| Âm Dương Lịch | |
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
|
| | | Tình Yêu Thương (Truyện Ngắn) | |
| |
| Tác giả | Thông điệp |
|---|
mytutru

Tổng số bài gửi: 2978 Registration date: 08/08/2009
 | Tiêu đề: Đọc Sách Hay "Ba Câu Hỏi" (Leo Tolstoy) Wed 19 Jan 2011, 17:25 | |
| Ba Câu Hỏi Leo Tolstoy Đại văn hào, bá tước Leo Tolstoy (1828–1910)là người trường chay "Ba Câu Hỏi" là một truyện ngắn của đại văn hào Nga Leo Tolstoy, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1885. Số lượng sáng tác của nhà văn Leo Tolstoy phong phú, bao gồm những tác phẩm nổi tiếng khắp thế giới như: Các quyển tiểu thuyết "Chiến Tranh và Hòa Bình" (1869), "Anna Karenina" (1877). Ngoài ra ông cũng viết dưới các thể loại khác, như truyện ngắn "Tình Thương Nơi Nào, Thượng Đế Nơi Đó" (1885), kịch "Quả Khai Ngộ" (1891), tác phẩm triết lý "Thiên Quốc Bên Trong Bạn" (1894). Thuộc dòng dõi quý tộc lâu đời, đại văn hào, bá tước Leo Tolstoy là một người trường chay, không uống rượu, không hút thuốc, không thích săn bắn. Ông là một người hiền lành, dễ tính, và là một thiên tài khiêm tốn trong nhân loại.
Ba Câu HỏiNhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là: 1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc? 2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng? 3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện? Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó. Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau. Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy.
Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xảy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết. Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Đồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ. Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm.
Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ.
Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình.
Có người nói là các giám mục, thượng tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết. Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất.
Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia. Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, trèo lên am của ông đạo. Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất.
Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển. Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc?
Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên?" Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát".
Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lặp lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc".
Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo: "Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà". Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng.
Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ. Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương.
Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh.
Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì.
Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt: "Xin bệ hạ tha tội cho thần". "Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha?" "Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ. Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa.
Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về.
Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích.
Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần.
Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá.
Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá.
Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần". Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh. Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà". Vua hỏi: "Trả lời bao giờ đâu nào?" "Hôm qua nếu vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta.
Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo.
Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng;
cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: Chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta.
Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai.
Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống."
|
|  | | mytutru

Tổng số bài gửi: 2978 Registration date: 08/08/2009
 | Tiêu đề: Những Hạt Đậu Biết Nhảy Thu 20 Jan 2011, 05:23 | |
| Những Hạt Đậu Biết Nhảy
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc.
Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
Cuối cùng thì bà được một người hành hương tốt bụng truyền cho một câu thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Câu thần chú gồm có sáu chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng (1) được gọi là Lục Tự Đại Minh Chú, có thể dùng để giải trừ những nghiệp chướng. Tội nghiệp cho bà già thôn dã đã dốt nát lại không biết chữ, trên đường về nhà bà lẩm bẩm cố học thuộc lòng, nhưng đã nhớ lôn cách phát âm trở thành Án Ma Ni Bát Di Xanh.
Để khích lệ cho việc đọc câu kinh sám hối này bà bày ra hai cái chén, một cái chén không, còn một cái thì để đầy những hạt đậu nành. Mỗi khi đọc xong một câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu từ trong chén đầy bỏ sang cái chén không, đến khi cái chén không đã chứa đầy đậu thì bà làm ngược trở lại.
Bà lão đã không ngừng nghỉ, thành tâm tụng niệm suốt 30 năm. Lòng thành kính của bà đã ứng hiện cho nên sau này những hạt đậu không còn cần đến bàn tay của bà nhặt lấy, cứ một câu thần chú vừa được phát Âm ra thì một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh.
Bà lão thấy những hạt đậu tự động nhảy nhót, cộng hưởng với Âm điệu của câu thần chú thì biết rằng sự tu hành đã đúng đường và giai đoạn sám hối sắp sửa chấm dứt cho nên bà càng phấn khởi tụng niệm hăng say hơn.
Hôm nọ có một vị cao tăng từ Tây Tạng vân du qua đó, khi đi ngang qua chiếc lều tranh lụp sụp của bà, nhà sư thấy có ánh hào quang tỏa ra rực rỡ.
Vị cao tăng này lấy làm kinh ngạc, ông nghĩ rằng bên trong chiếc lều tranh thế nào cũng có một vị chân tu đắc đạo.
Ông vội vã ghé vào thăm hỏi. Bà lão lấy làm vui mừng khi thấy vị cao tăng đến thăm, bà quỳ xuống đảnh lễ, mà miệng thì vẫn cứ tiếp tục lẩm bẩm câu thần chú: Án Ma NiBát Di Xanh.
Vị cao tăng lấy làm ngạc nhiên vì không hiểu ánh hào quang rực rỡ mà ông thấy phía bên ngoài phát xuất từ nơi đâu? Ông lần lần hỏi thăm : - Chẳng hay nữ thí chủ tu luyện bao nhiêu năm rồi? Ở đây còn có ai khác nữa không?. - Thưa ngài, ở đây chỉ có một mình tôi sống cô độc hơn ba mươi năm nay. Bà lão đáp. - Thật tội nghiệp, bà ở một mình chắc buồn lắm nhỉ? - Không đâu, tuy chỉ ở một mình nhưng hàng ngày tôi tu hành và tụng kinh sám hối để kiếp sau có thể hưởng được nhiều phúc đức của kiếp này, nhờ vậy mà tôi không cảm thấy buồn khổ.
Nhất là từ lúc được một người hảo tâm chỉ cho cách tu luyện thì tôi càng có can đảm để sống hơn. - Bà đang tu luyện kinh sách nào vậy? - Ồ, tôi không biết chữ, cho nên chỉ tụng niệm duy nhất một câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh. Nhà sư thở dài tiếc nuối : - Bà lão ơi, bà đã đọc sai câu thần chú đó rồi, phải phát Âm là: Án Ma Ni Bát Di Hồng mới đúng.
Đến lúc này thì bà lão mới biết là đã đọc sai câu thần chú hơn ba mươi năm. Bà rất đau buồn vì sự nhầm lẫn trọng đại này, như vậy thì công trình 30 năm tụng niệm coi như xe cát biển đông.
Tuy nhiên bà cũng cảm ơn sự cải chính của nhà sư. - Dù sao thì ngài cũng đã đính chính kịp lúc, bằng không thì tôi còn tiếp tục sai mà không biết cho đến bao giờ mới điều chỉnh cho đúng được. Nhà sư từ giã bà lão để tiếp tục con đường truyền đạo của ông.
Bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm của bà mà lần này với câu thần chú mới Án Ma Ni Bát Di Hồng. Thế nhưng tâm tư của bà còn hỗn độn vì sự việc vừa rồi cho nên ý chí của bà không được tập trung. Mỗi câu thần chú của bà đã không còn làm cho những hạt đậu hứng khởi nhảy sang cái chén bên cạnh như lúc trước.
Bà lão vừa tụng niệm mà nước mắt cứ tuông rơi, bà thầm tiếc cho công trình tu luyện hơn ba mươi năm như trôi theo dòng nước vì đã đọc sai câu thần chú.
Nhà sư đi được một đỗi xa, ông ngoái đầu nhìn lại thì thấy căn nhà của bà lão không còn hào quang chói sáng. Bây giờ túp lều tranh hiện hình dột nát mà lại âm u buồn bã.
Nhà sư giật mình và nghĩ rằng chính ông đã làm hại người Phật tử này không còn tập trung được tư tưởng như lúc trước.
Ông vội vã trở lại túp lều tranh và nói với bà lão rằng : - Lúc nãy ta chỉ đùa với bà thôi, câu thần chú của bà tụng mới thật là đúng. - Nhưng tại sao sư phụ lại dối gạt tôi như vậy? - Ta muốn thử xem lòng thành kính của bà đối với Tam Bảo (2) như thế nào vậy thôi. Từ nay về sau bà cứ tiếp tục tụng niệm y như cũ là phải phép rồi. - Cám ơn Phật, vậy mà con cứ tưởng rằng công lao 30 năm tụng niệm đã trôi theo dòng nước, đa tạ sư phụ chỉ bày.
Sau khi nhà sư ra đi, bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm, mỗi một câu Án Ma Ni Bát Di Xanh được niệm ra thì tâm hồn bà rộn rã tươi vui và một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Nhà sư đi lên đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang phát ra từ túp lều tranh của bà lão đã làm sáng rực cả một góc trời.
Trên đây là một câu chuyện đã được lưu truyền rất rộng rãi trong thế giới Phật Giáo, tôi chỉ sửa đổi lại một vài chi tiết nhỏ.
Nhớ lại lần đầu tiên khi đọc xong câu chuyện này, tôi rất lấy làm cảm động. / "Câu truyện của một thiền sư kể lại" Cảm động vì tấm lòng thành kính của bà lão đối với Tam Bảo.
Câu chuyện này nói lên rằng Âm điệu của thần chú tuy rất quan trọng, thế nhưng lòng thành kính, sự tín ngưỡng, và ý chí chân thành trong lúc niệm thần chú còn quan trọng hơn nhiều.
Thật ra sáu chữ trong Lục Tự Thần Chú này khó có thể lấy một từ ngữ nào để diễn đạt cho được trọn vẹn ý nghĩa. Miễn cưỡng thì ta có thể hiểu được đại ý là “Cầu xin tự tâm thanh tịnh, Liên Hoa Phật nở rộ trong lòng”.
Từ chỗ này chúng ta thấy rằng triết lý nhà Phật luôn cho rằng khi muốn tâm hồn đạt được sự thanh tịnh, tất cả phải do sự tự phát từ đáy lòng của con người mà ra.
Khi bà lão tụng Lục Tự Thần Chú, tâm địa của bà trong sạch, quang minh lỗi lạc như bầu trời không vướng bận một áng mây, vì vậy mà cách phát Âm đúng hay sai của câu thần chú lúc đó không còn là một yếu tố quan trọng.
Dĩ nhiên, đối với những người phàm phu tục tử chúng ta khi mà sự chân thành tôn kính chưa đạt đến một trình độ có thể làm cho những hạt đậu nhảy được thì Âm điệu chính xác của thần chú và kinh kệ hãy còn là một quy luật phải được thực thi đúng đắn. Hiện nay Lục Tự Thần Chú của Quán Thế Âm Bồ Tát đã trở thành một câu chân ngôn được phổ biến rộng rãi trong thế giới Phật Giáo.
Tuy nhiên rất ít người biết được nguồn gốc của câu thần chú này. Nếu như chúng ta biết được rằng Lục Tự Thần Chú đã nở ra từ hàng ngàn mảnh xương sọ của Quán Thế Âm Bồ Tát thì chắc chắn chúng ta sẽ ngạc nhiên và rúng động hơn nữa.
Quán Thế Âm Bồ Tát là một đệ tử của đức Phật A Di Đà, ngài đã phát nguyện trước đức Phật Đà một lời thề vĩ đại : “Tận hết sức lực, thần thông để phổ độ tất cả chúng sinh.
Nếu như còn một chúng sinh nào chưa được siêu thoát, đệ tử sẽ quyết không thành chánh quả. Nếunhư tất cả chúng sinh chưa siêu thoát mà đệ tử nửa đường bỏ cuộc, thì xương sọ của đệ tử sẽ nứt vỡ thành muôn ngàn mảnh”.
Sau khi lập xong lời trọng thệ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã ứng hiện tất cả mọi thần thông, hóa thân thành trăm, ngàn, vạn hình hài cứu độ được vô số chúng sinh.
Trải qua vô lượng kiếp luân hồi, chúng sinh được độ đã nhiều như Hằng hà sa số (3). Thế nhưng khi nhìn lại thế gian, ngài vẫn thấy hãy còn thiên vạn chúng sinh đang ngụp lặn trong si mê trầm luân, trụy lạc; vẫn hãy còn vô số chúng sinh đang chịu những khổ nạn tai ách; và những chúng sinh đang tạo ác nghiệp cũng đông như cỏ kiến.
Từ đó ngài suy diễn ra, nếu cứ tiếp tục luân hồi mãi mãi, thì nỗi đau đớn của chúng sinh sẽ còn tái diễn liên miên, sự việc độ trì chúng sinh do đó sẽ không bao giờ chấm dứt.
Nghĩ đến đây, Quán Thế Âm Bồ Tát cảm thấy phiền não.
Ngài nghĩ rằng “Cái khổ của chúng sinh là do chúng sinh mà ra. Khi thế gian còn tồn tại thì nỗi khổ của chúng sinh sẽ không bao giờ chấm dứt mà ta thì sẽ không bao giờ độ cho hết được.
Lời thề ngày nào là do ta tự làm khổ lấy ta thôi. Nếu như đối với chúng sinh không có ích lợi, thì ta còn kiên trì với lời thề làm chi?”. Thương thay, khi ý nghĩ thối lui của Quán Thế Âm Bồ Tát vừa chợt xuất hiện thì lời thề của ngài tức thì phản ứng.
Xương sọ của ngài tự nhiên nứt vỡ thành muôn ngàn mảnh, tản mác ra như một đóa hoa sen trăm cánh. Đồng thời Phật A Di Đà cũng từ trong chiếc sọ rạn nứt này hiện thân (4), ngài nói với Quán Thế Âm Bồ Tát rằng :
“Thiện tai Quán Thế Âm, lời thề không thể bỏ, nuốt lời là đại tội. Những việc thiện trước đây, đều trôi theo dòng nước.
Khuyên ngươi tiếp tục tu, nguyện ước tự nhiên thành. Tam thế cùng thập phương,(5) chư Phật cùng Bồ Tát sẽ hết sức giúp cho, thành công đã đến gần”. Sau đó đức Phật A Di Đà đã truyền cho ngài khẩu quyết Lục Tự Thần Chú.
Quán Thế Âm Bồ Tát sau khi nghe niệm Lục Tự Chân Ngôn, ngài đạt được đại trí tuệ, sinh đại giác ngộ, và tiếp tục giữ lấy lời thề mà không lùi bước.
Chúng ta biết rằng Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Từ Đại Bi, là vị Bồ Tát có thiên thủ thiên nhãn, cứu khổ cứu nạn, linh cảm, linh ứng. Năng lực của ngài có được là nhờ vào quyền năng Lục Tự Chân Ngôn của Phật A Di Đà truyền cho.
Cũng từ sự tích này mà Lục Tự Chân Ngôn còn được gọi là Quán Thế Âm Tâm Chú. Đây là một huyền thoại rất cảm động, não bộ nứt ra trăm ngàn mảnh của Quán Thế Âm Bồ Tát nở thành đóa hoa sen ngàn cánh. Đó chính là sự tượng trưng đẹp đẽ nhất của Lục Tự Chân Ngôn.
Trong số chúng sinh chúng ta, có bao nhiêu người nuôi được ý chí hủy hoại thân xác phàm trần hiện hữu thành tro bụi, để nuôi dưỡng cho một đóa hoa sen được ung dung nở trong tim óc mọi người.
Nhớ lại lần đầu tiên khi nghe xướng Âm Lục Tự Chân Ngôn, thanh Âm trầm hùng, trang nghiêm, đơn thuần, thanh tịnh đó đã khiến cho tôi cảm động rơi nước mắt. Có thể nói rằng trên thế gian không có một thanh Âm nào dõng dạc, tràn đầy lực lượng như câu thần chú này. Thật là :
Một tấm lòng trong sáng Hoa sen nở rộn ràng Sen nở vùng đất sạch Trên ngự một Như Lai.
Tác Giả : Lâm Thanh Huyền
Chú thích : 1- Án Ma Ni Bát Di Hồng (Phát Âm theo Phạn Ngữ : OM, MANI PADME, HÙM) : Câu thần chú trên đây đã được phổ biến rộng rãi trong thế giới Phật Giáo, nhất là trong phái Mật Tông vùng Tây Tạng.
Người ta luyện câu thần chú này như một phương thức rèn luyện nội công thiền định. Trước hết, tìm một nơi không khí lưu thông, đứng thẳng người, hai tay lật ngữa để ngang bụng, bàn tay trái đặt trên lòng bàn tay phải.
Bắt đầu hít vào lồng ngực một hơi thật dài, khi lồng ngực đã chứa đầy dưỡng khí thì mở miệng thở từ từ đồng thời phát ra Âm thanh Án và tưởng tượng như luồng chân khí đang ở đỉnh đầu, kế tiếp theo phát Âm Ma và cố gắng đưa luồng hơi đến mũi.
Tiếp theo đến Âm Ni thì luồng hơi được chuyển xuống đến cổ họng. Tương tự đến Âm Bát thì luồng hơi được đưa đến lồng ngực, Âm Di thì chân khí trong người đã được đưa đến đan điền (bụng), tiếp tục đến Âm Hồng thì luồng hơi được chuyển đến hậu môn và thoát ra bên ngoài cơ thể.
Nên nhớ là trong lúc sáu chữ trong câu thần chú này được phát Âm thì luồng hơi của cơ thể đang ở trong trạng thái thở ra. Sau đó, sự tập luyện bắt đầu tái diễn bằng cách hít hơi vào lồng ngực…
Với hình thức vừa đọc thần chú vừa vận dụng đưa làn hơi trong người tuần hoàn khắp châu thân rồi thoát ra ngoài cơ thể sẽ khiến cho cơ thể con người được giữ ở một trạng thái sạch sẽ và minh mẫn.
Những lúc cơ thể mệt mỏi hoặc tinh thần cảm thấy bồn chồn không được an tâm, quý vị có thể thực hiện như lời chỉ dẫn trên đây để lấy lại được sự bình thản trong tâm hồn.
- Tam Bảo : Phật Pháp Tăng gọi chung là Tam Bảo, Phật là đấng giác ngộ hoàn toàn. Pháp là lời của Phật dạy hay còn được ghi chép lại thành kinh điển.
- Tăng là người tu hành, có nhiệm vụ diễn dịch và giảng dạy những ý nghĩa trong kinh điển cho tín đồ.
3- Hằng Hà sa số : Hằng Hà là tên một con sông lớn của xứ Phật Ấn Độ. Hạ lưu dòng sông này cũng là nơi Phật Giáo khai sinh và phát triển. Phù sa sông Hằng nhiều vô số kể và đã nuôi dưỡng không biết bao nhiêu dân chúng Ấn Độ. Vì vậy, kinh điển Phật Giáo thường dùng số lượng phù sa của sông Hằng để nói lên cái số nhiều không đếm xuể được.
4- Hiện thân A Di Đà Phật : Từ sự tích trên đây, mà bây giờ những hình tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát đều đội mão, và chính giữa chiếc mão có một tượng Phật A Di Đà.
Đây cũng là cách nhìn vào để phân biệt giữa Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát. 5- Thập Phương : Từ chữ Thập phương thế giới, thập phương chỉ đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên và dưới.
Phật giáo chủ trương có thập phương vô số thế giới gọi là Thập phương thế giới. Trong số thế giới đó có chư Phật và chúng sinh nên còn gọi là Thập phương chư Phật và Thập phương chúng sinh. =
|
|  | | mytutru

Tổng số bài gửi: 2978 Registration date: 08/08/2009
 | Tiêu đề: Tin Nhắn Nhầm Sun 23 Jan 2011, 12:44 | |
| Tin Nhắn "Nhầm" (Sưu tầm)
Còn nhớ khi hồi đầu mới yêu nhau, ngày đầu tiên anh vừa mua điện thoại di động thì cũng là lúc nhận được tin nhắn đầu tiên của cô: "Em nhớ anh!" Đây cũng lần đầu họ liên lạc bằng tin nhắn điện thoại với nhau. Khi đó, anh mân mê đọc lại ba chữ đó không biết bao nhiêu lần.
Mỗi lần đọc, trái tim anh trào lên một cảm xúc rung động ngọt ngào vô cùng. Cả một thời gian dài sau đó anh cũng không nỡ xóa tin nhắn đầu tiên đó của cô. Hồi ấy cô và anh học đại học ở hai nơi cách xa nhau, những lần gặp gỡ chỉ ngắn ngủi trong giây lát, còn khoảng thời gian phải xa nhau lại dài dằng dặc.
Và khi đó, những tin nhắn qua điện thoại đã trở thành một cầu nối tình yêu không thể thiếu giữa hai người, chúng đã gắn hai trái tim yêu thương nhung nhớ được xích lại gần nhau, và cùng cảm nhận được thấy sự tồn tại của nhau.
Còn nhớ một buổi tối, cô và anh đã hẹn nhau thời gian nhắn tin nói chuyện, nhưng sau khi rất nhiều tin nhắn anh gửi đi cho cô đều không thấy có hồi âm trở lại, anh lo lắng gọi điện cho cô thì không có ai nhấc máy.
Anh hoảng hốt khi nghĩ đến chuyện gì xảy ra cho cô liền cuống quýt vơ vội một cái áo khoác lên người rồi nhảy chuyến tàu đêm ngồi hơn 7 tiếng đồng hồ để đến nơi cô học.
Hóa ra khi ấy cô đi học về mệt quá nên ngủ thiếp đi quên mất cuộc hẹn với anh. Nhìn thấy cô đứng trước mặt vẫn khỏe mạnh an toàn, anh thở phào nhẹ nhõm ôm chầm cô vào lòng. Còn cô lúc đó cũng bật khóc vì xúc động...
Sau khi tốt nghiệp anh và cô kết hôn và có một cuộc sống êm đềm hạnh phúc. Họ vẫn dùng nhắn tin cho nhau để thuận tiện liên lạc nhưng những tin nhắn đã bị đơn giản đi rất nhiều:
"Em đang ở đâu thế?" "Em đang trên xe buýt". "Bao giờ anh về đến nhà?" "10 phút nữa". Sau này trong điện thoại của anh cũng dần có thêm rất nhiều tin nhắn của bạn bè đồng nghiệp, và những tin nhắn của cô cũng nhanh chóng bị anh xóa đi đầu tiên để thay thế bằng những tin nhắn mới.
Cứ thế 5 năm trôi qua, tình yêu giữa hai người cùng phai nhạt dần trước những lo toan của cuộc sống. Anh cảm thấy cô không còn đáng yêu hấp dẫn như ngày xưa nữa, và không cảm nhận thấy những rung động nhung nhớ như trước đây khi họ yêu nhau.
Và rồi một cô gái tên Như đã bước vào cuộc sống của anh từ đấy.
Anh tìm được tình yêu ở Như, tìm được cảm giác tình yêu đã bị đánh mất. Như yêu anh và chiều chuộng anh hết mực. Mối quan hệ của họ ngày càng trở nên sâu nặng.
Ngoài thời gian ở nhà, bên ngoài anh vẫn âm thầm qua lại quan hệ với Như, anh nghĩ rằng Như mới chính là người yêu anh và hiểu anh nhất...
Một buổi tối như thường lệ, sau khi vui vẻ bên Như, anh lái xe về nhà. Trên đường về, chợt anh nảy ra một ý nghĩ, anh muốn thử tình cảm của Như xem tình yêu cô dành cho anh nhiều như thế nào, có nhiều như cô vẫn nói với anh không?
Nghĩ vậy anh dừng xe và gửi cho Như một tin nhắn: "Xe anh bị đâm trên đường. Anh đang ở... Em đến ngay nhé!" Sau đó anh ngồi trên xe chờ đợi. Một tiếng đồng hồ trôi qua vẫn không thấy Như đến, cũng như chẳng có bất cứ liên lạc gì từ phía cô. Anh lại nhắn lại thêm một lần nữa. Nhưng chờ một lúc vẫn không thấy có bất cứ động tĩnh gì. Anh giận dữ nổ máy quyết định bỏ về nhà. Đúng lúc đó từ đằng xa có một chiếc taxi lao vút đến và thắng gấp ngay sát bên cạnh xe anh.
Từ trong xe một người phụ nữ vẫn còn đang mặc bộ áo ngủ xộc xệch lao ra khỏi xe hốt hoảng chạy lại. Thật bất ngờ đó chính là vợ anh. Anh giật mình vội vàng kiểm tra lại tin nhắn trong điện thoại. Tin nhắn đầu tiên anh gửi cho Như thì không sai. Nhưng tin nhắn thứ hai anh lại gửi nhầm cho vợ mình.
Chưa hết ngỡ ngàng thì vợ anh đã lao đến chỗ anh, không ngừng đập vào cửa kính gọi anh. Giọng cô lạc đi: "Anh... Sao vậy?
Anh có sao không? Anh không làm sao chứ?" Anh mở cửa xe và ôm choàng vợ vào lòng, giọng anh nghẹn lại: "Không sao, anh không sao, chỉ là va chạm nhỏ thôi". Anh vừa nói vừa dịu dàng hôn lên trán cô, người cô vẫn còn chưa hết run rẩy. Anh xót xa ôm cô chặt trong tay, mắt rơm rớm vì xúc động.
Anh vô cùng hối hận vì những ham muốn nông nổi của mình mà đã phản bội cô, và thầm cảm ơn tin nhắn gửi nhầm đó đã giúp anh hiểu ra ai là người yêu anh nhất!
|
|  | | mytutru

Tổng số bài gửi: 2978 Registration date: 08/08/2009
 | Tiêu đề: Re: Tình Yêu Thương (Truyện Ngắn) Mon 24 Jan 2011, 12:16 | |
| Bích Thảo hoá thân Hermann Hesse Thuở ấy khi vừa đặt chân lên thiên đường, Bích Thảo gặp một cây kỳ lạ, cây vừa là đàn ông vừa là đàn bà. Bích Thảo cúi chào cây một cách kính cẩn và hỏi: ”Chào cây, cây có phải là cây của sự sống không?” Nhưng khi có con rắn muốn thay cây trả lời cho chàng thì Bích Thảo quay lưng bỏ đi. Chàng tập trung thị giác để nhìn, mọi thứ ở trên thiên đường đều làm cho chàng thích thú. Chàng cảm thấy rõ mồn một mình đang ở chốn quê hương, đang ở nơi cội nguồn của cuộc sống.
Chàng lại gặp một cây kỳ dị khác, cây này vừa là mặt trời vừa là mặt trăng. Bích Thảo hỏi:”Này cây ơi, cây có phải là cây của sự sống không?” Bên phía cây mặt trời gật gật cái đầu và cười toét miệng còn bên phía cây mặt trăng thì gật nhẹ đầu và nhoẻn miệng cười mủm mỉm.
Những bông hoa tuyệt diệu nhất chớp mắt nhìn chàng với nhiều màu sắc và ánh sáng khác nhau, với nhiều đôi mắt long lanh và nhiều vẻ mặt khác nhau. Có những nhóm cây gật đầu và cười toe toét. Vài cây khác chỉ gật đầu và cười chúm chím. Còn những cây khác chẳng gật đầu mà cũng chẳng mỉm cười. Chúng lặng yên mê mẩn, đắm mình ngơ ngẩn, như say sưa đuối đẩn, trong suối hương nồng, hoa hương quyện lẩn.
Một đóa hoa cất tiếng ca bài Tím Nhạt, đóa khác hát bài hát ru con Xanh Thẫm. Một đóa trong đám hoa có đôi mắt to màu xanh da trời, còn một đóa khác có gương mặt làm cho Bích Thảo nhớ đến mối tình đầu tiên của chàng. Có đóa hoa thơm mùi hương của khu vườn thời thơ ấu, hương thơm ngọt ngào của hoa thoảng nhẹ như giọng nói của mẹ chàng.
Còn đóa hoa khác tươi cười chào chàng và thè cái lưỡi đỏ uốn cong đến gần chàng. Chàng đưa lưỡi mình chạm vào hoa, cảm nghe hương vị nồng nàn man dại như nhựa cây, như mật ong và như nụ hôn của một người đàn bà. Bích Thảo đứng giữa ngàn hoa, lòng tràn ngập hoài vọng ước ao và những niềm vui mong manh. Như chiếc khánh ngân, tim chàng đập nhanh, tim đập liên thanh; và nỗi khát khao của chàng bừng cháy cổ họng đến tận chốn vô tri, vào tận bến bờ của niềm linh cảm huyền diệu. Bích Thảo tiếp tục thơ thẩn chiêm ngưỡng thiên đường, chàng bỗng thấy một con chim sà xuống bên mình, con chim đến nấp trong đám cỏ, xanh xanh đỏ đỏ chim lấp lánh muôn màu, hầu như tất cả màu sắc trên thế gian chim đều chiếm hết.
Chàng hỏi con chim mỹ miều muôn sắc: ”Này chú chim, vậy hạnh phúc ở đâu vậy hỡi chim?” ”Hạnh phúc hả?”, con chim mỹ miều nói và cười bằng cái mỏ vàng của nó, ”Này bạn ơi, hạnh phúc ở khắp nơi nơi, trên núi dưới đồi, trong hoa tươi nở, trong ngọc sáng ngời”. Vừa mới buông lời con chim hớn hở rũ lông, rụt cổ nhịp đuôi, há mỏ cười một lần nữa rồi lại ngồi bất động. Lặng yên như tờ chú chim ngồi trong đám cỏ. Và này hãy xem:
Thoáng chốc con chim đã hóa ra một đóa hoa sặc sỡ, lông chim là những ngọn lá, móng chim là rễ cây. Trong vẻ lóng lánh muôn màu, giữa lúc nhảy nhót múa may con chim lại biến mình thành một cái cây. Bích Thảo trố mắt kinh ngạc trong lúc chứng kiến trò ảo thuật kỳ diệu này.
Ngay sau đó, ”đóa hoa chim” rung động những ngọn lá và những dây bụi phấn của hoa, rồi lại chán cảnh làm đóa hoa, hoa chim thôi làm rễ cây, chuyển mình nhẹ nhàng từ từ cất bổng mình lên cao, rồi đột nhiên hóa ra một con bươm bướm sáng ngời, lượn mình trên không nhẹ bổng nhẹ bông như không có trọng lượng, hoa bấy giờ toàn thân là ánh sáng, vẻ hoa là hào quang.
Bích Thảo ngây người càng mở lớn đôi mắt kinh ngạc: chim đã thành bướm lúc nào chẳng hay.
Con bươm bướm mới, con bươm bướm sặc sỡ, hớn hở, chùm hoa quang diện màu sắc sáng rỡ, nhởn nhơ lượn quanh chàng Bích Thảo đứng ngơ ngẩn sững sờ, lấp la lấp lánh trong ánh mặt trời, bướm bay bay lượn lượn rồi từ từ hạ mình xuống đất nhẹ nhàng như một nắm tơ, đậu sát vào chân Bích Thảo, bướm thở nhẹ nhàng, rung khẽ thân mình với đôi cánh lóng lánh và khoảnh khắc bướm lại hóa thành một viên pha lê muôn màu, ở một góc pha lê lóe ra một tia sáng đỏ hồng.
Từ trong đám hoa cỏ xanh tươi viên pha lê đỏ chiếu lấp lánh tuyệt vời, sáng rỡ dòn dã như tiếng chuông ngân ngày hội.
Nhưng rồi hình như có tiếng gọi về của quê hương viên ngọc - từ lòng của trái đất - cho nên viên ngọc từ từ thu bé lại và sắp sửa lịm dần vào lòng đất... Trước cảnh tượng ấy trong lòng Bích Thảo bỗng nổi lên một ham muốn mãnh liệt, chàng vội vàng nhặt nhanh viên ngọc lên trước khi ngọc sắp tan biến vào lòng đất. Bích Thảo mê người ngắm nhìn ánh sáng thu hút huyền hoặc của viên ngọc trong tay, ánh hào quang như rọi sáng vào tận tim chàng một thứ linh cảm về mọi nỗi niềm hạnh phúc trên đời mà chàng chưa trải qua. Vừa lúc ấy bỗng nhiên con rắn trườn đến quấn mình vào một nhánh cây khô, rắn ghé đầu rít vào tai chàng: ”Viên ngọc này có thể biến mày thành điều gì mà mày muốn Bích Thảo ạ.
Hãy nói nhanh cho viên ngọc biết điều ước của mày trước khi ngọc thu nhỏ lại, kẻo chậm mất!” Bích Thảo giật mình, chàng sợ đánh lỡ mất hạnh phúc, vội vàng nói nhanh ước muốn của mình, lập tức chàng biến thành một cái cây.
Ðã từ lâu chàng mơ ước mình được làm một cái cây, bởi lẽ cây đối với chàng là sự bình an, là nhựa sống, là niềm vinh dự. Như vậy Bích Thảo trong phút chốc hóa thân thành một cây xanh.
Chàng đâm rễ vào lòng đất, lớn nhanh và vươn mình lên cao. Lá và cành mọc ra từ tứ chi của chàng. Chàng rất tự mãn về sức lớn của mình, với những rễ cây khát nhựa chàng đâm mình hút sâu vào lòng đất, với những cành lá của mình, chàng phất thân cao lên trong tầng thiên thanh. Những con bọ bắt đầu tìm đến cư ngụ nơi thân cây.
Thỏ và nhím đến tá túc ở gốc cây, còn chim thì đến làm tổ ở cành cây. Cây ”Bích Thảo” rất đỗi hạnh phúc và không màng đến năm tháng trôi qua. Đã có nhiều năm trôi qua như thế trước khi chàng nhận ra rằng thật sự hạnh phúc của chàng không được hoàn toàn.
Phải tốn một khoảng thời gian sau chàng mới học được cách nhìn với ”con mắt cây”. Nhưng đến khi chàng đạt được cách nhìn này thì chàng đâm ra buồn bã. Chàng nhìn thấy được rằng ở trên cõi thiên đường, quanh chàng, mọi vật mãi hoài đổi kiếp thay thân, thật thế, chàng thấy mọi vật đều nằm trong vòng luân lưu ảo thuật của sự hóa thân vĩnh cửu.
Chàng thấy những bông hoa biến thành cây bằng ngọc hay hóa thành những con chim líu lo đầy ánh sáng vụt bay đi.
Chàng thấy bên cạnh mình có nhiều cây bỗng biến mất, có cây tan ra thành nguồn suối, có cây thành cá sấu, có cây lại bơi lội nhởn nhơ, tung tăng khoái chí, thích thú tột cùng, bơi đi làm cá, hết làm cá rồi, thay hình mới mẻ, chúng lại bắt đầu những trò khác lạ. Những chú voi đổi áo của mình với các tảng đá núi, những chàng hươu cao cổ đổi hình dạng của mình với các bông hoa.
Chỉ riêng chàng - cây Bích Thảo - thì vẫn giữ nguyên là cái cây, chàng không thể biến đổi ra cái gì khác nữa.
Từ khi nhận biết được điều này, hạnh phúc của Bích Thảo tan biến dần; chàng bắt đầu trở nên già cỗi, chàng bắt đầu có dáng điệu mệt mỏi nghiêm nghị và lo âu.
Điều này người ta thường thấy hàng ngày nơi các loại ngựa, loài chim, loài người - Những sinh vật thường trở nên già nua nếu chúng không có được năng khiếu hóa thân, với thời gian chúng sẽ rơi vào sự buồn nản, lo âu xao xuyến và cứ thế mà mọi vẻ đẹp dần dần biến mất. Cây Bích Thảo cứ đứng yên bất di bất dịch như thế ở chốn thiên đường... Cho đến một ngày nọ có một người con gái trẻ đi đâu lạc vào chốn thiên đường ấy, cô gái có một mái tóc vàng óng ả, cô mặc một chiếc áo xanh màu thiên thanh.
Cô bước đi thảnh thơi trong chốn Bồng Lai, nhởn nhơ dưới các cây xanh, cô vừa hát vừa nhảy múa, trong đầu cô chưa bao giờ nghĩ đến việc ước mong có biệt tài hóa thân.
Lắm chú khỉ khôn ngoan mỉm cười theo sau lưng cô, lắm lùm cây sờ nhẹ cô một cách dịu dàng với nhánh dây leo, lắm cây khác ném tặng cô một búp hoa, một hạt dẻ, một trái táo mà cô không để ý đến, cứ thảnh thơi đi, hát và nhảy múa.
Khi cây Bích Thảo thấy cô gái, như một tia chớp chàng liền cảm nghe trong tim một nỗi nhớ nhung mông mênh chảy dội về, một nỗi khát khao hạnh phúc như chưa bao giờ trong đời chàng đã khát khao như thế. Đồng thời một sự hồi tưởng sâu xa phủ kín tâm hồn chàng, chàng cảm nghe như chính dòng máu của mình lên tiếng gọi: ”Bích Thảo, hãy suy nghĩ kỹ đi. Trong giờ phút này hãy nhớ lại cả cuộc đời mình, nếu không sẽ muộn mất thôi, và không bao giờ, không bao giờ nữa mày sẽ gặp được hạnh phúc”. Bích Thảo tuân theo tiếng gọi của con tim, chàng đứng đó, nhớ về tất cả cội nguồn của mình, nhớ những năm làm người, nhớ lúc nhập vào thiên đường và nhất là nhớ đến giây phút xa kia, trước khi chàng biến thành cái cây, giây phút lúc chàng cầm trong tay viên ngọc nhiệm màu ấy.
Nhớ đến thuở ấy khi mà mọi sự hóa thân đối với chàng còn mở ngỏ, cái thuở mà cuộc sống như chưa bao giờ nóng bỏng đến như thế. Chàng nhớ lại con chim ngày ấy đã cười vang, nhớ cái cây kỳ lạ vừa là mặt trời vừa là mặt trăng, trong thoáng chốc chàng linh cảm được rằng thuở ấy chàng đã bỏ lỡ một cơ hội nào đó, đã quên một điều gì đó, rằng lời khuyên của con rắn đã không phải là lời khuyên tốt lành.
Giữa lúc đang đi cô gái tóc vàng chợt nghe trong đám lá của cây Bích Thảo có tiếng rì rào như một lời kêu nho nhỏ, cô ta ngẩng đầu nhìn lên cây, tim cô bỗng nhói lên một niềm cảm xúc, từ đáy lòng cô nghe rạo rực những tưởng tượng mới mẻ, niềm ước muốn tân kỳ, những mộng mơ chưa bao giờ có ở trong tâm. Như bị cuốn hút bởi một sức mạnh lạ lùng cô đi đến ngồi dưới cây. Nhìn cây Bích Thảo, cô thấy như cây có vẻ cô đơn, lẻ loi và buồn bã, nhưng lại có một vẻ gì đẹp đẽ dễ rung cảm và cao quý trong nỗi buồn câm lặng của cây, tiếng ca của những tàn cây lao xao nhỏ nhẻ vẳng lên làm cô ngây ngất tâm hồn.
Cô gái tựa mình vào thân cây xù xì, cảm nghe thân cây rùng mình thâm
sâu và đồng thời cũng nghe trái tim mình như đang cảm nhận cùng một nỗi giao động như cây. Tim cô nhói đau một nỗi đau lạ lùng, trên bầu trời linh hồn cô những đám mây như vụt bay đi và không khóc mà nước mắt từ từ lăn khỏi bờ mi.
Có chuyện gì thế này? Có thể đớn đau đến thế này hay sao? Tại sao con tim chỉ chờ phá tan lồng ngực để chảy tràn ra, tan biến đến Người, vào tận trong Người, con Người Cây cô đơn đẹp đẽ kia? Cây Bích Thảo run lên nhẹ nhàng đến tận gốc rễ, rồi với sức lực bình sinh cây thu hết tất cả nhựa sống vào mình, hướng về phía người con gái trẻ với tất cả ước muốn nóng bỏng được tan hòa với nàng. Cây nghĩ: ”Chà, ta đã bị con rắn độc đánh lừa để tự đưa mình vĩnh viễn bất di bất dịch thành một cây duy nhất. Ôi ta đã mù quáng biết bao! Ôi ta đã điên rồ biết bao! Ta đã không có một tri thức nào cả hay sao? Tại sao sự bí mật của cuộc sống đối với ta lại xa lạ đến thế kia? Không, không, thuở ấy ta đã cảm thấy mơ hồ và đã linh cảm điều ấy rồi. ”- Ồ - bây giờ chàng nhớ đến cái cây vừa là đàn bà vừa là đàn ông với nỗi buồn rầu và sự giác ngộ sâu xa. Giữa lúc ấy bỗng có một con chim bay đến, con chim xanh lục đỏ điều, con chim mỹ miều, con chim anh điểu, con chim vàng ảnh vàng anh, bay lượn thanh thanh. Cô gái nhìn chim bay quanh, nhìn thấy từ mỏ chim nhả ra một vật gì rời xuống cỏ, vật ấy long lanh màu đỏ như máu, màu đỏ như than hồng, nó rơi xuống đám cỏ xanh xanh, chiếu sáng trong đám cỏ mành mành, quen thuộc tin lành như ánh xuân thanh, màu đỏ chiếu sáng rộn rã tưng bừng đến nỗi cô gái phải cúi mình xuống nhặt màu đỏ ấy lên. Cô nhận ra trong tay một viên ngọc dạ quang pha lê, một viên ngọc muôn màu muôn vẻ, ở đâu có ngọc, ở đấy không bao giờ có bóng tối vây quanh. Lúc cô gái cầm viên ngọc kỳ diệu trong bàn tay trắng nõn nà của cô thì lập tức điều ước của Bích Thảo liền thành sự thực, điều ước mà tim chàng bấy lâu nay đang ấp ủ.
Trong chớp mắt cô gái đẹp liền thoát xác, cô gục xuống thân hóa ra dính liền với cây Bích Thảo làm một, từ thân cây một cành cây non trẻ và mạnh mẽ chồi lên, vươn lên cao đến gần chàng.
Bấy giờ mọi sự mọi việc đều trở thành hoàn thiện, bấy giờ thế giới mới được an bài viên mãn và chỉ trong khoảnh khắc này đối với Bích Thảo thiên đường thực sự mới được tìm thấy.
Bích Thảo không còn là cái cây ưu tư già cỗi nữa, bây giờ chàng cất cao tiếng hát: ”Bích Thảo vui! Thiên Thảo vui!”. Chàng đã hóa kiếp. Và bởi vì lần này chàng đã đạt được sự hóa thân đúng đắn, trường cửu, bởi vì chàng đã từ cái ”Một Nửa” trở thành cái ”Toàn Thể”, cho nên chàng có thể thay thân đổi xác từng giờ từng phút thành bất cứ cái gì chàng muốn. Dòng luân lưu ảo diệu của sự trở thành tuôn chảy không ngừng trong huyết mạch của chàng, vĩnh viễn chàng có thể tham dự vào mỗi sáng tạo bừng nở trong từng phút từng giây.
Chàng trở thành nai, trở thành cá, trở thành người và trở thành rắn, thành mây bay, thành chim. Nhưng trong mỗi hình hài chàng vẫn là cái Toàn Thể, vẫn là ”Một Đôi”, vẫn mang trong mình mặt trời và mặt trăng, đàn ông và đàn bà. Như một con sông ”sinh đôi” chàng chảy mê mải qua núi đồi đồng ruộng. Và lấp lánh trên nền trời chàng chiếu sáng ánh sáng của một”vì sao đôi”. Nguyên bản tiếng Đức : Piktors Verwandlungen Thái Kim Lan dịch
|
|  | | mytutru

Tổng số bài gửi: 2978 Registration date: 08/08/2009
 | Tiêu đề: Một Quyết Định Tue 28 Jun 2011, 07:49 | |
| Truyện Kể Lại.
Cái Nhìn Và Sự Quyết Định Của Một Đứa Trẻ..
Ba chở bé Oanh đi học, đường đông kẹt xe, xe ba va vào xe người ta.. Oanh bị té và được đưa vào BV cấp cứu.. Trong BV Oanh để ý thấy có một chú cũng bị thương.. Oanh thấy máu và thịt chú ấy lòi ra .. Ôi khủng khiếp quá.. Oanh suy nghĩ “Sao nhìn chỗ thịt và máu của chú ấy, nó chẳng khác miếng thịt bò, thịt heo mà hàng ngày Oanh vẫn được mẹ nấu cho ăn vậy..? Oanh tự hỏi trong đầu và thấy ghê ghê nhợn nhợn sao ấy.!”
Mẹ nghe tin hớt hải chạy vào, nước mắt đầm đìa, ôm lấy Oanh hỏi trong nước mắt, híc híc.. Con ơi con có đau không.? Oanh trả lời giọng tự nhiên cho mẹ an lòng.. Con không sao đâu mẹ.. Và Oanh chỉ chú nằm cạnh bên nói: Chú này bị thương nặng lắm thật khủng khiếp quá..
Trưa đó, mẹ mang cháo nấu thịt vào Oanh từ chối không ăn, và xin mẹ cho mình được ăn cháo với đường.. Năn nỉ mãi không được mẹ đành chìu em .. Mua cháo trắng và đường cho Oanh ăn.. Mà mẹ đâu biết suy nghĩ mà Oanh đã cảm nhận được..
Khi xuất viện về nhà.. Oanh khẳng định là: Từ nay con không ăn thịt nữa, mẹ đừng mua thịt con không ăn đâu.! Mẹ theo hỏi mãi lý do vì sao.? Mãi Oanh mới tâm sự là thịt nào cũng là thịt có máu.. Thịt người hay thịt con vật cũng như nhau thôi.. Con gớm lắm mẹ à.
Từ đó mẹ Oanh phải học cách nấu chay và làm đồ ăn chay cho đứa con gái thân yêu của mình ăn.. Đến nay Oanh đã lớn và đời sông của Oanh rất thanh thản trong mọi công việc thường ngày của một con người đã trưởng thành..
28.06.2011 Mytutru viết.
|
|  | | | | Tình Yêu Thương (Truyện Ngắn) | |
|
| Trang 4 trong tổng số 4 trang | Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4 |
| | Permissions in this forum: | Bạn không có quyền trả lời bài viết
| |
| |
| |