Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ THỬ NGHIỆM - Hansy by Hansy Yesterday at 23:25

Thơ BÓNG ĐÁ - Hansy by Hansy Yesterday at 23:24

BÌNH THƠ - Hansy by Hansy Yesterday at 23:23

HÀO HÙNG SỬ VIỆT by Hansy Yesterday at 23:22

THƠ TÌNH - Hansy by Hansy Yesterday at 23:21

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Yesterday at 21:41

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Yesterday at 21:31

TÌNH BUỒN by lehong Yesterday at 21:20

Mùa An Cư 2018 by mytutru Yesterday at 20:58

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 20:23

HOA GIEO TỨ TUYỆT 2 by buixuanphuong09 Yesterday at 16:00

SAIGON VÀ " VIÊN XÚC XẮC MÙA THU " **** by Trăng Yesterday at 15:18

Bộ sưu tập Côn trùng by buixuanphuong09 Yesterday at 15:17

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 12:34

Tuyển Tập Nhạc Hòa Tấu Chọn Lọc Chất Lượng Cao by nhanbkvn Yesterday at 04:49

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Sat 18 Aug 2018, 21:47

MÙA HOA DẠI CALI : Kính tặng huynh Buixuanphuong09 by Trăng Sat 18 Aug 2018, 18:15

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Trăng Sat 18 Aug 2018, 12:54

Những sự thật không thể chối bỏ by tvqm Sat 18 Aug 2018, 12:16

SONG TỬ LẠC LOÀI . by Trăng Fri 17 Aug 2018, 14:18

Truyện xưa - Ái Hoa by Trăng Fri 17 Aug 2018, 12:38

Quỷ Mẹ ( chuyện Phật Giáo ) by mytutru Fri 17 Aug 2018, 12:30

Chiến Tranh Thương Mại Mỹ-Trung by tvqm Thu 16 Aug 2018, 11:31

Dự Án Đường Sắt Cát Linh - Hà Đông by tvqm Thu 16 Aug 2018, 11:19

Ở không by Trăng Thu 16 Aug 2018, 10:29

TẬP THƠ : TAN VỠ TÌNH ĐẦU ! by lehong Wed 15 Aug 2018, 22:42

Thơ Mười Bốn Điều Răn Của Đức Phật by mytutru Wed 15 Aug 2018, 21:15

BẮT GIÒ ..( Mời thầy và các huynh đệ tỉ muội ) by Trăng Wed 15 Aug 2018, 20:00

Bác sĩ chuyên khoa nhắc nhở: bệnh trĩ kiêng gì và ăn gì? by yduoctaman Wed 15 Aug 2018, 11:11

ĐỢI ! by Ai Hoa Wed 15 Aug 2018, 10:19

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Chiếc Bóng của Giọt Nước Mắt

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next
Tác giảThông điệp
quehuong



Tổng số bài gửi : 3106
Registration date : 24/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chiếc Bóng của Giọt Nước Mắt   Mon 05 Dec 2011, 05:33

Lữ Hoài đã viết:




Hihi... ma còn chết sao QH? :tongue:
QH muốn làm ma lai thì nhớ xỉa tăm từng hạt cơm như AH nói nhen bé...hihi...điệu này hông có ăn cơm với khô được rùi á! :potay:



Ma biết chết ... chắc phải đi hỏi thầy Ái Hoa á Lữ Hoài ơi Twisted Evil
Không ăn cơm được ... thì đi ăn phở, cái nào cũng ăn muh ... :pp:

Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Bọt Biển ....   Mon 05 Dec 2011, 16:24



Hồng


Biển Nam Hải có một con cá màu hồng rất tinh khôn và nhanh nhẹn. Cá dài chừng chín tấc, vảy màu ửng đỏ sáng đẹp. Mỗi khi cá ngoi lên gần mặt nước, màu hồng của vi vảy làm ngời sáng cả những gợn sóng lấp lánh ánh mặt trời. Ngư thuyền trong vùng ít khi gặp được cá. Hành tung của cá thật là bí mật. Chỉ có một người biết rõ được nguồn gốc của cá. Đó là một cô gái người Việt tên Đào.
Đào mười chín tuổi. Cô với người yêu cùng vượt biển với bốn mươi hai người khác trên một chiếc thuyền bề rộng hai thước rưỡi và bề dài mười một thước. Thuyền của cô bị hải tặc chặn cướp trên con đường từ cù lao Quái đến cù lao Chàng. Bọn hải tặc vơ vét tất cả những gì chúng có thể vơ vét được và còn hiếp dâm tất cả phụ nữ trên thuyền. Đào cũng chịu chung số phận với những người khác. Cô bị ba tên hải tặc thay nhau hãm hiếp. Những người con trai nào trên thuyền chống lại hải tặc đều bị chúng trói lại và đánh đập. Chồng chưa cưới của Đào cũng chịu chung số phận này. Trong cơn kinh hoàng, cô chỉ biết vùng vẫy la hét. Vì cô la hét và cào cấu quá cho nên tên hải tặc thứ ba, sau khi thỏa mãn thú tính đã lấy chân hất cô xuống biển. Cô đã được con cá Hồng cứu thoát và đưa vào bờ cát của một hòn đảo nhỏ không tên, cách cù lao Chàng chừng mười tám cây số về phía Tây Nam.
Khi Đào bị hất xuống biển, cô la lên một tiếng thất thanh. Nhưng tiếng kêu của cô cũng như thân thể của cô trong khoảnh khắc đã bị chìm nghỉm. Biển cả đã nuốt cô. Đào ngất đi. Khi tỉnh dậy, sáng hôm sau, Đào thấy mình nằm trên một bãi cát vắng. Thân thể cô rã rời đau nhức. Cố gắng mãi cô mới chống tay ngồi dậy được. Nước biển còn liếm tới bãi cát cách chân cô chừng vài thước. Cô gắng gượng đứng lên, và lảo đảo đi về phía có mấy tảng đá có bóng cây rợp mát. Tới nơi, cô ngồi bệt xuống đất, dựa vào một tảng đá, và thở.
Đào biết mình còn sống. Cô bắt đầu nhớ lại những gì đã xảy ra ngày hôm qua trên thuyền. Cô đưa hai tay bưng đầu không dám nhìn ra biển cả, tưởng rằng bọn hải tặc vẫn còn đó. Nhưng không, cảnh tượng hãi hùng hôm qua đã không còn nữa. Nhìn lại, cô chỉ thấy mặt biển mênh mông và sóng trên biển nối tiếp nhau dạt vào bờ cát. Cô nhớ đến những tấm thân thô bạo trên thân hình cô. Cô rùng mình nghiến răng, nước mắt ràn rụa đầy hai má. Cô nhìn xuống thân thể cô. Trên thân hình đau nhức ấy không còn lấy một mảnh vải. Cô hổ thẹn vội đưa hai tay che lấy ngực và nhìn ra. Không, vẫn không có ai. Mặt biển phản chiếu lấp lánh ánh mặt trời. Không có một đám mây nhỏ. Trời xanh ngắt. Không có một dấu hiệu nào, một chấm đen nào ở ba phía chân trời.
Cô nhớ tới Đạt, người yêu của cô. Chắc là giờ đây Đạt đã chết rồi. Hôm qua chàng đã bị bọn hải tặc trói lại và đánh đập tàn nhẫn. Cô chỉ cào cấu bọn chúng mà thôi, vậy mà chúng đã hất cô xuống biển, huống gì Đạt: chàng đã xông vào liều thân với bọn cướp biển. Chúng đã đánh ngã Đạt, trói chàng lại. Thế nào chúng cũng đã hất chàng xuống biển. Đào nghẹo ngào. Cô đưa tay ôm ngực, hổn hển, làm như khí trời không đủ cho cô thở. Cô buông hai tay, nằm ngửa trên mặt đất, như một người đã tắt thở.
Cảm thấy mệt mỏi và cùng cực, Đào nhắm mắt lại, nghĩ rằng mình sẽ tắt thở và chết trên hòn đảo hoang này. Nhưng cô không tắt thở. Hơi thở của cô đều đặn lại, và cô thiếp đi trong mệt mỏi. Cô thiếp đi như thế cho đến khi mặt trời lặn xuống và mặt trăng lồng lộng hiện rõ trên bầu trời bao la thì cô tỉnh dậy. Có một bàn tay nhỏ đặt trên trán cô. Đào giật mình ngồi nhỏm dậy, đưa hai tay lên che ngực. Trước mặt cô là một em bé gái chừng mười tuổi, tóc chấm ngang vai, hai mắt đen nháy. Em bé mặc một chiếc áo màu hồng.
- Em là ai? Tại sao lại ở đây? - Đào vội vàng hỏi. Em bé đáp:
- Em tên là Hồng. Em tới đây từ lúc mặt trời chưa lặn. Nói tới đó, Hồng đứng dậy rút từ cành cây trên đầu hai người một bộ xiêm y rồi đưa cho Đào. Em nói tiếp:
- Chị mặc mấy thứ này vào cho đỡ lạnh, rồi chúng ta hãy nói chuyện. Sương bắt đầu xuống rồi, và chị đang run đó, chị có thấy không?
Đào tiếp lấy bộ xiêm y trên tay em bé, run rẩy mặc vào người. Đây là một bộ xiêm y của phụ nữ Việt còn thơm mùi long não. “Em bé này là ai mà một mình lạc vào đảo?” Đào vừa cài khuy vừa suy nghĩ. Hay đây là một bóng ma hiện hình khủng bố cô?
Vừa lúc đó thì em bé lên tiếng:
- Em là người, không phải là ma đâu chị. Em sinh ở Vĩnh Long, và cha mẹ em từ bảy năm nay buôn bán ở thị xã Vĩnh Long. Chị ngồi xuống đây, ăn mấy cái bánh này rồi chị em mình nói chuyện.
Đào ngồi xuống bên cô bé. Hồng mở một cái hộp thiếc lớn, lôi ra một chiếc bao ny lông đầy bánh. Em lấy răng cắn thủng một góc bao, dùng ngón tay mở rộng chỗ thủng và lấy hai cái bánh vuông, đưa cho Đào. Ruột gan Đào cồn cào khi trông thấy bánh. Cô đưa tay nhận bánh và bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến. Từ trưa hôm qua đến giờ, cô chưa có một hạt cơm bỏ bụng.
Bánh Đào đang ăn thuộc về loại bánh lạt, một loại crackers để dùng ăn với sữa. Mỗi chiếc bánh lớn bằng bốn ngón tay Đào. Ăn hết chiếc bánh đầu tiên, Đào hỏi:
- Bánh ở đâu mà em có vậy?
Hồng cười:
- Đây là một trong những thùng bánh mà một chiếc tàu Đan Mạch liệng xuống biển. Chị ăn bánh đi, rồi từ từ em giải thích cho, đừng có mở mắt to nhìn em như vậy. Số là hôm nay có một chiếc ghe tị nạn hết nước uống và lương thực. Trên ghe có tám mươi bốn người, mà hai phần ba là trẻ em như em. Máy ghe bị hỏng. Có một chiếc tàu treo cờ Pháp đi qua. Nhiều người trên ghe cởi áo phất qua phất lại cầu cứu. Chiếc tàu treo cờ Pháp làm ngơ đi thẳng. Mấy giờ đồng hồ sau lại có chiếc tàu treo cờ Anh đi qua. Chiếc tàu treo cờ Anh cũng làm ngơ như không trông thấy. Lúc mặt trời sắp lặn thì có một chiếc tàu treo cờ Đan Mạch đi ngang. Thấy kêu cứu, chiếc tàu này dừng lại và đi vòng quanh chiếc ghe ba lần. Họ không chịu cứu tám mươi bốn người lên tàu họ mà chỉ thả xuống cho hai thùng nước và mười thùng bánh. Bảy thùng bánh rơi trúng ghe, còn ba thùng rơi tõm xuống biển. Thùng bánh mà chị đang ăn là một trong ba thùng rơi xuống biển.
- Sau đó chiếc ghe có gặp tàu khác không? Chiếc ghe có tới được bờ bên kia không? Mà tại làm sao em biết? Em đi trên chiếc ghe đó hả? Còn những người khác bây giờ ở đâu? Ghe chìm chết hết rồi phải không?
- Chị hỏi nhiều quá khiến em chóng mặt. Dạ không, em không phải là người trên ghe ấy. Ghe chưa chìm. Hiện giờ gió Đông Bắc đang đưa ghe tấp từ từ vào bờ biển Thái Lan. Em hy vọng ghe đó được vào bờ vô sự.
Nói xong Hồng lộ vẻ trầm ngâm. Đào muốn hỏi nữa nhưng ngài ngại. Đây đúng là một em bé, nhưng phong thái và cách ăn nói của em thật là khác thường. Một đứa bé mười tuổi trôi dạt vào một hải đảo, xa cha mẹ và các anh chị, thì không thể nào ăn nói bình tĩnh chững chạc như vậy được. Đáng lý nó phải khóc la, phải kêu mẹ, phải ôm lấy Đào mà kể lể thì mới đúng. Đằng này, nó ngồi trước mặt Đào, lấy áo cho cô mặc, lấy bánh cho cô ăn và săn sóc Đào như một người chị săn sóc cho một đứa em. Cảnh hoang đảo dưới trăng này hoặc giả chỉ là một giấc mơ, Đào nghĩ. Cô cắn vào môi đau gần rướm máu, và biết đây không phải là một giấc mơ. Vừa lúc ấy Hồng đưa một ngón tay lên làm hiệu cho Đào yên lặng. Một thoáng sau Hồng nói:
- Em nghe như có tiếng nước chảy róc rách. Có thể là chúng ta sẽ tìm ra nước uống. Chị ngồi yên đây, để em xem.
Hồng đứng dậy, thoăn thoắt nhảy trên những tảng đá và phút chốc biến mất sau lùm cây. Trong lúc chờ đợi, Đào với tay lấy túi bánh và móc ra thêm hai cái bánh. Cô ăn thong thả, mặt hướng về lùm cây. Một lát sau, cô thấy bóng Hồng xuất hiện trên một tảng đá, hai tay đang nâng một vật gì không rõ. Khi Hồng đến gần, Đào thấy đó là một chiếc lá cuốn lại hình một quặn, bên trong đầy nước.
- Đây là nước ngọt, chị uống đi.
Hồng đưa nước vào tận môi Đào. Nước ngọt quá, ngon quá, làm cho ruột gan Đào mát rượi.
- Chị uống hết đi, em đã uống rồi.
Đào uống hết nước. Cô cám ơn Hồng. Hồng bảo:
- Ở gần suối nước có một khoảng đất sạch và kín gió. Chị em mình có thể nghỉ đêm ở đấy được. Ngồi đây lạnh quá. Vả lại giữa khuya nước có thể lên cuốn chị em mình xuống biển lắm.
Hồng bỏ túi bánh vào thùng, trao cho Đào cầm và cúi xuống xách cái bọc quần áo lên. Hai chị em men theo con đường cũ trở lên suối. Trăng hải đảo sáng vằng vặc. Trời vẫn trong, không một gợn mây. Hồng đợi Đào ngồi xuống rồi mới nói:
- May mắn chúng ta đã tìm ra được con suối nước ngọt này. Có thùng bánh lạt Đan Mạch, ít ra chúng ta cũng có đủ thức ăn cầm hơi trong chừng mười bữa hay nửa tháng. Chúng ta ăn bánh, uống nước suối và sẽ đi tìm trong đảo xem có thứ rau, thứ trái gì để ăn cho bớt xót ruột. Trong thời gian đó, chúng ta để ý xem có chiếc ghe tị nạn nào đi ngang gần đây không. Ta sẽ cầu cứu và khi họ ghé vào, ta sẽ cùng xin đi với họ. Cái bọc áo quần và thùng bánh này em nhặt được ngoài bãi cát hồi chiều qua. Lúc em lên đảo thì chị đang ngủ. Thấy chị không có quần áo, em mới mỏ bọc tìm một bộ đồ, vắt cho ráo rồi treo lên cành cây cho khô để chị mặc. Những bộ quần áo còn trong bọc này, ngày mai ta sẽ vắt phơi để đắp ngủ thay mền cho ấm. Nếu chị chưa mệt thì chị kể cho em nghe chuyện của chị đi, chị.
Đào bắt đầu kể chuyện vượt biển của mình cho Hồng nghe. Cha cô là một nhà văn bị đi học tập ở miền thượng du Bắc Bộ từ năm 1976. Mẹ cô dành dụm trong hai năm mới đủ tiền đi thăm nuôi chồng một lần. Từ đó về sau, mẹ cô và cô chỉ có đủ tiền để viết thư, gửi cho cha cô một hũ đường và một chai muối sả mỗi ba tháng. Có lần trong sáu bảy tháng liên tiếp gia đình không nhận được thư từ gì của cha cô cả. Lần đầu gặp được cha cô tại trại học tập, mẹ cô thấy ông gầy ốm và tiều tụy đến thảm thương. Ông đã xúi mẹ con cô trốn qua nước khác mà sinh sống, nhưng mẹ cô nói còn nước thì còn tát, rằng chồng bà còn sống thì bà còn chờ đợi. Trong khi đó thì sự sống mỗi ngày một trở nên khó khăn. Cô và thằng em trai lớn của cô – thằng Văn, năm nay mười sáu tuổi – hết sức giúp mẹ trong việc buôn bán, nhưng không đủ ăn. Cô có một người bạn tên Nguyên. Gia đình của Nguyên cũng lâm vào cảnh túng thiếu như cô, nhưng nhờ có thân nhân sống ở ngoại quốc, nên đời sống của họ đỡ khổ hơn nhiều. Cứ mỗi hai tháng họ nhận được một gói quà từ ngoại quốc trong đó có bột ngọt, thuốc lá ba số 5, bơ, phô mai, thuốc trụ sinh và những loại xa xỉ phẩm khác. Các thứ này họ đem bán lấy tiền mua gạo và những thứ cần thiết khác. Khi chồng chưa cưới của Đào ngỏ ý vượt biên, cô băn khoăn lo sợ. Cô không lo sợ cho cô mà cô sợ bỏ mẹ, bỏ em ở nhà. Mẹ của cô ôm cô khóc một đêm, nhưng cũng đồng ý để cô đi. Cô để lại tất cả tư trang và áo quần cho mẹ, chỉ đem theo cái bằng tú tài và một bộ đồ mặc trên mình. Cô thức một đêm với Văn, ký thác gia đình cho em. “Hễ qua được Mã lai, chị sẽ đánh điện cho em liền”. Ghe của cô hư máy lênh đênh trên biển đã mười sáu đêm ngày và rốt cuộc bị bọn cướp biển tấn công. Cô bị ba tên cướp biển làm nhục, và tên thứ ba đã hất cô xuống biển. Đạt bị trói và đánh đập dã man. Có lẽ chàng đã chết rồi, và mọi người trên ghe có thể cũng đã chết rồi. Cô bưng mặt, nước mắt cô lại tuôn ra như suối. Cô gọi mẹ, gọi em, gọi tên người yêu. Cô nói cô muốn đập đầu vào đá để chết.
Hồng im lặng nghe, thỉnh thoảng cầm lấy tay Đào trong hai tay mình và bóp thật chặt. Em không hề ngắt lời của cô. Đến khi Đào đứng dậy định đập đầu vào đá thì em ôm cô ghì chặt lại. Hồng có một sức mạnh kỳ lạ khiến Đào không nhích thêm được một bước. Một lát sau, hết sức. Đào ngã quỵ xuống thở hổn hển. Trời về đêm lạnh mà mồ hôi Đào lấm tấm.
Hồng đỡ Đào ngồi xuống cỏ. Em lấy vạt áo hồng của mình lau mồ hôi trán cho Đào. Đợi cơn đau của Đào dịu xuống, em mới nhỏ nhẹ nói:
- Chị làm như vậy là chị không nghĩ tới hai bác và các em của chị. Hai bác và các anh chị sẽ khổ đau suốt đời mỗi khi nghĩ đến chị, cho rằng chị đã chết chìm dưới biển. Trong khi đó thì chị đang ở trên đất liền, có cơ hội đón ghe khác để tiếp tục cuộc hành trình. Nếu mà đến nơi đến chốn được thì chị sẽ làm việc để nâng đỡ cho gia đình. Nội cái tin chị được tới bờ bên kia cũng đủ cho bác vui rồi. Huống nữa chị vẫn còn nhiều hy vọng. Chiếc ghe của chị và bốn mươi hai người trên đó rất có hy vọng đến bến bờ bên kia. Bọn cướp sau khi hất chị xuống biển chắc đã tháo lui. Bởi vì chính mắt em trông thấy chiếc ghe đang bập bềnh trôi dạt về hướng Tây Nam. Trong vài ngày nữa có thể thuyền sẽ cặp vào một bờ bến Mã Lai. Anh Đạt rất có thể còn sống và chị còn rất nhiều hy vọng gặp lại anh ấy...
Đào nắm lấy cánh tay trái của em bé trong hai bàn tay mình:
- Chắc không em? Có chắc là anh Đạt còn sống không em? Mà tại sao em thấy được chiếc ghe chở anh ấy đi dạt về phía Tây Nam? Em đứng ở đâu và thuyền em bây giờ đi về hướng nào? Ba má cùng các anh chị của em hiện giờ ở đâu?
- Em hứa với chị là mai mốt em sẽ kể chị nghe. Chuyện của em gần như chuyện của chị. Bây giờ đã khuya rồi, chị em mình cần ngủ để sáng mai còn dậy canh chừng ba mặt biển. Chị nằm xuống đây và gối đầu lên cái rễ cây này mà ngủ.
- Chị cầu Trời khẩn Phật cho anh Đạt của chị còn sống. Em ơi, thân chị bây giờ ô uế rồi, chị không còn xứng đáng với anh Đạt nữa. Chị khổ lắm. Đời con gái giữ gìn từng ly từng tí, vậy mà trong phút chốc bị sa vào tay một bọn cướp biển dã man. Chị không còn hứng thú gì mà sống trên đời này nữa.
Đào khóc rưng rức. Hồng chậm rãi:
- Có nhiều người trên đời sống không vì hứng thú mà vì bổn phận và vì thương yêu. Mà nói cho tới cùng, sống vì bổn phận và vì thương yêu cũng có thể là một nguồn vui lớn, chị ạ.
Trong cơn đau khổ cùng cực, Đào không nhận thấy ý nghĩa sâu xa của lời Hồng nói, một lời nói thật ra không thể phát ra từ cái miệng xinh xắn của một cô bé mười tuổi như Hồng. Cho nên Đào lặng thinh. Hồng nói tiếp:
- Có biết bao người chìm ghe chết và bị lũ cá mập rỉa thịt, rỉa xương. Nhưng không phải chỉ ở dưới biển sâu mới có cá mập, thưa chị. Trên đất liền cũng có cá mập. Chúng rỉa thịt, rỉa xương tủy của chúng ta mà sống. Bọn cướp biển kia cũng là một loại cá mập có phải không chị? Có thể là vì bị những con cá mập khác trên lục địa chèn ép cho nên chúng mới ra biển để làm cá mập trên thuyền. Cá mập dưới biển rỉa hàng chục, hàng ngàn đồng bào của chị. Cá mập trên thuyền lại rỉa hàng chục ngàn đồng bào khác. Chị bị ba con cá mập rỉa đói. Chị đã gánh chịu một phần cái khổ đau cùng cực của đồng bào chị. Trong chúng ta, có ai mà không bị thương tích? Có ai mà bảo tồn toàn vẹn được thân thể và tâm hồn? Với con mắt em, em vẫn thấy chị trong trắng và trinh bạch một cách hoàn toàn. Bọn cướp biển bức bách chị, cưỡng đoạt chị, nhưng không lấy được gì của chị hết. Chị chưa bao giờ muốn đem thân thể của chị để đưa cho chúng nó. Chị không có lỗi lầm gì hết. Vết thương của chị, cũng như vết thương do một con cá mập gây ra, một ngày kia sẽ lành. Miễn là chị phải chạy chữa đừng để nó làm độc. Vết thương làm độc thì chị chết. Vết thương có thể làm độc tinh thần chị cũng như làm độc thể xác chị. Chừng mười ngày nửa tháng nữa thì chị em mình có thể qua được bờ bên kia. Chúng ta sẽ cố gắng xin với một bác sĩ chữa trị và chặn đứng chất độc của vết thương trong thân thể chị. Còn vết thương tinh thần thì không có bác sĩ nào chữa trị được cho chị hết. Chị phải chữa trị lấy.
Những lời nói của Hồng thấm dần, thấm dần vào toàn thân Đào. Cô nằm im lặng. Nước mắt cô tuôn trào nhưng cô đã cảm thấy dễ chịu hơn. Một lúc lâu sau đó Hồng nói:
- Hồi ở nhà em được nghe bà ngoại em tụng Tâm Kinh Bát Nhã mỗi buổi tối. Em không hiểu lời kinh, nhưng mỗi lần nghe kinh là em thấy khỏe khoắn trong người. Chị mệt lắm, buồn lắm phải không? Chị im lặng để em đọc Tâm Kinh cho chị nghe nhé?
Rồi không đợi Đào trả lời, Hồng bắt đầu đọc Tâm Kinh Bát Nhã theo giọng của bà ngoại Hồng. Em đọc Tâm Kinh này luôn nhiều lần. Càng nghe Đào càng thấy nỗi đau của mình lắng xuống, êm dịu lại. Nước mắt vẫn chảy trên má cô, nhưng nước mắt bây giờ ngọt như nước cam lộ. Hồng chưa đọc xong hết “biến” thứ tư thì Đào đã thiếp đi. Cô ngủ cho đến sáng hôm sau khi nắng lên thì cô mới thức dậy.


:nu:


Khi Đào thức dậy thì không thấy Hồng đâu cả. Nghĩ rằng Hồng thức dậy trước mình và đi chơi đâu đó lang thang trên đảo, Đào tới gần suối vốc nước rửa mặt. Cô lấy nước suối vã lên đầu tóc để rửa bớt chất mặn của nước biển. Rồi cô leo lên một tảng đá, nhìn quanh bốn phía. Nắng đã chiếu tràn lan trên mặt biển và hải đảo. Trời vẫn trong không một gợn mây. Chợt cô thấy xót xa trong ruột. Cô chạy về lấy một tấm bánh, cắn từng miếng nhỏ, nhai thật kỹ trước khi nuốt. Bánh thơm và có nhiều chất béo, rất là ngon miệng. Cô không dám ăn thêm, sợ thùng bánh mau hết. Cô vốc nước ngọt uống đầy bụng. Rồi cô mở bọc áo quần ướt ra quan sát. Trong bọc còn có một bộ bà ba màu tím, một cái áo montagut màu sữa đã cũ, một cái khăn tắm màu vàng khá lớn và một bộ đồ bà ba của trẻ em màu khói hương. “Bộ đồ này chắc Hồng mặc vừa”, cô nghĩ như vậy và đem các thứ nói trên tới bờ suối để giặt. Áo quần còn sạch, cô chỉ cần xả đi cho hết mùi nước biển mà thôi. Cô vắt tất cả cho ráo nước và đem phơi trên những tảng đá có nắng chiếu vào. Cô làm xong việc mà Hồng vẫn chưa về. Cô đưa hai tay chụm lên miệng và gọi lớn tên Hồng nhưng không nghe tiếng Hồng đáp lại. Tiếng của chính cô dội lại làm cô hơi lo sợ. Cô bèn yên lặng. Men theo bờ suối cô đi lên đảo, với hai bàn chân không. Cô chọn những chỗ có cỏ hoặc có tảng đá để bước cho đỡ đau chân.
Cây cối trên đảo toàn là cây dại. Để ý, cô trông thấy một cây ổi. Cô hái một lá, vò nát, để lên mũi ngửi. Đúng là mùi thơm của lá ổi. Cô mừng như gặp một người thân. Nhà ngoại cô ở Cần Thơ có một cây ổi. Hồi còn bé cô cứ hay trèo lên cây ổi đó để chơi và để hái ổi ăn. Ngoại cô cứ rầy tại sao con gái mà lại leo cây, cô không hiểu. Nhưng cô không nghe lời ngoại, cứ leo lên cây ổi đó hoài. Đứng trên một cành ổi mà nhún thì vui lắm. Nhành ổi rất dẻo, ít khi nào bị gãy. Thằng Văn, em cô có lần trèo lên cây bông sứ trước nhà bị té, bởi vì lần ấy cái cành sứ trên đó nó đứng nhún bị gãy. Cô biết cành sứ dễ gãy cho nên không trèo lên cây sứ. Vả lại cây sứ mọc ở sân trước, cô không muốn cho những người qua lại thấy cô trèo cây.
Trong thế giới lạ lùng này, cây ổi là một người quen. Cô lưu luyến đứng dưới gốc nó. Nhìn lên, cô chỉ thấy mấy trái ổi non. Nhưng cô rất muốn nếm, cô rất thèm hương vị của ổi. Cô nhìn quanh xem có ai không (lạ chưa, trên hoang đảo này có thể có ai mà phải nhìn) rồi nắm một cành ổi, nhún chân nhảy lên thân ổi. Cô không nhảy lên được, bởi vì sức cô đã quá yếu. Cô bèn bẻ một cành cây khô, khoèo nhánh ổi xuống. Một lúc sau, cô vít được cành ổi, kéo nó xuống thấp, và hái được trái ổi non. Cô lấy tay chùi vỏ ổi và đưa lên miệng cắn. Trái ổi non chát lắm, nhưng hương vị quen thuộc của nó làm cho cô sung sướng vô cùng. Mới xa cách quê hương có hai tuần lễ, mới xa cách loài người chưa được trọn một ngày tròn mà cô có cảm tưởng đã xa cuộc sống quen thuộc cũ có hàng trăm năm và cách biệt với loài người cách hàng ngàn thế giới.
Nhờ có cây ổi, Đào nhận thức được rằng mình đang đứng trên trái đất, giữa một hoang đảo trong vịnh Thái Lan. Cô nhìn ra trước mặt. Mặt trời ở phía trái của cô, đó là phương Đông, nơi cô đã ra đi. Bên phải cô là bến bờ Thái Lan và xa xa, về phía Tây Nam, là bờ biển Mã Lai, nơi chiếc ghe của Đạt đang trôi dạt tới. Cô tin lời bé Hồng như tin lời một người lớn. Cô bé thật là lạ. Mới từng đó tuổi mà phong độ giống hệt người lớn, nói năng như một người lớn. Càng nghĩ cô càng lấy làm lạ. Từ chiều hôm qua cho đến bây giờ nhiều thay đổi đã xảy tới trong tâm hồn cô và tất cả đều do con bé gây ra. Nếu không có nó chắc cô đã gieo mình xuống biển chiều hôm qua để chấm dứt cuộc đời mình. Một con bé mười tuổi, nhiều lắm là mười một, không thể nói lên những lời từng trải và thấm thía như Hồng đã nói hồi hôm với cô. “Chị đã gánh chịu một phần cái khổ đau cùng cực của đồng bào chị. Trong chúng ta, có ai mà không bị thương tích? Có ai mà bảo tồn toàn vẹn được thân thể và tâm hồn? Em thấy chị còn trong trắng và trinh bạch hoàn toàn. Bọn cướp biển bức bách chị, nhưng chúng không lấy được gì của chị hết... Vết thương của chị cũng như vết thương do một con cá mập gây ra...”.
Chính những lời nói đó đã khởi sự làm dịu bớt nỗi đau trong tâm hồn Đào. Biết bao nhiêu là sự khôn ngoan được chất chứa trong từng ấy câu nói. Ngồi trên ghế học đường bao nhiêu năm Đào đã học được gì để chuẩn bị đi vào đời? Một cô bé mười tuổi đã dạy cho Đào nhiều hơn mười năm đèn sách. Nhưng Hồng là ai? Tại sao Hồng không chịu trả lời những câu hỏi của Đào? Tại sao em lên được hoang đảo này với một thùng bánh và một bao quần áo? Tại sao em biết được ghe của Đào hiện đang theo gió tấp về phía Tây Nam? Tại sao một em bé gái mười tuổi mà lại bình thản và khôn khoan gấp mấy lần một thiếu nữ mười chín như Đào? Hay Hồng chỉ là một con ma? Nghĩ đến đó Đào thấy lạnh run, dù trời đã bắt đầu nắng gắt. Cô men theo lối cũ tìm về chỗ phơi áo để xem lại áo quần cô giặt sáng nay còn không, và thùng bánh cô ăn hôm qua và sáng nay có phải là bánh thật hay không, hoặc tất cả chỉ là giẻ rách và đất sét do ma biến hiện. Nhưng không, Hồng không thể là ma được. Bộ quần áo Đào đang mặc đây đúng là bộ áo quần của Hồng đưa từ tối hôm qua. Cô còn nhớ rất rõ là hôm qua khi tỉnh dậy trên bãi cát, cô không có một mảnh vải che thân. Mà kia rồi, những bộ áo quần cô giặt còn kia, đang được phơi trên các gộp đá. Mà thùng bánh cũng còn kia. Áo quần đã khô, cô đi thu góp và xếp lại thành một chồng. Hồng không thể là một bóng ma được. Nhưng Hồng đi đâu mà bây giờ chưa về? Cô lo ngại. Cô định trèo lên mỏm đá cao gần đấy để nhìn quanh thì bỗng nghe tiếng cười trong trẻo của Hồng từ phía bờ cát. Ngoảnh lại, cô thấy Hồng từ bờ cát đi lên, áo quần cô bé vẫn khô ráo không dính một giọt nước.
Tiếng cười trong trẻo của Hồng làm cho những sợ hãi của Đào tan biến trong chốc lát. Quả thật, đó là tiếng cười của trẻ con, sáng và dòn như thủy tinh. Vậy mà hồi nãy Đào đã nghĩ rằng Hồng là ma. Đào nói lớn, giọng hơi trách móc:
- Em đi đâu mà quá trưa mới chịu về như thế? Chị đi tìm em mãi mà không gặp.
Hồng đã tới bên Đào và chỉ cho Đào thấy những đám mây đen đang tụ họp phía chân trời Đông Nam:
- Sắp có cơn mưa giông rồi đó chị, ta đi kiếm chỗ trú ẩn đi thôi.
Hồng kéo Đào đi về phía những tảng đá lớn. Một lát sau, hai người tìm ra được một hốc đá khá rộng và khá kín đáo:
- Chị ngồi đây, để em trở lại mang thùng bánh và bọc quần áo, Hồng nói với Đào.
Đào nhặt những viên sỏi dưới đất và ngồi xuống, lưng cô dựa vào vách đá. Trời bỗng nhiên tối sầm lại. Gió thổi ào ào làm ngả nghiêng các thân cây phía trước. Những giọt mưa nặng bắt đầu rơi lộp bộp như có người ném đá. Một tia chớp sáng lòe xẹt ngang, tiếp theo là một tiếng sấm nổ lớn gần như ở phía trên đầu của Đào. Cô đang run rẩy thì Hồng vừa chạy tới, một tay ôm thùng bánh, một tay xách bọc áo quần. Cô đỡ những thứ đó trên tay Hồng, đặt xuống đất, ôm Hồng vào lòng và lấy tay vuốt phủi những giọt mưa trên tóc và trên áo Hồng. Cô bé để yên cho Đào săn sóc và âu yếm. Mưa trút ào ào nghe như tiếng thác đổ, nhưng chỗ hai người ngồi không hề bị ướt. Mặt biển lúc này chắc là đầy sóng gió. Hồng từ từ mở mắt và nói với Đào:
- Biển nổi gió thế này thì có nhiều ghe tị nạn chìm lắm chị ạ
Đào trầm ngâm. Trong trí tưởng tượng của cô, cô thấy hình ảnh những chiếc ghe trẻ em và phụ nữ đang bị sóng nhồi ngang ngửa trên mặt biển. Những cánh tay đưa chới với. Những tiếng kêu la kinh hoàng lạc trong mưa gió. Những thân hình chìm nghỉm dưới biển sâu. Và những đàn cá mập quanh quẩn chờ đợi, sẵn sàng lao tới. Trái tim cô như bị một bàn tay ác nghiệt nào bóp chặt. Lòng cô xao xuyến, cô tự hỏi không biết tại vì sao từ hơn nửa thế kỷ nay đồng bào của cô không ngày nào mà không chịu cảnh tai ương chết chóc. Cô nhìn Hồng thì thấy hai má em bé ướt đẫm nước mắt. Thì ra Hồng cũng đang lặng lẽ khóc. Nhìn Hồng khóc, cô bỗng thấy niềm đau của cô dịu đi, trái tim cô như được bàn tay ác nghiệt kia buông thả. Cô lấy vạt áo lau nước mắt cho Hồng. Hai người lặng yên không nói gì. Đào thầm ước cho mưa chóng tạnh, gió chóng yên. Nhưng mưa vẫn giăng mịt mùng đầy trời và gió vẫn ào ào bốn phía. Nằm trong tay cô, Hồng nhắm lại như ngủ. Hơi thở của em nhè nhẹ. Cô có cảm tưởng đang ôm tất cả những gì cô thương yêu trong lòng. Sự có mặt của Hồng trên đảo này thật là một điều nhiệm mầu, lạ lùng khôn tả.
Mưa cho tới gần bốn giờ chiều mới dứt. Mây quang, trời tạnh và mặt trời lại ló dạng. Hoang đảo có vẻ dịu mát. Đào và Hồng rủ nhau lên đứng trên một tảng đá lớn. Hai người phóng mắt về phía chân trời. Vẫn không thấy có bóng một ghe thuyền nào. Có lẽ nhiều chiếc đã chìm trong thời gian sóng gió.
Đào kéo Hồng ngồi xuống tảng đá và bảo Hồng kể chuyện Hồng cho Đào nghe. Hồng ngần ngại. Nhưng bỗng em cười rất tươi, và giao hẹn với Đào:
- Em sẽ kể chuyện cho chị nghe, nhưng hôm nay em chỉ kể một nửa thôi nhé. Còn một nửa chị phải đợi tới ngày mai. Chị có bằng lòng thì em mới kể.
Đào bằng lòng. Hồng ậm ừ một lát rồi mới bắt đầu nói.


ST rose


còn tiếp




Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Biển mặn nước mắt....   Tue 06 Dec 2011, 12:57




Hồng

Hồi đó Hồng còn bé lắm. Thế giới của Hồng chỉ rộng bằng đôi cánh tay của má Hồng. Nằm trong thế giới đó, em thấy ấm áp và yên lành. Hồng có biết đâu rằng hai cánh tay đó của bà đã chống đỡ cả một vũ trụ giông bão bên ngoài để bảo tồn được cái không khí an lành vô tư mà trong đó em được ấp ủ. Mãi tới gần đây, em mới thấy được một đôi chút cái thế giới của người. Ngày xưa tại Vĩnh Long, ba má Hồng có một nhà máy nước đá và một tiệm tạp hóa. Ông bà trông nom hai cơ sở đó và được người ăn người làm thương mến. Tại miền quê, gần sát nhà của bà ngoại Hồng, ba má Hồng còn gầy dựng được một vườn cây ăn trái, có hơn ba trăm gốc xoài, một trăm gốc nhãn và gần sáu chục gốc sầu riêng. Chiến tranh đã cướp mất ba Hồng và làm tan nát cửa hàng tạp hóa. Khi chính phủ lâm thời của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam lên nắm chính quyền, má Hồng quyết định về quê. Bà đem nhà máy nước đá và tất cả vốn liếng tài sản làm ăn ở thị xã cống hiến cho nhà nước. Bà chỉ muốn giữ lại có vườn cây ăn trái ở quê ngoại Hồng. Về quê được một tháng thì má Hồng sinh cho Hồng một đứa em trai kháu khỉnh. Hồi ba Hồng bị lạc đạn chết ở thị xã Vĩnh Long thì bà mới có thai thằng nhỏ được hai tháng. Em của Hồng tên là Bích. Nó giống ba Hồng như tạc. Má Hồng và Hồng rất thương yêu Bích. Hồng đi học trường làng. Mỗi chiều, má Hồng ẵm Bích và dắt Hồng đi chơi giữa những cây xoài, cây nhãn. Kể ra vườn cây ăn trái của nhà Hồng rất đáng giá, ba mẹ con có thể sống sung túc nhờ tiền bán trái cây. Ba Hồng trước kia đều có ủng hộ tài chính cho Cách Mạng, trích trong tiền huê lợi thâu được của nhà máy nước đá và tiệm tạp hóa. Sau khi dâng hiến cho nhà nước các cơ sở này, má Hồng nghĩ rằng bà vẫn có thể tiếp tục ủng hộ cho nhà nước cách mạng mỗi năm bằng cách lấy bớt hai mươi phần trăm tiền bán trái cây trong vườn để hiến cho cách mạng. Trong một bữa cơm thịnh soạn mà bà bỏ công nấu để đãi người cán bộ xã quen thuộc, bà đã tỏ lộ thiện ý ấy. Người cán bộ công nhận thiện ý của bà, nhưng khuyên bà nên biến mấy mẫu đất trồng cây ăn trái thành ruộng lúa. Bà rất ngạc nhiên. Mười mấy năm trời với bao nhiêu công khó nhọc mới gầy dựng được sở vườn. Bây giờ đốn ngã hết bao nhiêu cây quý để mà làm ruộng, điều đó bà không thể tưởng tượng ra được. Nhưng người cán bộ nói rất chân thành. Anh bảo hiện giờ đất nước cần lúa gạo hơn là những thứ trái cây xa xỉ. Nếu bà không nghe lời thì tiền bán trái cây thu được mỗi năm sẽ không đủ để trả tiền thuế, lấy đâu ra mà mua gạo cho con ăn, đừng nói hiến hai mươi phần trăm cho nhà nước. Nếu bà trồng lúa thì thuế sẽ ít hơn nhiều. Đã quen với việc làm ăn, má Hồng cho việc đốn cây ăn trái để trồng lúa là việc điên rồ nên bà không chịu nghe theo. Nhưng người cán bộ đã nói đúng và nói thành thực. Sau khi nhà nước đến kiểm kê và nói cho bà biết tiền thuế của mỗi gốc xoài, gốc nhãn, gốc sầu riêng, bà mới ngã ngửa. Nhưng sức phản kháng lớn quá khiến bà không chịu đốn xoài, nhãn và sầu riêng để trồng lúa. Bà làm giấy hiến dâng sở vườn cho chính phủ rồi ôm thằng Bích và dắt con Hồng lên thị xã sống nhờ một người quen. Đây là một người bạn học cũ rất thân của má Hồng. Chồng bà đã đi học tập, bà ở nhà buôn bán qua ngày để nuôi ba đứa con. Bà đề nghị má Hồng nấu cháo vịt để bán, và chia một căn phòng trong nhà cho ba mẹ con Hồng. Được hai năm thì tiền vốn của má Hồng cạn. Bà cũng lâm vào cùng một tình trạng. Hai gia đình không có đàn ông ở chung một nhà. Hai bà mẹ tìm trăm phương ngàn kế mà không có cách nào nuôi nổi năm đứa trẻ. Họ bán dần tư trang, áo quần và tất cả những gì bán được. Có những đêm đói quá, ba mẹ con Hồng nằm ôm nhau trên bộ ván mục, cố sức ngủ để quên đói mà không thể nào ngủ được. Ngoại Hồng mất đã lâu rồi nên má Hồng cũng không còn rút lui được về miền quê.

Một hôm bác Bảy Nhiêu tới rủ ba mẹ con Hồng vượt biển. Vượt biển? Có ai quen bên phía trời kia mà vượt biển? Bác Bảy Nhiêu là người cùng làng, ngày xưa đã từng chịu ơn ba má Hồng. Hai người con trai của bác sắp bị đi lính sang Cam-pu-chia cho nên bác muốn chúng nó đi trốn. Bác nghe nhiều người vượt biển hiện giờ sống bình an và còn gửi tiền về giúp cho gia đình. Trong cơn túng quẫn bác muốn đem hai người con bác bỏ nước trốn đi. Bác có một chiếc ghe. Bác đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Bác cho hai gia đình khác cùng đi, mỗi gia đình phải góp tiền để đủ mua dầu, nhớt và thực phẩm cho mọi người ngày ra biển. Tất cả khi chuẩn bị đầy đủ; còn ba chỗ ngồi trên ghe, bác muốn dành cho ba mẹ con Hồng. Má Hồng không nghĩ là mình đi tị nạn chính trị. Bà chỉ nghĩ rằng ở đất này mình sống không được thì mình đi đất khác. Nghe nói ra biển gặp tàu ngoại quốc thì mình được họ vớt lên và mang về xứ họ liền. Mẹ con bà đói quá, vậy bà phải đi. Cũng như hai cậu trai kia không muốn đi lính qua Cam-pu-chia thì cũng phải đi. Sau mấy ngày suy nghĩ, má Hồng quyết định đi theo bác Bảy. Ba mẹ con sắp đặt về quê theo bác. Hồng không có gì đem theo cả. Cái áo Hồng mặc trên người là cái áo đẹp nhất của em. Chiếc quần xa lanh trắng của em cũng đã mòn gấu. Và một đôi giầy cao su trên hai bàn chân nhỏ. Đoàn người chia làm hai nhóm đi suốt đêm trong rừng rậm. Trẻ con được cho uống thuốc ngủ để khỏi khóc. Quanh quẩn trốn tránh gần tới hai ngày hai đêm họ mới tới được chỗ giấu ghe. Ghe vừa mới đi ra đã thấy bóng dáng của bốn chiếc thuyền đánh cá quốc doanh, nên lại phải quay trở lại trốn tránh. Đêm sau ghe ra bình yên. Đến sáng thì tới hải phận quốc tế. Tưởng rằng tới đây là thoát, ai ngờ ra tới đây mới là bắt đầu đi vào cuộc mạo hiểm. Ghe chạy được một ngày thì hỏng máy. Bác Bảy loay hoay mãi mà không chữa được. Ghe bắt đầu dềnh dàng trôi nổi trên biển cả, không có cách gì điều khiển được. Ai nấy đều cầu nguyên cho một chiếc tàu ngoại quốc đi qua để mọi người được vớt lên. Nhưng suốt bốn năm ngày trôi dạt, ghe không gặp một chiếc tàu hay một chiếc ghe nào khác. Không ai biết được hiện giờ ghe đang trôi nổi ở vị trí nào trong vịnh Xiêm La.

Kể tới đây, Hồng nhìn Đào và hỏi:
- Ghe của chị có gặp tàu ngoại quốc nào không hả chị?
Đào gật đầu:
- Có, ghe của chị có gặp một tàu Nga, hai tàu Panama, một tàu Úc, một tàu Singapore và một tàu Hoa Kỳ. Thấy ghe chị, chiếc nào cũng làm lơ, đi thẳng. Chị không biết tại sao họ tàn nhẫn như thế. Má chị thường nói cứu một mạng người thì có phước nhiều lắm. Phước nhiều hay không thì chưa biết, nhưng chị chắc chắn là niềm vui khi cứu được một người lâm nạn phải là một niềm vui lớn. Những chiếc tàu kia coi mạng sống của đồng loại không bằng mạng sống của một con kiến. Thật là nhục nhã. Vậy mà chị cứ tưởng loài người là văn minh...
- Trước đây cũng có nhiều chiếc từng vớt người chị ạ. Nhưng một khi cứu người lên rồi thì không có bến nào chịu đón nhận người tị nạn, dù là tạm thời. Không có nước nào muốn chấp nhận người tị nạn. Các trại tị nạn ở Mã Lai, Nam Dương và Thái Lan mà có được là do sự can thiệp của Phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Bất đắc dĩ các nước đó mới phải chấp nhận cho người tị nạn lên bờ. Họ âm thầm ra lệnh cho cảnh sát mỗi khi có ghe tị nạn tới thì đẩy lui ra hải phận quốc tế. Vì vậy có rất nhiều ghe tị nạn đi vòng lang thang ngoài biển và cuối cùng bị sóng gió nhận chìm.
Đào mở to hai mắt:
- Sao mà em biết được những chuyện đó, hả Hồng? Em đọc những điều đó ở sách báo nào thế?
Hai mắt cô bé đượm buồn:
- Em biết vì em biết, thế thôi chị ạ. Em không có đọc sách báo nào cả. Tân Gia Ba là một trong những xứ tàn nhẫn nhất. Có những ghe lén vào được bờ và người trên ghe nhận chìm thuyền để khỏi bị đuổi ra biển trở lại. Họ liền bị bắt nhốt và không ai biết họ bị giam ở nơi nào. Nếu nhà báo biết được, hoặc một tòa đại sứ nào hay được, hoặc có vị đại diện Liên Hiệp Quốc nghe tin, thì đó là một diễm phúc cho người bị bắt. Chính quyền Tân Gia Ba sẽ không thủ tiêu họ. Và dần dà họ cũng được một tòa đại sứ Tây Phương bảo lãnh để đem sang nước họ. Còn những người không ai biết đến thì có thể nằm mãi trong lao cho đến chết. Nhiều thuyền tị nạn ghé Mã Lai bị cảnh sát Mã bắn dọa để đuổi và có khi bắn thật vào thuyền làm thiệt mạng hoặc bị thương nhiều người. Số thuyền bị đuổi ra và chìm ngoài hải phận quốc tế không thể nào đếm được thưa chị. Có một lần em trông thấy hai chiếc ghe tị nạn ghé vào bờ Mã Lai, khoảng mười lăm cây số về phíaNam thành phố Mersing. Một chiếc chở sáu mươi hai người và một chiếc năm mươi bốn. Cả thảy là một trăm mười sáu người, trong số đó có hai phần ba là trẻ em. Tất cả đứng trên bãi cát, run rẩy xin vào tị nạn. Nhưng cảnh sát Mã Lai không có quyền cho phép. Họ buộc dân tị nạn leo lên thuyền để họ đuổi ra hải phận quốc tế. Mọi người than khóc, cầu khẩn nhưng vô hiệu. Có người nói rằng hai chiếc ghe đã bị hư hỏng, không thể nào ra biển lại được. Sau khi xem xét ghe, cảnh sát đi tìm thợ mộc trong một làng gần đấy để trám lại thuyền. Bốn giờ đồng hồ sau, mọi người bị đuổi lên ghe, trở ra hải phận quốc tế. Liền khi ghe mới ra khỏi vùng nước Mã Lai, sóng biển nhận chìm chiếc ghe chở sáu mươi hai người. Mọi người trên chiếc ghe thứ hai đều chứng kiến cảnh tượng hãi hùng đó. Thật chưa có cảnh thất vọng nào lớn lao hơn nữa. Người chỉ huy ghe thứ hai nhất định cho ghe cập bến trở lại dù bị tù hay bị bắn. Khi tới bến họ phá hủy chiếc ghe và ngồi lì trên bãi. Cảnh sát không biết phải làm gì hơn, mới đem họ vào tạm trú trong một cái nhà kho mục nát gần đó. Dân làng tự động đem tới cho họ cơm và thức ăn. Trẻ con và phụ nữ than khóc như ri. Đàn ông thì im lặng; người nào người nấy chỉ nhìn vào khoảng không, chẳng nói năng mà cũng không ăn uống. Trong số sáu mươi hai người của chiếc ghe bị chìm chỉ có hai người đàn ông sống sót. Họ đã bơi lội mấy tiếng đồng hồ và đã được một ghe đánh cá Mã Lai vớt. Nhưng khi lên bờ họ bị đem đi đâu biệt tích. Cảnh sát dọa năm mươi bốn người kia không được kể chuyện chiếc ghe chìm cho bất cứ ai, nếu không thì họ sẽ bị bỏ lên một chiếc ghe cũ và đuổi ra hải phận quốc tế trở lại. Số phận của hai người kia về sau không rõ. Có thể họ đã bị thủ tiêu để cho câu chuyện kia được giữ kín đối với báo chí quốc tế. Những cảnh thương tâm như vậy xảy ra luôn luôn chị ạ, không tuần lễ nào là không có.
Hồng nói tự nhiên như Hồng kể lại chính những chuyện mắt thấy tai nghe của mình, chứ không phải là lặp lại những điều đã nghe người khác nói. Nét mặt Hồng vừa trang nghiêm, vừa đượm buồn. Không biết tại vì đâu mà Đào lại tin chắc rằng những điều Hồng nói là có thực, dù cô rất ngạc nhiên không hiểu sao cô bé ngồi trước mặt lại có thể biết, có thể thấy và nghe được nhiều điều như thế. Nhưng cái ngạc nhiên của cô không lớn bằng nỗi khổ đau đang dâng lên trong tâm hồn cô. Cô đã tưởng rằng những khổ nhục mà cô chịu đựng vì máy hư, vì đói khát và vì bọn cướp biển là những khổ nhục cùng cực rồi. Bây giờ cô mới thấy thảm trạng của những đồng bào cô. Bao nhiêu người đã chết dưới biển sâu? Cô không dám nghĩ tới. Cô chỉ biết là nhiều lắm, nhiều lắm. Đất nước mình mà mình không được ở, đem thân tới nước người cho họ bắn giết xua đuổi, hãm hiếp, cướp bóc và cuối cùng cũng chết dưới biển sâu. Hai hàng nước mắt lại tuôn ra, cô gục đầu khóc trên vai Hồng. Nắng đã tắt, gió chiều đã chuyển lạnh. Hồng đứng dậy. Em đi lấy bánh và nước suối cho Đào.
Đêm đã khuya mà Đào còn trăn trở mãi. Cô nghĩ tới chiếc ghe của Đạt, không biết giờ này trôi dạt phương nào. Trên ghe không còn thực phẩm, không còn nước uống và mọi người đều đã kiệt lực. Dù ghé được tới bến Mã Lai đi nữa thì liệu những người trên ghe có được đưa vào một trại tị nạn hay không? Hay là cảnh sát lại kéo ghe ra để cho ghe chết chìm như những ghe khác? Đạt mà chết thì cô không còn thiết sống nữa. Hồng đã nói rằng mình không được ích kỷ nghĩ đến cái chết của mình. Mình phải sống cho mẹ và cho các em. Đào nói thầm: “Thưa mẹ, con sẽ sống, con sẽ sống vì mẹ và vì các em con.” Đào nằm khóc như mưa.
Nhưng Hồng đã tỉnh giấc trẻ thơ. Em nghe tiếng Đào khóc và nhỏm dậy, vỗ về Đào. Như đọc được niềm đau khổ của Đào, em nói:
- Đã có những ghe ghé vào đúng bờ của trại tị nạn và được chấp nhận. Chị đừng lo buồn quá. Anh Đạt và những người đồng hành tuy hết lương thực nhưng còn cầm cự được ít ra cũng là vài hôm nữa. Nếu gặp được một ghe đánh cá nhân từ thì thế nào ghe của anh cũng được đưa vào bến bờ an ổn.
- Nhưng ít khi mình được gặp may như thế lắm, em Hồng. Chị chỉ sợ...
- Chị đừng sợ; chị đã bị một tên hải tặc hất xuống biển rồi mà có sao đâu. Có nhiều chuyện kỳ lạ đã xảy ra. Mấy tháng trước đây có bảy người thanh niên, bốn trai ba gái, đi trên cùng một chiếc ghe nhỏ không có máy đẩy. Họ chỉ dùng chèo bơi tay mà cũng tới bến Thái Lan và được chấp nhận vào trại Songkhla. Có một gia đình hai con, một đứa bốn tuổi, một đứa hai tuổi, trốn đi trên một chiếc ghe nhỏ, chiều dài bảy thước, chiều ngang một thước sáu. Khi chưa ra khỏi vùng biển Rạch Giá thì ghe bị bắn theo và người chồng trúng đạn giữa ngực. Ghe của họ lấy hết tốc lực chạy ra khỏi tầm súng, nhưng người cha chết trên ghe hai ngày sau đó. Bà mẹ, với hai đứa con thơ, đã cầm cự một mình với biển cả suốt cả bảy ngày bảy đêm, và cuối cùng cũng tấp vào được bờ biển Thái Lan. Có nhiều chiếc ghe đang chìm thì có tàu hoặc ghe đánh cá đi ngang cứu kịp. Vũ trụ có đầy chuyện lạ lùng mà ta chưa từng thấy từng nghe, thưa chị. Thế giới của chúng mình quanh quẩn chỉ có gia đình, trường học, chợ búa, hàng quà, rạp xi nê và xã hội mua bán. Chúng ta tưởng rằng giác quan của chúng ta là những cửa sổ mở ra ngoài vũ trụ, và những điều chúng ta nghe thấy và sờ mó được chính là hình ảnh trung thực và toàn vẹn của vũ trụ bên ngoài. Khoa học đã hé cho ta thấy một ít sự thật về cái vũ trụ thực ngoài ta. Ánh sáng, âm thanh, và nhiệt độ mà tiếp nhận không phải đích thực là ánh sáng, âm thanh và nhiệt độ trong vũ trụ. Mắt ta chẳng hạn, chỉ tiếp nhận được những tia sáng mà ba trường chỉ là từ bốn trăm đến tăm trăm phần triệu của một ly. Nhưng trong vũ trụ còn có rất nhiều quang ba mà ba trường dài hơn hoặc ngắn hơn, vì vậy giác quan ta không tiếp nhận được. Nếu ba trường chỉ dài khoảng bốn trăm phần triệu của ly thì ta thấy màu tím. Nếu ba trường dài tới tám trăm phần triệu của ly thì ta lại thấy màu đỏ. Như vậy, màu đỏ và màu tím cũng như các màu khác, chỉ là chiều dài của những ba trường, và màu sắc tự chúng không có bản thể. Một bông hoa màu đỏ không phải là vì bông hoa ấy có màu đỏ mà vì khi tiếp nhận ánh sáng tự nhiên, bông hoa ấy thu hút tất cả những quang ba có ba trường ngắn và chỉ phản chiếu lại trong mắt ta những quang ba có ba trường dài. Chị học vật lý chắc chị biết những điều đó rồi. Em nhắc chị là để chị nhớ rằng những chuyện kỳ bí, lạ lùng trong vũ trụ không phải đi tìm đâu xa; nó ở ngay trong cuộc sống hàng ngày. Nhiều khi mình phải nghi ngờ cái thấy và cái nghe của mình, bởi vì cái thấy và cái nghe của mình có thể sai lạc chị ạ. Chị có nhớ hồi chiều khi chị em mình nhìn cái mặt trời đỏ chói đang từ từ lặn xuống biển hay không? Lúc đó ta tưởng như là ta đang trông thấy mặt trời của hiện tại. Kỳ thực mặt trời mà ta trông thấy đó chỉ là một mặt trời của quá khứ, trong khi mặt trời hiện tại đã lặn xuống biển trước đó tám phút rồi. Ta có thể nói là ta chẳng bao giờ thấy được mặt trời của hiện tại, và ánh sáng sưởi ấm cho chúng ta hàng ngày là ánh sáng của một mặt trời quá khứ. Chị thấy không? Vì vậy cho nên ta phải tỉnh táo, đừng để cho những điều ta thấy, nghe và nghĩ che lấp cái vũ trụ mầu nhiệm bên ngoài. Ở Sài Gòn, có khi nào chị nghĩ tới rằng một ngày kia chị sẽ nằm ngủ gối đầu trên một cái rễ cây nơi chốn hoang đảo cách biệt này không? Có bao giờ chị nghĩ đến những cảnh tượng hãi hùng trên biển không? Vậy mà những điều đó đã xảy tới cho chị. Cũng may mà ngoài những cảnh tượng đau nát lòng kia vũ trụ còn dành cho ta những hiện tượng mầu nhiệm khác. Chị đừng lo lắng và sầu khổ quá mà mất đi phần sáng suốt của tâm não. Hãy giữ tâm hồn chị bình thản mà tiếp nhận những điều mầu nhiệm ấy. Thôi, đêm đã khuya, chị cần phải ngủ. Ngày mai em sẽ kể tiếp cho chị nghe chuyện của em như em đã hứa. Bây giờ để em đọc Tâm Kinh Bát Nhã cho chị nghe và em chúc chị yên giấc.

Hồng lại lấy giọng của bà ngoại mà đọc Tâm Kinh Bát Nhã: "Bồ Tát Quán Tự Tại đi sâu vào phép quán Bát Nhã, thấy được năm uẩn là không, vượt được tất cả mọi khổ đau ách nạn. Này người con của Xá Lợi, sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy...". Lời kinh êm dịu như mưa rơi nhẹ trên cỏ cây hoa lá. Đào nằm yên để cho lời kinh tác động trên tim trên óc mình. Cô mơ thấy một dòng nước mắt chảy trong một cánh đồng có lấm tấm các bông hoa vàng, tím,...

:nu:


còn tiếp


Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Mênh mông...   Thu 08 Dec 2011, 17:38




Hồng


Ngày thứ ba trên đảo vắng. Sáng thức dậy Đào lại thấy vắng Hồng. Cô bé này ưa đi chơi thật sớm, Đào suy nghĩ. Cô xuống suối vốc nước rửa mặt, lấy bộ áo bà ba màu tím ra thay, giặt bộ đồ cũ và đem phơi. Đợi mãi mà chưa thấy Hồng về, cô liền lấy hai chiếc bánh lạt ra ăn rồi vốc nước suối uống. Cô lại ngược dòng suối đi lên đảo, mong tìm gặp Hồng. Đi ngang qua cây ổi hôm trước, cô dừng lại, hái thêm một trái ổi non và đứng ăn dù trái ổi chát đắng khiến cô nhăn mặt. Chợt thấy mấy cây rau tàu bay mọc gần đấy, cô lại gần ngắt đọt định đem rửa để ăn sống cho đỡ xót ruột. Đi một lát nữa, cô lại tìm thấy mấy cây rau sam và rau dền. Cô hái mỗi thứ một nắm, rồi trở về nơi hốc đá. Hồng vẫn chưa về. Cô trèo lên tảng đá cao nhất và quan sát mặt biển. Biển bao la quá, cô không thấy bóng một chiếc ghe nào cả. Cô lấy làm lạ không biết Hồng đi đâu mà sáng nào cũng biệt tích. Cô lại bắt tay lên miệng làm loa để gọi Hồng. Cô gọi đến hết hơi mà không thấy Hồng trả lời. Thất vọng, cô ngồi phịch trên tảng đá. Nhưng cô nhận thấy rằng cô không còn sợ tiếng vang của âm thanh cô vọng lại như ngày hôm qua.
Mặt trời lên tới đỉnh đầu mà Hồng đi chơi vẫn chưa về. Cô rất muốn đi tìm Hồng nhưng lại sợ lạc. Hồng đã lạc đường chăng? Không có lẽ. Cô bé này khôn ngoan hơn mình nhiều, nó không thể lạc đường trong hoang đảo. Đào nhớ lại những điều Hồng nói và càng lúc cái ngạc nhiên của cô càng trở nên to lớn. "Con bé sao mà thông minh một cách lạ lùng, mình nghĩ gì trong đầu nó cũng biết. Có khi nó nói chuyện như một ông thầy giảng bài. Có khi nó an ủi mình như một bà mẹ an ủi con. Hình như không có gì xảy ra trên mặt biển mà nó không biết. Nó kể chuyện như là nó có chứng kiến tất cả những điều nó nói." Lạ hơn nữa là Đào thấy mình rất tin những điều nó nói. Nó nói Đạt còn sống thì Đào sẵn sàng tin ngay là Đạt còn sống. Mà Đào có phải là đứa con nít bạ ai nói gì cũng tin được cả đâu. Có lẽ Hồng là một đứa bé đặc biệt, một loại thần đồng, Đào nghĩ. "Lát nữa nó về mình sẽ hỏi nó học trường nào, và tại sao nó biết được nhiều chuyện như thế, kể cả những chuyện xảy ra ở bờ biển Mã Lai."
Nhưng Đào đợi mãi mà vẫn không thấy Hồng. Vào khoảng hai giờ trưa hôm đó, mây đen lại kéo tới và trời nổi cơn giông. Mưa lớn không khác gì ngày hôm qua. Đào núp dưới hốc đá một mình, nghĩ đến Hồng giờ này ướt như chuột lột ở một nơi nào đó trên hoang đảo. Cô lo cho Hồng quá. Trời cứ mưa gió như thế cho đến khoảng xế chiều mới tạnh.
Khi trời đã ngả màu tím và cái lo sợ của Đào đã lên tới chỗ cùng cực thì Hồng về. Hồng từ dưới bãi cát đi lên, tóc và áo của em không dính một hạt mưa. Mừng quá, Đào la lên, chạy tới ôm chầm lấy Hồng. Hồng để cho Đào ôm như thế một lúc lâu rồi mới từ từ gỡ khỏi tay Đào, em nói:
- Có tin mừng chị ơi. Ghe anh Đạt đã được vào bờ.
- Sao, em nói sao? Ghe anh Đạt vào bờ hả? Đào hấp tấp hỏi. Không kịp nghĩ tại sao mà Hồng có thể biết được một cái tin như vậy.
- Ghe anh Đạt được một cái ghe đánh cá Mã Lai kéo vào gần cù lao Bidong. Bây giờ cả ghe đã được lên bờ và đã được chấp nhận vào trại tị nạn ở cù lao đó. Chị thấy không? Em đã nói là mình không nên mất hy vọng.
Đào rối rít:
- Thật hả em? Như vậy thì chị mừng quá. Chắc chị sống được rồi. Còn anh Đạt? Anh ấy có bị thương tích không? Vết thương có nguy hiểm đến tính mạng không?
Hồng lắc đầu:
- Anh Đạt không sao hết. Anh đã được một người bác sĩ cũng là dân tị nạn trong trại khám bệnh. Anh không bị nội thương. Người ta đã giã gừng lấy nước để bôi những vết bầm trên người của anh. Hiện anh chỉ khổ đau vì nghĩ rằng chị đã chết chìm dưới biển.
- Tội nghiệp cho anh Đạt ghê, Hồng. Làm sao để ảnh biết rằng là chị còn sống ở đây, hả Hồng?
- Không có cách gì hết, thưa chị. Chỉ khi nào chị qua được ở bên kia thì chị mới có thể viết thư cho anh ấy mà thôi. Nhưng chị chưa qua được. Chúng ta còn phải chờ, mà không biết phải chờ bao lâu.
- Chị sợ chị chết trên đảo này và chẳng bao giờ gặp lại anh ấy nữa.
- Đó, chị lại để cho sự thất vọng xâm chiếm rồi. Mới nhận một tin vui lớn như thế sao chị lại có một cái nhìn bi đát như vậy?
- Chị tệ quá, chị xin lỗi em. Chị nghe lời em và hy vọng được rời khỏi đảo này sớm. Nhưng này em, làm sao mà em biết được tin đó? Em đi đâu từ sáng đến giờ khiến cho chị phải lo lắng cả ngày, đứng không yên mà ngồi cũng không yên?
Hồng lẳng lặng cầm tay Đào và đưa Đào lên ngồi trên một tảng đá. Em nói:
- Hôm qua em có hứa với chị là hôm nay em sẽ kể hết chuyện em cho chị nghe. Chuyện nào cũng có buồn vui. Mấy hôm nay chắc chị thắc mắc không hiểu tại sao em còn nhỏ mà biết nhiều chuyện kể cả những chuyện xảy ra bên bờ bên kia nữa. Chị lắng nghe em thì chị sẽ hiểu hết. Như hôm qua em đã thưa với chị, có những điều kỳ lạ mà chưa thấy, chưa hiểu, ta không nên cho là quái đản. Cũng như hôm qua em nói: cái bông hồng không phải tại nó hồng mà tại vì nó hút hết các tia sáng khác và chỉ phản chiếu những tia sáng có ba trường dài nhất mà mắt ta có thể thu nhận được. Em là bé Hồng của chị, năm nay em mười một tuổi. Nhưng em cũng là một con cá. Đó, chị lại giật mình rồi. Chị cười lên em xem nào? Được rồi, có thế em mới kể tiếp chuyện em cho chị nghe được.
Rồi Hồng tiếp tục câu chuyện hôm qua. Khi ghe của em ra tới hải phận quốc tế. Ghe chạy được một ngày rất ngon trớn. Nhưng tới ngày thứ hai thì ghe hỏng máy. Bác Bảy Nhiêu loay hoay mãi mà không chữa được. Ghe bềnh bồng trôi dạt từ đó. Trong bốn năm ngày liên tiếp, ghe không gặp một chiếc tàu nào hay một ghe chài lưới nào. Đến hôm thứ sau, biển động mạnh, mưa gió xối xả, chiếc ghe không điều khiển bị sóng đưa lên đưa xuống nhiều lần muốn lật. Mọi người trên ghe đồng ý quăng xuống biển tất cả hành lý, hy vọng ghe nhẹ sẽ không chìm. Họ đương đầu với sóng gió suốt ngày và suốt đêm, và may mắn là chiếc ghe đã không lật. Lúc tờ mờ sáng thì cơn bão chấm dứt. Mọi người đuối sức, không còn ai cử động được nữa. Ai cũng đói lả. Nước uống và thực phẩm đã bị liệng xuống biển từ ngày hôm qua rồi. Nắng lên, trong ghe nóng như một hầm lửa. Ai cũng khát đến khô cháy cổ mà không có nước uống. Khi đêm xuống thì trời lại lạnh. Cứ như thế mà ghe của Hồng trôi dạt ngày này sang ngày nọ. Em bé của Hồng, thằng Bích, lên cơn sốt. Không có thuốc men, không có nước uống. Bệnh tình của Bích càng lúc càng nặng. Ngày hôm sau nó chết. Má Hồng ôm xác nó trong tay, không chịu buông ra. Bà muốn khóc nhưng không còn nước mắt. Ghe của Hồng lại bị thủng lỗ, nước cứ ngấm vào; những người đàn ông thay nhau tát nước cho đến khi ai cũng mệt lả không còn cử động được. Một mình bác Bảy cầm chiếc lon tiếp tục múc nước đổ ra ngoài. Bác Bảy bảo Hồng đi tiểu thì giữ nước tiểu mà uống. Hình như những người khác cũng làm như vậy. Qua ngày hôm sau, bác Bảy bảo má Hồng phải làm lễ thủy táng Bích, bà không chịu. Nhưng xác Bích đã hôi lắm, nên chiều hôm đó bà đành nghe lời bác Bảy. Mọi người đọc Tâm Kinh Bát Nhã. Hồng cũng đọc Tâm Kinh Bát Nhã. Rồi bác Bảy xướng "Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật" cho mọi người niệm. Trong khi tiếng niệm Phật tiếp tục đều đều, bác Bảy nhè nhẹ gỡ tay má Hồng và ôm nâng thằng Bích trong hai tay bác. Bác cúi xuống hạ thằng Bích trên mặt nước và buông hai tay. Xác của Bích chìm nhanh xuống biển. Má của Hồng khóc thét lên. Bác Bảy và mọi người cất cao tiếng niệm Phật cho lấn át tiếng khóc của bà.Tiếng niệm phật chấm dứt má Hồng ngã quỵ vào lòng thuyền. Chiều hôm đó, một chiếc ghe cướp biển trờ tới, mọi người ngẩng lên chưa kịp phản ứng thì một chiếc móc sắt đã được liệng vào ghe và ghe lập tức bị thuyền bọn cướp kéo sát lại gần. Tất cả có khoảng mười hai tên cướp biển. Chúng không có súng, chỉ cầm trong tay dao nhọn và xà beng, gậy gộc. Không ai dám kháng cự chúng mà cũng không ai còn sức lực để kháng cự. Chúng vơ vét được một ít vàng bạc và tư trang. Thấy ai mặc chiếc áo nào lành lặn là chúng bảo cởi ra đưa cho chúng. Một tên tới gần má của Hồng định kiểm soát xem bà có đeo dây chuyền giấu dưới áo không. Hồng đứng cách đó ba thước. Em la lên:
- Đừng động tới má tui.
Nhưng tên cướp biển không nghe lời em. Hắn nắm lấy áo của má Hồng để xé toạc ra mà tìm sợi dây chuyền. Hồng nhảy tới dùng hết sức bình sinh kéo chân tên cướp để cho nó mất thăng bằng ngã xuống. Nhưng em yếu quá. Hắn không ngã. Hắn đưa chân gạt một cái. Hồng lăn tõm xuống biển. Má của Hồng kêu thét lên như người điên dại.
Không biết vì sao, không biết vì phép lạ nào, hoặc có thể vì Hồng rơi xuống biển nhằm một giờ linh thiêng nào mà Hồng không ngộp thở. Hồng lội như một con cá quanh quẩn bên chiếc ghe bị cướp. Bọn cướp sau khi vơ vét hết mọi thứ trên ghe đã dùng thuyền của chúng va đập vào ghe khiến cho ghe phải vỡ nát và nước ùa vào. Những người trên ghe yếu quá không thể phản ứng được, chỉ biết hét lên để cho ghe từ từ chìm xuống biển trong khi bọn cướp giật máy chạy đi với tất cả tốc lực.
Hồng biến thành một con cá bề dài gần một thước, bề ngang chừng hai tấc rưỡi. Con cá không đủ trí tuệ và bình tĩnh nên không kịp nghĩ rằng mình có thể cứu nổi một trong những người lâm nạn bằng cách bằng cách đỡ người ấy ngoi lên mặt nước. Khi ý định đó nẩy sinh thì nó cũng không tìm thấy mẹ. Ngoi lên và nhảy khỏi mặt nước để nhìn, nó cũng chỉ thấy có mặt biển trầm ngâm và ác độc. Nó quanh quẩn ngày đêm suốt một tuần lễ tại vị trí của chiếc ghe chìm. Nhưng vẫn không có tăm hơi mẹ nó. Mẹ nó bị cá mập ăn thịt rồi chăng? Hay là mẹ nó cũng biến thành một con cá như nó? Nếu mẹ nó thành cá tại sao không lội đi tìm nó? Mẹ tìm con và con tìm mẹ, thế nào cũng có ngày gặp nhau. Hồng quyết đi khắp vịnh Thái Lan để tìm mẹ. Ngày nào nó cũng bơi lội đi khắp nơi, và đến những đêm trăng tròn nó lại trở về vị trí xưa, nơi chiếc ghe của mẹ nó bị chìm, hy vọng gặp lại mẹ. Hơn một năm trời trôi qua, ngày nào Hồng cũng đi tìm mẹ. Vì lội khắp vịnh Thái Lan cho nên nó gặp rất nhiều ghe thuyền của dân tị nạn. Đã khôn rồi cho nên mỗi khi có ghe chìm, nó cố gắng cứu cho được một người. Thường thường người được nó cứu là một đứa trẻ. Nó đưa lưng và đỡ nạn nhân lên để cho người này thở. Và nó tìm cách đưa nạn nhân giạt vào một bãi cát. Nếu ghe tị nạn bị chìm không xa bờ biển quá thì công việc cứu trợ của nó không đến nỗi nặng nhọc khó khăn. Nhưng nếu ghe chìm giữa biển bao la thì có thể nó thất bại. Vì vậy nó thường quanh quẩn ở những vùng dọc theo bờ biển Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương để có thể có cơ hội cứu người dễ dàng hơn. Có lần nó bơi trước ghe của dân tị nạn để chỉ đường cho ghe khỏi va vào đá ngầm hoặc đi đúng vào những bến bờ không có cảnh sát. Có những người tị nạn nhận ra nó là một con cá linh nên cho ghe chạy theo nó. Có những người thấy nó thì nghĩ tới chuyện lấy lao đâm vào nó để đem lên ghe nấu ăn cho đỡ đói. Thấy người ta đem lao ra Hồng phải lặn sâu xuống biển và ghe tị nạn đó mất một kẻ hướng đạo khôn ngoan. Tuy vậy nó không hề giận những người có mưu toan giết nó. Họ đói quá cho nên họ làm như vậy.


:nu:

Vào một đêm trăng tròn tháng tư, nó cứu được một cậu bé mười bốn tuổi và đẩy cậu vào một bãi cát gần thị trấn Kota Baru. Sợ đến khuya nước lại dâng lên kéo cậu bé trở về biển, nó nhoài người lên cát đẩy cậu bé trở về biển, nó nhoài người lên cát đẩy cậu bé lên cao. Nhưng lạ thay, khi nó leo lên cạn thì nó lấy lại hình người, trong chiếc áo hồng, cái quần sa tanh trắng mòn gấu và đôi giày cao su quen thuộc. Nó mừng quá. Nó nhảy múa trên bãi cát dưới ánh trăng rằm tháng tư. Đêm đó là đêm Phật đản. Nó thử kêu “má ơi!”, và nó kêu được “má ơi!”, đúng là tiếng người. Nó thử kêu “Bích ơi!” và nó kêu được “Bích ơi!”. Nó thử đọc Tâm Kinh Bát Nhã theo giọng bà ngoại nó và nó đã đọc được. Nó biết tuy nó là một con cá nhưng nó cũng còn là một em bé. Nó rơi xuống biển năm ngoái, lúc nó mười tuổi, bây giờ nó là một cô bé mười một tuổi.
Hồng ôm xốc cậu bé lớn hơn mình tới ba tuổi và mang đặt lên phía bờ cao, nơi nước biển không lên tới được. Nó biết nó đang đi trên bờ biển Mã Lai. Nó biết là nó đã sang được bờ bên kia mà không cần đến ghe thuyền. Nó có thể ở lại bờ bên kia. Nhưng mà nó không muốn. Nó muốn trở về biển để tìm mẹ, để dắt lối cho ghe tị nạn, để cứu ít nhất là một em bé mỗi khi có ghe chìm. Cậu bé thiêm thiếp bất tỉnh, nhưng ngực cậu phập phồng. Biết chắc là cậu còn thở, Hồng cúi xuống đặt nhẹ một nụ hôn trên trán cậu và chạy về phía biển. Em nhảy xuống nước và biến trở lại thành con cá vảy hồng, lấp loáng trong trăng nước.
Từ đó thỉnh thoảng Hồng lại lên bờ, khi thì ở Mã Lai, khi thì ở Thái Lan, khi thì ở Nam Dương, hoặc để đưa người được cứu lên bãi hoặc để trà trộn trong đám người tị nạn mà dò hỏi sự tình. Ai cũng tưởng Hồng là con gái của một gia đình tị nạn đang được tạm cư tại đó trong khi chờ đợi được đi định cư ở một nước thứ ba. Tuy nhiên, Hồng chỉ ở trà trộn với dân tị nạn một buổi sáng hoặc một buổi chiều là nhiều. Thời gian còn lại Hồng phải đi cứu người dưới biển.
Hồng chỉ ăn toàn rong biển, nhưng em rất mạnh. Em bơi suốt ngày không mỏi và có thể đỡ một người trên lưng mà lội xa độ mười lăm hải lý. Hôm bọn cướp biển tới quấy phá chiếc ghe của Đào, Hồng được chứng kiến cảnh tượng kinh khiếp trên ghe. Đó là một nơi chỉ cách chỗ ghe của má Hồng bị chìm chưa đầy hai dặm. Khi Đào bị hất xuống biển Hồng vội đưa lưng đỡ ngay lấy Đào và đưa Đào tấp vào một cù lao không tên gần đó. Cù lao này chỉ cách cù lao Quái khoảng hai mươi dặm. Đưa Đào lên bờ cát xong, Hồng lội trở ra thì thấy ghe hải tặc đã đi rồi và gió Đông Bắc đang đưa chiếc ghe của Đạt về hướng Trengganu. Hồng nghĩ, nếu may mắn thì trong hai ngày hai đêm ghe của Đạt sẽ trôi tới vùng có nhiều ghe đánh cá của những ngư thôn miền bắc Kuala Trengganu, và sẽ được một trong những ghe này kéo vào bờ biển Nam Thái, như Pattani, Songkhla hay Bắc Mã như Kota Baru hay Trengganu. Sáng hôm sau, Hồng gặp một chiếc ghe hư máy trên đó có tám mươi bốn người tị nạn, hết lương thực và nước uống. Hồng theo bảo vệ ghe này và chứng kiến cảnh chiếc tàu Đan Mạch đi quanh ghe ba lần nhưng không chịu vớt người trên ghe mà chỉ thả xuống hai thùng nước uống và mười thùng bánh khô. Hồng đỡ một trong ba thùng rớt xuống biển đem về để trên bờ cát nơi Đào còn thiêm thiếp và trở lại biển. Hồng lội suốt ngày ấy nhưng không cứu thêm được ai. Chiều hôm đó em chỉ mang được về đảo một bọc áo quần mà em thấy nổi lềnh bềnh bên cạnh ván thuyền của một chiếc ghe tị nạn nào đã vỡ chìm vì sóng đánh. Em về tới đảo thì thấy Đào còn ngủ thiếp mê mệt. Em mở bọc áo quần, vắt cho khô một bộ rồi treo trên một cành cây cho khô. Trăng vừa lên. Dưới ánh sáng sáng tỏ, em ngồi bên cạnh Đào. Em vừa đặt tay lên trán Đào để xem Đào có bị sốt không thì Đào tỉnh dậy...
Đào bóp chặt cánh tay trái của Hồng trong hai bàn tay cô để kiểm soát lại xem cô bé trước mặt Đào có đúng là một cô bé bằng xương bằng thịt không. Hai mắt Hồng long lanh nhìn Đào vừa ngây thơ vừa hơi có vẻ cười cợt. Đào ôm chầm lấy Hồng và nói:
- Mầu nhiệm quá! Mầu nhiệm quá!
Sự thật trước mắt Đào thật khó tin, nhưng nó không thể không tin, vì đó là đúng sự thật. Có lẽ sự thật đó mầu nhiệm quá cho nên có vẻ khó tin. Như đoán hiểu được ý Đào, Hồng vừa cười vừa nói:
- Giả sử mai mốt chị qua được tới bờ bên kia và gặp lại anh Đạt thì chị có cho đó là một điều mầu nhiệm không? Và chị có tin đó là một sự thật hay không?
Đào như người tỉnh mộng. Bé Hồng vừa mở cho cô thấy một thế giới mầu nhiệm mới lạ. Bây giờ nếu được gặp lại Đạt, được cầm lấy tay Đạt thì đối với cô đó là một điều mầu nhiệm lạ lùng, và cô cũng khó tin đó là sự thật. Có lẽ khi gặp Đạt, cô cũng sẽ ôm chầm lấy anh và kêu lên “Mầu nhiệm quá! Mầu nhiệm quá!” giống hệt như cô vừa ôm lấy Hồng, vừa kêu lên những tiếng đó. Mới hôm qua đây, cô gặp được một cây ổi trên hoang đảo và cô cũng thấy đó là một điều mầu nhiệm. Tất cả những điều mầu nhiệm đều có vẻ không phải là sự thực, nhưng chính những điều đó đã khiến cho cô thấy thế giới hiện hữu một cách hiện thực hơn. Hôm qua, nhìn cây ổi, cô thấy hòn đảo hoang trở thành rất thực và cô nhận thấy ngay được vị trí của cô trong thời gian và không gian quen thuộc. Hồng vừa mở mắt cho cô. Đào đã từng được Đạt ôm vào trong hai cánh tay chàng, đã từng ngồi với chàng giờ này sang giờ khác, nhưng chưa bao giờ Đào nhìn Đạt như một sự thực mầu nhiệm. Đào đã tưởng rằng mọi hiện tượng trên đời như mặt trời, đám mây, cây ổi, mẹ cô, em cô, cũng như Đạt, đều là những hiện tượng tất nhiên phải có, đã có, đang có. Cô chưa từng thấy những thứ mầu nhiệm. Bây giờ đây, cô mới nhận ra rằng không có hiện tượng nào trên đời này là tầm thường và tất nhiên hết: tất cả đều là mầu nhiệm, là quý hóa, là khó tin rằng có thực. Cũng như cô bé áo Hồng đang ngồi trước mặt cô đây.
Đào hỏi Hồng về chiếc ghe của Đạt. Hồng kể cho Đào nghe là hôm kia em đã lội theo chiếc ghe đó cho tới khi ghe được một ngư thuyền Mã Lai kéo vào gần cù lao Bidong ở ngoài khơi thị xã Kuala Trengganu. Hồng đã lên đảo, đã chứng kiến cảnh Đạt và những người trên ghe được đưa lên trại tị nạn và do đó biết được đích xác tin tức về sức khỏe của Đạt. Hồng kể cho Đào nghe một vạn chuyện thương tâm mà Hồng đã chứng kiến dưới đáy biển. Hồng kể lại cho Đào nghe công việc hàng ngày của Hồng. Hồng cho Đào biết rằng thỉnh thoảng Hồng có thấy những ghe tị nạn đi theo con đường từ cù lao Quái đến cù lao Chàng. Hồng tin tưởng rằng thế nào cũng sẽ có chiếc ghe đi qua hòn đảo hoang này và Đào có thể xin quá giang để đi qua bờ bên kia với họ. Trước khi đi ngủ, Hồng lại hứa là sáng sớm mai, Hồng sẽ thức Đào dậy sớm để Đào có thể chứng kiến được cảnh Hồng đi xuống nước.

Suốt cả một buổi sáng hôm đó, Đào ngồi nhìn mặt biển phẳng lì với một tâm trạng vừa buồn vừa thương. Mặt biển đó đã từng khép lại trên bao nhiêu đồng bào xấu số của Đào, trong số đó có mẹ Hồng và em trai của Hồng. Cũng dưới mặt biển đó hiện giờ một con cá đầy tình thương đang một thân một mình lặn lội. Hồng nói sáng nào Hồng cũng phải đi làm việc thật sớm, ngay khi mặt trời chưa rời mặt biển. Tội nghiệp cho Hồng, mà cũng mừng cho Hồng. Tội nghiệp vì nghĩ đến Hồng chắc không bao giờ tìm lại được mẹ và em. Mừng cho Hồng là vì mới có mười một tuổi đầu Hồng đã làm được bao nhiêu điều lợi ích cho người đồng loại. Nghĩ tới đó Đào thấy hổ thẹn. Đào tự nguyện với lòng là một khi sang đến bờ bên kia, Đào sẽ gắng hết sức để lo lắng cho những người thiếu phước hơn mình. Theo Hồng thì còn nhiều khổ cực chờ đợi Đào trong trại tị nạn phía bên kia bờ. Nhưng Đào không sợ hãi nữa. Sự có mặt của Hồng trong biển Nam Hải là một nguồn an ủi lớn cho Đào. Đào sẽ phấn đấu, Đào sẽ cố gắng để khỏi hổ thẹn với Hồng. Sáng nay lúc còn tinh sương, Đào đã thấy Hồng xuống biển. Sau khi hẹn với Đào chiều nay sẽ gặp lại, Hồng đã thản nhiên đi xuống biển cho đến khi nước dâng tới ngực. Thế rồi Hồng đưa hai tay ra phía trước, cúi đầu thấp xuống và nhoài mình ra biển. Đào chỉ thoáng thấy bóng một con cá hồng quảy đuôi làm tung tóe bọt sóng phía sau lưng nó. Hồng đã đi. Hồng đi tới tối mịt Hồng mới về. Cả ngày Đào ngồi ngoài bãi cát bởi vì Đào biết Hồng đang ở biển. Khi bầu trời đã nhấp nháy ánh sao Đào mới nghe tiếng Hồng. Dưới ánh sao, Đào thấy dáng Hồng bước nhẹ trên bãi cát đi về phía Đào. Đào mừng rỡ đứng dậy đón Hồng. Hồng im lặng nắm tay Đào đi lên đảo. Đào chạy đi lấy bánh lạt cho Hồng ăn và vốc nước suối cho Hồng uống, nhưng Hồng không ăn bánh và chỉ uống hết vốc nước. Hồng kể cho Đào nghe những gì Hồng đã thấy trong ngày hôm nay. Hồng kể chuyện có một chiếc ghe tị nạn bị chìm ở Narathiwat, cách bờ biển gần một trăm thước, mà trong số ba trăm chín mươi bảy người đó, có tới chín mươi chín người bị chết chìm dưới biển. Khi Hồng tới đó thì ghe đã chìm rồi và Hồng không có cơ hội cứu được một người nào cả. Hồng thấy những mảnh ván nổi lềnh bềnh trên mặt biển và ký hiệu LA1945 của chiếc ghe. Chiếc ghe này vừa thoát ra khỏi hải phận Việt Nam thì bị biển động. Ghe nghiêng ngả trong năm ngày năm đêm trên biển cả. Đêm thứ sáu biển động rất mạnh. Sóng đánh văng chiếc cầu tiêu phía sau ghe và gây thành một lỗ thủng thật lớn khiến cho nước chảy ào ạt vào ghe. Ai cũng tưởng là chết nhưng nhờ nhanh tay và cầm cự giỏi mà những người trai trẻ trên ghe đã giữ cho ghe không chìm. Họ tranh đấu suốt đêm hôm ấy và cả suốt một ngày mai nữa. Cuối cùng vào sáu giờ chiều, ghe của họ thấy được bờ biển Thái Lan và tiến dần vào. Trời đã tối, nhưng những đợt sóng lớn ụp tới làm cho ghe nghiêng hẳn đi và nước tràn vào các cửa sổ ghe. Ghe nghiêng qua nghiêng lại muốn chìm. Nhiều người hoảng hốt nhảy xuống biển. Ghe chìm thật sự. Đèn của ghe đã bị vỡ, không ai trông thấy ai, người nào cũng chỉ cố lội lên bờ để khỏi bị chết chìm. Chín mươi chín người đã mất mạng. Sáng hôm đó tiếng vợ khóc chồng, mẹ khóc con, anh khóc em vang dậy cả bãi cát. Tất cả tiền bạc hành lý đều bị dân địa phương xuống lấy sạch. Cuối cùng cảnh sát Thái đã đưa họ lên xe về trại tị nạn Songkhla. Hồng kể cho Đào nghe về một chiếc ghe tị nạn cập bến Patthani. Chiếc ghe này chỉ chở có ba mươi người. Ghe ra đi từ Cà Mau. Trong hai ngày hai đêm, ghe đi bình yên vô sự. Ngày thứ ba ghe tới được gần hải phận Thái Lan, cách cù lao Cụt khoảng hai mươi dặm. Nơi đây ghe gặp một ghe cướp Thái giả dạng đánh cá. Bọn cướp biển vơ vét hết tiền bạc áo quần. Tất cả bảy phụ nữ trên ghe đều bị chúng hãm hiếp; mỗi người bị hiếp tới hai lần. Sau khi chúng đi, ghe vẫn chưa tìm được cách vào bờ. Chiều hôm sau chiếc ghe cướp trở lại; chúng lục soát thêm để vơ vét và hãm hiếp các phụ nữ một lần nữa. Sau lần bị cưới thứ hai, ghe đã tìm cách đổ bộ nhiều lần nhưng lần nào cũng bị cảnh sát đẩy lùi ra biển. Hai ngày sau, ghe gặp một lần ba chiếc ghe hải tặc đón đường. Chúng leo lên ghe lục soát. Thấy không còn gì để cướp bóc nữa, chúng giận dữ rút súng bắn chết hai người đàn ông và liệng xác xuống biển. Chúng còn ôm ba người khác liệng xuống biển cho cá mập ăn. Trong ba người này chỉ có một thanh niên thoát khỏi hàm răng cá mập. Anh ta cố bơi ra xa, bám và núp sau một chiếc thùng nhựa mà người trên ghe đã thảy xuống. Bọn hải tặc cho ghe của chúng ép lại để làm bể be ghe tị nạn. Ba bốn trẻ em trên ghe hoảng sợ, ôm thùng nhựa nhảy ùm xuống biển. Be ghe đã vỡ. Bọn cướp bỏ đi, chắc mẩm thế nào ghe cũng sẽ chìm.
Nhưng ghe không chìm. Trẻ em được người lớn vớt lên ghe trở lại, và ghe trôi nổi trên biển thêm ba đêm ba ngày liên tiếp. Trong thời gian này ghe lại bị thêm hai lần cướp nữa. Đây là những toán cướp khác. Chúng cũng lục soát và hãm hiếp, tuy nhiên chúng không bắn giết như toán vừa qua. Cuối cùng, vào sáng hôm nay, ghe được phép lên bờ và được cảnh sát cho đến trại Songkhla. Người phụ nữ trẻ nhất trên ghe là một cô gái mười sáu tuổi. Cô đã bị bọn cướp hãm hiếp tất cả là mười hai lần. Hiện giờ cô như người điên dại.
Nghe Hồng kể, Đào khóc ngất. Biết bao thảm kịch như thế xảy ra trong một ngày? Hai vai rung lên, cô kềm chế không được nữa những cảm xúc đang trào dâng trong cô. Sao loài người lại có thể độc ác với nhau như thế, cô không thể nào hiểu nữa. Có lẽ sắp đến ngày tận thế rồi chăng? Cô khóc rất lâu, mãi cho đến khi cô ngẩng đầu lên thì trăng đã sáng tỏ, và cô thấy Hồng ngồi yên lặng dưới trăng như một pho tượng đồng. Hồng hỏi nhỏ:
- Em đã để yên cho chị khóc, để chị vơi bớt nỗi khổ. Bây giờ thì chị đi xuống suối rửa mặt cho mát. Chúng mình sẽ đọc Tâm Kinh trước khi đi ngủ. Đêm đã khuya rồi. Ngày mai em lại phải đi sớm.


:nu:



Còn tiếp



Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Ra đi...   Sat 10 Dec 2011, 11:16



Hồng


Ngày thứ năm trên đảo vắng. Đào biết trước là đến tối mịt Hồng mới về cho nên cô không có ý đợi Hồng. Cô chỉ ra biển ngóng nhìn xem có chiếc ghe nào đi ngang qua gần đảo không để cô làm dấu hiệu đón họ. Theo lời căn dặn của Hồng, cô đã buộc một cái áo vào đầu một cành cây để sẵn ở bãi; hễ khi nào có ghe là cô xuống bãi cầm cành cây phất qua phất lại để làm hiệu đón ghe. Nhưng suốt ngày hôm đó cho đến khi Hồng về Đào không thấy tăm dạng một chiếc ghe nào cả.
Hồng thuật chuyện hôm nay Hồng gặp nhiều ghe tị nạn đi quanh quẩn trong vịnh, vì ghé đến bến bờ nào họ cũng bị cảnh sát bắn dọa để đuổi hoặc dùng thuyền cảnh sát kéo các ghe họ trở ra hải phận quốc tế. Hồng gặp một chiếc ghe hư máy, trên ghe có năm mươi người trôi ngoài khơi Patthani, trên ghe không còn nước uống và thực phẩm. Tất cả mọi người trên ghe đều đã chết, trừ một người đàn ông còn thoi thóp sống. Hồng lại thấy một ghe đánh cá Thái Lan đang kéo giúp một ghe tị nạn về phía Bắc Songkhla. Những người đánh cá trên ghe không muốn cảnh sát bắt gặp mình đang giúp ghe tị nạn cho nên chưa tới bờ đã cắt đứt sợi dây buộc thuyền và quay trở ra biển. Ghe tị nạn còn đang tìm cách tiến gần bờ thì một ghe cướp đi tới. Bọn cướp này chỉ lục soát lấy hết tư trang, tiền bạc và những áo quần còn tốt rồi bỏ đi, không động tới phụ nữ. Chiếc ghe này cuối cùng đã được vào bờ và những người trên ghe được chở vào trại tị nạn Songkhla.

Hồng lại mỉm cười thuật cho Đào nghe về một chiếc ghe kỳ lạ mà em đã gặp khá nhiều lần trên vịnh Xiêm La. Đó là một chiếc ghe đánh cá Thái Lan dài khoảng hai mươi hai thước và rộng khoảng năm thước hai, mang tên là Shantisuk. Trên ghe này có đủ dụng cụ đánh cá, có cả súng để bắn cá lớn nữa, nhưng Hồng chưa thấy người trên ghe đánh cá bao giờ. Trên ghe, Hồng thấy có tám người, trong số đó có một phụ nữ. Hồng đã từng thấy ghe đánh cá này tiếp cứu những ghe tị nạn bằng cách tiếp tế thức ăn, nước uống, dầu chạy máy và những bản đồ chỉ đường để ghe tị nạn có thể tránh đá ngầm và đi đúng vào những bến có trại tị nạn. Có một lần Hồng theo chiếc ghe ấy về tận bến Patthani. Ghe đậu chung với các ghe đánh cá khác không có vẻ gì là một chiếc ghe đặc biệt. Hồng khen thầm hành trạng của chiếc ghe kỳ lạ đó và càng để ý theo dõi. Tuy họ chỉ có tám người nhưng những người trên ghe lại nói chuyện với nhau bằng bốn thứ tiếng: tiếng Thái, tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Việt. Sở dĩ họ phải làm như vậy là vì trên ghe có ba người quốc tịch Thái và năm người quốc tịch Pháp, trong đó bốn người có gốc Việt. Bốn người này nói được cả tiếng Việt trong khi người Pháp thuần túy chỉ nói được tiếng Pháp. Tiếng Anh của chàng ta rất trọ trẹ. Ba người Thái đều nói được tiếng Anh nhưng không biết tiếng Việt và tiếng Pháp. Chiếc ghe của họ nếu lấy hết tốc lực thì có thể chạy được hai mươi gút, nhưng người thuyền trưởng chỉ cho ghe chạy với tốc độ mười gút mà thôi. Trên ghe có một chiếc ca nô bằng cao su bơm phồng mà thỉnh thoảng họ cho xuống nước để liên lạc nhanh với những chiếc ghe tị nạn. Chiếc ca nô này màu xám, rất nhẹ và chạy nhanh như một mũi tên. Hồng thường nghe tiếng cười nói và đàn hát trên ghe, tuy nhiên lúc nào cũng có một người đặc trách mang ống viễn kính nhìn ra bốn phía để tìm ghe tị nạn. Có lần chiếc ghe bị hỏng máy trên biển khiến cho anh thợ máy và thuyền trưởng loay hoay chữa mãi. Thuyền trưởng là một anh chàng dong dỏng cao tên Luc, ngu?i Pháp gốc Việt, ăn ngủ rất ít mà làm việc tận tụy không ai bằng. Mọi người trên ghe hình như ăn chay. Có một buổi sáng Hồng thấy cô gái gốc Việt trên ghe nhặt những con cá bay vướng trên sàn ghe thả lại xuống biển. Những con cá này trong đêm đã bay nhầm lên sàn tàu. Có lần Hồng thấy cô gái trên thuyền đem cá sống mua được của một chiếc xuồng bé gần bờ mà thả xuống nước để chúng trở về với biển. Cô lại còn nói chuyện với những con cá này. Hồng rất cảm động và có cảm tình đặc biệt với cô gái này. Hồng lội sát chiếc ghe và ngoi lên gần mặt nước để nghe những người trên ghe nói chuyện, vì vậy đã nhiều lần bị cô gái bắt gặp và gọi những người khác đến xem. Biết họ là những người vô hại, Hồng thản nhiên lội theo ghe. Nhờ nghe chuyện họ nói mà Hồng hiểu tại sao công việc cứu trợ của họ phải làm trong vòng bí mật. Các nước Thái, Tân Gia Ba, Mã Lai và Nam Dương không muốn nhận dân tị nạn cho nên rất ghét những chương trình cứu trợ người trên biển. Họ nghĩ, thà để cho dân tị nạn chết trên biển còn hơn là để nước họ bị lôi thôi về kinh tế và chính trị. Để có thể cứu người, chiếc Shantisuk đã phải cải trang làm ghe đánh cá. Những người có quốc tịch Thái trên ghe là những người không đồng ý với chính sách nhẫn tâm của chính phủ họ đối với dân tị nạn. Trong số ba người Thái ấy có một người là tu sĩ trẻ giả dạng ngư dân. Tất cả tám người trong họ đều là đệ tử của một vị đạo sĩ hiện đang tĩnh cư nơi một am mây trên đỉnh núi Doi Suthep, miền Bắc Thái Lan. Không có người Việt thuần túy nào được tham dự chương trình này vì lẽ giấy tờ của họ không cho phép họ vào một nước nào trong số bốn nước Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba và Nam Dương cả. Anh chàng Pháp thuần túy tên là Jean Paul, ngày xưa là một thủy thủ lành nghề miền Bretagne nước Pháp. Anh cũng biết ngồi thiền như bà ngoại của Hồng. Có lần Hồng thấy dáng anh ngồi kiết già trước mũi ghe. Hồng biết trên ghe có rất nhiều thực phẩm khô, nhất là mì gói, và biết Jean Paul thích ăn mì gói, ăn ngon lành như người Việt ăn bún chả. Chiếc Shantisuk đã bị cướp một lần trên hải phận Thái mặc dầu ghe đã giả dạng làm ghe đánh cá. Bọn cướp đã đến bằng một chiếc ghe có máy ra đa. Ghe của chúng chạy nhanh vô cùng bởi vì máy của ghe là một cái máy mạnh tới 800 mã lực. Chúng uy hiếp những người trên chiếc Shantisuk bằng súng. Chúng lấy hết tiền bạc và thực phẩm. Chúng không hỏi nữ trang và vàng bạc vì chúng biết đây không phải là ghe tị nạn. May cho những người trên ghe là chúng không đánh đập và hãm hiếp ai. Mọi người để yên cho chúng vơ vét.
Sau chuyến bị cướp ấy, thuyền trưởng Luc đề nghị phải mua một cây súng để tự vệ. Đây là đầu mối cho những cuộc đàm luận không ngớt trên tàu suốt nhiều ngày nhiều đêm. Hồng nghe chuyện và hiểu gần hết được những éo le của tình trạng họ.
Ý kiến của Luc bị nhiều người trên ghe bác bỏ. Là học trò của vị đạo sĩ trên núi, họ không muốn nhờ vũ khí bảo vệ cho họ. Nhưng Luc nói rằng “có một cây súng không có nghĩa là sẽ giết người”. Ngày xưa Luc đã từng là tay súng giỏi. Anh ta bảo rằng chỉ cần có một cây súng là mình có thể khiến cho bọn cướp “ngán” và không dám lại gần. Mình có thể hoặc bắn dọa trong không khí, hoặc bắn trúng một cái gì rất nhỏ trên ghe cướp để họ tránh xa. Cô gái trên ghe cười và nói rằng chỉ khi nào tinh thần mình yếu mới nghĩ đến chuyện có súng, rằng hướng dẫn bởi ý định tiếp tục cứu người trên bi?n cả mình sẽ được những niệm lực lành che chở. Cô nói:
- Trước khi mình xuống núi, thầy đã dặn mình phải tuyệt đối tôn trọng sự sống, lấy tình thương mà trả lời với bạo lực. Một con cá dưới biển cũng không được động tới, người đã dặn như thế rồi mà.
Luc bảo:
- Cây súng chỉ là hình thức. Cách sử dụng súng mới là nội dung. Chúng ta có thể sử dụng súng một cách bất bạo động. Chắc sư phụ cũng đồng ý với tôi.
Nhưng bạo động hay không bạo động không phải là đề tài bàn cãi quan trọng nhất. Vấn đề nghiêm trọng của họ là bọn cướp ở Mahachai đã khám phá ra rằng ghe của họ là một ghe đánh cá của người ngoại quốc. Mahachai thuộc về thị trấn SamukShkhorn là một nơi tương tự với xóm anh chị Cầu Muối bên mình.
- Bọn Mahachai mà có ý hại mình thì không thể nào mình tiếp tục được chương trình này nữa. Tụi mình đã lớn rồi, phải tự định liệu lấy, không thể bất cứ gặp vấn đề gì cũng phải về núi thỉnh ý sư phụ, Lục đã nói như thế. Vì vậy cho nên cuộc bàn luận kéo dài.
Bẵng đi một thời gian, Hồng không gặp chiếc Shantisuk, nhưng trưa hôm qua em lại thấy nó xuất hiện hoạt động phía bờ biển Bắc Mã Lai. Hồng nghe được những chuyện rất lý thú. Luc đã làm quen được với một tay anh chị cỡ lớn ở Mahachai tên là Tana, gọi tắt là Tân. Võ nghệ Tân khá giỏi nhưng Tân đã phục Luc và chịu nhận Luc là một người anh em. Luc đã đơn thân độc mã đi vào xóm Mahachai và bọn đàn em của Tân thấy dáng điệu hiên ngang của Luc đã không dám động tới. Có một đứa ngăn chặn Luc đã bị anh hất ngã. Chúng báo động với Tân. Luc cũng hỏi thăm và đi tìm Tân. Tân mời Luc vào nhà, mời ngồi. Nhưng bất thần Tân dùng một thế võ bí hiểm định khóa trái cánh tay Luc lại. Luc phản ứng mau lẹ như chớp, thoát khỏi tay Tân và thản nhiên ngồi xuống. Tân vớ con dao nhọn trên bàn đâm Luc bằng một thế đâm rất hiểm hóc. Luc không tìm cách giật con dao mà chỉ nghiêng mình khiến cho Tân đâm trượt. Sau cái thế võ thứ hai đó, Tân không còn “thử” Luc nữa và chịu Luc là người anh em. Tân muốn mời Luc vào “nhóm” bởi vì Tân cần một tay súng giỏi. Tân hứa sẽ bảo đàn em trả lại những gì chúng đã cướp trên chiếc Shantisuk. Tân vẫn nghĩ chiếc ghe Luc là một chiếc ghe đánh cá của người ngoại quốc. Tân đề nghị Luc bán chiếc Shantisuk và gia nhập vào nhóm của Tân. Tân sẽ giao cho Luc trông coi chiếc ghe 800 ngựa có trang bị ra đa.
Luc không dám từ chối, bảo rằng cần phải có thời gian để suy nghĩ và bàn lại với các bạn. Luc nói Luc cần một cây súng. Tân bảo Tân quen với cảnh sát, có thể giới thiệu để cảnh sát cấp giấy cho Luc mua súng tự vệ. Mà quả thật, Tân rất có quyền thế. Luc đã xin được giấy mua súng trong vòng một khắc đồng hồ, nhưng vì các bạn Luc không đồng ý cho nên Luc đã không mua.
Ghe của Luc không còn bị đàn em khá đông của Tân quất phá nhưng vẫn bị các toán cướp biển khác theo đuổi, trong số những toán cướp này có một toán gốc ở Trad. Chiến thuật của chiếc Shantisuk là mỗi khi gặp cướp biển thì mở hết tốc lực để chạy trốn. Chiến thuật này, theo Hồng, là khôn ngoan hơn hết. Nhưng những người trên ghe chỉ sợ những tàu hải tặc có ra đa, chạy nhanh và có súng. Trước đây, những chiếc tàu cướp biển thường hay đón những ghe đánh cá Mã Lai và Thái Lan; nhiều khi chúng giết cả ngư dân sau khi cướp đoạt tiền bạc. Cảnh sát biển của Thái đã nhiều lần đi tuần tiễu nhưng không trừ diệt nổi những lực lượng cướp biển. Cách đây không lâu, trọn một tiểu đội cảnh sát do một thiếu tá cảnh sát Thái chỉ huy đã bị bọn cướp bắn chết gần đảo Ko Kut, không sống sót được người nào. Có một lần chiếc Shantisuk suýt bị cướp không xa vùng ấy. Tối hôm đó, khi rời bến Trad và vượt eo biển để đi về phía các đảo Ko Chang và Ko Kut, nó gặp hai chiếc thuyền cướp đón đường. Nhờ quan sát kỹ nên Luc nhận ra thâm ý của hai chiếc này khi chiếc Shantisuk còn cách chúng đến năm trăm thước. Eo biển rất hẹp nên mọi người trên thuyền biết không thể nào tránh lọt hai chiếc ghe hải tặc. Jean Paul lưu ý mọi người về cách chúng chớp đèn báo hiệu cho nhau, dù rằng lúc ấy vẫn còn ánh mặt trời. Muốn biết chắc chúng có phải là ghe cướp không, Luc lái ghe sang phía mặt phải, làm ra cách sẽ ra biển bằng eo biển phía mặt thay vì nó theo eo biển bên trái. Hai chiếc ghe kia laị che chở cho nhau cùng tiến về phía eo mặt để chặn lối chiếc Shantisuk. Hồng lo ngại quá. Nhưng bất thần chiếc Shantisuk quay đầu lấy tốc lực hướng về bến Trad, nơi có rất nhiều ghe đậu. Vậy là đêm ấy nó không bị cướp. Đêm sau chiếc Shantisuk ra khơi lúc ba giờ khuya cùng với nhiều ngư thuyền khác; và do đó đã thoát khỏi ghe hải tặc đón đầu. Cũng từ đó chiếc Shantisuk không lai vãng vùng Trad nữa.
Mấy lúc gần đây bọn hải tặc tha hồ tung hoành, không ai kiểm soát được. Trên những chiếc ghe tị nạn đầu tiên mà chúng cướp, chúng có tìm thấy vàng. Vì vậy chúng chia nhau đi chặn đường những ghe tị nạn, nhiều nhất là vùng Ko Kut, Ko Chang, nơi có nhiều thuyền tị nạn đi qua. Càng ngày, hải tặc càng nhiều. Có nhiều người nghèo khổ xoay sang nghề hải tặc. Những người này không chuyên nghiệp, không có súng; họ chỉ có đao búa, xà beng và gậy gộc. Chính quyền Thái biết những gì xảy ra ngoài biển, nhưng vì không muốn có thêm dân tị nạn lên bờ nên cố tình làm ngơ. Mà dầu có muốn tiễu trừ cũng chưa chắc tiễu trừ được.
Một hôm chiếc Shantisuk đang nằm tại biển Chantaburi thì có một người Thái đến đề nghị với Luc lấy ca nô đi ra biển tìm vàng. Hỏi vàng ở đâu thì người kia nói là chôn ở một cái đảo nhỏ gần Ko Kut. Luc hỏi tới ngành ngọn thì biết rằng người đó là kẻ sống sót duy nhất của một tàu hải tặc . Toán người hải tặc cướp và bán ghe tị nạn ở gần Ko Kut và chôn giấu vàng bạc cướp được tại hòn đảo vô danh kia. Ngay sau đó, toán hải tặc này lại bị toán hải tặc khác thanh toán, bởi vì “chúng là đàn em mà dám qua mặt, phỗng tay trên của đàn anh.” Tất cả đều bị giết, chỉ còn một người chạy thoát được. Chính người này đã tìm tới Luc và đề nghị Luc cũng đi ra hòn đảo nọ để lấy. Luc từ chối, nói rằng Luc rất sợ. Có thể là Luc sợ thật. Hoặc có lẽ chỉ vì mục đích của Luc tới xứ này không phải là để tìm vàng.
Hồng cho Đào biết cướp biển là tai nạn lớn nhất của người tị nạn. Nghề cướp biển thịnh hành quá thành ra hầu hết tị nạn chiếc nào cũng bị cướp ít nhất một lần. Có ghe bị cướp tới mười lần. Trung bình mỗi ghe bị cướp ba hay bốn lần. Có những bọn cướp dã man tới mức tột cùng. Có những bọn cướp sau khi cướp xong có thể nghe lời năn nỉ của nạn nhân mà kéo giúp ghe chúng vừa cướp vào gần tới bờ. Có bọn sau khi cướp và hãm hiếp xong thì giết hết người và nhận chìm ghe của nạn nhân. Có bọn chỉ lấy tiền bạc và áo quần mà không đụng tới phụ nữ.
Đào run sợ khi nghe Hồng kể. Cô mất hết can đảm. Nhưng Hồng nói là Hồng sẽ làm đủ cách để Đào sẽ qua được bờ bên kia mà không bị cướp bắt gặp. Tối hôm đó Đào xin Hồng dạy cho Đào học thuộc Tâm Kinh Bát Nhã. Cô thấy cô cần phải đọc kinh này để có thêm an tĩnh, có thêm sức mạnh tinh thần. Cảm thương cho thân phận của mình, tối đó cô thiếp đi mà nước mắt ướt đẫm cả mặt.

Thức dậy, Đào nhìn quanh và biết là Hồng đã xuống biển rồi. Cô giận mình mê ngủ quá. Cô xuống suối rửa mặt, rửa tóc và ngồi trên bờ suối ôn lại Tâm Kinh. Rồi cô đi lấy hai cái bánh lạt để ăn cho đỡ đói. Uống nước suối xong, cô leo lên một tảng đá trơn bóng và râm mát rồi tập ngồi thiền định. Cô chưa biết tọa thiền như thế nào nhưng cũng bắt chước ngồi xếp bằng giữ sống lưng cho thẳng. Cô chẳng biết phải làm thế nào cho đúng phép ngồi thiền. Có lần cô nghe người ta nói hơi thở rất quan hệ cho việc ngồi thiền, cho nên cô mỉm cười bắt đầu thở những hơi thở nhẹ và dài. Quả nhiên chừng mười lăm phút sau cô thấy trong người dễ chịu và tỉnh táo. Cô cảm thấy mình vững vàng hơn, về thể chất cũng như về tinh thần. Cô bèn khởi sự đọc Tâm Kinh. Cô đọc nhiều lần. Nhận thấy giọng của mình có hơi bắt chước giọng của Hồng, cô mỉm cười. Cô không hiểu lời kinh muốn nói gì nhưng cô thấy âm điệu của lời kinh rất là thu hút. Cô để ý nhất đến một câu mà cô có cảm tưởng rằng nếu cô lặp lại chừng một ngàn lần thì cô thể hiểu được. Đó là câu “Này người con của Xá Lợi, mọi hiện tượng đều có chung một thể tính không tịch; không có gì sinh ra, không có gì mất đi, không có gì nhơ bẩn, không có gì trong sạch, không có gì thêm lên, không có gì bớt đi. Trong thể tính không tịch đó, không có vật chất, không có cảm thọ, không có tư duy, không có hạnh nghiệp, không có nhận thức...”. Lời kinh gì mà vừa hiền dịu như mây bay, vừa dữ dội như sấm sét. Đào thoáng thấy một cái gì rất quan trọng trong câu kinh đó, dù cô chưa hiểu thấy. Chưa hiểu thấu nhưng không phải là cô không hiểu gì hết. Cô hiểu gì, cô cũng không biết; cô chỉ biết là cô bị hút vào câu kinh đó cũng như mảnh thép nhỏ bị hút vào một khối nam châm.
Đột nhiên Đào ngẩng lên, Hồng đã về. Hồng đã về quá sớm. Giờ này là giờ ngọ, mặt trời đang đứng bóng. Đào bước xuống, chạy ra đón Hồng. Cô đưa Hồng tới ngồi dưới bóng cây râm mát và chạy đi lấy nước cho Hồng uống. Hồng uống nước xong nhìn Đào và nói:
- Chị Đào, chị sửa soạn để chiều hôm nay qua bờ bên kia.
Đào giật mình nhìn Hồng. Cô chưa kịp hỏi gì thì Hồng tiếp:
- Có một chiếc ghe tị nạn sẽ đi ngang qua đây vào lúc ba giờ chiều. Chị còn dư thì giờ để chuẩn bị. Chị nên đem theo hết chỗ bánh còn lại và bọc áo quần. Khi ghe tới, chị nói người trên ghe lên suối lấy thêm nước ngọt. Em sẽ có cách làm cho người trên ghe thấy chị và ghé vào đây đón chị.
Đào nắm tay Hồng:
- Em có đi với chị không? Chị sợ lắm.
Hồng cười:
- Em sang bên ấy để làm gì? Em phải ở lại. Em còn phải tìm má em. Chị nghe em nói đây. Hôm nay là ngày đầu năm của dân tộc Thái. Tất cả đều ở nhà ăn Tết. Trên biển không có bóng dáng một ghe cướp nào của Thái, kể cả các ghe đánh cá cũng vậy. Đây là một cơ hội hiếm có cho các ghe tị nạn. Ở đây không có giấy và bút. Em không thể vẽ ra để chỉ đường cho chị. Vậy chị em mình xuống dưới bãi cát. Em sẽ chỉ cho chị con đường đi từ đảo này tới đảo Ko Kut và từ đảo Ko Kut tới đảo Ko Chang. Và em cũng sẽ chỉ cho chị cách đi từ Ko Chang tới một cái làng thuộc quận Leam Sing tỉnh Chantaburi. Nơi đây chị sẽ được dân làng đưa lên cho ăn uống thuốc men và ngày mai cảnh sát sẽ đưa chị và những người cùng ghe tới trại tị nạn Leam Sing.
Hồng đưa Đào xuống bãi cát, dùng ngón tay vẽ bản đồ vịnh Xiêm La và chỉ cho Đào mọi chi tiết. Hồng căn dặn Đào rất kỹ về những nơi có đá ngầm. Phải nhìn kỹ mặt biển, nơi nào sóng gợn bên trên khác thường với mặt biển xung quanh thì tránh ngay, vì bên dưới có đá ngầm có thể làm thủng ghe. Hồng chỉ cho Đào cách nhắm hướng căn cứ trên mặt trời, trên những ngôi sao, trên hình dáng mờ xa của cù lao Kut hay cù lao Chang. Rồi Hồng xóa bản đồ của mình vẽ, bảo Đào vẽ lại, lặp lại những điều Hồng dặn. Hồng lại bổ túc cho Đào những chỗ Đào chưa nắm vững. Xong xuôi, Hồng hỏi Đào:
- Chị có người quen nào ở ngoại quốc không?
- Có, chị có một ông bác ở Pháp.
- Vào được trại Leam Sing chị tìm cách viết thư ngay cho bác và nhờ mục sư Doug Kellum đem bỏ thư nhà dây thép thị trấn Chantaburi dùm. Ông mục sư này cứ mỗi tuần vào thăm trại tị nạn Leam Sing một lần để giúp đỡ. Chị nhờ bác đánh điện cho anh Đạt tại trại tị nạn Pulau Bidong ở Mã Lai, ngoài khơi thị trấn Kuala Trengganu, báo tin là chị còn sống và hiện tại ở trại Leam Sing. Chị cũng có thể viết thư trực tiếp cho anh ấy. Chị khai với đại diện Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc là chị có người bác tại Pháp và muốn làm đơn xin qua Pháp với bác. Anh Đạt cũng xin đi Pháp phải không? Chị nhớ nhắc anh Đạt là nên cùng xin qua Pháp. Và điều này nữa, em xin chị đừng quên: tới trại, chị tìm cách xin bác sĩ khám cho chị. Chị nói riêng với bác sĩ là chị không muốn có dấu tích gì của bọn cướp biển trên thân thể chị cũng như là trong tâm hồn chị.
Ngẩng lên, Đào thấy hai giọt lệ long lanh trong mắt Hồng. Cô ôm Hồng chặt trong tay. Cô nói:
- Chị sẽ làm đúng lời em dặn. Chị còn gặp em nữa không?
Hồng gỡ tay Đào, đưa Đào trở lên tảng đá có bóng cây râm mát. Hồng nói:
- Có thể em còn cơ hội gặp chị. Nhưng em không chắc lắm. Vậy cứ tạm xem hôm nay là buổi hội ngộ cuối cùng. Chị nghe em nói đây. Người tị nạn hiện giờ ra nhiều quá và các nước xung quanh đã đồng ý với nhau dùng biện pháp mạnh để ngăn chặn. Họ sẽ canh phòng các bờ biển nghiêm ngặt và sẽ dùng quân đội để ngăn người tị nạn đổ bộ lên đất họ. Chưa hết. Họ còn dự tính tổ chức dân chúng biểu tình để họ có cớ bỏ những người tị nạn trở lên ghe và kéo những ghe này ra hải phận quốc tế trở lại. Nếu họ làm như thế thì đồng bào chết hết. Em hy vọng dư luận thế giới sẽ ngăn cản họ. Nhưng một khi tới trại tị nạn chị phải cho đồng bào biết để đề phòng. Phải đồng sinh cộng tử với nhau, nghĩ ra những biện pháp kháng cự tập thể hữu hiệu. Cả trong ban đêm, mình cũng phải tỉnh táo và sẵn sàng đối phó. Nếu bị ép lên thuyền để đẩy ra biển thì nhất quyết đồng loạt không tuân lệnh dù súng của họ dí vào ngực mình cũng vậy. Trong trường hợp sự đe dọa trở thành rõ rệt quá, phải tìm cách nhận chìm hoặc tiêu hủy các con thuyền trước bến của trại tị nạn. Đời sống của người tị nạn ở trại chị sắp đến cũng rất cực khổ như đời sống tại những Songkhla, Pulau Bidong, Pulau Tengah, Pulau Pinang và những trại khác rải rác trên miền duyên hải bốn nước. Chị sẽ phải ở lại trại từ bốn đến sáu, hay tám tháng. Thì giờ rỗi rảnh, em nhờ chị chăm sóc những người khổ đau bất hạnh trong trại dùm em.
Hồng ngước lên, cười, trong khi mắt em còn ướt:
- Có một tin vui. Anh Luc, thuyền trưởng của chiếc Shantisuk đã tới gặp anh Tân và nói hết sự thực. Anh nói: “Người nghĩa hiệp không bao giờ ức hiếp kẻ khốn cùng. Ta có thể tạm lấy vàng của nhà giàu trong khi kẻ khác đói, nhưng ta không có quyền giết người, hãm hiếp người. Đàn em của anh không thể làm mất thanh danh của anh.” Anh Luc thật là can đảm không ai bì kịp. Anh nói rằng anh Tân đã vỗ vai anh và hứa sẽ ra lệnh cho bọn đàn em. Nhưng chị ơi, trên biển có hàng trăm toán cướp. Một vài toán đàn em của anh Tân không đụng tới tính mạng và danh tiết của người tị nạn, nhưng còn những toán khác thì sao? Chính chiếc Shantisuk cũng đang bị những toán kia đe dọa. Em sợ một ngày gần đây chiếc ấy cũng không còn hoạt động được. Em sợ cho tính mạng của những người trên chiếc ấy lắm. Có thể là ông Đạo ở trên núi Doi Suthep sẽ gọi họ về vì tình trạng quá nguy hiểm trên biển. Này chị, nhìn xem, chiếc ghe đã tới! Chị đi tìm cành cây có móc chiếc áo bà ba đi. Chúng mình xuống dưới bờ cát.
Đào thấy ở chân trời phía Đông một chấm đen. Chấm đen càng lúc càng rõ và cuối cùng Đào thấy rõ ràng đó là một chiếc ghe tị nạn. Hồng nói:
- Chị đợi ghe tới gần thêm chút nữa rồi hãy phất áo làm hiệu. Đừng nói gì cho những người trên ghe biết về em nhé. Em sẽ lội ra khơi và làm cho ghe chú ý tới dấu hiệu kêu cứu của chị. Nhớ làm theo điều em căn dặn chị nhé. Và nhất là phải tiêu hủy ghe ngay sau khi lên bờ.

Hồng ôm chặt lấy Đào. Rồi đúng như một cô bé, Hồng buông Đào một cách đột ngột, chạy về bờ nước, lao mình xuống biển, lội mất. Đào tiếp tục phất qua phất lại cành cây với chiếc áo bà ba. Cô tiến về phía trước cho tới khi nước biển ngập tới đầu gối. Cô làm dấu không ngớt. Và kìa, chiếc ghe đã trông thấy dấu hiệu. Người trên ghe đã bẻ lái chạy về phía hoang đảo.


Many TX to TV T.Nhất Hạnh :bong:





Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Chiếc Bóng của Giọt Nước Mắt   Fri 23 Dec 2011, 02:53




Câu Chuyện Dang Dỡ


Thực tế là xem vở kịch của chính mình có lẽ là một vở tuồng khó hiểu nhất. Cuộc đời là một quyển sách và ai cũng tự viết cho mình một vai trò để diễn, nhưng thật sự tác giả không phải là chỉ riêng mình viết ra mà do tất cả những ai đi qua đời mình cùng viết nên câu chuyện ấy. Và, đôi khi chính mình cũng không hề biết mình đã viết cho ai những thảm kịch nào, cho tới một lúc nào đó mới hiểu rằng đó chính là bi kịch của mình đã lỡ viết sai. Ngay bây giờ tôi nhìn nó đen đặc như những vòng xoáy sóng sánh trong tách cà phê mà người hầu bàn vừa đặt xuống trước mặt mình đây. Nhìn muốn chóng mặt! Tôi lắc đầu như muốn xua tan những cảm giác quay cuồng khó thở vì dòng chữ như cứ rối tung. Anh ta lịch sự hỏi tôi còn cần gì thêm nữa không, tôi lắc đầu theo quán tính khi đầu óc đang chìm dần trong cái khối đen ngòm kia.

- Không, cám ơn.

Chợt nhìn tàn thuốc ai làm rơi vãi ra trên bàn tôi nhờ anh ta lau giúp và đổi cho tôi luôn cái gạt sạch khác , bỗng ngập ngừng trong giây lát rồi tôi gọi luôn gói Marlboro. Tự nhiên thấy thèm cái hương vị cay nồng trở lại mà mới đêm qua khi Quyên mời tôi còn xua tay bảo đã bỏ tám năm rồi, nàng chỉ nhún vai bảo :

- Anh giỏi vậy sao!

Tôi định khuyên :

- Em cũng nên bỏ cho rồi kẻo tàn phá sắc đẹp hết cho xem!

Nhưng tôi kịp làm thinh khi Quyên chồm người đến gần bàn kéo cái gạt tàn thuốc về phía nàng, ánh đèn treo lủng lẳng trên bàn chiếu rõ những nét nhăn trên gương mặt trái xoan không còn hồng hào mà ngày nào đôi môi mình đã hôn từng ly một trên khuôn mặt ấy. Tội quá, thời gian có vẻ tàn nhẩn với nhan sắc đàn bà! Tôi đảo mắt nhìn quanh căn nhà bé nhỏ thật đơn sơ , hơi bề bộn không có vẻ gì chăm sóc của một đàn bà mà tôi từng biết, nàng chu đáo kỷ lưỡng từng chút một thậm chí đến những chiếc lá trong chậu kiểng cũng không dính một vết bụi. Tôi có cảm giác như là một nơi ở tạm, đồ đạt không phải style của Quyên.

Như đọc được ý nghĩ này Quyên bảo:

- Em dọn về đây từ khi ... không giữ được Lou.

- Lou?

Thấy tôi ngạc nhiên Quyên đứng dậy đi lấy khung hình trên kệ đưa cho tôi xem.
- À! Rất kháo khỉnh! Bố nó đâu?

Quyên không trả lời ngay, nàng đứng lên đi lại tủ rượu mở lấy 2 ly và chai cognac, bất chợt nàng quay lại nhoẻn miệng cười trêu tôi:

- Đừng nói là anh cũng bỏ rượu luôn rồi nhe!

Nụ cười thật tự nhiên làm rạng rỡ khuôn mặt nàng như ngày xưa cho tôi thấy ấm lòng, nó phá tan sự lạnh lùng của buổi đầu gặp lại , phong cách thư thả ấy mang lại sự thân quen thuở nào, Nàng vẫn không thay đổi! Quyên nhẹ nhàng ngồi xuống, bàn tay gầy guộc xanh xao đưa ly rượu cho tôi, nàng nói nhỏ :

- Relax đi anh. Em xin lỗi làm anh không thoải mái trong việc gặp gỡ như thế này. Anh biết tính em ... nếu thật sự không cần thiết em đã không muốn làm phiền anh mà chi, nhất là trong tình trạng này. Nàng vừa nói vừa khoác tay chỉ chung quanh rồi cúi mặt để tay trên ngực - sức khỏe em không tốt cho lắm, nhưng em thật lòng không muốn anh nhìn em bằng con mắt đó.

Tôi vội chửa:

- Đừng nói thế ... anh không có ý... anh xin lỗi Quyên!

Nghĩ lại tôi cảm thấy xấu hổ , một thứ xấu hổ tội tệ nhất của thằng đàn ông đã ơ thờ ra đi bỏ lại người yêu không thương tiếc rồi còn tự hào mình khi nàng tìm lại mình sau bao năm trời không liên lạc. Thú thật, tôi không thể dối lòng khi nghe nàng bảo muốn gặp lại, tức thì cái câu "tình cũ không rủ cũng đến" xuất hiện trong đầu đồng thời sau khi cúp phone tôi không tránh khỏi những suy diễn bâng quơ, biết đâu sẽ có một chút romance trong chuyến đi thăm này. Mặc dù trong thâm tâm tôi biết có điều gì không ổn trong giọng nói của nàng - Cố gắng về, em rất cần gặp anh!

Quyên là một trong số ít những người không biết cầu xin ai cái gì bao giờ, dù biết mình cần sự giúp đỡ vô cùng nhưng lại không biết mở miệng nói như thế nào, tôi biết nàng chẳng thà cắn răng chịu đựng còn hơn nhờ vả, có thể cũng do nàng có tự ái cao. Tôi nhớ như in cái buổi chia tay ở công viên, Quyên không hề rơi một giọt nước mắt khi tôi bảo rằng tôi phải dọn đi xa vì công việc mới ở thành phố lớn có tương lai sáng sủa hơn nơi này.Thế là xong. Quyên chẳng buồn hỏi tôi câu nào. Tôi biết mình chạm tự ái nàng dữ dội , là một người con gái khá kiêu Quyên chỉ thốt lên hai chữ - Khốn thật! Rồi ngoảnh mặt bỏ đi, đó là lần chót tôi nhìn nét mặt buồn này . Nàng cắm cúi đi thật nhanh như muốn chạy để xa lánh cái gì thật đáng ghét ! Mặt khác , tôi cũng không ngạc nhiên bởi thái độ ấy vì biết tính cứng đầu của nàng, không bi lụy, không có màn khóc lóc hay năn nỉ nhất là Quyên rất ghét phải xin xỏ hai chữ " tội nghiệp" từ người khác, tối kỵ là của người đàn ông, thậm chí đối với cả bố nàng cũng thế!

Thiệt tình là lý do ra đi đúng với sự thật , tôi rất hớn hở đi tạo dựng cuộc đời ở một nơi hoa mộng để thỏa mản những khát vọng của tuổi trẻ bằng thử thách mới lạ. Và rồi tôi không hề tiếc nuối điều gì khi đeo đuổi danh vọng , đó là những bậc thang thời gian mà tôi cứ leo mãi cho đến ngày hôm nay ngồi ở vị trí này tôi rất hài lòng. Thời gian trôi quá nhanh mà tôi không hề ngoảnh lại nhìn sau lưng, cũng chẳng đứng lại suy tư về quá khứ cho đến khi có cú điện thoại bất ngờ của Quyên. Tôi thu xếp công việc rồi trở về thành phố nhỏ này như đã hứa mấy ngày trước đây. Không có gì thay đổi lắm, vẫn những căn nhà cổ kính, chỉ có những hàng cây trên lề đường già đi và cằn cỏi hơn cũng như tôi và Quyên. Thấm thoát đã mười mấy năm.

-Em lấy chồng ngay sau khi anh dọn khỏi thành phố này và Lou ra đời sau Giáng Sinh vài hôm. Trời ạ, mùa đông năm ấy lạnh kinh khủng... Em không giấu anh, có một lúc em thầm nhủ...giá mà có anh cùng chung vui niềm hạnh phúc ...

-Sorry em ...

-Please Lu, anh không phải cứ sorry làm gì! It's my life... chỉ có em mới tự sorry cho cuộc đời mình không cần ai phải thương cho em cả! Em không tiếc nuối điều gì cho nên anh cũng đừng. Cuộc sống của em có một thời sung túc, êm đềm và hạnh phúc, em đã có tất cả những gì mà bất cứ người đàn bà nào cũng ao ước ... đừng nghĩ là anh bỏ đi đời em tàn lụng, không hề! Nam hơn anh mọi mặt, lúc ấy anh ta đã là một người thành công và khi quen em trong thời gian ngắn Nam đòi cưới ngay.

Giọng nàng vẫn trầm đều pha chút chua chát, tôi biết Quyên không hận tôi nữa nhưng vẫn có phần cay đắng cho nàng. Chúng tôi quen nhau khá lâu nhưng có lẽ tôi không thật sự nghiêm túc trong tình yêu, đối với tôi lúc đó còn quá trẻ chưa lo tương lai được thì không muốn lập gia đình. Tôi nghĩ mình không ác hay ích kỷ, tôi cần có sự nghiệp đàng hoàng vững vàng rồi tính gì thì tính. Tôi không thể bắt nàng hy sinh bỏ gia đình đi theo hay chờ đợi hoặc tôi phải hứa hẹn ngày trở lại. Tôi chỉ muốn chấm dứt để hai đứa không phải bận lòng. Nhưng có lẽ tôi lầm, thái độ và suy nghĩ của mình làm buồn lòng Quyên nhiều lắm. Nhưng sau đó không lâu hay tin nàng đi lấy chồng thì tôi không vương vấn bận tâm, cũng chẳng có lý do gì để liên lạc nữa.

Quyên đứng lên khoanh tay đi vòng vòng, rồi tựa ở cửa sổ nhìn ra ngoài đường nói tiếp:

- Lúc ấy em nghĩ mình là người may mắn nhất trên đời đó chứ. Anh biết em không hề có đức tin nào cả nhưng khi sanh ra Lu, làm mẹ em mới biết thế nào là che chở thương con, em biết ơn trời cho con em một mái ấm gia đình đầy hạnh phúc! Nam bảo em ở nhà chăm con , Lou thông minh và rất ngoan... Bây giờ em không lo cho nó được, em sắp mất tất cả, em đau khổ lắm anh biết không? Sắp tới ngày sinh nhật nó rồi ...anh giúp em kêu nó về, được không?

Lạ thật, tôi không hiểu tại sao nàng lại nhờ một người như tôi làm chuyện này?! Quyên nghĩ gì mà đề nghị tôi như thế, nàng có thể tin tưởng tôi được nữa sao? Bố nó đâu sao không lo ? Tôi cảm thấy bối rối khó chịu mà chẳng biết phải từ chối thế nào. Tôi cũng không nghĩ mình có khả năng thuyết phục được thằng bé . Nhưng nhìn Quyên gần như tuyệt vọng tôi không đành từ chối nhất là lần đầu tiên nàng yêu cầu tôi giúp một việc. Tôi không muốn làm nàng thất vọng cũng như tôi không muốn chính mình thất vọng, nhưng rõ ràng bị đứng ở thế kẹt và tôi không hiểu cái thằng bố của Lou biến đi đâu mà để Quyên khổ như vầy.

Tôi không chịu được điều vô lý này :

-Thế...còn bố cháu, ổng có trách nhiệm với con và em chứ. Chắc gì nó nghe lời anh...dù sao cũng chỉ là người lạ, chẳng là cái thá gì đối với nó đâu em.

-Hơn chục năm nay anh ấy đi đi về làm ăn ở Việt Nam, lúc đầu em còn đi cùng nhưng khi Lou lớn không thể nghỉ học dắt theo mãi. Những chuyến đi ngắn rồi biến thành dài theo thời gian... vài tuần thành vài tháng rồi... cái gì xẫy ra anh cũng thừa hiểu trong thời buổi này.

- Hm... hắn để em gánh vác một mình là không đúng.

- Em không thể đổ lỗi hết cho người ta. Ai nấy có phần, anh cũng vậy, có duyên có phận cả. Nói thế không phải là em cao cả gì đâu! Em cũng đã từng hờn trách, đã nguyền rủa nhiều lắm rồi anh ạ ! Nàng lắc đầu , mắt ngước nhìn lên trần nhà như nói với ai đó - và nghĩ cho cùng bây giờ em mới hiểu là những thứ cay đắng đó nó không ích lợi mà chỉ là một con bệnh! Tính Lou giống anh, em biết anh sẽ dẩn dắt nó được, nó sẽ nghe lời anh hãy thương nó vì cuộc đời nó cần một cha, một người đàn ông!

Tôi không dằn được sự bực bội:

-Em có nghe mình nói gì không? Đúng, nó cần một người cha mà ông ấy sống nhăn răng thì phải có bổn phận với con ổng!

-Nhưng nó không phải là trách nhiệm của Nam, mà là của anh thì ngay bây giờ hãy cho em biết anh sẽ làm tròn bổn phận không chứ?!

-......

Sự kiện của ngày hôm qua có thể thay đổi hoàn toàn cuộc đời kể từ ngày hôm nay. Vở kịch này thật không đơn giản mà tôi không thể xóa trang cũ viết lại trang mới vì phiên bản đã phát hành. Tôi phải đóng tiếp cái vai trò mình đã tự ấn định mà có lẽ khán giả cũng chỉ có mình Quyên đang mong xem cái khúc đoạn kết sao cho có hậu!

Tôi nhìn đồng hồ, móc tấm hình của Lou xem kỷ lại lần nữa trước khi băng qua đường ra bãi đậu xe phía sau cái tiệm nơi họ đang chuẩn bị đóng cửa ra về.



Lữ Hoài
:hoa:



Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Chiếc Bóng của Giọt Nước Mắt   Fri 06 Jan 2012, 10:43

Hành trình Thiện Nhân


(Thứ Hai, 26/12/201)
Năm năm trước, hình ảnh một cậu bé vừa ra đời đã bị mẹ ruột vứt bỏ, bị chó cắn xé mất một chân và bộ phận sinh dục, hàng ngàn con kiến lửa bu đốt khắp mình mẩy... khóc ngằn ngặt đòi sống suốt 72 giờ ở một góc vườn làm rúng động cộng đồng.
Rồi em bé ấy có một gia đình mới, được bù đắp những mất mát bằng rất nhiều yêu thương, được người mẹ nuôi tuyệt vời cầm tay từng bước trong hành trình tìm về chính mình. Và chỉ mới năm năm, Thiện Nhân đã quay trở lại cộng đồng bằng nụ cười thiên thần cùng cơ hội đổi đời cho “những em bé giống mình”. Mỗi ngày em lại có thêm người đồng hành, và mọi người cùng gọi đấy là “hành trình Thiện Nhân”.


Nhiều bài báo liên quan đến cậu bé Thiện Nhân đã gây xúc động cho nhiều người.
Từ đây khởi đầu cho những câu chuyện về các thân phận khác - Ảnh: Đ.THANH


Kỳ 1: Xin một vé đến trưởng thành

Ngày xảy ra câu chuyện của Thiện Nhân, cứ ngỡ trên đời chỉ một mình em gặp bất hạnh đến thế. Ấy vậy mà không phải, vẫn còn nhiều lắm những cô cậu bé và cả những người lớn gặp bất hạnh như Thiện Nhân. Mà nói như bác sĩ Roberto De Castro, người đang cố gắng tái tạo bộ phận sinh dục cho Thiện Nhân, thì ông chưa gặp ở đâu trên thế giới nhiều bệnh nhân của mình như vậy.

Đổi đời đàn ông cho con
Nam (*) là một chàng trai cao ráo, khỏe mạnh và đầy nam tính như bao nhiêu chàng trai khác. Làm công nhân trong một nhà máy ở Củ Chi, Nam không rượu chè bài bạc, đăng ký ở mức tối đa giờ tăng ca, củ mỉ tiết kiệm như bao bạn bè khác. Hơn một nửa tiền lương mỗi tháng Nam gửi về Lâm Đồng cho cha mẹ, nửa còn lại tằn tiện chi tiêu cho bản thân. Chỉ khác là khi bạn bè cùng dây chuyền sản xuất rủ về phòng trọ ở chung, tiết kiệm thêm chút tiền, Nam một mực lắc đầu. Ngoài những giờ cắm mình trong nhà máy, đôi mắt chàng trai ấy cứ u uẩn buồn, lẩn tránh cả các cô gái, cả các cậu bạn trai.
Không ai biết cuộc đời Nam đã lâm vào bi kịch từ ngày mới bốn tháng tuổi. Ở Lâm Đồng, trong gia đình Nam, nỗi day dứt, dằn vặt cứ quanh quẩn mãi trong lòng cha mẹ và chị gái. Không ai quên được cái ngày định mệnh ấy.
Đó là một ngày hè chang chang nắng Quảng Bình của hai mươi mốt năm về trước. Nam bốn tháng tuổi nằm trên võng được giao cho cô chị ba tuổi ru em ngủ, cha mẹ luật quật ngoài đồng. Chị ngủ quên, em lật võng bò xuống đất. Có con chó con lân la ra liếm láp, rồi cắn, rồi nhai cái chỗ nhạy cảm nhất của cậu bé. Tiếng khóc thét của đứa trẻ bốn tháng tuổi không đủ để cứu được đời con trai sau này. Khi người lớn phát hiện, đưa đến bệnh viện thì không còn kịp nữa. Các bác sĩ giữ lại được mạng sống cho Nam nhưng cha không nói nổi một lời, mẹ chỉ còn khóc ngất: “Ôi, con trai tôi”.
Nam dần lớn lên, cảm nhận rõ những thiệt thòi so với chúng bạn. Tuổi thơ hồn nhiên nhưng một bước Nam chạy nhảy là có người chỉ trỏ, xôn xao, lại có người chặn Nam giữa đường, lăm lăm kéo quần để minh họa cho câu chuyện. Nam òa khóc về nhà đóng cửa. Đến tuổi đi học, Nam nhất định lắc đầu.
Bố mẹ quyết định bỏ nhà, bỏ ruộng, bỏ làng, bỏ quê, lặn lội vào tận Lâm Đồng học nghề làm rẫy, trồng cà phê để Nam được yên ổn đi học. Nam cũng nhanh chóng học được cách sống với những bí mật, tính hiếu động cất kín sau cánh cửa. Hết phổ thông Nam lại xin cha mẹ xuống TP.HCM đi làm, càng xa càng tốt.
Không ai biết được có một niềm hi vọng âm thầm vẫn chưa tắt trong lòng người cha. Quần quật với mấy sào cà phê, ông vẫn lặng lẽ theo dõi báo chí, mục sức khỏe, theo dõi các chương trình khoa học, y tế trên truyền hình. Mỗi lần đọc tin một ca ghép thận, ghép gan, ghép tim thành công là ông phấp phỏng. Ông chờ đến ngày y học có thể cấy ghép được bộ phận nhạy cảm ấy để có thể đổi đời cho con trai mình.

Xin cho con làm con gái
Mảnh mai, xinh xắn, vẫn mặc váy hợp mốt giữa mùa đông Hà Nội nhưng đôi mắt của Thu Hằng cứ thăm thẳm buồn, thi thoảng lại ánh lên những ánh sợ hãi. Siết chặt cô con gái nhỏ mới hai tuổi trong tay, ánh mắt Hằng cứ xoáy vào chúng tôi: “Có hi vọng nào cho con em không?”. Công việc ổn định, lấy chồng, có riêng một căn nhà nhỏ giữa Hà Nội, cuộc sống của Hằng tưởng như nở hoa khi con gái ra đời. Nhưng nụ cười đã vụt tắt trên môi người mẹ ngay khi cơn đau hậu sản chưa dứt: con gái không có bộ phận sinh dục, bàng quang lộ ngoài.
Hà Vy nay được hai tuổi rưỡi, là hai năm rưỡi vợ chồng Hằng ôm con ra vào các bệnh viện nhi khắp cả nước, phẫu thuật đã năm lần, bán nhà để đưa con sang tận Singapore nhưng bé Vy vẫn chưa thành con gái. Hà Vy giờ phải đóng tã suốt ngày đêm, ngày nào cũng phải uống kháng sinh và luôn trong nguy cơ bị nhiễm trùng nước tiểu ngược dòng. Vẫn chưa đủ nỗi đau người mẹ. Hằng ướt nước mắt kể tiếp những dự báo của bác sĩ: để giữ được mạng sống, không phải chết vì nhiễm trùng, Hà Vy sẽ phải phẫu thuật đưa đường tiểu qua ngang bụng. và đến năm 12 tuổi, em sẽ phải tiếp tục phẫu thuật cắt bỏ hai buồng trứng, tử cung để dứt đường kinh nguyệt. Trên tivi, mấy cô thiếu nữ nhí nhảnh trong chương trình quảng cáo: “Làm con gái, thật tuyệt!”, Hằng lại ứa nước mắt.
Hôm nay thì Hà Vy chưa biết nỗi đau ấy. Bé vẫn vô tư nghịch với mấy cây bút chì màu, ngước đôi mắt trong veo nhìn mẹ. Bé chỉ có một chút sợ hãi khi nhìn thấy những tấm khăn trải giường màu trắng, màu của bệnh viện. Lau nước mắt, Hằng không hỏi nữa những câu hỏi mà cô đã lặp đi lặp lại hàng trăm lần với hàng chục bác sĩ. Hằng nói cô vẫn còn một hi vọng cho con gái: Vy mới hai tuổi và y học vẫn đang tiến bộ mỗi ngày.
Nam và Hà Vy chỉ là hai trong số rất nhiều bệnh nhân đã, đang và sẽ không được sống với cuộc đời của mình, đã, đang và sẽ phải trông chờ vào các phát kiến của bác sĩ. Còn có bé Minh Phương hồn nhiên quanh quẩn trong căn nhà hẹp không bao giờ mở cửa giữa phố phường Hà Nội. Bé đã năm tuổi nhưng chưa ngày nào được đến trường mẫu giáo. Minh Phương ra đời với khai sinh con gái, để rồi đến một tuổi các bác sĩ mới phát hiện bé là trai với một “con chim” tí xíu bằng hạt đậu.
Từ đấy là những ngày ra vào bệnh viện, những đăm chiêu của bác sĩ, những đàm tiếu của xóm giềng, tò mò của con trẻ. Cha mẹ buộc phải giấu biệt Phương trong nhà. “Thế nhưng sang năm thì Phương nhất định phải thay đổi khai sinh, nhất định phải đi học, phải có những sinh hoạt tập thể với bè bạn. Chúng tôi không biết làm sao để con có thể tránh được những tổn thương”, người cha ôm con vào lòng nhăn mặt như sắp khóc.
Còn có bé Trường chín tuổi ở Hưng Yên bị điện giật cháy cả hai tay và bộ phận sinh dục, bé Danh năm tuổi ở Khánh Hòa bị xe lửa cán, bé Huy ở Đà Nẵng đã năm tuổi nhưng chưa có giấy khai sinh vì chưa xác định được giới tính... Còn có những bà mẹ nghẹn ngào ôm đứa con dị tật vào lòng và bảo: “Tôi không dám sinh thêm cháu nữa, sợ có bề gì...”.
Và bỗng một ngày, những niềm tuyệt vọng ấy gặp nhau trong một niềm hi vọng: câu chuyện của Thiện Nhân.

Kỳ 2: Hi vọng từ Thiện Nhân

(Thứ Ba 27/12/2011)
Hôm nay cả gia đình Nam đã hồ hởi lắm. Hỏi, Nam chỉ nói một câu: “Đổi đời rồi” và sau đó là cười...

Đổi đời
Ông Minh, cha của Nam, oang oang kể bằng giọng đặc sệt Quảng Bình: “Tối ấy tôi xem tivi, thấy một phóng sự về ca phẫu thuật tái tạo bộ phận sinh dục cho bé Thiện Nhân. Tim tôi thắt lại khi nghĩ đến con mình. Hi vọng rồi lại thất vọng khi biết bé Thiện Nhân đã được mổ ở tận nước Ý xa xôi. Có bán cả nhà cả đất đi tôi cũng không lo nổi cho con. Rồi hi vọng lại bùng lên khi thấy chị Mai Anh, mẹ bé Nhân, xuất hiện và giới thiệu về chương trình “Tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ không may” do chị khởi xướng. Bác sĩ đã được mời sang tận VN. Tôi nghĩ con mình không còn là trẻ con nhưng chắc cũng còn cơ hội”.
Phóng sự trên truyền hình vừa dứt, ông Minh vội chộp điện thoại gọi cho con trai. Nhưng ông chưa kịp bấm số thì máy đã reo. Nam cũng đã xem được chương trình. Rồi thì cô dì chú bác của Nam, những người hàng xóm cũ nay đang ở Quảng Bình, Đà Nẵng cũng gọi tới. Niềm hi vọng cho Nam cháy lên bừng bừng trong những người thân. Ông Minh vội viết ngay lá thư gửi đến chương trình, cuối thư ông còn thận trọng viết thêm: “Trong trường hợp không tái tạo được, xin các bác sĩ xem xét việc cấy ghép của tôi cho con...”.
Thư của ông được hồi âm ngay vì đợt khám thẩm định tình trạng đã cận kề. Nam nghỉ việc ở TP.HCM để về nhà với hi vọng “sẽ được sinh ra một lần nữa”. Và một lần nữa, cả gia đình ông Minh khóc oà lên như 21 năm về trước: bác sĩ Roberto De Castro gật đầu: “Sẽ làm được”.
Cùng với Nam, hàng trăm bệnh nhi khác đã được tiếp nhận sau đợt khám vào tháng 8-2011 tại Bệnh viện Nhi trung ương, Hà Nội. Những niềm hi vọng tràn trề cháy lên trong hàng trăm gia đình. Và đến đợt mổ thứ nhất kéo dài 11 ngày vào tháng 11-2011, 31 bệnh nhân đã được phẫu thuật, trong đó có Nam.
Không phải trẻ con nhưng Nam lại được bác sĩ chọn ưu tiên vì hội đủ những yêu cầu về sức khỏe và kỹ thuật cho ca mổ. Sau phẫu thuật, lần đầu tiên cái vật thể đàn ông xuất hiện trên cơ thể Nam, cậu đã ứa giọt nước mắt con trai. Dù là bệnh nhân xuất viện cuối cùng, dù sẽ còn phải tiếp tục phẫu thuật thêm ít nhất hai lần nữa để có một cơ thể hoàn thiện, niềm vui tái sinh đã bừng bừng trong gia đình Nam những ngày này. Dù vẫn kín tiếng không cho ai biết, nhưng cửa nhà ông Minh những ngày cuối năm không ngớt khách đến thăm hỏi, là những bà con nội ngoại thân gần và cả một vài người bạn chí thiết đã được Nam chia sẻ bí mật cuộc đời.
Niềm vui đổi đời cũng bừng lên trong gia đình bé Minh Phương khi Phương được tiêm ba đợt hormone và được phẫu thuật để kéo ra những phần cơ thể bị vùi sâu. Phương cũng sẽ phải phẫu thuật vài lần nữa nhưng cha mẹ cậu bé bắt đầu yên tâm làm đơn xin đổi khai sinh cho con. Với Hải Phong ở Hải Phòng, Thành Nam ở Đồng Nai, Mai Lan ở Tuyên Quang... cũng vậy. 31 ca phẫu thuật là 31 niềm vui cho cả đại gia đình.
Và ngoài cái tên bác sĩ Roberto bập bẹ trên môi tất cả các bệnh nhân nhí thì cha mẹ các em luôn miệng nhắc “cô Mai Anh, bé Thiện Nhân”. Cả bác sĩ Roberto De Castro nữa, không nói nhiều về công việc của mình, ông cũng luôn miệng nhắc “cô Mai Anh, bé Thiện Nhân”.


“Cô Mai Anh ơi...”

Thiện Nhân cũng là một trong 31 bệnh nhân được phẫu thuật lần này, đã là lần phẫu thuật thứ tư của em trong quá trình tìm lại chính mình. Lần này, tỏ ra đã quen với bác sĩ, với kim tiêm, phòng mổ, Thiện Nhân chống nạng đi đến từng giường bệnh của các bạn, động viên khi nghe tiếng khóc: “Không sao đâu mà, lúc mổ thì tiêm thuốc mê, ngủ rồi không biết đau đâu...”. Làm gương cho các bạn, Nhân không la khóc dù lần này em phải đặt hai túi bóng nước vào hai bên bẹn để kéo giãn da, chuẩn bị cho lần phẫu thuật sau. Đau lắm thì Nhân cũng chỉ chảy nước mắt và mỉm cười ngay khi nào có thể. Em luôn miệng: “Mẹ Mai ơi, con không đau đâu, con không khóc đâu...”.
Nhân dường như đã trở thành một người đàn ông thực thụ.
Mẹ Mai của Nhân, cô Mai Anh của các bệnh nhân nhí, chị Mai Anh của các bậc cha mẹ là một phụ nữ nhỏ bé, gầy gò, giản dị và nhanh nhẹn. Phối hợp với Quỹ Phòng chống thương vong châu Á, chị đã lên truyền hình để giới thiệu chương trình “Tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ em không may”, sử dụng địa chỉ nhà mình và số điện thoại của mình để nhận hồ sơ, bệnh án. Hàng trăm bộ hồ sơ bệnh nhân từ tuổi nhi đồng đến tuổi thanh niên đã được gửi đến, hàng trăm cuộc điện thoại mỗi ngày.
Mai Anh nhận hồ sơ, dịch ra tiếng Anh, gửi đến bác sĩ, liên hệ bệnh viện, sắp xếp giờ khám, lịch mổ cho từng người. Chị đứng bên giường bệnh phiên dịch cuộc trò chuyện, thăm hỏi, dặn dò giữa bác sĩ và bệnh nhân. Chị ra vào bệnh viện như con thoi để giải quyết các nhu cầu, sự cố từng ca một. Chị luôn miệng trả lời điện thoại của bệnh nhân khắp nơi gọi đến với hàng trăm thắc mắc, nhu cầu khó nói. Những ngày cao điểm khám và mổ cho bệnh nhân, chị huy động cả bố mẹ, cả bé Thiện Nhân vào cuộc để đáp ứng kịp thời yêu cầu công việc.
“Cô Mai Anh ơi...” là câu cửa miệng của các bệnh nhân nhí, “Cái này phải hỏi chị Mai Anh...” là câu cửa miệng của cha mẹ các em. Hỏi vậy có biết Mai Anh là ai không, mọi người bảo: “Biết chứ, Mai Anh là mẹ bé Thiện Nhân”. Hỏi nữa, có biết Mai Anh làm gì trong những cuộc phẫu thuật này không thì mọi người ngần ngừ lắc đầu. Hỏi nữa, kinh phí ở đâu để phẫu thuật, lại càng không biết...
Không biết, nên ông Minh, cha của Nam, đã kêu ồ lên sửng sốt khi biết số tiền 10 triệu đồng Mai Anh đưa cho Nam ra về khi xuất viện để bồi dưỡng đợi lần phẫu thuật sau là tiền lương tháng của chị vừa mới lĩnh. Không biết, nên Hằng đã sụt sùi khóc khi biết Mai Anh vào bệnh viện ký nợ 60 triệu đồng để bé Hà Vy được tiêm ba mũi thuốc đặc trị, cứu lấy mạng sống mong manh vì bị nhiễm trùng ngay sát ngày ca phẫu thuật đã được lên lịch...
Ấy thế mà Mai Anh lại chẳng phải là bác sĩ, chẳng phải chuyên gia, chẳng phải nhà tài trợ giàu có nào. Cắt nghĩa cho tất cả những việc mình đã, đang và sẽ còn tiếp tục làm, nhà báo này chỉ nói ngắn gọn: “Tôi là một người mẹ”.
Là mẹ thì luôn sẵn sàng làm tất cả những gì tốt nhất cho con mình. Mai Anh lại còn sẵn sàng làm những gì tốt nhất cho con của người khác. Ấy là vì không chỉ làm mẹ của hai cậu bé thiên thần Thiên Minh, Hải Minh do chính mình sinh ra, Mai Anh còn làm mẹ của Thiện Nhân, cậu bé đặc biệt mà chị đã tự mình ôm vào lòng hơn bốn năm về trước.
______________
Không biết số phận Thiện Nhân sẽ ra sao nếu không có những con người nhân hậu, trong đó có Mai Anh. Mời bạn ghé thăm nhà Mai Anh để hiểu thêm về một bà mẹ đáng kính.


Kỳ 3: Vì tôi là mẹ

(Thứ Tư 28/12/2011)Ai gặp Mai Anh cũng sẽ thấy chị quá bé nhỏ, quá gầy gò so với mỗi vai trò mà mình gánh vác, lại càng quá bé nhỏ so với các vai trò ấy cộng lại: là mẹ của ba cậu con trai, trong đó có một cần phải được đặc biệt quan tâm chăm sóc là Thiện Nhân, là biên tập viên chính của tạp chí Heritage, là người gánh vác chính của chương trình “Tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ em không may”...
Vậy mà với mỗi vai trò, Mai Anh đều làm tròn một cách xuất sắc và với một nụ cười.



Mẹ Mai Anh và bé Thiện Nhân trong một chuyến điều trị tại Mỹ

Mẹ Mai
Thật khó có thể tìm thấy Mai Anh ngồi ở đâu một chỗ. Lúc nào chị cũng tất bật với hàng tá công việc không tên và có tên. Sáng sớm lo cho con ăn sáng, rồi đưa con đi học, ba cậu con trai là ba ngôi trường khác nhau. Rồi Mai Anh đi làm, tất bật giữa máy tính, điện thoại với những bản thảo, bản in, dự án. Chiều đón con về, cơm nước và dạy con học buổi tối tại nhà. Hà Nội đang mùa đông, chiếc xe máy Mio cũ của nhà báo Mai Anh như oằn xuống với bốn mẹ con dày trong những chiếc áo rét. Xen vào những thường nhật ấy là những lần cả ba anh em cùng lây nhau lăn ra sốt vì ngủ chung giường, là những đợt Thiện Nhân đi bệnh viện điều trị dài ngày, đi cấp cứu bất thường vì những đột biến và cả những tai nạn bất ngờ vì... nghịch quá.
Bất thường xảy ra mãi rồi cũng thành bình thường. Nên Thiên Minh, Hải Minh đã quen với việc mẹ vắng nhà mỗi lần em Nhân phải đi nằm viện, quen với việc trò chuyện, trao đổi với mẹ trên mạng Skype mỗi bận xa nhà. Cậu bé Thiên Minh năm nay mới lớp 6 nhưng từ năm ngoái đã biết cách khéo léo thay băng nhẹ tay cho em, biết cả cách dùng bút chì, thước kẻ, đũa làm nẹp chân, garô cầm máu cho Nhân khi em trượt chân trong nhà tắm. Hải Minh chỉ hơn Nhân một tuổi, đã biết nói chuyện, trêu đùa để em bớt những cơn đau hậu phẫu, biết nhường nhịn, không bao giờ tị nạnh khi mẹ ôm Nhân trong lòng...
Một ngày chỉ có thể gặp Mai Anh ngồi nguyên một chỗ trong những phút hiếm hoi buổi tối khi các con đã học xong bài. Bốn mẹ con tụm lại trên giường đọc truyện, chơi trò đố vui, những tiếng cười rộn rã như là không có những nỗi đau. Và ngay khi đó thì máy tính của Mai Anh vẫn đã sẵn sàng mở để giải quyết công việc.
Thi thoảng hơn nữa là những phút riêng tư ở cuối bữa cơm, khi Thiên Minh, Hải Minh cố ý nán lại tâm sự với mẹ. Và câu chuyện khi nào cũng xoay quanh Thiện Nhân. Là câu hỏi vô tư của Nhân khi bốn mẹ con cùng chơi trò “gà đẻ trứng”: “Mẹ ơi, mẹ đẻ con ra trước hay anh Hải Minh ra trước? Lúc nằm trong bụng con có đạp mẹ mạnh bằng anh Thiên Minh không?”. Là phút mà Nhân lâm vào một cơn bàng hoàng khi bất chợt nhìn thấy tấm ảnh mẹ Mai Anh bế Thiên Minh khi ấy vừa tròn 1 tuổi. Không nhận ra anh Thiên Minh, Nhân nói mà gần khóc: “Mẹ ơi, mẹ xem này, lúc còn đủ hai chân con đẹp chưa này?”...
Khó có thể ngăn được một giây tim nhói đau khi nghe những câu chuyện ấy về Thiện Nhân, lại càng khó ngăn được cảm giác xao lòng trong vui mừng khi nghe mấy mẹ con Mai Anh bàn nhau xem phải cư xử làm sao trước những tình huống ấy: im lặng, lảng tránh, nói dối?... Mẹ Mai Anh bảo: “Các con cứ nói sang chuyện khác để em quên đi ngay lúc đó. Sau này...”.
Sau ca phẫu thuật vừa rồi, ngoài việc chuẩn bị cho Nhân bước vào ca phẫu thuật tiếp theo vào tháng 4, tháng 9 năm sau, mẹ Mai Anh còn phải lo đến việc Nhân sắp vào lớp 1. Sợ vào học Nhân sẽ lại phải nghỉ nhiều vì nằm viện, mẹ đã cho Nhân đi học chữ mỗi tuần hai buổi tối ngay từ bây giờ. Hải Minh đã đọc thông viết thạo rồi cũng được mẹ gửi luôn vào lớp để gần gũi, giúp đỡ em. Lo Nhân không theo kịp bạn bè trong lớp nhưng cả nhà cũng lại lo đến một ngày rất gần thôi Nhân sẽ biết đọc, biết mở máy tính, biết lên mạng và sẽ đọc được những bài viết về mình. “Lúc ấy không biết sẽ sao đây...” là phút trầm ngâm thật giống nhau của mọi thành viên trong gia đình, từ ông bà ngoại đến cha mẹ, đến các anh của Nhân trong những ngày này.
Lo là lo vậy, nhưng hơn ai hết Mai Anh biết cậu con trai rất thông minh và nhạy cảm của chị cũng sẽ rất dũng cảm khi nhận biết sự thật. Và những người quan tâm đến Thiện Nhân cũng đồng ý rằng Mai Anh không phải lo, vì thật hơn cả sự thật về Nhân là tình yêu thương ắp đầy mà chị và cả gia đình mình đã dành cho em.
Không cần cố gắng
Nuôi dạy một đứa trẻ đã khó, nuôi dạy một đứa trẻ khuyết tật khó hơn, cùng đứa trẻ khuyết tật ấy khắc phục khiếm khuyết của mình lại càng khó nữa. Và khó nhất lại chính là khuyết tật của Thiện Nhân, dễ tổn thương nhất lại chính là đức tính thông minh và nhạy cảm của Nhân so với những khắc nghiệt đến mức khốc liệt mà em phải đối mặt. Thế nhưng Mai Anh đã quyết sẽ dắt tay Thiện Nhân đi đến cùng của sự hoàn thiện, cả thể chất, cả tinh thần, quyết dùng tình yêu không vơi cạn của mình đánh đổi lấy cái ác, sự vô tâm mà bé đã không may gặp phải từ khi mới lọt lòng. Mai Anh đã quyết như thế ngay từ lần đầu gặp Nhân, dù sau đó cũng phải trải qua những đêm không ngủ để suy nghĩ. Những đêm ấy Mai Anh bảo chị không đắn đo mà chỉ tính toán xem mình sẽ phải làm gì cho Thiện Nhân.
Năm 2008 ấy, gia đình chị vừa trải qua một biến cố lớn, mà theo chị, đó là đại nạn thứ ba đến với gia đình trong đời mình. Lượng tính trước những khó khăn, thử thách vô vàn sẽ đến cùng Thiện Nhân, một người thân của chị khuyên: “Đừng bắt đầu một việc sẽ không bao giờ kết thúc”. Mai Anh bước qua. Vừa trải qua một cú sốc lớn trong đời, cha chị nhủ: “Gia đình mình đang cần một thời gian để bình yên. Con muốn làm một việc nhân nghĩa, bố không thể bảo con đừng làm, nhưng vì không muốn con khổ, bố cũng không bảo con nên làm. Con tự suy nghĩ, thấy mình làm được hay không thì hãy quyết định”. Mai Anh bước tới.
“Mọi người nghĩ việc nuôi dạy, chăm sóc, lo chữa trị các khuyết tật cho Thiện Nhân là một việc quá sức, nhưng tôi lại thấy nhẹ nhàng. Không có người mẹ nào mệt mỏi khi chăm con cả. Gặp bé Thiện Nhân, trong lòng tôi không phải tình thương mà là tình yêu. Tình yêu của mẹ với con mình. Là mẹ, tôi không cần cố sức. Tự khắc sẽ tỉnh dậy ngay khi con sốt, tự khắc sẽ nghe tiếng con rên vì đau, tự khắc sẽ biết có những giọt nước mắt con khóc thầm trên má... Nên mọi người thấy tôi ốm yếu, tên thường gọi là Còi, nhưng tôi vẫn được làm mẹ của Thiện Nhân”. Mai Anh lý giải bình thản mà khiến người nghe không khỏi ngạc nhiên, không khỏi xao xuyến. Tựa như cuộc đời đã công bằng khi sắp xếp cho Thiện Nhân gặp chị, để bé có một người mẹ thật sự sẽ lấp đầy được những khoảng trống bất hạnh.
Cuộc đời công bằng nên Mai Anh cũng đã gặp được một may mắn lớn trong đời ngoài những gập ghềnh trắc trở: trong một dịp tình cờ, chị đã được chụp phim và phát hiện kịp thời một dấu phình động mạch chủ trên não ngay vào giai đoạn nó đã đến ngưỡng vỡ. Bước vào ca cấp cứu sinh tử bất ngờ, Mai Anh vẫn còn tranh thủ vài giờ để chuẩn bị chúc thư cho các con. Các bác sĩ run tay khi cầm tấm phim chụp, nhưng khi nhận ra Thiện Nhân quẩn bên chân mẹ thì lại khẳng định như đinh đóng cột: “Đã là mẹ của Thiện Nhân thì nhất định sẽ vượt qua được”. Mẹ được đẩy vào phòng mổ, Thiện Nhân với theo nhét vào túi áo mẹ một chiếc ôtô nhựa nhỏ xíu. Chiếc xe của bé đã chở mẹ Mai Anh bình yên vượt qua cơn thập tử nhất sinh.
Nói như bà ngoại của Thiện Nhân: “Nhân đã tự mình chiếm được tình yêu của mọi người”.
_______________
Mọi người yêu mến Thiện Nhân gọi em là “chú lính chì”. Dù chỉ có một chân, “chú lính chì” đã vượt qua đau đớn và bước tới từng bước...


Kỳ 4 : Chú lính chì dũng cảm

(Thứ Năm, 29/12/2011)
Tình yêu đầy ăm ắp dành cho Thiện Nhân có thể dễ dàng nhận ra ngay khi bước chân vào cửa nhà mà ba thế hệ của gia đình đang chung sống.

Là bước nhảy lò cò mạnh dạn của Nhân không rời bước chân các anh Thiên Minh, Hải Minh, Nhật Nguyên và bà ngoại. Là tiếng bà dỗ: “Ăn nhiều hơn các anh một chút nhé, vì Nhân còn phải đi mổ nữa mà”. Là câu đầu tiên khi ông ngoại đi làm về vào đầu buổi tối: “Nhân ăn xong chưa, lên ông tắm cho”.

Xót xa dành hai chữ Thiện Nhân

Những ngày này bà ngoại Kim Anh đang bàn với mẹ Mai Anh về chuyện đi vệ sinh của Nhân ở trường, nơi em sẽ vào lớp 1. Hoặc một chỗ vệ sinh cho người khuyết tật, hoặc nếu không được thì xin phép cho Nhân được đi vệ sinh trong giờ học, “hay như thế nào đó để Nhân không bị bạn bè chọc ghẹo, tò mò”. Bà cứ băn khoăn mãi với những suy tính rất đời thường, rất gần gũi cho cháu mà chỉ có tấm lòng của bà, của mẹ mới nghĩ đến được. Nhân thì vô tư lò cò quanh bà, bá cổ, leo lên lòng bà, chơi trò đố những câu quen thuộc. Nhân chưa biết trong ánh mắt trìu mến bà ngoại dành cho Nhân có bao nhiêu ánh là đau xót. Bà viết vần thơ cho cháu: “Khờ dại và sợ hãi đã cắn xé trần truồng/ đứa trẻ và người đàn ông khoảng cách ngăn vô tận/ yêu thương ư chùi sao khô nước mắt/ xót xa dành hai chữ Thiện Nhân…”.
Bà kể lúc đầu bà đã không bằng lòng khi Mai Anh báo tin sẽ nhận Thiện Nhân về làm con. Nhưng bà không thể ngăn Mai Anh làm một việc thiện, rồi lại chính bà là người đầu tiên đón Nhân từ tay Mai Anh khi vừa về đến nhà, pha chậu nước ấm tắm cho cháu. “Cởi quần áo thằng bé, nhìn thấy rõ những tổn thương của nó, nước mắt tôi rơi xuống. Tôi hiểu vì sao Mai Anh đã yêu nó”. Có mẹ nào mà không hiểu con mình.
Bà kể ngày bé Mai Anh đã từng ra ngồi ở vỉa hè suốt cả một tuần để chờ con mèo đi lạc, đã từng khóc nức nở khi con cá vàng đang nuôi bỗng nhảy ra khỏi bể, Mai Anh đi học về thấy kiến bu đầy. Làm cô giáo, bà đã viết rất nhiều những bài thơ về lòng nhân trong cuộc đời cho Mai Anh đọc thuộc để rồi chị trở thành một người mẹ như hôm nay.
Và rồi bà kể về Thiện Nhân. Ngày đầu tiên mới về lạ nhà, Nhân khóc suốt và bám chặt vào anh Thiên Minh không rời. “Thiên Minh không dám nhúc nhích vì sợ em ngã, em khóc và thương Nhân từ đó. Chỉ sau ba ngày, Nhân đã quen với cả nhà và bắt đầu cười, bắt đầu giơ tay bám chặt vào bà, vào ông ngoại. Mọi người không còn thấy mệt khi phải chăm sóc từng li, theo Nhân từng bước nữa. Tôi biết Nhân đã thành ruột thịt của mình”, bà tâm sự. Và ngày ấy bà đã viết câu thơ cho Nhân: “...mất đi cái sự bình thường/ đổi bao nhiêu gánh tình thương bây giờ/ xin đừng về giữa cơn mơ/ đớn đau tắt tiếng trẻ thơ chào đời…”.

Con xin làm người bình thường

Đúng vậy, làm sao mà không yêu một đứa bé như Nhân. Trong những cơn đau giữa đêm vì những vết mổ chồng chéo, em biết cắn chặt răng khóc thầm. Khi mẹ phát hiện, hỏi, Nhân nói nhỏ: “Con muốn để mẹ ngủ”. Mẹ thường dạy Nhân là con trai phải dũng cảm, không được khóc. Mẹ Mai cũng rất dũng cảm nhưng Nhân biết mẹ cũng khóc khi con vào phòng mổ. Trước ca phẫu thuật, lúc nào Nhân cũng tự mình trấn an mẹ: “Con sẽ không khóc đâu”.
Bốn năm về với mẹ Mai là bốn năm Nhân phải đi từ bệnh viện này sang bệnh viện khác, từ ca phẫu thuật này sang ca phẫu thuật khác. Không thể tránh khỏi nỗi sợ bệnh viện nhưng Nhân đã được mẹ dạy: “Con bị bệnh, muốn được như các anh thì phải chịu khó chữa bệnh” nên bác sĩ, y tá nào cũng luôn nhớ nụ cười rất xinh của em. Nhân dạn dĩ trước mọi người đến thăm hỏi, trước các ống kính máy ảnh, máy quay phim, biết cả vẫy tay chào khi được tổ chức đón rước. Dứt ca phẫu thuật, trên mình còn đầy kim truyền, Nhân đã ngồi dậy vẽ tranh tặng bác sĩ. Mẹ Mai Anh cũng có lúc mệt mỏi với những ngày trong bệnh viện cùng con, lúc nhói đau khi nhìn Nhân yếu ớt trên giường bệnh, lúc ôm lấy con mà nói “Xin lỗi con, mẹ đã bắt con phải chịu nhiều đau đớn quá”.
Hôm nay Nhân vừa qua ca phẫu thuật thứ tư, hai bên hông là hai túi nước được đặt để kéo giãn da. Ấy vậy mà Nhân vẫn thoăn thoắt lò cò mỗi khi nghe tiếng mẹ gọi, vẫn hăng hái chơi trò đá bóng với các anh ở khoảng sân nhỏ trước nhà. Mỗi lần được ông ngoại dẫn vào công viên Lê Nin chơi, Nhân đạp xe đạp một chân còn thắng cả hai anh. Mỗi tuần phải bơm thêm nước, em chỉ thầm thì “Quá đau, quá đau” rồi lại xuống nhà tự xúc cơm, cố gắng ăn nhiều hơn, nhanh hơn hai anh theo lời bà ngoại.
Được mẹ cho đi học, Nhân thích lắm, tự chọn quần áo, tự xếp vở, bút, tự xem đồng hồ rất đúng giờ. Tiếng cười giòn của Nhân làm mọi người nguôi đi những lo lắng cho em và mẹ Mai Anh càng khẳng định: “Nhân sau này sẽ là một chàng trai rất mạnh mẽ và rất đẹp trai nữa”. Tương lai ấy nhất định sẽ đến, còn hôm nay Nhân đã viết thư cho ông già Noel: “Con muốn khỏi bệnh, muốn giống như các anh”. Năm tuổi, Nhân đã không còn mơ giấc mơ siêu nhân mà chỉ có giấc mơ rất đời thường như thế.
Đó cũng là giấc mơ của mẹ Mai Anh, các bố mẹ trong hội Thiện Nhân, và tất cả những ai quen biết, yêu mến em. Mọi người đều gọi Nhân là “chú lính chì”. Chú lính chì dũng cảm luôn đứng thẳng, giữ đúng tư thế dù chỉ có một chân, chú lính chì không một tiếng kêu than khi trải qua thử thách, hiểm nguy, chú lính chì luôn hướng đôi mắt mình về cái đẹp, sự hoàn thiện.
Không có ông già Noel nên mẹ Mai Anh đã quyết sẽ cùng Nhân thực hiện giấc mơ đời thường này. Từ bốn năm nay, hành trình đi đến giấc mơ “trở lại bình thường” của Nhân đã được mẹ Mai dắt từng bước, từng bước, được bao nhiêu bố mẹ khác ủng hộ, dõi theo đầy yêu thương. Con đường Nhân và mẹ đi dài, chậm, đau, mỏi, nhưng Nhân không dừng lại, mẹ không buông tay…
_______________
Đưa Thiện Nhân từ Quảng Nam ra Hà Nội, Mai Anh lo chữa trị những vết thương lở lói trên người bé. Rồi chị ôm Nhân sang Thái Lan. Các bác sĩ chuyên khoa lắc đầu và khuyên: cho Nhân phẫu thuật... chuyển đổi giới tính



Phạm Vũ :hoa:



Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: phóng sự tiếp theo   Fri 06 Jan 2012, 10:56


Kỳ 5: Vòng quanh thế giới


(Thứ Sáu 30/12/2011)
Ngày bay vào Quảng Nam đón con, nhìn cảnh thằng bé mình đầy thương tích, đôi mắt trong veo, bò lê la với cái chân cụt tìm nhặt quả chuối, Mai Anh tin rằng Thiện Nhân sẽ trở thành một người đàn ông thật sự. Nhưng ngày ấy chị chưa biết hành trình sẽ dài đến thế.

Con chính là đàn ông
Đưa Nhân về Hà Nội, tự tay bôi thuốc cho từng nốt ghẻ, tự tay luộc tẩy quần áo mỗi ngày, chữa trị xong những vết thương ngoài da, Mai Anh đã vội ôm con sang Thái Lan mong tái tạo bộ phận sinh dục càng sớm càng tốt.
Các bác sĩ chuyên khoa lắc đầu: “Y văn thế giới chưa ghi nhận tiền lệ nào như thế cả” và các bác sĩ đề nghị với chị một giải pháp dễ dàng hơn: cho Nhân phẫu thuật chuyển đổi giới tính, bé vẫn còn rất nhỏ đến không nhận biết được giới tính thật sự của mình. Không cần suy nghĩ một giây dù đã là mẹ của hai cậu con trai, Mai Anh lắc đầu: “Tạo hóa đã cho Nhân làm một người đàn ông”.
Quyết tâm ấy của Mai Anh được cả nhà đồng tình dù bà ngoại của Nhân luôn mong mỏi “chỉ nửa đứa con gái thôi cũng được” giữa đàn cháu nội ngoại chẵn sáu đứa con trai. Bố mẹ đỡ đầu của Nhân là ông Greig Craft, giám đốc Quỹ Phòng chống thương vong châu Á và cô Na Hương cũng đồng tình như vậy. Và tất cả cùng tiếp tục những hành trình tiếp nối hành trình không biết đâu là điểm cuối.
Thông tin tình trạng, bệnh án, hình ảnh các vết thương của Nhân được gửi đi khắp các bệnh viện trên thế giới để tìm kiếm một tia hi vọng. Ở đâu trả lời, nhận điều trị cho Nhân dù chỉ một giai đoạn ngắn trong quá trình chữa bệnh, Mai Anh cũng tìm đến. Cơ hội cho con là tất cả.
Câu chuyện về Nhân được lan truyền và nhờ thế em có thêm cơ hội. Các y bác sĩ hầu như đều tình nguyện không tính tiền công, hãng hàng không giảm tiền vé, các mẹ trong Hội Thiện Nhân vừa được quy tụ đóng góp từng khoản tiền nhỏ giúp mẹ Mai mua thuốc, từng chiếc áo ấm, từng gói mì mang theo ăn trong bệnh viện. Cả bà con Việt kiều ở nước ngoài cũng tình nguyện làm tài xế cho hai mẹ con, mang đến tặng Nhân từng hộp sữa, món đồ chơi.
Nhờ thế mà mẹ Mai Anh đã bế Thiện Nhân sang tận Singapore, Đức, Mỹ, đến Chicago, Los Angeles, New Hampshire để phẫu thuật niệu đạo và làm chiếc chân giả đầu tiên vào cuối năm 2008.
Một năm sau, mẹ Mai Anh và bố Greig cùng bà ngoại lại đưa Nhân sang Texas (Mỹ) điều trị tiếp đường niệu đạo và xét nghiệm tầm soát với hi vọng mong manh em còn tinh hoàn ẩn ở đâu đó. Ca điều trị thành công nhưng các bác sĩ lắc đầu với khả năng tái tạo bộ phận sinh dục.
Tưởng như đã tuyệt vọng, đã bỏ cuộc, nhưng niềm tin sắt đá cho con trai trong Mai Anh vẫn chưa lay chuyển. Biết tin có một cuộc hội thảo khoa học về các tiến bộ mới của y khoa tại Mỹ ngay lúc Thiện Nhân đang điều trị ở đó, Mai Anh đã tìm cơ hội để có mặt.
Bằng khả năng tiếng Anh chuẩn mực và những ngày đêm lần mò tự học các thuật ngữ y khoa, đọc tài liệu khoa học để tìm hướng điều trị cho con, chị đã thuyết phục được các nhà khoa học hàng đầu thế giới chú ý đến trường hợp của Thiện Nhân. Tên của Thiện Nhân đã được ghi vào danh sách giám sát điều trị của các giáo sư y khoa giỏi nhất.
Và năm 2010, khi bác sĩ Roberto De Castro ở Bệnh viện Bologna, Ý công bố công trình phẫu thuật và tái tạo thành công bộ phận sinh dục, giữ được chức năng, cảm giác và cả sự phát triển cùng với cơ thể, thì Mai Anh được báo tin đầu tiên và tên của Thiện Nhân cũng được giới thiệu ngay lập tức.
“Vét hết tiền tiết kiệm, tôi đưa Nhân sang Ý ngay”, hôm nay mắt Mai Anh vẫn còn lấp lánh vui khi kể về chuyến đi mang tính bước ngoặt ấy. Thăm khám cho Thiện Nhân, bác sĩ Roberto gật đầu bảo “được” và thông báo em sẽ phải phẫu thuật ít nhất ba lần.
Nghe câu chuyện của Thiện Nhân và người mẹ, bác sĩ đã không giấu nổi xúc động và nhất nhất đồng ý với Mai Anh: ưu tiên cho Nhân mổ trước, xếp lịch mổ vào dịp Tết Nguyên đán VN là lúc chị có được kỳ nghỉ dài hơn để chăm sóc con. Bác sĩ còn tự nguyện giảm một nửa chi phí phẫu thuật, là tiền công của chính mình.
Không chỉ riêng con
“Hớn hở chuẩn bị cho lịch hẹn, mình về tới VN mới nhớ ra sẽ chẳng tìm đâu ra 75.000 USD, khoảng 1,5 tỉ đồng, là chi phí cho cuộc phẫu thuật đã được giảm một nửa”, Mai Anh cười. Không biết tìm đâu nhưng chị lại biết mình sẽ tìm được, sẽ lo được. Mẹ lao vào làm dự án mới, bà ngoại rồi ông ngoại rút tiền tiết kiệm, hàng trăm bố mẹ thường theo dõi trang web thiennhan.info quyên góp...
Đến ngày đi vẫn chưa đủ 1,5 tỉ đồng nhưng Mai Anh vẫn dẫn Thiện Nhân chống nạng lên máy bay, đưa cả anh trai Thiên Minh đi cùng để giúp mẹ săn sóc em, ăn cái Tết Nhâm Dần bằng mì gói trong phòng phẫu thuật.
“Kiểu gì rồi cũng sẽ qua được”, Mai Anh tự nhủ như bản tính của chị.
Và mấy mẹ con đã qua được thật. Khi gặp Thiện Nhân, không chỉ bác sĩ Roberto mà cả các bác sĩ khác, các y tá, hộ lý cũng tình nguyện không lấy tiền công. Cộng đồng người Việt nghe tin cũng đến giúp đỡ. Thiện Nhân đã dũng cảm vượt qua ca phẫu thuật với dòng nước mắt chảy lặng lẽ và em bật cười khi anh Thiên Minh ghé tai thì thầm: “Nhân đã có “con chim” xinh nhất thế giới”.
Trong hành trang của Mai Anh lần sang Ý này không chỉ có hồ sơ bệnh án của Thiện Nhân. Chị còn mang sang những lá thư thống thiết của nhiều ông bố, bà mẹ khác kể về trường hợp con mình và nhờ chị giúp đỡ, những mẩu tin cắt trên báo về một vài tai nạn thương tâm đã khiến các bé trai lâm vào tình trạng giống như Nhân.
Hỏi bác sĩ Roberto, nhìn vào lịch mổ, lịch bay khắp thế giới dày đặc của bác sĩ, nhớ lại chặng đường gian nan vòng quanh thế giới bệnh viện, những ngày đau đầu “tìm tiền” của mình, xem lại những nét chữ, mẩu giấy hằn sâu sự khắc khổ của những bậc cha mẹ VN, bỗng nhiên Mai Anh thấy mình can đảm. Chị hít một hơi dài rồi mạnh dạn đề nghị: “Bác sĩ có thể đến VN để giúp các bệnh nhi khác không?”.
Trong một cuộc trò chuyện sau này, bác sĩ Roberto De Castro tâm sự rằng ông không có câu trả lời nào khác trước người phụ nữ “thông minh hết sức và nhân ái tuyệt vời như Mai Anh”. Hiểu rõ những khó khăn mà gia đình chị đã phải vượt qua để đến Bệnh viện Bologna, lúc ấy ông đã nói giản dị: “Nhưng tôi không thể đi bộ đến VN”.
Khỏi phải nói về niềm vui của Mai Anh. Cùng với Quỹ Phòng chống thương vong châu Á, chương trình “Tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ em không may” được chị lao vào chuẩn bị. Nguồn vốn đầu tiên và quan trọng nhất đã có: bác sĩ Roberto và đồng sự của ông đã đồng ý đến VN chỉ với một yêu cầu: vé máy bay và tiền ăn ở.
____________________
Bác sĩ Roberto và đồng sự đã đồng ý đến VN. Nhưng những khó khăn mới lại xuất hiện khi có quá nhiều thân phận như Thiện Nhân.


Kỳ 6: Nhọc nhằn trang cổ tích

(Thứ Bảy 31/12/2011)
Không có tiền, không có tài trợ, không có chuyên môn, không có kinh nghiệm nhưng Mai Anh, Greig và những thành viên khác của Quỹ Phòng chống thương vong châu Á vẫn lao vào cuộc. Một lần mời bác sĩ đến là một lần khó, Mai Anh quyết tận dụng cơ hội này cho những số phận không may khác.

Lại thêm một bạn như con
Tập hợp những tin tức từ báo chí, Mai Anh chủ động tìm địa chỉ, liên lạc đến từng nhà của các cậu bé đã bị tai nạn như Thiện Nhân. Hồ sơ của Trường (Hưng Yên), Danh (Khánh Hòa) lập tức được gửi đến. Thông báo trên mạng, thêm một số bà mẹ nữa tìm đến hỏi trường hợp con mình. Vẫn chưa yên tâm, khi các báo đài đến làm phóng sự về Thiện Nhân, Mai Anh lại tranh thủ giới thiệu mong muốn của mình. Bà mẹ Mai Anh vốn quen lối sống kín đáo, quây quần cùng con cái bỗng xuất hiện mạnh dạn trên các chương trình Sắc màu cuộc sống, Người xây tổ ấm và cả Chiếc nón kỳ diệu. Nhiều người ngạc nhiên, Mai Anh gật đầu bảo chính chị cũng ngạc nhiên, nhưng tất cả là vì sự nghiệp “tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ em không may”.
Hồ sơ ào ạt gửi đến. Chuông cửa nhà Mai Anh reo liên tục với vị khách thường xuyên là bác đưa thư. Ban đầu Mai Anh dành thời gian buổi tối để đọc, đánh số, phân loại, dịch thuật để tập hợp gửi sang bác sĩ. Nhưng rồi tập hồ sơ đợi chị mỗi tối cứ dày lên trông thấy. Xót con gái rạc người thức đêm, mẹ chị lao vào cuộc. Bà học Mai Anh cách phân loại, đánh số, kiểm tra từng hồ sơ, liên lạc với từng gia đình để hướng dẫn bổ sung những thiếu sót. Là một giáo viên đã cả đời làm việc với trẻ con, là một nhà thơ mẫn cảm, nhiều lần bà Bùi Kim Anh, bà ngoại của Thiện Nhân, đã khóc.
Có tập hồ sơ dày những hình ảnh, bệnh án, chi chít con dấu bệnh viện, gọi lại, bà chỉ nghe những tiếng nức nở của người cha, người mẹ. Có cái lại chỉ một lá thư viết tay nguệch ngoạc, không cả xác nhận của địa phương, gọi điện chỉ nghe vài câu ngập ngừng: “Cháu sợ đi xác nhận thì nhiều người biết, tội cho con sau này”... Rồi cả Thiện Nhân, Hải Minh, Thiên Minh cũng sà vào giúp bà dán mã hồ sơ. Được bà giảng giải ý nghĩa những tập giấy này, Thiện Nhân tỏ ra hiểu biết lắm. Mỗi lần thấy bác đưa thư ngừng lại trước cửa, bé thở dài nghiêm nghị như người lớn: “Lại có thêm một bạn giống cháu đấy, bà ạ”.
Số hồ sơ lên đến hàng trăm, không chỉ của trẻ em mà cả người lớn, Mai Anh bảo chị không ngờ lại có nhiều trường hợp dị tật, tai nạn khiếm khuyết bộ phận sinh dục đến như thế. Điện thoại cá nhân, điện thoại nhà riêng của chị reo không ngừng với đủ loại câu hỏi, hộp thư điện tử đầy ắp những thông tin, hình ảnh, thắc mắc mỗi sáng. Cửa nhà Mai Anh cũng phải mở thường xuyên hơn vì nhiều phụ huynh nhầm tưởng chị là chuyên gia, bác sĩ, mang con đến nhờ khám giúp; lại có cả những chàng trai, những cô gái đã mấy chục năm âm thầm giấu kín khiếm khuyết của mình tìm đến khẩn khoản.
Mai Anh phải tuyển chọn thêm tình nguyện viên giúp sức, chuyển hộp thư của chương trình sang địa chỉ Quỹ Phòng chống thương vong châu Á, phải sắm một số điện thoại riêng để trả lời tư vấn... Mai Anh bắt đầu có biệt danh mới “tiến sĩ... chim cò”, do bạn bè chị ở tạp chí Heritage trêu đùa đặt cho, ngoài cái tên mẹ Còi mà Hội Thiện Nhân thường yêu thương gọi. Gần đến cái hẹn mời bác sĩ sang khám bệnh, sang phẫu thuật, gánh của chương trình càng nặng. “Nhưng phải cố thôi, là mẹ của Thiện Nhân nên tôi hiểu rõ nỗi đau của các cha mẹ khác, các em bé khác. Khó mấy cũng không thể dừng lại...”, Mai Anh nói về những ngày “choáng váng” ấy.
Bệnh viện đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Nhi trung ương mở rộng cửa đón các bệnh nhân. Phòng bệnh, phòng phẫu thuật được dành ưu tiên. Hội thảo khoa học “Phẫu thuật tiết niệu - sinh dục” quy tụ các bác sĩ chuyên khoa đầu ngành tại Việt Nam cũng được tổ chức. Cùng với cơ hội tìm lại sự trọn vẹn hình hài, sống đúng cuộc đời mình của các bệnh nhân thì đây cũng là cơ hội cho y học Việt Nam trở thành nơi đầu tiên trong khu vực được chuyển giao kỹ thuật phẫu thuật đặc biệt này. Bác sĩ Roberto rất sẵn lòng chia sẻ.
Mọi cánh cửa dường như đều mở rộng. Vấn đề còn lại chỉ là kinh phí, và chính là vấn đề đau đầu nhất.
Phép lạ là có thật
Ngoài tiền vé máy bay, tiền ăn ở khách sạn của các bác sĩ, Mai Anh còn khéo léo sắp xếp vài chuyến du lịch ngắn để giới thiệu với bác sĩ Roberto những hòn đảo thơ mộng ở Hạ Long, những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ ở Sa Pa. “Nghề của dân Heritage mà” - chị cười. Nếu chỉ có ngần ấy thì Mai Anh và Quỹ Phòng chống thương vong châu Á vẫn xoay xở được với những dự án của mình. Nhưng còn tiền phải chi trả bệnh viện, tiền thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc truyền, tiền xét nghiệm, tiền lưu trú, tiền bồi bổ cho bệnh nhân, tiền di chuyển của bệnh nhân và thân nhân ở khắp mọi nơi...
Hầu hết các bộ hồ sơ đều được gửi đến từ những bậc cha mẹ rất nghèo ở những vùng sâu vùng xa, những phụ huynh đã sử dụng hết các khoản tiền mình có được để chạy chữa cho con và rồi lại rơi vào vô vọng. Lá thư nào cũng khẩn thiết chờ đợi một phép lạ tái sinh và hầu như tất cả đều “trăm sự nhờ chương trình giúp đỡ”. Trong gần 200 bộ hồ sơ đã được chọn để thăm khám, chuẩn bị phẫu thuật theo từng đợt, đếm ra con số có ghi chú: “tự chi trả chi phí phẫu thuật” chưa đầy một bàn tay.
Khó khăn chừng như vượt quá dự liệu của Quỹ Phòng chống thương vong châu Á, oằn thêm đôi vai gầy của Mai Anh. Nhưng một việc đã bắt đầu thì không thể dừng lại, đã đọc những lá thư đẫm nỗi đau con người ấy thì không thể từ chối chỉ vì thiếu tiền. Phép lạ sinh ra trong phẫu thuật từ bàn tay bác sĩ và cổ tích sinh ra từ lòng người. Greig Craft đến các đối tác của ông trong Quỹ Phòng chống thương vong châu Á để giới thiệu chương trình.
Mai Anh, Na Hương và bạn bè chị đứng ra tổ chức đêm Gala Dinner gây quỹ, nhiều ca sĩ như Thanh Lam, Văn Mai Hương, Thanh Bùi nhiệt tình hưởng ứng. Hội Thiện Nhân kêu gọi đóng góp trên mạng, danh sách dài ra đến hàng trăm. Những ý tưởng khác như in lịch, truyện tranh về “Thiện Nhân và các bạn” được bàn bạc sôi nổi và triển khai... Xoay xở suốt mấy tháng cho đến khi gần đủ thì ứng tiếp vào tiền lương tháng, đi ký nợ bệnh viện, cuối cùng cái mốc thăm khám tháng 8-2011 và đợt phẫu thuật lần thứ nhất tháng 11-2011 cũng diễn ra tốt đẹp.
Không có bệnh nhân và thân nhân nào biết được những khó khăn ấy. Những nụ cười và những giọt nước mắt của các bệnh nhân, trai và gái, còn nhi đồng và đã trưởng thành, những xuýt xoa về một phép lạ có thật đến sau ca phẫu thuật của những ông bố bà mẹ đã bao đêm tuyệt vọng với tương lai của con... đã bù đắp lại nhọc nhằn, hi sinh của những người thực hiện chương trình. Giai đoạn hậu phẫu công việc lại càng dồn dập hơn. Các tình nguyện viên phải đặt lịch luân phiên gọi điện đến các bệnh nhân để thăm hỏi, hướng dẫn chăm sóc vết thương cho đến khi lành, hướng dẫn chuẩn bị cho ca mổ đợt sau, làm cầu nối liên lạc với bác sĩ để xử lý các sự cố...
Và công việc chuẩn bị cho đợt mổ thứ hai vào tháng 4-2012 lại tất bật bắt đầu.
____________________
“Con trai bé bỏng ơi, con đã nhận được biết bao sẻ chia thì mẹ nhận về ngần đấy những nặng trĩu. Mẹ đã mang nợ ân nghĩa của ngần đấy những tấm lòng trên cõi đời này...”.


Kỳ 7: Hành trình của sẻ chia

(Chủ Nhật 1/1/2012)
Với Thiện Nhân, đợt mổ tới này sẽ là lần quan trọng nhất, quyết định nhất với các chức năng của “con chim xinh xinh” mà em đã cắn răng chịu đau bao nhiêu ngày đêm để có được.


Thiện Nhân (thứ ba từ trái sang) và các bạn ở lớp mẫu giáo - Ảnh: gia đình cung cấp

Lịch uống thuốc, truyền nước của Nhân được mẹ Mai Anh dán lên tờ lịch ngay đầu giường ngủ. Mỗi lần thực hiện điều trị, Nhân lại hỏi: “Các bạn khác cũng làm như vậy à?”. Mai Anh tỏ ra rất hài lòng vì Nhân đã biết nghĩ đến người khác...

Bao giờ đến tháng 4?

Trong xóm công nhân ở Tân Tạo, Bình Tân, TP.HCM, phía sau một cánh cửa phòng trọ người ta hay thấy khuôn mặt sáng sủa, linh lợi mà u buồn của một cậu bé lấp ló nhìn ra. Bé Sơn năm nay 4 tuổi, hiếu động và nhanh nhẹn như bao bạn trai khác, nhưng Sơn lại chưa bao giờ được đến trường mẫu giáo, chưa bao giờ được đi chơi công viên.
Một ngày của Sơn gắn liền với cái bô và tuýp thuốc trị lở loét. Sinh ra với khiếm khuyết, cha mẹ đã đưa Sơn ra vào bệnh viện như đi chợ, các bác sĩ Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã phẫu thuật đi phẫu thuật lại tới ba lần vẫn chưa sửa chữa được những bất thường: em không có cảm giác, không điều khiển được đường bài tiết, cơ thể lại không có các “van” giữ khiến những gì em ăn vào cứ bị thải ra liên tục ngày đêm. Không có nhà trẻ nào chịu trông giữ Sơn cả, mẹ vốn là công nhân, buộc phải nghỉ làm để chăm sóc con. Tiền lương thợ hồ của anh Du, cha Sơn, phải dùng một nửa vào việc mua tã và thuốc cho con. “Nhưng xoay thế nào cũng không đủ, đóng tã suốt ngày đêm vừa tốn kém, con lại bị hăm lở nặng thêm. Xót ruột lắm nhưng chúng tôi đành cho con ngồi trên cái bô suốt ngày...” - anh Du thở dài. Không cần hỏi cũng biết về nỗi bứt rứt, khó chịu của cậu bé bị giam chân, Sơn đã ý thức được tật bệnh của mình nên chỉ im lặng ngóng ra cửa. Sáng sáng, nhìn theo các bạn cùng lứa tuổi tung tăng balô cặp xách, Sơn nói thầm với mẹ: “Con muốn đi học”.
Tên của Sơn đã được đưa vào danh sách phẫu thuật tháng 4-2012. Nghe bố bảo vậy, Sơn vui lắm. Mùa cuối năm ai cũng chộn rộn, nhưng Sơn ngoan ngoãn trên cái bô của mình để chờ đến tháng 4.
Trong khu xóm lao động ở Dĩ An, Bình Dương, bé Thảo Nhi cũng đang đếm từng ngày kể từ khi lá thư của mẹ được gửi đến địa chỉ của cô Mai Anh ở Hà Nội. Là con gái, Thảo Nhi đã biết tự chăm sóc bản thân, tự lau rửa, thay tã mỗi bốn giờ một lần, biết tự sắp xếp đi học. Những ngày cuối năm, bạn bè cùng học lớp 2 mơ về búp bê, áo mới, Thảo Nhi viết thư gửi ông già Noel: “Ông cho con khỏi bệnh, để bạn bè không gọi con là đồ đái dầm”.
Thư gửi đã tới nơi, Thảo Nhi cũng đã được mời khám vào đợt này.
Lên danh sách thăm khám, phẫu thuật lần 1, lần 2 theo chỉ định của bác sĩ, hồ sơ bệnh án, cập nhật tình trạng mỗi ngày, mỗi tuần... quá nhiều công việc nên Mai Anh, Na Hương, Thy Hằng, Như Huyền và các tình nguyện viên khác phải luân phiên, chia nhau thực hiện. Tiệc buffet cuối năm để tổ chức quyên góp cũng đã được lên kế hoạch. Đọc các email trao qua đổi lại giữa những người làm chương trình, người ta nhận ra nỗi lo lắng về gánh nặng tài chính lại đi song hành với sự ung dung, tự tin “mình làm được”. Như khi Na Hương viết cho Mai Anh: “Tính cho tháng 4 thì đã có những khoản sau: Van Phu land 7.500; 1.300 event đợt 1 ở Maison Sen; 2.500 event đợt 2 ở Press Club... Vậy là còn thiếu 50.000 USD nữa nhé”. Mai Anh bật cười: “Cái này là đếm cua trong lỗ ấy mà, thật ra chưa có đồng nào trong tổng số chi phí 75.000 USD ước tính cho đợt tháng 4 này”.
Nhưng ung dung cũng có lý của nó, nhất là khi đọc những dòng mà mẹ Mai Anh đã viết cho Thiện Nhân.

Hành trình của Thiện Nhân
“Mẹ đã thay mặt con đón tiếp một bà cụ bị bệnh chắt chiu lên bệnh viện thành phố nhưng đến th ăm con trước ngày đi mổ để nhìn thấy con, để sờ sờ, nắn nắn cổ chân con và để không phải ân hận nếu không còn cơ hội nhìn con sau ca mổ.
Mẹ đã thay mặt con nhận tờ 50.000 đồng của một người đàn ông quần áo bẩn và rách một ngày ngấp ngó trước cửa nhà mình. Một người không dám bước đôi chân lam lũ vào căn nhà đẹp hơn biết bao lần cái xó nhà trọ. 50.000 đồng với mình là một ngày đi chợ nhưng với họ là cả một gia tài.
Mẹ đã thay mặt con nghe cuộc điện thoại của một cô gái tuyệt vọng trong đêm với một đứa con bé nhỏ trên tay chỉ để nghe cô gái khóc lóc rồi không biết số phận họ đã thế nào.
Mẹ cũng đã thay mặt con nhận sự hi sinh của hai anh con nữa. Các anh chia cho con đồ chơi, cùng mút chung nhau cái kẹo, các anh vỗ về và ôm nựng mỗi khi con bị ngã đau và các anh chia cho con bố mẹ.
Con trai bé bỏng ơi, con đã nhận được biết bao sẻ chia thì mẹ nhận về ngần đấy những nặng trĩu. Mẹ đã mang nợ ân nghĩa của ngần đấy những tấm lòng trên cõi đời này.
Mẹ đã thấy mẹ là một quản đốc suýt nữa phạt lương của một công nhân nhưng nhận ra người đàn ông với tờ 50.000 đồng hôm đó. Mẹ đã thấy mẹ là một bác sĩ bước vào ca phẫu thuật cho một bà già nhà quê không có ai thân quen gửi gắm, nhưng là bà cụ đã nắm nắm cái chân con. Mẹ thấy mình là một người đàn ông mạnh mẽ và bao dung làm chỗ dựa cho cuộc đời của hai số phận không biết đã đi về đâu đêm hôm đó.
Và hôm nay tình cờ mẹ biết một bé gái ở Gia Rai vừa nhận được 500.000 đồng giúp đỡ gửi tới dưới tên của con, Thiện Nhân ạ. Mẹ không gửi, Thiện Nhân cũng không gửi, mà số tiền này đã được ai đó gửi đi với mong muốn thay mặt con trai Thiện Nhân làm điều tốt lành và tích phước cho con đấy. Các bố mẹ, anh chị của con đã vì con mà tự nguyện giúp mẹ làm vơi bớt gánh nặng đời này.
Hành trình của con là một hành trình dài nhưng không có nghĩa là một hành trình ích kỷ. Sức mạnh của tình yêu thương từ bao tấm lòng con đang được nhận đó sẽ là điểm tựa cho con sức mạnh và cơ hội để chàng trai của mẹ biết trắc ẩn và sẻ chia”.
Cơ hội để tiếp nối, nhân lên những sẻ chia ấy, Mai Anh cùng các bố mẹ khác của Thiện Nhân cũng lại đang thay mặt em thực hiện. Hành trình của sẻ chia thì làm sao có thể không được ủng hộ, không được tiếp nối, không được chung tay? Cái lẽ đời ấy đã khiến Mai Anh, Na Hương,
Greig cứ ung dung hoạch định những kế hoạch của mình với cái túi rỗng. Một bản đăng ký thành lập “Quỹ tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ em không may” cũng đã được chuẩn bị, nhưng “Mình không có 1 tỉ đồng để ký quỹ như quy định nên quỹ chưa thành hình được, mà nếu có 1 tỉ đồng thì...” - mắt Mai Anh trở nên mơ màng. Một ca mổ cho Nhân ở Ý chị đã phải lo đến 1 tỉ rưỡi, nhưng sau khi mời được bác sĩ về đây, chi phí cho một ca mổ tại Việt Nam đã giảm xuống chỉ còn xấp xỉ 50 triệu đồng. Có 1 tỉ, Mai Anh sẽ chi trả chi phí ngay cho 20 em.
Tuyệt vọng rồi hi vọng, bất hạnh rồi lại hạnh phúc, nhận rồi lại cho đi, rồi lại nhận... những được mất cuộc đời cứ hiển hiện thật rõ ràng khi theo dõi hành trình Thiện Nhân, hành trình của sẻ chia, hành trình biến những câu chuyện thật thành cổ tích.


Kỳ 8: Những người đồng hành

(Thứ Hai 2/1/2012)
Con đường hạnh phúc của Thiện Nhân đang có rất nhiều người đồng hành. Và trên con đường ấy, từ những bước đầu tiên đã có hai người. Hai người mà Thiện Nhân gọi là daddy (cha) và mẹ.
Hai người mà Mai Anh bảo họ đã trở thành một phần của cuộc đời chị, phần không thể thiếu trong hành trình Thiện Nhân: Greig Craft và Na Hương.

Câu chuyện giữa những người đàn ông
Hỏi “phần không thể thiếu” nghĩa là thế nào, Mai Anh trả lời bằng một câu chuyện: Một đêm, giật mình tỉnh giấc vì tiếng Thiện Nhân khóc thút thít, răng cắn chặt vào gối, mẹ hỏi mãi Nhân vẫn một mực lắc đầu, nước mắt vẫn chảy tràn trên má.
Cực lòng lắm nhưng mẹ Mai đành đánh thức anh Thiên Minh dậy để tâm sự với Nhân. Hai anh em ôm nhau lâu lắm, nhưng rồi Nhân cũng chỉ hé ra một lời: “Nhân buồn”.
“Nhân là một đứa bé nhạy cảm, rất nhạy cảm nên tôi biết đã có chuyện gì không ổn. Những lúc thế này, người đầu tiên tôi nghĩ tới là Greig, “daddy” của Nhân” - Mai Anh kể tiếp. Greig đặt Nhân ngồi khoanh chân trên bàn làm việc của ông, mặt đối mặt và cả hai cùng bập bẹ, khoa tay, tròn mắt, chúm môi.
Greig biết vài từ tiếng Việt, Nhân biết vài từ tiếng Anh và bên cạnh là “phiên dịch viên” Na Hương, vợ của Greig, mẹ đỡ đầu của Nhân. Cuối cùng mẹ Mai Anh đã hiểu được phút yếu lòng của con trai: Nhân đã dũng cảm trải qua nhiều lần phẫu thuật và đã đủ lớn để biết rằng sẽ còn phải “đi mổ” nhiều lần nữa. Mạnh mẽ bao nhiêu khi nằm lên bàn phẫu thuật để mẹ yên tâm, thì những lúc giật mình nhớ đến sự đau đớn Nhân lại yếu ớt bấy nhiêu.
Mai Anh không khỏi tràn nước mắt khi được nghe lại tâm sự của con, một cậu bé chưa tròn 5 tuổi. Nhưng Mai Anh cũng yên tâm vì bố Greig bảo “đã thống nhất xong với Nhân, câu chuyện giữa những người đàn ông” là daddy sẽ luôn ở bên con, sẽ viết thư cho bác sĩ Roberto giúp cho “con chim” mọc thật nhanh, là daddy sẽ làm cho con cái chân giả, tất nhiên không thể là chân thật nhưng con sẽ đi lại, chạy nhảy và còn đá bóng rất giỏi nữa...
Là người sáng lập Quỹ phòng chống thương vong châu Á, Greig Craft đặc biệt chú trọng đến sức khỏe và những nguy cơ thương vong với trẻ em. Từ năm năm trước, ông đã biết đến trường hợp của Thiện Nhân, đã lặn lội đến tận Núi Thành, Quảng Nam để thăm em và quyết tâm sẽ tìm cách giúp đứa bé bất hạnh này. Ngay sau đó ông bị cuốn vào các hoạt động cứu trợ bão Chanchu, động đất Haiti, khi trở về trên chuyến bay ông đọc được tin Thiện Nhân đã được đón về Hà Nội, đã được gọi Mai Anh là mẹ.
Greig vẫn tiếp tục dự định của mình: nhận Thiện Nhân làm con và đồng hành cùng Mai Anh trên con đường giúp Nhân tìm lại cuộc đời. Cùng với Greig, Na Hương, khi ấy đang làm việc tại Quỹ phòng chống thương vong châu Á, cũng hào hứng đi chung đường.
Thế là đã năm năm ba người có chung một nỗi lo: lo tìm bác sĩ khắp các bệnh viện liên quan ở các nước, lo sắp xếp các chuyến đi phẫu thuật dài ngày ở nước ngoài, lo thu xếp kinh phí... Cả ba người cùng nhau đưa Nhân bôn ba qua các bệnh viện Thái Lan, Singapore, Đức, Mỹ, Ý, cùng lau nước mắt thất vọng, cùng nhảy lên khóc vì vui sướng trong mỗi chặng đường tìm lại người đàn ông của Nhân.
Nhân còn bé nhưng đã hiểu mình có những bí mật và chỉ chia sẻ với những ai thật thân thiết. Ngoài mẹ, ông bà ngoại, hai anh trai, chỉ có daddy và Na Hương được Nhân đồng ý cho chăm sóc thân thể mình mà thôi.
Nhân chỉ an tâm đồng ý phẫu thuật, đồng ý khám, xét nghiệm khi có daddy gật gật đầu, nắm ngón tay Nhân và nói đi nói lại: “Daddy yêu con”. Mới đây, khi bước đi được bằng cây nạng mà daddy mua từ ba năm trước, câu đầu tiên Nhân hớn hở: “Mẹ gọi cho daddy, Na Hương đi!”.
Na Hương cũng là người đầu tiên mà Mai Anh đã gọi trong cái đêm Nhân phải đi cấp cứu khi trong nhà chỉ có bốn mẹ con. Nửa đêm, Na Hương đã phóng xe máy xuyên qua nửa thành phố để đến trông Thiên Minh, Hải Minh cho mẹ Mai an tâm đưa Nhân vào viện. Na Hương cũng là người đầu tiên thông báo cho Hội Thiện Nhân khi chính “mẹ Còi” Mai Anh phải đi cấp cứu, là người đôn đáo lo lắng không kém Mai Anh trong những đợt “tìm tiền” phẫu thuật...
Bao nhiêu ngày tháng cùng nhau đi trên hành trình Thiện Nhân ấy, hạnh phúc đã mỉm cười với họ: Na Hương đã thành vợ của Greig.
Không được bỏ qua cơ hội
“Ba người chúng tôi chỉ có yêu nhau và yêu Nhân” - Mai Anh bảo vậy. Thế nhưng đã không ít lần họ tranh cãi với nhau nảy lửa, bằng tiếng Anh rồi sang tiếng Việt, rồi giận nhau bằng nước mắt, rồi làm hòa cũng bằng nước mắt. Ấy là những khi quá trình điều trị cho Nhân gặp những khó khăn về tài chính tưởng không vượt qua nổi, những khi cả Mai Anh cũng thấy mỏi mệt vì hành trình cứ hun hút không biết đâu là điểm cuối, và yếu lòng trước những cơn đau mà bé Thiện Nhân phải nghiến chặt răng...
Và họ vẫn cùng nhau đi.
Mai Anh kể về lần chuẩn bị đưa Nhân sang Ý phẫu thuật. Cầm danh sách hàng trăm người đóng góp cho Thiện Nhân, chị chợt thấy lòng mình trĩu nặng những món nợ ân tình, và vai lại trĩu nặng hơn nữa khi nhận được thư tâm sự của các bà mẹ khác cũng có con bị khiếm khuyết bộ phận sinh dục. Mai Anh đã tìm đến Greig. Greig đã bảo Mai Anh trước hết hãy sử dụng vị trí của người đồng cảnh để chia sẻ những nỗi đau đang được giấu kín, sau nữa là thu thập các hồ sơ, bệnh án để tìm cơ hội.
Cơ hội ấy là cái gật đầu của bác sĩ Roberto De Castro. Và để nhân cơ hội ấy lên, Greig Craft đã chấp nhận để chương trình “Tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ em không may” trở thành một dự án của Quỹ phòng chống thương vong châu Á.
Khi bác sĩ Roberto chọn ra 31 ca có thể thực hiện phẫu thuật trong đợt 1 tháng 11-2011, là lúc mà sự căng thẳng giữa ba người yêu nhau ấy lên đến đỉnh điểm. Bao nhiêu phương án đặt ra cũng không giải quyết nổi vấn đề tài chính. Các email qua lại rắc đầy những dấu hỏi và những dấu cảm. Mai Anh, Na Hương đã đề nghị biện pháp dung hòa: có tiền đến đâu làm đến đấy, và lúc đó họ chỉ có thể trang trải chi phí cho năm bệnh nhân mà thôi. Nhưng Greig kiên quyết không đồng ý.
Ông lập luận: khi chỉ cần một hay vài cuộc phẫu thuật là có thể thay đổi số phận một con người, đó là một cơ hội lớn. Và bác sĩ Roberto đã cho cơ hội đó. Không lý do nào cho phép chúng ta bỏ qua hay làm chậm cơ hội đó lại. Mai Anh hiểu rằng Greig đã trải nghiệm cuộc đời nhiều hơn chị. Với công việc của mình, ông đã chứng kiến những tích tắc khi tai nạn, thiên tai ập đến và những cuộc đời bị cướp đi. Ông thấu hiểu thế nào là cơ hội.
Và hành trình nhọc nhằn để nắm lấy cơ hội lại được ba người tiếp tục, cùng ước “mỗi ngày có thêm 48 giờ nữa để chăm sóc được hết các bệnh nhi”, và kéo thêm những người bạn đồng hành.
Mạnh mẽ như Mai Anh vẫn có những phút yếu lòng, và một trong những phút ấy là: “Mỗi khi cả Greig và Na Hương đi vắng, đến giờ máy bay cất cánh rời khỏi đường băng, tôi thật sự thấy hụt hẫng, cô đơn như bị bỏ lại ở cuộc đời này. Dù chuyến đi của họ ít hay dài ngày, cảm giác của tôi vẫn vậy. Họ không chỉ là gia đình mà đã là một phần quan trọng trong cuộc sống của tôi”.
Mai Anh không đồng ý gọi Greig và Na Hương là “bạn đồng hành” trên hành trình Thiện Nhân. Với chị, họ là người đồng hành cùng tình yêu.


PHẠM VŨ :hoa:



Về Đầu Trang Go down
Yến Phương

avatar

Tổng số bài gửi : 461
Registration date : 11/01/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Chiếc Bóng của Giọt Nước Mắt   Sat 07 Jan 2012, 17:42

:bong: :bong: :bong: :bong: :bong:
Về Đầu Trang Go down
Lữ Hoài

avatar

Tổng số bài gửi : 749
Registration date : 15/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Chiếc Bóng của Giọt Nước Mắt   Wed 11 Jan 2012, 15:37



Hành trình Thiện Nhân



Kỳ 9: Bác sĩ Roberto

Với tôi, ông là giấc mơ thật đẹp hiện ra vào đúng lúc tôi tưởng đã tuyệt vọng trên hành trình dài không biết đâu là điểm kết thúc. Trước khi ông hiện ra, Bệnh viện Texas - một trong những bệnh viện nhi hiện đại nhất nước Mỹ, sau hàng loạt xét nghiệm, hội chẩn đã thông báo: chỉ có thể hi vọng tạo hình bộ phận sinh dục khi Thiện Nhân bước vào giai đoạn trưởng thành.

Những phút sững người

Đọc bài báo về công trình y học kỳ diệu vừa công bố của bác sĩ Ý Roberto Decastro do các bác sĩ ở Mỹ chuyển cho, tôi cảm động rơi nước mắt. Nhiều trường hợp mất hoàn toàn bộ phận sinh dục như Thiện Nhân đã được ông phẫu thuật và tái tạo thành công, dương vật mới được tái tạo như thật bằng chính da thịt người bệnh, có cảm giác và sẽ phát triển cùng sự phát triển của cơ thể. Tôi đã cùng Greig Craft tra cứu và tìm địa chỉ của bác sĩ Roberto Decastro, gửi thư email làm quen, trình bày với ông về số phận đau đớn và bệnh tình của Thiện Nhân. Rồi chờ đợi.

Nhiều lần lắm rồi chúng tôi đã chờ đợi email gửi đi các bệnh viện trên thế giới. Chờ mãi. Lần này chỉ mấy ngày sau chúng tôi đã nhận được thư của bác sĩ Roberto Decastro, nhanh đến không tin nổi. Tôi và Greig cùng Thiện Nhân lập tức có mặt tại Bệnh viện Bologna ở miền bắc nước Ý xa xôi. Bấy giờ là mùa đông giá lạnh, nhưng kỳ lạ làm sao, phút đầu gặp gỡ với Roberto Decastro thật đầm ấm, thân tình, cứ như thể chúng tôi và ông từng quen biết nhau lâu lắm rồi.

Bác sĩ sẵn lòng nhận điều trị cho Thiện Nhân với chi phí thấp nhất, vào đúng dịp Tết cổ truyền Tân Mão 2011 thể theo nguyện vọng của tôi. Chọn thời điểm phẫu thuật vào dịp tết cổ truyền, vì tết được nghỉ nhiều ngày thuận với một cán bộ viên chức như tôi. Và tôi cũng muốn sau “cuộc phẫu thuật định mệnh” này, một mùa xuân thật sự sẽ đến với con trai Thiện Nhân của tôi. Sau này sang Việt Nam tiến hành các ca phẫu thuật tái tạo bộ phận sinh dục cho các em bé khác có số phận không may như Thiện Nhân, trả lời phỏng vấn báo chí, bác sĩ Roberto cho biết trước khi gặp tôi và Thiện Nhân, qua các đồng nghiệp và qua các phương tiện truyền thông, ông đã biết đến số phận đau đớn kỳ lạ của Thiện Nhân, nhưng khi gặp hai mẹ con tôi ông vẫn sững sờ. Ông nói: “Lúc gặp mẹ con bé Thiện Nhân tại Ý tôi không khỏi sửng sốt và xúc động trước hình ảnh một người phụ nữ bé nhỏ và gầy gò hết sức đã vượt bao nhiêu khoảng cách bằng một niềm tin quyết liệt để đưa đứa con không phải do mình sinh ra đến được nơi giấc mơ sẽ trở thành hiện thực. Đó là một cảm giác rất đặc biệt”.

Và ông đã làm hết sức mình để biến giấc mơ của mẹ con tôi trở thành hiện thực.

Suốt đời tôi không quên cuộc phẫu thuật định mệnh ấy. Cuộc phẫu thuật tái tạo bộ phận sinh dục cho Thiện Nhân diễn ra ngày 29-1-2011, ở Việt Nam là 27 tết. Tuyết bay đầy trời. Tôi chờ ở cửa phòng mổ suốt chín giờ và nước mắt cứ tràn ra khi bác sĩ Roberto Decastro bước ra thông báo cuộc phẫu thuật đã thành công tốt đẹp. Ông bảo Thiện Nhân là một đứa bé gan dạ hiếm thấy, trước khi chìm vào cơn mê vẫn cắn răng không khóc, chỉ nói đi nói lại một câu gì đó và giọt nước mắt ứa ra.

Rồi ông lại sững người lần nữa khi tôi và Greig Craft đưa ra những tấm ảnh chụp một vài em bé khác ở Việt Nam cũng bị khiếm khuyết bộ phận sinh dục vì lý do bẩm sinh hoặc vì tai nạn. Mới trải qua chín giờ căng thẳng trong phòng mổ nhưng ông vẫn nhiệt tình nghe tôi và Greig Craft trình bày. Rồi ông nói sẽ sẵn lòng đến Việt Nam.

Ông Bụt cổ tích

Bác sĩ Roberto rất chiều cu Nhân. Nhân nằm lịm đi suốt mấy ngày sau phẫu thuật với các ghim khâu bằng kim loại dập chi chít quanh bụng. Nhân đau nhưng cố chịu, không muốn các y tá thay băng mà nhờ anh Thiên Minh đề nghị chính bác sĩ Roberto. Bác sĩ cứ cười mãi vì mới tí tuổi đầu Nhân đã biết ai là người quan trọng. Ngày nào ông cũng tới thay băng cho Nhân và với sự trợ giúp phiên dịch của Thiên Minh.

Là bác sĩ nhi khoa, Roberto tâm lý đến không ngờ. Ông tặng Nhân một chú chó bông rất đẹp để làm bạn trên giường bệnh sau khi biết Nhân sinh năm Tuất theo cách gọi phương Đông. Ông tặng Thiên Minh bộ cờ sau khi nhận xét Minh học giỏi toán và nói rằng quà này là vì Thiên Minh đã thương yêu, động viên Nhân mỗi ngày. Sau cuộc phẫu thuật, cu Nhân về Việt Nam rồi, mỗi tuần, mỗi tháng tôi lại gửi sang một bức ảnh chụp bộ phận phẫu thuật của cu Nhân để bác sĩ theo dõi và hướng dẫn việc chăm sóc.

Là người mẹ, tôi thường lo cuống cuồng mỗi khi thấy vết mổ của Thiện Nhân có biểu hiện khang khác. Đêm cũng như ngày, tôi gửi email SOS cầu cứu bác sĩ. Chưa bao giờ bác sĩ Roberto mất kiên nhẫn với những lo lắng thái quá của người mẹ như tôi. Ông gửi thư lại ngay, chia sẻ, phân tích, hướng dẫn. Đã được chứng kiến bác sĩ Roberto vào phòng mổ liền một mạch từ sáng đến chiều tối, rồi mai lại tiếp tục, rồi các chuyến bay từ nước này sang nước khác... tôi càng hiểu những phút giây dung dị ông dành cho Thiện Nhân và các anh của Thiện Nhân là vô giá.

Sau này có nhiều dịp tâm sự, tôi mới biết ông cũng cho rằng cuộc gặp mẹ con tôi và phẫu thuật cho Thiện Nhân là định mệnh. Ông giải thích: sau cuộc phẫu thuật đó, ông đã lần đầu đặt chân đến, rồi yêu, rồi gắn bó với Hà Nội, với Việt Nam - đất nước xa xôi từng trải qua những năm tháng dài chiến tranh ác liệt. Đợt đầu tiên cùng với các giáo sư, bác sĩ đầu ngành của Việt Nam khám và tư vấn cho các bệnh nhi, ông đã sửng sốt vì ở Việt Nam số em có số phận đau đớn vì bị khiếm khuyết bộ phận sinh dục như bé Thiện Nhân lại nhiều đến thế. Những hơn 100 em đến khám đợt đầu tiên, đó là tỉ lệ bệnh nhân bị khiếm khuyết bộ phận sinh dục cao nhất trên thế giới. Ông cho rằng không chỉ là dị tật bẩm sinh, tai nạn mà còn có thể do hậu quả của chất độc da cam trong chiến tranh nữa.

Lần thứ hai trở lại, trong vòng 11 ngày ông đã tiến hành 31 ca mổ, có ca kéo dài suốt 12 giờ, mang lại 31 niềm hi vọng. Ông còn thuyết trình về công trình của mình trong mục đích chuyển giao công nghệ tái tạo bộ phận sinh dục tại hội trường Bệnh viện Nhi trung ương Hà Nội với sự tham dự của hơn 100 đồng nghiệp Việt Nam. Sau ca mổ cuối cùng, trước chuyến bay về Ý, ông đã đến tận nhà thăm bé Thiện Nhân. Ông ngạc nhiên vô cùng khi thấy Thiện Nhân vừa trải qua cuộc phẫu thuật lại đang chăm chú tập viết để chuẩn bị vào lớp 1. Bé đã cặm cụi vẽ tặng bác sĩ Roberto Decastro bức tranh trong tưởng tượng về hình ảnh ông đang đứng bên bàn mổ. Bác sĩ Roberto Decastro hết sức xúc động. Ông nói sẽ để bức tranh cu Nhân vẽ tại phòng làm việc ở Bệnh viện Bologna.

Rồi tháng 4-2012 ông sẽ trở lại Việt Nam lần thứ ba để tiếp tục công việc mà ông bảo là “để mọi người đều được sống đúng với cuộc sống của mình”.

TRẦN MAI ANH :bong:



Về Đầu Trang Go down
 
Chiếc Bóng của Giọt Nước Mắt
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 7 trong tổng số 9 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Tùy bút, nhật ký, truyện ngắn-