IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thẩn thơ thời sự by thanhsingle Today at 07:35

ROCK-TWIST-CHACHA-PASODOBLE... by HanSiNguyen Today at 06:29

Niềm Tin Mở Cửa by Bảo Minh Trang Yesterday at 17:52

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Yesterday at 14:37

MẮT NÂU VỀ CHƯA by HanSiNguyen Yesterday at 10:50

Câu đối NGỰA by HanSiNguyen Yesterday at 10:45

CHỬA HỀ NGƠI by buixuanphuong09 Yesterday at 07:44

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Sat 29 Apr 2017, 22:35

Một góc Quê hương by Tú_Yên tv Sat 29 Apr 2017, 11:42

TÂM AN VẠN SỰ AN by Bảo Minh Trang Sat 29 Apr 2017, 07:45

Tiễn Người Đi by Bảo Minh Trang Sat 29 Apr 2017, 07:34

THIẾU NỮ by buixuanphuong09 Sat 29 Apr 2017, 06:55

Thơ kelangthang by tranthingocxuan Sat 29 Apr 2017, 05:40

Chiếc nón bài thơ by tranthingocxuan Sat 29 Apr 2017, 05:39

THIÊN TÌNH SỬ by buixuanphuong09 Fri 28 Apr 2017, 20:11

Cảnh Nhàn Luyện Chí by Bảo Minh Trang Fri 28 Apr 2017, 12:50

GÓP BÀN TAY by buixuanphuong09 Fri 28 Apr 2017, 10:00

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Thu 27 Apr 2017, 21:13

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Thu 27 Apr 2017, 14:59

Nhờ Admin và kỹ thuật giúp đỡ by Shiroi Thu 27 Apr 2017, 02:54

Tình yêu, và dòng chảy thời gian by Time Wed 26 Apr 2017, 23:01

SỨc sống cuối đời by buixuanphuong09 Wed 26 Apr 2017, 20:41

Bốn Trụ Luyện Đường Thi 2014 - 2017 by mytutru Wed 26 Apr 2017, 12:25

Cách gởi bài viết by Trà Mi Wed 26 Apr 2017, 11:51

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Wed 26 Apr 2017, 04:26

Thơ Tàn Thu by Tàn Thu Tue 25 Apr 2017, 00:35

BỒ NHÍ KHÁC XA VỢ HIỀN by Ma Nu Mon 24 Apr 2017, 23:44

CÁM ƠN BẠN CIỆT ĐƯỜNG VÀ NẮNG XUÂN by Ma Nu Mon 24 Apr 2017, 23:33

THƠ PHƯƠNG NGUYÊN by Phương Nguyên Mon 24 Apr 2017, 13:34

Thơ Bảo Trâm by Trà Mi Mon 24 Apr 2017, 08:02

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next
Tác giảThông điệp
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 12:04

:bong: rose :hoa:

Lê thân một quãng đường dài
Máu ra lai láng, khắp người mỏi mê
Kêu to ba tiếng não nề
Phách rời thể xác, hồn lìa nhân gian.


-5-

TIẾNG ĐÀN RỪNG MAI






Bấy giờ hồn phách chưa tan (401)
Phiêu du vất vưởng giữa ngàn ánh sao
Xót mình tuổi trẻ tài cao
Công danh như thể hoa dâu xuôi dòng
Ơn vua lộc chúa chẳng mong
Tình nhà nợ nước há không báo đền ?
Lại còn vương mối oan khiên
Làm sao mắt trả, răng đền mới ưng !
Hồn bay quanh quất nửa lừng
Nát thân bao quản, thẹn thùng nhơ danh
Giã từ nhân thế chẳng đành (411)
Thôi thì lối cũ quẩn quanh tìm về
Phiêu phiêu nửa tỉnh nửa mê
Tai nghe thánh thót tỉ tê tiếng đàn
Đó đây như khóc như than
Ru hồn lãng tử, xóa tan muộn phiền
Lâng lâng thân xác dịu êm
Chìm vào giấc ngủ, vơi niềm xót xa
Chập chờn, gió thoảng hương hoa
Tiêu thiều réo rắt, tiên nga giáng trần
Dịu dàng an ủi ân cần (421)
Cam lồ rửa sạch mọi phần thương đau
Nâng niu bát cháo hớp rau
Khéo tay chăm sóc, ngọt ngào thuốc thang
Hai tuần cửa mả mở toang
Tử thần lảng vảng, khó phương sinh tồn
Bấy giờ mất biến thành còn
Tái hồi dương thế, quỷ môn giã từ
Mở to đôi mắt ưu tư
Vẫn còn văng vẳng ôn nhu tiếng đàn
Sương mơ hư ảo chưa tan (431)
Khói trầm vương vất, mơn man phím ngà
Ngoài song dáng liễu thướt tha
Giật mình còn tưởng tiên nga hôm nào
Hoa đồng cỏ nội thanh tao
Quần bô áo vải má đào vẫn xinh
Rõ ràng ngọc khiết băng thanh
Môi hồng tươi thắm, long lanh mắt huyền
Bờ vai tóc xỏa duyên duyên
Vóc mai lả lướt, gót sen hững hờ
Hỏi rằng :-“Ta tỉnh hay mơ (441)
Cớ sao trôi dạt cậy nhờ nơi đây ?”
Nàng rằng :-“Trải đã bao ngày
Tưởng đâu không thoát khỏi tay tử thần
Xót người tứ cố vô thân
Anh tôi chẳng quản nhọc nhằn cưu mang
Đem về từ cánh đồng hoang
Một lòng chăm sóc, thuốc thang tận tình
Cứu người, công Trịnh An Bình
Nơi đây cách biệt kinh thành rất xa
Gian nhân khó nỗi dò la (451)
Yên lòng tịnh dưỡng ắt là khang ninh
Trước sau  một chữ đệ huynh
Giúp nhau cho trọn ân tình mà thôi
Đâu cần cảm tạ đầu môi
Miễn là bằng hữu trọn đời thuỷ chung
Đạo trời bĩ thái, cùng thông
Bây giờ trước hãy an lòng nghỉ ngơi”
Dứt lời dâng thuốc tận nơi
Phạm Thư uống cạn, ngậm ngùi lòng đau
-“An Bình trí rộng tài cao (461)
Việc xưa đã tỏ, việc sau cũng tường
Bởi ta khinh xuất xem thường
Mới lâm họa hoạn đau thương chuyến này
Bỏ Tề về Ngụy thảm thay
Hết còn khoe giỏi khoe hay dối đời
Làm ơn gọi Trịnh giùm tôi”
Thưa rằng :-“Dạ sắt chưa nguôi nỗi sầu
Nhọc nhằn rừng thẳm khe sâu
Dốc lòng tìm kiếm bới đào nhân sâm
Bôn ba hổ huyệt long đầm (471)
Kể chi khổ trí lao tâm tháng ngày
Buồn vui sướng khổ chia hai
Non cao lầm lũi, miệt mài đường xa
Ở đây còn có cha già
Cần gì cứ gọi Quỳnh Hoa chớ phiền
Bây giờ hãy nghỉ cho yên”
Lời còn thánh thót, gót tiên khuất rồi
Phạm Thư xao xuyến bồi hồi
Bước vào cửa mả, gặp người ôn nhu
Tây hiên lại vẳng tiếng tơ (481)
Khi cao khi thấp, hững hờ nhặt khoan
Khuyên người gặp bước gian nan
Đừng lo, đừng nghĩ, chớ than, chớ sầu
Những người trung nghĩa dãi dầu
Trải bao cực khổ gian lao sá gì
Nhớ chăng gương Bá Lý Hề
Bảy mươi chăn ngựa nuôi dê xứ người
Nhớ chăng Câu Tiễn nằm gai
Phơi sương nếm mật, có ngày nên công
Tấn Văn mười bảy năm ròng (491)
Nắm cơm chẳng có, lưu vong bơ thờ
Ngũ Viên khi mới sang Ngô
Làm người quân tử thập thò bụi lau
Lòng trời nhìn lại cũng mau
Nên vương nên tướng, công hầu kém ai
Đàn ru réo rắt bên tai
Dạt dào quân tử ngủ say bao giờ
Kỳ hương, dị thảo, bách hoa,
Chiêm bao duy chỉ mộng mơ hoa Quỳnh.


[Còn tiếp]
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 12:06

GIẢN CHÚ đoạn 5
TIẾNG ĐÀN RỪNG MAI
 By NGUYỄN PHÚ
1-PHIÊU DU : Nhẹ bồng bềnh dạo chơi đây đó. Bay là đà nơi này nơi khác.
2-HOA DÂU : Bèo hoa dâu, một loại bèo nhỏ bé, khác với lục bình là một loại bèo lớn.
3-MẮT TRẢ RĂNG ĐỀN : Do câu tục ngữ “Mắt trả mắt, răng đền răng”, ý nói trả thù rửa hận tương xứng với những gì kẻ thù đã gây ra cho mình.
4-PHIÊU PHIÊU : nhe tênh, bay lơ lửng, nổi bồng bềnh.
5-LÃNG TỬ : Người lãng mạn, thích ngao du đây đó.
6-TIÊU THIỀU : Tiếng sáo và tiếng đàn.
7-CAM LỒ : (tức “Cam lộ” = giọt sương ngọt) Một loại nước phép của Phật bà Quan Thế Âm Bồ tát, hình thành từ những giọt sương ngọt ngào lúc ban mai được hứng lấy và tích chứa trong “Tịnh bình” (bầu nước tinh khiết), có tác dụng cứu khổ cứu nạn, giải tai giải ách, chữa lành mọi vết thương, lại có thể cải tử hồi sinh (cứu sống được cả người đã chết) 
8-CỬA MẢ MỞ TOANG : (sẵn sàng chờ người ta bước vào) ý nói mong manh giữa cái sống và cái chết, suýt chết.
9-NGOÀI SONG DÁNG LIỄU THƯỚT THA : (Song = cửa sổ - Dáng liễu : dáng người con gái gầy gầy, mảnh mai như cây liễu) : Có một người con gái dáng mảnh mai thướt tha lướt qua ngoài cửa sổ.
10-HOA ĐỒNG CỎ NỘI : Người thiếu nữ đẹp ở nơi thôn dã, chốn ruộng đồng.
11-QUẦN BÔ ÁO VẢI : Người mặc áo may từ vải bông, quần dệt từ đay gai = Người mặc những quần áo tầm thường, không sang trọng = Người bình dân, Người nghèo.
12-NGỌC KHIẾT BĂNG THANH : Viên ngọc thuần khiết (không một vết trầy sước), tảng băng trong vắt (không lẫn tạp chất).
13-XOẢ : Rủ xuống, lả xuống – XOÃ : Rũ ra, tung ra, xoè ra.
14-VÓC MAI : Thân hình gầy như cây mai
16-GÓT SEN : Gót chân đỏ hồng của người thiếu nữ xinh đẹp, không phải lao động cực nhọc.
17-TỨ CỐ VÔ THÂN : Đơn độc, trơ trọi một mình, không có ai là người thân cả.
18-CƯU MANG : Gánh đỡ, bảo bọc, nâng đỡ cho ai đó qua khỏi lúc khó khăn, hoạn nạn
19-THUỐC THANG : cũng như “thuốc men”
-Thuốc : chất trị bệnh
-Thang : chất dẫn thuốc, làm men xúc tác cho thuốc đạt hiệu quả nhanh hơn, cao hơn
20-TỊNH DƯỠNG : Nghỉ ngơi yên tĩnh
21-KHANG NINH : Mạnh khoẻ, an toàn
22-ĐỆ HUYNH : cũng như “huynh đệ” nghĩa là anh em.
Các tục ngữ thành ngữ liên quan :
-Tứ hải giai huynh đệ : [Người khắp] bốn biển đều là anh em
-Huynh đệ như thủ túc / Phu thê như y phục : Anh em như tay chân trong cùng một cơ thể (không thể chia lìa) / Vợ chồng như áo quần (có thể bỏ đi, thay bộ khác được). Ý vế sau của câu này chỉ muốn nói “vợ chồng ăn ở với nhau không phải đạo” có thể bỏ nhau tỷ như thay bộ quần áo khác, chứ không có ý nói chung tất cả các cặp “vợ chồng”.
23-BẰNG HỮU : Bạn bè thân thuộc
24-THUỶ CHUNG : Trước sau như một, không thay lòng đổi dạ
25-BĨ THÁI : Từ câu “Bĩ cực thái lai” nghĩa là khổ hết mức, khổ đến cùng cực rồi thì cái ung dung, thư thái, nhẹ nhàng lại đến.
26-CÙNG THÔNG : Từ câu “Cùng tắc bĩ, bĩ tắc biến, biến tắc thông” nghĩa là “Khổ ắt là sẽ khổ thêm đến cùng cực - Khổ đến cùng cực rồi thì sẽ có thay đổi - Thay đổi ắt là sẽ thông, sẽ hết bế tắc”.
Ý cả 2 cụm từ “Bĩ thái”, “Cùng thông” cũng giống hệt như câu “Khổ tận cam lai” (Đắng đã hết mức đắng rồi thì cái ngọt sẽ đến).
27-KHINH XUẤT : Sơ xuất (sơ ý) xem thường (coi nhẹ, đánh giá thấp) một điều gì đó hoặc một người nào đó.
28-LÂM HỌA HOẠN : Vướng vào tai nạn, mắc nạn.
29-NHÂN SÂM : Một loại cây mọc ở xứ lạnh giá, nơi băng tuyết, củ của nó có hình dạng giống như người, được Đông y xem như một vị thuốc quý có giá trị cải tử hoàn sinh.
30-BÔN BA : Nay đây mai đó, long đong trôi nổi khắp chốn.
31-HỔ HUYỆT LONG ĐẦM : Hang cọp, đầm rồng , ý nói những nơi nguy hiểm, dễ mất mạng.
32-KHỔ TRÍ LAO TÂM : cả tim lẫn óc đều cực nhọc vất vả vì lo nghĩ, tính toán, sắp đặt công việc
33-LẦM LŨI : cắm cúi đi, chăm chú làm một việc nào đó, không chú ý gì đến chung quanh.
34-MIỆT MÀI : mê mải, mải miết, cố làm cho xong.
35-GÓT TIÊN : gót nàng tiên, gót chân người đẹp
36-BƯỚC VÀO CỬA MẢ : Sắp chết, gần chết
37-ÔN NHU : Hiền hoà, dịu dàng
38-TÂY HIÊN : nhà phía tây, căn phòng phía tây, chái nhà phía tây, mái hiên của căn nhà bên tay trái ngôi nhà chính
39-TIẾNG TƠ : tiếng đàn (dây đàn làm bằng tơ, hoặc lông đuôi ngựa kết lại)
40-NHẶT KHOAN : lúc thì gấp rút dồn dập (nhặt) ; lúc thì thong thả chậm rãi (khoan).
41-BÁ LÝ HỀ : Nhân tài kiệt xuất thời Xuân thu. Xuất thân cực kỳ nghèo khổ. Bôn ba qua nhiều nước Ngu, Tấn, Sở nhưng ở đâu cũng ba chìm bảy nổi, thậm chí còn nhiều lần bị tù tội, giam cầm, đày ải. Đến năm 70 tuổi vẫn còn phải chăn dê chăn ngựa ở Sở. Vua Tần là Tần Mục Công (Nhâm Hiếu) biết là người hiền, sai người đem 5 cỗ da dê sang Sở xin chuộc Bá Lý Hề về để vua Tần ... trị tội. Sở vương không biết mưu ấy, cho Bá Lý Hề về Tần. Vua Tần lập tức phong Bá Lý Hề làm thừa tướng, người đời sau nhân sự tích ấy gọi Bá Lý Hề là “Ngũ Cổ đại phu” (vị quan 5 cỗ da dê). Ông có công khuếch trương nước Tần từ vị trí là một nước nhỏ yếu trở thành một chư hầu hùng mạnh, giúp Tần Mục công trở thành vị bá chủ thứ ba trong Ngũ bá sau Tề Hoàn công và Tấn Văn công.
42-CÂU TIỄN : vua nước Việt (nước Việt này là nước Việt cổ, ở tại lưu vực sông Dương Tử, phía nam nước Ngô). Câu Tiễn thua trận bị vua Ngô Phù Sai bắt cầm tù nhiều năm. Câu Tiễn phải nén lòng chịu nhục, bề ngoài tỏ ý khuất phục đầu hàng Phù Sai, bề trong  âm thầm tính kế phục quốc. Những năm tháng bị giam giữ ở Cô Tô thành (kinh đô nước Ngô), Câu Tiễn phải trải qua muôn ngàn cực nhục : phơi sương (ngủ ngoài trời), nằm gai (nằm trên đống gai nhọn để nhắc nhở mình không được quên nỗi nhục mất nước), nếm mật (nếm phân vua Ngô). Phù Sai thấy thế khinh thường, cho rằng Câu Tiễn là kẻ hèn kém, không có gì đáng quan ngại, bèn cho phép trở về nước Việt. Sau Câu Tiễn theo kế sách của đại phu Văn Chủng, đem Tây Thi hiến dâng Phù Sai, khiến cho vua này mê đắm nữ sắc, lơ là việc quân, việc nước. Cuối cùng, Câu Tiễn bất ngờ hạ thành Cô Tô, giết chết Phù Sai, diệt được nước Ngô.
43-NẾM MẬT : Nếm chất đắng = nếm phân vua Ngô, để bày tỏ lòng trung thành với Phù Sai, lừa cho vua Ngô khinh thường.
44-TẤN VĂN : Công tử Trùng Nhĩ nước Tấn. Khi Tấn có loạn, Trùng Nhĩ phải lưu vong qua nhiều nước suốt 17 năm trường, cực khổ gian lao đủ kiểu đủ cách, có lúc đến một nắm cơm ăn cũng không có. Bề tôi trung là Giới Tử Thôi phải cắt bắp chân mình lấy thịt cho vua ăn. Sau về nước cải cách nhiều việc, dùng Khước Khuyết, Tiên Trẩn làm tướng, lần lượt đánh bại đại quân Sở và Tần, trở thành bá chủ chư hầu. Đó là Tấn Văn công, vị bá chủ thứ nhì sau Tề Hoàn công.
45-LƯU VONG : chạy sang nước khác lánh nạn, sau khi mất nước.
46-NGŨ VIÊN : tức Ngũ Tử Tư người nước Sở. Cha và anh của Ngũ Viên bị vua Sở Bình vương nghi kỵ, vô cớ giết chết. Ngũ Viên đau lòng quá chỉ trong một đêm mà đầu tóc đều bạc trắng, ôm mối căm hờn chạy trốn sang nước Ngô. Quân Sở truy đuổi đến bờ sông, Ngũ Viên phải ẩn mình trong khóm lau ven sông, may nhờ một lão thuyền chài cứu giúp đưa sang sông mới thoát nạn. Ngũ Viên được gọi là “người quân tử trong bụi lau” là vì tích ấy. Sau Ngũ Viên làm quan tướng quốc nước Ngô, cùng với Tôn Vũ diệt được nước Sở. Ngũ Viên sai đào mồ Sở Bình vương lên, lấy roi đánh vào xác vua Sở để trả thù cho cha và anh.
Lúc cuối đời, vua Ngô Phù Sai không tin dùng nữa, Ngũ Tử Tư ôm hận mà chết.
47-KỲ HƯƠNG : những mùi hương thơm kỳ lạ
48-DỊ THẢO : Cỏ lạ
49-BÁCH HOA : Trăm hoa

50-Ý 2 CÂU CUỐI : Giữa tất cả những mùi hương thơm, những loài cỏ lạ, những giống hoa quý trên khắp thế gian này, Phạm Thư trong giấc mơ chỉ duy nhất mơ thấy hoa ... Quỳnh mà thôi ! Ý ngầm là chỉ yêu mến có một mình Trương Quỳnh Hoa mà thôi !

:bong: rose :hoa:
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 18:56

BÌNH CHÚ đoạn 5
TIẾNG ĐÀN RỪNG MAI
NGUYỄN HỒNG BẢY

1-XÉT MÌNH và NHẬN LỖI:

Thói thường, người đời, với tính tự ái cao ngạo, đặc biệt là ở những người có cái tính khí mãnh liệt, thường thì họ không bao giờ nhận ra cái sai, cái lỗi của mình, mà hay quy lỗi về cho kẻ khác, như một cách để phủ định cái sai của bản thân, cũng là cách giải thích những sự kiện thực tế đã xảy ra, không ngại cả việc “bóp méo thực tế”

HIỀN NHÂN có cách nghĩ khác, cách làm khác… Họ thường xuyên xét mình, kiểm điểm bản thân, tìm ra cái sai nào, cái lỗi nào của chính mình đã khiến gây ra những đau thương như thế… Kiểm điểm nghiêm túc, xét mình tỉ mỉ, nhờ đó mà rút ra “bài học đau thương” cho bản thân, và qua đó nâng tầm chính mình lên một mức cao hơn, để sau này không bao giờ còn vướng vào những sai lầm kiểu ấy nữa

Phạm Thư là một loại “Hiền nhân” như thế. Trải qua một cuộc đại nạn, thập tử nhất sinh, vừa hồi tỉnh sau mấy tuần lễ mê man, ông đã nhanh chóng nhận ra:


-“An Bình trí rộng tài cao (461)
Việc xưa đã tỏ, việc sau cũng tường
Bởi ta khinh xuất xem thường
Mới lâm họa hoạn đau thương chuyến này
Bỏ Tề về Ngụy thảm thay
Hết còn khoe giỏi khoe hay dối đời


-Một là, nhận ra Trịnh An Bình đã đúng, khi chủ trương ở lại nước Tề
-Hai là, bản thân mình đã sơ xuất, đã đánh giá sai tình thế khi một mực muốn trở về nước Ngụy. Và đau thương lần này là hậu quả trước mắt của cái sai lầm ấy. Hết còn “khoe giỏi, khoe hay” với ai được nữa!

Người đời hơn thua nhau, chính là ở điểm biết xét mình và nhận lỗi vậy. Kẻ khư khư, khăng khăng, cho rằng mình luôn luôn đúng, tất nhiên, sẽ chẳng rút ra được bài học kinh nghiệm nào cả. Và hậu quả đến với họ chính là tình trạng “Giậm chân tại chỗ, không thể tiến lên” vậy.


2-TÌNH YÊU ĐẾN NGAY TỪ CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN?

-Đối với Trương Quỳnh Hoa, có lẽ tình cảm khởi đầu chỉ là sự THƯƠNG XÓT dành cho một người ngay mắc nạn, kế đó là sự CẢM MẾN dành cho một nhân tài (qua lời kể lại của Trịnh An Bình)… Tình cảm ấy ngày một tăng dần lên qua thời gian chăm sóc người bệnh. Được bộc lộ gián tiếp trong TIẾNG ĐÀN an ủi người sa cơ lỡ bước.

Tây hiên lại vẳng tiếng tơ (481)
Khi cao khi thấp, hững hờ nhặt khoan
Khuyên người gặp bước gian nan
Đừng lo, đừng nghĩ, chớ than, chớ sầu
Những người trung nghĩa dãi dầu
Trải bao cực khổ gian lao sá gì
………………
Lòng trời nhìn lại cũng mau
Nên vương nên tướng, công hầu kém ai
Đàn ru réo rắt bên tai
Dạt dào quân tử ngủ say bao giờ


-Đối với Phạm Thư, thì có lẽ đúng là LOVE AT THE FIRST SIGHT thật. Trong cơn hôn mê, thấy Quỳnh Hoa, nhìn ra là tiên nữ giáng trần, chữa bệnh cho mình. Đến khi hồi tỉnh, thì cũng nhanh chóng bị tiếng đàn rừng mai khuất phục… Tình cảm đó là tình cảm phức hợp: CÁM ƠN, và THƯƠNG MẾN là tình cảm chủ đạo… Từ đó dẫn đến TÌNH YÊU cũng chẳng quá xa. Con mắt Phạm Thư nhìn Trương Quỳnh Hoa như thế này:

Ngoài song dáng liễu thướt tha
Giật mình còn tưởng tiên nga hôm nào
Hoa đồng cỏ nội thanh tao
Quần bô áo vải má đào vẫn xinh
Rõ ràng ngọc khiết băng thanh
Môi hồng tươi thắm, long lanh mắt huyền
Bờ vai tóc xỏa duyên duyên
Vóc mai lả lướt, gót sen hững hờ
………………….
Kỳ hương, dị thảo, bách hoa,
Chiêm bao duy chỉ mộng mơ hoa Quỳnh.


Mừng cho ông “bước vào cửa mả, gặp người ôn nhu”. Cái rủi ro nhất thời, đã dẫn đến cái may mắn một đời vậy… Thường nhân như chúng ta, hỏi có mấy ai được trải qua cái tình huống quá đỗi ngọt ngào như thế? Chú Nguyên thì có lẽ… có, Lão Ăn Mày thì chắc chắn… không!
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 18:59

:bong: rose :hoa:

Đàn ru réo rắt bên tai
Dạt dào quân tử ngủ say bao giờ
Kỳ hương, dị thảo, bách hoa,
Chiêm bao duy chỉ mộng mơ hoa Quỳnh


-6-

ÂN TÌNH RỪNG MAI






Râm ran gà gáy bình minh (501)
Oang oang có tiếng An Bình ngoài sân :
-“Nhân sâm kiếm được vài cân
Bấy nhiêu cũng đủ dăm tuần phục đan
Trời xanh thương kẻ ức oan
Khiến cho cây cỏ những toan tìm người”
Quỳnh Hoa kể vội mấy lời
Người trong nhổm dậy, kẻ ngoài mừng rơn
Nắm tay thuật rõ nguồn cơn
Những ngày ngậm tủi nuốt hờn đã qua
Tránh xa nanh vuốt ác tà (511)
Trở về đất tổ quê cha nương nhờ
Trương lão vốn bậc y sư
Giàu lòng nhân đức, ẩn cư núi này
Quỳnh Hoa em gái mát tay
Khiến nên tráng sĩ có ngày tái sinh
Thư rằng :-“Tình đã trọn tình
Nghĩa đà vẹn nghĩa, tử sinh ghi lòng
Vụng suy, suýt nữa thân vong
Một thân cái thế mắc vòng đào sanh
Trăm khôn một dại đã đành (521)
Biết vầy ở lại đáp tình Tề vương”
Bình rằng:-“Chớ vội lo lường
Bây giờ trước phải tìm phương phục hồi
Mai này khoẻ mạnh lại rồi
Bấy giờ ta sẽ liệu bài sang Đông
Tề vương nghĩa khí, uy hùng
Vua tôi nước ấy thực lòng mến ta
Rồng mây cá nước duyên ưa
Gặp thời khanh tướng, phải cơ vương hầu
Lẽ đời hung trước cát sau (531)
Kinh luân đầy bụng, âu sầu mà chi”
Thư rằng :-“Ám muội bất vi,
Kẻ kia buộc tội thông Tề bội quân
Bây giờ sang đó tiến thân
Mười phần xác nhận gian nhân đủ mười
Tiểu nhân đắc chí cả cười
Tự hào ngậm máu phun người không dơ
Đau đòn rồi lại thấp cơ
Truyền lưu hậu thế tiếng nhơ muôn đời
Ngày nay cơ sự đã rồi (541)
Xét trong năm nước ai người dung ta ?
Triệu, Hàn, Yên, Sở quá xa
Ngẫm đi nghĩ lại phải qua Tây Tần
Dễ dàng khởi nghiệp, tiến thân
Thuận thiên đắc địa, quốc quân oai hùng
Sang Tề, ở Ngụy không xong
Lẽ nào bó gối đợi trông Tử thần
Có thân phải sớm liệu thân
Một lần vụng tính, muôn phần đắng cay
Đổi tên Trương Lộc từ nay (551)
Phạm Thư đã chết dưới tay Ngụy Tề
Kể như dụng tốt, thí xe
Ẩn thân xó núi, đợi khi sang Tần”
An Bình vâng dạ dời chân
Trong lòng cảm phục trí nhân hơn người
Vó câu song cửa thoảng trôi
Thẹn thùa hoa trổ, bồi hồi mộng ươm
Lửa nồng tất phải bén rơm
Gạo ninh thủy hỏa thành cơm lẽ thường
Y sư Trương lão mến thương (561)
Gả cho con gái, vẹn đường thất gia
Quỳnh Hoa e ấp chúc hoa
Tàng long Trương Lộc thoắt đà thừa long
Nửa năm tình mặn nghĩa nồng
Tài cao chí lớn vẫn mong vẫy vùng
Vai kề má tựa ung dung
Bề ngoài nhàn nhã, bề trong não nề.


[Còn tiếp]


:bong: rose :hoa:
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 19:05

GIẢN CHÚ đoạn 6
ÂN TÌNH RỪNG MAI
By NGUYỄN PHÚ

1-NHÂN SÂM : Một loại cây mọc ở xứ lạnh giá, nơi băng tuyết, củ của nó có hình dạng giống như người, được Đông y xem như một vị thuốc quý có giá trị cải tử hoàn sinh.
2-PHỤC ĐAN : Uống thuốc, cho người uống thuốc. Thuốc Đông y, ngoài thuốc nước dưới dạng thang được sắc (nấu ninh trên lửa nhỏ), còn có 4 dạng khác là cao, đơn, hoàn, tán nữa :
-Cao : Thuốc dán
-Đơn (đan) : viên tròn nhỏ như hạt đậu xanh
-Hoàn : viên thuốc lớn cỡ đầu ngón tay cái, được bọc trong khối sáp tròn
-Tán : Thuốc dạng bột
Ý 2 câu
“Trời xanh thương kẻ ức oan,
Khiến nên cây cỏ những toan tìm người” :
Vì trời xanh cũng thương Phạm Thư vô tội  phải chịu ức oan, nên khiến cho Trịnh An Bình dễ dàng tìm thấy nhân sâm, như thể nhân sâm tự đi tìm Trịnh An Bình mà dâng nộp vậy.
3-Y SƯ : Người giỏi nghề thuốc (Sư : người tài giỏi, bậc thầy)
4-ẨN CƯ : ở ẩn, không hơn thua, không tranh giành danh lợi với đời.
5-TỬ SINH GHI LÒNG : Dẫu sống hay chết vẫn luôn ghi nhớ trọn đời.
6-THÂN VONG : Mất mạng, chết.
7-CÁI THẾ : Anh hùng, tài giỏi bậc nhất trên đời.
8-ĐÀO SANH : Chạy trốn tìm đường sống.
9-TÌM PHƯƠNG PHỤC HỒI : Tìm cách chữa bệnh, dưỡng bệnh cho mạnh khỏe lại như trước.
10-NGHĨA KHÍ, UY HÙNG : Có đủ các đức tính “Trọng tình nghĩa, có chí khí, có oai phong, hào hùng”
11-RỒNG MÂY CÁ NƯỚC DUYÊN ƯA : “Rồng lên mây”, “cá gặp nước” là các hình ảnh chỉ người có tài gặp thời cơ thuận lợi để có thể dễ dàng tiến thân.
12-CÁT HUNG : Như “Kiết hung” nghĩa là may mắn, và hung hiểm.
-Tiền hung hậu kiết : Trước gặp hiểm nghèo, sau lại hóa ra may mắn.
13-KINH LUÂN : Nghĩa theo từ nguyên :
-Kinh : sợi tơ
-Luân : chập các sợi to thành từng bó riêng rẽ
-Kinh luân : Công việc quản lý, cắt đặt, sắp đặt mọi sự thành từng mục riêng biệt cho dễ quản lý. Nghĩa tổng quát là “tài tổ chức, sắp đặt về mặt chính trị”.
-Kinh bang tế thế (nói tắt “Kinh tế”) : quản lý, sắp đặt trông coi việc nước cốt để giúp đời
14-ÁM MUỘI BẤT VI : Việc lén lút quyết không làm
15-THÔNG TỀ BỘI QUÂN : Lén lút tư thông với nước Tề, phản bội lại vua Ngụy
16-THUẬN THIÊN ĐẮC ĐỊA : Thuận theo, xuôi theo ý trời (tức ý dân), được lợi thế về đất đai phì nhiêu nhưng hiểm yếu.
17-GẠO NINH THUỶ HỎA : Gạo bỏ vào nồi nước nấu ninh lâu trên lửa (tất sẽ thành ... cơm).
Ý 2 câu
“Lửa nồng tất phải bén rơm
Gạo ninh thủy hỏa thành cơm lẽ thường”
“Gạo đã thành cơm”, “Lửa gần rơm lâu ngày phải bén”, “Ván đã đóng thuyền”, đều có chung một ý là “Trai gái gần nhau lâu ngày tất phải bén duyên, sinh lòng yêu thương, gần gũi với nhau”, đó là lẽ thường tình ở đời.
18-CHÚC HOA : Đuốc hoa, ngọn đuốc đốt lên trong đêm tân hôn.
19-TÀNG LONG : Con rồng ẩn (nơi đáy giếng), chỉ người có tài chưa gặp thời, còn lăn lóc trong chốn hàn vi, không ai biết đến.
20-THỪA LONG : cưỡi rồng, ý nói cưới được vợ danh giá, quý phái. Từ này xuất xứ từ điển tích “Tiêu Sử thừa long”. Tiêu Sử người thời Xuân thu, vốn nghèo khổ, có tài thổi sáo, được Lộng Ngọc, con gái Tần Mục Công (Nhâm Hiếu) yêu mến. Sau Tiêu Sử cưới được Lộng Ngọc, 2 vợ chồng cưỡi rồng bay lên trời vĩnh hưởng  tiên phúc.
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Wed 11 May 2016, 22:19

BÌNH CHÚ đoạn 6
ÂN TÌNH RỪNG MAI
NGUYỄN HỒNG BẢY

1-ĐI ĐƯỜNG NÀO?

Người đời khi đi trên con đường thẳng tắp thì ai cũng … giỏi, ai cũng … hay. Chỉ khi đến những ngã ba, những khúc ngoặt, những chỗ rẽ của cuộc đời, thì lúc ấy mới lộ rõ ai đúng, ai sai, ai hay, ai dở thực sự

-Một số người luôn mãi phân vân, không biết phải đi đàng nào, cứ thụ động mặc cho cuộc đời xô đẩy mình vào ngã nào thì bất giác đi theo hướng đó, hoặc lệ thuộc vào sự khuyên nhủ, chỉ bảo, bày vẽ của các cố vấn thân cận. Phúc thì gặp được cố vấn giỏi, chỉ cho con đường thuận lợi hơn. Vô phúc thì gặp cố vấn tồi, quân sư dỏm, thế là phải sa chân xuống vực.

-Một số người nhắm mắt chọn bừa một trong các lối đi, dựa trên cảm tính, yêu ghét, tức giận, hoặc hùa theo số đông: Ai sao ta vậy. Đây cũng kg phải là giải pháp đúng

-Một thiểu số nhỏ nhoi hơn thì biết suy tính, cân nhắc, phân tích cụ thể dựa trên các cặp phạm trù NÊN hay KHÔNG NÊN, LỢI hay HẠI, ĐÚNG hay SAI, LỢI NHIỀU hay LỢI ÍT, HẠI NHIỀU hay HẠI ÍT v.v… để rồi đưa ra được một chọn lựa tương đối xác đáng và chính đáng

Phạm Thư thuộc về cái thiểu số thứ ba này:

-Ông đã mau chóng nhận ra, kg chịu ở lại Tề mà về Ngụy là SAI

Vụng suy, suýt nữa thân vong
Một thân cái thế mắc vòng đào sanh
Trăm khôn một dại đã đành (521)
Biết vầy ở lại đáp tình Tề vương”


-Ông cũng mau chóng nhận ra sau cơn đại nạn ấy, không thể sang Tề được nữa. Nếu sang Tề, chẳng khác nào gián tiếp thừa nhận bè đảng Ngụy Tề đã ĐÚNG trong việc buộc tội ông “thông Tề, phản quốc”. Cũng chẳng dại mà sang những nước quá yếu như Yên, Hàn, quá xa như Sở, Triệu.

Thư rằng :-“Ám muội bất vi,
Kẻ kia buộc tội thông Tề bội quân
Bây giờ sang đó tiến thân
Mười phần xác nhận gian nhân đủ mười
Tiểu nhân đắc chí cả cười
Tự hào ngậm máu phun người không dơ
Đau đòn rồi lại thấp cơ
Truyền lưu hậu thế tiếng nhơ muôn đời


-Hướng đi duy nhất còn lại là sang Tần, một nước rất mạnh, và tiếp giáp ngay bên cạnh nước Ngụy

Ngẫm đi nghĩ lại phải qua Tây Tần
Dễ dàng khởi nghiệp, tiến thân
Thuận thiên đắc địa, quốc quân oai hùng


Đã sai một lần (không ở lại Tề), liệu Phạm Thư chủ trương sang Tần là một quyết định đúng hay sai? Đến cuối truyện chúng ta sẽ rõ điều này. Trí giả cũng có lúc sai, nhưng dù sai hay đúng, biết cân phân và quyết định mau chóng như thế cũng là một đặc điểm của những người lãnh đạo vậy.


2-VÌ SAO NÃO NỀ?

Lâm đại  nạn không chết, được cứu, được dung nạp, chứa chấp, được nuôi ăn, lại được luôn cả vợ

Y sư Trương lão mến thương (561)
Gả cho con gái, vẹn đường thất gia
Quỳnh Hoa e ấp chúc hoa
Tàng long Trương Lộc thoắt đà thừa long


Trong cảnh đời ung dung tự tại của một chú rể mới, được vai kề má tựa với tiên nga ấy, Phạm Thư hẳn là rất hạnh phúc, nhưng hạnh phúc mà sao vẫn không vui?

Nửa năm tình mặn nghĩa nồng
Tài cao chí lớn vẫn mong vẫy vùng
Vai kề má tựa ung dung
Bề ngoài nhàn nhã, bề trong não nề.


Vì sao não nề? Vì “Tài cao chí lớn vẫn mong vẫy vùng” vậy. Một kẻ tầm thường khi rơi vào cảnh “chuột sa hũ nếp” như thế, có vợ đẹp, tài giỏi, đảm đang như thế, hầu như sẽ có khuynh hướng muốn an phận thủ thường, để vĩnh hưởng tiên phúc nơi sơn cùng thủy kiệt, bên vợ đẹp con ngoan.

Nhưng một bậc anh hùng, thân mang đại chí, không dễ gì chịu an phận. Không có đất dụng võ để phát tiết tài năng thì dù có ăn ngon, mặc đẹp, có kẻ hầu người hạ, có lện xe xuống ngựa cũng vẫn buồn bực, không thể vui được.

Một kẻ tầm thường khác biệt với một người đại chí chính ở điểm đó vậy.
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Wed 11 May 2016, 22:25

:bong: rose :hoa:

Nửa năm tình mặn nghĩa nồng
Tài cao chí lớn vẫn mong vẫy vùng
Vai kề má tựa ung dung
Bề ngoài nhàn nhã, bề trong não nề.


-7-

VƯƠNG KÊ CẦU HIỀN






Nói về yết giả Vương Kê
Cầm đầu sứ bộ tiến về Ngụy đô
Tần vương sớm đã mưu mô (571)
Giả vờ đòi đất, thăm dò phân minh
Quân cơ, chính sự, giáp binh
Thử xem chuẩn bị chiến tranh thế nào
May ra gặp kẻ tài cao
Mau mau tiến dẫn về đầu Tần vương
Ngụy mà khinh xuất xem thường
Thừa cơ mở rộng biên cương nước Tần
Vương Kê ở lại vài tuần
Tỏ tường trong đục, giả chân rạch ròi
Bao nhiêu đường sá sông ngòi (581)
Kho tàng doanh trại gộp nơi dư đồ
Lắng nghe nghịch đảng mưu mô
Cười thầm nước Ngụy cơ đồ tất vong

Bấy giờ mọi việc đã xong
Sứ đoàn Tần quốc ung dung ra về
Vượt qua muôn dặm sơn khê
Bỗng dưng thấy giữa đường đi có người
Nón mê, hài cỏ, áo tơi
Chắn ngang chính lộ, ngả người thong dong
Quan quân quát tháo mặc lòng (591)
Giả vờ mê ngủ, tịnh không ngó ngàng
Tam Đình cương, tiếng ngáy vang  
Vương Kê thấy lạ vội vàng xuống xe
Chắc là kẻ sĩ dị kỳ
Khoanh tay lễ độ, trọn bề khiêm cung
Chốn này phục hổ tàng long
Cao nhân ẩn sĩ  thử lòng khách du ?
Ba lần hỏi, giả làm ngơ
Trước sau vờ vĩnh pho pho ngáy đều
Gió đưa râu bạc phiêu phiêu (601)
Phơ phơ tóc trắng, ra chiều tiên nhân
Bất ngờ sải cánh duỗi chân
Than rằng :-“Một lũ quân thần không ngươi,
Để cho lá mục chôn vùi
Hiền tài mai một, đất trời ủ ê
Khắp trong hai cõi Ngụy, Tề
Chẳng ai đáng mặt một vì minh quân !”
Vương Kê xao xuyến phân vân
Chắp tay ra mắt cao nhân, ngỏ lời :
-“Thành tâm cung kính rước mời (611)
Sang Tần trị quốc, cứu đời, an dân”
Người cười :-“Khéo nói dần lân
Lão đây nào phải hiền thần mà mong
Mai Lâm, thủy tận sơn cùng,
Nếu quan biệt giá sẵn lòng đến chơi
Cũng xin ra sức với người
Dẫn đi cho gặp nhân tài họ Trương
Dễ dàng tranh bá đồ vương
Tận trung báo quốc, danh dương muôn đời
Cầm bằng chẳng muốn thì thôi !” (621)
Nói xong quay gót, nhất thời toan đi
Vương Kê vội vã nằn nì
Lệnh cho quân sĩ dừng xe bên đàng
Xá nhân vội vã gióng hàng
Lòng thành lễ trọng bái trang hiền tài

Băng rừng, vượt suối, qua đồi
Thoắt đà đến trước rừng mai bạt ngàn
Suối khe róc rách miên man
Đó đây vang vọng tiếng đàn chơi vơi
Rừng hoa thoảng tiếng ai cười (631)
Lão nhân dừng bước trước đài liên hoa :
-“Hiền thần vốn thực rể ta,
Họ Trương tên Lộc, ấy là kỳ nhân
Xin quan biệt giá dừng chân
Trà sen rượu cúc tẩy trần đường xa
Xem như huynh đệ một nhà”
Dứt lời Trương lão mời qua thạch bàn
Quỳnh Hoa lo liệu cỗ bàn
An Bình tiếp xá, rượu tràn Tây hiên
Vương Kê thực dạ cầu hiền (641)
Ngồi cùng Trương Lộc huyên thiên chuyện trò
Mấy lời vàng đá phân phô
Trí mưu xuất chúng, tâm cơ hơn người
Ba tuần rượu ngọt nếm môi
Mới quen, sao thấy như người cựu giao
Pháp binh quỉ khấp thần sầu
Kinh bang, chính trị, ngoại giao gồm tài
Tây Tần dễ có mấy ai
Khắp trong thiên hạ bao người dám so
Kém gì Ngũ cổ đại phu (651)
Hàm Dương chung đỉnh chẳng lo thiếu phần  
Trương rằng :-“Cũng muốn sang Tần
Đem tài ra giúp thánh quân phen này
Chỉ e cô nhạn lẻ bầy
Một thân đơn độc, trói tay trăm chiều
Vua Tần nếu thực mến yêu
Xin cho họ Trịnh cùng theo về Tần
Người này sức địch vạn quân
Lại thêm mưu lược, trí nhân hơn đời”
Vương rằng:-“Cầu một được hai, (661)
Lẽ nào còn dám vật nài kêu ca
Phu nhân cùng với lão gia
Cùng đi một chuyến, cả nhà thêm vui”
Trương lão cất tiếng cả cười :
-“Có đâu gần đất xa trời tội vương,
Lẽ nào rời bỏ quê hương ?
Thân tàn chẳng muốn vùi xương xứ người !
Mai Lâm vinh nhục cả đời
Một mai nhắm mắt rừng mai là mồ
Tiền đồ con hãy gắng lo (671)
Cố hương mỏi mắt đợi chờ vinh quy
Bao năm theo nghiệp lương y
Chắt chiu công đức ngại gì ngày sau
Hương lân sớm tối có nhau
Chẳng lo đói rét, chẳng sầu đơn côi”

Quỳnh Hoa nước mắt tuôn rơi
Lấy chồng tất phải trọn đời tòng phu
Quản chi cơ cực đói no
Chỉ thương  thân phụ bơ vơ dãi dầu
Cha con nương tựa bấy lâu (681)
Nỡ nào ngoảnh mặt quay đầu mà đi ?
Trương Lộc lặng lẽ tính suy :
-“Ngày nay hiếu nghĩa khó bề vẹn hai
Thôi nàng ở lại rừng mai
Còn ta rong ruổi đường dài xa quê
Nhớ nhau trông ánh trăng thề
Người đi vạn dặm vẫn kề đầu song
Bao giờ đại sự thành công
Bấy giờ võng tía kiệu hồng đón đưa
Viễn quy thỏa nỗi mong chờ” (691)
Quỳnh Hoa cảm tạ, gấp lo đăng trình
Đêm tàn, dưới mái nhà tranh
Vợ chồng thủ thỉ ân tình keo sơn :
-“Còn trời còn nước còn non
Trước sau suối lại về nguồn mà thôi
Đừng buồn bã nữa em ơi
Chẳng bao lâu sẽ nối lời ái ân !”
Chia ly phút đã tới gần
Luyến lưu ruột xót, tần ngần lòng đau
Thiên cơ huyền bí nhiệm mầu (701)
Sinh ly tử biệt biết đâu ý trời ?
Giọt sầu tầm tã tuôn rơi
Yêu thương nói chẳng cạn lời yêu thương !

Trời vừa rạng sáng tinh sương
Quỳnh Hoa khép nép ven đường tiễn đưa
Nói bao nhiêu cũng chưa vừa
Bao nhiêu nước mắt cũng chưa thỏa lòng
Một ngày nên nghĩa vợ chồng
Ngàn thu ghi tạc thuỷ chung xứ này
Tạ ơn cha đã an bài (711)
Tạ ơn nương tử những ngày bên nhau
Mai sau  đoạt ấn vương hầu
Quyết không nỡ để ngậm sầu riêng ai
Người đi, người đã đi rồi
Sao còn đứng đó ngậm ngùi mà chi ? 


[Còn tiếp]

:bong: rose :hoa:
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Wed 11 May 2016, 22:28

GIẢN CHÚ đoạn 7
VƯƠNG KÊ CẦU HIỀN
By NGUYỄN PHÚ

1-CẦU HIỀN : Dùng lễ trọng để thỉnh mời người hiền tài ra giúp nước.
2-YẾT GIẢ : một chức quan trong nội cung, phụ trách việc tiếp tân (tiếp khách)
3-DƯ ĐỒ : Tấm bản đồ
4-SƠN KHÊ : Núi và khe
5-NÓN MÊ HÀI CỎ, ÁO TƠI : Các trang phục của người nghèo, người bình dân
-Nón mê : Nón có chóp tròn nhỏ, rộng vành, đan bằng tre trúc.
-Hài cỏ : Giày bện bằng cỏ (loại cỏ bền dai như cỏ bàng chuyên đan bao đệm ở nước ta)
-Áo tơi : Áo kết bằng rơm hoặc cỏ tranh thành tấm, để khoác ngoài che mưa gió, sương tuyết.
6-CHÍNH LỘ : Đường chính.
7-THONG DONG : Ung dung, thoải mái
8-TỊNH KHÔNG NGÓ NGÀNG : Tuyệt nhiên không để ý, không ngó ngàng gì đến mọi việc xảy ra ở chung quanh.
9-TAM ĐÌNH CƯƠNG : Gò Tam Đình.
10-KHIÊM CUNG : Cung kính, nhã nhặn, khiêm tốn.
11-PHỤC HỔ TÀNG LONG : Rồng ẩn cọp nấp. Ý nói “Có nhiều nhân tài không ra mặt, giấu mình trong bóng tối”
12-KHÁCH DU : Khách qua đường, khách đi dạo chơi.
13-PHIÊU PHIÊU : Nhẹ hều, bay lơ lửng, nổi bồng bềnh.
14-SẢI CÁNH : Dang rộng đôi cánh, duỗi thẳng hai tay.
15-QUÂN THẦN KHÔNG NGƯƠI : Vua quan đều có mắt không tròng, có mắt như mù.
16-HIỀN TÀI MAI MỘT : Người có tài có đức phải chịu chôn vùi (mai), mất đi (một).
17-MINH QUÂN : Vua sáng, vua hiền, vua tốt.
18-HIỀN THẦN : Bầy tôi giỏi, có tài có đức.
19-THUỶ TẬN SƠN CÙNG : Ở chốn xa xôi, cùng trời cuối đất.
20-QUAN BIỆT GIÁ : Viên quan được vua sai phái đi làm nhiệm vụ đặc biệt (Như “Khâm sai”)
22-TRANH BÁ ĐỒ VƯƠNG : Tranh giành chức vị bá chủ chư hầu, mưu toan việc giành giật ngôi vua.
23-TẬN TRUNG BÁO QUỐC :Hết lòng trung báo đền ơn nước
24-XÁ NHÂN : Thời xưa, trong nhà những quan to, các nhà giàu, các quý tộc thường có nuôi ăn ở 3 lọai người khác nhau :
-Gia nhân : Người giúp việc, làm những công việc lao động chân tay thường nhật trong nhà. Được trả công.
-Xá nhân : Người khách được nuôi ăn và cho trú ngụ thường trực ở trong nhà, tùy sức mình mà tự nguyện giúp việc cho chủ. Không bị đòi hỏi phải làm gì, cũng không được trả công. Địa vị vẫn là khách, cao hơn gia nhân.
-Môn khách : Xá nhân cấp cao.
Mạnh Thường quân nước Tề, Bình Nguyên quân nước Triệu, Tín Lăng quân nước Ngụy, Xuân Thân quân nước Sở v.v ... trong nhà thường có đến 3000 tân khách (Xá nhân + Môn khách).
25-BÁI TRANG HIỀN TÀI : Đến viếng trang trại, vái chào bậc hiền tài.
26-BẠT NGÀN : Mênh mông.
27-ĐÀI LIÊN HOA : Đài hoa sen, tháp nhỏ thờ Phật hoặc các vị Bồ tát.
28-KỲ NHÂN : Người có tài kỳ lạ, khác thường.
29-TẨY TRẦN : Rũ sạch bụi, Phủi sạch bụi, Rửa sạch bụi (do phải đi đường xa lâu ngày).
30-THẠCH BÀN : Bàn làm bằng đá.
31-TÂY HIÊN : Mái hiên phía Tây, chái nhà phía Tây, căn nhà phía Tây.
32-TRÍ MƯU XUẤT CHÚNG, TÂM CƠ HƠN NGƯỜI : Mưu trí, kế sách, cách sắp đặt, xử lý công việc đều trội hơn mọi người.
33-CỰU GIAO : người quen biết cũ.
34-KINH BANG, “Kinh bang tế thế”, “Kinh tế” : Quản lý coi sóc
việc nước (cốt để cứu đời)
35-PHÁP BINH QUỶ KHẤP THẦN SẦU : Tài năng chính trị, quân sự đều giỏi đến mức quỷ phải than khóc, thần phải buồn bực, (vì không thể sánh bằng, không thể chống lại được).
36-NGŨ CỔ ĐẠI PHU : Đại phu 5 cỗ da dê, tức Bá Lý Hề, thừa tướng nước Tần thời thịnh trị của Tần Mục công.
37-CHUNG ĐỈNH : Cái đỉnh (nồi) và cái vạc, chuyên dùng để nấu thịt trong sân đình vua chúa. Chỉ những miếng mồi ngon, những lợi lộc do quan trường đem lại.
38-THÁNH QUÂN : Vua thánh, vua giỏi có tài và có đức độ
39-CÔ NHẠN : Con nhạn lẻ, tách ra khỏi đàn.
40-SỨC ĐỊCH VẠN QUÂN : Sức chống lại được cả vạn người.
41-TIỀN ĐỒ : Con đường công danh sự nghiệp trước mặt.
42-VINH QUY : Về làng, về quê trong sự vinh hiển.
43-LƯƠNG Y : Thầy thuốc giỏi, thầy thuốc tốt.
44-HƯƠNG LÂN : Hàng xóm láng giềng nơi quê nhà.
45-TÒNG PHU : Theo chồng
46-ĐẠI SỰ THÀNH CÔNG : Việc lớn (việc kiến công dựng nghiệp)  thành công.
47-VIỄN QUY THOẢ NỖI MONG CHỜ : Người đi xa về, là một nỗi mừng lớn lao, cũng thỏa lòng chờ mong.
Tục ngữ có câu “Tân thú bất như viễn quy”, nghĩa là “ Vợ chồng mới cưới hạnh phúc chẳng bằng một người đi xa về”
48-CẢM TẠ : Cám ơn
49-ÂN TÌNH KEO SƠN : Tình nghĩa vợ chồng quyến luyến nhau, dính chặt như keo, như sơn, khó nỗi chặt đứt được.
50-THIÊN CƠ HUYỀN BÍ NHIỆM MẦU : Lẽ trời bí mật, con người không thể biết trước được điều gì sẽ xảy đến trong tương lai.
51-SINH LY TỬ BIỆT : Xa nhau lúc sống, chia lìa nhau vì cái chết.
52-NGÀN THU : ngàn năm, mãi mãi.
53-THUỶ CHUNG : Trước sau như một, không thay đổi lòng dạ.
54-AN BÀI : Sắp đặt chu đáo mọi việc.
55-NƯƠNG TỬ : Tiếng gọi “vợ”
56-ĐOẠT ẤN VƯƠNG HẦU : Giành được ấn (con dấu) vương hầu, tức là được phong tước “vương, hầu”


rose rose rose


Được sửa bởi HanSiNguyen ngày Thu 12 May 2016, 10:30; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Thu 12 May 2016, 10:28

BÌNH CHÚ đoạn 7
VƯƠNG KÊ CẦU HIỀN
NGUYỄN HỒNG BẢY

1-Y SƯ TRƯƠNG LÃO

Trong 2 đoạn 5, 6 TIẾNG ĐÀN RỪNG MAI, và ÂN TÌNH RỪNG MAI, người đọc được biết rằng Phạm Thư lâm nạn, được Trịnh An Bình đem về Mai Lâm, nhờ TRƯƠNG LÃO chữa bệnh, QUỲNH HOA chăm sóc. Quỳnh Hoa thì được đặc tả khá đầy đủ, còn Trương Lão thì chỉ được giới thiệu qua loa bằng duy nhất một câu:

Ở đây còn có cha già

Rồi thôi. Rồi hết. Có vẻ như tác giả HSN đã quên sót không giới thiệu chi tiết về nhân vật này. Nhưng không phải thế, ở đoạn 7 VƯƠNG KÊ CẦU HIỀN, Trương Lão đã bất ngờ xuất hiện. Với một phong thái rất tiêu dao, đầy chất “tiên phong đạo cốt”, thu phục ngay sự cảm mến của người đọc. Xuất hiện tương tự như thể “Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt mà lo việc nước” vậy. Và khi ông dẫn khách về đến Mai Lâm, người đọc đọc thấy câu “Hiền thần vốn thực rể ta”, thì lúc ấy mới nhận ra nhân vật đặc biệt này chính là Y sư Trương Lão!

Thủ thuật giới thiệu nhân vật đầy chất hư cấu, đột biến và bất ngờ này có thể nói là một nét chấm phá rất tinh xảo của nghệ thuật hội họa vậy


2-AI CẦU AI?

-Vua Tần thì đang ở trong thế bế tắc, khao khát nhân tài nên rất quyết tâm cầu hiền
-Vương Kê nhận lệnh vua Tần cũng thực tâm muốn đem được nhân tài lỗi lác về giúp vua, giúp nước. Cái đó đã hẳn.
-Riêng Phạm Thư thì có nhu cầu ngược lại, là khao khát thể hiện tài năng không? Có! Rất khao khát nữa là đàng khác. Chỉ những CON RỒNG bị giam trong GIẾNG CẠN mới thực sự hiểu được nỗi khao khát muốn bay lên, muốn vượt ra khỏi giếng, muốn hòa mình vào trời xanh bao la, muốn vần vũ giữa mây mù, giông tố. Đích thân mình làm ra mưa cứu hạn cho đời

Trong cổ sử không hề có chi tiết Trương Lão chặn đường Vương Kê ở gò Tam Đình, đưa về gặp hiền nhân Trương Lộc. Đây là một nét hư cấu của HSN. Nét hư cấu này làm nổi bật lên cái khao khát ra tài giúp vua, giúp nước của Phạm Thư vậy: Chủ động cho đón sứ giả, mời về trò chuyện, đích thân chinh phục sứ giả, buộc sứ giả phải nói ra 2 tiếng CẦU HIỀN. Chủ động, chứ không khoanh tay, bó gối nằm ngủ ở Nam Dương như Gia Cát Lượng thụ động chờ Lưu Bị “TAM CỐ THẢO LƯ” như trong truyện Tam Quốc.

Thụ động như Gia Cát Lượng, bộc lộ cái phong thái bất cần của Khổng Minh: “Người cần ta, chứ ta chẳng cần người”. Còn chủ động như Phạm Thư lại cho thấy đó là một tài năng kiệt xuất, biết hoạch định chính xác, đẩy sự việc phải diễn ra theo đúng ý mình, và cũng cho thấy cái tư thế lưỡng diện:
“SONG PHƯƠNG TƯƠNG CẦU”. Cả 2 phía đều cần đến nhau.

Tiểu thuyết, truyện, truyện thơ viết về đề tài lịch sử thì phải dựa vào lịch sử là chính, nhưng những nét chấm phá, hư cấu như thế này luôn tạo ra sức hấp dẫn cao độ vậy.


H7C
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2472
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Thu 12 May 2016, 10:37

:bong: rose :hoa:

Mai sau  đoạt ấn vương hầu
Quyết không nỡ để ngậm sầu riêng ai
Người đi, người đã đi rồi
Sao còn đứng đó ngậm ngùi mà chi ?


-8-

PHẠM THƯ SANG TẦN






Băng ngàn vượt suối mải mê
Vầng dương le lói, trăng khuya la đà
Gióng cương trực chỉ Tây Hà
Tần kề một bước, Ngụy xa ngàn trùng
Rừng mai khuất đám bụi hồng (721)
Lửa hương se thắt chạnh lòng mà đau
Băng băng xe lướt ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt khơi sầu chinh nhân
Xa xa thấp thoáng non Tần
Biết bao gian khổ khó khăn sẵn chờ :

-“Mảng nghe, Tần chẳng có vua !
Thái hậu nhiếp chính, ầu ơ điện tiền
Nhương hầu tung hứng nghịch thiên
Hoa Dương thế lớn đảo điên cung đình
Gian nhân kết đảng lộng hành (731)
Dối trên lừa dưới, chông chênh miếu đường
Tam đầu oai trấn Hàm Dương
Đa nghi, chuyên chế, nhiễu nhương nước nhà
Đỉnh chung, chân vạc chia ba
Tần vương ngồi đó chỉ là hình nhân
Dẫu rằng chí muốn hưng Tần
Chẳng qua pho tượng nhận phần tung hô
Chuột bầy đục khoét của kho
Càng buồn, càng ngẫm, càng lo, càng sầu
Quyền rơm biết tính làm sao (741)
Ôm cằm, bó gối, cúi đầu, khoanh tay
Triều đường rặt những cáo cầy
Xương khô trong mả múa may cung đình
Thằng hề, con rối hiển vinh
Người rơm áo mão, bù nhìn cân đai
Đui mù ra dáng hiền tài
Giả câm giả điếc lộc trời đầy no
Chung quanh lục quốc rình chờ
Rõ ràng thế nước bên bờ vực sâu
Hỏi quan biệt giá nghĩ sao ?” (751)

Vương Kê hết vía, gục đầu thất kinh :
-“Cớ sao thông tỏ nội tình ?
Mọi điều phân tích rành rành chẳng sai !
Tinh thông thuật số mà hay
Hoặc là thần nhãn, có tài nhìn xa ?”
Lộc cười :-“Trong đạo binh gia
Việc đầu tiên, phải biết ta biết người
Thông tin quán triệt nơi nơi
Lão thông địa lý, thiên thời, nhân tâm,
Lược thao, cơ số, lục nhâm (761)
Nội tình liệt quốc thảy nằm trong tay !”
Vương rằng :-“Sự thể ngày nay
Làm sao thoát khỏi nạn tai gần kề ?
Rửa tai cung kính xin nghe”
Lộc rằng :-“Kế lớn khó bề giải phân
Vô mưu sao dám sang Tần
Thân vào hổ huyệt cam phần thịt tươi ?
Vua Tần nếu quyết dùng tôi
Ắt là trừ được ba ngôi lộng quyền
           Dụng nhân mà dụng không chuyên (771)
Để cho kẻ xấu nói dèm, uổng công
Bao giờ đến trước ngai rồng
Bấy giờ sách lược mới mong tỏ bày !”

Xa xa mù mịt khói mây
Trống khua chuyển đất, cờ bay tung trời
Nhương hầu đang lúc rong chơi
Tiền hô hậu ủng ngời ngời dung quang
Kỵ binh mở lối dẹp đàng
Tàn hồng, tán tía, lọng vàng uy nghi
Lộc rằng:-“Kẻ ấy đa nghi (781)
Không ưa khách tướng cận kề long nhan
Tránh voi, tránh trước cho an
Tiểu tâm nhiễu sự, nghi nan lụy mình !”
Dứt lời cùng với An Bình
Chui vào bao bố, giấu mình trong xe
Loan xa thoắt đã cận kề
Nhương hầu gặng hỏi Vương Kê đủ điều :
-“Biện sĩ là lũ dân điêu
Mồm loa mép giải ra chiều thánh nhân
Chớ đem lũ ấy vào Tần (791)
Khua môi múa mép thêm phần rối ren !”
Vương Kê vâng dạ cho yên
Tạ từ lui gót, thẳng miền Hàm Dương
Một lòng kính phục họ Trương
Trăm điều tiên liệu, tinh tường đủ trăm

Bấy giờ Lộc lại bảo thầm :
-“Nhương hầu kế xảo, mưu thâm cả đời
Có điều tính chậm hơn người
Xe chưa khám xét, chưa thôi ý tà
Thế nào cũng đuổi theo ta (801)
Chi bằng gấp rút chia ra hai đường
Biệt giá đi thẳng Hàm Dương
Tôi tìm lối rẽ, tắt đường mà đi
Khám xe tất chẳng thấy gì
Bấy giờ tụ hội cùng về mới xong”
Vương Kê thực đã tin lòng
Chia tay đôi ngả, bụi hồng đôi nơi
Quả nhiên lốc xoáy mù trời
Kỵ binh thoắt đuổi đến nơi hét hò :
-“Khám xe ! Bắt kẻ cuồng đồ (811)
Chớ cho ngoại chủng lọt vô nước Tần !”
Khám đi xét lại mấy lần
Cuối cùng tưng hửng, tần ngần mà đi
Xá nhân cho chí Vương Kê
Thảy đều thán phục tài nghề họ Trương
Rõ là hào kiệt phi thường
Xét người tính việc tỏ tường tinh anh
Chờ nhau chưa quá nửa canh
Ung dung xe ngựa nhập thành Hàm Dương
Tạm về dinh thự họ Vương (821)
Bồ đào rũ sạch bụi đường bấy lâu
Của ngon vật lạ dâng hầu
Lại cho con cháu dập đầu bái sư
Vương Cung, Vương Kiếm bấy giờ
Phất phơ ba chỏm, thò lò mũi xanh
Ngày sau  thiên cổ lưu danh
Gồm thâu lục quốc, tung hoành tài trai
Một tay Trương Lộc tài bồi
Gọi là trả nghĩa giúp người tri âm,

Ở Tần vẫn nhớ Mai Lâm (831)
Trúc tiêu réo rắt, hồ cầm nỉ non
Bao giờ về được cô thôn,
Thăm mồ cha mẹ, cho tròn thân danh
Bao giờ sự nghiệp tác thành,
Vinh thê ấm tử, sử xanh chói ngời
Bao giờ đôi bóng chung đôi,
Lau khô nước mắt cho người chờ mong
Trăng khuya lơ lửng đầu song
Quỳnh Hoa chắc hẳn nhớ nhung bên trời
Nửa vầng trăng sáng chơi vơi (841)
Nửa vầng kia đã khuất vời ngàn dâu
Trời làm dâu bể, bể dâu
Cạn dòng nước mắt, âu sầu trông trăng
Hồn nương mây ấm mấy tầng
Giãi lòng ra với chị Hằng không nguôi
Trời  cao có xuống làm người,
May ra biết xót thương đời biệt ly !


[Còn tiếp]

:bong: rose :hoa:
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
 
THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 3 trong tổng số 8 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện thơ-