IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Today at 14:59

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Today at 13:53

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Today at 07:52

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Today at 07:02

Nhờ Admin và kỹ thuật giúp đỡ by Shiroi Today at 02:54

Tình yêu, và dòng chảy thời gian by Time Yesterday at 23:01

SỨc sống cuối đời by buixuanphuong09 Yesterday at 20:41

GÓP BÀN TAY by buixuanphuong09 Yesterday at 20:23

Bốn Trụ Luyện Đường Thi 2014 - 2017 by mytutru Yesterday at 12:25

Cách gởi bài viết by Trà Mi Yesterday at 11:51

MẮT NÂU VỀ CHƯA by HanSiNguyen Yesterday at 05:32

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Yesterday at 04:26

Thơ Tàn Thu by Tàn Thu Tue 25 Apr 2017, 00:35

BỒ NHÍ KHÁC XA VỢ HIỀN by Ma Nu Mon 24 Apr 2017, 23:44

CÁM ƠN BẠN CIỆT ĐƯỜNG VÀ NẮNG XUÂN by Ma Nu Mon 24 Apr 2017, 23:33

THƠ PHƯƠNG NGUYÊN by Phương Nguyên Mon 24 Apr 2017, 13:34

Thơ Bảo Trâm by Trà Mi Mon 24 Apr 2017, 08:02

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Mon 24 Apr 2017, 00:27

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Sun 23 Apr 2017, 12:11

ĐÁNH MẤT NIỀM TIN by Bảo Minh Trang Sun 23 Apr 2017, 10:19

DO MÌNH by buixuanphuong09 Sun 23 Apr 2017, 09:12

Nghiệp by Bảo Minh Trang Sun 23 Apr 2017, 07:45

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Sun 23 Apr 2017, 06:40

Thơ Thái Bá Tân by Việt Đường Sat 22 Apr 2017, 15:04

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Sat 22 Apr 2017, 09:11

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by Ma Nu Fri 21 Apr 2017, 20:38

Viếng Ức Trai Tiên Sinh by Bảo Minh Trang Fri 21 Apr 2017, 15:25

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:49

Thơ Tú_Yên - Quê Hương by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:44

Truyện thơ_Cháu của Bà by Tú_Yên tv Fri 21 Apr 2017, 11:39

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next
Tác giảThông điệp
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Sun 08 Aug 2010, 07:14

Phạm Thư tận nghĩa tận trung
Nghĩ mình ăn quả, cố công vun bồi
Cúc cung tận tụy ở đời (61)
Biết đâu lòng dạ con người  hiểm sâu.

 
  -2-
 
TU CỔ ĐI SỨ NƯỚC TỀ


Ngày kia vua Ngụy khai chầu
Bá quan văn võ đứng hầu hai ban
Chúa tôi quốc sự luận bàn
Phân vân chưa biết liệu toan cách nào
An Ấp, Tần muốn đã lâu
Ngày nay yêu sách phải giao năm thành
Không giao tất xảy chiến tranh
Đầu rơi máu chảy, quốc thành tan hoang
Thuận lòng chiều lũ sói lang (71)
Đem dê nuôi cọp, cọp càng thêm nanh
Ngày sau nó lại vồ mình
Chi bằng cự tuyệt dứt tình cho xong
Tu Cổ bàn kế sang Đông
Giao hoà lân quốc mua lòng Tề vương
Môi răng liên kết hỗ tương
Sách lược hợp nhất, song phương đồng hành
Vua rằng:-“Muốn kế ấy thành,
Phải cho sứ giả thuyết minh với Tề
Gấm trăm đoạn, lụa trăm xe (81)
Bạc vàng chẳng tiếc, chỉ e thiếu người
Trước sau không có nhân tài
Ai người du thuyết giãi bày chủ trương ?
Việc giao Tu Cổ đảm đương !”
Đại phu vâng lệnh rắp đường Đông du
Đem theo cả gã xa phu
Trước là giong ngựa sau nhờ trí  mưu
Hành trang chuẩn bị lao xao
Cân phân mọi lẽ, hôm sau đăng trình

Đông thành có Trịnh An Bình (91)
Vóc người cao lớn dáng hình oai phong
Thân nhau trải mấy thu đông
Văn tài điêu luyện võ công hơn người  
Ngày thường cơm độn ngô khoai
Anh em tương kính ngọt bùi sẻ chia
Nhân nay có việc sang Tề
Xin cùng Tu Cổ cho đi theo hầu
Đánh xe dắt ngựa có nhau
Mã phu chân ấy ai cầu mà chi
Đường xa có bạn có bè (101)
Giúp lo rơm cỏ, phòng khi chẳng lành
Hôm sau vừa rạng bình minh
Một đoàn xe ngựa rời thành Đại Lương
Vó câu trực chỉ viễn phương
Hai mươi mãnh tướng đường đường oai phong
Ba ngày rong ruổi ruổi rong
Thoắt đà đến trước cửa Đông nước Tề
Điệp văn trình báo mọi bề
Cổng thành rộng mở rước về dịch trung
Nghỉ ngơi đâu đó vừa xong (111)
Vua ban yến tiệc thưởng công sứ thần
Rượu ngon say đã bảy phần
Tề vương hạ lệnh hai quân tranh tài
Tướng văn tướng võ mua vui
Thưởng công trăm lượng cho người tài cao
Hai mươi mãnh tướng theo hầu
Kẻ trước tan tác, người sau quáng quàng
Cọp long móng, cua mất càng
Khôn nhà dại chợ, bẽ bàng lặng thinh
May mà còn Trịnh An Bình (121)
Mã phu nổi trận lôi đình ra oai
Một phen tráng sĩ  trổ tài
Tướng Tề đổ máu, gãy tay, vỡ đầu  
Người sứt trán, kẻ xuôi râu
Quan quân hổ thẹn, vương hầu thất kinh
Sức thua, thua đã phân minh
Lệnh vua lại khiến giao tranh cuộc cờ
Thử xem trí giả hiền ngu
Danh kỳ Tề quốc so đo sứ thần
Tu Cổ tốc chiến mất quân (131)
Phạm Thư kiên thủ khó phân thắng hoà
Sắp bày địa võng thiên la
Trấn biên mai phục, sơn hà tương thông  
Liên hoàn trận, chiếm thượng phong
Kỳ binh tập kích khó mong vãn hồi
Vua tôi Tề quốc hỡi ơi
Kém anh dắt ngựa, thua người đánh xe
Lòng riêng, riêng những não nề
Tiếng là thượng quốc, cam bề thất cơ ?
An dân, quốc sách, binh cơ (141)
Ba câu vấn nạn, sững sờ kinh tâm
Mồ hôi Tu Cổ tuôn dầm
Rành rành có miệng hóa câm bao giờ
May thay còn có Phạm Thư
Lẹ làng ứng đối giải trừ khó khăn
Dễ dàng định quốc an dân
Dụng binh mưu trí quỷ thần cũng thua
Tề vương ngơ ngẩn ngẩn ngơ
Cười thầm vua Ngụy bỏ lơ nhân tài
Rõ là có mắt không ngươi  (151)
Tài năng thế ấy làm người xa phu !
Thưởng cho vàng lụa gấm tơ
Khuyên mời ở lại, dưới cờ lập công.

Bấy giờ đại tiệc vừa xong
An Bình chí muốn nghinh phong theo Tề
Bàn rằng :-“Cơ cực hàn vi,
Bao năm ở Ngụy thảm thê não nùng
Tề vương có lượng bao dung
Chi bằng ở lại lập công xứ này !”
Thư rằng :-“Đạo lý xưa nay (161)
Lá rụng về cội, cáo quay về nguồn
Dẫu rằng ở Ngụy héo hon
Lẽ nào tham lợi mưu toan giúp Tề
Mồ cha mả mẹ còn kia
Thế nào cũng phải trở về cố hương
Ngày nay phụ ý Tề vương
Ngày sau Trời sẽ dọn đường cho ta”
Bình rằng :-“Trí giả trông xa
Một lòng vì nước thật là đáng khen
Chỉ e tôi nịnh vua hèn (171)
Chuyến này về Ngụy khó yên trong ngoài
Trước là cơ hội phí hoài
Sau là khổ lụy khiến người cười chê
Tốt hơn hãy ở lại Tề !”
Thư cười :-“Kẻ sĩ ngại gì dèm pha
Lương tâm sáng tựa sao sa
Hồ đồ thêu dệt, chẳng qua hồ đồ
Mặc cho thiên hạ mưu mô
Lẽ nào quân tử bo bo lợi mình
Thư này quyết chẳng ham danh (181)
Cũng không hám lợi cầu vinh xứ người
Chí ta, ta đã quyết rồi
Ra tài phụng sự vun bồi quê hương
Lâm Tri kim mã ngọc đường
Sao bằng tiểu tốt Đại Lương cô thành !”
Bình nghe kiên quyết ý tình
Thôi thì may rủi tử sinh mặc trời
Cam lòng bạn hữu có đôi
Cùng về cố quốc buồn vui chung phần
Tề, Ngụy kết mối tương thân (191)
Sứ đoàn Tu Cổ nhanh chân ra về
Môi răng liên kết chở che
Mới mong ngăn chặn bánh xe nước Tần
Chia tay, vua  lại ân cần
Chén quỳnh lưu luyến, tần ngần vó câu
Ban cho hảo tửu trân châu
Đinh ninh từ tạ, mau mau đăng trình.

rose


rose


Được sửa bởi HanSiNguyen ngày Tue 10 May 2016, 09:25; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Sun 08 Aug 2010, 07:19

GIẢN CHÚ Đoạn 2
by Nguyễn Phú


TU CỔ ĐI SỨ NƯỚC TỀ

1-Khai chầu: Mở một cuộc hội họp (định kỳ) giữa vua và các quan ở ngay tại cung đình.(Khai chầu = khai trào = khai triều)
2-Bá quan : Trăm quan, các quan
3-Chúa tôi : Vua và các bề tôi
4-Quốc sự luận bàn : Thảo luận, bàn bạc về các sự kiện quan trọng trong nước
5-Yêu sách : Đòi hỏi những điều quá đáng, khó thực hiện, khó đáp ứng.
6-Quốc thành :
-Kinh thành, thủ đô của một nước
-Các thành trì trong nước
7-Lũ sói lang : bọn người độc ác như chó sói, chỉ chực phanh thây xẻ thịt người khác
8-Cự tuyệt : Từ chối dứt khoát, từ chối thẳng thừng.
9-Lân quốc : Nước láng giềng (Như : Lân bang)
10-Hỗ tương : lẫn nhau; giúp đỡ cho nhau
11-Sách lược hợp nhất, song phương đồng hành : Hai nước có chung một chính sách (đối ngoại), thống nhất cùng nhau hành động , cùng đi chung đường với nhau.
12-Thuyết minh : giải thích, trình bày cho rõ ràng một vấn đề nào đó
13-Rắp (đường Đông du) : chuẩn bị sẵn trong đầu (mọi cách thức, mọi đường lối sẽ thực hiện khi sang Tề đi sứ)
14-Hành trang : hành lý, vật dụng mang theo khi đi đường
15-Cân phân : Tính toán tỉ mỉ, chi tiết, rõ ràng, kỹ lưỡng
16-Đăng trình : Lên đường, bắt đầu một chuyến đi
17-Mấy thu đông : Mấy năm
18-Điêu luyện : Cực khéo, cực giỏi
19-Mã phu : Người chăn dắt ngựa
20-Viễn phương : Phương xa
21-Mãnh tướng : Tướng mạnh
22-Điệp văn : văn thư, văn kiện chính thức của nước này gửi cho nước kia, nhằm thông báo một sự kiện quan trọng, hoặc giới thiệu một người nào đó đảm nhận một nhiệm vụ chính thức được phân công. Từ hiện đại gọi là “thông điệp”, “quốc thư”, “uỷ nhiệm thư”.
23-Dịch trung : Nghĩa giống như “quán dịch, dịch quán, dịch đình, dịch đường”. Nơi dành riêng cho các đoàn khách nước ngoài nghỉ ngơi khi đi sứ . Từ hiện đại là “Nhà khách ngoại giao đoàn”, “Lễ tân phủ”.
24-Quáng quàng : Cuống cuồng lên vì tối mắt tối mũi, không còn phân biệt được đông tây nam bắc gì nữa.
25-Nổi trận lôi đình : nổi giận đùng đùng.
Ngày xưa ở chốn công đường, khi các quan phụ mẫu nổi cơn tức giận, thường quát tháo ầm ầm như sấm như sét, khiến dân đen thất kinh hồn vía, vì thế mới gọi là “nổi trận lôi đình”. Công đường, nơi xử án, cũng được gọi là “sân lôi đình” vì lẽ ấy.
26-Thử xem trí giả hiền ngu : Thử xem xem những người mưu trí, giỏi hay là dở.
-Hiền : giỏi, có tài có đức
-Ngu : kém cỏi, vụng dại, ít tài thiếu đức
-Trí giả : Người có mưu trí, người có học thức
27-Danh kỳ : Những người đánh cờ giỏi, nổi tiếng.
28-Tốc chiến : đánh nhanh, đánh ào ạt, mục đích muốn thắng nhanh.
29-Kiên thủ : Kiên trì, kiên cường phòng thủ. Thủ ráo riết, chắc chắn, kín kẽ, không để lộ ra sơ hở nào cho đối phương khai thác.
30-Địa võng thiên la : Những tấm lưới bủa giăng khắp trên trời dưới đất, không cho người và chim chóc, muông thú ra thoát. Ý là : “xiết chặt vòng vây”.
31-Trấn biên mai phục :
-Mai phục : Giấu quân, không lộ diện, nhằm đánh bất ngờ, mãnh liệt vào đối phương (Như : Phục kích)
-Trấn biên : Những vùng biên cương, biên giới, vùng hoang vắng hiểm trở, xa nơi kinh thành.
32-Sơn hà tương thông : Núi và sông thông được với nhau. Ý nói các vùng trong nước đều dễ dàng qua lại, tiếp ứng, cứu viện cho nhau.
33-Liên hoàn trận : Một trận thế trong đó các thành phần quân đội tham gia đều giữ được mối dây liên kết chặt chẽ, sẵn sàng ứng cứu cho nhau, không có thành phần nào bị cô lập, tách rời ra khỏi tổng thể.
34-Thượng phong : Thế trên gió, thế xuôi gió; Nghĩa là “ưu thế, thế thuận lợi”.
35-Kỳ binh :
-Chính binh : là quân dàn trận đánh thẳng vào chính diện trận địa đối phương.
-Kỳ binh : là quân đánh bất ngờ, từ một hướng phụ không ai ngờ, đột nhiên tham chiến.
36-Tập kích : Từ xa, tiến đến đánh bất ngờ vào địch quân. (Như : Bôn tập)
37-Vãn hồi : Cứu vãn lại một cái đã thua, đã hỏng, đã mất.
38-Thượng quốc : Nước lớn hơn, nước mạnh hơn.
39-Thất cơ : Mất thời cơ, mất tiên cơ, mất thế chủ động, mất ưu thế thuận lợi.
40-An dân, quốc sách, binh cơ : Ba vấn đề lớn của một quốc gia, những sách lược để yên dân, trị nước, tổ chức quân đội.
41-Vấn nạn : Những câu hỏi khó đáp, khó giải quyết; Những vấn đề đau đầu, câu hỏi đố nhằm làm cho người ta phải bế tắc.
42-Kinh tâm : Hoảng sợ đến nỗi tim đập huỳnh huỵch.
43-Ứng đối : Tuỳ theo, nương theo người ta mà có cách đối đáp thích hợp với hoàn cảnh, với tình thế lúc ấy.
44-Giải trừ : Gỡ bỏ, giải thoát
45-Định quốc an dân : Làm cho dân được yên ổn sinh sống, nước được thái bình thịnh trị.
46-Dụng binh : Dùng binh, cầm quân đánh trận.
47-Nghinh phong : Đón gió, đoán trước cơ hội tốt của thời thế mà có cách xử lý thích hợp, mục đích thu được ích lợi nhất cho mình.
48-Cơ cực hàn vi : Đói lạnh, khổ sở.
49-Lượng bao dung : lòng độ lượng, rộng mở, biết tha thứ, không chấp nê, bắt lỗi người khác.
50-Đạo lý : Lẽ phải, đường ngay . Những chuẩn mực đạo đức trong xã hội mà con người phải theo, để xứng đáng gọi là “Người”
51-Cáo quay về nguồn : Do câu tục ngữ “Cáo chết ba năm quay đầu về núi”.
Cũng giống như câu “Lá rụng về cội”, đều có chung một ý là “con người phải biết đến cội nguồn, không được quên gốc tích cũa mình”
52-Cố hương : Làng cũ, quê cũ - Cố quốc : Nước cũ.
53-Trí giả : Người có tri thức, có mưu trí, có hiểu biết, có học.
54-Hồ đồ thêu dệt, chẳng qua hồ đồ :
Những người thêu dệt chuyện (một cách hồ đồ) nhằm nói xấu người khác, chẳng qua chỉ chứng tỏ bản thân họ là người hồ đồ mà thôi
(Hồ đồ : Hàm hồ, bừa bãi, nói lấy được, đặt chuyện không cần biết đến lẽ phải)
55-Quân tử : Người tốt, người hiền, người vị tha bao dung (phản nghĩa của “Tiểu nhân” là “kẻ nhỏ mọn, ích kỷ”)
56-Cầu vinh : mưu toan tìm lấy sự vẻ vang, mưu lợi cho bản thân
57-Kim mã ngọc đường : Nhà bằng ngọc, ngựa bằng vàng. Ý nói nhà cao cửa rộng, giàu có, quyền thế.
58-Tiểu tốt : Lính quèn, người tầm thường, người không có vai vế gì trong cộng đồng.
59-Cô thành : Thành lũy đơn lẻ, không ai trợ giúp.
60-Tử sinh : Chết và sống.
61-Tương thân : thân nhau, hoà hoãn với nhau, thân thiết với nhau.
62-Chén quỳnh : tức “chén quỳnh tương” = chén rượu.
63-Hảo tửu trân châu : Rượu ngon, ngọc quý.
64-Đinh ninh từ tạ : Cám ơn, nhưng nhất định khăng khăng từ chối, không nhân.


rose
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Sun 08 Aug 2010, 07:23

LỜI BÀN đoạn 2 (by Nguyễn Hồng Bảy)

1-Thủ pháp phục bút “20 viên mãnh tướng”

Khi phái đoàn Tu Cổ chuẩn bị đi sứ nước Tề, người viết đã nhẹ nhàng hạ mấy câu như sau :

Hôm sau vừa rạng bình minh
Một đoàn xe ngựa rời thành Đại Lương
Vó câu trực chỉ viễn phương
Hai mươi mãnh tướng đường đường oai phong (106)


Đi sứ tất phải có người bảo vệ cho sứ thần và các tặng phẩm vàng lụa, việc 20 viên tướng mạnh đi theo hộ vệ cũng là điều hợp lý. Oai phong cũng là điều hợp lý.

Cái oai phong lẫm liệt ấy thể hiện qua 4 chữ “đường đường oai phong”. Chỉ thế thôi nhưng cũng đủ cho thấy đó là 20 con người cao lớn, hùng dũng, hiên ngang qua tầm vóc của thân xác, qua uy nghi của dáng vẻ, qua rực rỡ của y giáp

Chỉ nói vài câu rồi lảng sang chuyện khác.
Mười một câu sau đó, ở câu 117-120, ta lại bất ngờ gặp lại 20 viên mãnh tướng ấy, nhưng trong một bối cảnh khác, bối cảnh cuộc so tài ở triều đình Tề, cái “oai phong” của 20 viên tướng mạnh ấy nối tiếp như sau :

Hai mươi mãnh tướng theo hầu
Kẻ trước tan tác, người sau quáng quàng
Cọp long móng, cua mất càng
Khôn nhà dại chợ, bẽ bàng lặng thinh


Thật là bất ngờ.
Đó chính là thủ pháp “Phục bút” : ở đoạn trước nói lướt qua một điều gì đó, tưởng là tầm thường, để rồi ở đoạn khác tiếp nối sau, trở lại điều ấy với những bất ngờ thú vị, thậm chí đảo ngược hoàn toàn tất cả nhãn quan, định kiến trước đó.

Té ra cái oai phong của họ chỉ là như thế mà thôi : “Khôn nhà dại chợ !”

Phục bút “20 viên mãnh tướng” như thế nhằm mục đích gì ?
LAMXT xin được trả lời trong một bài bình khác.

2-Sự xuất hiện từ rất sớm của Trịnh An Bình :

Trong Sử ký Tư Mã Thiên và Đông Chu liệt quốc diễn nghĩa, Trịnh An Bình chỉ xuất hiện sau khi Phạm Thư lâm nạn, ra tay cứu sống Phạm Thư, rồi cùng nhau theo Vương Kê sang Tần.
Trong truyện thơ TTUHPT, Trịnh An Bình được HSN cho xuất hiện rất sớm, cùng theo Tu Cổ và Phạm Thư đi sứ nước Tề. Hư cấu như vậy hẳn là phải có lý do.

Dễ dàng nhận thấy, đoạn phục bút “20 viên mãnh tướng ... thua tơi tả”, cốt để đề cao anh mã phu Trịnh An Bình. Và qua anh mã phu tài giỏi này, đối chiếu những điều họ nghị luận với nhau trong vấn đề “sang Tề” hay “về Nguỵ”, để khắc hoạ ... người xa phu Phạm Thư vậy.

Tóm lại, việc cho Trịnh An Bình xuất hiện sớm, cũng như việc phục bút “20 viên mãnh tướng ... đại bại” chỉ nhằm một mục tiêu là giới thiệu các nhân vật chính qua hành động cụ thể mà thôi. Đó cũng chính là một kỹ xảo điện ảnh vậy.

H7C

rose
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Sun 08 Aug 2010, 07:27

HSN - Đôi điều nói thêm về 6 câu thơ (131-136) trong đoạn 2 :

rose

CUỘC CỜ Ở NƯỚC TỀ

Tu Cổ tốc chiến mất quân (131)
Phạm Thư kiên thủ khó phân thắng hoà
Sắp bày địa võng thiên la
Trấn biên mai phục, sơn hà tương thông
Liên hoàn trận, chiếm thượng phong
Kỳ binh tập kích khó mong vãn hồi (136)


*Lúc ban đầu , 6 câu này được viết như sau :

Tu Cổ ba thứ mất quân (131)
Phạm Thư ra trận lại giành tiên cơ
Thế như bão táp mưa sa
Pháo đầu trực chiến, mã hà giáp công
Thông xe tạo thế thượng phong
Tốt đầu xung trận khó mong vãn hồi (136)


*Khi bản UHPT có 6 câu ấy đến tay bác Bảy H7C Hồng Thất Công, bác Bảy đã cho ý kiến như thế này, HSN xin trích nguyên văn để các bạn đọc chơi cho vui :

“Sĩ Nguyên ạ,

Bốn câu ấy (133-136) có thể nói là cực hay, mà đồng thời cũng là ... cực dở !

-Cực hay vì chỉ trong 4 câu đơn sơ ấy, cả tứ đẳng liên quân (Xe-Pháo-Mã-Tốt) đều có mặt, mỗi quân phô diễn một thao tác riêng biệt, mang đủ các thuộc tính đặc trưng của chúng (Pháo đầu công chính diện, mã bàn hà trợ chiến, thông xe liên hoàn, tốt đầu độ hà xung kích), lại nói lên được thế cờ áp đảo (bão táp mưa sa, giành thượng phong) khiến cho cục diện bàn cờ không thể đảo ngược.
Nói tóm lại là chỉ qua 4 câu ấy thôi, người biết đánh cờ có thể hình dung ra được cả một bàn cờ, cả một thế trận vậy. Nói rằng 4 câu ấy cực hay là vì thế.

-Nhưng 4 câu ấy cũng ... cực dở, vì sao chú Nguyên có biết không ? Có lẽ chú đã sơ ý quên mất một điều là bối cảnh cuộc cờ ấy thuộc thời Xuân thu. Cờ thì lúc ấy đã có rồi, nhưng cờ vây thịnh hành, phổ biến, được ưa chuộng nhiều hơn cờ tướng, đặc biệt là ở trong cung đình.

Cờ vây (Vi kỳ) là loại cờ trong đó bàn cờ có 19 đường ngang, 19 đường dọc, không có sông ở giữa, quân hai bên vây bủa, tiêu diệt lẫn nhau, hình thế giống như một cuộc tranh giành giữa 2 lực lượng của cùng một nước

Cờ tướng (Tượng kỳ) là loại cờ trong đó có 9 đường ngang, 9 đường dọc, ở giữa có một giải phân cách 2 nước, gọi là sông, hình thế cuộc cờ này giống như cuộc chiến tranh giữa 2 nước vậy.

Thời Xuân thu thì cờ vây thịnh hành hơn cờ tướng (trái ngược với bây giờ : cờ tướng ưu thế, còn cờ vây gần như đã bị quên lãng hoàn toàn), do đó cuộc cờ trong truyện bàn đến dứt khoát phải là cờ vây (không có sông, không có các quân tứ đẳng chuyên biệt). Như vậy nói Xe pháo mã tốt là ... cực dở, cho mã lên ... hà lại càng thêm dở !

Hơn nữa, trong thực tế lịch sử, đến thế kỷ thứ 13, Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân mới là người đầu tiên sử dụng đến PHÁO. Khái niệm Pháo trong bàn cờ tướng không thể có trước thực tế của xã hội được. Theo lịch sử môn cờ tướng, thì trước kia chỉ có những quân Xe Mã Tốt Thuyền... Mãi đến triều Minh, quân Pháo mới được khai sinh, thêm vào bàn cờ. Và những thế trận nổi tiếng như Bình phong mã, Pháo đầu (Ngũ thất pháo), Liên hoàn giáp mã tấn trung binh, Thuận pháo, chỉ được triển khai rầm rộ từ thời Minh, Thanh mà thôi.

Cho Phạm Thư đánh cờ tướng, đánh trận Pháo đầu, tấn trung binh ... e rằng ... sai lầm nghiêm trọng đó chú Nguyên ạ .....”

Đọc những lời bình ấy của bác Bảy, HSN quả thật đã toát mồ hôi lạnh. Nhận xét đúng quá. Bác Bảy quả là cao kiến ! Còn HSN thì đã sơ xuất, mắc một sai lầm khủng khiếp !
Hậu quả đương nhiên là phải mau lẹ chỉnh sửa lại đoạn ấy, cuối cùng thì có 6 câu như bây giờ :


Tu Cổ tốc chiến mất quân (131)
Phạm Thư kiên thủ khó phân thắng hoà
Sắp bày địa võng thiên la
Trấn biên mai phục, sơn hà tương thông
Liên hoàn trận, chiếm thượng phong
Kỳ binh tập kích khó mong vãn hồi (136)


Nhân đây, HSN xin một lần nữa cám ơn bác Bảy H7C . Cám ơn vô cùng. Cám ơn về mọi điều bác Bảy ạ

HSN

rose
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 Aug 2010, 17:43

Chia tay, vua  lại ân cần 
Chén quỳnh lưu luyến, tần ngần vó câu 
Ban cho hảo tửu trân châu 
Đinh ninh từ tạ, mau mau đăng trình.

 
-3- 

KẺ ÁC ĐỒNG MƯU



Ba hôm về đến Ngụy thành 
Đại phu đến trước sân đình báo công 
Liên minh, ước đã lập xong (201) 
Từ nay hai nước dốc lòng giúp nhau 
Kể ra vấn nạn trước sau 
Những lời đối đáp vơ vào bản thân 
Vua khen :-“Đáng mặt hiền thần 
Không làm xấu mặt quả nhân xứ người 
Tài như khanh, chẳng mấy ai 
Cố công ra sức vun bồi quốc gia 
Nay ban gấm vóc ngọc ngà 
Tước thăng ba cấp, gọi là thưởng công” 


Tu Cổ hết sức vui mừng (211) 
Vội vàng sửa lễ hiến dâng quan thầy 
Ngụy Tề tướng quốc xưa nay 
Nhiều phen bênh vực, bao ngày chở che 
Quyền to, lại rất khắt khe 
Lễ không ra lễ, có bề hại thân 
Thầy trò một lũ quyền thần 
Hiền tài xa lánh, gian nhân kéo bè 
Mặc cho nhà nước suy vi 
Đàn ca múa hát phủ phê sáng chiều 
Sinh linh nhà dột cột xiêu (221) 
Thiên tai nhân họa đủ điều thê lương 
Cùng đinh trăm họ thảm thương 
Riêng quan tướng quốc trọn đường vui say. 
Bấy giờ Tu Cổ ghen tài 
Nhớ khi mất mặt trước ngai vua Tề 
Thẹn mình thua gã đánh xe 
Bừng bừng lửa giận, mê mê oán hờn 
Nghĩ ra kế độc mưu gian 
Chẳng e ngậm máu, chỉ toan phun người 
Vòng ngà xuyến ngọc mười đôi (231) 
Rượu ngon, gấm tốt, vàng mười trăm cân 
Trước là tỏ dạ báo ân 
Khom lưng ton hót, thập phần hổ ngươi 
Sau là nhân lúc vắng người 
Dèm rằng họ Phạm có lời khinh khi : 
-“Chê bai tướng quốc ngu si 
Ham ăn của đút, giỏi nghe nịnh sàm 
Tài năng như trẻ lên năm 
Hung hăng, thô lỗ, cuồng dâm, ác tà 
Một tội này, đã khó tha (241) 
Lại còn thêm tội gian ngoa thông Tề 
Bạc vàng chất đống đầy xe 
Nhận nhiều châu báu toan bề vinh thân 
Bao nhiêu bí mật quốc quân 
Sõng tay bán rẻ chiếm phần lợi tư 
Quan binh trông thấy ngờ ngờ 
Rành rành tang chứng, sờ sờ điêu ngoa 
Không tin cứ việc xét tra” 
Ngụy Tề nghe nói thoắt đà ứa gan 
Lửa đâu thiêu đốt tâm can (251) 
Đùng đùng nổi giận, oang oang thét gầm 
Định cho bắt đứa ác nhân 
Đem về xử tội trước sân lôi đình 
Tu Cổ vội vã tấu trình : 
-“Việc này việc nhỏ, nhục hình là xong 
Tối nay mở tiệc mừng công 
Bá quan văn võ tiệc tùng vui chơi 
Phạm Thư tất đón đưa tôi 
Bấy giờ giữa tiệc đông người khảo tra 
Trước là diệt đứa gian tà (261) 
Sau là đủ mặt bách gia trông vào 
Một đòn dằn mặt vương hầu 
Trị cho tiệt giống cơ cầu dèm pha 
Từ nay ai dám khinh ta ?” 
Ngụy Tề đắc chí khen là mưu cao 
Lệnh cho sắp đặt trước sau 
Trong lo yến tiệc, ngoài mau đi mời 
Lại cho chuẩn bị đòn roi 
Gông cùm, kìm kẹp, nước sôi, lửa hồng 
Dự mưu trị đứa gian hùng (271) 
Để cho những kẻ hai lòng khiếp oai. 


Nói về họ Phạm thảo ngay 
Đâu ngờ lửa bén chân mày mà lo 
Ung dung đọc sách ngâm thơ 
Vàng cho chẳng cất, bạc cho chẳng màng 
Bỗng dưng cảm thấy hoang mang 
Tâm tư xao xuyến, can tràng phân vân 
Sục sôi như nước đến chân 
Mắt môi bứt rứt, tinh thần nôn nao 
Đi ra thôi lại đi vào (281) 
Lòng buồn man mác, dạ sầu miên man 
Tay nâng chén rượu thở than 
Môi khô miệng đắng, tiếng đàn ngẩn ngơ 
Tai to vạ lớn sẵn chờ 
Lá vàng trước gió đong đưa phương nào ? 
Lục bình trôi dạt về đâu ? 
Ai hay gió thảm mưa sầu chờ ai ?

................................................. [Còn tiếp]

rose


Được sửa bởi HanSiNguyen ngày Tue 10 May 2016, 09:32; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 Aug 2010, 17:47

GIẢN CHÚ Đoạn 3, trang 23-26
KẺ ÁC ĐỒNG MƯU
(by Nguyễn Phú)

1-Hiền thần : bề tôi hiền, giỏi, có tài có đức.
2-Quả nhân : (cũng như “quả vương”, “cô gia”) đều là những tiếng tự xưng một cách nhún nhường, khiêm tốn của vua chúa. Ý nói mình là người kém tài thiếu đức nên lúc nào cũng hiu quạnh, đơn độc (cô, quả), không có ai giúp đỡ, phò tá.
3-Quan thầy : Người đỡ đầu, quan trực tiếp nâng đỡ, che chở.
4-Tướng quốc : Chức quan đầu triều thời xưa.
Lục quốc (Triệu, Nguỵ, Hàn, Yên, Tề, Sở) đều gọi là Tướng quốc. Riêng Tần gọi là Thừa tướng. Các chức danh này đều tương đương như “Thủ tướng” ngày nay.
5-Quyền thần : bề tôi chuyên quyền, lấn át quyền của vua.
6-Suy vi : (cũng như suy vong, suy tàn, suy thoái), càng lúc càng yếu kém dần, thoái hoá dần, dẫn tới sụp đổ.
7-Phủ phê : tràn trề, thừa mứa
8-Sinh linh : mọi người và mọi con vật, thường được hiểu như “nhân dân thấp cổ bé miệng”
9-Thiên tai nhân hoạ :
-Thiên tai : tai hoạ trời đem lại (Hạn hán, lũ lụt, bão tố,
động đất, dịch bệnh v.v...)
-Nhân hoạ : tai hoạ do con người tự gây ra cho mình và đồng lọai (Chiến tranh, phá huỷ môi trường sống ...)
10-Thê lương : thảm thiết
11-Cùng đinh : (Đinh : người dân, người thanh niên)
-Cùng đinh : dân cùng, dân nghèo khổ, hết đường sinh sống
-Bạch đinh : người tay trắng, không có phương tiện lao động, sản xuất
-Thuế đinh : Thuế đánh theo đầu người
-Tráng đinh : thanh niên khoẻ mạnh
12-Trước ngai vua Tề : Trước mặt vua quan nước Tề
(Ngai : Chiếc ghế vua ngồi).
13-Mê mê : Dây dưa không dứt
14-“Chẳng e ngậm máu, chỉ toan phun người” :
(E = sợ, ngại – Toan : toan tính, dự định)
Do câu tục ngữ : “Hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu” nghĩa là “Ngậm máu phun người, trước bẩn miệng mình”. “Ngậm máu phun người” có nghĩa là “vu cáo, nói xấu, bày đặt chuyện làm tổn thương người khác”
15-Xuyến : loại vòng trang sức, chuyên đeo ở cổ tay, thường là có bản mỏng và dẹp.
16-Vàng mười : vàng ròng, vàng nguyên chất, vàng tốt nhất.
17-Báo ân : Đền ơn, trả ơn. Những câu tục ngữ liên quan :
-Thi ân bất cầu báo : Làm ơn cho người, chẳng mong người đền đáp lại.
-Dĩ oán báo ân : Lấy oán trả ơn
-Cứu vật vật trả ân; cứu nhân nhân trả oán (ơn, cứu nhơn)
18-Hổ ngươi : Xấu hổ, nhục nhã, thẹn thùng.
19-Nịnh sàm : nói càn nói bậy, không đúng sự thực, cốt để lấy lòng người trên, quan trên.
20-Thông Tề : lén lút liên hệ với nước Tề, làm tay sai cho Tề.
21-Ứa gan : Tức căm gan, tức phát điên lên được.
22-Tâm can : Tim và gan; nghĩa rộng là “lòng dạ, trong lòng, trong bụng”
23-Sân lôi đình : nơi xử án của các quan.
24-Nhục hình : hình phạt đánh đập vào xác thịt.
25-Khảo tra : dùng hình phạt nặng nề đánh vào thân xác , buộc người ta phải khai, phải cung xưng.
26-Bách gia : trăm nhà, nhiều người
27-Tiệt : hết sạch, hết nhẵn
28-Đắc chí : (cũng như đắc ý) thích chí, khoái ý, vừa lòng
29-Đứa gian hùng : kẻ gian dối nhưng khôn ngoan, khéo léo, nhiều mưu mô, dễ dàng qua mắt, đánh lừa được mọi người.
30-Kẻ hai lòng : kẻ phản phúc, người “đứng núi này, trông núi nọ”, “ăn cây táo, rào cây sung”
31-Thảo ngay : người thẳng thắn, có lòng tốt.
32-Lửa bén chân mày : Do câu tục ngữ “Như lửa cháy mày” (Mày : lông mày, chân mày), “Như nước đến chân” (Nước : nước lũ), đều có nghĩa là có việc quan trọng, nguy cấp, gây ra tổn thương nhanh chóng
33-Can tràng : gan ruột
34-Lục bình : Bèo (xanh), bèo trôi nổi trên sông.
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 09:41

LỜI BÀN đoạn 3
KẺ ÁC ĐỒNG MƯU
By NGUYỄN HỒNG BẢY (H7C)

1-Hai cách cư xử

Ở đoạn cuối phần 2, khi tiễn chân phái đoàn Nguỵ sứ ra về, vua Tề đã tỏ lòng trân trọng, quý mến Phạm Thư, ban cho nhiều tặng vật

Chia tay, vua lại ân cần
Chén quỳnh lưu luyến, tần ngần vó câu
Ban cho hảo tửu trân châu
Đinh ninh từ tạ, mau mau đăng trình.


Kẻ góp nhiều công lao có tính quyết định đến đại cuộc “liên minh Tề-Nguỵ” là Phạm Thư lại chỉ “Đinh ninh từ tạ ...”, rồi sau đó thì “mau mau đăng trình”

Trong khi đó ở đầu phần 3, lúc vua Nguỵ khen thưởng, gã bất tài vô tướng Tu Cổ lại có một cách xử sự khác hẳn.
Trước hết là nhận vơ phần công lao của kẻ khác về mình :

Kể ra vấn nạn trước sau
Những lời đối đáp vơ vào bản thân


Kế đến là ưỡn ngực ra, vênh vang nhận lãnh những lời ngợi khen, cũng như những tặng vật quý giá vua Nguỵ hàm hồ ban thưởng :

Vua khen :-“Đáng mặt hiền thần
Không làm xấu mặt quả nhân xứ người
Tài như khanh, chẳng mấy ai
Cố công ra sức vun bồi quốc gia
Nay ban gấm vóc ngọc ngà
Tước thăng ba cấp, gọi là thưởng công”
Tu Cổ hết sức vui mừng (211)
Vội vàng sửa lễ hiến dâng quan thầy


Quả là hai cách cư xử trái ngược hoàn toàn, việc tuy nhỏ nhưng cũng đủ để phơi trần tâm địa, bản chất hai con người ấy khác nhau, khác nhau xa lắm vậy.
-----------------


2-Tu Cổ : một biểu tượng của kẻ tiểu nhân vô sỉ .

Chúng ta hãy điểm qua nhân cách của đại phu Tu Cổ :

-Về mặt khả năng : đó là một con người nhạy bén, biết tận dụng kẻ dưới, khai thác rút tỉa lấy những tinh hoa của người ta, mưu ích cho ... bản thân mình ! Qua 2 câu :

Đón đưa Tu Cổ đại phu
Việc công góp ý, việc tư lo lường (52)”


Ta thấy Phạm Thư không chỉ là một gã xa phu đưa đón chủ bình thường, mà còn kiêm nhiệm nhiều chức năng lo liệu, kế hoạch, cố vấn cho họ Tu nữa. Hẳn là cái kế hoạch “liên minh Tề Nguỵ” cũng chẳng phải họ Tu đủ tài nghĩ ra đâu !
Ngay cả khi đi sứ nước Tề, Tu Cổ cũng không quên đem theo cái gã đánh xe “đa năng, đa nhiệm” ấy

Đem theo cả gã xa phu
Trước là giong ngựa sau nhờ trí  mưu (88)


-Về cá tính riêng, đó là một con người bộp chộp, nóng nảy, chỉ muốn thành công ngay, điều ấy thể hiện qua cách đánh cờ :

Tu Cổ tốc chiến mất quân (131)

Khi gặp gian nan, khó khăn thì hoảng hốt, thậm chí tê liệt, hết biết cách đối phó :

........................., sững sờ kinh tâm
Mồ hôi Tu Cổ tuôn dầm
Rành rành có miệng hóa câm bao giờ (144)


-Về bản chất, đó là một kẻ tiểu nhân hèn mọn, ganh hiền ghét ngỏ, ngoài mặt thì ra vẻ tử tế, nhưng trong lòng chất chứa nọc độc, sẵn sàng hại người bằng đủ mọi hình thức :

Miệng Cổ không ngớt ngợi khen
Lòng Tu đố kỵ ghét ghen chất chồng (58)


Thẹn mình thua gã đánh xe
Bừng bừng lửa giận, mê mê oán hờn
Nghĩ ra kế độc mưu gian
Chẳng e ngậm máu, chỉ toan phun người (230)


-Về tâm địa, đó là một kẻ đê tiện, vô sỉ, nhận vơ tranh công của người, đắc chí vênh vang khi được ban thưởng, dẫu rằng bản thân y cũng thừa biết mình chẳng có một chút công cán gì :

Kể ra vấn nạn trước sau
Những lời đối đáp vơ vào bản thân (204)

Tu Cổ hết sức vui mừng
Vội vàng sửa lễ hiến dâng quan thầy (212)


-Về hành động : giỏi kéo bè kéo cánh, núp bóng quan thầy, hình thành đảng nịnh, mưu cầu vinh hoa, lợi ích cá nhân, bất chấp cảnh khổ của dân, bất chấp thế suy của nước, lại giỏi tài dèm pha, thóc mách, dựng chuyện ngọt xớt, miệng lưỡi nanh nọc :

Thày trò một lũ quyền thần
Hiền tài xa lánh, gian nhân kéo bè
Mặc cho nhà nước suy vi
Đàn ca múa hát phủ phê sáng chiều (220)

Trước là tỏ dạ báo ân
Khom lưng ton hót, thập phần hổ ngươi
Sau là nhân lúc vắng người
Dèm rằng họ Phạm có lời khinh khi :
-“Chê bai tướng quốc ngu si
Ham ăn của đút, giỏi nghe nịnh sàm
Tài năng như trẻ lên năm (239)


Chúng ta sẽ còn gặp lại nhân vật này ở các chương sau.

Tóm lại, đây là một nhân vật xấu xa trong số các nhân vật phản diện (Tu Cổ, Nguỵ Tề, Tuyên thái hậu, Triệu Quát v.v...) nhưng được khắc hoạ rất lý thú vậy.
----------------------
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 09:45

..........................

Tai to vạ lớn sẵn chờ
Lá vàng trước gió đong đưa phương nào ?
Lục bình trôi dạt về đâu ?
Ai hay gió thảm mưa sầu chờ ai ?

-4-


PHẠM THƯ LÂM NẠN



Mặt trời vừa xế non Đoài
Đại phu ra lệnh đưa ngài nhập cung
Đến ngay tướng phủ Nguỵ công (291)
Để cùng dự tiệc ăn mừng Đông du
Lòng ngay chẳng chút ưu tư
Phạm Thư vội vã đón đưa tận tình
Xe vừa vào đến trung dinh
Lệnh cho chờ đợi bên đình phía tây
Bá quan văn võ vui vầy
Thịt cao lấp núi, rượu đầy loang sông
Cười cười nói nói ung dung
Ca nhi múa hát, tơ đồng reo vui
Rượu say nghiêng ngả đất trời (301)
Bấy giờ mới liệu cuộc chơi khảo tù
Truyền cho bắt gã xa phu
Đưa vào chính điện công tư nghiêm hình
Phạm Thư chưa hiểu nội tình
Thoắt đà ngã gục tan tành thịt xương
Một là phản bội quân vương
Hai là cấu kết ngoại bang mưu đồ
Ba là tiết lộ quân cơ
Bốn là bôi bác nhuốc nhơ triều đình
Trăm ngàn con mắt thất kinh (311)
Chỉ e liên luỵ đến mình mà thôi
Hết cùm kẹp, lại đòn roi
Máu loang mặt đất chưa vơi nhục hình
Phạm Thư vía bạt hồn kinh
Nhất thời chỉ biết vật mình kêu than
Trời cao cách biệt nhân gian
Không bênh không vực để oan người hiền
Ngụy Tề càng đánh càng điên
Men say càng bốc, ghét ghen càng nồng :
-“Đánh cho chết đứa cuồng ngông (321)
Đánh cho hết kẻ ám thông nước ngoài
Đánh cho tiệt nọc tay sai
Đánh cho trắng mắt những loài dèm pha”
Bá quan văn võ ngẩn ngơ
Hồn ai nấy giữ, cốt ngừa sát thân
Tu Cổ bạc ác bất nhân
Con ngươi trắng dã, lưỡi lằn đẩy đưa :
-“Oán thù chớ để dây dưa
Chẳng may cọp dữ Phạm Thư thoát nàn
Mưu thần chước quỷ đa đoan, (331)
Nhổ cỏ sạch rễ, vạn toàn về sau
Một đao giết nó cho mau
Dưỡng hổ di họa, ngày sau khó lòng !”
Ngụy Tề chẳng nghĩ sâu nông 
Lệnh :-“Mau đánh chết, quẳng trong nhà cầu
Từ quan cho chí lính hầu
Luân phiên tiểu tiện lên đầu tội nhân 
Đáng đời mi, kẻ phản thần
Nêu gương cho lũ gian nhân soi vào”
Đầy sân vương vãi máu đào (341)
Xương tan thịt nát, cuộn vào chiếu thâm
Hồn trung phách dũng xa xăm
Lững lờ quanh quất, âm thầm phiêu du
Vật dơ nước uế tưới vô
Giật mình lai tỉnh, giả vờ còn mê
Nhục hình chịu đã ê chề
Người người trở lại rượu chè đàn ca
Quân canh còn chú lính già
Phạm Thư khẽ cựa, thiết tha khẩn cầu :
-“Ngụy Tề kết oán quá sâu, (351)
Một khi tan yến lẽ nào chịu dung
Bây giờ nhân lúc tiệc nồng
Giúp ta, ta sẽ dốc lòng đền ơn
Cứu người nghĩa trọng bằng non
Theo chi kẻ ác, tiếng hờn muôn thu
Dẫu xây chín dặm phù đồ 
Không bằng làm phúc cứu cho một người
Vào thưa xác đã bốc mùi
Xin đem vứt bỏ ra nơi cánh đồng
Bấy giờ ta trốn mới xong (361)
Tử sinh hai ngả cậy trông nơi người”.
Lính già nhân hậu cả đời
Yêu người công chính, ghét loài vô lương
Oan mờ trời đất thì thương
Vâng theo kế ấy trọn đường thiện nhân
Ngụy Tề say đã bảy phần
Mải vui không nghĩ xa gần thực hư
-“Mau mau vứt xác Phạm Thư
Xương cho cầy cáo, thịt cho quạ diều
Làm gương răn lũ dân điêu (371)
Thử xem còn dám làm liều nữa không ?”
Được lời như cởi tấc lòng
Đưa ngay bó chiếu ra đồng mà quăng
Lôi lôi kéo kéo lăng xăng
Tay năng hành thiện, lòng vâng ý trời
U minh thiên lý rạng ngời
Người hiền tất sẽ có người chở che
Lính già cuốn chiếu đem đi
Trời đêm hiu hắt, đường khuya miệt mài
Phạm Thư thoát được nạn tai (381)
Dập đầu bái tạ, ơn tày tái sinh :
-“Xin người cho biết tính danh
Ngày sau báo đáp ân tình hôm nay”
-“Sá gì việc cỏn con này
Mau đi cho chóng thoát tay Ngụy Tề
Kẻ kia vốn dĩ đa nghi
Thế nào cũng đuổi cũng truy đến cùng
Miễn là thoát được lao lung
Ngày sau hội ngộ tương phùng có phen
Gọi ta là “Gã lính quèn” (391)
Là “Người cuốn chiếu”, họ tên quên rồi !”
Chia tay lòng những bồi hồi
Miệng hùm hang sói, thương ôi nghĩa tình
Mới hay áo rách lòng lành
Thẹn thay những kẻ tham danh hại người
Lê thân một quãng đường dài
Máu ra lai láng, khắp người mỏi mê
Kêu to ba tiếng não nề
Phách rời thể xác, hồn lìa nhân gian. 

[Còn tiếp]
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 09:48

GIẢN CHÚ đoạn 4
PHẠM THƯ LÂM NẠN 
By NGUYỄN PHÚ


1-LÂM NẠN : vương vòng hoạn nạn, vướng phải tai nạn, mắc nạn
2-NON ĐOÀI : Ngọn núi phía Tây
3-NHẬP CUNG : Vào cung
4-TƯỚNG PHỦ : Dinh tướng quốc; nghĩa rộng là dinh của một vị tướng nào đó.
5-ƯU TƯ : Lo âu, nghĩ ngợi
6-TRUNG DINH : Dinh giữa, dinh chính, toà nhà chính trong dinh (nghĩa khác : doanh trại chính trong quân)
7-CHÍNH ĐIỆN : Căn phòng chính, nơi dùng để hội họp, hoặc tiếp đãi quan khách, hoặc thờ cúng
8-CÔNG TƯ NGHIÊM HÌNH : Dùng hình phạt nghiêm khắc trừng trị cả tội công lẫn tội tư
9-NỘI TÌNH : Những tình tiết bên trong, những điều bí ẩn đàng sau một sự kiện nào đó không được nói ra công khai.
10-ÁM THÔNG : Lén lút thông đồng, quan hệ với ai.
11-CON NGƯƠI TRẮNG DÃ : Do câu tục ngữ “Mắt trắng, môi thâm” chỉ những người gian giảo độc ác
12-LƯỠI LẰN ĐẨY ĐƯA : Do câu tục ngữ “Miệng lằn, lưỡi mối” chỉ những kẻ miệng mồm nanh nọc, hay bày đặt chuyện để hại người.
13-THOÁT NÀN : thoát nạn
14-NHỔ CỎ SẠCH RỄ : (Trảm thảo trừ căn) Nhổ cỏ mà không sạch rễ ắt là cỏ sẽ mọc lại, ý nói làm việc gì cũng phải dứt khoát, làm đến nơi đến chốn, không để phát sinh tai hoạ về sau.
15-DƯỠNG HỔ DI HỌA : Nuôi cọp ắt là để lại tai hoạ về sau. Khi cọp lớn lên, hoặc khi lành vết thương, cọp sẽ vồ mình.
16-LAI TỈNH : tỉnh lại sau một cơn hôn mê.
17-PHÙ ĐỒ : đường nổi, tức là cầu.
Ca dao có câu :
“Dù xây chín dặm phù đồ,
Không bằng làm phúc cứu cho một người”
Xây đền , dựng chùa, làm đường, bắc cầu ... đều là những việc công quả, làm phúc, giúp người, giúp đời. Nhưng không có việc phúc đức nào to lớn bằng việc “cứu người mắc nạn”.
18-NHÂN HẬU : đầy lòng nhân ái (yêu người).
19-CÔNG CHÍNH : (công bình chính trực) người ngay thẳng, không thiên lệch.
20-VÔ LƯƠNG : (vô lương tâm) không có lòng tốt (Lương = tốt)
21-THIỆN NHÂN : người ăn ở hiền lành, không gian dối độc ác.
22-DÂN ĐIÊU : những kẻ điêu ngoa, ăn không nói có, ăn đứng dựng ngược, bịa chuyện nói càn nói bậy.
23-NĂNG HÀNH THIỆN : Thường xuyên làm việc thiện
24-U MINH THIÊN LÝ RẠNG NGỜI : Trong cõi u minh, ở chốn tối tăm cũng vẫn có lòng trời - Lẽ trời (“Ở hiền gặp lành” chẳng hạn) vẫn sáng ngời, rạng rỡ ở khắp mọi nơi, kể cả ở những nơi tối tăm đầy bất công áp bức.
25-BÁI TẠ : Vái lạy cám ơn
26-ƠN TÀY TÁI SINH : Công ơn này sánh bằng công sinh ra một lần nữa. Ví ngang với công cha mẹ sinh thành ra mình.
27-LAO LUNG : (Lao : nhà ngục – Lung : chiếc lồng) : Những chốn giam giữ, nơi cầm tù.
28-HỘI NGỘ TƯƠNG PHÙNG : gặp lại nhau
29-MIỆNG HÙM HANG SÓI, THƯƠNG ÔI NGHĨA TÌNH : Nghĩ mà thương cho người lính quèn có nghĩa có tình, sau khi làm phúc cứu người, không hiểu sẽ ra sao khi trở lại dinh Nguỵ Tề, là hang ổ của lũ hùm sói hung ác.
30-PHÁCH RỜI THỂ XÁC, HỒN LÌA NHÂN GIAN : Theo quan niệm xưa, trong mỗi người sống có tồn tại “ba hồn bảy vía (phách)”, giúp cho có tri thức, biết hoạt động, không vô tri bất động như cỏ cây gỗ đá. Cả câu có nghĩa là “chết”, hoặc ít ra thì cũng là “bất tỉnh, hôn mê”
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
HanSiNguyen

avatar

Tổng số bài gửi : 2469
Registration date : 12/10/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ   Tue 10 May 2016, 09:54

BÌNH CHÚ đoạn 4
PHẠM THƯ LÂM NẠN 
By NGUYỄN HỒNG BẢY (H7C)

1-Người ngay mắc nạn

Ở đời, sẽ chỉ là một điều bình thường thôi nếu kẻ độc ác gian xảo mắc phải nạn tai, việc ấy hợp với logic nhân quả : gieo nhân nào được quả nấy, và “kẻ ác lâm nạn” thường cũng chỉ nhận được hai tiếng “Đáng đời”

Khốn thay, kẻ ác lại hiếm khi ... lâm nạn, trong tay một khi đã có dồi dào tiền bạc, thế lực, sức mạnh thì quả là cũng khó mà lâm nạn thật.

Ngược lại, kẻ thường xuyên vướng phải trắc trở, rủi ro, tai ương, hoạ kiếp lại chính là những người thân cô thế cô, thấp cổ bé miệng, nghèo khó yếu đuối, thế lực của họ chẳng khác nào thế lực của đứa trẻ lên ba : mỏng manh như bọt bèo, dễ vỡ như bong bóng. Tất cả những tai ương ấy được quy về cho vận số, cho thiên mệnh như một lời giải thích đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu để mà yên lòng ... chấp nhận !!!

Đến trường hợp của những người như Nhạc Phi đời Tống, đại tướng chỉ huy cả toàn quân, được nhân dân yêu mến, lòng trung chói lọi như vầng thái dương, dũng khí cao ngất tận trời xanh, tài cầm quân nghiêng sông lật núi ... vậy mà cuối cùng cũng lâm nạn, chịu chết ở Phong ba đình. Có phải là Nhạc Phi cô thân cô thế đâu, có phải là Nhạc Phi thấp cổ bé miệng đâu, sao cũng vương vào tai ương, hoạ kiếp ? Câu giải thích cũng lại được quy về cho ... thiên mệnh !!!

Người ngay lâm nạn thường được đại đa số quần chúng nhân dân tỏ ra đồng cảm. Xót xa cho họ mà cũng xót xa cho chính bản thân mình chăng ? Mơ ước “thiên lý phục hồi, nhân quả báo ứng” là mơ ước cho họ mà cũng là mơ ước cho bản thân mình vậy !

Phạm Thư, một người tài trí nhưng xuất thân hàn vi, vốn chỉ là một gã xa phu đánh xe cho chủ, giả như biết cam chịu “Gối rơm theo phận gối rơm, có đâu dưới thấp lại chồm lên cao” thì hẳn là đã không ... rách việc !

Tài hoa mà chi, sắc sảo mà chi, để cho chúng nhân ghét ghen, đố kỵ lắm vậy !

Lúc ở Tề, nếu Phạm Thư suy nghĩ theo kiểu Tu Cổ (thấy lợi là vồ ngay lấy), hoặc hành động theo kiểu Trịnh An Bình (thực tế hơn, ít lý tưởng hoá hơn) thì hẳn là cũng không mắc nạn. Tấm lòng hiếu thảo với mẹ cha, tấc dạ thuỷ chung với quê hương, ý chí chân thành trung quân báo quốc, dẫn tới một hành động TRỞ VỀ.
Và vừa trở về là tức khắc mắc nạn.

Đọc qua những diễn biến ấy, người đời sau không khỏi cảm thấy đôi chút chua xót, bùi ngùi vậy.


2-Áo rách lòng lành

Người xưa có câu :”Đồng bệnh tương lân” (Cùng mang một căn bệnh như nhau, dễ nảy sinh ra lòng thương xót lẫn nhau). Quả thật như vậy, có thể nói không sợ sai ngoa rằng chỉ có những người đã từng kinh qua trăm ngàn khổ cực, khốn cùng mới biết xót thương những người cùng khổ mà thôi. Chính vì vậy mà những người áo rách lòng lành thời nào cũng có, ở đâu cũng có
Nhân khi lạm bàn về hai chữ “Rách-Lành”, có thể tạm thời phân chia người đời ra thành bốn hạng :

-Kẻ áo lành lòng ... rách, bản thân no cơm ấm áo nhưng lại làm ngơ trước những khốn khó của những người cùng khổ, ốm đau, hoạn nạn chung quanh. Họ bưng tai bịt mắt mình lại để khỏi thấy, khỏi nghe tha nhân rên siết. Còn đâu là tình người nữa ? Hạng người này thực tế chỉ là những kẻ bỏ đi, chẳng có gì đáng phải luận bàn.

-Kẻ áo rách lòng ... rách: cũng tương tự như vậy, nhưng còn có điểm để mà giải thích, phân bua, hoặc nguỵ biện rằng : Bản thân tôi cũng khốn cùng đây, còn cưu mang cho ai được nữa ??? Với quan niệm ấy, họ có thể tự ru ngủ mình, yên lòng nhắm mắt bịt tai, giả mù giả điếc trước những lời kêu cứu thống thiết của tha nhân. Tuy vậy, xét cho cùng, thực sự cũng chỉ đáng tiếc cho hạng người này mà thôi, chứ họ cũng không đáng trách cho lắm, bởi vì “Ốc không lo nổi cho Ốc, còn mong gì cứu vãn cho ai ???”

-Kẻ áo lành lòng lành: Bản thân được no cơm ấm áo, nhưng còn biết chia sẻ với tha nhân, rộng tay giúp đỡ người cùng khổ. Được như thế đã là biết phát huy những phẩm chất tốt đẹp của CON NGƯỜI lắm rồi

-Kẻ áo rách lòng lành: Bản thân họ ăn bữa nay lo bữa mai, cái nghèo cái khổ luôn luôn chực chờ rình rập, nhưng biết mở rộng tay rộng lòng cùng những người khốn khổ chung quanh . Còn gì quý hơn những hành động nhịn bớt phần ăn ít ỏi của mình sẻ chia cho người ? Còn gì quý hơn những hành động đem manh áo vá duy nhất của mình cho người khác đắp lúc trời giá rét ? Những hành động đại loại như thế có thể nói là cực trân cực quý, và những kẻ áo rách ấy đáng mến, đáng trọng hơn những người trưởng giả rất nhiều vậy.

“Gã lính quèn”, “Người cuốn chiếu” trong đoạn thơ này chính là thuộc về cái tầng lớp ... “Bồ Tát dưới lốt Ăn Mày” ấy vậy ! Và cái hình ảnh “áo rách lòng lành” ấy đặt bên cạnh những vị quan đầu triều như Nguỵ Tề độc ác, như Tu Cổ gian giảo mới tương phản làm sao ! Chua chát làm sao !!!


Hồng Thất Công
Về Đầu Trang Go down
http://www.youtube.com/hsn2k3
 
THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 8 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện thơ-