IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
GÓC THƠ THƠ by THƠ THƠ Today at 16:46

Thời trang Nước hoa - Mỹ phẩm Điện thoại - Sim số Máy tính - Laptop Kỹ thuật số Điện máy Nhà đất - by dinhminhvu12a8 Today at 16:17

GIAO THỪA THÂN DẬU CÚNG XÔI GÀ by Cẩn Vũ Today at 15:26

Ước Nguyện Đầu Xuân - Giáng Tiên by THY OANH Today at 12:53

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Today at 12:42

Sầu Tím Thiệp Hồng - Lệ Quyên, Quang Lê by THY OANH Today at 12:36

THẠCH SANH LÝ THÔNG TÂN BIÊN by HanSiNguyen Today at 12:07

Câu đối NGỰA by HanSiNguyen Today at 12:02

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by vancali96 Today at 11:22

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 08:40

THỪA TƯỚNG ỨNG HẦU PHẠM THƯ by HanSiNguyen Today at 07:34

Chút tâm tư by HanSiNguyen Today at 07:22

XƯỚNG - HỌA Cẩn Vũ by nguoitruongphu Today at 06:29

TẬP THƠ : TAN VỠ TÌNH ĐẦU ! by nguoitruongphu Today at 06:25

Quán Tạp Kỹ - Đồng Bằng Nam Bộ by Shiroi Today at 04:32

Cuộc sống và tình yêu by Shiroi Today at 04:22

Nhớ by tth Yesterday at 14:34

BỐN PHƯƠNG CHUNG GỞI DÒNG TÂM SỰ :HOANG PHẾ by Ma Nu Yesterday at 12:34

Thẩn thơ thời sự by thanhsingle Sat 14 Jan 2017, 22:37

CÕI LƯU ĐÀY (MT-116-117) by Ntd Hoa Viên Sat 14 Jan 2017, 12:24

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Sat 14 Jan 2017, 12:11

CHỈ SỢ TÌNH THÂM CHẲNG DỨT THÔI by vancali96 Sat 14 Jan 2017, 11:57

Kính chào Thầy - Tỷ = Không Đăng by vu manh hung Sat 14 Jan 2017, 08:53

Những trái cây lạ nhất quả Đất có mặt ở Việt Nam by THY OANH Fri 13 Jan 2017, 16:22

CÂU ĐỐI TẾT ĐINH DẬU by Ma Nu Fri 13 Jan 2017, 02:32

MÔT BÀI THƠ MƯỜI CÁCH ĐỌ by Ma Nu Fri 13 Jan 2017, 02:19

trang thơ Đường Luật VMH by vu manh hung Thu 12 Jan 2017, 19:33

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Thu 12 Jan 2017, 12:08

Tam Tạng Pháp Số by mytutru Wed 11 Jan 2017, 18:22

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Wed 11 Jan 2017, 16:06

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 Chuyện Cổ Tích PG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 9, 10, 11, 12  Next
Tác giảThông điệp
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Thu 09 Sep 2010, 20:52

Sự tích Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai


Phần 12

15- Hạ thứ 37 tại Venuvana (năm -553)
Devadatta xin thay Phật lãnh đạo giáo đoàn[1]

Một buổi
chiều, y sĩ Jivaka lên núi Griddhakuta (Linh Thứu) thăm Phật. Tới chân núi, ông gặp Phật mới từ tinh xá Venuvana (Trúc Lâm) về.

Ông chào Phật và xin phép được theo ngài lên núi. Jivaka nhìn Phật leo các bậc thang bằng đá để lên núi mà trong bụng khen thầm: Năm nay Phật đã 71 tuổi rồi mà còn cứng cát khỏe mạnh quá. Phật leo núi một cách thong thả và ung dung, một tay cầm bát, một tay cầm chéo áo sanghati.

Thượng tọa Ananda đi bên cạnh Phật cũng không thể cầm bát thay cho Phật được, vì một tay thầy cũng phải cầm bát của thầy và tay kia cầm chéo áo như Phật vậy.

Ông Jivaka tiến lên xin cầm bát thay Phật. Phật trao bình bát cho ông và mỉm cười, nói :
- Như Lai đã leo núi này cả ngàn lần, lần nào cũng tự tay cầm bát thì đã có sao đâu.
Các bậc thang bằng đá được xây lên đến tận thềm am của Phật trên đỉnh đồi. Chính vua Bimbisara đã ra lệnh xây mấy trăm bậc thang này để cúng dường.

Ðến nơi, Phật và ông cùng ngồi xếp bằng trên một nền đá rộng rãi.
Sau khi hỏi thăm Phật về tình hình sức khỏe và công việc hoằng pháp của ngài ở các nơi, Jivaka nói :

- Bạch Thế Tôn, con xin phép nói sơ lược về tình trạng giáo đoàn ở đây. Con thấy tình trạng giáo đoàn có liên hệ trực tiếp đến tình trạng chính trị. Con nghĩ Thế Tôn cần được thông báo rõ ràng.

Rồi y sĩ Jivaka cho Phật biết Thượng tọa Devadatta hiện có tham vọng lãnh đạo giáo đoàn thay Phật. Thượng tọa Devadatta có vây cánh khá mạnh mẽ và đông đảo trong giới khất sĩ cũng như trong giới chính trị.

Cánh tay phải của Devadatta là Thượng tọa Kokalika thường bày nhiều mưu lược, ngoài ra còn có Thượng tọa Kotamoraka Tissa, Thượng tọa Khandadeviputta và Thượng tọa Samuddadatta, vị nào cũng có đông đảo đệ tử ủng hộ.

Thượng tọa Devadatta rất thông minh và hùng biện cho nên được rất đông người nghe theo, trong giới khất sĩ cũng như trong giới cư sĩ.

Thượng tọa không chính thức ra mặt chống Phật, nhưng đã nhiều lần đưa ra nhận xét là Phật đã lớn tuổi, không còn đủ sức lãnh đạo giáo đoàn càng ngày càng đông, và cách thức điều hành của Phật đã xưa, không còn thích hợp với giới trẻ và thời đại mới.

Ðứng về phương diện xã hội, Thượng tọa Devadatta được nhiều người giàu có, nhiều người dòng Sakya và giai cấp thượng lưu ủng hộ. Họ không đồng ý Phật thâu nhận những người thuộc giai cấp hạ tiện vào giáo đoàn.

Người ủng hộ Thượng tọa tận tình nhất là thái tử Ajatasattu (A-Xà-Thế).

Vua Bimbisara tin kính Phật như thế nào thì thái tử Ajatasattu tin kính Thượng tọa Devadatta như thế ấy. Thái tử đã xây cất cho Thượng tọa một tinh xá lớn trên núi Gayasisa (núi Tượng Ðầu), nơi xưa kia Phật đã nói kinh Lửa cho ba anh em Thượng tọa Uruvela Kassapa và một ngàn đệ tử của ba vị ấy.

Thái tử Ajatasattu thường xuyên cho chở các thức cúng dường
đến núi Gayasisa. Nhiều thương gia và chính trị gia muốn được lòng thái tử cũng bắt chước đến tinh xá đó cúng dường và nghe pháp.

Với sự ủng hộ đó, uy tín của Thượng tọa Devadatta càng ngày càng lên. Số các vị khất sĩ theo về với Thượng tọa hiện nay có đến gần 500 vị, phần lớn là các khất sĩ trẻ từ xứ Vajji.

Nói đến đây, y sĩ Jivaka nhìn Phật rồi xuống giọng nói thật khẽ :
- Bạch Thế Tôn, những điều con vừa nói cũng chưa có gì quan trọng.

Nhưng theo tin tức con được biết, hình như thái tử Ajatasattu và Thượng tọa Devadatta, vì nóng lòng muốn lên ngôi và lãnh đạo giáo đoàn, đang cùng nhau âm mưu hãm hại hoàng thượng và Thế Tôn, là hai người con yêu kính nhứt trên đời. Con xin Thế Tôn hãy thận trọng và đặc biệt lưu tâm đến việc này.

- Jivaka, cám ơn ông đã cho Như Lai biết tình hình bất ổn hiện nay. Nhưng ông đừng quá lo lắng. Như Lai sẽ biết tùy thời lo liệu. Y sĩ Jivaka cáo từ ra về. Phật dặn thầy Ananda không nên tiết lộ chuyện này cho ai biết.

Ðộ mươi hôm sau, trong buổi thuyết pháp hằng tháng tại tinh xá
Venuvana, đức Phật giảng về Ngũ Lực (Panca-balani) tức năm sức mạnh tinh thần cần thiết để nuôi dưỡng hoa trái giác ngộ.
Phật nói :

- Người đã tin hiểu Chánh Pháp, muốn mang ra thực hành, cần biết 37 phẩm trợ đạo.
Những gì là 37 phẩm trợ đạo ? Ðó là: Tứ niệm xứ[2], Tứ chánh cần[3], Tứ như ý túc[4], Ngũ căn[5], Ngũ lực[6], Thất bồ-đề phần[7] và Bát chánh đạo[8].

Quý vị đã biết Ngũ Căn là năm cội gốc phát sanh ra các pháp lành, có tác dụng làm tăng trưởng các pháp lành và dẹp trừ phiền não để đưa người tu hành vào Thánh đạo.

Ngũ Căn (Pancendriyani) gồm có: Tín căn (Sraddhendriya) là đức tin nơi lý tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo), tin nơi tam bảo (Phật, pháp, tăng); Tấn căn (Viryendriya) là chí dũng mãnh tu tập các pháp lành; Niệm căn (Smirtindriya) là tâm luôn luôn nghĩ đến chánh pháp;

Ðịnh căn (Samadhindriya) là trụ tâm trong chánh pháp; Huệ căn

Một khi Ngũ Căn được phát triển đến độ thuần thục thì Ngũ Căn sẽ trở thành Ngũ Lực (Panca-balani) tức là năm sức mạnh, năm động cơ chuyên chở người tu trên con đường giải thoát, có công năng phát triển mạnh các điều lành và diệt trừ tận gốc rễ các điều ác. Ngũ Lực gồm có:

Tín lực (Sraddha-bala) tức là lòng thành kính đối với tam bảo; Tấn lực (Virya-bala) siêng tu các pháp lành, siêng trừ các pháp ác; Niệm lực (Smirti-bala) tức là luôn luôn nhớ thân bất tịnh, tâm vô thường, pháp vô ngã, thọ là khổ;

Ðịnh lực (Samadhi-bala) tức là chuyên tu thiền định để đoạn trừ phiền não do sáu căn (giác quan) gây ra; Huệ lực (Prajna-bala)
tức là nhờ công năng thiền quán mà phát sanh ra trí huệ, thấy rõ năm uẩn đều không, mười tám giới chẳng có, ngã chấp tiêu tan, được hoàn toàn giải thoát.

Buổi thuyết pháp hôm nay có trên ba ngàn người tham dự, trong đó có cả vua Bimbisara. Khi Phật vừa chấm dứt, mọi người chưa kịp có cơ hội để hỏi những điểm họ chưa được thấu triệt thì Thượng tọa Devadatta đã đứng dậy, đến trước mặt Phật, chấp tay cung kính đảnh lễ rồi nói :

- Bạch Thế Tôn, năm nay tuổi thọ của Thế Tôn đã cao, sức khỏe Thế Tôn đã kém. Thế Tôn cần được nghỉ ngơi an tĩnh để bớt đi sự khó nhọc trong những năm cuối cùng của cuộc đời. Thế Tôn đã tốn nhiều công sức thành lập giáo đoàn khất sĩ và phát triển không ngừng cho đến ngày nay.

Giáo đoàn đã trở nên quá đông đảo và ở rải rác trong nhiều quốc gia xa cách nhau, công việc lãnh đạo giáo đoàn đã trở nên quá nặng nhọc đối với Thế Tôn. Xin Thế Tôn hãy rút về một nơi an nghỉ. Con sẽ xin thay mặt Thế Tôn lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ.

Ðức Phật nhìn Devadatta, đáp :- Thượng
tọa Devadatta, cám ơn thầy đã lo lắng cho sức khỏe của Như Lai. Nhưng hiện nay Như Lai vẫn còn đủ sức để lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ.
Thượng tọa Devadatta quay lại nhìn đại chúng. Có khoảng 300 vị khất sĩ đứng dậy chấp tay. Thượng tọa nhìn lên Phật, nói :

- Bạch Thế Tôn, đó không phải là ý riêng của con. Nhiều vị đại đức ở đây cũng nhận thấy như con. Xin Thế Tôn đừng e ngại. Con nhận thấy có đủ khả năng lãnh đạo giáo đoàn để cho Thế Tôn được an dưỡng trong lúc tuổi già.

- Thôi đi, Devadatta, đừng nên nói nữa. Trong số các đệ tử lớn của Như Lai có nhiều vị xuất sắc và xứng đáng hơn thầy nhiều mà Như Lai còn chưa giao cho họ trách nhiệm lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ, vì đó là đại nguyện của Như Lai, Như Lai phải làm cho trọn. Chừng nào đến lúc, Như Lai sẽ có quyết định hợp thời.

Bị Phật chê giữa đám đông, trong đó có cả vua Bimbisara, Devadatta lấy làm xấu hổ. Mặt thầy đỏ lên. Thầy đi trở về chỗ ngồi, không nói thêm một lời nào nữa.

Ngày hôm sau, trên núi Griddhakuta (Linh Thứu), thầy Ananda tâm tình với Phật :- Thưa Thế Tôn, sư huynh Devadatta là người háo danh, lại bị Thế Tôn chê trước đám đông, chắc sư huynh sẽ tìm mọi cách để trả thù. Con nghĩ là sẽ có chia rẽ trầm trọng trong giáo đoàn.

Nếu Thế Tôn thấy con có thể đi nói chuyện riêng với sư huynh Devadatta để khuyên nhủ thì con xin đi.

- Ananda, sở dĩ Như Lai phải chê Devadatta ngay giữa đám đông và trước mặt quốc vương là vì Như Lai có ý muốn cho mọi người thấy rằng Devadatta không phải là nhân vật quan trọng trong giáo đoàn, và những hành vi và lời nói của Devadatta sau này chỉ có một mình Devadatta chịu trách nhiệm, chúng ta không phải gánh chịu trách nhiệm ấy.

Ananda, nếu thầy thấy có thể khuyên Devadatta hồi tâm thì thầy cứ đi thử. Vài hôm sau, y sĩ Jivaka lại lên núi Griddhakuta thăm Phật. Ông trình với Phật rằng, theo tin ông được biết, hình như Devadatta đang chuẩn bị kế hoạch tách rời khỏi giáo đoàn với sự yểm trợ của thái tử Ajatasattu.

(Prajnendriya) là ở trong định khởi trí quán, rõ biết các pháp như thật tánh (rõ biết chân lý).
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Thu 09 Sep 2010, 22:01

Devadatta lập giáo đoàn riêng tại Gayasisa [9]

Thấm thoát mà đã đến ngày Phật thuyết pháp hằng tháng tại tinh xá Venuvana. Kỳ nào quần chúng đến nghe cũng thật đông. Kỳ này cũng có mặt vua Bimbisara và cả thái tử Ajatasattu nữa. Thượng tọa Ananda để ý thấy các vị khất sĩ ở các vùng lân cận tựu về đông gắp đôi kỳ trước.

Thượng tọa Devadatta cũng có mặt ở hàng đầu các vị khất sĩ, giữa hai Thượng tọa Sariputta và Mahakassapa.
Cũng như lần trước, sau khi Phật thuyết pháp xong, Thượng tọa Devadatta đứng dậy, đến trước mặt Phật, chấp tay đảnh lễ, rồi nói :

- Bạch Thế Tôn, người đã từng dạy các vị khất sĩ nên sống theo các nguyên tắc thiểu dục và tri túc, bỏ dần các ham muốn, sống thật đơn giản với những điều kiện vật chất tối thiểu.

Hôm nay con xin đề nghị một quy chế năm điểm để thực hiện các nguyên tắc ít ham muốn và biết đủ đó :


Ðiểm thứ nhất, các vị khất sĩ phải ở suốt đời trong rừng hoặc trong vườn cây, không được ngủ trong thành phố hay trong thôn xóm.
Ðiểm thứ hai, các vị khất sĩ phải đi khất thực suốt đời, không được đáp lời mời của giới cư sĩ tới thọ trai ở nhà họ.

Ðiểm thứ ba, các vị khất sĩ chỉ có quyền lượm giẻ rách hoặc vải vụn để kết lại thành y chứ không được nhận y do giới cư sĩ cúng dường.
Ðiểm thứ tư, các vị khất sĩ chỉ được ngủ dưới gốc cây, không được ngủ trong phòng ốc, am, thất.

Ðiểm thứ năm, các vị khất sĩ chỉ được phép ăn chay, không được động tới thịt, cá.
Thưa Thế Tôn, nếu giáo đoàn khất sĩ theo đúng năm điểm này thì chắc chắn các nguyên tắc thiểu dục và tri túc mới được thực hiện nghiêm chỉnh.

- Này Devadatta, Như Lai không chấp nhận sự bắt buộc phải làm theo năm điểm ấy, vì năm điểm đó giới hạn những dịp dân chúng có thể tiếp xúc với khất sĩ để được học hỏi về chánh pháp.

Những vị khất sĩ nào muốn theo năm điểm đó thì cứ theo, nhưng những vị khác không bị bắt buộc phải theo.

Cũng như về việc ăn chay, các vị khất sĩ có thể tạm thọ nhận thức cúng dường mà người đàn việt đã làm sẵn, trong đó có ngũ tịnh nhục[10], nghĩa là không phải vì các vị khất sĩ mà người đàn việt sát sanh. Devadatta, theo pháp chế hiện thời, các vị khất sĩ có đủ cơ hội để tiếp xúc và hướng dẫn người cư sĩ, nhất là những người mới có duyên tiếp xúc lần đầu với đạo giác ngộ.

- Như vậy là Thế Tôn không chấp nhận pháp chế năm điểm của tôi à ?
- Không, Devadatta, Như Lai không chấp nhận pháp chế năm điểm của thầy đề nghị. Devadatta cúi chào Phật rồi trở về chỗ ngồi, miệng mỉm cười, không có vẻ gì thất vọng.

Sau đó, mọi người nhận thấy trong lễ bố-tát tụng giới mỗi nửa tháng tại tinh xá Venuvana vắng mặt khoảng 300 vị khất sĩ. Ai cũng biết các vị này dự lễ bố-tát tại tinh xá Gayasisa do Thượng tọa Devadatta tổ chức. Sau lễ bố-tát, một số khất sĩ xin gặp Phật và bạch rằng :

- Bạch Thế Tôn, các sư huynh theo Thượng tọa Devadatta nói với chúng con nên theo về giáo đoàn của Thượng tọa Devadatta lãnh đạo ở tinh xá Gayasisa, vì bên ấy pháp chế nghiêm chỉnh hơn pháp chế của Thế Tôn nhiều, nhờ áp dụng triệt để pháp chế năm điểm do Thượng tọa Devadatta đề nghị vừa rồi.

Họ nói tu như bên Venuvana (Trúc Lâm) thì sướng quá, có khác gì người không tu đâu. Các vị khất sĩ trẻ, nhất là những vị xuất gia với Thượng tọa Devadatta ở xứ Vajji đều theo về tinh xá Gayasisa. Xin Thế Tôn dạy chúng con nên đối xử với các sư huynh bên ấy như thế nào ?

- Này các thầy, Phật bảo, các thầy đừng bận tâm quá về vụ này. Mỗi người đều có quyền tự do theo vị đạo sư mà họ tin tưởng và kính trọng. Ðiều quan trọng là quý thầy phải hiểu rõ giáo pháp của Như Lai.

Có điều gì nghi ngờ hoặc chưa hiểu rõ thì nên học hỏi cho tường tận, rồi tự mình phải tinh tấn tu tập thiền quán và sống đời phạm hạnh cho xứng đáng tùy theo khả năng mình.


Vài ngày sau, y sĩ Jivaka lên thăm Phật trên núi Griddhakuta (Linh Thứu). Ông cho biết là hiện có trên 500 vị khất sĩ đã theo về với Thượng tọa Devadatta ở núi Gayasisa (Tượng Ðầu).

Ðồng thời Thượng tọa Devadatta và thái tử Ajatasattu còn đang âm thầm vận động một diễn biến quan trọng trong lãnh vực chính trị để đưa thái tử lên ngôi quốc vương.

Theo ý ông, đức Phật nên cẩn thận và có những biện pháp cần thiết để tránh tai tiếng về âm mưu bất chính của Devadatta và Ajatasattu.

Tin Thượng tọa Devadatta lập giáo đoàn riêng tại Gayasisa làm chấn động dư luận tại thủ đô Rajagriha (Vương Xá) và cả các xứ lân cận. Các vị khất sĩ đi khất thực thường bị dân chúng hỏi các thầy thuộc giáo đoàn nào.

Thượng tọa Sariputta dặn các thầy chỉ nên trả lời vắng tắt như sau: " Ai gieo nhân xấu sẽ gặt quả xấu. Chia rẽ giáo đoàn là một trọng tội đối với đạo pháp." Một hôm, sau giờ thuyết pháp của Phật, có vị khất sĩ hỏi :

- Bạch Thế Tôn, hằng ngày chúng con đi khất thực thường bị thí chủ hỏi về các hành động và những lời tuyên bố của Thượng tọa Devadatta chỉ trích Thế Tôn, chúng con không biết phải trả lời thế nào cho hợp lẽ, khỏi mang tội chia rẽ giáo đoàn. Xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ dạy.

- Các thầy nên nói là Devadatta đã tự ý tách ra khỏi giáo đoàn, hiện không còn giữ một chức vụ gì trong giáo đoàn của Như Lai. Devadatta hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời tuyên bố và hành động của ông ta. Các thầy nên thông báo cho dân chúng biết như thế.

- Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Sariputta hỏi, ngày xưa con đã từng tán thán tài đức của sư huynh Devadatta trước mặt mọi người, bây giờ khi có người hỏi về những hành động và lời tuyên bố của sư huynh, không lẽ con lại vạch ra những điểm không tốt.

- Sariputta, ngày xưa thầy tán thán tài đức của Devadatta, thầy có nói sự thật không ?
- Bạch Thế Tôn, con đã nói sự thật.
- Bây giờ, nếu thầy vạch ra những điểm không tốt của Devadatta, thầy có nói sự thật không ?
- Bạch Thế Tôn, con cũng chỉ nói sự thật mà thôi.
- Như vậy thì đâu có gì là chướng ngại.

Những ngày sau đó, trong dịp tiếp xúc với quần chúng, các vị khất sĩ báo tin cho mọi người biết là Thượng tọa Devadatta đã ra khỏi giáo đoàn, và từ nay Phật và giáo đoàn không còn chịu trách nhiệm gì về những hành động và lời tuyên bố của Thượng tọa Devadatta nữa.

Trong khi đó hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana vẫn luôn luôn giữ im lặng. Thấy vậy Thượng tọa Ananda hỏi :

- Các sư huynh không nói gì hết, chắc các sư huynh đã có chủ ý ?
- Ðúng vậy, Ananda, chúng tôi đã có chủ ý phụng sự đức Thế Tôn và giáo đoàn bằng những phương tiện khác.

Thái-tử Ajatasattu soán ngôi vua


Một buổi sáng, trong cơn mưa gió ảm đạm, dân chúng thủ đô Rajagriha (Vương Xá) được tin quốc vương Bimbisara thoái vị, nhường ngôi cho con là thái tử Ajatasattu (Thiện-Kiến, A-Xà-Thế).

Lễ đăng quang của thái tử sẽ được tổ chức trong vòng mười hôm, vào ngày trăng tròn sắp tới. Nguồn tin đột ngột này làm cho mọi người bàng hoàng không biết đã có chuyện gì xảy ra trong hoàng cung.

Vài hôm sau, Jivaka lên núi Griddhakuta thăm Phật. Ông xin phép được nói chuyện riêng với ngài. Jivaka kể cho Phật nghe là cách đây độ một tuần, ngự lâm quân thấy thái tử đột nhập vào cung vua giữa đêm khuya.

Thấy dáng điệu khả nghi, họ chận xét và tìm thấy một thanh gươm dấu trong áo của thái tử. Họ đưa thái tử vào gặp vua, trình lên vua thanh gươm và kể lại tự sự. Vua hỏi :

- Ajatasattu, ban đêm con mang gươm vào cung để làm gì ?
- Tâu phụ vương, con muốn hành thích phụ vương.
- Tại sao con muốn giết ta ?
- Tâu phụ vương, con muốn làm vua.
- Nếu con muốn làm vua, chỉ cần nói với ta một tiếng ta sẽ nhường ngôi cho. Tại sao lại phải giết cha cho mang tội ?
- Tâu phụ vương, con không biết như vậy. Con đã lỡ lầm, xin phụ vương tha tội cho con.
- Ðược rồi. Nhưng ai xúi giục con làm chuyện này ? Chẳng lẽ con tự ý làm một mình ?
Thái tử Ajatasattu im lặng. Vua gạn hỏi một hồi, thái tử tiết lộ là có sự hợp tác của Thượng tọa Devadatta.

Vua cho gọi hai vị đại thần thân tín của vua vào cung, ngay lúc nửa đêm. Vua thuật hết cho họ nghe và hỏi ý kiến của họ. Một vị đề nghị nên xử trảm Ajatasattu, Devadatta và tất cả những người liên hệ trong vụ này để trừ hậu hoạn.

Một vị đề nghị nên hỏi ý kiến đức Phật là vị sáng suốt giác ngộ, hơn nữa trong vụ này còn có Devadatta, con vua Suppabuddha (Thiện-Giác vương) xứ Koliya, vừa là em cô cậu vừa là đệ tử của Phật.

Vua Bimbisara suy nghĩ một hồi rồi nói :

- Từ lâu trẫm đã muốn thoái vị để xuất gia theo Phật. Bây giờ chắc đã đến lúc. Thôi được. Ngày mai trẫm sẽ ban chiếu truyền ngôi cho thái tử Ajatasattu. Mười hôm sau, vào ngày trăng tròn, sẽ làm lễ đăng quang cho thái tử.

- Tâu bệ hạ, còn tội mưu sát ?
- Trẫm tha thứ cho con trẫm và cho Thượng tọa Devadatta. Mong rằng hai người ấy, khi đã được toại nguyện, sẽ thấy được tấm lòng bao dung của trẫm, và sẽ có đức độ hiền hòa đối với thần dân.

Rồi vua cho vời thái tử vào để thông báo ngay quyết định của vua, đồng thời căn dặn mọi người không nên tiết lộ vụ ám sát này cho người ngoài biết.

Nhưng ba ngày sau, thái tử Ajatasattu ra lệnh nhốt vua Bimbisara trong cung cấm, không ai được ra vào thăm viếng, trừ hoàng hậu Videhi. Hai vị đại thần thân tín của vua cũng bị bắt giam.

Gia đình hai vị này được thông báo là hai vị được lưu lại ăn ngủ trong cung để luận bàn chính sự trong vòng bảy hôm.


Y sĩ Jivaka cho Phật biết là những chuyện trên hoàn toàn được giữ bí mật. Sở dĩ ông được biết là vì ông được gọi tới chữa bệnh cho hoàng hậu Videhi.

Hoàng hậu đã thuật lại cho ông nghe và bảo ông lên núi bạch lại với Phật tất cả sự thật. Y sĩ Jivaka nói tiếp :

- Bạch Thế Tôn, con mong là sau lễ đăng quang, Ajatasattu sẽ trả tự do lại cho thượng hoàng và hai vị đại thần.

Trình xong mọi việc, Jivaka lạy Phật rồi xuống núi.
Ðức Phật cho gọi Thượng tọa Sariputta đến, bảo :

- Này Sariputta, Như Lai sẽ không đến dự lễ đăng quang của vua Ajatasattu, và Như Lai mong rằng tất cả các vị khất sĩ của giáo đoàn cũng không nên đến dự lễ. Chúng ta không nên can dự vào việc ác đức này.

- Bạch Thế Tôn, con hiểu rồi. Con sẽ thông báo với đại chúng là Thế Tôn sẽ không về dự lễ đăng quang và Thế Tôn muốn các vị khất sĩ trong giáo đoàn cũng không về dự lễ này.

Ngày lễ đăng quang đã tới. Không thấy Phật và các vị khất sĩ trong giáo đoàn do người lãnh đạo đến dự lễ, dân chúng bắt đầu tự đặt câu hỏi.

Rồi từ đó tìm ra sự thật, biết rằng thượng hoàng và hai vị đại thần hiện còn đang bị biệt giam và bỏ đói. Dân chúng cũng nhận thấy sự có mặt đầy đủ của giáo đoàn do Thượng tọa Devadatta lãnh đạo.

Họ nhận thấy sự khác biệt giữa hai giáo đoàn. Một phong trào âm thầm chống đối trong dân chúng đối với vị vua mới và giáo đoàn độc lập lần hồi được phát hiện.

Vua Ajatasattu được báo cáo về phong trào chống đối âm thầm trong dân chúng, liền triệu Thượng tọa Devadatta vào cung để vấn kế.
Ajatasattu và Devadatta âm mưu ám sát Phật


Một hôm, vào giữa đêm khuya, trong lúc đức Phật đang ngồi thiền trên núi Griddhakuta, chợt nghe một tiếng động nhẹ sau một tảng đá lớn, Phật lên tiếng :
- Ai đó ? Ðến đây làm gì vào giờ này ? Có việc gì cần cứ đến đây nói.
Một thanh niên vạm vỡ, tay cầm gươm nhưng có vẻ rụt rè run sợ, ngập ngừng bước đến trước Phật rồi vội quỳ mọp xuống đảnh lễ và thưa rằng :

- Thưa đạo sư, con được lệnh đến đây để giết ngài. Nhưng con không dám. Xin đạo sư tha tội cho con. Nhưng nếu con không giết được ngài thì con cũng không dám trở về vì con sẽ bị chủ tướng giết.

Thưa đạo sư, con sợ lắm, con phải làm sao bây giờ ?

- Ai đã sai anh đến giết Như Lai ?
- Dạ, chủ tướng của con. Nhưng con không dám nói tên chủ tướng của con ra đâu.
- Anh không nói cũng được. Nhưng chủ tướng của anh nói với anh thế nào ?
- Thưa đạo sư, chủ tướng của con chỉ cho con đường lên núi để giết đạo sư trong lúc ngài đang ngồi thiền giữa đêm. Xong rồi con phải đi một con đường khác để trở về báo cáo với chủ tướng.
- Anh có vợ con gì không ?
- Dạ không, con chỉ có một bà mẹ già.
- Anh hãy nghe đây. Nghe cho kỹ và làm đúng theo lời Như Lai bảo thì sẽ tránh khỏi chết. Anh hãy về nhà ngay, đem mẹ anh vượt biên giới trốn sang nước Kosala ngay lập tức.

Nhưng anh không được xuống núi bằng con đường mà chủ tướng của anh đã chỉ định, nếu không anh sẽ bị mai phục giết chết. Anh phải xuống núi bằng một con đường khác cách xa con đường đó. Thôi, anh đi đi.

Người thanh niên lạy tạ rồi vội vã đứng dậy đi, để lại thanh gươm trên nền đá.
Sau lần thất bại đó, Devadatta lại thuê 31 tên hung thủ phục kích bắn lén Phật. Nhưng khi thấy Phật đi ngang qua với vẻ thanh thản, điềm đạm, oai nghi thì họ đều sanh lòng cảm phục, bước ra thú tội và xin được xuất gia.[13]

Thượng hoàng Bimbisara bị bỏ đói trong nhà giam


Sáng sớm hôm sau, hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana đến bạch Phật :
- Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ là đã đến lúc chúng con phải đến Gayasisa để dìu dắt các sư huynh bên ấy khỏi lầm đường lạc lối. Chúng con xin phép Thế Tôn cho chúng con vắng mặt một thời gian.

- Các thầy muốn đi thì cứ đi. Nhưng hãy cẩn thận để bảo toàn sanh mạng.
Thượng tọa Moggallana chợt nhìn thấy thanh gươm trên nền đá, vội hỏi :
- Bạch Thế Tôn, có chuyện gì đã xảy ra nơi đây ?

- Có người định ám sát Như Lai, nhưng Như Lai đã độ cho ông ta rồi.
- Devadatta đã quyết tâm gia hại Thế Tôn, chúng con xin Thế Tôn hãy cẩn trọng.
- Không sao đâu, các thầy cứ an tâm đi. Như Lai biết xử sự theo thời.
Hai vị đại đệ tử đảnh lễ Phật rồi xuống núi.
Qua hôm sau, đức Phật và Thượng tọa Ananda được y sĩ Jivaka mời đến nhà riêng của ông trong vườn xoài để thọ trai.

Ðến trưa, lúc Phật và Thượng tọa Ananda vừa thọ trai xong, y sĩ Jivaka thông báo có hoàng thái hậu Videhi đến viếng. Ðức Phật biết ngay chính Jivaka xếp đặt cho thái hậu gặp Phật.

Thái hậu đến nơi đảnh lễ Phật xong, ngồi khóc nức nở. Mọi người đều im lặng. Một lúc sau, Phật hỏi :


- Có chuyện gì xin thái hậu cứ nói.
- Bạch Thế Tôn, tình trạng của thượng hoàng rất nguy ngập. Ajatasattu quyết định bỏ đói thượng hoàng cho đến chết. Nó không cho con đem thức ăn vào nhà giam cho thượng hoàng nữa.

Rồi bà kể rằng mấy ngày đầu bà còn được mang thức ăn vào cho thượng hoàng. Nhưng sau lễ đăng quang, lính canh bảo được lịnh vua không cho bất cứ ai mang thức ăn vào, kể cả thái hậu.

đó mỗi lần vào thăm, bà lén giấu vài vắt cơm trong tóc cho thượng hoàng ăn đỡ dạ. Nhưng được một tuần thì lính canh khám xét thật kỹ, bắt gặp mấy vắt cơm giấu trong tóc.

Chúng nó xin lỗi bà vì vừa được lịnh vua phải khám bà thật kỹ; vua bảo đã nhịn ăn một tuần rồi sao không thấy thượng hoàng mất sức.

Túng thế quá, bà mới nghĩ cách: trước khi vào thăm thượng hoàng, bà tắm rửa sạch sẻ, rồi trát một lớp cám rang trộn mật ong vào mình trước khi mặc áo.

Nhưng chỉ được vài ngày cơ mưu bị bại lộ, và bà bị cấm hẳn không được vào thăm thượng hoàng nữa. Kể tới đây, bà khóc nức nở một hồi rồi nói :

- Bạch Thế Tôn, con khổ quá. Chắc thượng hoàng không còn sống được mấy ngày nữa. Ở trong phòng giam, ngày nào thượng hoàng cũng đứng nhìn lên núi Griddhakuta qua một khung cửa sổ nhỏ có song sắt, mong được nhìn thấy bóng dáng đức Thế Tôn.

Sau khi thoái vị, thượng hoàng rất mong được xuất gia theo Thế Tôn sống đời phạm hạnh. Tuy bị giam cầm, nét mặt thượng hoàng lúc nào cũng bình thản, đầy tha thứ đối với đứa con ngỗ nghịch.

Con đã khóc nhiều với thượng hoàng. Con nói với thượng hoàng là con quyết tâm cầu nguyện cho kiếp sau con và thượng hoàng được sanh về nơi nào không có những đứa con ngỗ nghịch .... Con khổ quá, xin Thế Tôn giúp con.

- Thưa thái hậu, xin bà chớ quá đau khổ. Việc gì cũng có nguyên nhân và hậu quả. Sự việc xảy ra như thế là vì trước kia, trong khi cầu tự mong được có con nối dõi, thượng hoàng có lên núi gặp một đạo sĩ chuyên tu thiền định để cầu xin đạo sĩ giúp dùm.

Vị đạo sĩ kia bảo phải chờ hai mươi năm nữa, khi đạo sĩ mãn phần sẽ thọ sanh làm con thượng hoàng. Thượng hoàng có bảo vị đạo sĩ phải cam kết giữ đúng lời hứa sẽ thọ sanh làm con ngài sau khi mạng chung.

Nhưng sau đó thượng hoàng nóng lòng mong có con sớm mới sai người lên núi giết vị đạo sĩ trong lúc đang ngồi thiền định. Vị đạo sĩ đó đã tái sanh làm Ajatasattu như đã cam kết và đòi món nợ máu.

- Bạch Thế Tôn, đúng rồi. Hèn chi lúc con mang thai Ajatasattu con rất thèm cắn vào bàn tay của thượng hoàng để hút máu. Con phải tự cố gắng chống lại sự thèm khát ghê tởm đó.

Một hôm, thượng hoàng cầm dao gọt trái cây bị đứt tay, con liền cầm tay thượng hoàng đưa vào miệng, hút máu một cách say sưa. Con tự cảm thấy xấu hổ và ghê tởm lấy con.

Con buông tay thượng hoàng ra, khóc nức nở. Thượng hoàng hỏi tại sao con khóc. Con nói thiệt. Thượng hoàng lấy làm lạ, an ủi con, rồi gọi chiêm tinh gia đến hỏi. Chiêm tinh gia nói đứa con trong bụng sau này sẽ làm hại vua.

Con buồn quá, có lần con tự lấy tay chà xát bụng con thật mạnh để phá thai , nhưng rốt cuộc không có kết quả gì. Lúc Ajatasattu được ba tuổi, có lần nó chơi cầm dao chạy tới đòi giết thượng hoàng.

Thượng hoàng kinh hãi bồng nó ném xuống lầu nhưng nó chỉ bị gãy một ngón tay.

Bạch Thế Tôn, nhưng quả thật con không chịu nổi cảnh một đứa con đối xử với cha mẹ một cách ác độc như thế. Xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ cho con nơi nào không có con cái ngỗ nghịch để con cầu xin tái sanh về nơi đó.

Ðức Phật ngồi nghiêm chỉnh, phóng quang đến khắp các cõi thế giới để quan sát, rồi nói rằng[14]:

- Ở phương tây có cõi Tịnh-độ của đức Phật A-di-đà (Amitabha), nơi đó chúng sanh đều từ hoa sen hóa sanh ra, tâm tánh đều thuần thục hiền hòa.

Ai muốn cầu sanh về cõi đó phải giữ giới đức cho thân tâm thanh tịnh rồi chí thành niệm danh hiệu của đức Phật A-di-đà, đến khi lâm chung sẽ được ngài tiếp độ. Nhưng nơi cõi đó tất cả chúng sanh đều thuộc phái nam, không có nữ giới.

Nếu thái hậu đã quyết tâm cầu sanh về cõi Tịnh-độ thì nên ăn trường chay, mỗi ngày nên tắm gội sạch sẽ rồi trì niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà và chí thành cầu nguyện, nhất là lúc hấp hối phải chí tâm nhớ tưởng đến ngài.

Thái hậu Videhi nghe lời Phật chỉ dạy xong, lãnh thọ phụng hành, đảnh lễ Phật rồi trở về cung. Ðức Phật và Thượng tọa Ananda cũng từ giã Jivaka, trở lên núi Griddhakuta.

Sariputta và Moggallana đến Gayasisa


Sau khi từ giã Phật trên núi Griddhakuta, hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana trở về tinh xá Venuvana thu xếp vài việc rồi âm thầm đi đến núi Gayasisa. Hai vị đến nơi lúc Thượng tọa Devadatta đang thuyết pháp.

Thượng tọa Devadatta thấy Thượng tọa Sariputta và Thượng tọa Moggallana đến thì vô cùng mừng rỡ, mời hai vị cùng ngồi chung trên pháp tòa.
Nhưng hai vị từ chối, chỉ xin được ngồi chung với các đại đức khác trong hàng thính chúng. Sau khi kết thúc pháp thoại, Thượng tọa Devadata nói :


- Hôm nay có hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana đến với chúng ta. Ðây là một tin vui lớn cho giáo hội Gayasisa. Hai Thượng tọa đã từng là hai người bạn rất thân của ta và là những khất sĩ có biện tài lỗi lạc.

Vậy tôi xin nhường lời lại hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana tiếp tục buổi thuyết pháp hôm nay.

Nói xong, Devadatta đứng lên chỉ tay về chỗ Sariputta và Moggallana đang ngồi. Hai Thượng tọa đứng dậy.

Một tràng pháo tay nổ dòn tán thưởng. Thượng tọa Sariputta lên pháp tòa nói về Tứ Diệu Ðế, thầy nói thật hay và thật hấp dẫn về các đau khổ ở đời, về các nguyên nhân sâu xa của đau khổ, về hạnh phúc chân thật của đời sống thánh thiện, và về cách tận diệt đau khổ tận gốc rễ.

Thầy nhấn mạnh về các phương pháp thật hành giới, định, huệ để tránh khổ đau. Ða số thính chúng hoan hỷ lắng nghe và lãnh thọ. Riêng Devadatta thì có vẻ mỏi mệt, ngồi ngủ gật.

Hai thầy Sariputta và Moggallana ở lại Gayasisa hơn một tháng, tham dự vào tất cả những sinh hoạt của giáo đoàn. Cứ ba hôm, Thượng tọa Sariputta lại thuyết pháp và giảng dạy chung cho các khất sĩ.

Mỗi ngày Thượng tọa Moggallana giải thích thêm về phần thực hành và những chỗ khó hiểu trong giáo lý. Các khất sĩ nơi đây đã xem hai thầy là bậc đàn anh đáng kính và đáng tin cẩn.

Nhưng thầy Kokalika, người phụ tá thân tín của Devadatta, khuyên Devadatta không nên quá tin tưởng hai thầy. Devadatta không đồng ý, trái lại rất thích thú khi thấy có người phụ trách dạy dỗ các khất sĩ thay cho mình.

Một hôm, sau buổi thuyết pháp về Tứ Niệm Xứ, Thượng tọa Sariputta nói với các vị khất sĩ :
- Này các huynh đệ, chiều hôm nay tôi và sư huynh Moggallana sẽ từ giã các huynh đệ.

Chúng tôi phải trở về với Phật và giáo đoàn do ngài lãnh đạo. Thưa các huynh đệ, chúng ta chỉ có một đấng thánh nhân giác ngộ hoàn toàn trên đời này mà thôi. Vị đó là đấng Thế Tôn Sakyamuni.

Chính ngài đã thành đạo dưới cội bồ-đề cách nay 37 năm. Chính ngài đã sáng lập giáo đoàn khất sĩ với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo tại Isipatana, gần Benares. Này các huynh đệ, chia rẽ giáo đoàn là một trọng tội[16].

Các huynh đệ nên trở về sám hối với đức Thế Tôn. Chúng tôi tin rằng với lòng từ bi cao cả của ngài, chúng ta sẽ được thu nhận lại như cũ. Ðối với tôi, chỉ có đấng Thế Tôn Sakyamuni là vị đạo sư chân chánh của tất cả chúng ta mà thôi.

Hai anh em tôi xin chào các huynh đệ. Nếu các huynh đệ muốn trở về với đức Thế Tôn thì các huynh đệ hãy đến tinh xá Venuvana, chúng tôi sẽ đưa các huynh đệ lên Griddhakuta để phát lồ sám hối.

Nói xong, hai Thượng tọa từ giã đại chúng rồi im lặng trở về Venuvana. Hôm đó Devadatta bận việc phải về kinh đô Rajagriha. Kokalika đứng dậy phản đối, nhưng không ai có phản ứng gì cả.

Hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana về đến Venuvana được năm hôm thì có 385 vị khất sĩ từ Gayasisa tìm về. Theo lời chỉ dạy của đức Phật, hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana chỉ dẫn nghi thức cho họ làm lễ phát lồ sám hối trước đại chúng, rồi hướng dẫn họ lên núi Griddhakuta đảnh lễ Phật.

Phật dạy các vị khất sĩ về Lục Hòa và khuyên các vị nên triệt để tôn trọng và thực hành Lục Hòa trong giáo đoàn khất sĩ, và tinh tấn tu học theo sự hướng dẫn của các vị Thượng tọa.

Ðộ một tuần sau có thêm 35 vị khất sĩ nữa từ Gayasisa trở về Venuvana. Thượng tọa Sariputta cũng cho họ làm lễ phát lồ sám hối trước đại chúng, rồi đưa họ lên núi Linh Thứu trình diện với Phật. Thượng tọa Ananda hỏi thăm 35 vị Khất sĩ về tình hình tại Gayasisa. Một vị khất sĩ đáp :

- Khi Thượng tọa Devadatta từ Rajagriha trở về Gayasisa, thấy gần bốn trăm sư huynh đã theo hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana trở về Venuvana thì giận lắm. Nhưng thầy chỉ trách sơ qua là mấy người bỏ đi đã vong ơn thầy và không biết phân biệt nơi nào tu chính chắn hơn, rồi thầy làm thinh.

Hai ngày sau thầy lại trở về thủ đô để gặp vua Ajatasattu. Trong lúc đó Thượng tọa Kokalika cứ tới lui nguyền rủa những người đã bỏ đi, làm cho những người còn ở lại cũng cảm thấy khó chịu.

- Không biết hai sư huynh Sariputta và Moggallana đã nói gì với các huynh đệ mà các huynh đệ bỏ Devadatta trở về với Phật đông như thế ?

- Hai sư huynh đó không hề nói gì động tới Devadatta cả. Hai thầy chỉ lo thuyết pháp và dạy dỗ chúng tôi rất chí tình. Phần đông anh em chỉ mới được hai ba hạ nên còn non nớt về giáo lý cũng như về thực hành.

Ðược hai thầy hết lòng chỉ dạy trong vòng một tháng mà anh em cảm thấy tiến bộ rất nhiều và hiểu được phần nào giáo lý cao thượng của đức Thế Tôn, và biết được chính đức Thế Tôn mới là bậc Ðại Giác Ngộ duy nhất hiện nay ở thế gian này, và cũng chính ngài đã thành lập giáo đoàn khất sĩ đầu tiên tại Isipatana với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo. Vì vậy nhiều anh em đã quyết định trở về với Phật.

- Vậy còn Thượng tọa Kokalika thì sao ?
- Thượng tọa Kokalika thấy anh em bỏ đi thì giận lắm, nguyền rủa hai sư huynh thậm tệ[17] và trách Thượng tọa Devadatta không thấy xa, quá tin cậy hai sư huynh nên bị gạt

Devadatta lăn đá hại Phật[18]

Một buổi chiều, trong khi đức Phật đang đi bách bộ xuống núi, từ đông sang tây, trên con đường Bimbisara, trên sườn núi Griddhakuta, đến chỗ đường hẹp hai bên có dốc đá cao thì Devadatta đứng trên dốc cao phía nam lăn xuống một tảng đá lớn.

Ðức Phật đang đi trên con đường hẹp giữa hai dốc đá, không tài nào tránh khỏi tảng đá tròn, lớn, từ trên cao lăn xuống. Nhưng khi tảng đá kia lăn xuống đến lưng chừng dốc thì chạm vào giữa hai tảng đá khác làm văng ra nhiều mảnh nhỏ.

Chỉ có một mảnh văng trúng vào chân của Phật làm chảy máu ướt cả vạt áo sanghati. Các vị khất sĩ phải khiêng Phật xuống chân núi Linh-Thứu, để ngài nằm nghỉ tại đền Mardakukshi[19] (Pali: Maddakuchchi).

Ðức Phật bảo các vị khất sĩ hãy khiên ngài đến vườn xoài của ông Jivaka ở gần đó. Ðến nơi, y sĩ Jivaka liền tẩy trùng, đắp thuốc cầm máu, rồi băng bó vết thương cho Phật. Xong xuôi, ông nói:

- Bạch Thế Tôn, con có một bệnh nhân đang chờ con trong thành Rajagriha. Sau khi thăm bệnh nhân này, con sẽ trở về ngay. Trong khi chờ đợi, xin Thế Tôn cứ nằm nghỉ và đừng động gì đến vết thương cả.

Nhưng sau khi thăm bệnh nhân trở về thì cổng thành đã đống. Ông Jivaka than:
- Nếu ta không về kịp để tháo băng ra thì đêm nay vết thương sẽ làm Thế Tôn đau đớn lắm !
Trong lúc đó đức Phật bảo Thượng Tọa Ananda :

- Này Ananda, Jivaka về trể, cổng thành đã đóng, không thể qua được. Ông ta nghĩ rằng đã đến lúc tháo băng ra. Vậy thầy hãy tháo băng ra đi.
Thượng Tọa Ananda tháo băng ra thì thấy vết thương đã lành. Thượng tọa hỏi :
- Bạch Thế Tôn, sư huynh Devadatta làm chuyện ác nghiệt như thế sẽ phải chịu nghiệp báo như thế nào ?
- Này Ananda, có năm tội (ngũ nghịch) sau khi mạng chung phải sa vào địa ngục vô gián. Ðó là: Giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hiệp tăng và làm thân Phật ra máu. Ðó là năm nghiệp ác đưa đến sự đau khổ liên tục không ngừng ở địa ngục A-tỳ (Avici) cho đến khi hết nghiệp mới ra khỏi.

Sáng sớm hôm sau, Jivaka vừa về vội đến bên giường hỏi Phật :
- Bạch Thế Tôn, đêm qua vết thương có làm Thế Tôn đau đớn lắm không ?
- Này Jivaka, mọi đau khổ đã hoàn toàn chấm dứt đối với Như Lai.
Rồi đức Phật nói kệ :
Người đã sống đầy đủ, không còn biết buồn rầu.
Người đã tự giải thoát, khỏi ràng buộc thế gian,
Không còn gì vướng mắc, có gì là đau khổ. (Kinh Pháp-Cú, bài 90)

Hoàng tử Abhaya chất vấn Phật[20]


Một hôm hoàng tử Abhaya nghe theo lời ngoại đạo sư Nigantha Nataputta, thỉnh Phật đến tư gia cúng dường, rồi nhân đó nêu một câu hỏi khó trả lời như sau : Sa môn Gotama có bao giờ nói lời khó chịu làm buồn khổ người khác không ?

Nếu đức Phật trả lời Có thì đức Phật chẳng khác gì người thường; nếu đức Phật trả lời Không thì là nói dối vì đức Phật đã nói Devadatta sẽ bị trừng phạt tại địa ngục A-tỳ trong một kiếp, không thể nào tránh khỏi ?

Ngày hôm sau, đức Phật đến thọ trai xong, hoàng tử Abhaya hỏi :
- Thưa Sa-môn Gotama, có bao giờ ngài thốt ra lời nói khó chịu làm cho người khác buồn khổ không ?

- Tùy trường hợp. Nhưng sao hoàng tử hỏi Như Lai câu đó ?
- Thưa Sa-môn Gotama, thật ra đó là câu hỏi của đạo sư Nataputta. Nếu ngài đáp có thì ngài chẳng khác gì người thường; nếu ngài đáp không thì ngài nói dối vì ngài đã bảo Devadatta sẽ bị đọa địa ngục A-tỳ.

- Này Abhaya, nếu đứa bé đang ngồi trong lòng hoàng tử hiện giờ nuốt phải một miếng gỗ hay một hòn sỏi mắc cổ, thì hoàng tử sẽ làm gì ?
- Tôi sẽ lấy vật đó ra. Nếu gặp khó khăn thì tay trái tôi sẽ đè ngửa đầu nó ra, rồi dùng ngón tay mặt móc vật đó ra dù có thể làm cho nó đau và chảy máu. Vì sao? Chính vì tôi thương nó, muốn cứu nó.

- Cũng thế, này Abhaya, Như Lai không bao giờ nói sai sự thật, nói lời vô ích, nói lời khó chịu làm thương tổn người khác; cũng không bao giờ nói đúng sự thật một cách vô ích, gây khó chịu, thương tổn người khác; cũng không bao giờ nói sai sự thật, nói lời vô ích để làm vui lòng người khác; cũng không bao giờ nói đúng sự thật một cách vô ích để làm vui lòng người khác;

Như Lai chỉ nói những lời đúng sự thật và có ích lợi cho người nghe, dù có làm vui lóng người khác hay không.

Devadatta thả voi say hại Phật[21]

Một hôm, đức Phật và một số các vị khất sĩ, từ tốn trang nghiêm, đi từ tinh xá Venuvana (Trúc Lâm) vào thành Rajagriha (Vương Xá) để khất thực. Khi vừa đến cổng thành phía bắc, bỗng nghe tiếng dân chúng la hoảng, chạy tán loạn.

Một con voi to lớn từ chuồng voi hoàng gia phóng ra, đưa vòi lên cao, đuôi và hai tai thẳng đứng, miệng rống thật to, chạy thẳng về phía cổng thành. Ðó chính là con voi Nalagiri, nổi tiếng hung dữ nhất của nhà vua. Nó vừa chạy vừa la, bọt mép trào ra, hai mắt đỏ ngầu như điên như dại.

Thấy tình trạng quá nguy hiểm, một số khất sĩ vội chạy tìm chỗ núp hai bên đường, một số núp sau lưng đức Phật. Thượng tọa Ananda nắm tay Phật kéo sang một bên, nhưng đức Phật vẫn đứng yên tại chỗ.

Ananda vừa bước lên định đứng chận trước mặt Phật, bỗng nghe Phật hú lên một tiếng lớn và dài. Tiếng hú vang dội, trang nghiêm, oai vệ. Ðây là tiếng hú của con voi chúa trong rừng Rakkhita ở gần thành phố Parileyyaka.

Phật đã an cư một mình nơi đây vào hạ thứ 10, và ngài đã học được tiếng hú của con voi chúa gọi đàn voi đến tập họp bên bờ suối. Voi Nalagiri xông tới chỉ còn cách Phật chừng mươi bước, bỗng nghe tiếng hú vang dội, nó khựng lại đứng nghe, nét mặt từ hung dữ đổi sang hiền hòa, rồi ngoan ngoãn nằm mọp xuống đất.

Ðức Phật tiến tới, đưa tay sờ lên đầu voi với tất cả lòng từ bi cao cả của ngài. Rồi ngài nắm lấy vòi voi, thong thả dắt voi trở về chuồng trong tiếng hoan hô tán thán của dân chúng hai bên đường. Miệng voi còn tỏa ra mùi rượu nồng nặc.

Khi vào tới chuồng voi, đức Phật nghiêm nghị nhìn vị quản voi, rồi với giọng ôn tồn ngài bảo :
- Con voi Nalagiri này tâm tánh hung dữ bất thường, ông phải cẩn thận đừng bao giờ để nó sổng chuồng ra đường có hại đến sinh mạng của dân chúng.

- Bạch đức Thế Tôn, vị quản voi cung kính đảnh lễ và thưa, con không dám sơ sót như vậy. Vốn hồi sáng sớm có ngài Devadatta đến bảo con vào triều gặp vua có việc cần, ngài sẽ tạm giữ voi cho con đến lúc con trở về. Không dè lúc con vừa về tới nơi thì thấy xảy ra vụ này. Xin Thế Tôn tha tội cho con.

Chỉ trong vài hôm, tin Phật bị mưu sát ba bốn lần trong vòng hai tuần lễ được truyền đi khắp thủ đô. Quần chúng càng ngẩn ngơ, kinh hoàng, xôn xao khi hay tin thượng hoàng Bimbisara băng hà. Có người được biết ngài đã chết thê thảm trong ngục thất.

Thượng hoàng Bimbisara thọ 66 tuổi, ngài nhỏ hơn Phật 5 tuổi. Năm quy y làm đệ tử tại gia của Phật, ngài mới có 31 tuổi. Lên ngôi từ năm 15 tuổi, ngài đã trị vì trong 51 năm. Suốt 51 năm đó nước Magadha (Ma-kiệt-đà) luôn luôn được hòa bình, dân chúng an cư lạc nghiệp.

Chỉ trừ có một lần lâm chiến với vương quốc Anga. Trong cuộc chiến tranh đó vua Brahmadatta của xứ Anga đã thua trận, và xứ Anga bị lệ thuộc xứ Magadha.

Khi vua Taxila Pukkusati lên cầm quyền ở Anga, vua Bimbisara đã thiết lập liên lạc thân hữu với vị vua này và đưa vua này đến với đạo Phật. Ðể có hòa bình lâu dài, ngài đã kết thân với các nước láng giềng, cưới em ruột của vua Pasenadi xứ Kosala là Videhi làm chánh hậu, lập thứ hậu từ các hoàng tộc Madra và Licchavi.

Chị ruột của vua Bimbisara là Mallika cũng đã được gả cho vua Pasenadi làm hoàng hậu xứ Kosala.

Vua Bimbisara từng tỏ lòng thương kính Phật bằng cách làm một con đường đi từ chân đến đỉnh núi Griddhakuta để Phật đi được dễ dàng, và xây một tháp đựng tóc và móng tay của Phật trong vườn thượng uyển, đặt người thường xuyên đốt hương trầm và thấp đèn nến quanh tháp để cúng dường.

Ðến ngày làm lễ trà tỳ thượng hoàng Bimbisara, Phật tự thân hành tới dự lễ, và bảo tất cả các vị khất sĩ trong giáo đoàn cùng đi. Lễ trà tỳ được tổ chức rất long trọng. Quần chúng tiếc thương vị vua đạo đức của họ đã đến tham dự rất đông đảo.

Trên đường dự lễ về, Phật ghé vườn xoài của y sĩ Jivaka. Vị này cho Phật biết là sau khi thái hậu Videhi bị cấm không được vào thăm thượng hoàng thì ngài đã lìa đời trong nhà giam, bên cạnh không có một người thân thích.

Lúc nào ngài cũng nhìn lên đỉnh núi Linh-Thứu (Griddhakuta) mong được trong thấy bóng dáng đức Thế Tôn.
Một hôm y sĩ Jivaka dắt hoàng đệ Abhaya, con của vua Bimbisara và thứ hậu Padumavati, lên núi Griddhakuta trình diện với Phật. Abhaya xin được xuất gia.

Ông không còn tha thiết gì đến nếp sống phù hoa danh lợi. Ðã từng nghe Phật thuyết pháp nhiều lần, ông rất hâm mộ đạo lý giải thoát và ước mong được sống nếp sống thảnh thơi, vô ưu của người khất sĩ. Phật chấp nhận cho Abhaya xuất gia.

[1] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 486-490; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.
[2] Tứ niệm xứ là 4 đề tài thiền quán: thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã.

[3] Tứ chánh cần là 4 điều phải siêng năng thực hành: đoạn trừ những tư tưởng và hành động bất thiện đã sanh, ngăn ngừa những tư tưởng và hành động bất thiện chưa sanh, nuôi dưỡng những tư tưởng và hành động thiện đã sanh, làm nẩy nở những tư tưởng và hành động thiện chưa sanh.

[4] Tứ như ý túc là 4 điều phải làm đến nơi đến chốn: 1- Dục như ý túc là có tâm muốn làm các việc lành thì phải làm cho đến nơi đế chốn; 2- Niệm như ý túc là ghi nhớ các pháp lành một cách đày đủ và rành rẽ; 3- Tinh tấn như ý túc là siêng năng tu tập đến nơi đến chốn pháp môn đã chọn; 4- Tư duy như ý túc là suy nghĩ điều gì thì phải suy nghĩ chính chắn đến nơi đến chốn.

[5] Ngũ căn là 5 căn tánh cần thiết để tu tập có kết quả: Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm căn, Ðịnh căn và Huệ căn.
[6] Ngũ lực là 5 sức mạnh giúp cho việc tu tập chóng thành tựu: Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Ðịnh lực và Huệ lực.

[7] Thất bồ-đề phần hay Thất giác chi là 7 điều cần biết rõ cách thực hành để việc tu tập có kết quả: 1- Niệm giác chi là biết ghi nhớ đầy đủ rõ ràng Chánh pháp và các Pháp môn tu;
2- Trạch pháp giác chi là biết lựa chọn pháp môn tu đúng Chánh Pháp và hợp với khả năng mình;

3- Tinh tấn giác chi là biết phát tâm dõng mãnh tu tập pháp môn đã chọn, không gián đoạn; 4- Hỷ giác chi là biết khởi tâm vui mừng khi tu tập có tiến bộ để nuôi dưỡng lòng hăng hái;

5- Khinh an giác chi là biết cách đoạn trừ phiền não và ngã mạn cho thân tâm nhẹ nhàng thư thới;
6- Ðịnh giác chi là biết cách chú tâm thực hành pháp môn mình đã chọn để trừ vọng tưởng và an trụ tâm;
7- Xả giác chi là biết lìa bỏ tất cả vọng chấp (chấp ngã, chấp pháp), lià bỏ chỉ và quán, để tâm được rỗng-rang, bình-đẳng, thanh-tịnh.

[8] Bát chánh đạo là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðã giảng nghĩa ở phần trước.

[9] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 491-495.
[10] Ngũ tịnh nhục: 1- Loại thịt không thấy vì ta mà giết; 2- Loại thịt nghe người đáng tin nói chẳng phải vì ta mà giết; 3- Loại thịt không nghi vì ta mà giết; 4- Loại thịt thú do thọ mạng hết mà chết tự nhiên; 5- Loại thịt do thú dữ ăn còn dư.

[11] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428; Kinh A-Xà-Thế vương; Trường A-hàm 2, 17; Tăng-nhất A-hàm 12; Ðại Bát Niết-bàn 19, 20; Luật Ngũ Phần 3; Ðại Ðường Tây Vực Ký 9; Huệ Lâm Âm Nghĩa 25.
[12] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.
[13] Xem Buddha and the Gospel of Buddhism, trang 59.
[14] Kinh Vô Lượng Thọ, còn gọi là kinh Vô Lượng Quang.
[15] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.
[16] Tội ngũ ngịch gồm có : Tội giết mẹ, tội giết cha, tội giết A-la-hán, tội làm thân Phật ra máu, tội phá hòa hợp tăng. Ai phạm vào tội ngũ ngịch sẽ bị đọa vào "địa ngục vô gián" (avici), chịu khổ liên tục không gián đoạn cho đến khi đền xong tội mới ra khỏi ngục.
[17] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 247-249.
[18] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 197-198; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428; Kinh Xuất Diệu 14, 15, 16, 25; Luận Ðại Tỳ-bà-sa 83; Vinaya, Maha Vagga, viii.1: i.268-281.
[19] Ðền Maddakuchchi chính là nơi hoàng hậu Videhi đã chà xát bụng định phá thai, ở ngay dưới chân núi Griddhakuta.

[20] Xem Majjhima-nikaya 58: Abhaya-rajakumara sutta; The Life of Buddha as Legend and History, trang 136.
[21] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428; Tạp A-hàm 16, 18, 38, 48; Tăng Nhất A-hàm 5, 9, 11, 12, 23, 38, 48, 49; Kinh Hiền Ngu 6, 9, 13.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 25 Oct 2010, 09:00

Tiền Thân Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni

(Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005)
Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai
Phần 13

16- Hạ thứ 38 tại Jetavana (năm -552)

Mười hôm sau, đức Phật cùng với các Thượng tọa Sariputta, Moggallana, Ananda và độ 300 khất sĩ rời thành Rajagriha, đi lên miền bắc, vượt sông Ganga, tới thăm chúng khất sĩ ở tinh xá Mahavana, thuộc thủ đô Vesali của xứ Vajji. Rồi Phật lại lên đường hướng về thủ đô Sravasti của xứ Kosala. Mùa mưa sắp tới, ngài cần về Jetavana để kịp thời chuẩn bị cho khóa an cư.

Tới Sravasti, Phật đi thẳng về tinh xá Jetavana. Các thầy chờ Phật ở đây đông lắm. Năm nay các vị khất sĩ và nữ khất sĩ về đây an cư rất đông. Nghe tin đồn về những cuộc biến động ở thủ đô của xứ Magadha, mọi người đều mong gặp Phật để vấn an và biết thêm tin tức chính xác.

Ni sư Khema lãnh đạo một đoàn nữ khất sĩ đến thăm viếng Phật. Bà được ni chúng bầu lên thay thế ni sư Pajapati nay đã 113 tuổi.
Quốc vương Pasenadi nghe Phật trở về cũng lập tức đến thăm.

Phật kể lại cho vua nghe về các biến cố ở Rajagriha. Phật cho biết thái hậu Videhi, em ruột của vua, vẫn được bình yên nhưng mang trong lòng nhiều sầu khổ.


Vua Pasenadi cũng cho Phật biết cách nay hơn một tháng vua đã cử sứ giả đến Rajagriha yêu cầu vua Ajatasattu giải thích tại sao có chuyện giam giữ quốc vương Bimbisara và hai vị đại thần. Ðến nay vẫn chưa thấy đoàn sứ giả trở về.

Vua cũng cho Phật biết là để phản kháng hành động của Ajatasattu vua đã lấy lại các ấp thuộc địa phận xứ Kasi mà trước kia, lúc gả công chúa Videhi về làm chánh hậu của vua Bimbisara, vua Maha Kosala đã nhường lại cho xứ Magadha làm của hồi môn.

Mùa an cư đến. Các tinh xá xung quanh thủ đô Sravasti đều có rất đông khất sĩ từ các nơi tập họp về. Cứ hai tuần Phật lại thuyết pháp một lần tại Jetavana.

Các khất sĩ ở các tinh xá lân cận, sau giờ ngọ trai, đều tập họp về đây nghe pháp. Các vị đại thí chủ như Sudatta Anathapindika và Visakha đều sốt sắng lo chu toàn về thực phẩm và nhu yếu phẩm cho các khất sĩ.


Phật thuyết kinh A-Di-Ðà


Sau lễ khai mạc mùa an cư kiết hạ năm nay, trước đông đảo thính chúng cư sĩ, khất sĩ, chư thiên và chư đại Bồ-tát đang ngồi im lặng chờ nghe Phật thuyết pháp, Thượng tọa Sariputta từ chỗ ngồi đứng lên, trịch vai áo bên phải xuống, quỳ gối bên phải sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn, vừa rồi tại Griddhakuta (Linh Thứu) Thế Tôn có chỉ cho hoàng hậu Videhi cách cầu vãng sanh về cõi Cực Lạc (Sukhavati) của đức Phật A-Di-Ðà (Amita buddha), chúng con nhận thấy đó cũng là một pháp môn tu thật hay, có thể thích hợp với căn tánh và sự mong ước của nhiều người ở cõi Ta-bà (Saha) này.

Vậy, trước đông đảo thính chúng hôm nay, xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ dạy rõ ràng về pháp môn vi diệu này.

- Lành thay! lành thay! Này Sariputta, thầy vì lợi ích của chúng sinh mà thưa hỏi đúng lúc. Như Lai sẽ giảng nói về cõi Cực Lạc (Sukhavati) của đức Phật A-Di-Ðà (Amita) và pháp môn tu để được sanh về cõi thanh tịnh ấy. Quí vị hãy chăm chỉ lắng nghe.

- Bạch Thế Tôn, chúng con xin chăm chỉ lắng nghe.
- Này Sariputta, ở phương tây, cách đây trên một trăm tỷ cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc, nơi đó có đức Phật hiệu là A-Di-Ðà đang thuyết pháp. Sở dĩ thế giới đó tên Cực Lạc là vì nơi đó chúng sanh không hề bị khổ não mà thường được an lạc.

Này Sariputta, ở cõi Cực Lạc đầy dẫy những vật quí giá, cây cối, đất đai, đồi núi, sông rạch, nhà cửa đều bằng vàng bạc châu báu. Hoa sen to bằng bánh xe, đủ màu xanh vàng đỏ trắng, phát ra hào quang sáng rỡ và mùi hương thơm ngát.

Thường có các loài chim quí hót ca hòa với tiếng gió động cành cây phát ra những điệu nhạc vi diệu làm cho chúng sanh nơi đó được tinh thần sảng khoái, phát bồ-đề tâm, thâm nhập chánh pháp, luôn luôn nghĩ đến Phật, Pháp,

Tăng. Do đó, ở cõi Cực Lạc, chúng sanh không hề có ý niệm về ba ác đạo, trái lại có đầy đủ môi trường thuận lợi để thành tựu các công đức trang nghiêm. Hơn nữa, chúng sanh nơi cõi Cực Lạc đều do hoa sen hóa sanh, nên thân tâm đều thanh tịnh, không có nam nữ, không có ái dục.

Này Sariputta, sở dĩ đức Phật cõi Cực Lạc có hiệu là A-Di-Ðà (Amita = Vô Lượng) là vì đức Phật đó phát ra vô số hào quang chiếu khắp mười phương không hề bị chướng ngại, do đó nên có hiệu là Amitabha (Vô Lượng Quang).

Ðức Phật A-Di-Ðà lại có hiệu là Amitayus (Vô Lượng Thọ) vì thọ mạng của ngài, cũng như của nhân dân nơi đó, dài vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp
[2].

Này Sariputta, như có thiện nam tín nữ nào nghe nói đến đức Phật A-Di-Ðà liền phát tín tâm kiên cố, một lòng chí thành chấp trì danh hiệu một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, đến lúc sắp mạng chung vẫn thành kính niệm danh hiệu ngài, thì đức Phật A-Di-Ðà và thánh chúng nhất định sẽ có mặt để tiếp rước người đó về cõi Cực Lạc.

Này Sariputta, những điều ta vừa nói thật vô cùng khó tin đối với chúng sanh ở cõi Ta-bà này, nhưng đó là những lời nói chân thật. Mười phương chư Phật cũng đều nói như thế và các ngài đều phát nguyện tiếp sức hộ niệm cho những ai thực hành pháp môn Tịnh-Ðộ này.

Phật vừa nói xong, các đại đệ tử liền chắp tay cung kính thưa:
- Bạch Thế Tôn, thật khó tin, thật hy hữu, thật vi diệu, chúng con xin tín thọ, phụng hành và truyền bá pháp môn Tịnh-Ðộ này.

Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 25 Oct 2010, 09:05


Nhờ Ðức Tin có thể chứng Vô Sanh hay không?[b][3]


Một hôm có 30 tu sĩ sống trong rừng đến tinh xá Jetavana gặp đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên chờ nghe pháp. Ðức Phật quán biết các tu sĩ này có đủ khả năng đạt được quả vị A-la-hán, bèn xoay qua hỏi Thượng tọa Sariputta về sự ích lợi của Ðức Tin như sau:
- Này Sariputta, thầy có nghĩ rằng Ðức Tin, khi đã được phát triển đầy đủ, có thể đưa đến quả vị Vô Sanh hay không?

- Bạch Thế Tôn, con không tu tiến hoàn toàn do Ðức Tin nơi Thế Tôn, không do phát triển đầy đủ Ðức Tin nơi Thế Tôn để đạt đến quả vị Vô Sanh. Nhưng dĩ nhiên, đối với những người không biết, không thấy, không nhận thức được, không nắm vững được bằng lý trí, bằng tuệ giác, thế nào là Vô Sanh, thì những người đó phải phát triển đầy đủ Ðức Tin nơi Tam Bảo mới có thể chứng được Vô Sanh.

Nhiều vị khất sĩ nghe rồi, cho rằng Thượng tọa Sariputta vẫn chưa dứt hết tà kiến, vì Thượng tọa vẫn chưa đặt hết tin tưởng vào đức Phật. Ðức Phật bảo:
- Này các thầy, Sariputta đã từng nói không ai không phát triển đầy đủ ngũ căn (Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Huệ) mà có thể thành đạo được.

Nhưng Sariputta không tiến tu nhờ đức tin nơi người khác, mà chính nhờ tự mình tinh tấn thực hành Thiền Ðịnh theo Chánh Pháp để đạt đến Trí Huệ cao siêu.
Rồi đức Phật nói kệ:Người không tin mù quáng, Người không còn tạo tác, Người đã đạt vô sanh,Không còn nghĩ thiện ác, Không ham muốn lợi danh, Là người cao thượng nhất. (Kinh Pháp Cú, bài 97)

Phật dạy cách xây dựng hạnh-phúc [b][4]

Ðề tài bài pháp thứ hai trong mùa an cư năm nay là cách xây dựng hạnh phúc ngay trong đời này. Phật nói đại ý như sau:
" Khi Như Lai nói cuộc đời dẫy đầy đau khổ, nào là sanh già bệnh chết, nào là ái ly, oán hội, cầu bất đắc ...là để nhắc nhở những người đang đam mê, mong tìm hạnh phúc trong dục lạc, quên mất cuộc đời vô thường, thân vô thường, tâm vô thường, mà vô thường là sanh diệt, là khổ đau.

Cũng như một người bị bệnh hủi, bị bắt buộc vào sống biệt lập ở trong rừng. Mỗi khi cảm thấy ngứa ngáy, xốn xang, khó chịu, ông ta đào một cái hố, đốt củi khô cháy đỏ, rồi đứng bên miệng hố mà hơ mình mẩy tay chân. Trong khi làm như thế ông ta cảm thấy rất đã ngứa và rất sung sướng. Ðến khi ông hết bệnh, trở về đời sống bình thường.

Một hôm ông trở vào rừng để thăm những người bạn còn đang bệnh. Khi đến bên cạnh hố than hồng, chỗ họ đang đứng hơ mình, thì ông cảm thấy nóng quá, chịu không nổi, phải tránh ra xa. Dục lạc như hố than hồng đối với người mắc bệnh hủi, chỉ có người bệnh mới thấy dục lạc là vui. Người lành mạnh đều tránh xa.

" Một khi đã nhận thức được đời là đau khổ, những ai muốn tìm hạnh phúc trước hết phải tìm cách diệt trừ đau khổ. Muốn diệt trừ đau khổ phải biết gốc của nó là mê lầm (vô minh), ham muốn (tham ái) và cố chấp (kiến thủ).

Mê lầm là thân vô thường mà cho là thường; tâm vô thường mà cho là thường; ái dục là đau khổ mà cho là vui; không biết luật nhân quả. Ham muốn là ham danh, ham lợi, ham giàu sang, ham sắc đẹp, ham âm thanh êm ái dịu dàng, ham hương thơm, ham được người khen, ham rồi muốn được, được rồi muốn giữ, nhưng tất cả đều vô thường làm sao giữ mãi được.

Cố chấp là cho ý mình là đúng là hay, con người vô ngã mà chấp là có ngã, chấp ngã là thường, chấp ngã là đoạn, chấp có, chấp không, chấp đúng, chấp sai, chấp phải, chấp quấy ...; do cố chấp nên có bất đồng ý kiến, cãi lẫy và chiến tranh.
" Một khi đã biết được nguyên nhân của khổ thì phải biết cách diệt trừ nó.

Diệt trừ hết mê lầm, hết ham muốn, hết cố chấp là hết khổ, là được hạnh phúc chân thật vĩnh cửu, là được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Mà muốn diệt trừ hết mê lầm, hết ham muốn, hết cố chấp thì phải biết Chánh pháp, thực tập thiền quán, giữ giới thanh tịnh, tập quen sống đời phạm hạnh, thiểu dục, tri túc.

Người sống theo Chánh Pháp sẽ thực chứng được hạnh phúc chân thật ngay trong hiện tại, và tiến dần lên các thánh quả từ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, đến A-la-hán và quả vị Phật.


Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 25 Oct 2010, 09:10

Phật thăm cư-sĩ Sudatta trên giường bệnh[b][5]

Sau buổi thuyết pháp, bà Punnalakkhana, vợ của cư sĩ Sudatta Anathapindika, đến đảnh lễ Phật và báo tin cho Phật biết cư sĩ Sudatta đã bị bệnh gần mười hôm nay. Ông rất tiếc không dự được buổi thuyết pháp này. Bệnh ông càng ngày càng nặng, sợ không được nhìn thấy mặt Phật trước khi qua đời.

Ngày hôm sau, đức Phật cùng với hai Thượng tọa Sariputta và Ananda đến thăm ông Sudatta. Ông Sudatta ngồi trên một chiếc ghế dựa, nét mặt xanh xao. Phật bảo:

- Này Sudatta, ông đã sống một đời đầy ý nghĩa và hạnh phúc. Với công đức bố thí rộng lớn, ông đã làm vơi nổi khổ của biết bao nhiêu người. Biệt danh Cấp-cô-độc mà người ta xưng tặng ông thật xứng đáng.
Ngoài ra ông còn trải vàng mua đất, thành lập tinh xá Jetavana cho tăng chúng có nơi tu học dễ dàng, thuận lợi, cho dân chúng Sravasti có nhiều cơ hội học hỏi Chánh Pháp.

Công đức hộ trì Chánh Pháp của ông thật to lớn. Ông đã tinh tấn sống theo Chánh Pháp, tạo dựng hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho nhiều người trong xã hội. Bây giờ ông nên an nghỉ và tịnh dưỡng.

Như Lai sẽ nhờ Thượng tọa Sariputta thỉnh thoảng tới thăm ông và hướng dẫn sự tu học cho ông. Ông không nên cố gắng đến tinh xá trong lúc này, vì sự di chuyển sẽ làm cho ông mất nhiều sức lực.
- Kính lạy đức Thế Tôn, con xin vâng lời ngài dạy.

Phật dạy Singala cách sống đạo-đức để có hạnh phúc


Hai tuần sau, trong buổi thuyết pháp, Phật kể cho đại chúng nghe câu chuyện Phật gặp ông Singala[6] (Thiện-Sinh). Một buổi sáng nọ, ở thành Rajagriha, trong khi đi khất thực, Phật gặp một thanh niên tên Singala đang đứng giữa sân trước nhà cúi lạy sáu phương đông, tây, nam, bắc, trên, dưới một cách cung kính.

Phật tới gần hỏi chàng lạy như thế để làm gì. Singala thưa là từ hồi còn bé, chàng đã được thân phụ dạy mỗi buổi sáng phải ra sân lạy sáu phương. Chàng chỉ biết vâng lời cha, sáng nào cũng lạy như thế, nhưng không biết để làm gì.
Phật nói: Lạy như thế là để thực tập một lối sống có hạnh phúc trong hiện tại và tương lai. Lạy phương đông là để quán chiếu[7] cách đối xử với công ơn cha mẹ .

Lạy phương nam là để quán chiếu cách đối xử với công ơn thầy tổ. Lạy phương tây là để quán chiếu cách đối xử với tình nghĩa vợ con. Lạy phương bắc là để quán chiếu cách đối xử với tình nghĩa bạn bè.

Lạy phương dưới là để quán chiếu cách đối xử với người cộng sự. Lạy phương trên là để quán chiếu cách đối xử với bậc hiền nhân. Nhưng phải biết điều kiện căn bản trong các cách đối xử là phải giữ gìn năm giới (không giết hại, không tham lam trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không say rượu), không nên hành động vì tham lam, vì giận hờn, vì sợ hãi, hay vì mê lầm trong lúc chưa có đủ yếu tố quyết định.

Ngoài ra phải tránh xa sáu loại hành động có thể đưa đến tán gia bại sản: uống rượu say sưa, đi lang thang trong thành phố vào giờ khuya khoắt, lui tới những nơi cờ bạc, lui tới những nơi ăn chơi trác táng, la cà với những người bạn xấu, và lười biếng ỷ lại.

Này Singala, ông phải lạy sáu phương với sự quán chiếu như thế mới thật sự có ý nghĩa và lợi ích, vì hành động đó có thể mang đến cho ông hạnh phúc thiết thực trong cuộc sống.
Ðức Phật nói tiếp: Hạnh phúc chân thật là điều có thể thực hiện được ngay trong đời này, nếu chúng ta biết:

1- Chọn một nghề sinh sống có ích lợi cho nhiều người.
2- Thân cận với những người hiền đức, với những thiện tri thức.
3- Phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc vợ chồng con cái.
4- Chia xẻ thì giờ, tài vật, hạnh phúc với kẻ khác.
5- Biết ơn, khiêm nhượng, ít ham muốn, biết đủ.
6- Chọn môi trường sinh sống thuận tiện cho sự tu học, và sự làm lành.
7- Sống một cuộc đời trong sạch và cao thượng.
8- Chuyên cần học hỏi giáo pháp giác ngộ[8] và giải thoát[9].
9- Cách thiền quán để diệt trừ mê lầm[10] và phiền não[11].
Sau cùng, Phật nêu gương sáng của ông Sudatta Anathapindika, một cư sĩ biết sống theo Chánh pháp đã mang lại hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình và cho nhiều người trong xã hội trong đời hiện tại.

Hành động tốt đẹp này còn là những nhân lành sẽ mang đến những hoa trái xinh tươi trong các đời vị lai.
Bà Punnalakkhana, vợ của cư sĩ Sudatta, cảm động đến rơi nước mắt. Bà đứng lên bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn, cuộc sống của người cư sĩ nhiều khi thật bận rộn, nhất là khi mình được thừa hưởng một gia sản lớn. Con nghĩ nếu mình có một cơ nghiệp bình thường có lẽ việc tu học sẽ được dễ dàng hơn.

Nhiều khi nhìn những vị khất sĩ không nhà, không cửa, không vợ, không con, tay ôm bình bát đi thong dong trên các nẻo đường khất thực, thật nhàn hạ, chúng con ước mong được sống như thế. Nhưng chúng con có nhiều trách nhiệm quá, nhiều sự ràng buộc quá, không biết làm sao?

- Này Punnalakkhana, người khất sĩ cũng có nhiều trách nhiệm: phải học hỏi giáo pháp, phải thực tập thiền quán, phải tôn trọng giới luật, phải sống đời phạm hạnh trong sạch, phải an trú ngày đêm trong chánh niệm, phải hoằng pháp lợi sinh.

Như có vị cư sĩ nào muốn làm quen với đời sống xuất gia của các khất sĩ thì có thể xin thọ Bát Quan Trai giới.


Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 25 Oct 2010, 09:16


Phật dạy Bát Quan Trai giới
[b][12]


Hoặc nửa tháng một lần, hoặc mỗi tháng một lần, hoặc ba tháng một lần, các vị cư sĩ nào muốn tập sống như người xuất gia có thể đến chùa xin thọ Bát Quan Trai giới với vị sư trưởng.

Người thọ Bát Quan Trai giới phải sống trọn một ngày một đêm trong chùa, thọ ngọ trai, thực tập thiền tọa, thiền hành, sống trong phạm hạnh
[13], tỉnh thức[14], tinh cần, thong dong và an lạc giống hệt như các vị tu sĩ. Sau thời gian sống một ngày một đêm như thế, các vị lại xả giới và trở về đời sống thế gian, chỉ giữ lại tam quy, ngũ giới.

Trường hợp không thể đến chùa, người cư sĩ có thể thỉnh ít nhất hai vị tỳ-kheo đến nhà mình để tuyên giới, hướng dẫn và chỉ dạy trong các ngày tu Bát Quan Trai.
Bát Quan Trai gồm có tám giới:
1- Không sát hại sinh mạng.
2- Không trộm cướp.
3- Không dâm dục.
4- Không nói dối.
5- Không uống rượu.
6- Không trang sức.
7- Không nằm và ngồi trên giường ghế sang trọng.
8- Không sử dụng tiền bạc.
Tám giới ấy là để phòng ngừa vọng niệm[15]tạp niệm[16] phát sanh trong thời gian tu tập. "Quan" có nghĩa là phòng ngừa. Còn "trai" có nghĩa là chỉ ăn một bữa chay trước hoặc trong giờ ngọ, để có thì giờ tu tập.
Ðược Phật chỉ dạy phép Bát Quan Trai, giới cư sĩ hôm ấy rất lấy làm sung sướng.

Sariputta dạy Sudatta cách quán tưởng lúc hấp hối[b][17]


Mười ngày sau, được tin bệnh của ông Sudatta trở nặng, Thượng tọa Sariputta và Thượng tọa Ananda liền đến thăm. Ông Sudatta nằm trên giường bệnh. Sariputta và Ananda ngồi trên ghế bên cạnh giường. Biết ông Sudatta không còn sống được bao lâu nữa, Thượng tọa Sariputta khai thị:
- Ông Cấp-cô-độc Sudatta, ông đã sống một cuộc đời cao thượng và hữu ích cho gia đình, cho xã hội và cho giáo pháp. Trong buổi thuyết pháp vừa qua tại Jetavana, đức Thế Tôn đã tán thán công đức của ông như thế. Mọi việc đáng làm ông đã làm trong suốt cuộc đời.

Giờ đây ông nên bình tỉnh lắng nghe tôi nói và làm theo. Này ông Sudatta, ông nên quán tưởng như sau: mắt không phải là tôi, tai không phải là tôi, mũi, lưỡi, thân cũng không phải là tôi.
Ðợi cư sĩ quán tưởng xong, Thượng tọa nói tiếp:

- Bây giờ ông nên tiếp tục quán tưởng như sau: những gì tôi thấy không phải là tôi, những gì tôi nghe không phải là tôi, những gì tôi ngửi, nếm, xúc chạm cũng không phải là tôi.
Ngưng một lúc, Thượng tọa Sariputta chẫm rãi nói tiếp:

- Ông nên quán tưởng rõ ràng như thế này: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không phải là tôi; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không phải là tôi; thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc giác, suy nghĩ, cũng không phải là tôi. Vì nếu mất một hay tất cả 18 thứ đó thì tôi vẫn là tôi, không bị sứt mẻ gì. Tôi không bị ràng buộc và giới hạn trong những yếu tố ấy.

Ngưng một lúc, Thượng tọa Sariputta nói tiếp:
- Bây giờ ông nên quán tưởng như thế này: thân xác này không phải là tôi, cảm giác đau đớn này không phải là tôi, sự suy nghĩ này không phải là tôi, sự biến đổi của thân xác và tư tưởng không can hệ gì đến tôi.

Sinh tử không chạm được tới tôi. Sinh không làm cho tôi có, tử không làm cho tôi mất. Tôi mỉm cười biết rằng cái tôi chân thật chưa hề sinh nên cũng không bao giờ diệt
.
Thực tập tới đây, cư sĩ Sudatta mỉm miệng cười. Rồi bỗng nhiên nước mắt chảy ràng rụa trên hai má ông. Thượng tọa Ananda hỏi:
- Ông Sudatta, sao ông lại khóc? Ông có nuối tiếc gì không? Ông quán chiếu không thành công hả?

- Thưa Thượng tọa, tôi không nuối tiếc gì. Nhờ đã nhiều lần được nghe đức Thế Tôn thuyết pháp nên hôm nay tôi quán chiếu rất thành công. Nhưng tôi cảm động quá vì suốt 35 năm được phụng sự đức Thế Tôn và gần gũi các vị Thượng tọa mà chưa bao giờ tôi được nếm mùi vị giáo lý thậm thâm vi diệu như hôm nay.

- Ông Sudatta, pháp môn Quán 18 Giới Phân BiệtQuán Bát Nhã này các vị khất sĩ và nữ khất sĩ thường được nghe đức Thế Tôn giảng dạy luôn.
- Thưa Thượng tọa, xin Thượng tọa bạch với Phật cho phép giới cư sĩ cũng được nghe để hiểu và thực hành giáo lý thâm diệu này.
Cư sĩ Sudatta Anathapindika từ trần ngay buổi chiều hôm đó.

Hai Thượng tọa Sariputta và Ananda đã ở lại hộ niệm rất lâu cho cư sĩ. Theo kinh sách, sau khi trút hơi thở cuối cùng, ông Sudatta liền tái sanh vào cung trời Tusita (Ðâu-suất) và tối hôm đó trở về tinh xá Jetavana với một thân thể nhẹ nhàng, linh hoạt, chiếu sáng, đảnh lể Phật.

Ông Sudatta có ba người con gái là Maha Subhadda, Culla Subhadda và Sumana, và một người con trai duy nhất là Kala. Tất cả đều đắc quả Tu-đà-hoàn, riêng Sumana đắc quả Tư-đà-hàm.


Chiến tranh giữa hai xứ Magadha và Kosala[b][18]


Mùa an cư thứ 38 vừa chấm dứt, các vị khất sĩ chưa kịp lên đường đi hoằng pháp thì nghe chiến tranh bùng nổ giữa hai nước Magadha và Kosala. Ðại binh của nước Magadha, do vua Ajatasattu đích thân lãnh đạo, đã vượt sông Ganga gần thị trấn Benares đi vào lãnh thổ Kosala.

Bên xứ Kosala, sau khi được quân đội biên phòng thông báo, vua Pasenadi cũng thân hành điều động binh mã đến Kasi. Việc binh quá cấp bách, vua không kịp đến thông báo và từ giã Phật. Vua nhờ thái tử Jeta đến gặp Phật để trình bày mọi việc.

Phật đã từng được thông báo rằng sau khi nghe tin Ajatasattu mưu sát cha để lên ngôi, vua Pasenadi đã tỏ ý phản kháng bằng cách lấy lại một ấp thuộc làng Kasika mà ngày xưa vua Maha Kosala đã tặng cho vua Bimbisara như vật hồi môn của công chúa Videhi.

Ấp này đã đem lại cho xứ Magadha mỗi năm một số tiền thuế trị giá một trăm ngàn đồng vàng. Vua Ajatasattu vừa lên ngôi, muốn củng cố uy thế của mình trong xứ cũng như đối với các nước ngoài, liền cất binh sang đánh để lấy lại.

Thượng tọa Sariputta thông báo cho các vị nam nữ khất sĩ ở đâu thì nên hành đạo ngay tại đó, đừng di chuyển nhiều trong thời buổi chiến tranh. Thượng tọa cũng xin Phật ở lại Sravasti cho đến khi tình hình yên tĩnh.
Hai tháng sau, dân chúng kinh hoàng nghe tin binh tướng Kosala đã thất trận ba lần tại Kasika[19]. Vua Pasenadi và các tướng phải rút tàn binh chạy về thủ đô Sravasti.

Tình hình rất khẩn trương, may nhờ hệ thống phòng thủ tại Sravasti rất là kiên cố. Binh tướng của vua Ajatasattu đã đuổi theo và công kích ngày đêm mà cũng không hạ được thành.

Sau đó, nhờ kế hoạch của tướng Bandhula, vua Pasenadi phối hợp được quân trong thành và quân từ các địa phương kéo về tiếp ứng kịp thời, mở một cuộc tổng phản công toàn thắng. Vua Ajatasattu cùng các tướng soái dưới quyền đều bị bắt sống với trên một vạn tù binh. Số binh lính còn lại, hoặc chết hoặc bỏ chạy tán loạn.

Ngoài ra, quân đội Kosala còn chiếm được rất nhiều voi, ngựa, xe của bên địch.
Chiến tranh kéo dài hơn sáu tháng. Dân chúng Sravasti được lệnh tổ chức ăn mừng thắng trận. Sau khi thu xếp công việc binh đội và triều chính, vua Pasenadi đến thăm Phật tại tinh xá Jetavana.

Vua kể cho Phật nghe những gian nan của cuộc chiến. Vua nói rằng chính Ajatasattu đã gây ra chiến tranh nên ngài phải chiến đấu tự vệ. Vua nói tiếp:
- Bạch Thế Tôn, Ajatasattu dù sao cũng là cháu gọi trẫm bằng cậu ruột. Trẫm không nỡ giết, cũng không nỡ bỏ nó vào chốn lao tù. Xin Thế Tôn chỉ dạy cho trẫm nên xử trí như thế nào?

- Thưa đại vương, xung quanh đại vương có rất nhiều quan tướng và bạn hữu trung thành, nên đại vương thắng trận này không có gì là lạ. Nhưng xung quanh Ajatasattu có rất nhiều phần tử xấu, vì vậy Ajatasattu đã đi lầm đường lạc nẻo, triều đình rối ren, quan quân và dân chúng mất lòng tin, nên phải thất bại. Như Lai đề nghị đại vương nên lấy lễ tiếp đãi quốc vương Magadha theo đúng cung cách của một ông vua đối xử với một ông vua.

Nhưng đại vương cũng phải có thì giờ dạy dỗ Ajatasattu như dạy một người cháu ruột. Ðại vương hãy nhấn mạnh đến sự cần thiết có những người bạn hữu tốt và những phần tử trung kiên. Cuối cùng đại vương có thể đặt tiệc tiễn đưa vua xứ Magadha về nước. Sự bình an của trăm họ tùy thuộc nơi sự khéo léo của đại vương.

Rồi Phật cho gọi một vị khất sĩ trẻ tuổi tên Silavat đến và giới thiệu vị này với vua Pasenadi. Khất sĩ Silavat là em cùng cha khác mẹ với Ajatasattu, tư chất rất thông minh.

Lúc 16 tuổi ông đã theo học với Thượng tọa Moggallana, đến 20 tuổi ông xin xuất gia với Thượng tọa và đã trở thành một đệ tử lỗi lạc. Sau biến cố tại thủ đô Rajagriha, Silavat được Thượng tọa Moggallana gởi về tinh xá Jetavana tu học.

Vua Pasenadi hỏi thăm đại đức Silavat về tình trạng hoàng gia ở Rajagriha. Ðại đức đã cung kính nói cho vua nghe những gì thầy đã tai nghe mắt thấy.

Ðại đức cho biết là năm ngoái đã có một người từ thủ đô xứ Magadha tới đây với sứ mạng ám sát đại đức, nhưng đại đức đã cải hóa được người ấy và độ cho người ấy được xuất gia. Hiện vị khất sĩ kia đang tu học ở một trung tâm không xa thành phố.

Vua Pasenadi lạy tạ Phật rồi trở về cung. Vua Ajatasattu sau đó được trả tự do và đưa về nước, lại được vua Pasenadi gả công chúa Vajira cho, và hứa sẽ trả lại ấp ở làng Kasika mà ngày xưa vua Maha Kosala, cha của vua Pasenadi, đã tặng cho xứ Magadha.

Lấy tình thương xóa bỏ hận thù, vua Pasenadi đã làm theo lời Phật dạy. Vua Ajatasattu bây giờ vừa là cháu ruột vừa là con rể của ngài.


Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 25 Oct 2010, 09:23


17- Hạ 39 tại Jetavana (năm -551)


Chiến tranh vừa kết thúc nhưng những tàn tích đau thương do chiến tranh gây ra còn ảnh hưởng sâu đậm trong lòng các chiến sĩ và dân chúng cả hai xứ Magadha và Kosala.

Các vị khất sĩ bắt đầu lên đường hoằng pháp ở các vùng lân cận trú xứ của mình để an ủi, khuyên nhủ và khuyến khích dân chúng làm việc thiện, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, xoa diệu các tàn tích chiến tranh.

Sau một thiên tai hay một thảm nạn, người ta càng thấy rõ cuộc đời tạm bợ, mạng sống vô thường, danh lợi, tài sản nay còn mai mất; người ta dễ dàng trở về đời sống nội tâm, nêu cao các giá trị tinh thần, hướng về đạo pháp. Ðây là lúc thuận lợi nhất cho việc hoằng pháp của các vị khất sĩ.


18- Hạ 40 tại Jetavana (năm -550)


Vua Pasenadi truyền xây dựng một tinh xá mới cho giáo đoàn khất sĩ tại ven thủ đô Sravasti. Tinh xá mới này lấy tên là Rajakarama. Ðức Phật ở tại Kosala liên tiếp trong hai năm, đi giáo hóa các nơi trong xứ và nhập hạ tại Jetavana.
Trong thời gian này, tại Rajagriha, thủ đô của Magadha, Thượng tọa Devadatta không còn được vua Ajatasattu kính nể nữa.

Trong số hơn một trăm vị khất sĩ còn ở lại với Thượng tọa, 80 vị đã bỏ Thượng tọa để trở về giáo đoàn của Phật ở tinh xá Venuvana. Devadatta càng ngày càng bị cô lập. Thầy bị bệnh nằm liệt trên núi Gayasisa suốt chín tháng, không đi đâu được cả.

Từ ngày chấm dứt chiến tranh giữa hai nước Kosala và Magadha, vua Ajatasattu cũng không còn gặp gỡ Thượng tọa Devadatta, và cũng không có liên lạc nào với giáo đoàn khất sĩ của Phật ở Venuvana.

Vua chỉ thân cận với những vị lãnh đạo của các giáo phái khác. Tuy vậy các khất sĩ vẫn được hành đạo một cách yên ổn. Dân chúng cũng như các vị khất sĩ ở Griddhakuta (Linh Thứu) và Venuvana (Trúc Lâm) rất mong Phật trở về. Y sĩ Jivaka cũng rất tha thiết mong Phật trở về.


Phật chỉ cách chấn chỉnh tư-pháp và kinh-tế[/[20]


Sau mùa an cư năm -550, hoàng hậu Mallika xứ Kosala từ trần. Vua Pasenadi buồn quá, đến thăm Phật để tìm nguồn an ủi. Hoàng hậu Mallika là chị ruột của vua Bimbisara và là người bạn đời rất xứng đáng của vua Pasenadi, rất được vua thương yêu hết lòng.

Hoàng hậu là người thuần kính theo Phật, thông minh, sáng suốt thông hiểu giáo pháp một cách sâu xa. Chính bà đã can gián vua bỏ lệ sát hại thú vật để cúng thần linh, và hướng dẫn vua theo đạo giác ngộ của Phật.
Ðau khổ vì bị mất người bạn đời yêu quí đã từng chia xẻ vui buồn với mình trên 50 năm, vua Pasenadi tìm đến Phật. Ngồi im lặng thật lâu bên Phật, vua cảm thấy tâm hồn an tịnh trở lại.

Sau khi an ủi vua bằng cách nhắc nhở cuộc đời là vô thường, sầu khổ là có hại, Phật khuyên vua nên dành thêm thì giờ vào việc tu tập thiền quán, lúc tuổi già nên cố gắng sống đúng theo Chánh Pháp để làm nhân lành cho kiếp sau.

Phật khuyên vua nên tìm cách cải tổ guồng máy tư pháp và kinh tế để mang đến an vui và hạnh phúc cho dân. Phật nói những hình phạt như đánh đập, tra tấn, giam cầm, tử hình, không phải là những biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa trộm cướp. Gặp thời đói kém và loạn lạc, trộm cướp và bạo động tự nhiên gia tăng.

Nhà cầm quyền cần có chính sách kinh tế hợp thời để an dân như giảm thuế, giúp thực phẩm, lúa giống, phân bón cho nông dân nghèo, cấp vốn cho nhà buôn, tăng lương cho công tư chức vân vân ...

Chính sách kinh tế muốn được kết quả tốt phải là một chính sách nhằm khuyến khích và giúp đỡ những người tự nguyện có khả năng chứ không thể căn cứ vào sự bắt buộc và đe dọa.

Vua Pasenadi nghe Phật nói xong, lòng thấy nguôi ngoai, nguyện dành thêm nhiều thì giờ để tu học và chấn chỉnh kinh tế cho dân chúng được an vui. Thượng tọa Ananda cũng đã chăm chỉ ngồi nghe. Về sau ngài trùng tuyên lại ý này trong kinh Kutadanta.

19- Hạ 41 tại Jetavana (năm -549)


Một buổi chiều, sau mùa an cư, Thượng tọa Ananda thấy Phật ngồi xoay lưng về phía mặt trời. Thượng tọa lấy làm lạ, hỏi:
- Bạch Thế Tôn, con thường thấy Thế Tôn hay nhìn cảnh mặt trời khuất bóng. Sao hôm nay Thế Tôn lại ngồi xoay lưng về phía mặt trời?
- Này Ananda, hôm nay Như Lai cảm thấy hơi lạnh nên ngồi như thế để sưởi ấm lưng.
Thượng tọa Ananda lấy tay xoa lưng Phật một hồi lâu cho ấm. Rồi thầy ngồi xuống, vừa xoa bóp hai chân cho Phật, vừa nói:
- Bạch Thế Tôn, con đã được làm thị giả cho Thế Tôn 20 năm nay. Con nhớ mấy năm trước màu da của Thế Tôn vàng óng ánh. Nay da đã nhăn, và những bắp thịt nơi chân Thế Tôn đã teo lại rất nhiều. Các ống xương lộ ra thấy rõ.
- Sống lâu thì phải già, ai cũng thế. Năm nay Như Lai đã 75 tuổi rồi. Mắt và tai của Như Lai cũng không còn được tinh nhuệ như trước.

Này Ananda, Như Lai muốn trở về núi Griddhakuta để tịnh dưỡng một thời gian. Nơi đó có nắng ấm và không khí trong lành. Thầy có thích trở lại núi Linh Thứu ngắm cảnh mặt trời lên và cảnh mặt trời lặn không?
- Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn về Griddhakuta, con rất sung sướng được theo hầu Thế Tôn.

Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 25 Oct 2010, 09:37

19- Hạ 41 tại Jetavana (năm -549)

Một buổi chiều, sau mùa an cư, Thượng tọa Ananda thấy Phật ngồi xoay lưng về phía mặt trời. Thượng tọa lấy làm lạ, hỏi:
- Bạch Thế Tôn, con thường thấy Thế Tôn hay nhìn cảnh mặt trời khuất bóng. Sao hôm nay Thế Tôn lại ngồi xoay lưng về phía mặt trời?
- Này Ananda, hôm nay Như Lai cảm thấy hơi lạnh nên ngồi như thế để sưởi ấm lưng.
Thượng tọa Ananda lấy tay xoa lưng Phật một hồi lâu cho ấm. Rồi thầy ngồi xuống, vừa xoa bóp hai chân cho Phật, vừa nói:
- Bạch Thế Tôn, con đã được làm thị giả cho Thế Tôn 20 năm nay. Con nhớ mấy năm trước màu da của Thế Tôn vàng óng ánh. Nay da đã nhăn, và những bắp thịt nơi chân Thế Tôn đã teo lại rất nhiều. Các ống xương lộ ra thấy rõ.
- Sống lâu thì phải già, ai cũng thế. Năm nay Như Lai đã 75 tuổi rồi. Mắt và tai của Như Lai cũng không còn được tinh nhuệ như trước.

Này Ananda, Như Lai muốn trở về núi Griddhakuta để tịnh dưỡng một thời gian. Nơi đó có nắng ấm và không khí trong lành. Thầy có thích trở lại núi Linh Thứu ngắm cảnh mặt trời lên và cảnh mặt trời lặn không?
- Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn về Griddhakuta, con rất sung sướng được theo hầu Thế Tôn

. 20- Hạ 42 tại Venuvana (năm -548)

Ðầu mùa xuân năm -548, Phật lên đường trở về thủ đô xứ Magadha. Ngài đi thong thả. Lộ trình được chia ra nhiều chặng để Phật có thể nghỉ ngơi một hai ngày tại các tinh xá dọc đường, và nhân tiện có thể chỉ dạy và sách tấn các vị khất sĩ và cư sĩ tại những nơi ấy.

Phật lần lượt đi qua các xứ Sakya, Malla, Videha, Vajji và cuối cùng vượt sông Ganga đến Magadha. Phật ghé thăm tinh xá Nalanda và Ambalatthika trước khi đến Venuvana.
Lúc gần đến Venuvana thì thấy có đông đảo thợ thuyền và dân chúng đang xúm nhau xây cất tường thành và nhà cửa.

Thượng tọa Ananda hỏi thăm, được biết vua Ajatasattu đang dời thành Vương xá cũ ở trong thung lũng giữa các núi Vaibhara, Vipula, Ratna và Sona, đến thành Vương xá mới đang xây cất phía bắc tinh xá Venuvana, vì lý do kinh tế, chính trị và quân sự.

Vương xá cũ nằm giữa các núi nên đất đai chật hẹp, lại bất tiện cho việc giao thông và phòng thủ. Dường như kế hoạch này cũng đã được vua Bimbisara dự trù từ trước. Ðến bây giờ vua Ajatasattu cũng đang muốn có sự đổi mới, nên đem ra thực hiện.

Sau khi ghé thăm và ở lại Venuvana hai ngày để khuyến khích và chỉ dạy thêm cho tăng chúng, Phật và Thượng tọa Ananda đi lên núi Griddhakuta (Linh-Thứu). Qua hôm sau y sĩ Jivaka đến thăm Phật.

Ông kể cho Phật nghe những chuyện đã xảy ra tại Rajagriha. Ông nói hiện nay thái hậu Videhi đã tìm lại được nếp sống an bình. Bà ăn chay trường, siêng năng niệm Phật A-Di-Ðà, thực tập thiền quán, và thường lui tới tinh xá Venuvana để cúng dường tam bảo và học hỏi giáo pháp.

Vua Ajatasattu bị ám ảnh bởi cái chết của thượng hoàng, bị lương tâm cắn rứt ngày đêm, tinh thần trở nên suy nhược, hay giựt mình, mất bình tĩnh và thường nằm mơ thấy những cơn ác mộng, lúc tỉnh dậy mồ hôi ra đầm đìa.

Y sĩ thường đến chữa trị cho vua, tới nay phần suy nhược đã giảm, nhưng phần tâm bệnh vẫn chưa an. Vua không còn tiếp xúc với Thượng tọa Devadatta nữa, nhưng cũng không liên lạc với Trúc Lâm.

Vua mời các đạo sĩ nổi tiếng của các giáo phái Makkhali Gosaleiputta, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nataputta, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccana và Purana Kassapa đến để tham vấn và chữa trị tâm bệnh. Vị nào cũng muốn làm vừa lòng vua để được hưởng ân huệ, nhưng không vị nào thành công.

Gần đây, vua mời thái hậu vào ăn cơm chung với hoàng hậu Vajira và thái tử Udayibhadda. Thái tử Udayibhadda chưa đầy ba tuổi, hôm đó nhất định đòi đem con chó vào phòng ăn. Ajatasattu chìu con. Nhưng trong bữa ăn, con chó chạy lung tung, chồm cả lên mình thái hậu. Vua hơi ngượng với thái hậu, nói:
- Ðem chó vào phòng ăn thật khó chịu. Nhưng không cho thì thằng bé này khóc chịu không nổi.
Thái hậu nói:
- Con thương con của con nên để cho nó đem chó vào phòng ăn, đâu có gì là lạ. Con có nhớ ngày xưa, cha con vì thương con mà kê miệng hút máu mủ trong ngón tay của con không?
- Con không nhớ, xin thái hậu kể lại cho con nghe.

- Một hôm, ngón tay trỏ của con bị đau và sưng vù lên. Một mụt nhọt đã mọc ngay dưới móng tay, làm nhức nhối khiến con khóc suốt ngày đêm trong ba bốn hôm liền.
Cha con sốt ruột, ngày nào cũng ẵm con đặt lên bắp đùi, ngậm ngón tay đau của con trong miệng để truyền hơi ấm qua, hy vọng làm con bớt đau và làm cho mụt nhọt mau mùi, sớm vỡ mủ ra.

Ðến khi mụt nhọt chín mùi, cha con dùng miệng hút mủ ra từ từ. Ðến khi hết mủ máu độc rồi, cha con vẫn tiếp tục ngậm ngón tay của con trong miệng, sợ rút ra làm con rát đau. Một lúc sau cha con bị sặc, nuốt luôn máu mủ vào bụng.

(Bà vừa nói vừa khóc nức nở) Mẹ nhắc lại chuyện này để con biết ngày xưa cha con thương con như thế nào. Bây giờ con có thương chìu con của con nhiều lắm thì cũng đến như thế là cùng.
Nghe thái hậu Videhi nói đến đó, vua Ajatasattu ôm đầu chạy luôn về phòng, bỏ dở bữa ăn. Thái hậu ngồi khóc thút thít một lúc rồi cũng đi về phòng mình.
Khi Jivaka đến chữa trị cho vua, nghe vua kể lại đủ thứ chuyện, từ chuyện những cơn ác mộng đến chuyện tham vấn các đạo sĩ, nhưng Jivaka vẫn làm thinh không nói gì. Vua hỏi:
- Jivaka, tại sao anh không nói gì hết?
- Tôi không dám có ý kiến về những chuyện riêng tư của bệ hạ. Tôi chỉ xin nói với bệ hạ một điều thôi. Tôi nghĩ chỉ có sa-môn Gotama mới giúp được bệ hạ dứt trừ những uẩn khúc trong tâm. Bệ hạ nên tìm tới đức Phật để được người chỉ dạy.
Im lặng một lúc, vua nói:
- Trẫm sợ sa-môn Gotama còn thù ghét trẫm.
- Bệ hạ đừng nói thế. Sa-môn Gotama không hề thù ghét ai cả. Ðức Phật là thầy của thượng hoàng, và cũng là người bạn thân thiết nhất của thượng hoàng.

Bệ hạ tới viếng Phật thì cũng như tới viếng thượng hoàng vậy. Chỉ có đức Phật mới có thể đem lại sự an ổn tinh thần cho bệ hạ. Tài y khoa của tôi không làm nổi điều này. Ðức Phật là bậc y vương có thể chữa lành tất cả các tâm bệnh.

Xin bệ hạ đừng ngại, đức Phật thường dạy các đệ tử nên thực hành Từ Bi Hỷ Xả để cứu độ chúng sanh ra khỏi mê lầm và đau khổ, thì không lẽ chính ngài lại không thực hành những điều đó.
Sau cuộc đàm đạo đó, vua Ajatasattu đã chấp nhận sẽ đi thăm Phật.


Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 25 Oct 2010, 09:52

Phật nói kinh Sa-Môn Quả[b][21] (Samanna-phala-sutta)

Y sĩ Jivaka Komarabhacca sắp đặt cuộc gặp gỡ giữa vua Ajatasattu và Phật tại vườn xoài của ông ở chân núi Griddhakuta (Linh Thứu). Lần đầu vua tìm đến gặp Phật vào một đêm trăng sáng giữa mùa sen nở, khoảng tháng 10 tháng 11 dương lịch, có quân lính đi hộ tống, và y sĩ Jivaka dẫn đường. Khi gần đến vườn xoài bỗng nhiên vua phát sợ vì thấy cảnh vật yên tĩnh quá.

Jivaka có cho vua biết hiện Phật đang cư trú tại vườn xoài của ông với gần một ngàn vị khất sĩ, vậy mà đến đây vua vẫn nghe im lìm không một tiếng động, cũng không thấy bóng dáng ai cả. Vua hỏi:

- Jivaka, có phải anh đang lừa ta vào hiểm địa của kẻ thù chăng?
- Thưa bệ hạ, tôi đâu dám thế. Có lẽ đức Phật và chư tăng đang ở trong giảng đường có đèn sáng đằng kia. Chúng ta hãy đi đến đó. Xin bệ hạ chớ nghi ngại điều chi hết.

Vua xuống voi, đi với Jivaka và một số cận vệ. Tới cửa giảng đường, vua thấy đức Phật đang ngồi trên một pháp tòa cao thuyết giảng, trước mặt có mấy trăm khất sĩ đang ngồi xếp bằng, im lặng, chăm chỉ lắng nghe. Cảnh tượng thật trang nghiêm và đầm ấm.

Y sĩ Jivaka bước vào báo tin có vua đến. Ðức Phật bước ra cửa mời vua vào giảng đường, ngồi vào ghế thượng khách. Phật mở lời:
- Thưa Ðại vương, hôm nay Ðại vương đến viếng Như Lai có điều chi cần hỏi, xin ngài cứ tự tiện.
- Bạch Thế Tôn, trẫm chỉ được nghe Thế Tôn giảng đạo có một lần ở hoàng cung, hồi trẫm còn nhỏ. Hôm nay trẫm muốn hỏi Thế Tôn câu này: Tu hành có kết quả lợi ích gì mà trẫm thấy có hằng ngàn, hằng chục ngàn người bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con đi tu như thế?
- Ðại vương đã hỏi ai câu ấy chưa?
- Trẫm đã hỏi nhiều vị giáo chủ và đạo sư nổi tiếng nhưng chưa có câu trả lời nào làm trẫm vừa lòng cả, kể cả câu trả lời của Thượng tọa Devadatta.
- Ðại vương, hôm nay Như Lai sẽ nói cho Ðại vương nghe về những hoa trái, những lợi ích của sự tu học theo Chánh Pháp. Những hoa trái có thể gặt hái được ngay trong hiện tại, và những hoa trái có thể gặt hái được trong tương lai.

Ðại vương không cần phải dùng đến các phương pháp suy luận phức tạp. Ðại vương chỉ cần dùng trực tâm để nhận xét, tức khắc sẽ thấy những hoa trái của sự tu học, rõ ràng như nhìn thấy trái xoài trong lòng bàn tay.
Ðại vương, ví dụ như có một người đang làm tôi tớ cho người ta, phải thức khuya dậy sớm hầu hạ và làm theo mệnh lệnh của chủ; một hôm bỗng có tư tưởng như sau:

Chủ là người, mình cũng là người, tại sao mình phải đày đọa mình như thế này? Nghĩ như thế, người ấy từ bỏ thân phận tôi đòi, xin xuất gia, tu theo Chánh Pháp, sống đời phạm hạnh, tinh cần, tỉnh thức, ăn ngày một bữa, tập thiền hành, thiền tọa, đi đứng trang nghiêm, trở nên một vị khất sĩ có uy nghi, có dung hạnh, có đạo đức.

Ðại vương nghĩ sao? Biết được vị khất sĩ ấy ngày xưa vốn là thân phận tôi đòi, Ðại vương có gọi người ấy tới và nói "Này người kia, hãy lại đây làm nô bộc cho ta, hãy thức khuya dậy sớm và thi hành mọi mệnh lệnh của ta" hay không?
- Thưa Thế Tôn, trẫm sẽ không làm như vậy, sẽ không nói như vậy. Trái lại trẫm sẽ cung kính đảnh lễ người ấy, mời người ấy ngồi xuống để cúng dường, và sẽ ra lệnh bảo vệ cho người ấy đúng theo luật pháp.

- Ðại vương, đó là hoa trái đầu tiên mà người sa-môn có thể gặt hái được ngay sau khi xuất gia. Người ấy thoát được sự kỳ thị giai cấp, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giàu nghèo, và khôi phục được nhân phẩm của mình.
- Xin Thế Tôn chỉ dạy tiếp.
- Ðại vương, nhân phẩm chỉ là hoa trái đầu tiên của vị sa-môn. Nhờ hành trì 250 giới mà vị sa-môn được an trú trong một trạng thái vô ưu và thanh tịnh. Những người không giữ giới có thể phạm vào các tội lỗi như giết người, trộm cắp, tà dâm, dối gạt, say sưa và tự dấn thân vào những hình phạt đau đớn về thể xác lẫn tinh thần.

Vị sa-môn không những giữ năm giới không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không dối gạt, không say sưa, mà còn giữ trên hai trăm giới khác. Nhờ vậy vị ấy luôn luôn sống trong tình trạng an ninh, tinh thần thoải mái; không lo sợ, không ân hận vì không làm điều gì sai quấy; không thất vọng lo buồn vì không tham cầu mong muốn.

Ðó là một loại hoa trái khác mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.
- Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp.
- Ðại vương, vị sa-môn không có tài sản hoặc vật sở hữu gì có giá trị ngoài ba chiếc áo cà-sa và một bình bát.

Do đó không có gì để sợ mất, sợ cướp. Không gây thù oán nên không sợ bị ai ám hại. Do đó có thể ngủ một mình trong rừng, dưới một gốc cây trong sự thanh thản, vô ưu, lặng lẽ. Không lo sợ là một hạnh phúc lớn.

Ðó là một loại hoa trái khác mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.
- Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp.
- Ðại vương, vị sa-môn do biết thiểu dục tri túc (ít muốn, biết đủ) nên có nếp sống đơn giản tới mức tối đa. Mỗi ngày chỉ ăn một bữa, không nhà cửa ruộng vườn, không màng giàu sang danh vọng, nên được thong dong, tự tại, thảnh thơi. Sự thảnh thơi là một hạnh phúc lớn.

Ðó cũng là một loại hoa trái mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.
- Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp cho trẫm.
- Ðại vương, nếu Ðại vương biết quán niệm hơi thở, biết thực tập thiền quán, thì Ðại vương mới có được ý niệm về hạnh phúc của người tu. Hạnh phúc đó là sự thiền duyệt.

Nhờ thiền duyệt, vị sa-môn biết cách giữ gìn sáu căn thanh tịnh, không bị sáu trần gây ra phiền não và ô nhiễm trong tâm. Nhờ thiền duyệt, vị sa-môn được tâm hỷ lạc, một niềm vui đầy an lạc, thanh tịnh, siêu thoát, từ sơ thiền đến tứ thiền.

Tâm hỷ lạc này còn có một năng lực kỳ diệu trị lành các chứng bệnh suy nhược của cơ thể và tinh thần. Ðây là loại hoa trái quí báu của sự tu học mà vị sa-môn có thể gặt hái được ngay trong đời hiện tại.
- Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp cho trẫm.
- Ðại vương, vị sa-môn nhờ an trú tinh cần trong giới luật và chánh niệm mà có định tâm.

Dùng năng lực của tâm định, quán chiếu vạn pháp trên thế gian, thấy được tính cách vô thường, vô ngã của muôn vật. Nhờ thấy được tính cách vô thường và vô ngã của muôn vật nên không bị ràng buộc, vướng mắc vào bất cứ sự vật nào trên thế gian.

Nhờ không bị vướng mắc nên được giải thoát, thảnh thơi, tự tại. Ðại vương, giải thoát mới là hạnh phúc chân thật, trường tồn, không bao giờ mất, là hoa trái quí báu nhất của sự tu học.

Trong số những vị khất sĩ ngồi trong giảng đường này, nhiều vị đã thưởng thức được thứ hoa trái quí báu đó. Ðó cũng là loại hoa trái mà một vị sa-môn có thể gặt hái được ngay trong đời hiện tại.
- Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài hoan hỷ chỉ dạy tiếp.
- Ðại vương, vị sa-môn nhờ giữ gìn giới luật mà tâm được định, nhờ tâm định mà phát sinh trí huệ rộng lớn.

Rồi dùng trí huệ bát-nhã đó mà quán chiếu sâu vào tự tánh các pháp, thấy tự tánh của muôn sự muôn vật đều không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm, do đó mà được cái thấy biết thanh tịnh, sáng suốt, không phân biệt.

Nhờ dứt trừ được mọi ý thức phân biệt, nên vị sa-môn nhìn đời bằng con mắt bình tĩnh, không lo lắng, không sợ hãi, cỡi trên sóng sinh tử mà an nhiên tự tại đi vào cuộc đời để cứu độ chúng sanh, chỉ bày cho chúng sanh con đường chánh pháp, để chúng sanh cũng được nếm hương vị giải thoát.

Ðại vương, giúp đỡ cho người khác hết khổ được vui cũng là một niềm vui lớn cho chính mình. Niềm vui này cũng là một loại hoa trái xinh tươi của sự tu học, vị sa-môn có thể thực hiện được phần nào trong hiện tại và sẽ tiếp tục thực hiện trong tương lai.

Ðại vương, các vị khất sĩ trong khi đi khất thực hằng ngày, có nhiệm vụ hướng dẫn dân chúng đi trên con đường đạo đức, hành động theo chánh pháp để được hạnh phúc giải thoát. Ðại vương, hoa trái của sự tu học không phải chỉ dành riêng cho vị sa-môn hưởng thụ mà là gia tài của cả quốc gia và nhân loại.

Vua Ajatasattu đứng dậy, chấp hai tay cung kính bạch:
- Vi diệu thay! Bạch Thế Tôn, bằng những lời đơn giản, Thế Tôn đã soi sáng cho trẫm, đã giúp trẫm thấy được giá trị chân thật của Chánh Pháp. Thế Tôn đã dựng lại những gì đã ngã xuống, phơi bày những gì đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, soi sáng nơi tối tăm.

Xin Thế Tôn hoan hỷ nhận trẫm làm đệ tử tại gia của người, cũng như ngày xưa Thế Tôn đã nhận thượng hoàng và thái hậu làm đệ tử của Thế Tôn vậy.
Nói xong, vua Ajatasattu cung kính đảnh lễ dưới chân Phật. Phật mỉm cười chấp thuận, rồi bảo Thượng tọa Sariputta hướng dẫn vua và hoàng hậu làm lễ quy y tam bảo và thọ trì năm giới. Sau lễ quy y, vua từ tạ Phật, xin phép trở về cung. Phật bảo:

- Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải làm.
Sau lần gặp gỡ đó, vua Ajatasattu thường đến thăm Phật mà không cần qua sự sắp đặt của y sĩ Jivaka nữa. Vua cũng không cần đem theo voi ngựa và binh sĩ hộ tống.

Vua Ajatasattu cũng lại bước lên những bậc thang đá để lên núi Griddhakuta như vua Bimbisara ngày xưa. Kể từ nay vua Ajatasattu cũng trở thành người hộ pháp rất đắc lực của Phật như vua Bimbisara trước kia.

Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa
[b][22]


Sau vài ngày nghỉ ngơi dưỡng sức, đức Phật bảo Thượng tọa Ananda và các đại đệ tử thông báo rộng rãi cho các vị khất sĩ ở các vùng lân cận tập họp về Linh Thứu để nghe một bài pháp rất quan trọng.

Hôm ấy, cả vùng núi Griddhakuta (Linh Thứu) đông như hội chợ. Có mười hai ngàn khất sĩ A-la-hán mặc áo cà-sa vàng rực rỡ, hai ngàn khất sĩ thuộc bậc hữu học và vô học, tám mươi ngàn Bồ-tát bất thối chuyển từ các cõi Phật, hai mươi ngàn thiên thần từ các cõi Trời và Long cung, vua Ajatasattu (A-Xà-Thế) cùng các đại thần, thân hào nhân sĩ và hoàng tộc đều tựu hội đến nghe pháp.

Khởi đầu đức Phật nói vắn tắt kinh "Vô-Lượng-Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm" cho các vị Bồ-tát nghe. Rồi đức Phật ngồi kiết già, nhập chánh định "Vô lượng nghĩa xứ", thân và tâm của Phật đều không lay động. Trời bắt đầu mưa hoa Mạn-đà-la (Mandara) và hoa Mạn-thù-sa (Manjusaka), khắp cõi Phật vang động.

Ðức Phật từ giữa hai chặn lông mày trắng phóng ra một đạo hào quang chiếu khắp mười tám ngàn cõi phương đông, phía dưới đến địa ngục A-tỳ và phía trên đến cõi trời Sắc-cứu-cánh. Tất cả thính chúng đều vui mừng được thấy việc chưa từng có, chắp tay cung kính nhìn Phật, chờ nghe diệu pháp.

Ðức Phật từ trong chánh định, bảo ngài Sariputta:
- Này Sariputta, trí huệ của chư Phật[23] rất sâu xa, khó thấy, khó hiểu, khó vào. Tất cả hàng Thanh-văn cùng Duyên-giác đều không biết được.

Từ khi ta thành Phật đến nay chỉ rộng dùng phương tiện giảng nói nhân duyên, bốn sự thật, tám hành động chơn chánh, 37 phẩm trợ đạo ... để dìu dắt chúng sanh xa lìa mê chấp. Thật ra, để tỏ bày tri kiến thâm diệu của chư Phật, Như Lai chưa từng nói một lời. Ngoài chư Phật ra, không ai có thể hiểu nổi.


- Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Sariputta nói, xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ bày tri kiến thâm diệu của chư Phật. Con tin rằng trong pháp hội này có rất nhiều người đã trồng căn lành từ nhiều đời nhiều kiếp sẽ hiểu được và vui mừng tin thọ.
- Thôi thôi! Này Sariputta, nếu nói việc đó ra thì tất cả trời, người, a-tu-la (asura) đều sẽ kinh sợ và nghi ngờ, tỳ-kheo tăng thượng mạn sẽ bị đọa lạc.
Ðức Phật nói đến đây thì trong thính chúng có năm nghìn người đứng lên xá Phật rồi ra về. Họ nghĩ rằng mình đã theo Phật tu học mấy chục năm nay, đã đắc thánh quả A-la-hán, hết phiền não, được niết-bàn, sao hôm nay đức Phật lại xem thường mình đến thế, mình đâu cần phải học thêm gì nữa. Ðức Phật ngồi yên không ngăn cản. Khi hội trường trở lại yên lặng, đức Phật nói tiếp:

- Này Sariputta, bây giờ thì Như Lai có thể nói được rồi, vì bọn người tăng thượng mạn, chưa chứng mà cho đã chứng, đã rời khỏi hội trường, chỉ còn lại những người đã được trí huệ thanh tịnh. Quí vị hãy chăm chỉ lắng nghe, Như Lai sẽ vì quí vị mà giảng nói.

Này Sariputta, các đức Phật Thế Tôn ra đời đều chỉ vì một đại sự nhân duyên là "khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật". Chư Phật đều dùng vô lượng phương tiện, nhân duyên, thí dụ để dẫn dắt chúng sanh đến Phật thừa. Nhưng vì Phật thừa rất thậm thâm vi diệu khó hiểu nên mới phân biệt nói thành ba thừa[24].

Cũng như con đường dài được chia ra làm nhiều chặng để cho người đi không ngại dài lâu mỏi mệt. Nhưng đến mỗi trạm nghỉ ngơi, người đi phải biết là cần phải đi thêm nữa mới đến đích.

Cũng thế, tuy đến nay đa số quý thầy đã đến quả vị A-la-hán, hết phiền não, vượt khỏi sanh tử, an hưởng niết-bàn, nhưng như thế chưa đủ, quý thầy cần phải tinh tấn thêm nữa để đạt đến mục đích tối hậu là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.


Lại nữa, nếu ai thấy mình đã được thánh quả thì đúng là kẻ tăng thượng mạn, vì bậc thánh nhân đã thật sự dứt trừ ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, không còn thấy có ngã và ngã sở thì làm gì còn thấy có chứng đắc.

- Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Sariputta nói, con từ xưa đến nay theo hầu Phật, chưa từng được nghe pháp vô thượng thừa như thế này. Hôm nay được nghe Phật nói pháp vô thượng, con rất vui mừng, xin tin nghe và ghi nhớ.
- Này Sariputta, hôm nay Như Lai sẽ vì chúng Thanh văn mà nói kinh đại thừa tên là "Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ-Niệm". Này Sariputta, đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, sau khi cúng dường nhiều nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-tát, thầy sẽ thành Phật hiệu là Hoa-Quang Như Lai.

Kế đến, đức Phật lại thọ ký cho Thượng tọa Maha-Kassapa (Ma Ha Ca Diếp) sẽ thành Phật hiệu là Quang-Minh Như Lai, Thượng tọa Subhuti (Tu Bồ Ðề) sẽ thành Phật hiệu là Danh-Tướng Như Lai, Thượng tọa Maha Kaccana (Ma Ha Ca Chiên Diên) sẽ thành Phật hiệu là Diêm-Phù-Na-Ðề-Kim-Quang Như Lai,
Thượng tọa Moggallana (Mục Kiền Liên) sẽ thành Phật hiệu là Ða-Ma-La-Bạt-Chiên-Ðàn-Hương Như Lai, Thượng tọa Punna Mantaniputta (Phú-Lâu-Na Mãn Từ Tử) sẽ thành Phật hiệu là Pháp-Minh Như Lai, Thượng tọa Kondanna (Kiều Trần Như) sẽ thành Phật hiệu là Phổ-Minh Như Lai.

Rồi Phật theo thứ lớp thọ ký cho cả 1200 vị đệ tử A-la-hán đều sẽ thành Phật. Tiếp đến, đức Phật lại thọ ký cho Ananda, Rahula và hai nghìn người thuộc hàng hữu học và vô học đều sẽ thành Phật.

Năm trăm vị A-la-hán vừa được Phật thọ ký xong, vui mừng hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật đảnh lễ rồi thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn, chúng con thường có ý nghĩ cho rằng mình đã được rốt ráo diệt độ. Ðến nay mới biết đó là người vô trí.

Chúng con cần phải tinh tấn nhiều hơn nữa mới được trí huệ của Như Lai. Tất cả thính chúng nghe Phật thọ ký cho trên ba ngàn người sẽ thành Phật, đều vui mừng, được điều chưa từng có.

Họ tin chắc rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, và con đường tu tập Chánh Pháp tuy có dài lâu, cần nhiều kiên trì và tinh tấn, nhưng cứ tiến tu thì nhất định sẽ đến mục đích tối hậu là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Lúc bấy giờ đức Phật quay sang nói với Bồ-tát Dược Vương:
- Này Dược Vương, trong đại chúng đây, từ hàng chư Thiên cho đến hàng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đã tùy hỷ ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Như Lai đều thọ ký cho sẽ đặng vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Nếu sau này có người cung kính thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dù chỉ có một bài kệ, ông nên biết đó là người sẽ thành Phật.

Này Dược Vương, nếu có người thiện nam, tín nữ nào, sau khi Như Lai diệt độ, muốn vì bốn chúng[25] mà nói kinh Pháp Hoa này cho đúng cách, thì người đó phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này[26].

Nhà Như Lai chính là tâm từ bi rộng lớn đối với tất cả chúng sanh. Áo Như Lai chính là tánh nhu hòa, nhẫn nhục. Tòa Như Lai chính là "tất cả pháp đều không". Khi có người nói kinh Pháp Hoa như thế thì Như Lai dù đang ở đâu cũng sẽ sai thiên thần, hộ pháp, hóa nhân đến ủng hộ người đó về mọi phương diện.

Ðức Phật vừa nói đến đây thì có tháp bằng bảy báu cao 500 do tuần (10.000 km), rộng 250 do tuần (5.000 km) từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không[27].

Tháp được trang trí toàn bằng châu báu cực kỳ lộng lẫy trang nghiêm, hương thơm ngào ngạt cùng khắp ... Bảo tháp này, như một bức tranh siêu thực, hiển bày đầy đủ thể, tướng, dụng của "tri kiến Phật" một cách bình đẳng cho tất cả thính chúng trong hội đều thấy Phật tánh trang nghiêm, quí báu, thanh tịnh, diệu dụng, không thể nghĩ bàn, ở khắp cả không gian và thời gian.

Nhưng chỉ những ai trụ vào "hư không"[28] mới có thể trông thấy rõ ràng được, còn những người thấp bé thì phải nhờ thần lực của đức Phật đưa lên "hư không" mới có thể nhìn thấy. Ðức Phật lớn tiếng tuyên bố:
- Ở trong cõi Ta-bà này, ai có thể rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì Như Lai sẽ đem kinh phó chúc cho người đó, vì không còn bao lâu nữa Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.

Tất cả thính chúng vừa thấy được Pháp Thân của Phật Ða Bảo (thể) cùng ngồi chung một tòa với Báo Thân của Phật Thích Ca (tướng) trong tháp bảy báu[29], xung quanh có vô số ứng hóa thân Phật Thích Ca (dụng), vừa nghe Phật tuyên bố phó chúc kinh, đều phát tâm thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Ðức Phật dạy muốn thọ trì kinh Pháp Hoa cho có hiệu quả nhanh chóng và tốt đẹp thì người trì kinh phải từ nơi Phật tánh của mình mà phát tâm[30] trì kinh và đồng thời phải tu các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục[31], tinh tấn, thiền định và trí huệ[32]
.

Công đức của người trì kinh Pháp Hoa như thế thật rất thù thắng vô lượng vô biên, mau đến bậc nhất thiết chủng trí. Lại nữa, người trì kinh như thế sẽ sớm được sáu căn thanh tịnh, mỗi căn đều viên mãn công đức[33].

Khi thấy thính chúng đã dũng mãnh phát tâm thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đức Phật bèn kể lại gương sáng của những vị Bồ-tát đã thọ trì kinh Pháp Hoa như Bồ-tát Dược Vương, Bồ-tát Diệu Âm, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Phổ Hiền.

Trong mỗi câu chuyện, đức Phật đều nêu rõ phương pháp trì kinh Pháp Hoa của những vị Bồ-tát đó, và những lợi ích thù thắng không thể nghĩ bàn của việc trì kinh Pháp Hoa.

Tất cả thính chúng từ hàng đại Bồ-tát đến hàng cư sĩ được nghe Phật thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa đều vui mừng không xiết, biết rằng mình đã sẵn có Phật tánh, đều phát tâm thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa, và nguyện sẽ dõng mãnh tinh tấn tu hành cho đến mục tiêu tối hậu là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Cuối mùa an cư năm ấy, y sĩ Jivaka xin xuất gia, ông được 55 tuổi, được Phật ban cho pháp tự là Vimala Kondanna. Khi mùa an cư hoàn mãn, Phật tiếp tục ở lại Griddhakuta tịnh dưỡng dưới sự chăm sóc của y sĩ Jivaka.

Sức khỏe của Phật được hồi phục rất nhiều. Ðến mùa xuân, Phật lại lên đường đi hoằng hóa về phương bắc, rồi lần hồi trở về Jetavana để nhập hạ thứ 43.

21- Hạ 43 tại Jetavana (năm -547)

Ni-sư Pajapati và Thượng tọa Rahula viên tịch

Mùa mưa năm nay, Phật an cư tại tinh xá Jetavana. Giáo đoàn khất sĩ được hai tin buồn: ni sư Pajapati Gotami đã viên tịch vào mùa đông năm ngoái (-548) tại Vesali, thọ 117 tuổi, vài tháng sau Thượng tọa Rahula cũng đã viên tịch tại Jetavana, thọ 48 tuổi.

Thượng tọa Rahula nổi tiếng là vị khất sĩ mật hạnh[34] đệ nhất. Sự ra đi của thầy làm cho mùa an cư giảm đi phần nào sinh khí. Nhất là thầy Svastika cảm thấy bị mất mát rất nhiều.

Thầy mất đi một người bạn đạo tinh cần để ý nhắc nhở và hướng dẫn thầy từng ly từng tí. Hiện nay khách hành hương còn thấy di tích tháp thờ xá lợi của Thượng tọa Rahula (tháp số 12) tại Jetavana, cạnh vòng rào phía nam.

Vua Pasenadi giết oan tướng Bandhula

Vua Pasenadi đi du hành mãi tới giữa mùa an cư mới trở về thủ đô. Vừa về tới Sravasti, vua Pasenadi liền đến tinh xá Jetavana thăm Phật. Vua nói với Phật là vì tuổi đã cao, không thích ở hoài trong cung điện, nên vua thường hay đi đây đi đó để tinh thần được thoải mái và có dịp thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên.

Vua giao công việc triều chính cho các quan đại thần, chỉ đem theo một đoàn tùy tùng nhỏ để đi du ngoạn các nơi trong và ngoài nước. Trong dịp này vua được rảnh rang để thực tập thiền quán, vui thú cảnh nhàn. Vua Pasenadi nói tiếp:


- Thưa Thế Tôn, trẫm năm nay đã 77 tuổi. Thế Tôn cũng vậy. Trẫm nghe nói gần đây Thế Tôn cũng thường đi du ngoạn các nơi danh lam thắng cảnh. Nhưng đi đến đâu Thế Tôn cũng mang ánh sáng chánh pháp đến dạy dỗ và hướng dẫn cho mọi người tu học. Còn trẫm đi du ngoạn thì chỉ được an nhàn, lợi lạc phần mình.

Rồi vua tâm sự với Phật về nỗi đau buồn thầm kín của mình từ nhiều năm nay. Số là do mật tin có âm mưu đảo chính tại kinh đô 5 năm về trước, sau khi chiến thắng quân đội của Ajatasattu, vua Pasenadi đã kết tội lầm vị tổng tư lệnh quân đội hoàng gia là tướng Bandhula và đã xử tử ông. Gần một năm sau vua mới biết là mình lầm.

Vua hối hận lắm. Tướng Bandhula vừa là người bạn học cũ của vua ở Taxashila, vừa là người đã có công lớn trong cuộc chiến thắng quân đội Magadha.

Vua đã tìm mọi cách để phục hồi danh dự cho tướng Bandula và bồi thường thiệt hại cho gia đình ông. Ngoài ra vua cũng đã cất nhắc cháu của ông là tướng Karayana lên chức tổng tư lệnh quân đội hoàng gia.

Có Phật an cư tại thủ đô, vua Pasenadi thường đến tinh xá Jetavana hầu như mỗi ngày để nghe thuyết pháp, hoặc nghe Phật chỉ điểm thêm những chỗ khó hiểu cho các khất sĩ, hoặc để thực tập thiền tọa và thiền hành.

Mãn mùa an cư, Phật lại lên đường hoằng pháp, và vua cũng lại cùng đoàn tùy tùng đi tuần du khắp nơi.

[1] Ba ác đạo là giết cha mẹ, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu.
[2] A-tăng-kỳ kiếp (asamkhya kalpa). Asamkhya là số rất lớn khó tính đếm được (10 lũy thừa 47). Kalpa (kiếp) là đơn vị thời gian rất dài. A-tăng-kỳ kiếp là khoảng thời gian rất lâu dài khó tính đếm được.
[3] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 208-209.
[4] Xem Majjhima-nikaya 45, 75.
[5] Xem Majjhima-nikaya 143: Anathapindikovada-sutta; Trung A-Hàm 28.
[6] Xem Digha-nikaya 31: Singalovada-sutta; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 16; Trường A-Hàm, quyển 11: kinh Thiện Sinh.
[7] Quán chiếu: suy nghĩ chính chắn để biết rõ ràng.
[8] Giác ngộ: biết rõ chân lý.
[9] Giải thoát: ra khỏi mọi sự ràng buộc, đau khổ về vật chất cũng như về tinh thần.
[10] Mê lầm: hiểu biết không đúng sự thật, không đúng chân lý.
[11] Phiền não: trạng thái tâm lý xáo trộn như vui, buồn, thương, ghét, giận, tham ...
[12] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 89; Trung A-Hàm 153.
[13] Phạm hạnh: giữ giới luật trong sạch.
[14] Tỉnh thức: giữ tinh thần sáng suốt, 6 căn thanh tịnh.
[15] Vọng niệm: những ý niệm hoặc tư tưởng không đúng sự thật, không đúng chân lý.
[16] Tạp niệm: những ý niệm hoặc tư tưởng lăn xăng, tán loạn, làm mất chánh định và chánh niệm.
[17] Xem Majjhima-nikaya 143.
[18] Xem Samyutta-nikaya III.14-15.
[19] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 73.
[20] Xem Digha-nikaya 5: Kutadanta-sutta.
[21] Xem Digha-nikaya 2: Samannaphala-sutta; Trường A-Hàm 27.
[22] Kinh Diệu Pháp Liên Hoa = Saddharma-Pundarika sutra.
[23] Trí huệ của chư Phật cũng có nghĩa là Phật tánh sẵn có của chúng ta.
[24] Ba thừa: Thinh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa.
[25] Bốn chúng là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc (thiện nam), Ưu-bà-di (tín nữ).
[26] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 10 "Pháp sư".
[27] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 11 "Hiện bửu tháp".
[28] "Trụ vào hư không" ở đây có nghĩa bóng là "có tâm rổng rang thanh tịnh như hư không".
[29] Tháp bảy báu tượng trưng cho chơn tánh của muôn vật đều do bảy yếu tố căn bản (thất đại) là đất, nước, gió, lửa, thức, trí và hư không.
[30] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 15 "Tùng địa dõng xuất".
[31] Bố thí thì được pháp không; trì giới thì được thanh tịnh; nhẫn nhục thì được ngã không.
[32] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 17 "Phân biệt công đức".
[33] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 19 "Pháp sư công đức".
[34] Mật hạnh là nghiêm cẩn giữ gìn tất cả các giới hạnh, gồm 3.000 oai nghi và 84.000 tế hạnh.
=
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru



Tổng số bài gửi : 7604
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Tiền Thân Đức Phật phần 14   Mon 06 Dec 2010, 12:34

Tiền Thân Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni
(Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005)
Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai
Phần 14

Phật nhập niết-bàn

Các nhân vật quan trọng như vua Suddhodana[1]
Uruvela Kassapa
[2] vua Suppabuddha[3], vua Bimbisara[4]
Ni sư Maha-Pajapati[5], Rahula[6], vua Pasenadi[7], Moggallana[8], Yasodhara[9][/size] rồi đến Sariputta[10]đều lần lượt qua đời.

Ðức Phật cũng đã già yếu, ngài quyết định nhập niết-bàn đúng theo luật sinh già bệnh chết, và ban những lời dạy cuối cùng.

1- Hạ 44 tại Jetavana (năm -546)

Vua Pasenadi ca ngợi Phật [11]

Sau mùa an cư thứ 44 tại Jetavana vào năm 546 trước tây lịch, Phật đi về hướng tây, đến xứ Kuru, thuộc vùng thượng lưu sông Ganga và sông Yamuna.

Sau khi ở đó hai tháng, Phật lại theo bờ sông Yamuna đi xuống miền nam, đến Kosambi, rồi đến Benares (Varanasi). Từ Benares, Phật trở về Vesali; rồi từ Vesali đi Kapilavastu.

Một hôm, Phật đang cư trú hành đạo tại làng Ulumpa thuộc quận Medalumpa trong xứ Sakya thì có vua Pasenadi đến thăm.
Vua Pasenadi đang du ngoạn tại Nagaraka với hoàng tử Vidudabha (Virudhaka, Tỳ-Lưu-Ly) và tướng Digha-Karayana.

Nagaraka chỉ cách Medalumpa chừng nửa ngày đường. Nghe tin Phật đang ở tại Ulumpa, vua Pasenadi liền dắt đoàn tùy tùng cùng đi trên bốn chiếc xe song mã đến thăm Phật.

Ðến công viên, nơi Phật đang cư trú, vua để đoàn tùy tùng ở lại bên ngoài, rồi bảo tướng Karayana cùng đi với mình vào công viên. Thấy bóng các vị khất sĩ áo vàng qua lại, vua hỏi thăm Phật ở đâu.
Vị khất sĩ chỉ một cái am lá ẩn dưới bóng cây và nói:
- Tâu Ðại vương, Thế Tôn đang ở trong am đó. Cửa đóng, Ðại vương cứ ho lên một tiếng và gõ cửa hai tiếng, Thế Tôn sẽ mở cửa rước Ðại vương vào.

Vua cởi thanh gươm và tháo vương miện xuống trao cho vị tướng lãnh, bảo ông ta trở ra cổng với đoàn tùy tùng chờ mình, rồi vua đi một mình đến am Phật.
Tới trước cửa, vua đằng hắng và ho lên một tiếng, chưa kịp gõ cửa thì cửa đã mở. Phật vui vẻ mời vua vào am. Hai Thượng tọa Sariputta và Ananda bước đến chào đón vua.

Phật mời vua ngồi trên một chiếc ghế, rồi tự mình ngồi trên chiếc ghế đối diện. Hai vị Thượng tọa đứng hầu sau lưng Phật. Vua Pasenadi vừa ngồi xuống ghế đã vội đứng dậy chấp tay đảnh lễ dưới chân Phật, miệng nói:

- Bạch Thế Tôn, trẫm là Pasenadi, vua nước Kosala, xin đảnh lễ đức Thế Tôn. Trẫm là Pasenadi, vua nước Kosala, xin đảnh lễ đức Thế Tôn. Phật đỡ vua đứng lên, mời ngồi vào ghế, rồi hỏi:

- Ðại vương, sao hôm nay Ðại vương làm lễ cung kính quá đáng như thế? Chúng ta không phải là đôi bạn thân thiết hay sao?
- Bạch Thế Tôn, trẫm có vài điều muốn nói với Thế Tôn hôm nay, sợ không còn có dịp nào khác.

- Có điều chi xin Ðại vương cứ nói.
- Thưa Thế Tôn, trẫm nghe có người nói Sa-môn Gotama hiểu biết tất cả (sabbannu, omniscient), không có điều gì mà ngài không biết. Có đúng thế không?
- Thưa Ðại Vương, nói thế hơi quá. Ðúng ra chỉ nên nói Sa-môn Gotama có đầy đủ Tam Minh là Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh và Lậu Tận Minh.
- Thưa Thế Tôn, có người cho rằng Thế Tôn đã nói không có vị sa-môn hay bà-la-môn nào có thể hiểu biết tất cả (omniscient). Có đúng thế không?
- Thưa Ðại Vương, Như Lai chỉ nói không ai có thể thấy và biết tất cả cùng một lúc.

- Thưa Thế Tôn, trẫm hoàn toàn tin tưởng Thế Tôn là bậc toàn giác. Trẫm hoàn toàn tin tưởng nơi giáo pháp và giáo đoàn khất sĩ của Thế Tôn. Trẫm đã từng biết những tu sĩ Bà-la-môn và các đạo sĩ thuộc các giáo phái khác.

Có người tu hành đứng đắn được mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm, nhưng sau đó trẫm lại thấy họ bỏ cuộc và trở về nếp sống ngũ dục. Ở trong đạo pháp của Thế Tôn, trẫm thấy các vị khất sĩ hầu hết đều tu phạm hạnh cho đến trọn đời.

Thế Tôn, trẫm từng thấy vua chúa chống đối vua chúa, tướng sĩ âm mưu chống tướng sĩ, Bà-la-môn chống Bà-la-môn, vợ cãi cọ với chồng, con cãi cọ với cha, anh cãi cọ với em, bè bạn cãi cọ với bè bạn.

Ở đây trẫm thấy các vị khất sĩ sống trong hòa kính, an vui, hợp nhau như nước với sữa. Trẫm không thấy ở đâu có được sự thương yêu hòa hợp như trong giáo đoàn khất sĩ.

Thế Tôn, khắp nơi trẫm đã từng thấy giới đạo sĩ với dáng điệu khắc khổ, vẻ mặt âu sầu. Nhưng ở đây, trẫm thấy các vị khất sĩ luôn luôn tỉnh táo, tươi cười, vui vẻ, thong dong. Ðiều này làm trẫm càng thêm tin tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp của Thế Tôn hơn.
Thế Tôn, trẫm là vua, thuộc dòng dõi chiến sĩ. Trẫm có quyền ra lệnh chém đầu, hoặc giam cầm, hoặc trừng phạt bất cứ ai, nếu trẫm muốn. Vậy mà trong các phiên họp, thiên hạ vẫn dám cướp lời trẫm.

Dù trẫm có nói "Quí vị không được cướp lời trẫm", họ cũng vẫn quên và vẫn cướp lời trẫm như thường. Nhưng ở tinh xá, có khi có trên một ngàn vị khất sĩ ngồi nghe Thế Tôn thuyết pháp mà trẫm không nghe một tiếng động nhỏ, đừng nói chi có ai dám cướp lời Thế Tôn. Trẫm nghĩ: Thật là mầu nhiệm.

Phật chẳng cần quyền uy, chẳng cần gươm giáo, chẳng cần trừng phạt gì mà ai cũng tôn kính Phật một cách tuyệt đối. Ðiều này làm cho trẫm càng thêm tin tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp của Thế Tôn.

Thế Tôn, trẫm đã từng biết nhiều người trong giới trí thức, học giả, đạo sư lừng danh họp với nhau để soạn trước những câu hỏi bí hiểm có thể làm cho Thế Tôn lúng túng.

Nhưng khi đến gặp Thế Tôn và nghe Thế Tôn thuyết pháp, họ đều bị Thế Tôn chinh phục, đến nỗi không còn nghĩ tới việc nêu lên những câu hỏi của họ đã soạn sẵn. Ðiều này càng làm cho trẫm có thêm tin tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp của Thế Tôn.

Thế Tôn, trẫm có hai người thợ mộc rất khéo tay tên là Isidatta và Purana. Có lần trẫm đem họ theo trong một chuyến du hành xa. Gặp đêm mưa gió bất ngờ, vua tôi đều phải ngủ chung trong một chiếc lều tranh nhỏ.

Hai người thợ mộc của trẫm ngồi nói chuyện với nhau về giáo pháp học được của Thế Tôn, đến khi mỏi mệt họ nằm xuống ngủ, đầu họ hướng về núi Linh-Thứu, chân họ xoay về phía trẫm.

Thế Tôn có cho họ lương bổng gì đâu, thế mà họ tôn kính Thế Tôn hơn cả trẫm đang ở bên cạnh. Ðiều này khiến trẫm càng tin tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp của Thế Tôn hơn.

Thưa Thế Tôn, Thế Tôn thuộc giai cấp vua chúa, trẫm cũng thuộc giai cấp vua chúa. Thế Tôn năm nay đã 78 tuổi, trẫm năm nay cũng đã 78 tuổi. Vì vậy trẫm nghĩ đây là cơ hội quí báu để trẫm tỏ lòng quy kính Phật và bày tỏ tình tri kỷ giữa trẫm và Thế Tôn. Bây giờ trẫm xin từ giã Thế Tôn.

- Ðại vương hãy cẩn trọng giữ gìn sức khỏe.
Phật đứng dậy tiễn đưa vua Pasenadi ra cửa. Lúc trở vào, Phật nói:
- Này Sariputta và Ananda, Quốc vương Pasenadi đã nói những lời rất chân thành của quốc vương đối với Tam Bảo. Hai thầy nên ghi nhớ để làm vững mạnh thêm đức tin của những người hậu học.
Vua Pasenadi băng hà ở Rajagriha [14]


Sau cuộc viếng thăm Phật ở làng Ulumpa, vua Pasenadi trở ra đến cổng công viên chỉ còn thấy một chiếc xe và một người cung phi già ở lại.

Người cung phi cho vua biết tướng Digha Karayana đã đem vương miện, ấn tín và thanh gươm báu của vua ra, bảo hoàng tử Vidudabha (Tỳ-Lưu-Ly) nên thừa dịp may hiếm có này trở về Sravasti ngay để lên ngôi vua, đừng để một người quá già yếu ngồi mãi trên ngai vàng.

Hoàng tử còn dùng dằng chưa chịu thì Karayana dọa nếu hoàng tử không chịu về làm vua, ông ta sẽ về kinh tự xưng vương. Trước áp lực ấy hoàng tử Vidudabha phải tuân theo, nhưng buộc Karayana phải để lại cho vua cha một cỗ xe và một cung phi.

Sau đó hoàng tử Vidudabha theo tướng Karayana về Sravasti, giết thái tử Jeta rồi lên ngôi vua.
Vua Pasenadi quyết định đến thành Rajagriha để cầu viện với cháu là vua Ajatasattu.

Suốt quãng đường dài trên 300 km dưới cơn nắng, gió và bụi, vua chỉ uống nước mà không ăn được gì cả. Tới Rajagriha thì trời đã khuya, cửa thành đã đóng chặt. Vua phải vào nghỉ đêm trong công quán.

Ðêm ấy vua Pasenadi lên cơn bạo bệnh và chết trên tay người cung phi già. Sáng ngày, vua Ajatasattu hay tin vội cho rước long thể vua Pasenadi vào cung, ra lệnh tổ chức một lễ quốc táng long trọng cho người cậu ruột của mình.

Sau khi tang lễ hoàn mãn, vua Ajatasattu định cử binh trị tội quốc vương Vidudabha, nhưng khất sĩ Jivaka can rằng:

Dù sao quốc vương Pasenadi cũng đã băng hà, thái tử Jeta cũng đã bị tướng Karayana giết chết, vị vua mới là Vidudabha cũng là con trai duy nhất còn lại của vua Pasenadi lên nối ngôi, vừa là anh em cô cậu của vua Ajatasattu, nếu có cử binh chinh phạt cũng không đưa đến một giải pháp nào khác mà còn làm cho biết bao binh tướng và dân chúng chết oan và chịu cảnh lầm than.

Thấy Jivaka có lý, vua Ajatasattu đã cử sứ thần đến Sravasti thừa nhận quốc vương mới.

Vua Vidudabha tàn sát dòng họ Sakya[15]



Sau khi được tướng Digha-Karayana đưa từ làng Ulumpa về Sravasti giết thái tử Jeta rồi lên ngôi vua xứ Kosala, Vidudabha (Tỳ-Lưu-Ly) nhớ lại mối thù thuở nhỏ bị hoàng tộc Sakya khinh khi và nhục mạ, liền thống lãnh đại binh đi rửa hận.

Ðức Phật biết được liền hiện thân đến ngồi dưới một cội cây vùng ranh giới gần thành Kapilavastu để đón đường đạo binh của Vidudabha. Gần đó, bên ranh giới xứ Kosala, có một cây cổ thụ to lớn, bóng cây rất mát mẻ. Vidudabha trông thấy Phật liền đến đảnh lễ và thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn, trời nắng thế này mà Thế Tôn ngồi dưới bóng cây nhỏ này thì nóng lắm, sao Thế Tôn không đến ngồi dưới tàng cây cỗ thụ đàng kia cho mát?
- Xin Ðại Vương chớ quan tâm. Chính bóng mát của dòng họ tôi làm tôi được mát mẻ.

Vidudabha thầm nghĩ chắc Phật cố ý đến đây để bảo vệ dòng họ Sakya. Do đó ông đãnh lễ Phật rồi trở về Sravasti.

Ðức Phật trở về Jetavana. Ðược vài hôm, vua Vidudabha lại nhớ đến mối thù xưa liền cử binh đi lần thứ hai; nhưng khi gặp Phật ngồi ngay chỗ cũ, vua lại quay trở về.

Lần thứ ba cũng thế. Ðến lần thứ tư, đức Phật quán chiếu nghiệp trước của những người dòng Sakya, nhận thấy rằng họ không thể tránh khỏi quả báo ác nghiệp trước kia của họ đã bỏ thuốc độc xuống dòng sông để hại người dưới nguồn, nên đức Phật không đến can thiệp nữa.

Lần này Vidudabha quyết chí rửa hận, ông ta ra lệnh giết hết những người nói. Chúng tôi là người Sakya trừ những người đi theo vua Mahanama. Trái lại binh tướng Sakya thì thà chịu chết chứ không giết kẻ thù.

Họ bắn tên hoặc đâm xuyên qua những tấm khiên của địch nhưng không bao giờ chạm vào người. Cuối cùng chỉ còn những người chạy theo vua Mahanama và những người Sakya miệng ngậm cỏ hoặc ngậm cọng sậy, không trả lời được câu hỏi.


Chúng bây có phải là người Sakya không?
, là sống sót. Cho đến những người già cả và trẻ em lớn nhỏ đều bị giết sạch[17]
Vua Vidudabha bắt sống vua Mahanama rồi lên đường trở về Sravasti.

Giữa đường, đến giờ ăn sáng, Vidudabha bảo đưa Mahanama đến ngồi ăn cùng bàn với ông. Thấy gần đó có một hồ nước lớn, Mahanama bảo:
- Này cháu, tay chân ông dơ lắm, để ông đi tắm rửa sạch sẽ trước đã.
- Ðược, ông ngoại cứ đi tắm tự nhiên.
Ðến bờ hồ, Mahanama xỏa tóc xuống trước mặt, cột ngọn tóc lại thành gút, rồi phóng mình xuống nước, thọt hai bàn chân vào giữa chùm tóc, tự trầm mình. Long Vương hiện đến rước Mahanama về Long Cung ở 12 năm.

Vidudabha chờ lâu không thấy, cho người tìm kiếm khắp nơi không gặp, nghĩ rằng Mahanama đã bỏ trốn, ra lệnh lên đường về Sravasti.
Ðêm đó đại binh cắm trại bên bờ sông Aciravati. Gặp mùa nước cạn, lòng sông bày cát khô, một số binh lính nằm xuống cát giữa lòng sông, một số khác nằm hai bên bờ sông. Nhưng những người kiếp trước đã gây ác nghiệp, nằm trên bờ sông, bị kiến cắn, bèn đi xuống lòng sông nằm trên cát.

Những người kiếp trước có thiện nghiệp, đang nằm trên cát ở lòng sông, cảm thấy chật chội, bỏ lên bờ nằm. Ðến nửa đêm, một cơn giông mưa lớn nổi lên gây ngập lụt, cuốn trôi Vidudabha và những người nằm dưới lòng sông ra biển làm mồi cho những bầy cá và bầy rùa.
Ðối với những người cho rằng dòng họ Sakya bị giết oan uổng vì họ là những người tốt, thà chịu chết chứ không giết kẻ địch, đức Phật dạy:
- Do cộng ác nghiệp gây ra đời trước bằng cách bỏ thuốc độc xuống sông để hại người nên kiếp này họ phải chịu quả báo, không sao tránh khỏi.
Ðối với những khất sĩ cho rằng Vidudabha và vây cánh thân tín của ông ta tuy đã tàn sát dòng họ Sakya nhưng lòng ham muốn chưa thỏa mãn, sao lại bị nước cuốn trôi ra biển làm mồi cho cá và rùa? Ðức Phật dạy:

- Này các thầy, lòng ham muốn, dục vọng của con người, không bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn. Do đó thần Chết, như một trận thủy tai càn quét một làng trong đêm tối, hiện đến bất ngờ, cướp lấy sự sống của họ và đẩy họ vào bốn đại dương đau khổ.

Moggallana bị ngoại đạo ám sát tại Rajagriha [18]


Thượng tọa Moggallana là vị đại đệ tử thứ hai của Phật, sau Thượng tọa Sariputta. Các đệ tử lớn của Phật đã có nhiều người viên tịch trước Phật. Thượng tọa Uruvela Kassapa và hai người em là Gaya Kassapa và Nadi Kassapa cũng đã viên tịch.

Thượng tọa Moggallana là một vị đại khất sĩ có nhiều dũng khí, phát ngôn thẳng thắn không e-dè. Thượng tọa thường chỉ thẳng những điểm sai lầm trong các giáo lý ngoại đạo nên bị thù ghét.

Mỗi khi về Rajagriha, Thượng tọa Moggallana thường ở trên núi Isigili một mình với hai đệ tử thân tín để tu thiền định. Một hôm, Thượng tọa lên đường đi Venuvana sớm với hai vị đệ tử.

Bọn sát nhân, có dự tính trước, mai phục dưới chân núi. Vừa thấy Thượng tọa, họ xông ra tấn công bằng gậy gộc. Ba thầy trò tay không, không thể chống cự nổi với đám đông.

Hai vị đệ tử bị đánh văng ra ngoài. Họ la lên cầu cứu. Nhưng không kịp nữa. Thượng tọa Moggallana hét lên một tiếng vang động cả rừng cây trước khi bị bọn chúng đập xuống những hèo cuối cùng làm vỡ sọ, gãy xương nhiều chỗ, chết ngay tại chỗ. Khi các thầy ở Venuvana hay tin, chạy đến nơi thì bọn sát nhân đã tẩu thoát mất dạng.

Hai vị đệ tử bị thương khá nặng. Khi Phật về đến Venuvana thì nhục thân của Thượng tọa Moggallana đã được trà tỳ, xá lợi được đựng trong một cái bình đặt trước cửa am của Phật.

Hỏi đến Thượng tọa Sariputta, các thầy cho Phật biết Thượng tọa Sariputta đã đóng cửa am từ ngày Thượng tọa Moggallana bị ám sát. Ai cũng biết hai vị Thượng tọa này thân với nhau còn hơn anh em ruột, đối với nhau luôn luôn như hình với bóng. Phật chưa kịp nghỉ ngơi, đi ngay đến am của Sariputta để an ủi.

Thượng tọa Ananda theo sau, thầm nghĩ: Phật đi an ủi Thượng tọa Sariputta, nhưng ai là người an ủi Phật khi hầu hết dòng họ Sakya bị tàn sát? Bỗng Phật quay lại nhìn thầy rồi lên tiếng:

- Này Ananda, ai cũng nói thầy học nhiều và ghi nhớ nhiều về Chánh Pháp.Thầy không nên lấy sự học nhiều và nhớ nhiều làm đủ. Chăm sóc cho Như Lai và lo lắng cho giáo đoàn tuy là điều cần thiết, nhưng cũng không đủ.

Thì giờ qua nhanh, cuộc đời ngắn ngủi vô chừng, thầy phải sớm lo nỗ lực để vượt thoát sanh tử. Thầy phải tập bình thản trước sanh tử, xem sanh tử như những hoa đóm giữa hư không.
Thượng tọa Ananda cuối đầu im lặng. Một vị khất sĩ xin Phật giải nghi:
- Bạch Thế Tôn, sư huynh Moggallana thần thông xuất chúng sao không chống lại nổi với ngoại đạo, đến đổi phải bị sát hại?
- Này các thầy, không phải Moggallana không chống cự nổi với ngoại đạo, nhưng vì trong một đời quá khứ Moggallana đã nghe lời vợ giả làm bọn cướp, dùng cây đánh cha mẹ già mù lòa đến chết ở giữa rừng[19]; và trong một kiếp khác đã làm nghề chài lưới sát hại oan uổng không biết bao nhiêu sanh linh, do đó ngày nay phải chịu quả báo.

Các thầy nên biết thần thông không qua được nghiệp lực, chỉ có sám hối mới có thể làm cho quả báo nhẹ bớt.
Sáng hôm sau Phật chỉ vị trí để xây tháp kỷ niệm và an trí xá lợi của Thượng tọa Moggallana gần cổng tinh xá Venuvana.

Devadatta qua đời tại Griddhakuta


Một buổi chiều vàng, khi Phật đang đi thiền hành trên triền núi Griddhakuta (Linh Thứu) thì có hai người võng Thượng tọa Devadatta lên xin gặp Phật.
Thượng tọa Devadatta bệnh nặng đã chín tháng nay. Thượng tọa muốn gặp lại Phật để xin sám hối trước khi qua đời.

Hai người đang khiêng Thượng tọa hôm nay là hai trong sáu đệ tử còn sót lại. Trong thời gian nằm liệt giường trên núi Gayasisa, không mấy ai đến thăm Thượng tọa, kể cả những người đã ủng hộ Thượng tọa tích cực nhất ngày xưa. Suốt thời gian ấy Thượng tọa có cơ hội bình tâm suy xét lại về giá trị của những hành động mình đã làm.

Ðược thông báo có Thượng tọa Devadatta xin được gặp, Phật liền trở về tịnh thất. Phật bảo đặt Thượng tọa lên giường của mình, rồi đến bên cạnh an ủi:
- Thầy bệnh như thế đã bao lâu rồi? Bấy lâu nay Như Lai thường mong được gặp thầy.
Thượng tọa Devadatta yếu lắm, không ngồi dậy được. Thượng tọa cũng không nói được nhiều, chỉ nhìn Phật rồi cố gắng chấp tay lại nói thều thào:
- Con xin về nương tựa Phật.
- Tốt lắm, thầy nên an nghỉ.
Phật đặt tay lên trán Devadatta để an ủi Thượng tọa. Ðến chiều hôm ấy Thượng tọa qua đời[20].

Phật nói với các vị khất sĩ: Devadatta vì tham danh, tham lợi nên tạo nhiều nghiệp ác, bị đọa địa ngục A-tỳ
[21]; nhưng nhờ nghiệp lành xuất gia nên sau một trăm ngàn kiếp sẽ tái sanh thành Bích Chi Phật (Pacceka-Buddha) hiệu Atthissara.

Sứ giả của Ajatasattu thỉnh ý Phật về việc cử binh đánh nước Vajji [22]

Sau lễ trà tỳ nhục thân của Thượng tọa Devadatta, đức Phật đang sắp sửa du hành về phương bắc thì có quan đại thần Vassakara, thừa lệnh vua Ajatasattu, đến xin thỉnh ý Phật. Ðại thần Vassakara thuộc dòng Bà-la-môn.

Ông đến đảnh lễ Phật, rồi trình bày ý vua và triều đình muốn cử binh đánh nước Vajji ở phía bắc sông Ganga để củng cố bờ cõi phương bắc, đồng thời phát triển giao thông và kinh tế trong xứ.

Thay vì đáp lời sứ thần Vassakara, đức Phật quay lại hỏi Thượng tọa Ananda đang đứng quạt sau lưng Phật:
- Này Ananda, thầy có nghe dân Vajji [23] thường hay hội họp đông đảo để bàn bạc chính sự không?
- Bạch Thế Tôn, con nghe nói dân Vajji thường cùng nhau hội họp đông đảo để đàm luận về chính sự.
- Vậy thì nước Vajji vẫn còn cường thịnh. Ananda, thầy có biết khi họ hội họp với nhau để đàm luận, họ có đoàn kết một lòng một dạ với nhau không?
- Bạch Thế Tôn, con nghe họ rất hòa thuận và đoàn kết với nhau.
- Vậy thì chắc chắn nước Vajji vẫn còn cường thịnh. Ananda, dân Vajji có tôn trọng những pháp chế và luật lệ đã được ban hành không?
- Bạch Thế Tôn, con nghe nói họ rất tôn trọng những pháp chế và luật lệ đã được ban hành.
- Vậy thì chắc chắn nước Vajji vẫn còn cường thịnh. Ananda, dân Vajji có kính trọng và nghe lời những bậc tôn trưởng của họ không?
- Bạch Thế Tôn, con nghe họ rất kính trọng và nghe lời các vị tôn trưởng của họ.
- Vậy thì nước họ vẫn còn cường thịnh. Ananda, thầy có nghe trong nước họ có những vụ bạo động, trộm cướp, giết hại lẫn nhau không?
- Bạch Thế Tôn, những vụ bạo động, trộm cướp, giết hại lẫn nhau rất ít khi xảy ra.
- Vậy thì nước Vajji vẫn còn cường thịnh. Ananda, thầy có nghe dân Vajji còn biết bảo vệ tông miếu và di sản của tổ tiên họ không?
- Bạch Thế Tôn, con nghe họ vẫn còn biết bảo vệ tông miếu và di sản của tổ tiên họ.
- Vậy thì, này Ananda, nước Vajji vẫn còn cường thịnh. Thầy có nghe dân Vajji biết tôn kính, cúng dường và chịu học hỏi theo các thánh nhân tu sĩ không?
- Bạch Thế Tôn, cho đến ngày nay họ vẫn rất tôn kính, thường cúng dường và thích học hỏi với các thánh nhân tu sĩ.
- Này Ananda, vậy thì chắc chắn nước Vajji vẫn còn cường thịnh, chưa bị suy đồi. Khi xưa Như Lai đã từng có dịp chỉ dạy cho giới lãnh đạo ở Vesali về bảy yếu tố giữ gìn cho quốc gia không bị suy thoái, gọi là Thất Bất Thoái Pháp. Bảy điều đó là:
1/ Chuyên cần hội họp;
2/ Hòa thuận và đoàn kết;
3/ Tôn trọng luật lệ đã ban hành;
4/ Kính trọng và nghe lời các bậc tôn trưởng;
5/ Không bạo động với cấp trên hoặc hiếp đáp cấp dưới;
6/ Biết bảo vệ di sản của tổ tiên;
7/ Tôn kính và học hỏi với các vị hiền thánh.
Ananda, thì ra đến ngày nay họ vẫn còn thi hành bảy phép bất thoái ấy. Vì vậy Như Lai nghĩ rằng nước Vajji vẫn còn cường thịnh, chưa bị suy yếu. Nước Magadha dù có binh hùng tướng mạnh cũng khó đánh chiếm được.
Ðại thần Vassakara nói:
- Bạch Thế Tôn, dân Vajji chỉ cần thực hành một vài điều trong bảy điều Phật dạy cũng đủ làm cho nước họ cường thịnh rồi, huống chi họ thực hành cả bảy phép Bất Thoái.

Thưa Thế Tôn, con nghĩ vua Ajatasattu không thể thắng được dân Vajji bằng vũ lực đâu. Vua chỉ có thể thắng họ nếu gieo được mầm móng chia rẽ trong giới lãnh đạo của họ. Con xin cảm tạ Thế Tôn và xin lui bước về triều phục lệnh.

Sau khi đại thần Vassakara rút lui, Phật than thở với Ananda:
- Vị đại thần này có nhiều mưu chước lắm. Chắc trong tương lai Ajatasattu sẽ cử binh đánh chiếm nước Vajji.

Phật dạy Bảy Pháp Bất Thối để giữ gìn chánh pháp


Chiều hôm ấy, Phật bảo thầy Ananda cho triệu tập tất cả các vị khất sĩ có mặt ở thủ đô Rajagriha và trong các vùng phụ cận về Griddhakuta (Linh-Thứu).
Trong vòng ba ngày đã có gần hai ngàn khất sĩ nam nữ quy tụ về vùng núi Griddhakuta. Màu áo cà-sa vàng rực rỡ tràn ngập cả ngọn đồi. Từ xa nhìn lại, người ta có cảm tưởng núi Griddhakuta là một cụm hoa cúc vàng vĩ đại.

Vào khoảng bốn giờ chiều, mặt trời vừa xế bóng, đức Phật đứng trên đỉnh Griddhakuta nhìn xuống, ngài cất tiếng chào hỏi các vị khất sĩ, giọng ngài trong trẻo và vang xa như tiếng chuông đồng, ngài nói:
- Này các thầy, Như Lai đã lớn tuổi rồi, sức khỏe của Như Lai đã suy giảm, không còn được như xưa, nên hôm nay Như Lai mời các thầy tập họp về đây để chỉ cho các thầy bảy phương pháp để giữ gìn cho Chánh Pháp và Giáo Ðoàn không bị suy thoái. Các thầy hãy lắng nghe cho kỹ.

1- Thứ nhất là các thầy nên thường xuyên gặp mặt nhau trong các buổi hội họp đông đủ để cùng nhau học hỏi và luận bàn về Chánh Pháp.
2- Thứ hai là các thầy nên tới họp với tinh thần hòa hợp và đoàn kết, và lúc chia tay nhau cũng với tinh thần hòa hợp và đoàn kết.
3- Thứ ba là phải cùng nhau tôn trọng và sống theo tinh thần pháp chế và giới luật đã được ban hành.
4- Thứ tư là biết tôn trọng và vâng lời các bậc trưởng lão có đạo đức và kinh nghiệm trong giáo đoàn.
5- Thứ năm là có một nếp sống thanh đạm và giản dị, đừng để bị lôi cuốn vào tham dục.
6- Thứ sáu là biết quý trọng sự im lặng.
7- Thứ bảy là biết an trú trong chánh niệm để thực hiện an lạc và giải thoát, làm chỗ nương tựa cho các bạn đồng tu.
Này các thầy, chừng nào mà Bảy Pháp Bất Thối nói trên còn được thực hành đúng đắn thì chánh pháp còn được hưng thịnh và giáo đoàn không bị suy thoái. Không một yếu tố nào bên ngoài có thể phá hoại được giáo đoàn. Chỉ có những phần tử bên trong giáo đoàn mới làm cho giáo đoàn tan rã mà thôi.

Này các thầy, khi con sư tử chúa chốn sơn lâm ngã quỵ, không có một loài nào dám đến ăn thịt nó. Chỉ có những con ký sinh trùng phát sinh từ bên trong cơ thể của sư tử mới ăn thịt được sư tử mà thôi.

Các vị hãy bảo vệ chánh pháp bằng cách sống theo Bảy Pháp Bất Thối, đừng bao giờ tự biến mình thành loài côn trùng trong cơ thể của con sư tử.

Sau khi giảng về bảy pháp bất thối, Phật dặn dò các vị khất sĩ không nên bỏ phí thì giờ quý báu của mình vào các câu chuyện phiếm hoặc những cuộc hý luận vô bổ, đừng lười biếng, đừng chạy theo danh lợi và tham dục, đừng thân cận với những người xấu ác, đừng tự mãn với những kiến thức và trình độ chứng đắc thấp thỏi; trái lại nên thân cận với những vị khất sĩ có nhiều kinh nghiệm, với những thiện tri thức để học hỏi thêm về Bát Chánh Ðạo vì đó là kho tàng tri kiến vô tận của chư Phật.

Phật nhắc lại giáo lý bảy yếu tố giác ngộ (Thất Giác Chi hay Thất Bồ-Ðề Phần) như con đường mà mỗi vị khất sĩ đều phải đi: Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Ðịnh, Xả.

Rồi Phật nhắc nhở các vị khất sĩ còn sơ cơ nên tinh cần thực hành bốn phép quán (Tứ Niệm Xứ): Thân bất tịnh, Thọ là khổ, Tâm vô thường, Pháp vô ngã; và sáu phép thiền (Lục Diệu Pháp Môn): Sổ, Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh
[24].

Gần hai ngàn vị khất sĩ rất sung sướng được sống với Phật mười ngày trên núi Griddhakuta, và mỗi ngày được nghe chính từ kim khẩu đức Phật nhắc nhở và tóm lược những điều ngài đã dạy và chỉ điểm thêm những chỗ khó hiểu.

Họ cư trú khắp nơi trên núi Griddhakuta và vùng lân cận, nơi cội cây, hang đá, am thất, khe suối, một số đông cư trú trong vườn xoài của y sĩ Jivaka. Ðến ngày thứ mười, Phật từ giã các vị khất sĩ, khuyên họ trở về trú sở để hành đạo, chỉ có các vị thường trú tại Linh Thứu còn ở lại mà thôi.

Các vị khất sĩ đi rồi, Phật đứng thật lâu trên đỉnh núi nhìn khắp phong cảnh tĩnh mịch của rừng núi chung quanh. Mặt trời lần lần khuất bóng sau ngọn núi phía tây. Phật bảo Thượng tọa Ananda:
- Này Ananda, ngày mai chúng ta sẽ đi Venuvana (Trúc Lâm).

Sariputta ca ngợi Phật [25]


Sau khi thăm viếng tinh xá Venuvana trong hai ngày, Phật từ giã thủ đô Rajagriha đi về khu lâm viên Ambalatthika. Ambalatthika xưa kia cũng là một nơi nghỉ mát của vua Bimbisara; về sau, Phật và các vị khất sĩ, trên đường đi Nalanda, thường ghé nghỉ chân. Hai thầy trò Sariputta và Rahula ngày xưa cũng thường cư trú tại đây.

Sau khi thăm viếng và ủy lạo các vị khất sĩ, Phật rời Ambalatthika đi Nalanda. Ðoàn khất sĩ đi theo Phật có chừng một trăm vị. Các Thượng tọa Ananda, Sariputta và Anuruddha theo sát bên Phật.

Tới Nalanda, Phật nghỉ ở vườn xoài Pavarika. Sáng ngày hôm sau Thượng tọa Sariputta đến ngồi im lặng bên Phật hồi lâu rồi bỗng nhiên Thượng tọa mở lời:
- Bạch Thế Tôn, con thiết nghĩ trong quá khứ, trong hiện tại và trong cả tương lai, không thể có một vị sa-môn hay Bà-la-môn nào có được trí huệ và sự chứng đắc siêu việt hơn Thế Tôn.
- Này Sariputta, lời nói đó của thầy thật là táo bạo.

Thầy đã gặp và đã biết tất cả các bậc giác ngộ trong quá khứ, trong hiện tại và trong tương lai chưa mà dám nói như thế?
- Bạch Thế Tôn, làm gì mà con gặp được tất cả các bậc giác ngộ trong ba đời. Nhưng có một điều con biết chắc là con sống thân cận với Thế Tôn đã trên bốn mươi năm.

Không những con được nghe lời Thế Tôn dạy dỗ mà con còn được nhìn thấy Thế Tôn sống như thế nào. Quả thật Thế Tôn đã sống thường trực trong tỉnh thức và chánh niệm.

Sáu căn được Thế Tôn hộ trì một cách tuyệt hảo. Không bao giờ có một vết nhỏ của năm thứ che ngăn là tham dục, oán giận, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi được nhận thấy trong sinh hoạt hằng ngày của Thế Tôn.

Vì thế con nghĩ rằng các bậc thánh nhân trong quá khứ, hiện tại và tương lai, khi đạt tới sự giác ngộ cùng tột thì trí huệ và sự chứng đắc cũng chỉ bằng Thế Tôn mà thôi, chứ làm sao cao hơn được.
- Này Sariputta, thầy đã khéo suy luận, nhưng tốt hơn hết là nên giữ gìn chánh niệm, không nên suy nghĩ gì.
Tại Nalanda, Phật giảng dạy thêm cho đại chúng về ba môn tu học chính yếu (tam vô lậu học) là Giới, Ðịnh và Huệ. Phật bảo ba môn Giới, Ðịnh, Huệ phải được tu tập song song với nhau thì kết quả mới được nhanh chóng.

Rời Nalanda, Phật đi về Pataliputta. Tại đây Phật và các vị khất sĩ được rất nhiều giới cư sĩ ra đón tiếp và thỉnh về tư gia của họ để cúng dường và được nghe thuyết pháp.

Bà Rupa-Sari, mẹ Thượng tọa Sariputta bệnh nặng


Trước khi lên đường đi Pataliputta, Thượng tọa Sariputta đến từ giã Phật để về quê thăm mẹ. Thượng tọa vừa được tin bà Rupa-Sari đang bệnh nặng, e khó qua khỏi.

Năm nay bà đã trên trăm tuổi. Thượng tọa lạy Phật ba lạy rồi cùng chú sa-di Cunda đi về làng Upatissa (Nalaka), thuộc quận Nalanda.

Cổng thành và bến đò Gotama tại Pataliputta [26]


Lúc Phật và đoàn khất sĩ sắp rời Pataliputta, vừa ra tới cửa thành phía bắc thì có hai vị đại thần xứ Magadha là Sunidha và Vassakara tới trình diện.

Họ được vua Ajatasattu phái tới đây để nghiên cứu và phát triển thành phố Pataliputta (còn gọi là Pataligama, hiện nay là Patna) thành một đô thị lớn, vừa để phát triển kinh tế xứ Magadha, vừa làm thành trì ngăn chận sự xâm nhập của xứ Vajji

Hai vị đại thần vui mừng nói:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Chúng con vừa xây cất lại cổng thành và bến đò gần xong thì tình cờ được Thế Tôn đến viếng. Vậy chúng con xin phép Thế Tôn được đặt tên cho cổng thành này là cổng Gotama.

Chúng con cũng xin phép được đưa Thế Tôn và giáo đoàn đến bến đò mới để qua sông Ganga. Và chúng con cũng xin đặt tên cho bến đò này là bến đò Gotama.
- Quý vị cứ tùy nghi. Pataliputta này sẽ trở nên một thị trấn thương mãi phồn thịnh, nhưng về sau sẽ không tránh khỏi ba hiểm họa lớn là hỏa hoạn, ngập lụt và chiến tranh. Quý vị nên sáng suốt, thận trọng và gieo trồng nhiều phước đức để được chư thiên phò trợ.

Sông Hằng mùa này nước dâng cao gần tới mé bờ. Hai vị đại thần cho gọi năm chiếc đò ngang lớn để đưa Phật[27] và giáo đoàn sang sông một lượt.
[1] Vua Suddhodana (Tịnh-Phạn) băng hà vào năm -585, thọ 81 tuổi.
[2] Tỳ-kheo Uruvela Kassapa (Ưu-Lầu-Tần-Loa Ca-Diếp) nhập diệt vào khoảng năm -584, thọ 125 tuổi.
[3]Vua Suppabuddha (Thiện-Giác Vương) băng hà vào năm -575.
[4]Vua Bimbisara (Tần-Bà-Ta-La, Bình-Sa Vương) băng hà vào năm -553, thọ 66 tuổi.
[5]Ni sư Maha-Pajapati (Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Ðề) nhập diệt vào năm -548, thọ 117 tuổi.
[6]Tỳ-kheo Rahula (La-Hầu-La) nhập diệt vào khoảng năm -547, thọ 48 tuổi.
[7]Vua Pasenadi (Ba-Tư-Nặc) băng hà vào năm -546, thọ 78 tuổi.
[8]Tỳ-Kheo Moggallana (Mục-Kiền-Liên) nhập diệt năm -546.
[9]Ni sư Yasodhara (Da-Du-Ðà-La) nhập diệt vào năm -546, thọ 78 tuổi.
[10]Tỳ-kheo Sariputta (Xá-Lợi-Phất) nhập diệt năm -545.
[11]Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 43; Majjhima-nikaya 89: Dhammacetiya-sutta; Trung A-Hàm 213.
[12]Hoàng tử Virudhaka (Vidudabha) vừa được 26 tuổi, là con của vua Pasenadi với thứ hậu Visabhaksatriya, con gái của vua Mahanama với một người tỳ nữ.
[13]Hai câu hỏi trên đây trích trong The Life of Buddha as Legend and History, trang 213. Xem Majjhima-nikaya 90: Kannakatthala-sutta.
[14]Xem Majjhima nikaya 89: Dhammacetiya-sutta.
[15]Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 43-46; Tăng Nhất A-hàm 26, 266; Tỳ-nại-da Tạp Sự 7; Luật Ngũ Phần 21; Luật Tứ Phần 41; Kinh Ðại Bát Niết Bàn, phẩm Phạm-Hạnh, trang 427.
[16]Lúc 7 tuổi, Vidudabha xin phép cha mẹ về Kapilavastu thăm ông bà ngoại, mong được cưng chìu và cho quà.

Gặp lúc triều đình đang lập trai đàn thỉnh Phật thuyết pháp, Vidudabha leo lên pháp tòa ngồi chơi, bị những người Sakya mắng là "kẻ nô tỳ mà dám to gan", đuổi đi, rồi dùng nước và sữa để tẩy sạch pháp tòa.

Vidudabha tức giận lắm, nguyện sau này sẽ dùng máu của dòng họ Sakya để tẩy sạch ghế của mình.

[17]Có tài liệu cho rằng Vidudabha bắt 500 cô gái xinh đẹp dòng Sakya để vui thú . Bị chống cự mãnh liệt, ông ta tức giận sai chặt hết tay chân rồi ném xuống hầm.

Khi đức Phật và các vị tỳ-kheo đến nơi, Phật thuyết pháp cho 500 cô gái bị nạn nghe, khiến họ đều được pháp nhãn thanh tịnh và được sanh lên cõi trời.

Lại có tài liệu nói rằng trong khi Kapilavastu đang bị tấn công, Thượng tọa Moggallana dùng thần thông hiện đến cứu một số người ưu tú dòng Sakya, để vào bình bát bay đi, nhưng đến khi mở nắp bình bát ra thì chỉ thấy toàn là máu.

[18] Xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 141-142; Buddhist Legends, quyển II, trang 304-308.
[19] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 306-308.

[20]Có tài liệu cho rằng Devadatta muốn hại Phật nên để chất độc vào các đầu móng tay, rồi giả đến đảnh lễ Phật để sám hối, mong thừa dịp dùng móng tay cào bàn chân Phật cho chất độc ngấm vào. Không dè chính Devadatta bị chất độc ngấm vào trước.

Có tài liệu lại cho rằng sau khi để chất độc vào móng tay, Devadatta tìm đến Jetavana để hại Phật, không dè vừa đến gần cổng tinh xá thì bị sụp hố chết.

Hiện nay gần cổng tinh xá Jetavana còn di tích "hồ nước Devadatta" (Devadatta's pond). Theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì Phật thọ ký cho Devadatta sẽ thành Phật hiệu là Devaraja.
[21]Xem Majjhima-nikaya 29: Maha-Saropama-sutta.

[22] Xem Digha-nikaya 16; Trường A-Hàm 2.
[23] Xứ Vajji thời bấy giờ đã có thể chế Dân Chủ Cộng Hòa rất tốt đẹp; tổng thống Cedaga Licchavi và các chức sắc trong xứ đều do dân cử bằng cách phổ thông đầu phiếu.
[24] Lục Diệu Pháp Môn: Sổ là phép đếm hơi thở để trừ phiền não; dùng tâm điều khiển hơi thở vào, ngưng, ra, đếm một ...

Tùy là để hơi thở tự do ra vào nhẹ nhàng, không đếm, nhưng để tâm theo dõi để biết lúc nào thở ra, lúc nào thở vào, lúc nào ngưng, quán xem động cơ nào điều động hơi thở.

Chỉ
là dừng vọng tưởng bằng cách tập trung tư tưởng vào một nơi trên cơ thể như đỉnh đầu, tam tinh, chóp mũi, tim, rún, lòng bàn tay.

Quán là suy nghĩ trong yên lặng để tìm thật tướng, thật tánh, thật thể của sự vật (các pháp).

Hoàn
là quán sát tâm mình xem đã hết vọng tưởng và phiền não chưa.
Tịnh là xả hết, không chỉ không quán, để tâm an nhiên thanh tịnh, không nghĩ tưởng. Trong khi thực hành Chỉ mà có vọng tưởng nổi lên thì dùng Quán để trừ.

Xong rồi thực hành Hoàn để xem tâm mình đã hết vọng tưởng đó chưa. Nếu hết thì chuyển sang Tịnh (Xả), nếu còn thì tiếp tục dùng Quán để trừ.

[25]Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 548-549; Digha-nikaya 28: Sampasadaniya-sutta; Digha-nikaya 16: Maha-Parinibbana-sutta; Trường A-hàm 2: Kinh Du Hành; Mahavastu.

[26]Xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 143.
[27]Theo tài liệu của Nam Tông thì đức Phật dùng thần thông cùng chư đệ tử sang sông trong lúc hai vị đại thần đang chuẩn bị đò.
=

Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
 
Chuyện Cổ Tích PG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 10 trong tổng số 12 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 9, 10, 11, 12  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-