cử cầm đầu phái bộ sứ giả sang nhà Nguyên, mừng việc Nguyên Vũ Tông lên ngôi. Có một mẩu chuyện thú vị đã xẩy ra trong chuyến đi sứ này của ông, được sách "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi lại như sau:

"Đĩnh Chi thấp bé nên người Nguyên khinh ông. Một hôm, viên tể tướng mời ông vào phủ, cho cùng ngồi. Lúc ấy, đang hồi tháng 5 tháng 6. Trong phủ có treo bức trướng mỏng, trên thêu hình con chim sẻ đậu cành trúc. Đĩnh Chi vờ làm như mình nhầm tưởng là chim sẻ thật rồi chạy đến bắt.
Người Nguyên thấy vậy cười ồ, cho là người phương xa quê mùa. Bất thình lình, Mạc Đĩnh Chi kéo bức trướng xuống xé đi. Mọi người lấy làm lạ, hỏi tại sao, Đĩnh Chi đáp rằng: Tôi nghe người xưa vẽ chim sẻ đậu cành mai chứ chưa hề thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay bức trướng của tể tướng lại có hì chim sẻ đậu cành trúc. Trúc là biểu tượng của bậc quân tử, chim sẻ là biểu tượng của kẻ tiểu nhân, làm như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo đạo tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy, tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân vậy. Mọi người nghe vậy đều phục tài ông". Những kẻ ngạo mạn cười ồ khi Đĩnh Chi vờ bắt chim sẻ, sau khi nghe Đĩnh Chi giải thích việc làm của mình, ắt hẳn phải ngồi im thẹn thùng vì biết bị Đĩnh Chi nói xỏ là lũ tiểu nhân. Xé bức trướng xong lại nói vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân, Đĩnh Chi muốn ngầm bảo rằng, sao mà thánh triều lắm tiểu nhân đến vậy?

Tương truyền trong thời gian đi sứ Mạc Đĩnh Chi ứng đối với vua quan Tàu rất tài tình, khiến người Tàu vô cùng nể phục. Chẳng hạn khi qua quan ải do thời tiết xấu nên tới sai hẹn, người Tàu đóng cửa quan không cho vào. Đĩnh Chi xin mở cửa, quan trên thành ném xuống một câu đối, bảo đối được mới mở. Câu ra:
_ Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.

Ông viết vào mảnh giấy gởi lại:
_ Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

Người Tàu khen có tài nhanh nhẩu, mở cửa ải cho vào.

Ái Hoa
(còn tiếp)

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)   Fri 28 Aug 2009, 02:45

Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)

  Khi Mạc Đĩnh Chi vào triều gặp vua Nguyên, một viên quan Tàu bèn ra vế đối:
_ An, nữ khứ, thỉ nhập vi gia
 (chữ an , bỏ chữ nữ đi, cho chữ thỉ vào thì thành chữ gia ). Thỉ có nghĩa là heo lợn.

Mạc Đĩnh Chi đối ngay:
_ Tù, nhân xuất, vương lai thành quốc (chữ tù
, bỏ chữ nhân ra, đem chữ vương lại thành ra chữ quốc ).
 
Người Tàu phê rằng:
- Con cháu về sau tất có người làm đến đế vương nhưng hiềm là chữ quốc đơn (có hai dạng chữ quốc, (chữ quốc giản thể thì viết
, phồn thể thì viết ) thì hưởng nước không được tràng cửu.
 
Một viên quan khác ra đối tiếp:
_ Li, mị, võng, lượng tứ tiểu quỷ. (Li, mị, võng, lượng là bốn con quỷ nhỏ)

 Bốn chữ li , mị , võng , lượng đều có chứa chữ quỷ

Đáp:
_ Cầm, sắt , tỳ, bà, bát đại vương. (Cầm, sắt, tỳ, bà là tám ông vua lớn)

 Bốn chữ cầm , sắt  , tỳ , bà , mỗi chữ có hai chữ vương , tất cả thành tám chữ vương.
Quan Thượng Thư thấy vậy đọc:
_ Thập khẩu tâm tư, tư quốc tư gia, tư phụ mẫu (câu này dùng phép chiết tự, chữ thập 十, chữ khẩu 口, chữ tâm 心 gộp lại thì thành chữ tư 思 có nghĩa là nhớ: nhớ nước, nhớ nhà, nhớ cha mẹ)

Mạc Đĩnh Chi lên tiếng đối luôn:
_ Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương (chữ thốn 寸,chữ thân 身, chữ ngôn 言 gộp lại thành chữ tạ 謝 có nghĩa là cám ơn: cám ơn trời, cám ơn đất, cám ơn vua)

Quan Thái Sư không chịu thua:
_ Thiên lý vi trùng, trùng thủy trùng sơn trùng nhật nguyệt (Nghĩa là: Việt cách Tàu nghìn dặm, núi sông nước đều giống như Tàu. Nghĩa bóng: Họ gạ nước Việt nhập vào Tàu)

Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau:
_ Nhất nhân thành đại, đại quân đại quốc đại càn khôn (Nghĩa là: Một người cũng là lớn, có vua lớn, nước lớn có trời đất lớn. Nghĩa bóng: Nước Việt tuy nhỏ nhưng cũng có vua quan, có trời đất riêng không phụ thuộc vào ai)

Quan Thái Uý liền nối tiếp mạch văn chương:
_ Hải trung hàm thủy thanh thiên bao nhật nguyệt tinh thần (Nghĩa là: Trong bể đựng nước bao bọc trời xanh mặt trời mặt trăng và cả tinh thần. Nghĩa bóng: Đại ý nói Tàu là nước lớn rộng như trời biển bao bọc cả trời xanh mặt trời mặt trăng và cả các vì sao, so nước Việt thì nước Việt nhỏ bé)

Mạc Đĩnh Chi đối lại như sau:
_ Hàn thượng phân kim chỉ địa quát đông tây nam bắc (Nghĩa là: Trên mâm chia vàng chỉ xuống đất bao quát cả đông tây nam bắc. Nghĩa bóng: Trên một cái mâm chia vàng ai cũng được chia như nhau không cậy lớn mà chia ít cho người khác chỉ xuống đất bao quát thấu suốt được 4 phương đông tây nam bắc, nói cách khác không thể khinh nước nhỏ mà ăn hiếp được)

Người Tàu vốn kiêu căng tự ví nước Tàu như mặt trời vĩ đại, còn các nước khác là chư hầu như mặt trăng nhỏ bé. Thấy các quan trổ hết tài vẫn chưa trấn áp được sứ thần hoàng đế Nguyên đọc một câu đối để tỏ ý coi thường nước Đại Việt:
_ Nhật: hoả, vân: yên, bạch trú thiêu tàn ngọc thỏ.
nghĩa là: lấy mặt trời làm lửa, mây làm khói, ban ngày đốt tiêu thỏ ngọc (= mặt trăng)

Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu đọc ngay :
_ Nguyệt: cung, tinh: đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.
nghĩa là: lấy mặt trăng làm cung, sao làm đạn, chiều tối bắn rớt quạ vàng (=mặt trời)

Vế đối thật hay và chỉnh cả về từ lẫn ý. Trăng lưỡi liềm như cánh cung, sao tròn như viên đạn, là hình dung thật tuyệt vời. Ngoài ra còn nêu lên được tinh thần bất khuất của nước nhỏ (mặt trăng) sẵn sàng đập tan mọi de doạ của nước lớn (ví như mặt trời).

 
 Do câu này người ta cho rằng con cháu ông về sau tất có người thí quân cướp nước. (Ứng với điềm cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Đặng Dung về sau giết vua Lê đoạt ngôi).
 
Gặp lúc công chúa nhà Nguyên chết, các sứ thần đi dự lễ tang. Triều đình nhà Nguyên trao ông vinh dự đọc điếu văn đã soạn sẵn trong buổi lễ. Tới chừng lên đọc, giở tờ giấy ra chỉ thấy bốn chữ nhất, Mạc Đĩnh Chi biết người Tàu muốn thử tài mình, ông không hề bối rối, ứng khẩu luôn bài văn điếu, nguyên văn như sau:

_Thanh thiên nhất đoá vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!

Tạm dịch:

(Một) cụm mây trên trời xanh
(Một) đốm tuyết cạnh lò hồng
(Một) cánh hoa nơi vườn ngự
(Một) mảnh nguyệt dưới ao trong
Ôi! Mây tan, tuyết chảy,
hoa rụng, nguyệt mờ!

Bài văn này còn được chép lại trong tài liệu sử sách của Tàu. Ai cũng phải chịu là tài ứng đối nhanh.

Vua nhà Nguyên cảm phục tài của Mạc Đĩnh Chi, sai mang lụa là, vàng bạc tặng ban và phong cho ông làm "Lưỡng quốc Trạng nguyên" (Trạng nguyên của cả hai nước), chữ phê do chính tay hoàng đế Nguyên viết.



Ái Hoa
(còn tiếp)

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)   Fri 28 Aug 2009, 02:50

Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)

  Trong thời gian ở Tàu, Mạc Đĩnh Chi có nhiều dịp trổ tài đối đáp với người Tàu khiến họ không dám khinh thường người Việt Nam. Có lần Mạc Đĩnh Chi cỡi lừa rong chơi đường phố Bắc Kinh, vô ý đụng phải một viên quan Tàu đang cỡi ngựa. Viên quan này vênh mặt hỏi bằng một câu đối:
 _ Xúc ngã kị mã, Đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã? (Đụng vào ta cỡi ngựa, ấy là rợ phương Đông hay là rợ phương Tây?)
 Viên quan Tàu dùng chữ trong sách Mạnh Tử, có ý khinh rẻ, cho người nước ta là mọi rợ.

Mạc Đĩnh Chi thấy viên quan Tàu giở giọng kẻ cả, bực lắm bèn đọc luôn:
 _ Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư? (Húc vào ta cỡi lừa, hỏi rằng phương Nam mạnh, hay rằng phương Bắc mạnh?)

 Trong vế đối, Trạng nước ta cũng dùng chữ trong sách Trung Dung và ngụ ý để viên quan Tàu kiêu ngạo thấy: “Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!”

 Lần khác, người Nguyên thấy đoàn sứ bộ ta chuyện trò với nhau, tiếng cứ ríu ra ríu rít như chim. Họ bèn ra câu đối để đùa:
 _ Quyết thiệt chi đầu đàm Lỗ Luận: tri chi vi tri chi, bất vi tri bất tri, thị tri (Chim chích choè đầu cành bàn sách Luận ngữ: biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, thế mới là biết).

 Đây là một vế đối khó. Người Nguyên đã chọn những từ vi, tri, chi... giống tiếng chim kêu để giễu người Việt khi phát âm.

Mạc Đĩnh Chi đã đối:
 _ Oa lâm trì thượng độc Châu thư: lạc dữ độc lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc? (Con chẫu chuộc ngồi dưới ao đọc sách nhà Chu: nghe nhạc vui cùng ít người, nghe nhạc vui cùng nhiều người, đằng nào vui hơn?).
Vế đối của Trạng nước ta cũng dùng từ lạc, lạc, nhạc... giống tiếng chẫu chuộc, để chọi lại, chế người Nguyên nói ồm ộp như chẫu chuộc!

 
Một hôm Mạc Đĩnh Chi ngồi uống nước với người Nguyên ở cạnh chùa. Họ bèn ra câu đối để thử tài sứ An Nam. Câu đối bằng chữ Hán, dịch ra như sau:
 _ Kỷ là gỗ. Chén không phải là gỗ. Tại sao lấy kỷ làm chén?

Trạng nhìn ngôi chùa, tức cảnh đối ngay:
 _ Tăng là người. Phật không phải là người. Tại sao lấy tăng thờ Phật?
 Vế đối quả là chan chát và lập luận thật là chặt chẽ, chính xác!

 Lại có lần Mạc Đĩnh Chi cùng với phái bộ triều Nguyên đi chơi. Tới gần một cái cầu, chẳng may Trạng Việt Nam bị sa hố, phái bộ đều chạy lại để đỡ ông dậy. Để đùa vui, họ ra cho ông một vế câu đối:
 _ Can mộc, hoành cừ, lục giả tương như tự đạo
 (Nghĩa là: Gỗ thẳng, cầu ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng)

Cái khó của câu này là ở chỗ dùng toàn tên người ghép lại. Theo đó, can mộc là Đoàn Can Mộc - một nhân vật đời Chiến Quốc, Hoành Cừ: tên hiệu của Trương Tải - một triết gia đời Bắc Tống, Lục Giả: người nước Sở, giỏi biện luận, theo giúp Hán Cao Tổ, tương như: Lạn Tương Như, một nhân vật nổi tiếng đời Chiến Quốc,  tự đạo: Giả Tự Đạo, người đời nhà Tống, một quyền thần chuyên chế.

 Mạc Đĩnh Chi nhìn quanh nom thấy ở bên kia sông có cái đình dưới chân núi, nhân thế chỉ tay thẳng đình mà đối:
 _ Đại đình, anh thạch, vọng chi nghiễm nhược Thai sơn
 (Nghĩa là: Đình to, đá vững, nhác nom như thể Thiên Thai)

 Câu này cũng dùng toàn tên người ghép lại như ở câu trên mà lại có ý khoáng đạt hơn nhiều, theo đó Đại Đình là một biệt hiệu của Thần Nông, an thạch tức Vương An Thạch thừa tướng đời Bắc Tống, Vọng Chí là người đời Hán, làm phụ chính cho Hán Nguyên đế (hai từ "nghiễm nhược" và "Thai sơn", các nhà nghiên cứu cho biết chưa tra cứu ra là ai).

 Thế là một lần nữa, người Nguyên lại phải khâm phục tài văn học của sứ thần An Nam.

Ái Hoa
(còn tiếp)

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)   Fri 28 Aug 2009, 02:56

Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)

  Một buổi chiều hè, trời nắng như đổ lửa, Mạc Đĩnh Chi và mọi người lúc ấy đi ngang qua một quán nước ven đường. Ông cho mọi người nghỉ lại. Chủ quán là một bà cụ già tóc bạc phơ, đon đả chào khách. Cạnh đấy không xa có giếng nước trong, trên thành giếng có viết 5 chữ : "Ngân bình, kiên thượng tị ".
Thấy lạ, ông hỏi duyên do. Bà cụ chậm rãi kể lại rằng khi xưa có một cô gái bán hàng nước học hành giỏi, chữ nghĩa thông làu. Gần đấy, có một anh học trò muốn ngấp nghé, cứ ngày ngày đi học về, lại vào uống nước tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói thực với anh:
_ Thiếp là con nhà lương dân, có theo đòi bút nghiên, mà chàng cũng con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời, thực cũng xứng đôi vừa lứa. Nhưng mà thiếp chưa được biết tài học của chàng ra sao, vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu chàng đối được, thiếp tình nguyện theo nâng khăn sửa túi, bằng không, thì xin chàng chớ qua đây làm gì nữa.

 
 Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nhân trông thấy cái ấm tích bằng bạc, mới ra câu đối rằng:
_ Ngân bình, kiên thượng tị  
(Bình bạc, mũi trên vai. Ý nói cái vòi trên cổ ấm).

 
Anh học trò nghĩ mãi mà không đối được, xấu hổ quá, đành đâm đầu xuống giếng đó chết. Ít lâu sau, người ta cho viết vế câu đối ấy lên thành giếng để thách thức cả thiên hạ, nhưng xưa nay chưa ai đối được.

 
Nghe đến đây, Mạc Đĩnh Chi cười nói:
_ Câu ấy dễ thế sao không đối được mà phải đành ngậm oan nơi đáy giếng! Thôi để ta đối giùm hầu giải oan cho hồn kẻ thư sinh.

 
Ông bèn đọc :
_ Kim tỏa, phúc trung tu"
(Khóa vàng, râu trong bụng. Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa).

 
Sau đó, ông bèn sai người viết câu ấy lên thành giếng, bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa. Mọi người đều chịu ông đối giỏi.

 
 Tin Mạc Đỉnh Chi, sứ giả An Nam rất hay chữ và đối đáp nhanh nhẹn, đã truyền đến triều đình nhà Nguyên. Cả triều đình xôn xao bàn tán, người thì bảo phải chơi cho y một vố thật đau, kẻ thì bảo phải làm cho y bẽ mặt trước công chúng. Cuối cùng, viên Thừa tướng bày mưu:
_ Tâu bệ hạ, thần nghĩ ra một kế, mấy hôm nữa khi hắn ta đến, cả triều đình mũ áo cân đai chỉnh tề ra đón, sai hết cả cung phi, thị tì ra để mua một trận cười.

 
Vua Nguyên sốt ruột hỏi :
_ Kế đó ra sao, hãy nói trẫm nghe đi đã.
_ Tâu bệ hạ, trước cổng thành, ta cho đào một cái hố tròn, sâu, trên bịt da thật căng để làm thành một cái trống đất đặc biệt. Chờ khi hắn đến, sai người gõ thật to, tiếng trống sẽ như tiếng động đất, như vậy, hắn ta và tùy tòng phải khiếp đảm, nhớn nhác, ngựa nghẽo kinh sợ chạy tán loạn.

 
Vua Nguyên và quần thần hí hửng khen kế đó rất hay. Và trống đất được làm rất khẩn trương.

 
Đoàn sứ giả đi đã lâu ngày, dầm mưa, dãi gió, gội sương đã nhiều. Ai nấy đều mệt mỏi rã rời, nước da rám nắng đen sạm. Con ngựa của Mạc Đĩnh Chi cũng kiệt sức lắm rồi, nó bước đi khấp khểnh, quất roi vào mông đen đét nó vẫn cứ ỳ ra. Khi trông thấy thành trì nhà Nguyên sừng sững trước mắt, mọi người vui sướng reo lên, trong người nhẹ hẳn như trút được gánh nặng, nỗi mệt nhọc dần dần tan biến đi. Họ hân hoan bước tới cổng thành, lúc ấy vào buổi chiều tà. Cửa thành cờ xí rợp trời, người đông nghẹt đứng giạt hai bên. Vua Nguyên mặc áo bào đỏ, ngồi chễm chệ trên đỉnh gác cổng thành.

 
Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ bộ vừa đi tới, thì bỗng nghe tiếng trống đất dội vang dưới chân. Ai nấy đều ngơ ngác. Con ngựa của Mạc Đĩnh Chi không biết chạy chỗ nào, sợ quá ngã quỵ xuống đất. Cả triều đình nhà Nguyên reo hò ầm ĩ. Vua Nguyên khoái chí cười tít cả mắt lại, và đắc chí lắm. Lúc ấy Mạc Đĩnh Chi cũng bối rối, nhưng trấn tĩnh lại được ngay không thèm đếm xỉa đến vua Nguyên đang ngồi trên cổng thành, cau mặt lại nói:
_ Có gì mà các ngài cười? Tôi biết mùa này làm gì có sấm đất. Có tiếng động lạ, tôi cho ngựa quỳ xuống lắng tai nghe xem có phải sấm đất chăng?

 
Từ trên lầu cao vua Nguyên phải gật đầu khen :
- An Nam Trạng Nguyên quả là nhanh trí.

 
Nhân có người ngoại quốc dâng một đôi quạt quý, vua Tàu sai Đĩnh Chi và sứ thần Cao Ly, mỗi người đề một bài tán vào quạt.

Sứ Cao Ly làm xong trước.

Lời tâu rằng:

_ Uẩn lòng trùng trùng, Y Doãn Chu Công,

 Vũ tuyết thê thê, Bá Di Thúc Tề.

Nghĩa là: Đang lúc nắng nực, thì như ông Y Doãn, ông Chu Công (ý là đắc dụng với thời). Đến khi mưa tuyết lạnh lùng thì như ông Bá Di, ông Thúc Tề (ý nói là xếp xó một chỗ).

Bấy giờ Mạc Đĩnh Chi chưa nghĩ ra ý tứ làm sao, nhác trông sang bên kia, thấy lời lẽ như thế mới suy ra mà đề một bài như sau này:

_ Lưu kim thước thạch thiên địa vi lô nhĩ ư tư thời hề Y Chu cự nho!  Bắc phong kì lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di Tề ngã phu. Y! Dụng chi tắc hành xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù?

Nghĩa là: Nắng chảy vàng tan đá, trời đất như lò, người về lúc ấy ví như Y, Chu, hai ông quan to. Gió bấc lạnh lẽo, mưa tuyết lấp đường, người về lúc ấy ví như Di Tề, hai người chết đói. Than ôi ! Khi được dùng đến thì ra làm, khi không dùng đến thì cất đi, chỉ ta cùng ngươi là thế ru?

 
Đề xong dâng lên, vua Tàu cầm bút khuyên chữ "y", phê rằng "Lưỡng quốc trạng nguyên" nghĩa là trạng nguyên hai nước.

 
Ái Hoa

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Người vợ Cao Ly   Fri 28 Aug 2009, 02:57

Người vợ Cao Ly

Đời sau vẫn còn truyền tụng huyền thoại về mối tình của Mạc Đĩnh Chi với cô gái Cao Ly (còn gọi là Triều Tiên hay Hàn Quốc). Nguyên sau khi ông và sứ thần Cao Ly cùng làm thơ đề quạt, vua nhà Nguyên khen ngợi và phong cho cả hai chức Trạng Nguyên. Được ít lâu, Trạng Cao Ly về nước có mời Trạng An Nam qua chơi nhà. Lần đầu, Mạc Đĩnh Chi ở bên Cao Ly chơi bốn tháng. Trong thời gian ấy, Trạng Cao Ly làm mối cho Mạc Đĩnh Chi một người cháu gái trong họ để làm thiếp. Mạc Đĩnh Chi đưa người thiếp ấy cùng về bên Tàu, được mấy năm thì bà thiếp ấy trở về nước Cao Ly, có dắt về hai đứa con, một trai một gái. Bà về nhà nói với anh em rằng:
_ Khi ông trạng tôi về nước An Nam có viết mấy chữ để lại cho tôi rằng: "Ngày nay tôi về nước là theo lệnh quân vương, ngày sau sang thì không có kỳ hạn nào cả. Ơn trời, chúng ta sinh hạ được hai đứa con, nhờ nàng nuôi nấng, dạy dỗ cho nên người. Về sau này nàng sẽ có nơi trông cậy, mà ta cũng không đắc tội với chúng nó là chỉ biết sinh con mà không biết nuôi, biết dạy con". Cứ như thế thì tôi không còn hy vọng ông trạng Mạc nhà tôi trở lại nữa, mà thân tôi đây bỗng dưng trở nên người vị vong rồi vậy!

Ai nghe thấy cũng phải ái ngại cho người thiếp đó mới ngoài hai mươi tuổi đầu không goá cũng thành như goá, lại thêm bên kẽ nách hai đứa con thơ, biết lấy gì nuôi nhau cho được nên người, giữ làm sao cho được toàn danh tiết? Ở vào địa vị bà thiếp ấy thật là khó khăn!

Thắm thoắt đã mười năm trời, một hôm bà thiếp ấy đang ngồi khâu vá chợt thấy Mạc Đĩnh Chi đến, bà giật mình lăn đùng ra. Ông chạy lại ôm lấy bà, gọi mãi mới tỉnh. Khi tỉnh lại rồi bà vẫn còn bâng khuâng như trong giấc chiêm bao, lại thỉnh thoảng nói một câu như mê mẩn. Ông Trạng Mạc an ủi hồi lâu thì người thiếp đó tỉnh lại. Lần này, Mạc Đĩnh Chi lưu lại ở nước Cao Ly trong sáu tháng trời. Trong khoảng thời gian ấy, ông đi du lịch gần khắp nước Cao Ly. Ông đi đến đâu , ai cũng hoan nghênh, vì ai cũng biết ông là bậc thông minh xuất chúng , lại là người rể trong nước. Ông có làm tập thơ truyền lại cho hậu thế, hiện nay vẫn còn nhiều người truyền tụng. Hết sáu tháng thì ông trở về nước, khi ấy bà thiếp vừa có mang 3 tháng. Sau đó, bà thiếp nhớ ông quá nên lập bàn thờ sống ở trong nhà, để sớm tối hương hoa cho thoả lòng hoài vọng. Cái bàn thờ sống đó chẳng qua là bà thiếp đặt ra để kỷ niệm sự thương nhớ chồng thôi , ban đầu không có nguyện khấn gì như các bàn thờ thánh khác. Đến tháng sinh con trai út, bà thiếp có biện xôi gà làm lễ ở trong bàn thờ ấy là lần đầu tiên. Khi người con trai út được một tuổi thì bị một cơn sốt mê man, bất tỉnh nhân sự, hai ba hôm không ăn uống gì được. Các thầy thuốc đến xem bệnh ai cũng nói là rất nguy kịch, không thể chữa được nữa. Bà thiếp lại sửa lễ xôi gà, đến quỳ trước bàn thờ chồng cầu nguyện vào lúc chập tối thì đến lúc nửa đêm người con trai út đã ngớt cơn sốt, đến sáng hôm sau thì tỉnh hẳn. Cả nhà ai cũng lấy làm lạ.

Từ ấy trở đi, tiếng linh ứng truyền đi khắp mọi nơi. Trước hết là một vài nhà hàng xóm xin tên hiệu ông Trạng về thờ , sau đó dần dần lan ra khắp cả châu, cả huyện, khắp cả nước không mấy nhà là không lập bàn thờ ông. Việc thờ phụng Mạc Đĩnh Chi bên Cao Ly cũng linh ứng, chẳng kém gì như thờ đức Thánh Trần ở nước An Nam .

Khi Mạc Đĩnh Chi trở về An Nam, bà thiếp chịu khó nuôi nấng, dạy bảo các con. Khi các con đã khôn lớn, dựng vợ gả chồng xong rồi, bà thường ở với người con trai út. Ở được hai năm thì bà từ biệt, đi vào chùa ở. Bà hưởng thọ 93 tuổi. Trong cửa thiền, bà ăn ở rất từ bi và độ lượng, mọi người đều cảm phục. Khi bà tịch ở chốn thiền môn, người ta lập đàn cầu nguyện cho bà rất linh đình, xưa nay chốn thiền môn chưa có đám tang nào rực rỡ, vẻ vang như thế.

Con trai cả của ông, sau này xuất thân làm quan võ, sinh được 12 người con gồm 8 trai , 4 gái. Sau còn hai ba đời đỗ đạt làm quan, nhưng không hiển hách lắm. Ngành này , phần nhiều là người giàu có. Con trai út khi được 19 tuổi thì đỗ cử nhân, không chịu ra làm quan, chỉ ở nhà làm thuốc và dạy học. Ông này sinh được 4 con trai đều học giỏi. Người con thứ 3 của ông này sinh được một người con văn võ song toàn, đã từng đánh đuổi quân Tàu , đánh đông dẹp bắc hiển hách một đời.

Ngành thứ hai này về sau sinh ra nhiều nhân tài, phần lớn là người trung hiếu, liêm khiết. Cháu đời thứ 8 có một thi sĩ, văn thơ hay nhất trong đời, không kém gì Lý, Đỗ bên Tàu. Ông có làm một bài phú về con Rùa , ngụ ý rằng nước Cao Ly tiến hoá chậm như Rùa bị các cận quốc khinh bỉ, song cách tiến hoá thong thả, vững vàng như con Rùa bò không vấp váp. Sau này các cận quốc tự phụ là linh tiệp như hùm như hổ sẽ bị non yểu tiêu diệt dần đi, dừng lại con sông Hoàng Hạc trong khoảng trời đất ngàn thu. Lời văn thanh thoát rất ly kỳ, quân đô hộ Tàu xem xong phải tấm tắc khen ngợi, rồi kể với vua Tàu, vua Tàu sai sứ sang hậu thưởng cho 100 tấm lụa và mời ông sang làm quan bên Tàu. Ông đã làm một bài trần tạ và thoái thác không chịu sang Tàu làm quan: Tôi chỉ thích yên phận làm một con rùa hèn mà không thích nghênh ngang làm một con sư tử dữ. Tôi chỉ thích làm một anh đồ mặc áo vải ở nước Cao Ly hơn là một người có thiên tư văn chương ở bên Trung Quốc.

Nếu so sánh thì ngành thứ nhiều người hiển đạt, nhiều người anh hùng hơn ngành cả. Mới ngày nào ở bên nước Cao Ly chỉ có một vết chân cụ Trạng Mạc bước tới mà dần dà nảy nở, hoá ra hàng trăm, hàng ngàn con cháu làm quan, có cả chức quan to tác động đến cả vận mệnh nước Cao Ly. Vì thế sự tôn kính, thờ phụng Mạc Đĩnh Chi ở Cao Ly không phải là ngẫu nhiên theo sự linh ứng "sống khôn chết thiêng".

(theo Bùi Xuân Giang)


_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
Y Nhi
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 3172
Registration date : 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Nhà sư Huyền Quang   Fri 28 Aug 2009, 02:58

Nhà sư Huyền Quang

Mạc Đĩnh Chi suốt đời sống rất liêm khiết, thanh bạch, nên tuy làm quan nhưng nhà vẫn nghèo. Vua Trần Minh Tông biết rõ sự tình đã sai người đang đêm đem 10 quan tiền bỏ trước cửa nhà ông, ngầm cho ông. Sáng mai, khi thức dậy, ông cầm số tiền đó vào triều tâu vua, xin bỏ vào kho nhà nước. Vua cười bảo: “Không ai đến nhận, cho khanh cầm lấy mà tiêu”. Chừng ấy ông biết là vàng của vua ban mới chịu lấy về. Vua khen ông trong sạch và tặng hai chữ “Lịch sử”.

Đến triều vua Hiền Tông, làm nên đến chứ Tả bộc xạ (tương đương Tể tướng). Văn chương lưu truyền lại về sau rất nhiều. Con ông là Khẩn, Trực, cùng làm đến ngoại lang. Cháu là Địch, Toại, Viên cùng có quyền thế, làm quan lúc nhà Minh sang xâm chiếm. Đời cháu chắt thiên sang ở làng Cổ Trai, huyện Nghị dương thì có Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời, cướp ngôi vua Lê, dựng nên nhà Mạc.

Hồi đó, có một người tên là Lý Đạo Tái, ở làng Vạn Tải, huyện Gia Bình thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Ông này mới 19 tuổi đã đỗ trạng nguyên khoa Nhâm Tí (1252), niên hiệu Nguyên Phong thứ hai, đời Trần Thái Tông. Nhà vua thấy Đạo Tái là người tài đức, muốn gả công chúa Liễu Sinh cho, nhưng ông không ưng, tìm mọi cách từ chối.

Hồi chưa đỗ đạt , gia cảnh Đạo Tái bần hàn đến mức người trong họ ai cũng coi thường, không thèm đỡ đần, cứu giúp, đành phải bỏ làng đi học nơi xa. Đến khi Lý Đạo Tái đỗ Trạng nguyên, rồi ra làm quan lại có nhiều người đến nhận họ, khiến ông cảm thấy buồn. Tương truyền Đạo Tái làm hai câu thơ nói về chuyện này :
_ Khó khăn thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

Vì cám cảnh đời đen bạc, Đạo Tái cố tìm cách giải đáp. Ông nghiên cứu đạo Phật và hiểu ra được về nỗi thống khổ của con người, từ đó quyết chí đi tu. Ông từ quan, xuất gia tu hành theo đạo Phật, mong tìm cách cứu vớt chúng sinh. Lý Đạo Tái được phong Phật hiệu là Huyền Quang, đạo pháp cao siêu, thoát khỏi lòng dục, nổi tiếng là vị chân tu, tên tuổi lừng vang khắp nước. Vua ban cho sư thầy Huyền Quang 10 dật vàng có dấu quốc khố. Ông không nhận nhưng vua cứ ép, bảo cầm 7 dật về nuôi mẹ còn 3 dật thì giữ lại phòng khi lỡ làng. Nhà sư bất đắc dĩ nhận vàng về tu ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử.

Nhưng vua Trần Anh Tông thì vẫn chưa thật tin điều này. Có lần nhà vua đã hỏi thị thần và tăng đạo rằng:
- Người ta sống ở trong đời đất đều thích ăn vị ngon, thích mặc màu đẹp, đều có tình dục cả. Tại sao mình lão tăng Huyền Quang từ trước tới nay chỉ sắc sắc không không, như nước chẳng gợn sóng, như gương chẳng mờ bụi. Đó là ngăn hãm lòng dục hay không có lòng dục vậy?

Bấy giờ, Mạc Đĩnh Chi đứng bên mới tâu rằng:
- Vẽ hổ chỉ vẽ được da, khó vẽ được xương. Biết người thì biết mặt không rõ được lòng. Xin cứ phải thử xem thì mới rõ.

Nhà vua cho lời ông nói là phải, bèn ngầm chọn một người cung nữ rất đẹp tên là Nguyễn Thị Điềm Bích và giao cho nàng nhiệm vụ tìm đến chùa Hoa Yên, núi Yên Tử - là nơi sư Huyền Quang tu hành - để thử lòng sư, hẹn rằng nếu lấy được 3 dật vàng về thì sẽ có thưởng.

Điềm Bích giả làm người đi lễ lên chùa vào một đêm trăng đẹp và xin nhà sư cho ngủ đỡ một lần. Sư Huyền Quang cho phép nàng nghỉ ở nhà phương trượng. Đêm hôm ấy, Điềm Bích lần tới phòng sư lân la chuyện trò, tìm cách trêu ghẹo, dùng đủ thuật quyến rũ, cố khêu gợi lòng dục của Huyền Quang. Nhưng nhà sư lòng trần không bợn, Điềm Bích không sao lay chuyển được kẻ tu hành. Bí quá hóa liều, nàng đành xáp đến gần co tay, kéo áo khiến cho nhà sư vô cùng lúng túng.

Việc làm trâng tráo của nàng đã được một bà già đến lấy thuốc nấp sau chùa chứng kiến. Bà thấy nhà sư ở thế nguy bèn vờ gõ cửa xin thuốc, sư Huyền Quang mới thoát ra được. Điềm Bích dụ không nổi nhà sư, vừa thẹn mình, vừa sợ mệnh vua, nên định ra sau núi tự tử. Huyền Quang biết, bèn lấy lời lẽ khuyên can và hỏi rõ ngọn nguồn. Bấy giờ, Điểm Bích mới thổ lộ rằng nàng được nhà vua giao tìm cách lấy được 3 dật vàng của sư ông đưa về. Huyền Quang nghe xong ái ngại, liền vào phòng lấy ba dật vàng đưa cho, để nàng khỏi tội trước nhà vua.

Điềm Bích mang được vàng về trình vua, lại còn nghĩ được một bài thơ nôm tuyệt hay và nói là của sư Huyền Quang làm để trêu ghẹo mình buổi ấy:
_ Vằng vặc trăng mai ánh nước
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh
Người hoa tươi tốt, cành hoa lạ
Mầu thích ca, nào thú hữu tình!

Bài thơ nôm quả là rất tình tứ. Nghe mấy lời thêu dệt ong bướm của nàng cung nữ, lại nhận đúng là mấy dật vàng có dấu quốc khố mình ban cho nhà sư, vua Anh Tông nổi giận lôi đình, cho Huyền Quang là sư hổ mang, định sai trị tội. May nhờ có bà lão xin thuốc kể lại và đối chất cùng Điềm Bích, vạch ra điều vu khống của nàng, vua mới biết Huyền Quang bị nghi oan. Nhà sư tiếp tục đường tu và trở thành vị tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm.

Trong lịch sử nước Nam ta chỉ có Lý Đạo Tái tức Huyền Quang là nhà sư có học vị cao nhất.

Ái Hoa

_________________________
Về Đầu Trang Go down
http://www.daovien.net
 
Giai Thoại Chữ Nghĩa
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 9 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: Ái Hoa-