IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
THƠ PHƯƠNG NGUYÊN by Cẩn Vũ Today at 14:32

Hạ Băng tình yêu và thơ by Hạ Băng Today at 10:44

Chân Quê by nhà quê Today at 09:37

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Today at 09:24

HUYỀN THOẠI SÔNG TRĂNG by đông hương Today at 07:54

TẬP THƠ : RU MỘNG TÌNH XA by nguoitruongphu Today at 05:37

BỖNG DƯNG TA MUỐN HÓA THÀNH ĐÀN ÔNG by Phương Nguyên Today at 04:18

Góc Vui by Thanh Bình Yesterday at 22:10

GÓC TÂM TƯ thichvui by thichvui78 Yesterday at 19:14

ĐÔI MẮT by ntd Yesterday at 13:57

GIAO MÙA by Phương Nguyên Yesterday at 08:30

Cười tí chơi... by Shiroi Mon 25 Aug 2014, 22:32

Tư duy... by Shiroi Mon 25 Aug 2014, 21:33

Mộc mạc nghề bún cổ truyền Bình Định by Shiroi Mon 25 Aug 2014, 21:22

Các tỉ ui!!! by Shiroi Mon 25 Aug 2014, 21:09

Thân ái chào mừng by Shiroi Mon 25 Aug 2014, 21:06

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Mon 25 Aug 2014, 19:40

TẬP THƠ : TAN VỠ TÌNH ĐẦU ! by nguoitruongphu Mon 25 Aug 2014, 09:59

Tình Ơi ! by LanPhi Mon 25 Aug 2014, 07:49

Cảnh Đẹp Về Đêm by Bảo Minh Trang Mon 25 Aug 2014, 05:42

NỖI SẦU ĐÔNG by ntd Mon 25 Aug 2014, 04:34

Quán Đường ... Muối by Thiên Hùng Mon 25 Aug 2014, 02:44

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Mon 25 Aug 2014, 02:12

XƯỚNG HOẠ THƠ ĐƯỜNG_ MỜI THI HỮU ĐÓNG GÓP by nguoitruongphu Mon 25 Aug 2014, 00:50

THÀNH CÔNG RỒI CÁC BẠN ƠI......... by Cẩn Vũ Sun 24 Aug 2014, 12:44

HÃY GỬI TÌNH THƯƠNG by ntd Sun 24 Aug 2014, 10:30

TÌNH KHÚC HẠT NGỌC by HanSiNguyen Sat 23 Aug 2014, 23:44

Góc Mưa Rừng ... by quehuong Sat 23 Aug 2014, 22:55

ĐI LỄ CHÙA NÀY by Phương Nguyên Sat 23 Aug 2014, 17:42

HÓA KHỔ THÀNH THƠ by ntd Sat 23 Aug 2014, 11:57

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

  CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2  Next
Tác giảThông điệp
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Sun 03 Jun 2012, 19:59

Jasminum - Cây hoa Nhài, hoa Lài





Y học

Hoa, lá và rễ - Flos, Folium et Radix Jasmini.
Lá thu hái quanh năm. Hoa thu hái vào hè thu, khi mới nở, dùng tươi hay phơi khô.
Hoa thường dùng để ướp trà hoặc để làm thơm thức ăn. Vào mùa thu đông, đào lấy rễ, rửa sạch, thái nhỏ, phơi hay sấy khô.
Hoa và lá nhài có vị cay và ngọt, tính mát; có tác dụng trấn thống, thanh nhiệt giải biểu, lợi thấp. Rễ có vị cay ngọt, tính mát, hơi có độc; có tác dụng trấn thống, gây tê, an thần.

Ngoài công dụng để ướp trà, trong y học cổ truyền, hoa nhài còn có tác dụng thanh nhiệt chữa ngoại cảm phát sốt, đau bụng, ỉa chảy. Hơn thế, dùng nước sắc từ hoa nhài có thể giúp chị em trị mụn, giúp da mặt sáng mịn.

Trị ỉa chảy: Hoa nhài 6g. Chè xanh 10g. Thảo quả 3g. Vỏ dộp ổi 3g.

Cách dùng: 4 thứ trên sắc chung trong ấm đất rồi uống ngày 3 lần. Uống liên tục trong 3 ngày.

Chữa mất ngủ: Hoa nhài 6g. Tâm sen 8g.

Hoa nhài và tâm sen hãm với nước sôi uống nhiều lần trong ngày. Uống liên tục từ 7-10 ngày sẽ thấy kết quả rõ rệt.

Chữa tăng huyết áp: Hoa nhài 10g, hoa hòe 10g, kim cúc 6g, hoa đại 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa rôm sảy: Lá nhài 50g, lá ngải cứu 30g, lá sài đất 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Uống liên tục 3-5 ngày.

Chữa mụn nhọt: Hoa nhài 10g, bồ công anh 20g, kim ngân hoa 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần.

[Sưu tầm trên mạng]


Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Sun 03 Jun 2012, 20:28

Dahlia - Cây Thược Dược/Hoa Thược Dược

Thược dược (danh pháp khoa học: Dahlia, đồng nghĩa: Georgina) là tên gọi của một chi cây lâu năm thân củ rậm rạp, nở hoa về mùa hè và mùa thu, có nguồn gốc ở Mexico và tại đây chúng là quốc hoa
Biểu tượng văn hóa: Hoa thược dược cũng là loài hoa chính thức của thành phố Seattle, bang Washington.

Nguồn gốc - Tên gọi

Năm 1872 một hộp cây thược dược non đã được gửi từ Mexico tới Hà Lan. Chỉ có một cây sống sót sau chuyến đi, nhưng nó đã tạo ra các bông hoa đỏ ngoạn mục với các cánh hoa nhọn. Các vườn ươm đã nhân giống loài cây này, khi đó được đặt tên khoa học là Dahlia juarezii với các loài thược dược được phát hiện sớm hơn và những giống này là tổ tiên của tất cả các loại thược dược lai ngày nay. Kể từ đó, các nhà nhân giống thực vật đã tích cực trong việc nhân giống thược dược để tạo ra hàng trăm giống mới, thông thường được chọn vì các bông hoa có màu sắc lộng lẫy của chúng. Tên gọi Dahlia được đặt theo tên của một nhà thực vật học người Thụy Điển thế kỷ 18 là Anders Dahl.


Truyền thuyết

Danh y Hoa Đà trồng cây thược dược trong vườn mà không biết đó là cây thuốc. Hồn hoa hiện thành cô gái đứng khóc mong được chú ý, nhưng ông cũng chẳng bận tâm. Chỉ đến khi bà vợ được chữa khỏi bằng cây này, ông mới biết đó là thuốc quý.

Trong các loài hoa, mẫu đơn đứng đầu, thược dược đứng thứ hai. Mẫu đơn được tôn xưng là "hoa vương", thược dược được coi là "hoa tướng". Danh y Lý Thời Trân của Trung Quốc cũng đánh giá như vậy khi nói về tác dụng chữa bệnh của hai loài hoa này.

Tuy chỉ là "hoa tướng" nhưng thược dược lại thành danh sớm hơn mẫu đơn. Tương truyền từ 3.000 năm trước, vào thời Tam Đại, thược dược đã được trồng để thưởng ngoạn ở rất nhiều nơi trong khi người ta còn chưa biết đến hoa mẫu đơn. Khi mới phát hiện ra mẫu đơn, người ta tưởng đó chỉ là một loài thược dược, nên đã gọi nó là "mộc thược dược". Hai hoa này nhìn thoáng qua rất giống nhau nên người xưa thường gọi là hai chị em.

Về sau, người ta phát hiện mẫu đơn và thược dược tuy cùng họ nhưng là hai cây khác nhau. Thược dược là loài thân thảo, còn mẫu đơn là cây thân gỗ. Thược dược được xếp vào nhóm thuốc bổ huyết, sử dụng chủ yếu để bồi dưỡng cơ thể; còn mẫu đơn thuộc nhóm thanh nhiệt lương huyết, chủ yếu dùng khi cơ thể đã mắc bệnh.

Bạch thược dược (Paeonia Lactiflora) có hoa rất to, mọc ở ngọn thân, tựa như hoa mẫu đơn hay thược dược cảnh. Cánh hoa màu hồng nhạt hay trắng muốt, nhị vàng cam, rễ phình to thành củ. Củ này luộc chín phơi khô chính là vị thuốc bạch thược. Cây bạch thược này không phải là cây hoa thược dược (Dahlia variabilis Desf) vẫn được trồng nhiều trong dịp Tết.





Tương truyền, tác dụng chữa bệnh của bạch thược đã được danh y Hoa Đà phát hiện ra trong một tình huống rất ly kỳ. Để nhận biết và tránh nhầm lẫn các vị thuốc, ông đã trồng đủ thứ cây thuốc quanh nhà. Một hôm có người đem biếu ông cây hoa lạ, nói rằng có thể dùng chữa bệnh nhưng không rõ chữa được bệnh gì. Hoa Đà đem trồng ở góc sân bên cửa sổ.

Xuân tới, cây ra những bông hoa rất to, trắng muốt, thơm như hoa hồng. Ông thử hái hoa sắc uống nhưng không nhận thấy có gì khác lạ. Ông lại hái lá rồi hái cành đem thử cũng không phát hiện điều gì đặc biệt. Nghĩ rằng cây hoa này tuy đẹp nhưng không có tác dụng chữa bệnh nên mấy năm liền, Hoa Đà không để ý đến nó nữa.

Một đêm thu, Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe thấy ngoài cửa sổ có tiếng con gái khóc thút thít. Nhìn ra, ông thấy dưới ánh trăng mờ, có một người con gái rất đẹp đang đứng đó khóc. Ông tự hỏi, không biết con gái nhà ai, chắc có nỗi oan ức nào đây. Ông khoác áo ra ngoài nhưng nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người nào nữa, chỗ cô gái đứng khóc chỉ còn một cây thược dược.

Hoa Đà đi vào và tự nhủ: "Cho dù nhà ngươi có linh tính thì bây giờ cũng đang là mùa thu, hoa đã tàn, lá đã rụng, còn sử dụng được vào việc gì?".

Nhưng ông vừa ngồi xuống tiếp tục đọc sách thì lại nghe tiếng khóc thút thít, nhìn ra vẫn là cô gái ban nãy. Hoa Đà bước ra, cô lại biến mất, vẫn chỉ có cây bạch thược. Sự việc cứ lặp đi lặp lại mấy lần khiến Hoa Đà vô cùng ngạc nhiên. Ông bèn đánh thức vợ đang ngủ say dậy kể lại chuyện.

Bà nói: "Tất cả các cây trong vườn đều được ông sử dụng làm thuốc cứu người, chỉ có cây bạch thược này bị bỏ quên, chắc là nó có nỗi oan ức". Hoa Đà bảo: "Tôi từng thử tất cả các bộ phận của nó thấy chả có tác dụng, vậy còn oan ức nỗi gì?".

Bà vợ nói: "Ông mới thử những thứ trên mặt đất, còn rễ của nó thì sao?". Nhưng danh y gạt đi: "Hoa lá cành còn chẳng có gì đặc biệt, vậy thì còn thử rễ làm gì?". Dứt lời, ông nằm xuống ngủ thiếp đi. Bà vợ suốt đêm không sao chợp mắt, nghĩ rằng chồng mình đã thay đổi, không còn lắng nghe ý kiến của người khác như trước kia nữa.

Vài hôm sau, bà vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng, băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà liền lén ra vườn đào rễ cây bạch thược đem sắc uống. Chỉ nửa ngày sau, bụng đã hết đau, máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà rất cảm kích: "Cảm ơn bà đã thức tỉnh ta, nếu không thì ta đã để mai một cây thuốc quýquý".

Sau sự kiện đó, ông thử nghiệm và nhận thấy ngoài tác dụng giảm đau, cầm máu, rễ bạch thược còn có tác dụng dưỡng huyết và chữa được nhiều bệnh phụ khoa. Cây hoa lạ này ban đầu có tên bạch thược, sau đó Hoa Đà thêm chữ "dược" thành bạch thược dược.

Cùng với thời gian, Đông y phát hiện thêm nhiều công dụng nữa của cây bạch thược. Nó trở thành thuốc bổ huyết thiết yếu, phổ tác dụng rộng và tần suất sử dụng rất cao. Bạch thược chủ trị kinh nguyệt rối loạn, vã mồ hôi, mồ hôi trộm, đau đầu, chóng mặt. Trên lâm sàng y học hiện đại, nó chữa tử cung xuất huyết, viêm thận mạn tính, tăng huyết áp, tiểu đường, viêm võng mạc, cường tuyến giáp...

[Sưu tầm trên mạng]

Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Mon 04 Jun 2012, 09:41

18 công dụng chữa các bệnh thông thường của cây lá bỏng

Mặc dù được biết là có thể lấy lá để chữa bỏng nhưng cây lá bỏng ngoài ra còn có thêm 17 công dụng làm thuốc khác như chữa đau mắt, mụn nhọt, viêm xong, viêm họng và mất sữa...


Ảnh minh họa.

Cây lá bỏng còn gọi là cây sống đời, nó được gọi là lá bỏng vì lá của nó có thể dùng làm thuốc chữa bỏng. Ngoài ra cây lá bỏng còn có tác dụng giảm sưng, giảm đau, trừ độc và chữa các lở loét như loét thịt, loét dạ dày, viêm ruột, trĩ nội đi ngoài ra máu, thậm chí chữa cả đau mắt đỏ...

Cách sử dụng lá bỏng để chữa bệnh rất đơn giản, có thể lấy lá tươi giã đắp hoặc vắt lấy nước để bôi hoặc ăn sống, sắc uống...

Một số bài thuốc từ cây lá bỏng:

- Chữa ngứa: Nếu tự dưng phát ngứa thì có thể lấy lá bỏng, nghể răm, lá ké và bồ hòn nấu lên lấy nước xông và tắm.

- Chữa chứng đi lỵ: Dùng 40g lá của cây bỏng, 16g cam thảo đất, 20g cỏ seo gà, 20g lá mơ lông. Rửa sạch sắc uống ngày 1 thang.

- Chữa bệnh kiết lỵ (viêm đại tràng): Ngày ăn 20 lá (buổi sáng 8 lá, chiều 8 lá, tối 4 lá). Từ 5-10 tuổi ăn bằng 1/2 người lớn. Ăn 5 ngày là khỏi.

- Chữa bệnh trĩ: Dùng 6g lá bỏng, 6g rau sam. Rửa sạch nhai sống hoặc sắc uống. Nếu bị lòi dom và lở hậu môn thì nấu nước bồ kết ngâm rửa hậu môn và giã lá bỏng đắp vào búi trĩ.

- Chữa bệnh trĩ nội: Mỗi ngày dùng 10 lá (sáng ăn 4 lá, chiều ăn 4 lá), tối 2 lá, nuốt bớt nước, bã bỏ vào gạc vải đắp vào hậu môn (đóng khố như phụ nữ thấy kinh). Nhớ trước khi đắp thuốc phải làm vệ sinh hậu môn bằng nước pha muối. Cứ làm theo cách trên, tùy bệnh nặng nhẹ, dùng từ 20-45 ngày đều khỏi.

- Chữa chứng đại tiện ra máu: Lấy 30g lá bỏng, 10g cỏ nhọ nồi, 10g ngải cứu (sao cháy), 10g lá trắc bá (sao cháy) sắc lấy nước uống ngày 1 thang.

- Chữa viêm tai giữa cấp tính: Lá bỏng giã nát, vắt lấy nước nhỏ vào tai.

- Trị chứng viêm loét dạ dày: Lấy lá bỏng ăn sống, mỗi ngày 40g.

- Giải rượu: Khi bị say rượu dùng 10 lá bỏng rửa sạch, nhai sống rất hiệu nghiệm.

- Chữa nôn ra máu (do bị đánh, bị thương): Dùng 7 lá bỏng giã nát, thêm rượu và đường vào uống trong ngày.

- Ðau mắt đỏ và đau mắt hột: Trước khi ngủ, đánh răng, nạo lưỡi sạch, nhai 3 lá bỏng, mút bớt nước, đặt bã vào gạc vải (vô trùng) đắp vào mắt buộc chặt, sáng tháo ra, rửa mắt bằng nước pha muối. Làm như trên 3 ngày liền sẽ khỏi.



Chữa đau mắt đỏ: Giã nát lá bỏng đắp vào mắt.

- Chữa đổ máu cam: Nhai 1, 2 lá bỏng, lấy nước nhai thấm bông gòn đặt vào lỗ mũi độ 10 phút sau sẽ khỏi.

- Chữa nuôi con mất sữa: Sáng, chiều mỗi lần ăn 8 lá, sau 2 ngày sẽ có sữa.

- Chữa mất ngủ: Chiều và tối, ăn mỗi lần 8 lá, giấc ngủ sẽ đến sớm.

- Chữa mụn nhọt khi chưa có mủ: Lấy 30g lá bỏng, 15g lá đại, 20g lá táo. Rửa sạch, giã nát đắp vào mụn ngày 1 – 2 lần.

- Chữa chứng viêm họng: Lấy 10 lá sống đời rửa sạch, chia nhai sáng 4 lá, chiều 4 lá, tối 2 lá. Nhai kỹ, ngậm một lúc rồi nuốt cả bã, dùng khoảng 3 – 5 ngày sẽ có kết quả. Hoặc nhai ngậm sáng 4 lần, chiều 4 lần, tối 2 lần (mỗi lần 1 lá, đều nhai ngậm và nuốt cả bã) dùng trong 3 ngày là khỏi.

- Chữa chứng viêm xoang mũi: Lấy 2 lá bỏng rửa sạch, giã nát, lấy bông thấm nước thuốc nút vào lỗ mũi. Hoặc mỗi lần nhai 2 lá, lấy nước nhai lá bỏng thấm vào bông, nút vào hố mũi bên viêm ngày 4,5 lần sẽ khỏi (Nếu viêm cả 2 bên thì sáng nút một bên chiều nút một bên). Lưu ý, bệnh nhân trước khi nhai lá bỏng phải đánh răng, nạo lưỡi, súc miệng 2, 3 lần cho sạch miệng mới nhai.

xaluan.com
Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Mon 04 Jun 2012, 10:01

Elaeagnus Multiflora - Cây Nhót (Oliu Hoang)

Nhót là thứ quả rất quen thuộc với người dân nước ta, nhất là ở các vùng quê. Thông thường, người ta chỉ trồng Nhót để lấy quả hoặc nấu canh chua. Trên thực tế, một số ông lang nước ta hay dùng lá Nhót để chữa ho thay cho Tỳ bà diệp của Trung dược. Trong dân gian, một số nơi còn dùng quả Nhót để chữa lỵ và ỉa chảy, dùng lá Nhót để chữa lỵ và cảm sốt. Khách quan mà nói, ở Trung Quốc, cây Nhót được sử dụng làm thuốc có phần toàn diện hơn.



Nguồn gốc và Tên gọi

Elaeagnus multiflora (Goumi, Gumi, Natsugumi, hoặc Cherry Silverberry), là một loài Elaeagnus , có nguồn gốc Trung Quốc , Hàn Quốc và Nhật Bản.

Một loài khác (E. angustifolia) có thể có nguồn gốc ở miền cực đông nam của châu Âu mặc dù có thể là do con người đem nó đến đây trong thời kỳ ban đầu.

Trong Trung dược, Nhót có tên là “Hồ đồi”,Lót, Hồ đồi tử

Đặc điểm

Chúng là các loài cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ, lá sớm rụng hoặc thường xanh với các lá mọc so le. Lá và thân cây thông thường có phủ một lớp vảy nhỏ màu trắng bạc hay ánh nâu, làm cho cây có màu ánh trắng hoặc nâu-xám khi nhìn từ xa. Các hoa nhỏ, với đài hoa 4 thùy và không có cánh hoa; chúng thông thường có mùi thơm. Quả là loại quả hạch mọng chứa một hạt; ở nhiều loài thì quả ăn được, mặc dù nói chung thiếu hương vị thơm ngon.

Phân bố

Phần lớn các loài có nguồn gốc ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới của châu Á, với một loài (E. triflora) sinh trưởng tận phía nam tới vùng đông bắc Australia và một loài khác (E. commutata) chỉ sinh trưởng ở khu vực Bắc Mỹ.

Ứng dụng trong y học và cuộc sống

Người dân Trung Quốc có truyền thống coi họ là một trong một nhóm của " Nutraceuticals ", hoặc loại thực phẩm có thể ăn được và có giá trị dược liệu. . Họ được cho là làm giảm cholesterol và có những lợi ích khác, nhưng bằng chứng khoa học vẫn chưa xác nhận niềm tin này.

Theo Trung y :

* Quả Nhót : Vị chua, chát, tính bình. Có tác dụng thu liễm, trừ ho suyễn (chỉ khái bình suyễn), chống chảy máu (chỉ huyết). Dùng chữa tiêu hoá kém (tiêu hoá bất lương), lị, ho suyễn, băng huyết, sán khí, trĩ lở loét (trĩ sang). Liều dùng: 9 - 15g.

* Lá Nhót : Vị chua, tính bình, vô độc. Dùng chữa các chứng phế hư khí đoản, khái thấu khí suyễn, khái huyết, ung nhọt… Liều dùng: 9 - 15g khô (20 - 30g tươi).

Đặc biệt, về tác dụng trị chứng hen suyễn, sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân đã viết: Ngay cả đối với người bị hen suyễn rất nặng cũng kiến hiệu. Có người mắc bệnh đã 30 năm, uống lá Nhót bỗng nhiên khỏi bệnh. Người bị nặng, uống thuốc một thời gian, ở ngực thấy nổi mày đay, ngứa ngáy, phải gãi liên tục mới chịu được. Người thể tạng suy yếu quá thì cho thêm cùng một lượng Nhân sâm vào sắc uống.

Kết quả thử nghiệm lâm sàng tại một số bệnh viện ở Trung Quốc những năm gần đây cho thấy: Dùng lá Nhót sao vàng tán mịn, ngày uống 2 lần vào sáng sớm và buổi tối, mỗi lần 4g, dùng nước cơm nóng chiêu thuốc, liên tục trong 15 ngày (một liệu trình), trường hợp cần thiết có thể phải điều trị nhiều liệu trình. Có thể dùng lá Nhót tươi 1 lạng, sắc nước, chia 3 lần uống trong ngày, liên tục trong 4 ngày.

* Rễ cây Nhót : (thường đào vào tháng 9 - 10, phơi khô dùng dần): Vị chua, tính bình. Có tác dụng chỉ khái, chỉ huyết, trừ phong thấp, tiêu tích trệ, lợi yết hầu. Dùng chữa các chứng bệnh ho suyễn, thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, phong thấp khớp xương đau nhức, hoàng đản, tả lỵ, trẻ nhỏ cam tích, yết hầu sưng đau… Liều dùng: 9 - 15g khô (30 - 60g tươi) sắc với nước hoặc ngâm rượu uống. Dùng ngoài: sắc với nước để rửa.

- Chữa các chứng ho nói chung: Lá Nhót tươi 30g, sắc với nước, thêm chút đường và uống.

- Lao phổi ho ra máu: Lá Nhót tươi 24g, đường 15g; dùng nước sôi hãm như nước trà; ngày uống 2 lần sau bữa ăn.

- Nhọt độc phát ở sau lưng (hậu bối), các vết thương chảy máu: Lá Nhót tươi, rửa sạch, giã nát, đắp vào chỗ bị bệnh.

- Bị ong đốt, rắn cắn: Lá Nhót tươi rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt với rượu uống, còn bã đem đắp vào chỗ bị bệnh.

- Thổ huyết, đau họng khó nuốt: Rễ cây Nhót 30g sắc với nước uống (Trung thảo dược thủ sách).

- Phong hàn phế suyễn (phát cơn suyễn do bị nhiễm lạnh): Rễ cây Nhót 30g, đường đỏ 15g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm.

- Nôn ra máu, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều: Rễ cây Nhót 30 - 60g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm.

- Phong thấp đau nhức: Rễ cây Nhót 120g, Hoàng tửu 60g, chân giò 500g, đổ nước vào nấu kỹ, thành món chân giò hầm; ăn thịt và uống nước thuốc.

- Hoàng đản (vàng da): Rễ cây Nhót 15 - 18g, sắc nước uống

- Phụ nữ sau khi đẻ đau bụng, ỉa chảy ra toàn nước trong kèm theo đồ ăn không tiêu hoá (hạ lị): Dùng rễ cây Nhót 60g, đường đỏ 30g, sắc nước uống.

- Sản hậu phù thũng: Rễ cây Nhót, ích mẫu thảo, mỗi thứ 12g, sắc nước, thêm chút đường đỏ vào uống.

- Thấp chẩn (eczema): Rễ cây Nhót một nắm (vùng da bị bệnh rộng thì tăng thêm), sắc nước rửa chỗ bị bệnh.

[Sưu tầm]
Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Mon 04 Jun 2012, 18:23

Hoa Thiên Lý thực phẩm và chữa bệnh



Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình với công năng giải nhiệt, chống rôm sảy, còn là vị thuốc có công hiệu an thần, tư bổ tâm, giúp ngủ ngon giấc, tránh chứng mất ngủ.

Đặc điểm của cây

Cũng như nhiều cây cỏ khác, hoa thiên lý còn gọi là dạ lý hương, dạ lài hương, Tonkin creeper hay Chinese violet… có tên khoa học Telosma cordata (Burm.f.) merr, thuộc họ thiên lý (Asclepiadoceae). Là loại cây có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á.

Thiên lý là loại cây nhỏ, thân dây mọc leo, chia làm nhiều nhánh. Lá đơn nguyên, mọc đối, gốc hình tim, thuôn, có màu xanh lục bóng. Ra hoa thành xim (chùm) dạng tán, ở nách lá màu vàng, xanh lục nhạt, cánh hoa hợp thành ống dài, trên chia thùy hẹp dài, quả hạt dài. Hoa thơm về đêm nên có tên dạ lý hương. Mùa hoa nở chủ yếu vào mùa hè nên trồng làm cảnh che bóng mát trong sân nhà và lấy hoa làm thực phẩm.

Mất ngủ dùng hoa thiên lý

Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình với công năng giải nhiệt, chống rôm sảy, còn là vị thuốc có công hiệu an thần, tư bổ tâm, giúp ngủ ngon giấc. Thường dùng làm thức ăn mát, bổ, chữa mất ngủ, giải nhiệt đôc , trị đau măt do nhiêt va giun kim. Thông thường người ta vẫn dùng hoa thiên lý để nấu canh ăn, có công hiệu mát bổ, an thần, giúp dễ ngủ, ngon giấc, bớt mệt mỏi, chữa sốt nhẹ, lao lực…

Những món ăn - thuốc dùng hoa thiên lý :


Canh thiên lý thịt nạc

Chữa mất ngủ : hoa thiên lý 30g, hoa nhài 10g, tâm sen 15g. Sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống liền 3 - 5 ngày.

Để có giấc ngủ ngon: dùng hoa thiên lý nấu canh với thịt lợn nạc hoặc với cá diếc, ăn ngày một lần trong vài ngày liền.

Chữa mất ngủ thường xuyên : hoa thiên lý nấu canh cùng lá vông nem, mỗi vị chừng 30 - 50g, rửa sạch thái nhỏ nấu chung thành canh, nêm đủ mắm muối, bột nêm cần ăn trong 4 - 7 ngày.

Chữa giun kim : lấy lá hay hoa thiên lý chừng 40 - 50g nấu canh ăn hàng ngày, cần ăn từ 7 ngày trở lên sẽ khỏi.

Hoặc dùng hoa thiên lý 30g, rau sam 20g, lá đinh lăng 25g. Sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày, cần dùng trong 3 ngày liền.



Chữa chứng lòi dom, sa dạ con : lấy 100g lá thiên lý non và lá bánh tẻ rửa sạch, giã nhỏ cho vào 5g muối ăn, thêm 30ml nước cất lọc qua gạc sạch. Rửa lòi dom hay tử cung sa bằng nước thuốc tím loãng 1%; sau lấy bông thấm sạch tẩm nước thiên lý đắp vào chỗ dom hay dạ con, băng giữ. Ngày 1 – 2 lần, cần làm như vậy trong 4 - 5 ngày sẽ thấy co dần lại.

Chữa đau mình, xương cốt : hàng ngày lấy hoa thiên lý xào với thịt bò ăn hoặc chấm với muối vừng ăn sẽ hiệu nghiệm.

Chữa đinh nhọt : lấy lá cây thiên lý khoảng 30 - 50g giã nát đắp vào nơi mụn nhọt ngày 1 lần, vài ngày sẽ khỏi.

Chữa tiểu buốt, tiểu dắt, cặn trắng : lấy rễ cây thiên lý 10 - 20g, sắc lấy nước uống chia 2 - 3 lần/ngày, chỉ 5 - 7 ngày sẽ đỡ hẳn.

Theo BS. Hoàng Xuân Đại
SKDS.
Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Mon 04 Jun 2012, 18:28

Chữa viêm xoang bằng cây hoa cứt lợn



Tuy có cái tên khó nghe và cũng không phải "của hiếm" nhưng cây cứt lợn lại là vị thuốc quý trong điều trị viêm xoang. Loại cây này có tác dụng chống viêm, chống phù nề, dị ứng trong cả đợt cấp và mạn tính.

Ở Việt Nam, viêm mũi xoang gặp ở 15-20% dân số. Bệnh khởi phát dưới ảnh hưởng của khí hậu, môi trường, độ ẩm, điều kiện sống, sinh hoạt, sự mẫn cảm của cơ địa... và rất hay tái phát. Việc điều trị thường kéo dài 3-6 tháng, thậm chí có người phải điều trị nhiều năm liên tục với những thuốc Tây y đắt tiền. Mỗi đợt thuốc có thể tốn hàng triệu đồng khiến nhiều bệnh nhân không "theo" được.

Từ lâu, dân gian đã lưu truyền tác dụng chữa viêm mũi xoang của cây hoa cứt lợn (còn có tên là hoa ngũ sắc, hoa ngũ vị, cây cỏ hôi; tên khoa học là Ageratum conyzoides).

Cứt lợn là một loại cây nhỏ, thân nhiều lông mềm, cao chừng 25-50 cm, mọc hoang ở khắp nơi, nhiều nhất là nông thôn. Hoa nhỏ màu tím, xanh. Cây phát triển rất dễ ở mọi loại đất, có những nơi mọc khắp cánh đồng. Người ta hái toàn cây, cắt bỏ rễ, dùng tươi hay khô. Cây cứt lợn có hàm lượng tinh dầu cao. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy nó có tác dụng chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng trong cả đợt cấp và mạn tính.

Cách sử dụng : Chọn lấy cây tươi về ngâm rửa sạch rồi để ráo, giã nát, vắt lấy nước tẩm vào bông. Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau khoảng 15-20 phút. Rút bông ra để dịch mủ từ trong xoang và mũi giải phóng ra ngoài rồi xì nhẹ nhàng. Tránh xì mũi mạnh vì lúc đó, mủ từ trong mũi xoang có thể đi qua đường nối thông giữa mũi và tai (gọi là vòi nhĩ) gây viêm tai giữa cấp.

Hiện nay đã có một số thuốc chiết xuất từ cây cứt lợn, bào chế dưới dạng dung dịch nhỏ mũi, rất thuận tiện cho người sử dụng. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ tai mũi họng để có chẩn đoán chính xác (loại trừ trước các khối u mũi xoang) và hướng dẫn cách theo dõi khi tự dùng thuốc ở nhà.

Sức Khỏe & Đời Sống
Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Tue 05 Jun 2012, 18:09

CÂY HOA HIÊN CHỮA BỆNH

Loại cây thảo sống lâu năm này còn có tên là hoàng hoa thái, kim châm thái, nghi nam hoa.... Dân gian hay dùng lá và hoa hiên nấu canh ăn, dùng lá, rễ và nụ làm thuốc. Hoa hiên vị ngọt, tính mát, giúp thanh nhiệt, tiêu đờm, cầm máu, thông sữa, an thai, lợi tiểu, sáng mắt.



.Một số bài thuốc Nam thường dùng :

- .Vàng da : Rễ củ hoa hiên 15 g giã nhỏ, vắt lấy nước cốt uống.

- .Vàng da do viêm gan virus : Rễ hoa hiên 15 g, cam thảo nam 10 g, chó đẻ răng cưa 20 g, dành dành 12 g, rau má 20 g. Sắc uống ngày một thang.

- .Chữa động thai : Ăn canh hoa hiên và uống nước sắc rễ củ gai 30 g.

- .Kinh nguyệt không đều : Hoa hiên 15 g, ích mẫu thảo 12 g, ngải cứu 12 g, rễ củ gai 20 g. Sắc uống ngày một thang.

- .Đái buốt, đái rắt : Rễ hoa hiên 15 g, mã đề 12 g, râu ngô 12 g. Sắc uống ngày một thang.

- .Tắc tia sữa : Hoa hiên 12 g, bồ công anh 40 g. Sắc uống ngày một thang.

- .Bốc hỏa ở phụ nữ mãn kinh : Hoa hiên 10 g, lá dâu 20 g. Nấu canh ăn hằng ngày.

- .Mất ngủ : Hoa hiên 12 g, lá dâu tằm 20 g, lá vông nem 10 g. Nấu canh ăn hằng ngày. Hoặc: đem hoa hiên phơi khô trong râm, sao qua lửa, hằng ngày hãm uống thay chè.

.Chú ý : Không dùng hoa hiên để ăn sống vì sẽ bị ngộ độc.

.Sức Khỏe & Đời Sống.
Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Tue 05 Jun 2012, 18:16

CHỮA BỆNH BẰNG CÂY THÌ LÀ

Thì Là là một loại rau gia vị không thể thiếu trong các món canh cá, chả cá, chả mực… vừa thơm ngon vừa át được mùi tanh. Ngoài tác dụng làm gia vị trong ẩm thực, thì là còn có tác dụng làm thuốc.
Theo y học cổ truyền, lá thì là có tính kích thích, mùi thơm hăng hắc, hơi đắng. Nó có tác dụng kích thích sự bài tiết nước tiểu, gia tăng lượng nước tiểu thải ra, nhờ đó làm giảm các cơn đau quặn do rối loạn đường tiết niệu như viêm thận, viêm bàng quang, sỏi thận. Nó còn được xem là loại thuốc êm dịu giúp cải thiện hoạt động của dạ dày. Không chỉ lá mà hạt thì là cũng được dùng làm thuốc.





Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh từ Thì Là :

Chữa rối loạn tiêu hóa : Ăn lá thì là nấu chín mỗi ngày giúp tiêu hóa tốt và chống táo bón. Với trẻ em, 1 - 2 muỗng nước sắc lá thì là trộn vào thức ăn sẽ ngừa được chứng rối loạn tiêu hóa và giúp trẻ ngủ ngon giấc. Tinh dầu thì là trích từ sự chưng cất hạt, được dùng trong trường hợp đầy bụng, nấc cụt, ợ chua thừa axit trong dạ dày và chứng tiêu chảy do rối loạn tiêu hóa.

Hơi thở hôi : Hạt thì là có đặc tính làm phân hóa hơi trong dạ dày, nhai 5 - 7 hạt thì là mỗi ngày sẽ giúp hơi thở thơm tho.

Chứng mất ngủ : Ăn canh rau thìa là vào bữa tối hoặc hãm nước hạt thìa là uống thay nước trước giờ ngủ, đêm sẽ ngủ ngon giấc.

Chữa bệnh đường hô hấp : Khi cảm lạnh, cúm hoặc viêm cuống phổi dùng khoảng 60g hạt chế trong nước sôi, lọc lấy nước hòa với mật ong, chia ba lần uống trong ngày.

Chữa mụn nhọt sưng tấy : Giã nát lá thì là tươi thành khối nhão rồi đắp lên các mụn nhọt đã chín bị vỡ ra có máu. Có thể trộn chung một ít bột nghệ rồi đắp lên các chỗ ung loét có mủ, tác dụng làm lành rất nhanh. Lá thì là đun trong dầu vừng được điều chế thành một dạng thuốc dầu để bôi làm giảm đau trong trường hợp đau và sưng ở các khớp.

Tác dụng trên phụ nữ có thai và cho con bú : Thì là rất tốt cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, thường được dùng ngay sau khi sinh bằng cách nấu canh hoặc hãm hạt thì là với nước sôi để uống giúp tăng lượng sữa của sản phụ.

Theo SK&ĐS
Về Đầu Trang Go down
Shiroi



Tổng số bài gửi: 17429
Registration date: 22/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Tue 05 Jun 2012, 22:17

hearts cám ơn phiy nhiều, hay quá :bong:
Về Đầu Trang Go down
phiy



Tổng số bài gửi: 145
Registration date: 06/10/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH   Fri 08 Jun 2012, 19:35

Shiroi đã viết:
hearts cám ơn phiy nhiều, hay quá :bong:

Lâu lắm mới thấy Shiroi rảnh rỗi ghé thăm :bong:
Có thấy post nhầm lẫn chỗ nào thì bảo để sửa lại nhé ?.
Về Đầu Trang Go down
 

CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : 1, 2  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net ::  :: -