Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
THỨ BẢY BUỒN! by Phương Nguyên Today at 15:41

Càng yêu nhau thì càng dễ béo by Ai Hoa Today at 13:45

Sau 50 Năm Đọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư (GS Trần Văn Chi) by Ai Hoa Today at 13:41

Chưa “về” còn quậy by buixuanphuong09 Today at 13:39

Sài Gòn & Những tên đường by Ai Hoa Today at 13:24

Tập Mỗi Ngày by mytutru Today at 11:48

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 11:12

Dân công sở không nên làm điều này by Trà Mi Today at 10:32

Thế giới Tình yêu by nguoidienviyeunguoi Today at 06:56

Tìm hiểu về Tử thần - Sứ giả của cái chết by Trà Mi Today at 00:11

TÌNH BUỒN by lehong Yesterday at 21:47

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Yesterday at 21:40

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Yesterday at 21:30

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by buixuanphuong09 Yesterday at 19:53

KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI - VŨ ĐỨC SAO BIỂN by Phương Nguyên Yesterday at 17:55

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Yesterday at 16:27

CHUYỆN NGHỀ .. by Ai Hoa Yesterday at 14:51

Truyện xưa - Ái Hoa by Ai Hoa Yesterday at 14:17

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by vancali96 Yesterday at 09:11

Trí thức miền Nam sau 75 by Trà Mi Yesterday at 08:26

Hoa gieo tứ tuyệt 3 by buixuanphuong09 Yesterday at 05:30

Bộ sưu tập Côn trùng by buixuanphuong09 Yesterday at 05:02

Quốc Văn Giáo Khoa Thư by Trà Mi Fri 19 Oct 2018, 21:02

So Sánh Hà Nội-Sài Gòn by Trà Mi Fri 19 Oct 2018, 20:52

Tứ đại mỹ nhân Saigon by Trà Mi Fri 19 Oct 2018, 20:28

Saigon thuở đầu đi khai hoang by Trà Mi Fri 19 Oct 2018, 09:57

SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM by Trà Mi Fri 19 Oct 2018, 09:44

Tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Như Huỳnh (blogger Mẹ Nấm) được trả tự do. by tvqm Fri 19 Oct 2018, 09:05

Miền Nam Mến Yêu by Trà Mi Fri 19 Oct 2018, 08:43

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Thu 18 Oct 2018, 22:37

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next
Tác giảThông điệp
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!   Fri 21 Oct 2011, 13:01

Khám phá Hang động mới ở Bắc Kạn

Một hang động mới với hệ thống nhũ đá, thạch thủy tự nhiên nhiều màu sắc huyền ảo chưa từng thấy vừa được phát hiện ngay trong lòng núi đoạn qua đèo Áng Toòng (xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).
Nhóm PV Tuổi Trẻ đã đi tìm hiểu và thật sự ngỡ ngàng vì vẻ đẹp của nó...



Một vòm động với những nhũ đá tuyệt đẹp - Ảnh: Việt Dũng


Một dải thạch nhũ đẹp lạ lùng - Ảnh: Khiết Hưng

Hang động này hứa hẹn sẽ là điểm đến hấp dẫn du khách ưa mạo hiểm bởi hệ thống các ngóc ngách vô cùng hiểm trở, chui xuống tận đáy sông Cầu...
Ngỡ ngàng
Ông Nguyễn Duy Nghĩa - phó trưởng phòng quản lý di tích và danh thắng Bảo tàng tỉnh Bắc Kạn, một trong những chuyên gia đầu tiên khảo sát hang động - dẫn chúng tôi đến cửa hang và “bàn giao” cho anh Nông Văn Lễ - người dân tộc Tày, ở xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn, một thanh niên bản địa thông thạo địa hình hang - dẫn tiếp xuống “âm ti”.

Theo ông Nghĩa, hang được phát lộ ngày 28-7-2011. Sau khi nổ mìn phá đá trên đoạn đèo Áng Toòng để thi công làm quốc lộ 3B (từ quốc lộ 3 đi huyện Na Rì), các công nhân đã phát hiện một động đá hun hút ăn sâu vào lòng núi. Sửng sốt bởi vẻ đẹp kỳ ảo của hệ thống những thạch vân, nhũ đá tuyệt đẹp, một số công nhân đã tiến vào tìm hiểu. Biết tin, một vài thợ chuyên săn tìm vàng ở địa phương cũng đã nhanh chân tìm đến “khai phá” hang động với mục đích tìm vàng.


Mạo hiểm leo xuống một hang động âm sâu xuống lòng đất - Ảnh: Việt Dũng
Lễ bảo chính anh là người đầu tiên dám chui xuống mò mẫm từng ngóc ngách tối um trong hang để khám phá những hang động với những thạch nhũ, thạch thủy tuyệt đẹp, những đụn nước đùn lên từ dưới các khe đá, nước rỉ ra từ những vách đá bên trên...

Do chưa được bảo vệ, một số thạch nhũ, thạch thủy đã bị phá hủy và có người mang những tảng nhũ ra ngoài bán kiếm vài ba triệu đồng... Cũng chính vì thế, đơn vị thi công đã tạm san đất đá lấp gần kín cửa hang. Nhưng với những gì được chứng kiến, chúng tôi vẫn sững sờ.

Ngay từ cửa hang là một động lớn khá rộng rãi, vòm núi cao cùng những thạch nhũ đẹp huyền ảo do vẫn còn ánh sáng tự nhiên le lói hắt vào. Xung quanh động có ít nhất ba cửa hang lớn và rất nhiều cửa hang nhỏ chỉ đủ một người chui lọt tỏa đi khắp các hướng.

Lễ buộc đoạn dây thừng to dài 50m xuống và từ đó chúng tôi bắt đầu khám phá một trong những ngách mà theo anh dài khoảng 350m, chênh chếch lao sâu xuống đáy sông Cầu với độ cao chênh lệch so với bên ngoài khoảng 60m. Đã khám phá nhiều hệ thống hang động, trong đó có Pu Sam Cáp - “đệ nhất hang động Tây Bắc” ở Lai Châu, nhưng phải thừa nhận chúng tôi vẫn bị choáng ngợp vì vẻ đẹp đến ngỡ ngàng.

Càng vào sâu trong ngách, nhiều đoạn phải bò trườn qua các khe đá, nhiều đoạn lại phải bám dây tụt tít xuống. Đá trong hang không trơn trượt dù rất ướt, nhiều tảng vẫn còn “tuyết” xốp do “mồ hôi đá” tiết ra ngưng lại. Vào sâu được nửa đường, một số thành viên đã chào thua bởi mức độ mạo hiểm. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng đến điểm cuối cùng, được cho đẹp nhất trong hang.



Đó là một động có khoảng vòm rộng hơn 20m, vòm trần cao 7m với hệ thống đá trắng và nhiều hình dáng tạo hình tự nhiên khác nhau. Trên lưng chừng vách hang có nhiều hồ treo, giếng trời với những “túi nước” mát lạnh, trong vắt luôn được bổ sung bởi những giọt nước tí tách nhỏ từ các thạch nhũ xuống, khi chụp lên ảnh cực đẹp.

Đặc biệt có rất nhiều thạch nhũ tự nhiên như những chiếc lá mỏng xếp chồng lên nhau, khi dùng ngón tay búng nhẹ tạo ra âm thanh không khác gì đàn đá. Lễ bảo đây chưa phải là điểm cuối cùng, bởi xung quanh vẫn còn rất nhiều ngóc ngách chưa biết dẫn đi đâu, tới đâu...


Leo xuống đoạn hang động đầu tiên - Ảnh: Việt Dũng



Hứa hẹn đầy tiềm năng

Theo ông Nghĩa, sau khi phát hiện hang động, tỉnh đã tiến hành khảo sát ban đầu và có biện pháp bảo vệ, tránh tình trạng người dân đập phá các thạch nhũ. Tại hang đá thứ hai, lòng hang có đoạn rộng, đoạn hẹp, đi lại khó khăn do có một giếng trời sâu gần 20m tại điểm đầu của hang. Tuy nhiên, qua được đoạn này mới thưởng thức hết vẻ đẹp huyền ảo của thiên nhiên.

Kết quả khảo sát ban đầu của các đơn vị chức năng thuộc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch cho thấy hang động khá kỳ lạ, chứa nhiều loại đá khác nhau như đá xanh, đá vôi, trong khi những hang đá thường thấy ở VN chỉ có một loại đá. Chính vì thế, thạch vân, thạch nhũ trong hang chứa nhiều màu sắc khác nhau, từ nhũ vàng đến trắng trong, trắng đục tạo thành những mảng màu rực rỡ, huyền ảo.



Càng đi sâu vào lòng hang, các loại thạch nhũ càng nhiều, đặc biệt có loại thạch thủy như nhựa trắng đang chảy và thạch nhũ dạng sợi như những dây đá màu trắng dài hàng mét từ vòm hang rủ xuống. Trên vách hang, nhiều đoạn nhũ tạo thành những hình thù lạ mắt, thể hiện sự kỳ lạ của thiên nhiên. Đáng chú ý, lòng hang không có chút bùn đất và đáy hang có những mảng thạch vân hình xoáy ốc, được thiên nhiên khéo léo sắp xếp như một bức tranh thủy mặc.

Một tác phẩm của thiên nhiên trong hang mới ở Bắc Kạn - Ảnh: K.Hưng















Ông Nghĩa cho biết chưa dám so sánh trên quy mô cả nước vì còn cần sự đánh giá của các cơ quan chuyên môn cấp quốc gia, nhưng tại Bắc Kạn thì có thể nói đây là hang động đẹp và kỳ lạ nhất từ trước tới nay. Ngay sau khi khảo sát, ông đã có một báo cáo gửi Sở Văn hóa - thể thao và du lịch để cơ quan này báo cáo UBND tỉnh.

Theo đánh giá của ông Nghĩa, vị trí, địa thế của hang rất có tiềm năng du lịch, nhất là du lịch mạo hiểm bởi hang chỉ cách trung tâm thị xã chưa đầy 15km. Trong hang động không khí đủ thoáng, đảm bảo đủ oxy cho nhiều người, có nhiều ngách hẹp dẫn đến các hang khác và có thể tạo thành một hệ thống hang động hoàn mỹ, hấp dẫn du khách.

Cũng theo ông Nghĩa, hiện UBND tỉnh Bắc Kạn đã có công văn chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tiếp tục khảo sát để có biện pháp bảo vệ, phát huy món quà quý của thiên nhiên này.

ĐỨC BÌNH - TUẤN THÀNH - MINH QUANG


Đất nước con người gắn liền nhau bởi văn hóa và phong tục, có mấy bài nói về những đặc sắc dân tộc thiểu số vùng Bắc Kạn, LH sưu tầm thêm cho bạn đọc biết về những nét đẹp văn hóa của xứ sở này.

Chú thích
(hm... cho rõ ràng tên vùng , ahèm in case ai muốn nói láy thì nói cho vui thôi, vô thưởng vô phạt hén :nhay: )

Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang. Dân số tỉnh theo điều tra dân số ngày 01/04/2009 là 294.660 người, là tỉnh ít dân nhất cả nước.
- Người Tày chiếm: 54%
- Người Dao: 16,8%
- Người Kinh: 14%
- Người Nùng: 9%
- Người Mông: 5,5%
- Người Hoa: 0,4%
- Người Sán Chay: 0,3%.

Đôi khi tên tỉnh cũng được viết là Bắc Cạn, tuy nhiên tên Bắc Kạn được coi là chính thức và tỉnh Bắc Kạn đều có con dấu khắc chữ "Bắc Kạn" để chỉ đơn vị tỉnh.





Lịch sử Bắc Kạn


Theo các nguồn sử liệu, Bắc Kạn thời thượng cổ là phần đất của nước Xích Quỷ, sau được tách ra thành vương quốc Thụy Đến. Khi Nhà nước Văn Lang ra đời, các Vua Hùng chia nước thành 15 bộ, vùng đất Bắc Kạn thuộc bộ Vũ Định. Dưới thời Bắc thuộc, đời Hán, đất Bắc Kạn thuộc huyện Long Biên. Đến đời Đường, Bắc Kạn thuộc huyện Tân Xương, Châu Phong.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt một ngàn năm Bắc thuộc, tập đoàn phong kiến Việt Nam ra đời. Phát huy tính tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bước hoàn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Đại Việt. Đời nhà Lý chia nước thành 24 lộ, địa giới Bắc Kạn thuộc các lộ Cảm Hoá, Vĩnh Thông, Hạ Nông. Đến đời nhà Trần chia nước làm 12 lộ, 4 trấn và 14 huyện, Bắc Kạn nằm trong trấn Thái Nguyên. Khi nhà Minh xâm lược Việt Nam, chúng chia nước ta làm 15 phủ, 31 châu, 31 huyện, trấn Thái Nguyên đổi thành phủ Thái Nguyên gồm 11 huyện, Bắc Kạn nằm trong địa phận 3 huyện Cảm Hoá, Vĩnh Thông, Long Thạch.

Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ lập lại chủ quyền, bờ cõi vẫn như cũ. Đến thời Lê Thánh Tông - năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466), bản đồ nước ta chia thành 12 đạo thừa tuyên, phủ Thái Nguyên đổi thành thừa tuyên Thái Nguyên. Đến năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1496), Vua Lê Thánh Tông đổi thừa tuyên Ninh Sóc thành Thái Nguyên thừa tuyên gồm 3 phủ, 8 huyện, 7 châu. Bắc Kạn nằm trong phần đất phủ Thông Hoá.
Đến thời Nguyễn, năm Gia Long nguyên niên (năm 1802), vua Nguyễn Thế Tổ đổi Thái Nguyên thừa tuyên thành trấn Thái Nguyên. Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), vua Nguyễn Thánh Tổ đổi trấn Thái Nguyên thành tỉnh Thái Nguyên. Đất Bắc Kạn nằm trong tỉnh Thái Nguyên, về cơ bản vẫn thuộc phủ Thông Hoá. Có thể nói, dưới chế độ phong kiến, Thái Nguyên, trong đó có phần đất Bắc Kạn được coi là "miền quan yếu", có vị trí quan trọng về chính trị, quân sự ở phía Bắc Kinh thành Thăng Long.

Thực dân Pháp xâm lược, sau khi đánh chiếm và đặt bộ máy cai trị trên địa phận tỉnh Thái Nguyên, chúng đã nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính. Theo nghị định ngày 20-8-1891 và nghị định ngày 9-9-1891 của Toàn quyền Đông Dương, khu vực Bắc Kạn thuộc hai đạo quan binh. Phần phía Đông và Nam thuộc tiểu quân khu Thái Nguyên, đạo quan binh I. Phần phía Bắc thuộc tiểu quân khu Lạng Sơn, đạo quan binh II. Ngày 11-4-1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phần đất phủ Thông Hoá lập ra tỉnh Bắc Kạn gồm các châu Bạch Thông, Chợ Rã, Cảm Hoá (sau đổi thành Na Rì), Thông Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn). Tiếp đó, ngày 25-6-1901, Toàn quyền Đông dương lại ra nghị quyết tách tổng Yên Đĩnh thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên nhập vào châu Bạch Thông. Năm 1916, theo nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ tách một số tổng của châu Bạch Thông, Chợ Rã và tổng Định Biên Thượng của châu Định Hoá tỉnh Thái Nguyên lập thành châu Chợ Đồn. Vào thời gian đó, tỉnh Bắc Kạn có 5 châu, 20 tổng và 103 xã.

Để đẩy mạnh công cuộc khai thác, bóc lột thuộc địa một cách có hệ thống trên quy mô lớn, thực dân Pháp đã tăng cường sức mạnh bộ máy cai trị. Vì thế, phong trào kháng Pháp đã diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc, trong đó đồng bào các dân tộc ở Bắc Kạn cũng có nhiều đóng góp tích cực. Năm 1904, đồng bào Dao ở hai xã Tân Sơn, Cao Sơn (Bạch Thông) nổi dậy chống chính sách s¬u thuế nặng nề của đế quốc, phong kiến. Năm 1914, ngay tại thị xã Bắc Kạn, các tù nhân yêu nước cùng với binh lính khố xanh có tinh thần dân tộc do Lý Thảo Long cầm đầu đã nổi dậy phá nhà lao, phá kho vũ khí của địch để trang bị cho nghĩa quân. Đây là cuộc nổi dậy có tiếng vang, thúc giục lòng yêu nước, tinh thần quật khởi của nhân dân trong vùng. Điều đặc biệt mới mẻ trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX ở Bắc Kạn, Thái Nguyên là đã có sự tham gia của giai cấp công nhân. Trong những năm 1920 - 1925, do chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, Bắc Kạn trở thành một trong những địa phương đứng đầu về công nghiệp khai thác mỏ ở Bắc Kỳ, đồng thời là nơi tập trung nhiều công nhân, góp phần không nhỏ cho sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho nhiều người yêu nước tới hoạt động. Trong đó, Phạm Hồng Thái - một trong những nhân vật bất tử của cách mạng Việt Nam, người đã ném tạc đạn mưu sát Toàn quyền Đông dương Méclanh ở Sa Diện (Quảng Châu) - đã từng là công nhân khai thác mỏ ở Bắc Kạn, Thái Nguyên.

Theo cuocsongviet

Pang” - Một phong tục đẹp trong đời sống của người Tày, Nùng ở vùng cao phía Bắc
Không biết tự bao giờ, đồng bào Tày, Nùng ở vùng núi cao phía Bắc trong những ngày vui, đám hiếu, hỉ, đám rước… đã có tục “Pang”. Đó là một nét văn hóa đặc sắc mang tính cộng đồng cao của cư dân vùng núi.

“Pang” theo chiết tự tiếng Tày có nghĩa là “gửi”. Phần lớn người Tày, Nùng khi trong bản có gia đình cưới xin, ma chay, lễ lạt… đều tự động mang gạo, gà, rượu đến góp với gia chủ. Điều này đã trở thành một mĩ tục thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong đời sống sinh hoạt và trở thành nét văn hóa đặc sắc giàu tính nhân văn của bộ phận cư dân Tày, Nùng. Xuất phát của mĩ tục này có lẽ từ sự thiếu thốn về vật chất và hơn cả là sự quan tâm giúp đỡ biểu hiện cho sự đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Những sản vật mang đến góp cho gia chủ được gia chủ ghi chép vào một cuốn sổ, để đến khi nhà người khác có việc sẽ mang đến gửi trả đầy đủ và đóng góp thêm nếu có điều kiện. “Pang” đã đi vào đời sống sinh hoạt của người Tày, Nùng từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác bởi đơn giản nó là một mĩ tục và là một phần không thể thiếu trong văn hóa ứng xử trong cộng đồng Tày, Nùng.

Nhiều đôi đến được với nhau, thành vợ, thành chồng, nhiều gia đình khó khăn có tiền lo ma chay lễ lạt, lo đầy tháng, cúng giỗ… đều nhờ vào mĩ tục này. Không cần ai nhắc, không cần ai bảo, mỗi người trong cộng đồng Tày, Nùng tự ý thức cần phải đóng góp để việc làng, việc bản được diễn ra suôn sẻ, để phần nào bớt được gánh nặng về vật chất cho gia chủ. Người có của, người có công cứ vậy kéo đến giúp sức. Ai có gì mang nấy, có khi là con gà, chai rượu, đôi khi là yến gạo, chục trứng, người không có của thì góp công dựng rạp, bếp núc dọn dẹp, mượn đồ, xào nấu…

Trước khi có việc gia chủ thông báo với bà con họ hàng, chòm xóm trước vài ngày còn với cưới xin có câu “slắng lẩu cẩu vằn” nghĩa là báo trước chín ngày vừa đủ để nhớ, không quên, và cũng đủ thời gian cho khâu chuẩn bị. Và cũng chính thời gian này gia chủ nhận được sự giúp đỡ bằng hiện vật, bằng sức lao động. Người trong bản cùng chung tay dựng rạp, lấy củi, làm mặt bằng… gia chủ lúc này chỉ còn phải lo những cái chính như mua sắm, làm lễ, rồi mời họ hàng, đón thầy Mo, thầy Tào.

Với mỹ tục này của đồng bào Tày, Nùng, cuộc sống, tình cảm của những người trong bản, trong họ tộc càng trở nên khăng khít hơn, và “Pang” đã kéo họ đến gần nhau hơn, bởi vậy tính cộng đồng của các cư dân vùng núi phía Bắc rất cao. Đó là nét văn hóa đặc sắc cần được gìn giữ và phát huy.

Theo dulichchudu24

Phuối pác, phuối rọi: dân ca Tày, Nùng

Trong kho tàng văn hoá dân gian của người Tày, Nùng, gần gũi hơn cả và phản ánh sắc nét nhất đời sống tình cảm và tư tưởng của người Tày, Nùng phải kể đến thể loại dân ca sinh hoạt trong đó có phuối pác, phuối rọi.
Phuối pác, phuối rọi là những lời nói có vần, có điệu của nam nữ thanh niên Tày, Nùng thường dùng hàng ngày. Đây là lối nói tự do, sáng tạo thường được diễn ra khi gặp nhau trên đường, ở chợ hay trong lễ hội… Đó cũng là một hình thức thể hiện tình cảm, nó là những lời ướm hỏi trêu ghẹo tình tứ thể hiện những sắc thái tình cảm trong tình yêu. Được thời gian gọt rũa những lời phuối pác, phuối rọi ngày càng cô đọng bóng bẩy và mềm mại một chất thơ lãng mạn.

Phuối Pác là nơi thể hiện tình yêu trai gái. Nội dung chính của các bài hát này là lòng yêu lao động, tình yêu trai gái, tuỳ tài năng và cảm xúc của người hát mà làn điệu bài bản các thể hát đó được biến hoá, sáng tạo không ngừng. Phuối pác là thể dân ca hát đối đáp, có làn điệu nhưng không ngân nga như lượn, thường được dùng nhiều nhất trong 2 trường hợp: khi mới gặp nhau và lúc tạm biệt nhau

- Chàng ơi, nón cọ hay nón bạc
Nón chàng đội hai người được không
Đội được,em xin đi cùng đường.
- Anh cũng mong trồng chuối đầy vườn
Để dễ dàng lấy là ngày tết
- Chớ lừa nhau đặt lờ trên cây
Biết bao giờ mới được gặp cá
- Anh xa em, anh ăn cơm với cá
Em xa anh, em chan nước mắt thay canh.
- Thương nhau, nước đựng sàng không chảy
Không thương nhau, nước đựng chậu còn trôi.
- Trời ơi, sao không loạn
Để đôi ta dồn bản lại với nhau!
……
Phuối rọi dịch nôm na là “nói chuỗi”- Đúng hơn là một chuỗi câu nói có vần, có điệu, rất gần với thi ca để diễn tả tình cảm hay để biểu đạt tâm tư, nỗi niềm của người này với người khác mà chủ yếu là mang nội dung giao duyên nam nữ:

Chết thì chết em cũng không buông anh về
Buông anh như buông muối xuống nước
Buông muối còn được cấn lẫn cát
Buông anh như thể buông trăng rằm
Buông trăng còn tháng gặp một lần
Buông anh thì anh đi mãi mãi !

Sẽ khó có thể miêu tả được hết diện mạo văn hoá dân gian của dân tộc Tày, Nùng. Nó vô cùng phong phú về thể loại, đồ sộ về khối lượng, đa dạng về sắc thái biểu cảm. Dân ca tự muôn đời đến muôn đời vẫn vậy, nó tươi thắm cho đời người dịu lại, nó tô mềm đi những sắc cạnh của cuộc đời, làm cho cuộc đời thêm hương sắc mặn nồng. Tất cả hơi thở của cuộc sống đều được cất lên thành tiếng hát lời ca, giản dị mà rung động lòng người.

Hát Páo dung - dân ca của người Dao Tiền

Cùng với việc sáng tạo ra những bộ trang phục truyền thống cầu kỳ và lạ mắt, người Dao Tiền ở Bắc Kạn còn có làn điệu hát Páo dung rất mượt mà.
Hát Páo dung của người Dao Tiền có nhiều thể loại như: Hát giao duyên, hát răn dạy, hát mời rượu và hát tiễn đưa. Các làn điệu Páo dung đều có cùng nội dung đề cao tinh thần lao động sáng tạo, đạo đức, lẽ sống, cách ứng xử, ca ngợi thiên nhiên, tình yêu đôi lứa.

Hát giao duyên là để trai gái tìm hiểu nhau, Tình yêu trong hát giao duyên của trai gái người Dao Tiền vừa sâu sắc vừa tế nhị, kín đáo. Xưa kia lễ giáo phong kiến và mê tín dị đoan ràng buộc tình yêu đôi lứa, nhiều đôi yêu nhau không đến được với nhau vì vậy họ an ủi, trách thương qua lời hát, họ khát khao tự do yêu đương vượt lên trên lễ giáo phong kiến. Các cuộc hát giao duyên diễn ra sôi nổi với những làn điệu khác nhau, lời hát thường được ứng khẩu tại chỗ, trong hát giao duyên còn có loại hát đối đáp giữa nam và nữ đã có vợ, có chồng. Mục đích chính của các cuộc hát này là để thưởng thức tài nghệ của nhau nên nội dung hát thường là ca ngợi sản xuất, ca ngợi thiên nhiên, hỏi thăm sức khoẻ và công việc đồng áng.

Hát răn dạy cũng là một thể loại độc đáo của Páo dung. Nội dung chủ yếu của bài hát là để khuyên dạy con cháu và mọi người không làm việc xấu, nhắc nhở con cái ghi sâu công ơn sinh thành của cha mẹ, chăm chỉ học hành, đỗ đạt. Ngoài ra khi có cuộc vui trong gia đình, bạn bè, dòng họ thì người Dao Tiền cũng tổ chức hát.

Hiện nay hát Páo dung vẫn được bà con người Dao Tiền gìn giữ. Tuy nhiên hiện nay chỉ có lớp người cao tuổi mới biết sáng tác và hát Páo dung, giới trẻ người Dao Tiền ít hát và ít học hát những làn điệu Páo dung, vì thế số người biết hát làn điệu Páo dung ngày càng ít. Vì vậy việc bảo tồn và phát huy làn điệu Páo dung là một trong những nội dung cần được bảo tồn trong kho tàng bản sắc văn hoá phi vật thể của các dân tộc hiện nay. Qua đó cũng là để động viên, cổ vũ tinh thần thi đua yêu nước, tinh thần lao động sản xuất của bà con các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Lượn - nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Tày
Lượn là một bộ phận thuộc loại hình nghệ thuật dân ca sinh hoạt của người Tày. Lượn có nhiều tiểu loại, ngoài hai loại cơ bản là lượn cọi và lượn slương, người Tày còn có lượn Then, lượn nàng Hai, lượn khắp,… Trong cái nhìn đối sánh với dân tộc Kinh, lượn là lối hát giao duyên có thể tương tự như lối hát quan họ ở Bắc Ninh, loại dân ca này có giai điệu vang xa tha thiết, lay động lòng người, gợi cảm giác bâng khuâng, thương nhớ. Người Tày coi lượn như một nhu cầu tinh thần không thể nào thiếu được: “Khắp mọi luỹ làng của người Tày, Nùng không mấy khi vắng tiếng Sli, giọng lượn. Chỉ trừ giấc ngủ và bữa ăn của họ - Sli, lượn vang lên từ trong mọi nhà, ra khắp bản mường…ngoài đồng, ngoài rẫy, ngoài chợ, ngoài đường. Không chỉ thanh niên mà người già, người trẻ đều thích nghe Sli, lượn”…
Đã có một thời tiếng lượn ngập tràn làng bản, đồi núi hoà vào tận tâm hồn, huyết mạch đồng bào:

- Nửa đêm Nàng ới cháy lòng
Khiến em dừng đường kim đường vá
Khiến anh vở giữa trang ngừng đọc
- Tiếng Then thành tiếng Then phơi phới
Tiếng cọi thành tiếng cọi thiết tha

Về hình thức sinh hoạt diễn xướng, đặc trưng của lượn là đối đáp, đối ca và nối tiếp ca.

Đối đáp là một trong những hình thức sinh hoạt phổ biến của lượn. Hiểu một cách đơn giản nhất đối đáp là một bên “đối” và một bên đáp trả lại. Một bên - thường là “khách” - bao giờ cũng ca ngợi hết những thứ, những vật… của bên “chủ”. Bên “chủ” sẽ đáp lại bằng những lời lẽ khiêm tốn, lịch sự, không dám nhận lời khen của “khách”. Xét về hình thức, lối hát này không có những khác biệt lắm so với những cuộc hát ví, hát phường vải, phường cấy,… của người Kinh.

Bên cạnh đối đáp là đối ca. Đối ca phổ biến ở lượn slương sau nữa là lượn then. Ở lượn slương thường là tập thể bên nam bên nữ, mỗi bên có khi có đến hai chục người hoặc hơn nữa. Nam, nữ ngồi thành hai hàng theo chiều dài của gian nhà sàn quay mặt vào nhau. Sau những lời mời lịch sự của chủ nhà, lời tuyên bố lý do của bên chủ và vài nghi thức đơn giản khác, hai bên nam nữ bắt đầu “đối ca”. Đối ca có thể đối về đề tài lượn, đối về nội dung của bài lượn hoặc chỉ đối có tính chất hình thức, đối hoa, đối mùa, tháng,… có khi thay nhau lượn những khổ lượn khác nhau.

“Nối tiếp ca” là một hình thức nữa của sinh hoạt diễn xướng lượn. Có hai loại nối tiếp ca. Thứ nhất là nối tiếp ca theo đúng nghĩa đen của thuật ngữ này. Nghĩa là bên nam, bên nữ lần lượt thay nhau hát lên những bài lượn về một đề tài nào đó. Có những câu chuyện chia làm nhiều đoạn nhỏ, mỗi bên lần lượt hát lên từng đoạn như nối tiếp nhau cho đến hết câu chuyện.

Loại “nối tiếp ca” thứ hai là hai bên cùng hát tiếp nối - chắp nối các “đường lượn” với nhau, các đường lượn ấy thì rất nhiều tuỳ theo từng cặp, những tốp ca thuộc nhiều hay ít.

Có thể nói lượn đã trở thành một thực thể trong đời sống tinh thần, một thành phần có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu bộc lộ tình cảm của những người dân Tày yêu thích ca hát. Thông qua lượn mà tiếng hát, lời ca ngân lên mọi lúc, mọi nơi, trong bản ngoài mường, trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống tinh thần người Tày. Nét đẹp văn hoá của đồng bào Tày qua hát lượn cần được giữ gìn, lưu truyền và phát triển để không bị mai một theo thời gian.


Tục ngữ - nơi thể hiện những kinh nghiệm sống quý báu của đồng bào Mông

Cùng với chiều dài lịch sử, dân tộc Mông sớm có một nền văn học dân gian phong phú, đa dạng phản ánh đời sống văn hoá cũng như tâm tư nguyện vọng của cộng đồng. Các thể loại văn học dân gian của dân tộc Mông cũng giống các dân tộc khác đó là: truyền thuyết, thần thoại, cổ tích và đặc biệt là thơ ca dân gian với rất nhiều thể loại trong đó Tục ngữ là thể loại chiếm số lượng khá lớn.

Tục ngữ của người Mông phản ánh những tri thức và kinh nghiệm sống của dân tộc trong lịch sử. Trong đời sống và tư duy, tục ngữ thể hiện những kinh nghiệm sản xuất, cách thức ứng xử và các mối quan hệ xã hội. Đằng sau nỗi buồn, sự vất vả lo lắng cũng như những phấn khởi trong lao động là kho tàng tri thức quý báu của đồng bào về kinh nghiệm và ứng xử trong đời sống hàng ngày.

Đặc điểm của tục ngữ nói chung và tục ngữ Mông nói riêng là ngắn gọn, xúc tích, tuy chứa đựng những nội dung tương đối lớn nhưng hình thức mỗi câu lại rất nhỏ “ép chặt thành từng từ như ép ngón tay thành quả đấm…, dè sẻn từng tiếng làm cho lời nói cô đọng giàu ý nghĩa”. Tục ngữ có tính bền vững, ổn định, là những câu ngắn gọn, dễ nhớ, dễ truyền khẩu, ít dị bản, là lời ăn tiếng nói của nhân dân. Tục ngữ Mông rất phong phú về ý nghĩa, cái cụ thể thường gắn liền với cái khái quát và ngược lại:

- “Một tay vỗ không kêu
Ba tay vỗ vang rừng”
- “Nước to dễ sang đò
Người đông dễ làm ăn”

Có câu tục ngữ mang ý nghĩa biểu tượng, ẩn dụ “Bò có đường bò cày/ Ngựa có đường ngựa đi” Trong văn học dân gian Mông, tục ngữ là một hiện tượng độc đáo; câu văn ngắn gọn mà phản ánh được nhiều ý muốn diễn đạt, có nghệ thuật, như một chân lý:“Nói ít nhớ lâu/ Nói nhiều quên mau”. Tục ngữ ngắn gọn nhưng không khô khan. Có thể tìm thấy trong kho tàng tục ngữ của người Mông những hình ảnh đẹp đẽ, những cách nói ví von sinh động “Có súng không bắn chim Bồ các/ Có sức không đánh người ăn củ mài”. Trong cuộc sống đồng bào luôn đề cao các phẩm chất lao động: “Tiền bạc trên đá/ Không làm khó nhọc thì không có tiền” .
Trong gia đình cha mẹ là tất cả đối với con cái. Có cha mẹ còn tất cả, mất mẹ cha thì gia đình đổ vỡ, cảnh nhà tan hoang. Tục ngữ đã nói rất sâu sắc và thấm thía:

- “Có bố mẹ, than thân không ra nước mắt
Mất bố mẹ, khóc than đến chết ngất”
- “Công mẹ đẻ, ơn cha thương
Ta mới lớn thành người anh đrâu Mông
Công mẹ sinh, ơn cha dưỡng
Mình mới lớn nên người gầu Mông”
Và mặc dù: “Củi cong khó đun/ Người già khó chiều” nhưng tuổi già luôn được đề cao, bởi họ là những người có kinh nghiệm sống: “Gừng già gừng càng cay/ Người già hiểu điều hay”. Phụng dưỡng và kính yêu cha mẹ là đạo lý muôn đời nên người xưa nhắn nhủ: Mình cư xử với mẹ cha ra sao - Về sau con cái cũng đối xử với mình như vậy

Anh em ruột trong gia đình là tình máu mủ ruột thịt không bao giờ lìa bỏ. Đồng bào Mông cũng rất trân trọng những tình cảm ấy và nói bằng những hình ảnh rất riêng, rất thật:“Anh em cãi nhau không bỏ ma”

Trong xã hội Mông, cùng với các mối quan hệ khác trong gia đình, tình cảm vợ chồng được đề cao: “Tình yêu tốt một thời/ Vợ chồng tốt một đời”. Vì thế đồng bào thường khuyên con cháu mình: “Hàm răng đẹp đôi khi cũng cắn phải lưỡi/ Vợ chồng hòa hợp đôi khi cũng có dỗi hờn”.

Trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ nam nữ cũng được đề cao ở tục ngữ Mông: Phản ánh khát vọng yêu đương, ca ngợi tình yêu thủy chung... Trong vấn đề lựa chọn bạn đời, người Mông đề cao những phẩm chất: Chăm làm, tháo vát, chung thủy của người bạn đời: “Gái đẹp không biết làm lanh cũng xấu/ Trai khỏe không biết làm rẫy cũng hèn”.

Tục ngữ là “lời nói hay” có nhiều giá trị, một hình thức giao tiếp quan trọng. Do đó trong ứng xử hàng ngày đồng bào rất coi trọng lời nói: “Biết nói người ta yêu, người ta quý/ Vụng nói người ta ghét, người ta giận”. Và khuyên nên: “Nghĩ trước nói sau”. Từ những hình ảnh trong thực tế nâng lên tầm khái quát và vận dụng vào cuộc sống như là một bài học về lối sống có văn hóa: “Chặt cây phải xem cành khô/ Nói năng cần nhìn trên dưới”.

Từ những quan sát trong thực tiễn đồng bào Mông đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về quy luật biến đổi của thời tiết: “Trời xanh thì nắng/ Mây đen thì mưa”. Trong trồng trọt, đồng bào Mông đã để lại những kinh nghiệm quý báu thiết thực: “Trồng ngô chọn chân đồi/ Trồng lúa chọn cuối khe”. Về kỹ thuật làm đất: “Nương không cày không xốp/ Người không khuyên không tỉnh”. Kinh nghiệm gieo trồng: “Gieo ngô sớm đơm cỏ/ gieo ngô muộn đựng mưa”.
Có thể thấy trong cuộc sống của người Mông, lĩnh vực nào có kinh nghiệm ở đó có tục ngữ. Đó không chỉ là những kinh nghiệm quan sát được mà cả những kinh nghiệm được nhìn nhận suy ngẫm từ các giác quan bên trong tinh tế và nhạy cảm của con người. Tục ngữ phản ánh khá đầy đủ những đức tính người dân lao động như cần cù, kiên trì, tinh thần lạc quan, óc thực tế, tình yêu thương, ý thức đề cao về cái đẹp tâm hồn, về danh dự, lòng chung thủy. Tục ngữ góp phần làm phong phú, sinh động và tô đậm bản sắc văn hoá Mông.

“Phong Slư” - thư tình của người Tày

“Phong slư” là những bức thư tình, một thể thơ hết sức đặc sắc của trai gái Tày. Bức thư này viết bằng chữ Nôm Tày trên nền vải sa tanh đỏ. “Phong slư” nói về cung bậc tình cảm của những người đang yêu. Khi là tiếng nói thủ thỉ tâm tình. Lúc hóa thành dòng thác nhớ nhung tha thiết.

Thường thì trai, gái Tày tự mình viết “Phong slư” là chính, nhưng cũng có nhiều người không biết chữ thì đành nhờ những ông “Slấy sli” viết hộ. “Slấy sli” là người trí thức bình dân sống trong cộng đồng Tày. “Phong slư” do “Slấy sli” viết, ghi lại những tâm tình thầm kín của trai gái Tày. Viết xong bài thơ, mới được một nửa công việc. Người ta còn phải tô vẽ minh họa thêm con chim én ngậm thư. Hoặc chim bồ câu bay qua cánh đồng hoa. Hoặc vẽ hai con rồng chầu mặt trăng. Chầu lâu đến nỗi rồng hóa thành sông suối, chảy bạc cả rừng xanh. Mà trăng vẫn xa mãi mãi. Tình người sao chẳng thể gần nhau. Có lá “Phong slư” dài hàng mét. Người nhận được treo nó lên như tranh, ở nơi phòng ngủ của riêng mình.

“Phong slư” được gửi đi, khi nhận lại, người con trai, con gái Tày lại đem “Phong slư” đó đến nhờ một “Slấy sli” đọc, “Slấy sli” thường ngâm ngợi những bức thư đó theo một giai điệu tha thiết. Vì vậy, bức thư có tính chất cá nhân ấy thông qua “Slấy sli” trở thành một loại dân ca mang tính cộng đồng. Họ tự nguyện trả công cho ông “Slấy sli” con gà, ống gạo nếp. Hoặc túm bánh coóc mò. Mà mấy ông nhà thơ bình dân chẳng hề đòi hỏi.

Tình yêu nam, nữ thể hiện trong “Phong slư” thường là tình yêu trong xa cách, trắc trở, tan vỡ. Bởi vậy tiếng hát, giai điệu “Phong slư” thường buồn da diết. Tuy nhiên không hề bi luỵ kêu than mà vẫn luôn sáng lên những ước mơ lãng mạn, nhân văn.
“Hãy tu thân chờ nhau bên ấy
Dẫu là không lấy được cũng cam
Yêu nhau để khắp mường được thấy
Tiếng thơm sẽ trọn vẹn mai sau
Tới trăm năm khi về âm phủ
Ta rủ nhau về chốn mường hơn”

Ngày xưa, “Phong slư” dùng để ngâm là chủ yếu. Họ ngâm vào bất cứ chỗ nào và bất cứ lúc nào. Tình yêu của họ như hơi thở. Nhớ người yêu là ngâm “Phong slư”. “Nếu lòng này không nói ra được là tóc ốm tám tháng và mắt đói một năm”. Nỗi nhớ người yêu chảy ra từ mười đầu ngón tay, xuống đến gót chân. Nỗi nhớ không còn đường đi. Nỗi nhớ buộc phải ra đằng miệng. Ngày nay nhiều người dùng “Phong slư” để hát lượn. Hoặc nói thơ. Giống như đọc thơ có diễn cảm của người Việt. Từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Tày.

“Phong slư” không có mùa. Như tình yêu của con người quanh năm ngày tháng. Chỉ khi nào tự cấu vào da thịt mình, không còn cảm giác đau, khi đó mới ngừng yêu.
“Phong slư” phục vụ cho tình yêu lứa đôi, nhưng “Phong slư” cao hơn cuộc sống, nên có yếu tố hư ảo mang theo tính tao nhã, thanh cao. Vì vậy “Phong slư” vẫn tồn tại trong đời sống tình cảm của người Tày như một nét đẹp trong văn hoá độc đáo thẫm đẫm phong vị trữ tình. Trong cái rừng âm thanh về tình yêu đó, nổi bật lên một tiếng nói rất đạo đức, rất phù hợp với quan niệm tình yêu của nhân dân lao động cần được phát huy trong cuộc sống ngày nay, đó là tiếng nói của một tình yêu chung thuỷ sắt son, chung thuỷ cả trong "kiếp sau" nữa.

Vũ Thuý





[b]


Được sửa bởi Lữ Hoài ngày Sat 22 Oct 2011, 10:55; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!   Sat 22 Oct 2011, 02:57

hearts anh Bố for sharing :hoa:
Ở VN mình bây giờ nhiều hang động mới được khám phá thêm

Lữ Hoài đã viết:
Do chưa được bảo vệ, một số thạch nhũ, thạch thủy đã bị phá hủy và có người mang những tảng nhũ ra ngoài bán kiếm vài ba triệu đồng...
Mà đọc câu này thì buồn... năm phút
Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!   Sat 22 Oct 2011, 10:19

Shiroi đã viết:
hearts anh Bố for sharing :hoa:
Ở VN mình bây giờ nhiều hang động mới được khám phá thêm

Lữ Hoài đã viết:
Do chưa được bảo vệ, một số thạch nhũ, thạch thủy đã bị phá hủy và có người mang những tảng nhũ ra ngoài bán kiếm vài ba triệu đồng...
Mà đọc câu này thì buồn... năm phút

ừ , nghe buồn mấy chuyện vô ý thức như vậy lắm Shiroi à, mình buồn năm phút chứ vách động buồn ngàn đời! như Ngũ Hành Sơn trước đây bị khai phá vô tội vạ và bao nhiêu san hô ngoài Nha Trang bị phá hư vì họ neo thuyền đưa du khách ra đó bơi lặn!
Cho nên mọi người đều cần phải nâng cao kiến thức và ý thức để bao vệ môi trường và thiên nhiên.
Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Xuôi Dòng Cửu Long   Sat 22 Oct 2011, 11:10


Bông súng mùa nước nổi



Miền Tây những ngày này bước vào mùa nước nổi, đây là dịp người dân bản xứ khai thác hiệu quả sản vật để chế biến những món ăn ngon trong đó không thể không kể đến món bông súng.



Hái bông súng mùa nước nổi.

Bông súng là loài cây dại mọc nơi ao hồ hoặc ở những thửa ruộng thấp vào mùa nước nổi ở miền Tây. Loài cây này vươn lên theo nước lũ, nước càng dâng cao thì cuống lá, cọng càng dài. Lá trải rộng trên mặt nước và hoa màu trắng hay màu hồng vươn lên khỏi mặt nước trông rất đẹp.


Cứ vào mùa lũ người dân ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp lại sang các cánh đồng giáp biên giới Campuchia để hái bông súng đồng mang về tiêu thụ cho cả đồng bằng sông Cửu Long.



Chị Ngô Thị Đậu, ở xã Khánh An, huyện An Phú, An Giang, cho biết gia đình chị có 5 người mỗi buổi sáng chạy chiếc võ lãi sang đồng Campuchia để hái bông súng, chiều đưa về chợ bán mỗi ngày kiếm từ 200 đến 300 nghìn đồng.


Hàng năm vào nước lũ kéo dài 4-5 tháng, bông súng mọc và trổ bông rất đẹp, làm trắng xóa cả cánh đồng bao la. Súng là loại "thủy mộc" không ai gieo hoặc chăm sóc mà vẫn xanh tốt. Nước lũ lên tới đâu bông súng sẽ mọc nhoi lên mặt nước theo tới đó. Thông thường nước lũ miền Tây ngập trên cách đồng khoảng 4-5 m, thì cọng bông súng cũng mọc dài theo cỡ đó.

Bông súng dài quá, để dễ di chuyển người dân phải khoanh tròn lại cứ 10 sợi vào một bó.


Đưa bông súng từ ghe lên bờ để bán.


Em Huỳnh Bích Trân, ở Tân Hồng - Đồng Tháp chở bông súng trên xe đạp bán dạo các nơi. Mỗi ngày em bán trên 100 bó bông súng, giá mỗi bó 2.000-3.000 đồng.



Nếu vận chuyển bằng xe ba gác thì bông súng không phải cuộn tròn.

Thông thường bông súng chỉ lấy cọng làm món ăn. Hái bông súng là nhổ cọng hoa bó lại mang về. Cọng bông súng thường to, mọng nước có thể làm được nhiều món ăn mang đậm hương vị đồng quê.


Mặt mà bông súng kho.

Dân dã nhất là bông súng muối làm dưa dùng để kho với cá, thịt rất ngon. Khi ăn thực khác sẽ cảm nhận được vị ngọt thanh trong từng cọng bông súng muối vừa dai vừa mặn mà. Bên cạnh món bông súng múi thì món gỏi (nộm) bông súng cũng dễ làm nhưng lại là lạ thơm ngon. Để có món gỏi trước tiên cọng bông súng tước vỏ, rửa sạch ngắt thành đoạn ngắn, vắt chanh vào trộn đều cho mềm rồi gắp ra đĩa. Dầu ăn phi hành chín thơm cho thêm ít da heo xắt lát nhỏ và tôm khô, thêm chút gia vị cho thật thấm rồi chan đều lên đĩa gỏi.
Sau đó rắc một ít đậu phộng rang giã nhỏ và vài cọng rau thơm. Chuẩn bị một chén nước mắm ớt tỏi tùy khẩu vị là đã có món gỏi bông súng ngon tuyệt. Ăn món gỏi bông súng, người ăn cảm nhận được vị ngọt của phù sa và mát lành của sông nước đồng quê trong từng cọng bông súng. Nếu có thêm vị cay cay nồng nồng của đế nếp Gò Đen nữa thì món gỏi bông súng đã để lại trong lòng thực khách một hương vị nhớ đời của đặc sản miền Tây.



Ngon ngọt với gỏi bông súng.

Dù không được xếp vào những món ăn quý tộc, nhưng bông súng luộc chấm mắm kho đã có mặt từ rất sớm trong bữa ăn của đại bộ phận dân nông thôn miệt vườn. Đây là món ăn dễ làm, không tốn kém nhiều lại mang đậm hương vị đồng quê từ các thứ dùng làm món nên để lại ấn tượng sâu đậm trong ký ức người dân quê, đặc biệt với những ai lần đầu thưởng thức.
Có thể nói vị ngọt mát lạnh, giòn tan đã tạo nên một cảm giác dung dị, thư thái cho những ai thưởng thức những món ăn được chế biến từ bông súng. Với mỗi người nơi thôn quê bông súng như là món quà đặc biệt mà thiên nhiên ưu đãi cho con người sống nơi đồng nội, bởi nơi nào có nước là có bông súng.

Gia Bảo :hoa:





Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!   Sun 23 Oct 2011, 03:32

bông súng đẹp quá, ngó súng cũng dài ghê, làm goit có lý á Smile
Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!   Sun 23 Oct 2011, 09:26

Shiroi đã viết:
bông súng đẹp quá, ngó súng cũng dài ghê, làm goit có lý á Smile

Shiroi hay có ai ăn món này chưa? Thấy cũng hấp dẩn và đậm đà hương vị mắm. Ở nước ngoài ăn món mắm thì hơi chăm...đợi mùa hè mở cửa toang hoang mới dám nấu và mới có đủ rau thơm ăn mới ngon.



mắm kho bông súng là món ăn đắt địa lại rất dễ nấu.

Chỉ cần vài lạng mắm cá linh, nửa ký cá rô đồng, ít thịt heo ba rọi, vài ba trái cà nâu, là có thể chế biến thành món mắm kho, bông súng tuyệt vời.

Đổ mắm cá linh vào nồi đất, đổ ít nước nấu nhừ, rồi vớt xác bỏ đi. Cá rô đồng đánh vẩy, làm sạch. Thịt heo ba rọi xắt mỏng, trái cà cắt làm tư. Nước bắt đầu sôi, đổ tất cả vào nồi, thêm ít muối, đường hay bột ngọt, một ít sả bằm nhỏ, ít trái ớt hiểm, làm cho mắm có mùi thơm, cay.

Bông súng tước bỏ vỏ ngoài, ngắt thành 3,4 phân, sắp vào mâm. Nước sôi riu riu múc ra chén, dùng bông súng chấm mắm không gì bằng. Mùi thơm, ngọt ngào của mắm lan tỏa, cá rô chấm với muối ớt chanh. Thông thường người ta chan mắm vào cơm để ăn qua bữa. Tuy đơn sơ giản dị, bông súng, mắm kho hợp khẩu vị trở thành món ăn khó quên.


Nay thì người ta còn chế biến lẩu mắm kho, thêm ít rau đồng như rau tai tượng, rau ngỗ, lá cách, đọt sộp, đọt vừng,… và chủ lực vẫn là bông súng. Ăn mắm kho với bún không gì bằng.

Trời lành lạnh, năm ba người quây quần quanh lẩu mắm với rượu đế đưa cay không gì thú vị hơn.

Vào mùa nước nổi, hễ có bông súng hay bông điên điển là có cá linh. Món canh chua cá linh, bông súng ngon hết chỗ chê.

Bông súng, mắm kho tuy dân dã nhưng thấm đẫm tình quê của người dân Nam Bộ. Dù đi xa, ở đâu, hễ thấy bông súng thì nhớ ngay mắm kho quê nhà. (NGUYỄN MẪN CÁN)


Còn có món chay này làm thấy cũng rất dễ lúc nào rãnh Shiroi thử há. :mim:

Gỏi gà bông súng chay: Lạ mà ngon



Khẩu phần dành cho 2 người, dễ thực hiện, chỉ chuẩn bị trong 30 phút và chỉ cần 10 phút để chế biến
Nguyên liệu:


1 miếng gà chay,
300g bông súng,
50g cà rốt,
50g hành tây,
1 quả ớt sừng.

Dầu để chiên, ngò rí trang trí và bánh phồng tôm ăn kèm.

Hỗn hợp nước giấm: 1 chén giấm + 2 thìa súp đường.

Nước mắm chay trộn gỏi: 2 thìa súp đường + 2 thìa súp nước mắm chay + 1 thìa cà phê muối + 2 thìa cà phê ớt xay + 2 thìa súp nước cốt chanh, khuấy đều
Thực hiện:

- Bắc chảo, chiên gà chay trong dầu sôi ngập. Khi gà vàng, vớt ra để ráo dầu, thái lát mỏng vừa ăn
- Bông súng tước sạch, cắt khúc. Cà rốt gọt vỏ, rửa sạch, thái sợi. Ngâm bông súng và cà rốt vào hỗn hợp giấm đường pha loãng, để trong 30 phút
- Hành tây lột vỏ, thái lát mỏng. Ớt sừng bỏ hạt, thái sợi mảnh
- Trộn đều các nguyên liệu với nước mắm gỏi, trang trí thêm ngò, bông ớt, ăn kèm bánh phồng tôm

khì khì... mấy nàng ráng giỏi ...làm dâu cho cậu con trai nó dzui nhen! :nhay:

Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!   Mon 24 Oct 2011, 01:08

Lữ Hoài đã viết:


Shiroi hay có ai ăn món này chưa? Thấy cũng hấp dẩn và đậm đà hương vị mắm. Ở nước ngoài ăn món mắm thì hơi chăm...đợi mùa hè mở cửa toang hoang mới dám nấu và mới có đủ rau thơm ăn mới ngon.


khì khì... mấy nàng ráng giỏi ...làm dâu cho cậu con trai nó dzui nhen! :nhay:

bên Shiroi làm gì có ngó súng mà làm mí món ngon như vậy, Shiroi chỉ được ăn ngó sen đóng hộp thôi Crying or Very sad

Shiroi thấy mấy cậu, mấy anh thời đại bi dzờ ... giỏi cho con gái của mẹ vui lòng thì có lol2
Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Hoa Sen trong lòng   Mon 24 Oct 2011, 11:37

Yêu lắm hoa SEN



Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng, bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

(ca dao)




Hoa sen là một biểu tượng cho sự thanh cao theo người Việt và nhiều nơi khác ở châu Á. Hình ảnh tòa sen hiện diện trong ảnh thờ phụng, đặc biệt là Phật giáo.




Ý nghĩa của hoa SEN TRẮNG

Mỗi khi nói đến phật giáo, mọi người thường liên tưởng đến một loài hoa bình dị, thanh cao và thoát tục sống trong ao hồ, đó chính là Hoa Sen và Hoa Sen Trắng là loài hoa thật dễ thương và mang đầy giá trị minh triết phật giáo đối với nhân sinh, như hai câu thơ mộc mạc, thắm đượm triết lý trong nhân cách sống cao thượng của đạo làm người:

Sống đời đức hạnh thanh cao
Như hoa sen trắng đẹp màu yêu thương!


Hoa sen trắng bình dị, thanh cao, thuần khiết và mang trong đó phong thái tôn nghiêm và tươi thắm. Nhìn hoa sen trắng lay động trong nắng mai, màu trắng của hoa mang đến cho người sự nhẹ nhàng, thanh thoát, cùng với dáng vẻ khoan thai, bình yên. Vào những mùa trăng, ánh sáng lung linh của ánh trăng vàng đã tô điểm cho cánh hoa sen trắng sáng ngời một vẻ đẹp giải thoát đầy an lạc giữa muôn vì sao lấp lánh trên bầu trời xa thẳm.

Mỗi khi nhìn hoa sen trắng, chúng ta như cảm nhận được cảm nhận được ý nghĩa cao đẹp trong cuộc sống thiêng liêng cao quý của trái tim hồng biết quan tâm, yêu thương và chia sẽ với nhau những hoa trái tươi đẹp của cuộc đời. Khi nhìn lên bầu trời với những áng mây trắng bay lãng đãng, chúng ta như cảm nhận được sự tự tại, an nhiên của mây và khi nhìn lại cánh hoa sen trắng mỉm cười tươi thắm đầy an lạc mọi người điều hiểu ra được sự tự do, thánh thiện của đóa sen trắng trong ngần giữa nơi bùn lầy nước đọng. Có thể mọi người yêu quý hoa Sen trắng bởi vì màu trắng của hoa sen. Đó là màu của đức hạnh, từ bi, trí tuệ, màu của sự thanh cao tâm hồn thể hiện trong đời sống đạo đức, văn hóa cao đẹp, nơi phẩm chất thánh thiện bởi lòng yêu thương, khoang dung, nhân ái và cao thượng… Vẻ đẹp thánh thiện, an lạc và giải thoát của sen trắng luôn tạo cho mọi người sự yêu quý, và yêu quý hơn khi nhìn thấy hoa sen trắng tuy sống giữa bùn nhơ nhưng lúc nào cũng khoe sắc, tỏa hương để tô điểm cho đời. Sắc đẹp và hương thơm thanh khiết của hoa sen trắng mang đến cho mọi người một đời SỐNG ĐẸP, sống đẹp với chính mình và sống đẹp với mọi người xung quanh. Và nếp sống cao thượng ấy luôn được trải rộng với muôn loài cùng chung sống trên hành tinh xanh thân yêu.

Con người luôn trân trọng vẻ đẹp hiền diệu và thánh thiện của hoa sen trắng. Tấm lòng vị tha sống vì mọi người sẽ là ngọn lửa hồng luôn sưởi ấm của nhân sinh trong cuộc đời. Cám ơn hoa sen trắng đã mang đến cho mọi người một ý nghĩa sống có giá trị với hình ảnh cung kính, bình dị và tôn nghiêm, một đời sống vô ngã, vị tha của chân hạnh phúc để cuộc sống luôn tươi sáng trong hiện tại và tương lai….

Yêu thương sen trắng tươi màu
Sống đời đức hạnh, thanh cao tâm hồn!
(St)


Sen Hồng



Tụng kinh Pháp Hoa, chúng ta thường đọc những bài tán thán công đức của kinh này để gợi cho chúng ta suy nghĩ về những tinh ba vi diệu của kinh và từ đó phát khởi được niềm tin trong sạch đối với Đức Phật và lời dạy của Ngài:


Lục vạn dư ngôn thất trục trang.
Vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng.
Hầu trung cam lộ
quyên quyên nhuận.
Khẩu nội đề hồ trích trích lương.
Bạch ngọc xỉ biên lưu xá lợi
Hồng liên thiệt thượng phóng
hào quang
Giả nhiêu tạo tội quá sơn nhạc
Bất tu Diệu Pháp lưỡng tam hàng.

HT. Thích Trí Tịnh dịch là:

Hơn sáu muôn lời thành bảy cuốn
Chứa đựng vô biên nghĩa nhiệm mầu
Trong cổ nước cam lộ rịn nhuần
Trong miệng nước đề hồ nhỏ mát
Bên răng ngọc trắng tuôn xá lợi
Trên lưỡi sen hồng phóng hào quang
Dầu cho tạo tội hơn núi cả
Chẳng nhọc Diệu Pháp vài ba hàng
.



***LH xin chú thích thêm là bài kệ này có ý khen ngợi kinh Pháp Hoa, do bậc hiền nhân tu hành tán thán những điều Phật dạy cho mình giác ngộ . Vì sen hồng cũng là tượng trưng cho sự thanh tịnh và đức tính trong sạch cho nên những lời Phật dạy như là hào quang soi sáng cho mình giải thoát. Đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta trong việc giao tế và xử thế nên dùng lờii hay lẽ phải và hòa nhã nói với nhau.






Những nụ SEN tuyệt vời...
















Body painting sen hồng trên cơ thể mẫu nude





Sau những nét cọ tinh tế của họa sĩ Ngô Lực, tấm lưng trần thon thả của người mẫu Hạnh Quyên được phủ lên lớp áo màu đa sắc. Còn Vĩnh Nghi ấn tượng với những họa tiết mạnh mẽ ôm từ khuôn ngực tới vòng eo quyến rũ.

Là một trong những nghệ sĩ đầu tiên ở Việt Nam theo đuổi nghệ thuật tạo hình trên cơ thể người - body painting, họa sĩ Ngô Lực chia sẻ, anh phải vượt qua khá nhiều định kiến. Tuy nhiên, khi bắt tay vào công việc, anh gạt bỏ tất cả. Thậm chí đối diện với thân thể trần của người phụ nữ, Ngô Lực vẫn giữ được lòng mình tĩnh tại một thiền sư.


( VN express)





Vẻ đẹp tinh khôi, thuần khiết của hoa sen - quốc hoa của dân tộc Việt - là ý nghĩa mà họa sĩ body art Trần Lâm Bình và nhà nhiếp ảnh Hoàng Mạnh Cường hướng đến khi thực hiện tác phẩm kết hợp giữa hai môn nghệ thuật.




Các nghệ sĩ đã sử dụng kết hợp hình ảnh hoa sen thật và hoa sen vẽ trên cơ thể người mẫu để tạo ra một tác phẩm hoàn chỉnh.
Nhóm nghệ sĩ lý giải về hình tượng quan trọng nhất của tác phẩm - hoa sen: "Người ta thường ví: ‘Trong đầm gì đẹp bằng sen/Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng’ hoặc ‘Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’. Ý tưởng chúng tôi đưa hoa sen vào cơ thể người phụ nữ cũng như vậy".

"Họa sĩ sử dụng chất liệu bột màu ướt để tô điểm lên thân hình nền trắng trẻo của người mẫu. Trong tác phẩm, mảng màu phía dưới cơ thể biểu hiện cho những cánh sen mọc lên từ bùn. Nổi bật trên đó là những bông hoa sen nhằm khẳng định, ở bất kỳ đâu, chỉ cần có hình ảnh hoa sen thì đều gợi nên vẻ trong sáng, thuần khiết".


Tác phẩm được thực hiện tại studio Lavender, hai nghệ sĩ chính là họa sĩ Trần Lâm Bình và nhà nhiếp ảnh Hoàng Mạnh Cường. Êkíp thực hiện bộ ảnh đều ở lứa tuổi 8x, có lòng đam mê với nhiếp ảnh và mỹ thuật đương đại. Nhóm tác giả muốn gửi gắm đến công chúng trẻ thông điệp về lòng yêu nghệ thuật, tinh thần miệt mài khám phá nghệ thuật.

Nhóm thực hiện giải thích việc chọn body painting để thể hiện ý tưởng: “Môn nghệ thuật này đã du nhập vào Việt Nam một thời gian khá dài nhưng chưa khẳng định được chỗ đứng trong lòng công chúng quan tâm đến mỹ thuật. Khi chọn loại hình này, chúng tôi hướng tới sự hoàn mỹ của tác phẩm. Muốn có gì đó thật sự đột phá, nên chúng tôi đưa body art kết hợp với nghệ thuật nhiếp ảnh để tạo ra một tác phẩm có giá trị nhân văn và có ý nghĩa với người dân Việt Nam”.




Về quá trình tìm kiếm người mẫu, nhóm đã chụp thử hai lần với hai người mẫu nhưng đều cảm thấy thiếu một phần nào đó. Cái hồn của người mẫu chưa thực sự nhập vào hoa sen, chưa thể hiện được nội dung mà nhóm muốn truyền tải đến người xem. Phải đến người mẫu thứ ba, nhóm mới cảm thấy đây là một cô gái cá tính, yêu nghệ thuật và phù hợp với ý tưởng.




Họa sĩ Trần Lâm Bình sinh năm 1982, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Huế và làm giảng viên tại trường. Hiện tại, anh đang học cao học tại Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Anh tham gia rất nhiều triển lãm lớn nhỏ tại Việt Nam và đã mở triển lãm cá nhân mang tên Sơn mài đóng được giới mỹ thuật đánh giá cao.
Nhà nhiếp ảnh Hoàng Mạnh Cường hiện làm việc ở Đài Truyền hình Hà Nội. Đam mê nhiếp ảnh từ lâu, anh từng mở một số triển lãm ảnh cá nhân để quyên góp ủng hộ người nghèo, ủng hộ những người bị chất độc màu da cam.
Pham Mi Ly








Được sửa bởi Lữ Hoài ngày Mon 24 Oct 2011, 12:02; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!   Mon 24 Oct 2011, 11:51

Shiroi đã viết:

bên Shiroi làm gì có ngó súng mà làm mí món ngon như vậy, Shiroi chỉ được ăn ngó sen đóng hộp thôi Crying or Very sad

Shiroi thấy mấy cậu, mấy anh thời đại bi dzờ ... giỏi cho con gái của mẹ vui lòng thì có lol2

ờ hén, nhờ Shiroi nói LH mới nhớ là ngó súng đâu có bỏ hộp như ngó sen… tại sao vậy ta? scratch
Hm thôi ăn ngó sen cũng ngon mà, món gỏi cũng hết sẫy !

hm... Con trai VN ra nước ngoài thì bắt buộc phải giỏi chuyện bếp nút rồi không thì… treo mỏ seo! Cool Nhất là không có mẹ hay chị em gái bên cạnh cưng chiều nấu cho ăn thì phải vậy rồi. :nhay:
Mà hình như có mấy người hên , không biết làm thì hay có số được hưởng mới lạ… lại tìm được cô dâu biết nấu giỏi đó chứ! Khì khì khì :nhay:

Hy vọng Shiroi cũng gặp người giỏi cho con gái của mẹ vui lòng nhen! :mim:
Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Hình ảnh đẹp của cát   Tue 25 Oct 2011, 12:47



Bao la Đồi Cát




Đồi Cát Mũi Né, còn gọi là Đồi Cát Bay - một trong những bải cát trãi dài nhiêu cây số và lan rộng ở một diện tích không nhất định với tổng thể lớn. Nằm trải dài từ tỉnh Bình Thuận đến Ninh Thuận nhưng điểm tham quan chính của đồi cát và được xem là đẹp nhất nằm trên đường ra Mũi Né, nằm đối diện Suối Tiên.



Tên gọi bắt nguồn từ việc đồi cát có màu sắc chính là vàng, là mỏ sắt cổ tồn tại hàng trăm năm kiến tạo nên. Gọi là đồi cát bay vì hình dáng của đồi Cát thay đổi theo giờ, theo ngày, theo tháng v..v và không có hình dáng nhất định. Việc tạo nên hình dáng trăm hình, trăm dáng của cát là do gió bào mòn và thổi bay lớp cát mỏng manh phía trên. Kết hợp với việc xâm thực của cát và hiện tượng rạng của bờ biển khiến cho hiện tượng sa mạc hóa và sạt lở của bờ biển diễn tiến vô cùng nghiêm trọng. Đây là điểm tham quan thu hút khá nhiều du khách do hình dáng đẹp của cát và màu sắc cát.


Màu của cát là mỏ sắt cũ kiến tạo không cho một màu vàng duy nhất mà cho ra rất nhiều màu, ví dụ:
Màu đỏ - màu chính của cát là mỏ sắt cổ thấy nhiều và phổ biến nhất.
Màu trắng - nằm trên bãi biển và pha tạp chất.
Màu hồng - màu nằm dưới màu đỏ, thấy nhiều bên kia đồi cát bay, tại Suối Tiên - Suối Hồng Âu Cơ - Lạc long Quân.
Màu trắng xám : màu cát này nằm tập trung ranh giới của Ninh Thuận và Bình Thuận trãi dài trên diện rộng là nguyên nhân của việc đất đai kém màu mỡ.
Màu đỏ đen : màu pha bùn, cứng và khó hòa tan, màu này tập trung tại Bồng Lai Tiên Cảnh.

Tuy nhiên không phủ nhận vai trò của đồi cát trong việc hình thành một sản phẩm du lịch đặc trưng của Bình Thuận và Ninh Thuận. Tại Bình Thuận đã hình thành một khu resort cao cấp 5 sao xây dựng một sân Golf trên cát hiện đại và độc đáo. Cụm nhà nghỉ và các dịch vụ sân golf trên cát là một sản phẩm thu hút khách du lịch độc đáo trong tương lai và một sản phẩm du lịch " xanh ". Việc trồng cây và phủ xanh cát bằng cây hoa giấy, dương, v..v.. vừa tạo cảnh quan, vừa góp phần tránh sự di động của cát.

Đồi cát bay là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà nhiếp ảnh, cát muôn hình, muôn vẻ cùng với những hoạt động, sinh sống của người dân trên cát góp phần cho ra những tác phẩm đẹp.


















St :hoa:



Về Đầu Trang Go down
 
Quê Hương: Đẹp ngỡ ngàng!
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 5 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3, 4, 5  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: GIẢI TRÍ :: Quê Hương yêu dấu-