IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
TRƯỜNG TƯƠNG TƯ : ỐM TƯƠNG TƯ by Ma Nu Today at 00:38

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by Ma Nu Yesterday at 22:36

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 17:20

Trang Thơ Hoàng Hiện by hoanghien123 Yesterday at 16:19

Tình thơ Phi Khanh by Tú_Yên tv Yesterday at 12:21

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Yesterday at 12:01

Thơ Tú_Yên - Quê Hương by Tú_Yên tv Yesterday at 11:57

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Yesterday at 11:52

TiCa - Thơ Đường Luật by TiCa NXH Yesterday at 05:56

trang thơ Đường Luật VMH by vu manh hung Fri 24 Mar 2017, 11:24

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Fri 24 Mar 2017, 05:38

Cười tí chơi... by Shiroi Fri 24 Mar 2017, 04:32

Cuộc sống và tình yêu by Shiroi Fri 24 Mar 2017, 03:58

Mochi giọt nước hoa anh đào by Shiroi Fri 24 Mar 2017, 03:53

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Thu 23 Mar 2017, 16:10

Bún thịt ba chỉ nướng by Shiroi Thu 23 Mar 2017, 05:06

ĐƯỜNG TÌNH ĐÔI NGẢ (MT-130-131) by Ntd Wed 22 Mar 2017, 21:45

TiCa - Góc Đời_Thơ by TiCa NXH Wed 22 Mar 2017, 13:16

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Tue 21 Mar 2017, 06:57

XIN HỎI CÁC NHẠC SƯ DANH TIẾNG by Ma Nu Mon 20 Mar 2017, 20:53

Duyên Phận by Gió Bụi Mon 20 Mar 2017, 05:59

VỀ ĐÂY by Shiroi Mon 20 Mar 2017, 03:29

14 loài hoa có hình dạng kỳ lạ nhất thế giới by Shiroi Mon 20 Mar 2017, 03:08

Câu đối NGỰA by Thiên Hùng Mon 20 Mar 2017, 01:39

BUỒN TÀN THU by HanSiNguyen Sun 19 Mar 2017, 15:13

Thẩn thơ thời sự by thanhsingle Sat 18 Mar 2017, 22:06

VẪN CÒN MƯA by Phương Nguyên Sat 18 Mar 2017, 21:35

THƠ TỰ DO by HanSiNguyen Sat 18 Mar 2017, 21:28

ÐÔI MẮT NGỌC by BachVanNhi Sat 18 Mar 2017, 08:12

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Fri 17 Mar 2017, 11:36

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 Chuyện Cổ Tích PG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 5, 6, 7 ... 10, 11, 12  Next
Tác giảThông điệp
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Sat 05 Jun 2010, 20:08

Ngũ Xú Trung Hoa /Sưu Tầm

Giai thoại về Chung Vô Diệm

Chung Vô Diệm đời Tề Tuyên Vương, người vô cùng xấu xí, da xanh ngắt, tóc rối, hầu lộ trông như quỷ sứ nhưng rất có tài trị quốc. Khi còn nhỏ chỉ thích săn bắn, tập võ, múa gươm. Vua Tề Tuyên Vương khi đó không chú tâm vào chính sự chỉ vui chơi hưởng lạc.
Một hôm vua Tề Tuyên Vương mở tiệc chiêu đãi quần thần thì Chung Vô Diệm xin vào yết kiến. Chung Vô Diệm nói với vua Tề, nàng có thuật có thể đoán trước sự việc. Vua Tề hỏi, có thuật gì hãy nói cho trẫm nghe.

Chung Vô Diệm liền dương mắt, vỗ gối, khua tay, lắc đầu. Vua Tề không hiểu gì cả bắt Chung Vô Diệm giải thích. Chung Vô Diệm nói, thiếp giương mắt để thay bệ hạ nhìn thấy khắp thiên hạ lửa cháy, thiếp vỗ gối để thay bệ hạ phạt cái tật tin dùng bọn gian thần, thiếp xua tay để thay bệ hạ đuổi bọn xu nịnh.

Vua Tề nói quả nhân có điều đó bao giờ và tức giận định lôi ra chém. Chung Vô Diệm không tỏ ra sợ hãi nói với nhà vua, thiếp chết cũng không có gì đáng ngại, chỉ xin được nói rõ trước khi chết. Vua Tề bảo, cho phép nhà ngươi nói, nếu nói sai lập tức bị chém đầu. Chung Vô Diệm lấy lời lẽ phân tích rõ chính sự trong nước, các mối nguy cấp của nước Tề.
Vua Tề nghe ra liền giải tán tiệc tùng và triệu nàng về cung lập làm chánh hậu. Cũng từ đó vua Tề rất chú tâm vào việc nước, tin dùng người có tài, xua đuổi bọn xu nịnh. Được sự giúp đỡ của Chung Vô Diệm mà nước Tề sau đó đã trở nên hùng mạnh, trong thời Tề Tuyên vương tại vị, không có nước nào đến xâm phạm.

Người sau viết rất nhiều truyện về nàng Chung Vô Diệm để ca ngợi tài năng, đức độ và sự dũng cảm của nàng. Tuy nhiên phần cuối truyện có thay đổi, thêm vào nội dung sau khi Chung Vô Diệm giúp vua trị vì thiên hạ thành công, cuối cùng đã hóa thành người đàn bà đẹp như tiên và coi Chung Vô Diệm là tiên nữ bị đày xuống trần giúp vua.
=
Giai thoại về Mô Mẫu

Người xấu nhất trong lịch sử cổ đại Trung Quốc là Mô Mẫu, vô cùng xấu xí, được ví như quỷ Dạ Xoa. Nhưng bà lại có trí tuệ, đối xử với mọi người rất hiền đức. Do đó, Hoàng Đế đã lấy bà làm vợ.
Trong “Tứ tử giảng đức luận”, Hán Vương Tử Uyên có nói: “Mô mẫu người lùn, dù hiền lành nhưng vẫn không giấu nổi (bộ mặt) xấu. Tuy vậy đức hạnh của Mô Mẫu được phụ nữ đương thời ca ngợi”. Trong “Cửu chương, tích vãng nhật”, Khuất Nguyên đã đánh giá Mô Mẫu rất cao.
Trí tuệ của Mô Mẫu cũng không tầm thường vì thế Hoàng Đế đã cưới bà làm vợ. Truyền thuyết nói, Hoàng đế đánh bại Viêm Đế, giết Xi Vưu, đều có công của Mô Mẫu giúp đỡ bên trong.
=
Giai thoại về Mạnh Quang

Cử án tề mi” là câu chuyện kể về vợ Lương Hồng thời Đông Hán là Mạnh Quang. Sau khi lấy Lương Hồng, Mạnh Quang rất tôn trọng chồng. Bà là người rất xấu xí, vừa béo vừa đen, khỏe đến mức có thể bê được cối đá. Lương Hồng là người rất có danh tiếng. Trước khi lấy vợ, rất nhiều nhà danh giá muốn gả con gái cho ông nhưng ông đều không đồng ý.
Sau ngày cưới, Mạnh Quang bỏ khăn che mặt, mặc quần áo hàng ngày để làm việc nhà. Sau đó, nàng cùng chồng lên núi ở, chồng cày cấy, vợ dệt vải, ngày ngày ngâm thơ đàn hát, sống cuộc sống thanh bần mà hạnh phúc.
=
Giai thoại về Vợ Hứa Doãn

Hứa Doãn lấy con gái của Nguyễn Đức Uy làm vợ. Dưới ánh nến trong đêm, thấy con gái họ Nguyễn xấu xí, chàng vội chạy ra khỏi phòng, từ đó không dám vào nữa. Sau đó Hằng Phạm là bạn của Hữa Doãn đến thăm, nói với ông rằng “Nhà họ Nguyễn gả con gái họ cho anh là có lý do, anh thử hỏi xem”.

Hứa Doãn nghe lời Hằng Phạm, cuối cùng đã chịu vào phòng. Nhưng vừa nhìn thấy dung mạo xấu xí của vợ, Hữa Doãn lại chạy ra ngoài, Nguyễn Thị giữ chồng lại. Hứa Doãn vừa giật tay áo vừa hỏi “Trong tứ đức thì nàng có mấy đức?”

Nguyễn Thị trả lời “Thiếp chỉ thiếu đức dung. Người quân tử có 100 đức, chàng có được bao nhiêu đức?” Doãn Hứa trả lời: “Ta có đủ 100 đức”. Nguyễn Thị nói “Trong một trăm đức, chữ đức đúng đầu. Chàng ham sắc mà khinh tài, vậy có thể coi là đủ một trăm đức không?” Hứa Doãn không nói được gì. Từ đó về sau chàng yêu mến và quý trọng vợ.
=


Được sửa bởi mytutru ngày Sun 20 Jun 2010, 08:05; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Sự Tích Ngài Lục Tổ Huệ Năng   Thu 17 Jun 2010, 19:31

Ngài Lục Tổ Huệ Năng

Ngài Huệ Năng quay qua quan Biệt Giá nói: "Muốn học đạo vô thượng không nên khinh người mới học. Hạng dưới đôi khi có trí hơn bậc trên cùng. Bậc trên cùng cũng có khi trí kém. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội."

Tổ giảng kinh Kim Cang, đến câu: "Nên không trụ vào đâu mà sanh ra tâm của mình." Huệ Năng nghe qua, đại ngộ được lẽ: Hết thảy muôn pháp đều chẳng rời khỏi tính tự nhiên, bèn bạch với Tổ:
"Dè đâu tánh tự nhiên vốn tự thanh tịnh, dè đâu tánh tự nhiên vốn chẳng sanh diệt, dè đâu tánh tự nhiên vốn nó đầy đủ, dè đâu tánh tự nhiên vốn không lay động, dè đâu tánh tự nhiên thường sanh muôn pháp."

Tổ biết Huệ Năng đã ngộ về bổn tánh nên bảo thêm: "Kẻ nào chẳng biết bổn tâm thì học đạo vô ích. Nếu ai biết bổn tâm tự nhiên, thấy bổn tánh tự nhiên, tức thị kêu là bực trượng phu là Thầy của Trời, người là Phật."

Lục Tổ Huệ Năng (638 - 713)
Chánh Hạnh

Mục lục:

1/ Tiểu sử

2/ Sự thị hiện của Lục Tổ.
3/ Tư tưởng căn bản của Lục Tổ.
4/ Sự hình thành dòng Thiền đông độ.
5/ Một vài nghi vấn
6/ Phương pháp thực hành.
7/ Về pháp môn Thiền định
8/ Kết quả hoằng hóa của Lục Tổ.

1/ Tiểu sử:

Ngài Huệ Năng sanh giờ Tý ngày mồng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất (638) tại Tân Châu, xứ Lãnh Nam. Khi Ngài mới sanh, có hai nhà sư đến nhà đặt tên cho Ngài là Huệ Năng. Thân phụ Ngài hỏi vì sao đặt là Huệ Năng? Nhà sư đáp:

"Huệ nghĩa là đem Pháp làm ơn bố thí cho chúng sanh, Năng là nghĩa làm nỗi được việc Phật". Như vậy họ tên Ngài là Lư Huệ Năng. Thân phụ Ngài là Lư Hành Thao, nguyên quán ở đất Phạm Dương làm quan bị giáng chức, lưu ra xứ Lãnh Nam làm thường dân, mẹ Ngài họ Lý. Cha mất sớm, mẹ già, thân côi cút dời qua xứ Nam Hải, cảnh đắng cay, nghèo thiếu phải bán củi ở chợ để nuôi mẹ.

Năm 24 tuổi (661) một hôm đem giao củi xong, nghe người ta tụng kinh Kim Cang, Ngài khai ngộ, hỏi người tụng kinh tu ở đâu, người ấy cho biết đã tu học với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tại chùa Đông Thiền, huyện Hoàng Mai, xứ Kỳ Châu. Có một người khách cho 10 lạng bạc, bảo dùng tiền ấy xếp đặt việc ăn ở cho mẹ già, rồi tới huyện Hoàng Mai tham lễ Ngũ Tổ.

Sau khi an bề ăn ở của mẹ già, Ngài Huệ Năng đi không quá ba mươi ngày, đến nơi ra mắt Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi: "Người từ đâu lại, muốn cầu chi?". Ngài Huệ Năng đáp: "Đệ tử là dân thường xứ Lãnh Nam, từ xa lại đây lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu chi khác!"

Ngũ Tổ nói: "Người Lãnh Nam là giống muông mọi làm sao làm Phật được?". Huệ Năng đáp: "Người ta tuy có Bắc, Nam chớ Phật tánh vốn không Nam Bắc, thân muông mọi với thân Hòa thượng chẳng đồng, chớ Phật tánh có chi là khác biệt?"

Ngũ Tổ còn muốn nói nữa nhưng thấy môn đồ vây quanh, bèn sai đi làm phận sự. Ngài Huệ Năng thưa thêm: "Kẻ đệ tử này trong tâm thường sanh trí tuệ, chẳng rời khỏi tự tánh, tức là phước điền rồi, chưa hay Hòa thượng dạy làm việc chi?" Ngũ Tổ nói: "Chà quân man mọi này căn tánh nhậm lẹ, thôi đừng nói nữa, hãy đi xuống tào ngựa đi."

Huệ Năng lui xuống nhà sau, có người sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo trải qua tám tháng có hơn, một ngày kia Ngũ Tổ thấy Huệ Năng, Ngài bảo rằng: "Ta thấy ý kiến nhà ngươi có thể dùng, nhưng sợ e kẻ khác làm hại cho nên chẳng nói với ngươi, ngươi biết chăng?" Ngài Huệ Năng đáp: "Đệ tử cũng biết ý Thầy cho nên chẳng dám đi ra phía trước đặng cho người ta chẳng hay biết."

Một ngày kia Tổ kêu các môn đồ lại và dạy rằng: "Người trong đời sanh tử là việc lớn, các ngươi cứ lo làm việc phước mà chẳng cầu ra khỏi sanh tử. Cái tánh của mình nếu còn mê cái phước làm sao cứu đặng ra khỏi luân hồi. Các ngươi hãy lui ra, tự xét cái trí huệ, lấy tánh Bát nhã nơi tâm mình, mỗi người làm một bài kệ, đem lại trình ta coi.

Nếu ai ngộ được đại ý, thì ta sẽ trao Y và Pháp cho đặng làm tổ thứ sáu. Đi mau đi, cần phải nóng như lửa, chẳng đặng chậm trễ. Nếu còn phải suy nghĩ thì chẳng dùng được. Người nào thấy đặng Tánh, coi trong lời lẽ sẽ thấy ngay. Người như vậy như bậc tướng tài quơ đao xông ra trận, thấy thì biết liền."

Mọi người lui ra, bàn tán và thấy chỉ có Thần Tú đang làm giáo thọ là đáng bực được truyền y bát kế thừa Tổ, cho nên mọi người ngầm ý để cho Thần Tú làm kệ. Thần Tú lại nghĩ mình làm kệ với dụng tâm được truyền y bát, kiếm ngôi Tổ thì là xấu mà chẳng làm thì phụ ý Thầy.

Phía trước giảng đuờng của Ngũ Tổ, có ba gian mái hiên, Ngài định nhờ quan Cung Phụng Lư Trân vẻ biến tướng kinh Lăng Già và chơn dung năm vị tổ từ Đạt Ma sơ tổ đến Ngũ Tổ đặng lưu truyền.

Còn Thần Tú làm xong bài kệ mấy lần muốn trình Thầy mà còn ngại, sau bốn ngày với 13 lần muốn trình kệ chẳng đặng, Thần Tú bèn có ý viết bài kệ vào vách của mái hiên, nếu Ngũ Tổ thấy, cho là được thì Thần Tú nhận của mình, còn nếu Tổ chê thì Thần Tú sẽ vào núi sâu mai danh ẩn tích.

Vào canh ba đêm kia, Thần Tú viết bài kệ vô vách phía Nam, trình ý kiến từ trong tâm mình:

Thân thị Bồ đề thọ
Tâm như minh cảnh đài
Thời thời cần phất thức
Vật sử nhạ trần ai.


Nghĩa:

Thân là cây Bồ đề
Tâm như cái gương tỏ
Thường khi lo phủi chùi
Đừng để đóng bụi lọ.


Trời sáng Ngũ Tổ mời quan Cung Phụng họ Lư tới vách tường phía Nam để vẽ, xảy thấy bài kệ, Tổ nói với quan Cung Phụng: "Quan Cung Phụng chẳng cần vẽ nữa. Làm nhọc Ngài từ xa lại đây nhưng kinh có dạy rằng:

"Hễ cái gì có hình tướng, đều là hư vọng." Chỉ lưu bài kệ này cho người ta tụng trì, y theo bài kệ này mà tu, khỏi đọa nẻo ác, y theo bài kệ này mà tu, có lợi ích lớn."

Ngũ Tổ liền sai đồ đệ đốt hương, lễ kính rồi tụng bài kệ ấy, tức sẽ thấy Tánh. Các đệ tử tụng kệ, đều khen hay.

Tới canh ba đêm ấy, Tổ kêu Thần Tú vào chánh đường hỏi có phải bài kệ của Thần Tú không? Thần Tú nhận là của mình làm, chẳng phải cầu được làm tổ mà chỉ mong Ngũ Tổ xem xét định giá về trí tuệ của mình.

Tổ dạy rằng, Thần Tú làm bài kệ ấy, thật chưa thấy Tánh, chỉ tới ngoài ngõ chưa vô trong cửa. Theo như chỗ thấy và chỗ hiểu ấy mà cầu đạo vô thượng thì chẳng đặng. Ngài dạy Thần Tú thêm, đạo vô thượng vốn tự bổn tâm, thấy tự bổn tánh chẳng sanh, chẳng diệt, không trệ, tự nhiên như nhiên.

Cái tâm như nhiên là chơn thật. Nếu chỗ thấy như vậy là tánh tự nhiên của Đạo Vô Thượng. Ngũ Tổ bảo Thần Tú hãy lui ra suy nghĩ trong đôi ngày để làm kệ khác trình lại, nếu được nhập môn Tổ sẽ truyền trao y, bát. Thần Tú lễ Tổ lui ra, qua vài ngày vẫn không làm được bài kệ, đi đứng chẳng yên, tinh thần không được vui vẻ.

Lại hai ngày sau, có một chú tiểu đi ngang qua chỗ Huệ Năng giã gạo, xướng tụng bài kệ ấy, Ngài Huệ Năng nghe qua một lần liền biết chưa thấy bổn tánh, tuy chưa được đội ơn thọ lấy giáo pháp, nhưng đã sớm biết đại ý. Bèn hỏi chú tiểu: "Kệ gì chú tụng vậy?"

Chú tiểu nói: "Cái anh xứ muông mọi chẳng hiểu gì cả. Đại Sư Ngài đã nói: Người trong đời, sanh tử là việc lớn, Ngài muốn giao truyền Y, Pháp các môn đồ làm kệ đem trình, nếu ai ngộ được đại ý, thì Ngài giao Y và Pháp để làm tổ thứ sáu. Thượng Toạ Thần Tú đã viết nơi vách ở phía Nam bài kệ Vô tướng.

Đại Sư khiến mọi người đều tụng, theo kệ mà tu khỏi đọa nẻo ác, có lợi ích lớn." Ngài Huệ Năng nói: "Thượng nhơn ơi! Tôi cũng muốn tụng bài kệ đó, để kết mối duyên sâu. Tôi đã giã gạo hơn tám tháng dư, chưa từng đến phía trước, mong người hãy dẫn đến trước bài kệ, để tôi lễ bái."

Chú tiểu liền làm theo lời yêu cầu. Đến nơi, Ngài Huệ Năng nói: "Tôi không biết chữ, xin Ngài hãy vì tôi đọc cho." Lúc ấy có quan Biệt giá Giang Châu Trương Nhật Dụng liền cao giọng đọc. Ngài Huệ Năng nghe xong liền nói: "Tôi cũng có một bài kệ, cúi mong quan Biệt Giá viết dùm." Biệt Giá nói: "Anh cũng làm kệ, việc thật ít có."

Ngài Huệ Năng quay qua quan Biệt Giá nói: "Muốn học đạo vô thượng không nên khinh người mới học. Hạng dưới đôi khi có trí hơn bậc trên cùng. Bậc trên cùng cũng có khi trí kém. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội."

Quan Biệt Giá nói: "Anh hãy tụng kệ, tôi viết cho. Nếu anh đắc pháp xin đừng quên độ tôi trước hết nghe!" Ngài Huệ Năng nói kệ:


Bồ đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn lai vô nhứt vật
Hà xứ nhạ trần ai.


Nghĩa là:

Vốn không cây Bồ đề
Cũng chẳng đài gương tỏ
Vốn không có vật gì.
Chỗ nào đóng bụi lọ.


Bài kệ viết xong, môn đồ đều sợ, không ai chẳng khen và nghi hoặc, họ nói: "Kỳ thay, không thể lấy tướng mạo mà định người. Tại sao lại có thể sai khiến vị Bồ tát xác thịt này!" Tổ thấy mọi người kinh ngac, sợ người ta làm hại, bèn lấy dép bôi bài kệ đi và nói: "Cũng chưa thấy Tánh ". Môn đồ nghe theo lời Ngũ Tổ, cho là như thế.

Hôm sau, Tổ lựa lúc không có người, tới chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng vì ốm yếu, phải đeo đá để đứng trên chày giã gạo, Ngài nói: "Người cầu Đạo vì Pháp mà quên mình đến thế sao?" Rồi Tổ hỏi: "Gạo giã đã trắng chưa?" Huệ Năng bạch rằng: "Gạo giã đã trắng lâu rồi, chỉ còn thiếu cái sàng ở đây". Tổ lấy gậy đánh xuống cối 3 cái, rồi bỏ đi, Huệ Năng hiểu được ý Ngũ Tổ.

Nửa đêm hôm ấy, Ngài Huệ Năng lén vào thất của Ngũ Tổ, Tổ lấy Y cà sa che vây quanh, cho người ngoài chẳng thấy rồi Tổ giảng kinh Kim Cang, đến câu: "Nên không trụ vào đâu mà sanh ra tâm của mình."

Huệ Năng nghe qua, đại ngộ được lẽ: Hết thảy muôn pháp đều chẳng rời khỏi tính tự nhiên, bèn bạch với Tổ: "Dè đâu tánh tự nhiên vốn tự thanh tịnh, dè đâu tánh tự nhiên vốn chẳng sanh diệt, dè đâu tánh tự nhiên vốn nó đầy đủ, dè đâu tánh tự nhiên vốn không lay động, dè đâu tánh tự nhiên thường sanh muôn pháp."

Tổ biết Huệ Năng đã ngộ về bổn tánh nên bảo thêm: "Kẻ nào chẳng biết bổn tâm thì học đạo vô ích. Nếu ai biết bổn tâm tự nhiên, thấy bổn tánh tự nhiên, tức thị kêu là bực trượng phu là Thầy của Trời, người là Phật."

Tổ truyền giáo pháp và Y, Bát mọi người chẳng hay. Tổ dạy rằng: "Nhà ngươi làm tổ đời thứ sáu khéo hộ niệm lấy mình, hãy độ rộng chúng sinh, lưu truyền đạo lý cho đời sau, đừng để cho dứt đứt."

Rồi Ngũ Tổ đọc một bài kệ:

Hữu tình lai há chủng
Nhơn địa quả hoàn sanh
Vô tình diệc vô chủng
Vô tánh diệc vô sanh.


Nghĩa là:

Có tình lại gieo giống
Nhơn đất quả lần sanh
Không tình cũng không giống
Không tánh cũng không sanh.


Ngũ Tổ lại nói: "Thuở xưa Tổ Đạt Ma lại đất này người ta chưa tin, cho nên truyền Y này đặng làm thể tin, đời này truyền nối qua đời kia. Còn Pháp thì lấy tâm truyền tâm, đều khiến cho ngộ lấy, hiểu lấy.

Từ xưa chư Phật chỉ truyền cho nhau cái bổn thể, các Sư trao ngầm cho nhau cái bổn tâm. Chớ Y là mối tranh, thôi nhà ngươi đừng truyền nữa. Vì nếu truyền Y này thì mạng nguy như sợi tơ treo vậy. Nhà ngươi nên đi mau kẻo e người ta làm hại."

Huệ Năng hỏi: "nên đi về đâu? "Tổ dạy: "Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn."

Huệ Năng lãnh Y, Bát rồi nhưng chẳng biết đường ra bờ sông, Tổ dạy là để Tổ đưa đi.

Ngũ Tổ đưa thẳng tới trạm Cửu Giang, rồi bảo Huệ Năng lên thuyền, còn Ngài cầm mái chèo. Huệ Năng bạch: "Xin Hòa thượng ngồi để đệ tử chèo mới phải." Tổ nói: "Lẽ thì ta độ cho nhà ngươi." Ngài Huệ Năng tiếp:

"Lúc mê thì Thầy độ cho, khi tỉnh thì độ lấy mình. Độ tuy là một tiếng, mà chỗ dùng thì chẳng đồng nhau. Huệ Năng này sanh tại chốn biên thùy, giọng nói chẳng được đúng, được Thầy truyền Pháp, nay đã đắc ngộ rồi, chỉ nên do tánh mình mà độ lấy mình thôi".

Tổ nói: "Phải vậy, phải vậy... Phật pháp từ đây do nhà ngươi thi hành cho lớn ra, nhà ngươi đi rồi ba năm, ta sẽ qua đời. Nay nhà ngươi đi cho may mắn, ráng sức đi về phương Nam, chẳng nên vội nói sớm, pháp Phật khó khởi".

Huệ Năng được Tổ truyền Y, Bát vào năm Tân Dậu (661), từ biệt Tổ đi về phía Nam, trong hai tháng tới núi Đại Sưu. Phía sau có vài trăm người rượt tới để đoạt Y và Bát.

Trong bọn có Trần Huệ Minh, vốn là võ quan tứ phẩm đi tu nên tánh thô tục. Huệ Minh là người đứng đầu trong bọn người tìm kiếm Ngài Huệ Năng, khi Huệ Minh theo kịp, Huệ Năng để Y, Bát xuống hòn đá mà nói rằng:

"Y này chỉ để làm dấu tin, há nên tranh giành quá sao?" Rồi Ngài Huệ Năng ẩn trong bụi cỏ rậm. Huệ Minh rượt tới muốn lượm lấy Y, Bát nhưng không cử động được. Bèn la lên: "Hành giả ôi! Tôi vì Pháp mà lại chớ chẳng phải vì Y mà lại đâu."

Nghe thấy vậy, Ngài Huệ Năng bèn rời chỗ nấp, ra ngồi xếp bằng tại trên hòn đá. Huệ Minh làm lễ và thưa rằng: "Mong rằng hành giả vì tôi mà thuyết Pháp cho nghe." Ngài Huệ Năng nói:

"Nhà ngươi vì Pháp mà lại thì nên dẹp tắt các duyên đi, đừng sanh một lòng nghĩ gì hết; ta sẽ nói rõ cho nhà ngươi nghe", rồi một lúc sau, chờ cho Huệ Minh lắng tâm thanh tịnh Ngài mới nói: "Chẳng nghĩ điều lành, chẳng nghĩ điều dữ, chính trong lúc ấy mới hiểu rõ diện mục bổn lai của bực Thượng Tọa Huệ Minh".

Huệ Minh nghe rồi đại ngộ, lại hỏi thêm: "Từ trước tới nay ngoài lời nói kín do mật ý phát ra, còn có mật ý nào nữa chăng?" Huệ Năng trả lời. "Cái tôi đã nói với ông thì không phải là sự bí mật, nếu ông tự phản chiếu thì mật ý chính ở bên ông vậy!" Huệ Minh nói:

"Huệ Minh tuy ở Hoàng Mai thật chưa từng xét ra diện mục của mình. Nay nhờ ơn chỉ biểu như người uống nước, lạnh hay ấm tự mình biết lấy. Nay Ngài tức là Thầy của Huệ Minh". Ngài Huệ Năng nói: "Anh được như vậy thì chính là cùng tôi tôn Ngài Hoàng Mai làm Thầy, hãy khéo tự hộ trì lấy mình".

Huệ Minh lại hỏi: "Từ nay về sau, Huệ Minh này nên đi xứ nào?" Huệ Năng đáp: "Gặp Viên thì ngừng, gặp Mông thì ở." Huệ Minh làm lễ từ biệt. Rồi Huệ Minh trở lại đám người kia, bảo họ là không thấy dấu, nên họ chuyển sang tìm hướng khác. Sau này Huệ Minh đổi tên mình thành Đạo Minh.

Rồi Ngài Huệ Năng lần đến thôn Tào Hầu, quận Thiều Châu, không có người nào biết mà ẩn náu. Khi ấy có Lưu Chí Lược, nhà nho đãi Sư rất hậu, Chí Lược có người Cô là Ni Sư hiệu là Vô Tận Tạng thường tụng kinh Niết Bàn.

Sư nghe qua liền biết nghĩa mầu nhiệm, bèn giải thuyết cho nghe. Ni Sư cầm quyển kinh hỏi chữ. Sư bảo không biết chữ nhưng cứ hỏi nghĩa Sư giải thích cho. Ni Sư nói: "Chữ còn chẳng biết sao hiểu được nghĩa" Sư nói: "Lý mầu nhiệm của chư Phật chẳng quan hệ gì với văn tự".

Ni Sư ngạc nhiên và báo cho mọi người rõ: "Đây là người hiểu Đạo, nên thỉnh cúng dường".

Thuở ấy, trong thôn có Tào Thúc Lương cháu 5 đời của Tào Thy và dân chúng ở gần đua nhau lại chiêm bái Sư. Đương thời, ở thôn Tào Khê có một ngôi chùa cũ tên là Bảo Lâm vì nạn binh lửa cuối đời Tùy đã để bỏ, người ta bèn cất lại rước Sư về ở đó. Ngôi chùa này nguyên do Ngài Trí Dược khuyên bảo dân Tào Hầu dựng nên và có bảo rằng:

"Lối một trăm bảy chục năm nữa sẽ có vị Vô Thượng Pháp Bảo đắc đạo ở đây, kẻ đắc đạo đông như rừng, chùa cất thì đặt hiệu là Bảo Lâm." Chùa cất xong quan Mục Thiều Châu là Hầu Kính Trung soạn tờ biểu dâng lên triều đình, được vua Lương Võ Đế chuẩn lời ban cho tấm biễn là Bảo Lâm Tự, đó là năm thứ ba triều Thiên Giám (504 ).

Ngài Huệ Năng ngụ ở đây hơn chín tháng, lại bị một số người truy lùng, Sư trốn qua ngọn núi phía trước, lại bị bọn chúng đốt núi nhưng may mắn Sư tránh khỏi, nhớ đến lời Ngũ Tổ dạy: Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn nên Sư đi đến huyện Tứ Hội theo đám thợ săn ở ẩn.

Ở với đám thợ săn, Ngài tùy nghi mà nói đạo cho họ nghe, khi nào bọn thợ săn sai giữ lưới, mỗi khi thấy muông thú sa vào, Ngài đều thả hết. Đến mỗi bữa ăn, chỉ lấy rau ở trong nồi thịt mà ăn. Có kẻ hỏi thì đáp: "Chỉ ăn rau bên thịt". Trải qua mười lăm năm, đến một ngày kia Ngài suy nghĩ, lúc này nên hoằng pháp, không thể ẩn núp nữa.

Bèn đi đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, ngày mồng 8 tháng Giêng Bính Tý (675 ), gặp lúc Ấn Tông Pháp Sư giảng kinh Niết Bàn. Khi ấy gió thổi lá phướng lay động, có hai ông Tăng bàn cãi với nhau, kẻ cho "gió động", người cho "phướng động" chẳng ai chịu thua ai. Ngài Huệ Năng bước tới nói rằng: "Chẳng phải gió động, chẳng phải phướng động, ấy là lòng người động." Mọi người ngạc nhiên.

Ấn Tông mời lên chiếu trên ngồi, cầu hỏi nghĩa lý Phật pháp, thấy Ngài Huệ Năng lời giản dị, lý chánh đáng, không do văn tự. Ấn Tông hỏi: "Ngài chắc không phải người thường. Từ lâu nghe Y, Pháp của Ngài Hoàng Mai truyền xuống phương Nam, chắc là Ngài phải chăng?" Ngài Huệ Năng đáp: "Không dám!"

Rồi Ấn Tông làm lễ xin đem Y, Bát cho đại chúng coi. Ấn Tông lại hỏi thêm: "Ngài Hoàng Mai giao phó cho Ngài thì chỉ thị những gì?" Ngài đáp: "Không chỉ thị gì, chỉ bàn thấy Tánh, chớ không bàn Thiền định, Giải thoát." Ấn Tông hỏi: "Tại sao không bàn Thiền định và Giải thoát?" Ngài đáp: "Đó là hai pháp, không phải là Phật pháp. Phật pháp thì không phải hai".

Ấn Tông lại hỏi: "Thế nào là pháp không hai của Phật pháp?" Ngài đáp: "Pháp Sư giảng Kinh Niết Bàn, làm sáng tỏ Phật tánh, đó là Phật pháp chẳng có hai. Như Ngài Cao Quí Đức Vương Bồ Tát bạch Phật rằng:

"Những kẻ phạm bốn giới cấm nặng, làm năm tội nghịch và bọn không tin Phật pháp (Nhứt Xiển Đề) có dứt mất thiện căn, Phật tánh hay không?" Phật đáp: "Thiện căn có hai; một thường; một vô thường. Phật tánh không thường cũng không vô thường, bởi vậy cho nên chẳng dứt đặng.

Gọi là không hai: Một là thiện, hai là không thiện mà Phật tánh không thiện cũng không bất thiện nên gọi là không hai. Uẩn cùng với Giới, phàm phu thấy là hai, còn người đã đạt ngộ thì tánh này không hai. Tánh không hai tức là Phật tánh."

Ấn Tông nghe xong, hoan hỷ chấp tay mà nói: "Tôi giảng kinh như ngói gạch, Ngài luận nghĩa như vàng ròng." Ngài Huệ Năng bèn mở Pháp môn Đông Sơn ở gốc cây Bồ đề, cây này do Ngài Trí Dược đem từ Ấn Độ sang trồng tại đây. Vào năm đầu Thiên Giám của vua Lương Võ Đế (502), có dựng bia ghi:
"Sau đây lối một trăm bảy chục năm sẽ có vị Bồ Tát xác thịt khai diễn thuyết thượng thừa tại dưới cây này độ cho vô lượng chúng là vị pháp chủ chơn truyền tâm ấn Phật vậy." Nơi đây Ngài Cầu-Na-Bạch-Đà-La tam tạng pháp sư cũng có dựng bia vào thời Lưu Dụ (420-478), có ghi rằng: "Sau này sẽ có vị Bồ Tát xác thịt thọ giới ở đây."

Đến ngày rằm tháng Giêng năm ấy, Ấn Tông họp tứ chúng xuống tóc cho Ngài Huệ Năng và đến ngày mồng tám tháng Hai, nhóm các vị đức hạnh danh tiếng đương thời như Ngài Trí Quang Luật Sư ở Trường An làm Thọ Giới Sư, Ngài Huệ Tịnh Luật Sư ở Tô Châu làm Yết Ma, Ngài Thông -ng ở Kinh Châu làm Giáo Thọ, Ngài Kỳ-Đa-La Luật Sư ở Trung Ấn làm Thuyết Giới. Ngài Mật-Đa Tam Tạng Pháp Sư ở Ấn Độ làm chứng minh, để cho Ngài Huệ Năng thọ giới, Ấn Tông từ đây tôn Ngài Huệ Năng tức Lục Tổ làm Thầy.

Mùa Xuân năm sau, Ngài từ giả tứ chúng về chùa Bảo Lâm, Ấn Tông Pháp Sư, các tăng ni Phật tử có trên ngàn người đưa Ngài tới Tào Khê. Khi ấy Ngài Thông -ng luật sư ở Kinh Châu cùng vài trăm học giả nương theo Sư.

Sư thấy chùa Bảo Lâm chật hẹp nên có đến viếng Trần Á Tiên, người trong vùng để xin cúng dường đất cất thêm trang viện. Trần Á Tiên bằng lòng hiến cúng tất cả đất đai trong ấy kể cả mả mồ tứ đại để xây dựng chùa.

Sư đi dạo chơi trong vùng đất ấy, gặp cảnh tốt bèn dừng nghỉ rồi cất thành một chùa nhỏ, tổng cộng được 13 chùa nhỏ trong vùng đất Tào Khê này. Lục Tổ về tới chùa Bảo Lâm vì ở trong núi cách trở nên Thứ Sử Thiều Châu Vi Cứ cùng thuộc viên vào núi thỉnh Sư ra chùa Đại Phạm ở thành Thiều Châu khai duyên thuyết pháp.

Tiểu sử đắc pháp và các bài thuyết pháp chính yếu của Ngài ghi trong Pháp Bảo Đàn Kinh đều được giảng ở chùa Đại Phạm này.

Rằm tháng Giêng năm 684, Đường Trung Tông theo lời đề nghị của Huệ An Quốc Sư và Thần Tú Đại Sư, sai quan Nội Thị Tiết Giảng đến chùa Bảo Lâm thỉnh Lục Tổ vào triều để thuyết pháp cho Thái Hậu và Vua.

Lục Tổ dâng biểu cáo từ vì bệnh, xin trọn đời được ở nơi núi non tu hành. Theo lời thỉnh cầu của Tiết Giảng về những vấn nạn Phật Pháp, Lục Tổ đã giảng dạy về tọa Thiền về Phật tánh. Tiết Giảng được ngộ, trở về kinh tâu lên Vua.

Ngày mồng 3 tháng 9 năm ấy, Vua ban chiếu khen thưởng, cúng dường Y cà sa bá nạp và bình bát thủy tinh, truyền cho Thứ Sử Thiều Châu sửa sang chùa, lại truyền cất một ngôi chùa chỗ ở cũ của Lục Tổ, ban tên là chùa Quốc Ân.

Tháng 7 năm Nhâm Tý (685), Lục Tổ sai môn đồ qua chùa Quốc Ân tại Tân Châu xây tháp và khiến thợ làm mau, để cuối mùa hạ năm sau khánh thành.

Ngày mồng một tháng Bảy năm Quí Sửu (713), Sư nhóm đồ chúng mà dạy rằng: "Đến tháng 8 này ta muốn lìa khỏi thế gian. Bọn ngươi có điều chi nghi, nên hỏi sớm đi, đặng ta phá nghi cho, khiến cho các ngươi hết mê. Chớ nếu sau ta đi rồi, không có người dạy các ngươi."

Các Sư như Pháp Hải nghe qua đều khóc, duy có Thần Hội là thần tình chẳng động, cũng không khóc. Lục Tổ nói: "Thần Hội tiểu sư! Ví dầu được những điều lành hay chẳng lành, khen chê chẳng động, vui buồn chẳng sanh, chẳng cho là được gì hết."

Còn các ngươi! Ở trong núi bao nhiêu năm đã tu được những gì? Vì ai mà ưu tư thương khóc. Nếu lo cho ta không biết chỗ đến? Chính ta tự biết chỗ mình đến. Nếu ta không biết chỗ đến, đã không báo trước cho các ngươi.

Các ngươi thương xót khóc than, thật là chưa biết nơi ta đến. Nếu biết nơi ta đến tất chẳng nên than khóc làm chi. Pháp tánh vốn không sanh, không diệt, không đến, không đi. Tất cả hãy ngồi xuống ta sẽ đọc cho các ngươi một bài kệ gọi là: chơn, giả, động, tịnh. Các ngươi tụng bài kệ này. Đồng ý với ta, theo đó mà tu hành, chẳng sai tông chỉ.

Chư tăng làm lễ, thỉnh Lục Tổ đọc kệ, Ngài đã đọc bài kệ như sau:

Hết thảy không có chơn,
Chẳng đem coi là chơn
Nếu coi là chơn đó
y coi hết chẳng chơn

Nếu tự mình có chơn
Lìa giả, tức tâm chơn
Tâm mình chẳng lìa giả
Không chơn, chốn nào chơn?

Có tình liền biết động
Không tình liền chẳng động
Nếu ta chẳng động hành
Đồng không tình chẳng động

Nếu tìm thiệt chẳng động
Trên động có chẳng động
Chẳng động là chẳng động
Không tình không Phật chủng

Khéo phân biệt được tướng
Nghĩa đệ nhứt chẳng động
Chỉ làm kiến như vậy
Tức là chơn như dụng

Bảo người học đạo hay
Ráng sức nên dụng ý
Đừng ở cửa Đại Thừa
Giữ lấy trí sanh tử

Nếu dưới lời ứng nhau
Liền cùng bàn Phật nghĩa
Nếu thiệt chẳng ứng nhau
Chấp tay, khiến hoan hỷ

Tông này vốn không tranh
Tranh liền mất đạo ý
Pháp môn chấp nghịch tranh
Tự tánh vào sanh tử.

Lục Tổ kệ xong, tất cả đều làm lễ, thảy đều giữ tâm y theo pháp tu hành không dám tranh cải. Khi biết Lục Tổ chẳng còn trụ thế lâu đời. Sư Pháp Hải đến trước Tổ lễ Ngài để hỏi: - Sau khi Hòa thượng nhập diệt, Y Pháp nên giao cho ai?

Lục Tổ bảo: "Từ khi ta thuyết pháp ở chùa Đại Phạm đến giờ, hãy ghi chép lại lưu hành, đề tựa là "Pháp Bảo Đàn kinh". Các ngươi hãy gìn giữ truyền trao cho nhau, độ cho quần sanh. Theo y như thuyết này, đó là chánh pháp.

Nay ta thuyết pháp cho các ngươi nghe chớ không có truyền Y này. Thật là vì tín căn của các ngươi thuần thục quyết định chẳng nghi, nhậm nỗi việc lớn. Theo ý kệ của Tổ Sư Đạt Ma truyền trao thì Y không nên truyền nữa."

Ngô bổn lai tự độ
Truyền Pháp cứu mê tình
Nhứt hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành.

Nghĩa:

Vốn ta lại đất ấy,
Truyền Pháp cứu mê tình
Một hoa trổ năm cánh
Kết quả tự nhiên thành.

Ngày mồng 8 tháng 7 Quí Sửu (713), Lục Tổ bảo môn đồ rằng: "Ta muốn về Tân Châu, các ngươi sửa soạn thuyền chèo cho mau". Các môn đồ khẩn thiết xin Tổ lưu lại lâu hơn. Tổ nói: "Chư Phật xuất hiện còn thị hiện Niết Bàn. Có lúc lại, ắt có lúc đi, cũng là lẽ thường vậy. Hình hài này của ta ắt có nơi về."

Môn đệ hỏi: "Từ đây Sư đi, sớm muộn gì cũng có khi trở về?" Sư đáp: "Lá rụng về cội. Không hẹn ngày trở về."

Môn đệ lại hỏi: "Chánh pháp truyền trao cho ai?" Sư đáp: "Kẻ có đạo thì đắc, kẻ vô tâm thì không."

Môn đồ lại hỏi thêm: "Sau này có nạn gì chăng?" Sư đáp: "Sau khi ta diệt độ năm, sáu năm sẽ có người lại lấy đầu ta, hãy nghe lời sấm ký của ta:

“Đầu thượng dường thân
Khẩu lý tu san
Ngộ Mãn chi nan
Dương Liễu vi quan".

Nghĩa là:

Trên đầu thờ cha mẹ
Trong miệng cần miếng ăn
Gặp cái nạn thằng Mãn
Lúc Dương, Liễu làm quan.

Rồi Lục Tổ rời Tào Khê, đến chùa Quốc Ân ở Tân Châu. Ngày mồng 3 tháng 8 năm Quí Sửu (713) Lục Tổ thọ trai ở chùa Quốc Ân xong, Ngài bảo các môn đồ rằng: "Các ngươi đều y vị thứ mà ngồi, ta từ biệt các ngươi đây."

Sư Pháp Hải bạch xin Ngài lưu lại một thời pháp, khiến cho người mê sau thấy được Phật tánh. Vì lời thỉnh cầu đó, Lục Tổ thuyết một bài pháp Phật tại tâm chúng sinh và lưu một bài kệ "Tự Tánh Chơn Phật".

Lục Tổ đọc kệ xong bảo đồ chúng, sau khi Ngài diệt độ, đừng khóc lóc, đừng nhận phúng điếu, đừng mặc đồ tang, ấy không phải là chánh pháp. Rồi Ngài đọc một bài kệ:

Ngột ngột bất tu thiện
Đằng đằng bất tạo ác
Tịch tịch đoạn kiến văn
Đảng đảng tâm vô trước

Nghĩa là:

Sững sững chẳng tu hành
Trơ trơ không tạo dữ
Thấy nghe dứt như không
Tâm không chút nghi lự.

Kệ xong, Lục Tổ ngồi ngay ngắn cho tới canh ba, thình lình bảo môn đồ: "Ta đi đây". Rồi Ngài tịch diệt.

Lục Tổ thọ 76 tuổi.

Tóm lại, Lục Tổ năm 24 tuổi còn là cư sĩ được trao truyền Y, Bát. Năm 39 tuổi, xuống tóc thọ cụ túc giới. Thuyết pháp lợi ích cho chúng sanh 37 năm, kẻ ngộ đạo cao siêu rất nhiều, kẻ được nối pháp có 43 người.

Môn đệ anh tuấn có Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hà Trạch Thần Hội, Vĩnh Gia Huyền Giác, Nam Dương Tuệ Trung, Pháp Hải. Chính Ngài Pháp Hải thường theo Lục Tổ ghi chép thuyền ngữ, ngôn hành rồi soạn thành bộ Tôn Bảo.

Sau này Linh Thao dựa theo đó và các văn bia của Thượng Thư Vương Duy, Thứ Sử Liễu Tôn Nguyên và Lưu Vũ Tích soạn thành Pháp Bảo Đàn Kinh.

Môn đồ của Ngài Nam Nhạc sau phân lập thành 2 tông phái Thiền là Lâm Tế và Quy Ngưỡng.

Còn môn đồ của Ngài Thanh Nguyên sau phân lập thành 3 tông phái Thiền là Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhẫn. Năm tông này ứng với câu kệ: "Nhứt hoa khai ngũ diệp."

Đến tháng 11 năm ấy, quan lại, môn đồ của Ngài ở ba quận Quảng Châu, Thiều Châu và Tân Châu đều muốn giữ nhục thân của Ngài để tôn thờ, nên cuối cùng phải giải quyết, đốt hương khấn nguyện với Ngài "Hễ khói nhang bay về hướng nào, nhục thân sẽ được rước về đó". Rồi khói nhang bay về hướng Tào Khê.

Ngày 13 tháng 11 năm Quí Sửu (713). Linh cửu, Y, Bát được rước về Tào Khê.
Ngày 25 tháng 7 năm Giáp Dần (714), tổ chức lễ nhập tháp cho nhục thân Lục Tổ. Những bảo vật như Y, Bát của Tổ Đạt Ma truyền lại, Y ma nạp, Bát thủy tinh của Vua Trung Tông ban và tượng Lục Tổ do Sư Phương Biện đấp cùng các đạo cụ, đều giao cho thị giả của Lục Tổ, để tại chùa Bảo Lâm.

Đêm mồng 3 tháng 8 năm Nhâm Tuất (722), thình lình nghe trong tháp như có tiếng kéo dây sắt. Chúng tăng giựt mình thức dậy, ngó thấy một người mặc đồ đại tang từ trong tháp chạy ra. Tìm thấy có vết thương tại nơi cổ Lục Tổ.

Môn đồ đem chuyện ấy trình lên quan trên. Quan huyện Dương Khản và Thứ Sử Liễu Vô Thiễm nhận được đơn, truy lùng kẻ phạm tội. Sau năm ngày tìm được tên Trương Tịnh Mãn, người huyện Lương thuộc Nhữ Châu, ở chùa Khai Nguyên xứ Hồng Châu, nhận do Thầy Sải Kim Đại Bi nước Hàn khiến mướn lấy đầu Tổ để đem về xứ Hải Đông cúng dường.

Quan Thứ Sử họ Liễu nghe lời khai, chưa gia hình, liền đến Tào Khê hỏi Sư Linh Thao: "Vụ án này, xử như thế nào?" Linh Thao đáp: "Nếu lấy luật nước mà bàn, thì nên giết. Nhưng lấy nghĩa từ bi của Phật giáo thì oán thù như nhau, huống hồ gì hắn muốn cúng dường, thì nên tha thứ vậy."

Liễu Vô Thiễm khen: "Mới hay cửa Phật quảng đại!"
Việc này ứng với câu sấm ký của Lục Tổ, nhục thân Ngài bị kẻ trộm người Mán cắt lấy đầu, lúc Dương Khản làm quan huyện và Liễu Vô Thiểm làm quan Thứ Sử.

Năm đầu Thượng Nguyên (760 ), Vua Túc Tông sai sứ thỉnh Y, Bát của Lục Tổ đem vào nội cung cúng dường. Qua năm đầu Vĩnh Thái (765), ngày 5 tháng 5 năm, Vua Đại Tông chiêm bao thấy Lục Tổ xin lại Y, Bát. Ngày mồng 7 tháng ấy, sai sứ là Trấn Quốc Đại Tướng quân Lưu Sùng Cảnh mang Y, Bát trả về chùa Bảo Lâm và truyền cho Thứ Sử Thiều Châu Dương Giam khiến chùa gìn giữ cẫn thận và Vua đặt là Quốc Bảo.

Vua Đường Hiến Tông (806 - 821) ban thụy là Đại Giám Thiền Sư, đề tên tháp là Nguyên Hòa Linh Chiếu.

Vua Tống Thái Tông (976 - 983) gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Thiền Sư, chiếu sửa sang lại tháp và đặt tên là Thái Bình Hưng Quốc Chi Tháp.

Năm 1033, Vua Tống Nhơn Tông (1023 - 1064) rước chơn thân, Y, Bát của Lục Tổ vào đại nội cúng dường lại gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Phổ Giác Thiền Sư.

Vua Tống Thần Tông (1068 - 1086 ) gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Phổ Giác Viên Minh Thiền Sư.

2/ Sự thị hiện của Lục Tổ.

Ở ngoài thế tục, Lục Tổ là một người nghèo khó, bán củi nuôi mẹ độ nhật, vào chùa là phụ thung cư sĩ lo việc bửa củi, giả gạo, chớ chẳng có tụng kinh, nghe pháp.
Hơn tám tháng chưa bước tới chánh điện, thậm chí đến việc Ngũ Tổ tập họp môn đệ lại, để dạy mỗi người làm một bài kệ trình kiến giải của mình về tánh Bát nhã, người ta cũng chẳng lưu tâm đến Ngài vì Ngài là người miền Nam được liệt vào loại man di mà lại không biết chữ nữa! Vậy mà Lục Tổ đã ngộ được Phật tánh, chứng đắc pháp Phật, được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trao truyền Y Bát.

Việc này phá bỏ tất cả những quan niệm, nhận thức sai lầm từ trước là chỉ có những người có học, những người có trí tuệ mới có thể tu học, chứng đắc được Phật pháp. Trường hợp Lục Tổ chứng thực rằng từ kẻ trí cho đến phàm phu đều có Phật tánh, cho nên đều có thể thành Phật. Là một trường hợp thuyết phục mạnh mẽ cho mọi người dễ tin rằng chân lý của đức Phật rõ ràng "Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính".

Chúng ta thấy rằng đạo Phật được truyền bá vào Trung quốc từ những năm trước Công Nguyên, cho đến đời Vua Minh Đế nhà Hậu Hán năm 67 TL nhà Vua sai sứ sang Tây Vực thỉnh tượng Phật, dọc đường sứ rước được hai nhà sư Ấn Độ là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đưa về kinh đô.

Vua mừng rỡ cho lập Bạch Mã Tự để hai nhà sư dịch kinh. Từ đó cho đến khi Ngài Huệ Năng cầu Pháp, đạo Phật đã truyền bá ở Trung Quốc trên 600 năm đã có những nhà sư Trung Quốc sang Ấn Độ thỉnh kinh như Ngài Pháp Hiển đi Ấn Độ từ năm 399 đến 414 và Ngài Trần Huyền Trang (600-664) đi Ấn Độ từ 629 đến 645.

Có nhiều Vua, quan đại thần đã quy y Tam bảo, dốc lòng phụng sự Phật Pháp như là Lương Võ Đế, một số nhà sư được phong làm Quốc Sư, cho thấy đạo Phật thời ấy ảnh hưởng mạnh mã đến Vua, quan và những nhà trí thức làm cho người ta có thể nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp cho hạng người trí thức, uyên thâm kinh điển, để nghiên cứu giáo lý.

Trường hợp Ngài Huệ Năng là một biến cố, đạo Phật chân truyền từ đức Thế Tôn cho đến Ngài vẫn chỉ là một giáo lý, một chân lý. Tự tánh Bồ đề bổn lai thanh tịnh, bình đẳng với mọi người, ai ai cũng có thể đạt tới thanh tịnh, thanh tịnh thường hằng ấy là đạt đạo vậy.

3/ Tư tưởng căn bản của Lục Tổ.

Không phải tự nhiên mà Lục Tổ, hoặc là người viết Pháp Bảo Đàn Kinh đã đưa lên hàng đầu quyển kinh, cũng là lời mở đầu bài giảng ở chùa Đại Phạm khi Tổ được Thứ Sử Lưu Cứ thỉnh Ngài từ núi ra thành Thiều Châu giảng kinh:

- Thiện tri thức! Bồ đề tự tánh, bổn lai thanh tịnh, đản dụng thủ tâm, trực liễu thành Phật.

Nghĩa là: Hỡi chư thiện tri thức! Tự tánh Bồ đề vốn thanh tịnh, chỉ dùng cái tâm này, đủ thành Phật vậy.

Ai cũng biết rằng Phật đã dạy "mọi chúng sanh đều có Phật tánh". Phật tánh ấy là tự tánh Bồ đề là sự thanh tịnh. Làm thế nào giữ cho được tâm của mình luôn luôn thanh tịnh thì sẽ thành Phật.

Ở đây Lục Tổ khẳng định lại một lần nữa sự chứng đắc của Ngài:

Bồ đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn lai vô nhứt vật
Hà xứ nhạ trần ai?

Qua bài kệ này, chúng ta thấy Ngài đã khẳng định tự tánh Bồ đề vốn không là, không phải, không có một vật gì cả mà như vậy thì nó thanh tịnh đó là Ngài định nghĩa. Bây giờ Ngài chỉ cho cách tu để thành bậc chánh giác ấy là phải giữ cho tâm luôn luôn được thanh tịnh tức là đạt đến cảnh giới Niết Bàn, đạt đạo tức là thành Phật.

Trong kinh Di Đà, Phật có dạy: "Nếu có thiện nam, tín nữ nào hoặc một ngày cho đến bảy ngày niệm danh hiệu Phật, tâm không tán loạn, khi sắp chết sẽ được Phật A Di Đà và chư vị Thánh hiện ra trước mắt. Khi chết mà tâm không tán loạn liền được sanh về cõi Cực lạc của Phật A Di Đà.

Nhờ đoạn kinh phổ quát này, chúng ta thấy rằng một khi ta nhứt tâm chánh niệm, không chút xao động thì tâm ta đạt được cảnh giới thanh tịnh, tâm ấy là Bồ đề tâm mà tánh ấy là tánh thanh tịnh: Không sanh, không diệt, không thêm, không bớt, không dơ, không sạch.

Đó cũng là Trí Bát nhã vậy. Đạt đến nhất tâm bất loạn, tức là tâm Bồ đề, tức là đã đến bờ bên kia. Một người ngồi Thiền, một người niệm Phật đều có thể đạt được.

Tư tưởng căn bản của Lục Tổ được Ngài trình bày thật rõ ràng, cô động và xúc tích.

4/ Sự hình thành dòng Thiền đông độ.

Qua câu hỏi của Ngũ tổ: "Gạo giã đã trắng chưa?", nếu câu ấy Tổ hỏi chúng ta, chắc chúng ta sẽ trả lời một trong hai trường hợp: "Đã trắng hoặc chưa được trắng". Còn Huệ Năng hiểu theo mật ý là đã đạt đạo chưa? Do đó Ngài trả lời là "Gạo giã đã trắng, chỉ còn thiếu cái sàng", có nghĩa là lý đạo đã thấu nhưng còn chờ người chứng đắc cho.

Rồi Ngũ tổ tay đang cầm quạt, gõ vào cối ba cái, Ngài Huệ Năng hiểu liền đó là ước hẹn vào canh ba, cho nên Ngài Huệ Năng canh ba đêm đó liền lẻn vào phương trượng của Ngài Hoằng Mai, từ lời lẽ trong bài kệ đến những câu đối đáp, nhậm ý chứng tỏ căn tánh Ngài Huệ Năng đã đạt đạo.

Do đó Ngũ tổ đã trao truyền tâm ấn, giao phó cho Lục tổ trách nhiệm hoằng pháp, độ sanh, xiển dương chánh pháp, làm cho dòng Thiền Đông độ ngày càng hưng thịnh hơn.

Lục tổ lấy kinh nghiệm bản thân mình, không cần phải đọc thiên kinh, vạn quyển, chỉ giữ cho tâm thanh tịnh, trí Bát nhã tự nhiên sanh, chính Lục tổ đã tỏ ngộ được từ kinh Kim Cang, một kinh sắc như gươm, chặt đứt mọi phiền não, triệt để phá chấp. Lục tổ dùng kinh Kim Cang làm tôn chỉ cho tông Vô niệm của Ngài để lưu truyền hậu thế, thay cho Lăng già do Sơ tổ Bồ đề Đạt Ma từ Ấn Độ mang sang truyền trao lại.

5/ Một vài nghi vấn

Việc Huệ Minh và những người chạy theo tìm Lục tổ để lấy lại Y Bát, làm cho nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật là đạo diệt dục nhưng tại sao người ta còn Tham Sân Si, muốn chạy theo Lục tổ để dành lấy Y Bát?

Hiểu như vậy cũng đúng nhưng mà nếu chúng ta ở vào hoàn cảnh một Thiền sinh dưới trướng của Ngũ Tổ, chúng ta sẽ nghĩ và làm gì? Đâu phải tất cả mọi người vào chùa tu là Thánh Tăng, xả ly tất cả mọi tham ái, sân si?

Có những người đã tu lâu năm, có những người vừa mới tu, họ cũng là người tâm tánh cũng như chúng ta mà thôi, cho nên ai ai cũng tôn kính giáo thọ Thần Tú, mọi người đều nghĩ rằng Thần Tú sẽ được truyền Y Bát, gần nhất là bài kệ của người đã được Ngũ tổ tán dương.

Còn Huệ Năng, dưới mắt của các Thiền sinh chẳng qua là một anh chàng quê mùa, dốt nát, chỉ có làm công quả, chẳng có tụng kinh, ngồi Thiền, sau ba ngày anh ta mất tích, Ngũ tổ cũng không thăng đường thuyết pháp, nay Ngài cho biết Y Bát đã truyền cho Huệ Năng!

Có lẽ vì lòng Từ mà Ngài phải nói như thế, để giúp cho Huệ Năng khỏi bị mang tội trộm cắp mà thôi, chớ sự trao truyền ấy có ai đã thấy? Chàng ta đã xứng đáng chưa? Chắc là chưa. Vì bài kệ của Huệ Năng đọc cho quan Biệt giá Trương Nhật Dụng chép lên vách, đã bị Ngũ tổ dùng dép xóa đi, trước mọi người Ngài còn khẳng định là chưa đạt đạo kia mà.

Nhưng có lẽ lòng tham của Huệ Năng nỗi lên, đã đánh cắp Y Bát và trốn chạy, mà anh chàng nhà quê ấy còn trốn chạy đâu hơn là chạy về miền Nam.

Ở vào trường hợp này, Ngũ tổ có lòng từ nên tha thứ, nhưng nếu chúng ta không chạy theo lấy lại Y Bát trả về cho Ngũ tổ mới là đáng chê trách người đệ tử không biết bảo vệ, phục vụ Thầy tổ mình. Cho nên Huệ Minh và những người sơ cơ khác chạy theo Lục Tổ để dành lại Y Bát, là một hành động đương nhiên thường tình, lý phải như vậy, còn nếu Thần Tú chạy theo mới đáng cho chúng ta chê trách.

Ngũ tổ vì sao truyền Y Bát mà không cho chúng đệ tử rõ? Lý do chánh yếu là Ngài biết rõ ai ai cũng tôn thờ Thần Tú, từ lâu mọi người tin chắc rằng Thần Tú sẽ được truyền Y Bát, nay nếu tuyên bố Y Bát truyền cho Huệ Năng mọi người sẽ không thể phá chấp, sẽ xem Huệ Năng là một người quê mùa, dốt nát, tầm thường và Huệ Năng có thể bị ám hại, cho nên Ngũ tổ đã dạy Huệ Năng xuôi về Nam, ẩn thân một thời gian.

như thế một là Huệ Năng đến miền đất xa lạ, chưa ai biết tông tích, người ta sẽ dễ dàng chấp nhận, tôn thờ, hai là thời gian ẩn thân để làm cho tâm mọi người lắng động, phải chấp nhận việc truyền trao Y Bát đó là đương nhiên, khi đã được một số người khác tôn sùng,
họ sẽ bảo vệ Thầy tổ của mình, ba là Huệ Năng có đủ thời gian để nghiền ngẫm suy tư và chứng ngộ, chờ đợi một cơ hội thuận tiện khai mở dòng Thiền, Ngài đã khai mở đúng lúc bằng một nhát búa bổ mạnh vào tâm thức hai Thiền sinh về "tâm động", trong khi họ cãi với nhau vì lá phướng động hay vì gió động.

Khi tiễn Huệ Năng, Ngũ tổ cho biết ba năm sau người sẽ tịch, tại sao Ngài không dành ba năm đó để giảng dạy chữ nghĩa, kinh điển, khai mở trí tuệ cho Huệ Năng rồi mới trao truyền Y Bát, thật ra thì Huệ Năng đã đạt đạo, sau này Ngài đã nói với Ni sư Vô Tận Tạng: "Lý mầu của chư Phật chẳng quan hệ gì với văn tự ".

Mà đúng vậy, Huệ Năng đâu đã học chữ nào mà đã ngộ được kinh Kim Cang, thì cần gì Ngũ tổ phải dạy thêm chữ nghĩa, điều này lại hóa ra là một khẳng định, một phá chấp triệt để những lớp trước hoặc đương thời tôn sùng văn tự, phải lão thông kinh điển, chẳng hạn như Tam Tạng Pháp sư Trần Huyền Trang, mới có thể tu học và chứng ngộ giáo lý đạo Phật.

Lãnh Nam là tên vùng đất Việt Nam thời trước, nhưng cha mẹ của Huệ Năng đều là người Trung Hoa và chùa Quốc Ân ở xứ Tân Châu, nơi mà vua Đường Trung Tông ban cho ở chỗ cũ tức là đất Lãnh Nam, chúng ta không thấy những sách Phật giáo Việt Nam xưa nói đến,
phải chăng xứ Tân châu nằm ở Quảng Đông ngày nay, đất này thuộc Trung Quốc từ lâu vả lại Lục tổ cũng là người Trung Quốc nên các sách Phật giáo xưa đều không nói tới.

Hơn nữa, trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn do Thiền sư Thích Thanh Từ dịch năm 1975 phần Lăng già tâm ấn duyên khởi, Kim Vô một Thiền sư Trung Hoa viết: "... Đến năm Mậu Tuất (1641), Ngài trở về Lãnh Nam. Kim Vô tôi năm sau từ Ngọc Môn tìm đến...", như vậy, Lãnh Nam của Huệ Năng và của Kim Vô nói tới có thể là một và nó là đất Trung Hoa mà thôi.

6/ Phương pháp thực hành.

Phương pháp thực hành của Lục Tổ được Ngài tạo thành một pháp môn Vô Niệm mà Ngài có nói rõ, lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể và vô trụ làm gốc. Ngài dạy vô niệm là đối với chuyện nghĩ mà không nghĩ, Vô Tướng là đãi với tướng mà rời khỏi tướng và Vô Trụ là chẳng trụ vào mỗi điều nghĩ, tức là không bị trói buộc.

Chúng ta có thể tìm hiểu thêm về tông vô niệm của Ngài do chính Ngài giảng: Sao kêu là vô niệm? Biết và thấy tất cả các pháp mà lòng chẳng chấp nê, thấm nhiễm, ấy là vô niệm. Dùng đến liền biến khắp mọi nơi, cũng chẳng chấp nê hết thảy mọi nơi.

Chỉ cốt trong sạch lòng mình, khiến cho sáu thức ra khỏi sáu cửa, ở trong lục trần mà không tạp, không nhiễm. Qua lại tự do, không dụng không trệ, tức là Bát nhã Tam Muội, tự tại Giải thoát gọi là hạnh vô niệm. Nếu đối với trăm vật chẳng nghĩ, rồi khiến cho niệm tuyệt, tức là hành pháp trói buộc, đó kêu là biên kiến.

Hỡi chư thiện tri thức! Hễ ai ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật. Hễ ai ngộ được pháp vô niệm tức đạt được địa vị Phật.

Để dạy người ta thực hành pháp vô niệm, Lục Tổ có 2 bài kệ, chúng tôi chọn một bài trích ra đây, vì thấy rằng nó đầy đủ hơn bài kia:

Thuyết thông với tâm thông với hai tướng,
Như mặt trời treo tượng hư không
Chỉ truyền thấy tánh pháp dòng
Ra đời phá bể tà tông ra ngoài.

Pháp chẳng cứ hai loài tiệm đốn
Chậm mau do ở chốn tỉnh mê
Cửa này thấy tánh thì về
Người ngu che lấp chẳng hề tỉnh ra

Dầu giảng thuyết rộng xa muôn dặm
Mà lý thì hiệp lại một đường
Trong nhà phiền não mơ màng
Mặt trời huệ tỏ nên thường mọc ra

Hễ tà lại tức là phiền não
Hễ chánh về phiền não trừ đi
Chánh tà đều chẳng dùng chi
Một lòng thanh tịnh đến thì không dư

Bồ đề vốn chơn như tự tánh
Hễ khởi lòng bất chánh là sai
Tịnh tâm vẫn ở trong sai
Chánh xô ba chướng ra ngoài đạo ngay

Người đời nếu có hay tu lạy,
Hết thảy đều chẳng hại đạo mầu
Lỗi mình mình thấy làu làu
Tức là với đạo hai đầu tương đương

Loài sắc tự nó thường có đạo
Đều chẳng làm phiền não chi nhau
Lìa đạo, tìm đạo ở đâu?
Trốt đời chẳng thấy đạo mầu nơi nao

Một đời những lao đao vì đạo
Rốt cuộc rồi áo não lấy thân
Muốn tìm cho thấy đạo chơn
Làm ngay thì đạo xây vần tới ngay

Tự mình nếu không hay có đạo
Làm quấy thì thấy đạo là gì.
Kẻ nào thiệt dạ tu trì
Tự nhiên chẳng thấy lỗi chi ở đời

Nếu mình thấy những người làm quấy
Mình quấy theo kẻ ấy thấp thay
Quấy ai ta chẳng quấy lây
Nếu ta cũng quấy lỗi rày ở ta

Vậy ta hãy ruồng xa lòng quấy
Phiền não trừ chẳng thấy não phiền
Ghét yêu chẳng bận lòng Thiền
Ruổi dài hai cẳng nằm yên một giường

Với người khác tìm phương khuyến thiện,
Tự mình nên phương tiện tùy cơ
Chớ cho họ có lòng ngờ.
Tức là tự tánh bây giờ hiện ra

Pháp Phật ở đời ta như vậy
Chẳng lìa đời mà thấy riêng bề
Lìa đời kiến đạo Bồ đề
Như tìm sừng thỏ chẳng hề thấy đâu

Chánh kiến ấy tên đầu xuất thế
Tà kiến là tiếng để thế gian
Chánh tà quét sạch một làn
Tánh Bồ đề sẽ chan chan hiện trần.

Tụng này ấy là phần đốn giáo
Cũng kêu tên là đại pháp thuyền
Mê thì hằng kiếp liên miên
Tỉnh thì giây lát cũng liền thành luôn.

7/ Về pháp môn Thiền định

Lục Tổ dạy: Hỡi chư thiện tri thức! Sao kêu là Thiền định? Bên ngoài rời khỏi tướng là Thiền. Bên trong chẳng loạn là định. Bên ngoài mắc lấy tướng thì ở bên trong liền loạn. Bên ngoài nếu rời khỏi tướng, thì tâm liền chẳng loạn. Bổn tánh tự tịnh, tự định; chỉ vì thấy cảnh mà nghĩ đến cảnh liền loạn. Nếu thấy các cảnh mà tâm chẳng loạn, đó mới thiệt là định vậy.

Hỡi chư thiện tri thức! Ngoài rời khỏi tướng tức là Thiền; trong chẳng loạn tức là định; ngoài Thiền trong định đó tức là Thiền định. Kinh Bồ Tát Giới chép rằng: "Bổn tánh của ta nguyên tự nó thanh tịnh".

Hỡi chư thiện tri thức! Ở trong mỗi lúc, mỗi giây nghĩ, tự mình thấy bổn tánh thanh tịnh. Tự mình tu, tự mình hành, tự thành Phật đạo vậy.

Qua đây chúng ta thấy rằng từ tư tưởng căn bản tự tánh Bồ đề vốn thanh tịnh, giữ cho tâm mình luôn luôn được thanh tịnh tức là trở về với bổn tánh, khi đã hợp nhất với tự tánh thì Bát nhã trí sanh, đạt quả vị Bồ đề, phương pháp để đạt được là phải Thiền định.

Phương pháp Thiền của Lục Tổ như trên đã nói tức là giữ cho tâm được thanh tịnh không suy tư như Phật đã dạy: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" để đáp lại câu "vân hà hàng phục vọng tâm?"

Chính vì vậy mà các Thiền Sư có lối la, hét, đánh đá những nhà Sư, trong các trường hợp các nhà Sư suy nghĩ để trả lời câu hỏi của Thiền Sư, bởi vì có suy nghĩ là còn đi ngược lại phương pháp Thiền định của Lục Tổ rồi.

Tổ đã nói trong bài kệ trên:
Bồ đề vốn chơn như tự tánh
Hễ khởi lòng bất chánh là sai
Tịnh tâm vẫn ở trong sai.
Chánh xô ba chướng ra ngoài đạo ngay

Nguyên văn:

Bồ đề bổn tự tánh.
Khởi tâm tức thị vọng.
Tịnh tâm tại vọng trung.
Đản chánh vô tam chướng.

Hiểu được phương pháp căn bản này thì chúng ta thấy có những câu Tổ hỏi và những câu các đồ đệ trả lời không có liên quan chút nào hết, điều này nó thực chứng cho hành giả có giữ được bổn tánh thanh tịnh hay không.

1- Chẳng hạn Triệu Châu đến chỗ Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận, Hoàng Bá thấy Sư đến liền đóng cửa phương trượng. Sư lấy lửa đem vào pháp đường kêu:

- Cứu lửa, cứu lửa!

Hoàng Bá mở cửa, nắm Sư đứng lại, bảo: - Nói! Nói!

Sư bảo: - Cướp qua rồi mới trương cung.

2- Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi Thiền Sư Hoàng Bá: - Thế nào là đại ý Phật pháp?

Hoàng Bá liền đập cho một gậy. Sau Sư lại hỏi hai lần nữa, cũng bị mỗi lần một gậy. Sư Lâm Tế phải từ giả sang tham vấn Thiền Sư Đại Ngu, thuật lại sự việc trên, và hỏi rằng như vậy có lỗi hay không mà bị đánh như thế. Đại Ngu nói: Hoàng Bá dạy ngươi thống thiết, tại ngươi còn tìm lỗi". Ngay câu này Sư Lâm Tế tỉnh ngộ.

Còn Ngài Đại Ngu lúc còn đi học đạo, đến chào từ biệt Thiền Sư Trí Thường (Qui Tông). Ngài Trí Thường hỏi:

- Đi đâu?

- Đi các nơi học ngũ vị Thiền.
- Các nơi ngũ vị Thiền, ta trong ấy chỉ có nhất vị Thiền.

- Thế nào là nhất vị Thiền?

Ngài Trí Thường liền đánh. Đại Ngu nhờ vậy đại ngộ, thưa:

- Ngưng, con hội rồi.
- Nói! Nói!

Đại Ngu vừa nghĩ trả lời.
Ngài Trí Thường liền đánh đuổi đi.

3- Thiền Sư Qui Sơn Linh Hựu cùng chúng đi hái trà. Thiền Sư bảo Huệ Tịch:

- Trọn ngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hãy hiện bổn hình cho ta thấy coi.

Huệ Tịch liền đập cây trà.

Thiền Sư bảo:

- Con chỉ được cái dụng của nó. Chẳng được cái thể của nó.

Huệ Tịch thưa:

- Chưa biết Hòa thượng thế nào?

Thiền Sư im lặng. Huệ Tịch nói:

- Hòa thượng chỉ được cái thể của nó, không được cái dụng của nó.

Thiền Sư bảo:

- Cho con hai chục gậy.

4- Thiền Sư Đơn Hà một hôm thượng đường tay nắm con mèo giơ lên bảo đồ chúng ai nói được sẽ tha con mèo còn không thì sẽ giết nó. Mọi người đều yên lặng. Thiền Sư liền chặt đứt đầu con mèo.

Khi Ngài Triệu Châu về tới, Thiền Sư nói lại câu chuyện, Triệu Châu bèn cỡi giày đội lên đầu. Thiền Sư Đơn Hà bảo: "Giá khi nãy có ngươi thì đã cứu được con mèo."
Có vị cho rằng Triệu Châu đã lấy đôi giày là cái ti tiện để trên đầu là chỗ cao quí, tức là muốn nói không có quí tiện, không phàm thánh, vượt ngoài đối đãi.

Đó là một nghĩa nhưng cũng còn có một nghĩa nữa là đừng có suy nghĩ, Ngài chặt đứt đầu con mèo cũng là hành động dứt khoát chặt đứt mọi tư lương, phải quấy, thiện ác.... Hiểu như vậy thì hành động của Triệu Châu đầy ý nghĩa giữ đúng tông phong của Lục Tổ.

8/ Kết quả hoằng hóa của Lục Tổ.

Năm 24 tuổi xuất gia, hơn 8 tháng giả gạo, sàn thóc tại chùa Động Thiền huyện Hoàng Mai. Sau bài kệ trình kiến giải, canh ba đêm sau được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn chứng đắc rồi trao truyền Y, Bát và đưa lên đường về phương Nam để lánh nạn và hoằng dương chánh pháp sau này.

Từ Hoàng Mai xứ Kỳ Châu, Ngũ Tổ đã lánh nạn ở Thiều Châu. Lúc ở thôn Tào Hầu, lúc vào rừng ở huyện Từ Hội sống với bọn thợ săn, trải qua hơn 15 năm. Sau đó Lục Tổ mới đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu gặp Hoà Thượng Ấn Tông, Ấn Tông xuống tóc và tổ chức lễ cho Ngài thọ cụ túc giới, từ đây Ấn Tông tôn thờ Lục Tổ làm Thầy.

Tại chùa Pháp Tánh Lục Tổ đã khai pháp môn tại đây, năm sau Ngài về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê hoằng hoá Thiền tông, xiển dương chánh pháp trong 37 năm.

Mấy tháng cuối cùng Ngài về chùa Sắc Tứ Quốc Ân ở Tân Châu, nơi Ngài đã sanh để tịch.

Trải qua 52 năm kể từ ngày được truyền Y, Bát chứng đắc pháp môn. Lục Tổ đã lánh nạn tức là bảo vệ chánh pháp 15 năm. Mười lăm năm này ai đã từng trải qua những ngày tháng ẩn cư lánh nạn, chịu đựng bao nổi vất vả về vật chất lẫn tinh thần, mới thấy hết ý nghĩa vì nhiệm vụ được truyền trao bảo vệ và hoằng dương chánh pháp của Ngài.

Ba mươi bảy năm thuyết pháp độ sanh, Lục Tổ đã giúp cho kẻ ngộ đạo cao siêu rất nhiều từ vua, quan cho đến thứ dân ở kinh đô cũng như ở chốn hoang dã.
Những vị được nối pháp có 43 người; những vị mà chúng ta thường nghe nhắc đến trong sách Thiền, trong các câu chuyện về Thiền như: Thiền Sư Hành Tư, Hoài Nhượng, Huyền Giác, Thần Hội, Pháp Hải, Quốc Sư Huệ Trung.

Thiền Sư Hoài Nhượng (667-744) truyền đến Đạo Nhất (709-788). Thiền Sư Đạo Nhất truyền đến Hoài Hải (720-814), Thiền Sư Hoài Hải truyền cho Vô Ngôn Thông (?-826) sang Việt Nam lập phái Thiền Vô Ngôn Thông, Thiền Sư Hoài Hải truyền đến Linh Hựu (751-853), đệ tử của Linh Hựu là Huệ Tịch (804-899) lập ra phái Thiền Qui Ngưỡng Tôn.

Cùng Ngài Hoài Hải truyền đến Hy Vận (?-850) có đệ tử là Nghĩa Huyền (?-867) lập ra Lâm Tế Tôn. Kể từ Lục Tổ đến Ngài Vô Ngôn Thông là đời thứ 4 và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch cùng Lâm Tế Nghĩa Huyền là đời thứ 5 Thiền tông ở Trung Quốc đã sớm phân phái.

Còn Thiền Sư Hành Tư (?-740) truyền cho Hy Thiên (700-790), Thiền Sư Hy Thiên truyền cho Duy Nghiễm (751-834), Thiền Sư Duy Nghiễm truyền cho Đàm Thạch (728-841), Thiền Sư Đàm Thạch truyền cho Lương Giới (807-869), Thiền Sư Lương Giới truyền cho Bổn Tịch (840-901). Thiền Sư Bổn Tịch lập ra Tào Động Tôn.

Cũng là đệ tử của Ngài Hy Thiên là Đạo Ngộ (747-816). Thiền Sư Đạo Ngộ truyền cho Sùng Tín (?), Thiền Sư Sùng Tín truyền cho Huyền Giám (780-865), Thiền Sư Huyền Giám truyền cho Nghĩa Tồn (822-908), Thiền Sư Nghĩa Tồn truyền cho Văn Uyển (?-949). Thiền Sư Văn Uyển lập ra Vân Môn Tôn.

Ngài Nghĩa Tồn cũng truyền cho Sư Bị (835-908), Thiền Sư Sư Bị truyền cho Quế Sâm (867-928), Thiền Sư Quế Sâm truyền cho Văn Ích (885-958).

Thiền Sư Văn Ích lập ra Pháp Nhãn Tôn.

Phái của Ngài Hành Tư đến đời thứ Sáu thì lập Tào Động Tôn, đời thứ Bảy lập Vân Môn Tôn và đến đời thứ Chín lập ra Pháp Nhãn Tôn.

Phái Lâm Tế đời thứ 18 có Thiền Sư Huệ Nam (1002-1069) ở Hoàng Long lập ra hệ phái Hoàng Long và Thiền Sư Phương Hội (?-1054) ở Dương Kỳ lập ra phái Dương Kỳ hoàn tất việc lập năm tôn và chia ngủ phái Thiền của Tổ Huệ Năng ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam phái Thiền Vô Ngôn Thông cũng là phái Thiền của Ngài Huệ Năng thuộc hệ phái của Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng.

Tào Động Tôn cũng có truyền đến miền Bắc nước ta, còn miền Trung và Nam Lâm Tế Tôn có phái Nguyên Thiều và Liễu Quán nhưng phái của Ngài Nguyên Thiều được truyền bá rộng rãi.
=
Lời Bàn: Có nhiều người xem chuyện của (Lục Tổ Huệ Năng) Đã thắc mắc vì sao Tổ dốt như vậy mà lại "Đắc quả" .?

"Nghĩ lại = Quán tưởng xem" Những đứa trẻ ngay lúc nhỏ chưa đi học, nhưng có lắm trẻ đã thể hiện về phong cách có khác nào người đã già dặn, từ cử chỉ, lời nói và hành động rất là ý thức. Nhưng cạnh đấy cũng lắm trẻ, rất khờ khạo.

Đứa Thông Minh: Khi được Thầy Cô dạy, nó ch
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 28 Jun 2010, 23:40

Ánh Đạo Vàng

12 - Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát (Bodhisatva Manjusri) Lưỡi Gươm Vàng Trí Tuệ

Văn Thù Sư Lợi cũng được gọi là Mạn Thù Thất lỵ, có nghĩa là Diệu Đức, Diệu Cát Tường. Diệu Đức được hiểu là mọi đức đều tròn đầy.

Thủa xưa, Ngài là con thứ ba của vua Vô Tránh Nhiệm có tên là Thái tử Vương Chúng. Ngài cúng dường Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh nên được hiệu là Văn Thù Sư Lợi.

Sau khi Phật Bảo Tạng thọ ký cho Ngài phải trải vô lượng hằng hà sa số kiếp về sau, thì Ngài sẽ thành Phật ở thế giới thanh tịnh Vô Cấu Bảo Chi thuộc về bên phương Nam, hiệu là Phật Văn Thù.

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi xuất hiện hầu như trong tất cả các kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật…như là một nhân vật thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca.

Ngài có lúc thì chính thức thay mặt Đức Thế Tôn diễn nói Chánh pháp, còn có lúc đóng vai người điều khiển chương trình để giới thiệu đến thính chúng một thời pháp quan trọng của Đức Bổn Sư.

Ngài thấu hiểu Phật tánh bao gồm cả ba đức: Pháp thân, Bát Nhã và Giải thoát cho nên trong hàng Bồ tát Ngài là thượng thủ. Là vị Bồ tát tiêu biểu cho trí tuệ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thường được miêu tả với dáng dấp trẻ trung ngồi kiết già trên một chiếc bồ đoàn bằng hoa sen.

Biểu tượng đặc thù của Ngài là trên tay phải, dương cao lên khỏi đầu, là một lưỡi gươm đang bốc lửa. Nó mang hàm ý rằng chính lưỡi gươm vàng trí tuệ nầy sẽ chặt đứt tất cả những xiềng xích trói buộc của vô minh phiền não đã cột chặt con người vào những khổ đau và bất hạnh của vòng sinh tử luân hồi bất tận và đưa con người đến trí tuệ viên mãn.

Trong khi đó, tay trái của Ngài đang cầm giữ cuốn kinh Bát nhã trong tư thế như ôm ấp vào giữa trái tim. Đây là biểu trưng cho tỉnh thức, giác ngộ. Đôi khi, chúng ta cũng thấy tay trái của Ngài cầm hoa sen xanh, biểu thị cho đoạn đức. Có nghĩa là dùng trí tuệ để dứt sạch mọi nhiễm ô tham ái, như hoa sen ở trong bùn mà không nhiễm mùi bùn.

Nói một cách khác là Bồ tát không phải người ẩn nơi non cao rừng thẩm, hoặc sống trong cảnh thanh tịnh u nhàn, mà là người sống chung đụng với quần chúng, lăn lộn trong đám bụi trần để cứu độ chúng sinh, nên có lúc họ ra làm vua, có lúc làm quan, cũng có khi làm kẻ tật nguyền nghèo khổ…

Tuy sống trong dục lạc dẫy đầy, mà Bồ tát vẫn giữ tâm thanh tịnh không bị ô nhiễm như người đời. Đó là nhờ trí tuệ dứt sạch tham ái, viên thành đoạn đức.

Chiếc giáp Ngài mang trên người gọi là giáp nhẫn nhục. Nhờ nó nên các mũi tên thị phi không xâm phạm vào thân. Nó có thể che chở cho Ngài vẹn toàn tâm từ bi do đó bọn giặc sân hận oán thù không thể nào lay chuyển được hạnh nguyện của Bồ tát.

Bồ tát không bao giờ rời chiếc giáp nhẫn nhục bởi vì nếu thiếu nó thì họ không thể nào thực hiện được tâm Bồ đề. Nói về Phật giáo Á Châu, thì Ngũ Đài Sơn bên Trung Quốc được xem như là nơi trụ tích của Văn Thù Bồ tát.

Ngũ Đài Sơn thuộc địa phận tỉnh Sơn Tây và có năm ngọn núi quần lại với nhau là Đông đài, Tây đài, Nam đài, Bắc đài và Trung ương đài. Phong cảnh rất thanh tú với hồ nước lung linh, những dòng sông trong veo uốn khúc cộng thêm những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú như những bức tranh thủy mặc, nên từ lâu được coi là chốn bồng lai tiên cảnh, trú xứ của những vị Tiên theo truyền thuyết Trung Hoa. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng:

Ngài Văn Thù trụ lại ở núi Thanh Lương phía Đông Bắc và hiện đang thuyết pháp cho chư Bồ tát nghe. Mà núi Thanh Lương sau nầy được ám chỉ là núi Ngũ đài. Vì thế mà vào đời nhà Đường (736 sau T.L) có vị Thiền sư Đạo Nhất, một vị cao tăng, đã thực hiện một chuyến hành hương trên Ngũ đài sơn. Sư gặp một một lão tăng cưỡi trên mình một con voi trắng ở phía đối diện.

Lão tăng nói ngày mai sẽ gặp được Văn Thù Bồ tát, nói xong thì lão tăng biến mất. Sư quá đổi vui mừng và suốt đêm nghĩ lại chùa Thanh Lương, trung tâm của núi Ngũ đài. Sáng hôm sau vào lúc tinh mơ, Sư đã thức dậy, một mình nhắm hướng Tây lên núi. Sư lại gặp vị cưỡi con voi trắng hôm qua và vị tăng khuyến khích sư tiếp tục đi lên núi.

Khi sư đi về hướng Tây Bắc, đi qua một cây cầu thì Sư thấy một dinh thự hùng vĩ trang nghiêm như một tu viện, tất cả đều bằng vàng. Sau đó Sư gặp lại vị lão tăng và không còn nghi ngờ gì nữa, Sư biết chắc vị lão tăng kia chính là Văn Thù Bồ tát hóa hiện.

Sư mừng đến độ choáng váng phải một lúc sau Sư mới hoàn hồn tỉnh lại. Nhân cơ hội nầy Sư đã tham vấn về những khúc mắc trong Phật pháp và Bồ tát cũng ân cần hỏi han về tình trạng Phật pháp ở quê hương Sư. Từ giã Bồ tát bước đi chừng trăm bước, Sư ngoái đầu nhìn lại, tất cả đều biến mất.

Sư Đạo Nhất đem tất cả những điều chứng kiến được tâu trình lên vua Đường Huyền Tôn. Nhà vua rất thu hút bởi chuyện nầy nên sai thiết lập ngôi Kim Cát Tự. Đây là ngôi chùa vĩ đại được kiến trúc theo mô hình mà Sư nhớ lại được hoàn tất vào cuối thế kỷ thứ 8.

Một nhà sư khác người Nhật tên là Viên Nhân (Ennin) cũng đã hành hương đến Ngũ Đài Sơn vào năm 840 sau T. L. Ông đã lưu lại đây hơn hai tháng và đã ghi lại những điều chứng kiến được như sau:

”Vào khoảng đầu hôm, chúng tôi, một nhóm tăng khoảng mười người đột nhiên trông thấy trên bầu trời hướng Đông của thung lũng xuất hiện một cây đèn thần. Ánh sáng ban đầu chỉ nhỏ cỡ chừng bằng một cái bình nhưng sau đó lớn dần lên bằng cả cái nhà.

Chúng tôi quả thật rúng động trước cảnh tượng nầy, vội vã quỳ xuống đánh lễ và niệm lớn danh hiệu Bồ tát Văn Thù. Rồi thì một cây đèn khác lại hiện ra gần chúng tôi hơn.

Hai ngọn đèn này nhìn từ xa, cách nhau khoảng chừng 100 bộ, tỏa ánh sang rất rực rỡ cho đến khoảng nữa đêm thì tàn lụi dần và biến mất”. Trong cuốn hồi ký nầy, sư Viên Nhân cũng mô tả lại những kiến trúc, đền đài, những nơi thờ phượng ở trên Ngũ Đài Sơn, kể cả bức tượng Bồ tát Văn Thù rất nổi tiếng tại chùa Hoa Nghiêm. Đây là bức tượng Bồ tát cưỡi trên mình con sư tử lớn bằng cả một ngôi nhà năm gian.

Con sư tử trông thật siêu nhiên, vĩ đại và sống động giống như là thật vậy. Khi nhìn, chúng ta có cảm tưởng như là nó đang đi và thở hơi khói ra ở miệng. Sư Viên Nhân viết thêm rằng:” Bức tượng nầy phải đúc đến lần thứ bảy mới hoàn thành bởi vì tất cả những lần trước, lần nào cũng bị bể cả.

Cuối cùng nhà điêu khắc thành tâm khấn nguyện cùng Bồ tát Văn Thù xin Ngài hiện ra cho ông ta thấy hình ảnh trung thực nhất mà Bồ tát muốn miêu tả về mình. Sau khi cầu nguyện, nhà điêu khắc mở mắt ra và vô cùng kinh ngạc khi thấy Văn Thù Bồ Tát cỡi trên mình con sư tử màu vàng xuất hiện trước mắt.

Một khoảnh khắc sau đó, Bồ tát bay lên đám mây ngũ sắc và mất hút dần vào khoảng không. Nhà điêu khắc vô cùng vui mừng và cảm kích khi được trông thấy hình ảnh thực sự của Bồ tát, nhưng đồng thời ông cũng không cầm được nước mắt vì hối hận khi đã diễn tả sai lầm về Bồ tát từ trước đến nay”. Con sư tử biểu thị công năng của trí tuệ. Bồ tát do trí tuệ viên mãn để thuyết pháp dẹp tan tất cả mọi tà thuyết.

Vai trò tuyên dương Diệu Pháp của Bồ tát Văn thù, chúng ta có thể tìm thấy trong kinh: “Văn Thù Sư Lợi nói về cảnh Giới Bất Tư Nghị của Phật”. Đây là một tuyên ngôn của lý tưởng Bố tát đạo được công bố bởi một vị đại Bồ tát đại biểu cho trí tuệ. Mục tiêu, lý tưởng của Bố tát đạo không phải chỉ là để vượt qua vòng sanh tử, đạt đến cảnh giới Niết bàn mà là hoàn thành Phật đạo để cứu độ chúng sanh.

Đặc biệt vai trò tuyên dương diệu pháp của Ngài đã được phô trương quá xuất sắc trong kinh”Duy Ma Cật”. Trưởng giả Duy Ma Cật là một cư sĩ tại gia nhưng tu hành chứng đắc, mật hạnh viên thông mà ngay cả những bậc đại đệ tử của Phật cũng không có vị nào sánh bằng.

Vì muốn độ người nên Ngài thị hiện ở thành Tỳ Da Ly, dùng vô lượng của cải để nhiếp độ dân nghèo, giữ giới hạnh trong sạch để nhiếp độ kẻ phá giới, dùng hạnh nhẫn nhục để nhiếp độ kẻ giận dữ sân hận, dùng đại tinh tấn để nhiếp độ kẻ biếng nhác, nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm loạn, dùng trí huệ để nhiếp độ kẻ vô trí.

Dù hiện thân bạch y mà giữ giới hạnh trong sạch của Sa Môn, dù ở tại gia mà không đắm nhiễm cõi đời, thị hiện có vợ con quyến thuộc mà thường tu thanh tịnh hạnh, dù mặc đồ quý báu mà dùng tướng tốt để trang nghiêm, dù ăn uống theo người đời mà lấy Thiền duyệt làm mùi vị, hoặc đến chỗ cờ bạc, xướng hát vẫn tùy cơ độ người.

Tất cả người gặp đều cung kính cúng dường. Một hôm vì muốn tạo cơ duyên để hoằng pháp lợi sanh, ông đã mượn cớ bị bệnh để tạo dịp giảng giải giáo lý cho chúng sanh. Đức Phật đã biết rõ căn “bệnh” của ông nên đã lần lượt yêu cầu các vị đại đệ tử thay mặt mình đi thăm bệnh ông Duy Ma Cật.

Thế nhưng tất cả những đại đệ tử của Phật trong quá khứ đã từng bị trưởng giả Duy Ma cật chất vấn về tâm pháp và sở học mà không một ai trả lời trôi chảy trước kiến thức Phật pháp uyên thâm và biện tài vô ngại của ông nên tất cả đều sợ hãi từ chối. Vài thí dụ điển hình như:

Một hôm A Nan cầm bát đến trước nhà Bà la môn để xin sữa cho Thế Tôn khi Ngài có bệnh. Khi ấy Duy Ma Cật đến hỏi ông rằng:

- Này A Nan! Làm gì mà cầm bình bát đến đứng đây sớm thế? A Nan đáp:
- Thưa Cư sĩ! Thế Tôn thân có chút bịnh, cần dùng sữa bò nên tôi mới đến đây.

Cư sĩ Duy Ma cật nói: - Thôi, thôi! A Nan chớ nói như thế. Thân Như Lai là thân Kim cương, ác đã dứt sạch, thiện đã viên mãn, đâu còn bệnh nào, đâu còn khổ não. A Nan, hãy im lặng về đi. Chớ phỉ bang Như Lai, chớ cho người khác nghe biết lời nầy. A Nan, Chuyển Luân Thánh Vương chỉ có chút ít phước đức mà còn chẳng bịnh tật, huống chi là Như Lai vô lượng phước tu, thù thắng khắp nơi.

A Nan, nếu ngoại đạo nghe được thì họ sẽ nghĩ rằng: Sao gọi Phật là Thầy cho được? bệnh của mình không chữa nỗi mà chữa được bệnh cho người khác ư? A Nan, nên biết, thân Như Lai tức là pháp thân, chẳng phải thân sắc dục. Phật là Thế tôn siêu việt ba cõi. Thân Phật là vô lậu, các lậu đã sạch, thân Phật vô vi, chẳng lọt vào số lượng. Thân Phật như thế thì còn có bệnh gì? A Nan đành im lặng ra về.

Một hôm khác Trưởng giả Duy Ma Cật gặp La Hầu La. Ông hỏi:

- Thưa ông La Hầu La! Ông là con của Phật, vì đạo bỏ ngôi vua mà xuất gia, thế việc xuất gia đó có những lợi ích gì? La Hầu La trả lời:
- Sự lợi ích của việc xuất gia đúng như pháp. Trưởng giả Duy Ma Cật nói thêm:

- Này La hầu La! Ông chẳng nên nói lợi ích của công đức xuất gia. Tại vì sao? Vô lợi ích, vô công đức mới là xuất gia. Nếu đứng về pháp hữu vi, mới nói có lợi ích, có công đức. Còn việc xuất gia là pháp vô vi mà trong pháp vô vi chẳng có lợi ích và công đức. La hầu La!

Việc xuất gia chẳng có bỉ thử đối đãi, lìa sáu mươi hai kiến chấp. Ở nơi Niết Bàn, là thọ dụng của người trí, là chỗ hành của bậc Thánh, hay hàng phục ma chúng, độ ngũ đạo, tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực, lập ngũ căn, chẳng làm phiền não người khác, lìa mọi thứ ác, dẹp các ngoại đạo, siêu việt giả danh, ra khỏi bùn lầy thế gian, chẳng bị dính mắc, vô ngã và ngã sở, vô sở lãnh thọ, tâm chẳng nhiễu loạn, ham hộ niệm chúng sinh, tùy thuận Thiền định, lìa những tội lỗi. Nếu được như thế mới là chơn xuất gia.

Cuối cùng chỉ có Văn Thù Sư Lợi thay mặt Đức Phật đến thăm bịnh của Trưởng giả Duy Ma Cật mà thôi. Cùng đi với Bồ tát Văn Thù còn có 8000 Bồ tát, 500 Thanh văn và trăm nghìn Thiên nhơn để xem một cuộc tranh luận về giáo pháp của hai nhân vật kiệt xuất nầy.

Duy Ma Cật hỏi: Thế nào là hạt giống Như Lai? Văn Thù Sư Lợi trả lời:

- Có thân là hạt giống Như Lai, vô minh, ái dục là giống, tham sân si là giống, tứ điên đảo là giống, lục nhập là giống, thất thức xứ là giống, bát tà pháp là giống, cửu não là giống, thập bát thiện đạo là giống. Nói tóm lại, sáu mươi hai kiến chấp và tất cả phiền não đều là hạt giống Phật.

Duy Ma Cật hỏi: Tại sao?

Văn Thù đáp:- Nếu kẻ thấy vô vi vào chánh vị thì không thể phát tâm Vô thượng Bồ đề nữa. Ví như chỗ gò cao thì không thể sanh hoa sen, mà nơi bùn lầy ẩm thấp hoa sen mới sanh được.

Cũng thế, kẻ thấy pháp vô vi vào chánh vị thì chẳng còn có thể sanh khởi Phật pháp, trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh sanh khởi Phật pháp thôi. Nên biết tất cả phiền não là hạt giống Như Lai, ví như chẳng xuống biển cả thì chẳng được bữu châu vô giá.

Cũng thế, chẳng vào biển phiền não thì chẳng thể nào được ngọc báu Nhất Thiết Trí vậy.

v Chủ điểm nền tảng của kinh Duy Ma Cật là triển khai nhận thức về thực tại trên căn bản của nguyên lý bất nhị, tức hệ tư tưởng tánh Không của Bát nhã. Nguyên lý bất nhị hướng dẫn nhận thức khởi đi từ những thực tại sai biệt mà khám phá ra thực tại tối hậu là nhận thấy bản thể chân thật (tuyệt đối) ngay trong các thực tại sai biệt ấy. Để nhận thức được thực tại chân thật nầy, Bồ tát cần đi qua cánh cửa bất nhị, tức là cánh cửa giao thông cho Bồ tát qua lại giữa Niết bàn và sanh tử.

Bây giờ, Duy Ma Cật bảo các Bồ tát rằng:Này nhơn giả Bồ tát! Làm sao nhập pháp môn bất nhị? Hãy tùy sở ngộ của mình mà nói ra.

Tất cả 32 vị Bồ tát lần lượt trả lời về câu hỏi nầy, nhưng cư sĩ Duy Ma Cật đều không hài lòng về các câu trả lời đó. Cuối cùng tới ngài Văn Thù Sư Lợi đáp:

- Theo ý tôi, nơi tất cả vô ngôn vô thuyết, vô thị vô thức, lìa nơi vấn đáp. Ấy là nhập pháp môn vô nhị.

Khi đó Văn Thù hỏi Duy Ma Cật rằng: - Chúng tôi mỗi mỗi đã tự nói xong. Nay đến lượt Nhơn giả nói:”Thế nào là nhập pháp môn bất nhị của Bồ tát?”
Duy Ma Cật im lặng.

Văn Thù tán thán rằng: - Lành thay! Lành thay! Cho đến chẳng có văn tự, lời nói mới là chơn nhập pháp môn bất nhị.

Bất nhị là cảnh giới của “đại trí tuệ bình đẳng”, có nghĩa là 2 cũng không và 3 cũng không. Nếu nói tới pháp môn bất nhị nầy thì phải lìa xa hẳn ngôn thuyết ở cảnh giới vong ngôn, tuyệt tự.

Không thể đem hết thảy ngôn thuyết của tất cả các pháp mà hiểu rỏ được, cũng không thể chỉ bảo được và cũng không thể biết được. Không thể hỏi và trả lời được, thì đó mới là “pháp môn bất nhị”.

Văn Thù Bồ Tát đồng thời cũng còn quan hệ mật thiết với ngọn núi Ghandhamana, “ngọn núi tỏa thơm mùi hương báu”. Trong bộ kinh “Văn Thù Sư Lợi Nhập Diệt”, Ngài được mô tả là đã từng đến viếng dãy Hy Mã Lạp Sơn để chuyển hóa 500 vị đại tiên cư trú tại đây trở về với Phật giáo.

Và sau đó, kinh nầy cũng mô tả cảnh Ngài nhập diệt, khi dùng lửa tam muội tự thiêu đốt xác thân của mình. Xá lợi của Ngài được đưa về đỉnh núi Hương Sơn, nơi mà vô số lượng các Thiên, Long, quỷ , thần sẽ tu tập đến để làm lễ tôn kính Ngài. Núi Hương Sơn này đã được nhà học giả Pháp Lamotte xác định là Gandhamana.

Sau hết, chúng ta thờ phượng Văn Thù Sư Lợi Bồ tát là để hướng về trí tuệ sẵn có của chúng ta. Vô minh, ái dục đã đưa chúng ta lặn hụp trong vòng sinh tử luân hồi, chịu chập chồng muôn nỗi khổ đau.

Chúng ta hãy thức tỉnh để quay về với trí tuệ sẵn có của mình và dùng thanh gươm trí tuệ chặt đứt lưới tham ái để vượt ra khỏi bể khổ thâm sâu. Vâng, chỉ có trí tuệ mới có đủ công năng cứu chúng ta ra khỏi vòng luân hồi nghiệp báo.

Thêm nữa, Bồ tát là tấm gương sáng cho lợi tha, chúng ta phải dùng lưỡi kiếm trí tuệ nầy để cứu thoát mọi người trước kẻ thù phiền não, của con rắn độc tham sân si. Có thực hành được như vậy, mới xứng đáng đánh lễ đức Văn Thù Sư Lợi tay cầm kiếm, mình mặc giáp, ngồi trên lưng sư tử.

Công đức ở trong tự tánh chẳng phải bố thí, cúng dường mà được. Cho nên nói phước chẳng bằng công đức, bố thí chẳng kịp trì kinh là vậy.
=

Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Fri 30 Jul 2010, 23:21

TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MÂU-NI

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai


Phần 1

Trong kinh sách, nhất là trong hai bộ kinh Bổn-sanh (Jataka) và Bổn-sự (Itivuttaka), có rất nhiều câu chuyện về tiền thân đức Phật. Chúng tôi chỉ kể ra đây hai kiếp (1) sau cùng trước khi đức Phật thị hiện đản sanh và thành đạo.

1- Bồ-tát Sumedha (Thiện-Huệ) (2)

Ở một đời quá-khứ xa xưa, thuộc kiếp Trang-Nghiêm (3) (Vyuha-kalpa), có Thái-tử tên là Samantaprabhasa (Phổ-Quang) con vua Arcimat (Ðăng-Chiếu), xin phép vua cha vào núi Himalaya tìm thầy học đạo, lấy hiệu là Sumedha (Thiện-Huệ). Ngài theo học với nhiều vị đại sư, cầu đạo cao thượng, nhưng lòng chưa thỏa mãn. Một hôm Sumedha đấu lý với 500 ngoại-đạo được toàn thắng, được thưởng 500 đồng tiền vàng. Sumedha vui mừng từ-giã

thầy, mang tiền lên đường tìm đến cúng Phật Dipankara (4) (Nhiên-Ðăng) đang cư trú tại thủ đô Divapati. Giữa đường gặp một cô gái (tiền thân của công chúa Yasodhara) đang đi, tay cầm bảy hoa sen màu xanh vừa thơm vừa đẹp, chàng liền hỏi mua.

Nhưng cô gái đáp: "Tôi mang hoa cúng Phật, đâu có bán mà ông hỏi mua". Sumedha (Thiện-Huệ) đưa ra 500 đồng tiền vàng, năn-nỉ xin mua năm hoa sen để cúng Phật, nhưng cô gái vẫn đứng làm thinh, không đáp. Túng thế, chàng nói:

- Cô cúng dường hai bông cũng được rồi. Tôi từ xa đến đây, mong được hoa sen quý báu này để cúng Phật Dipankara và xin học hỏi giáo lý cao thượng của ngài. Xin cô thông cảm nhường lại cho tôi năm bông đi; rồi cô muốn gì tôi cũng làm theo.

- Anh ơi, cô gái ửng hồng đôi má, đứng nhìn xuống đất, rụt rè nói. Không biết sao vừa trông thấy anh thì em đem lòng thương anh liền hà. Em muốn tặng không cho anh năm bông sen này để anh cúng đức giác ngộ. Nhưng anh phải hứa với em là anh chịu cưới em làm vợ trong kiếp này và mãi mãi về sau.

- Cô ơi, Sumedha đáp. Cô là người rất dễ mến và rất chân thật. Vừa gặp cô tôi cũng có cảm tình với cô ngay. Nhưng tôi đã phát tâm cầu đạo giải thoát. Nếu cưới vợ thì bị ràng buộc, làm sao tôi có thể xuất gia tầm đạo !?
- Anh cứ hứa với em đi. Rồi sau này mỗi khi anh muốn xuất gia thì em cam kết sẽ không ngăn cản mà còn tìm cách giúp anh thực hiện được hoàn toàn chí nguyện.

Nghe cô gái nói như thế, Sumedha (Thiện-Huệ) miễn cưỡng nhận lời.

Rồi hai người tìm tới nơi đức Phật Dipankara (Nhiên-Ðăng) đang ngự. Quần chúng đông đảo đang vây quanh đức Phật. Có cả vua và quần thần đến làm lễ dâng hoa cúng Phật. Sumedha và cô gái cố len lỏi đến gần, nhưng còn khoảng hai mươi bước nữa thì họ không tài nào tiến lên được nữa.

Sumedha rất sung sướng được nhìn thấy Phật Dipankara tận mắt. Bỗng nhiên chàng cảm thấy tinh thần sảng khoái lạ thường. Chàng phát nguyện sẽ cố gắng tu học cho đến khi được hoàn toàn giác ngộ như ngài.

Chàng chí thành tung năm hoa sen của mình lên không trung để cúng dường Phật theo thông lệ lúc bấy giờ. Năm hoa sen được tung lên không trung bỗng biến thành năm đài sen lớn trang nghiêm rực rỡ, lơ lửng giữa không gian.

Cô bạn gái trao cho chàng hai hoa sen của cô, nhờ dâng cúng dùm. Chàng lại chí thành tung lên không trung cúng dường Phật. Hai đóa sen này hiện thành hai đài sen lớn đứng ở hai bên Phật.

Trước sự ngạc-nhiên của đại chúng, đức Phật Dipankara hoan-hỷ giải-thích sở dĩ có sự kỳ-diệu như thế là do tâm vô cùng thanh-tịnh và thành kính của người cúng dường. Rồi Phật gọi Sumedha (Thiện-Huệ) và cô gái đến bảo:

- Ông là người có nhiều thiện căn, hãy ráng tinh tấn tu hành sẽ đạt được đạo quả lớn. Còn cô này cũng có thiện duyên với ông, nhưng cô nên tôn trọng lời hứa, nên khuyến khích chứ không nên ngăn cản bạn cô xuất gia tu học.

Từ đó Sumedha theo Phật Dipankara học đạo, về sau thọ bồ-tát giới và tỳ-kheo giới. Sumedha cố gắng tinh-tấn tu hạnh Bồ-tát. Một hôm đức Phật Dipankara đi từ tinh xá Sudassana đến thành phố Ramma, giữa đường gặp chỗ đất lầy, Bồ-tát Sumedha liền cởi áo đương mặc mà trải lên chỗ dơ ướt, nhưng còn hụt một chút không biết làm sao, ông bèn xả tóc lót thêm cho Phật đi qua khỏi lấm chân. Nhận thấy Bồ-tát Sumedha sẽ thực hành đầy đủ.

10 thánh hạnh (5) nên đức Phật thọ-ký (6) cho ông sẽ thành Phật hiệu là Sakyamuni (Thích-Ca Mâu-Ni) trong đời Hiền-kiếp (Bhadra-kalpa).


2- Bồ-tát Vessantara (Hộ-Minh) (7)

Ðến lúc Phật Kassapa (Ca-Diếp) (8) ra đời, nhằm Hiền-kiếp thứ chín, Bồ-tát Sumedha (Thiện-Huệ) tái sanh làm thái tử Vessantara (Visvantara, Hộ Minh), chuyên thực hành hạnh bố thí từ lúc ấu thơ; khi lớn lên làm vua, rồi xuất gia theo Phật Kassapa và trở thành Bồ-tát Vessantara (còn gọi là Svetaketu).

Nhờ công hạnh đầy đủ nên khi lâm chung Bồ-tát Vessantara được sanh về cõi trời Ðâu-Suất (Tusita) làm Bồ-tát bổ-xứ, lãnh đạo chư Thiên cõi này và diễn thuyết pháp mầu cho Thiên chúng nghe. Ngài ở Ðâu-Suất bốn ngàn năm, dùng pháp tướng (9).

để giáo-hóa chúng sinh. Một hôm ngài nhìn xuống thế-gian thấy chúng sinh phần nhiều chỉ đua nhau tạo ác, chìm đắm trong tà-kiến, không biết tin nhân quả tội phước, sống đau khổ về thể-xác lẫn tinh-thần, chết bị đọa trong ba đường ác.
(10)
Ngài phát tâm từ-bi, nguyện giáng thế để giáo-hóa chúng sinh, mang đến ánh sáng chân-lý để cứu chúng sinh thoát khỏi sanh già bệnh chết, chứng được đạo quả niết-bàn, an lạc thanh tịnh.

Ngay lúc đó toàn thân ngài phóng đại-quang-minh, đại địa mười tám tướng động, ma cung ẩn náu, mặt trời mặt trăng hết tinh quang, chấn động tất cả trời rồng tám bộ (11). Ngài liền quan sát năm việc dưới đây:

1- Quan sát thời kỳ, ngài thấy tuổi thọ con người lúc bấy giờ khoảng 100 năm, rất thuận lợi; vì với thọ mạng quá dài con người không ý thức được thế nào là già chết, với thọ mạng quá ngắn thì không có đủ thời gian tu tập.

2- Quan sát lục địa, ngài chọn Jambudipa (bán đảo Ấn-độ) vì lúc bấy giờ ngôn ngử và tư tưởng triết học nơi đây được phát triển hơn hết..

3- Quan sát quốc độ, ngài chọn Majjhimadesa (Vùng Trung Ấn, thung lũng sông Hắng); vì nơi đây có nhiều nhà hiền triết và minh quân xuất hiện.

4- Quan sát chủng tộc, ngài chọn dòng dõi Sakya với vua Suddhodana là người có tâm đạo nhất. Theo kinh Lalitavistara thì dòng họ này có 64 đức tính cần thiết.

5- Quan sát người có đủ đức tính làm mẹ vị Phật tương lai, ngài chọn hoàng hậu Maha-Maya; biết rằng bà chỉ còn sống thêm 10 tháng 7 ngày nữa. Theo kinh Lalitavistara thì bà Maha-Maya có 32 đức tính cần thiết.

Khi thấy cơ duyên đã đến, Bồ-tát Hộ-Minh bèn phó chúc ngôi vị lãnh đạo chư Thiên lại cho ngài Di-Lặc (Maitreya, Metteyya) làm Bồ-tát bổ xứ, rồi từ cung trời Ðâu-Suất (Tusita)

giáng trần, thị hiện nhập thai tại thành Kapilavastu, xứ Sakya (12) gần chân núi Himalaya, thuộc vùng biên giới đông-bắc nước Ấn-độ và Nepal ngày nay, làm con trai của vua Suddhodana (Tịnh-Phạn), và hoàng-hậu Maha-Maya. Hoàng-tộc xứ này đều thuộc dòng-dõi SAKYA (Thích-Ca).

B- ÐỨC PHẬT ÐẢN SANH

Một vị Phật ra đời là một nhân duyên lớn rất hiếm có, là một niềm vui vô tận cho tất cả muôn loài chúng sanh. Ðức Phật là bậc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, có trí tuệ và lòng từ bi rộng lớn cùng tột, vì thông cảm nổi khổ triền-miên vô bờ bến của chúng sanh mê lầm nên ngài dùng phương tiện thị hiện đản sanh để chỉ dạy và dìu dắt chúng sanh ra khỏi vòng sanh tử luân hồi, đạt đến niết-bàn an-lạc thanh-tịnh.
Về phương diện lịch sử, chúng tôi xin trình bày trước huyền thoại về 5 họ của đức Phật là Gotama (Cồ-Ðàm), Sujata (Thiện-Sanh), Okkaka (Cam-Giá), Suryavamsa (Nhật-Chủng) và Sakya (Thích-Ca), sau đó mới nói đến lúc Phật đản sanh.


1- Lai lịch họ Gotama và bộ-tộc Sakya (13)

Vào thuở xa xưa, ở thủ đô Saketa, hiện nay là Ayodhya (14) thuộc miền Trung Ấn-độ, có giống dân Aryan. Theo kinh Phật Bản Hạnh (Abhinikramana-sutra), kinh Thập Nhị Du, kinh Ambattha (Digha-nikaya 3) và kinh Mahavastu (do ngài Buddhaghosa chú giải vào thế kỷ thứ năm sau tây lịch), thì xưa kia nơi đây có vị vua tên là Maha-Sammata (Ðại-Mao-Thảo) nhường ngôi cho em, xuất gia theo đại tiên Gotama (Cồ-Ðàm) (15)

tu trong rừng. Ðể người đời không nhận ra mình là vua, ông lấy họ thầy là Gotama làm họ mình. Từ đó người ta gọi thầy ông là Maha-Gotama (Ðại Cồ-Ðàm) và gọi ông là Culla-Gotama (Tiểu Cồ-Ðàm).

Hai thầy trò tu trong rừng, ở trong một cái am bên cạnh một vườn mía (cam-giá, okkaka) lớn. Một hôm có 500 tên cướp đánh cướp tài sản của quan, trong lúc chạy trốn băng qua vườn mía, đánh rơi những đồ cướp được trong vườn.

Quan quân theo dấu tìm đến, cho Culla-Gotama (Tiểu Cồ-Ðàm) là giặc cướp, liền dùng tên bắn chết, máu chảy lênh láng xuống đất. Maha-Gotama đang có việc đi xa, dùng thiên nhãn nhìn thấy, buồn bã rơi lệ. Ông liền bay về đến nơi, gom máu trộn lẫn với bùn trên mặt đất, vo thành hai viên lớn bằng nắm tay, đặt lên bàn thờ giửa trời, rồi chú nguyện rằng:

- Cồ-Ðàm tôi thành tâm cầu nguyện chư thiên biến hai hòn máu này thành người.

Qua 10 tháng, nhờ hấp thụ ánh sáng mặt trời, viên bên trái hóa thành một bé trai, viên bên phải hóa thành một bé gái, đều lấy họ Gotama (Cồ-Ðàm). Các quan đại thần trong triều nghe tin, rước về cung nuôi dưỡng. Bé trai được đặt tên là Sujata (Thiện Sanh) (16)

còn gọi là Okkaka (Cam Giá)(17) hay Suryavamsa (Nhật Chủng) (18) Bé gái được đặt tên là Subhadda (Thiện Hiền).

Về sau các đại thần lập Okkaka (Thiện Sanh) làm vua hiệu là Ikshvaku (Ý-Ma vương), và Subhadda (Thiện Hiền) làm hoàng hậu, sanh được bốn người con trai tên là Okkamukha, Karakanda, Hatthinika, Sinipura, và năm người con gái là Piya, Suppiya, Ananda, Vijita và Vijitasena. Sau đó hoàng hậu Subhadda qua đời, vua Ikshvaku cưới thêm một công chúa trẻ đẹp phong làm hoàng hậu sanh được một người con trai tên là Jantu.

Về sau các đại thần lập Okkaka (Thiện Sanh) làm vua hiệu là Ikshvaku (Ý-Ma vương), và Subhadda (Thiện Hiền) làm hoàng hậu, sanh được bốn người con trai tên là Okkamukha, Karakanda, Hatthinika, Sinipura, và năm người con gái là Piya, Suppiya, Ananda, Vijita và Vijitasena. Sau đó hoàng hậu Subhadda qua đời, vua Ikshvaku cưới thêm một công chúa trẻ đẹp phong làm hoàng hậu sanh được một người con trai tên là Jantu.

Vì muốn lập Jantu lên làm vua nên vị hoàng hậu thứ nhì xui giục vua Ikshvaku đày bốn người con trai của hoàng hậu Subhadda ra khỏi nước. Bốn hoàng tử này cùng với năm chị em gái đi về hướng đông bắc, đến gần chân núi Himalaya, gặp nhà hiền triết rất giỏi thiên văn địa lý tên Kapila khuyên nên ở lại đây lập nghiệp.

Nơi đây lần hồi trở nên phồn thịnh. Vua Ikshvaku được tin này, thốt lời khen rằng "Sakya vata bho raja-kumara ", có nghĩa là "Các vị hoàng tử này quả thật là những người có khả năng".

Từ đó bộ-tộc của các hoàng tử và vương quốc của họ sáng lập mang tên là Sakya (Thích-Ca), có nghĩa là "người có khả năng" hay người anh hùng. Ðể nhớ ơn nhà hiền triết Kapila, các hoàng tử Sakya đặt tên thủ đô xứ Sakya là Kapilavastu. Ít lâu sau, người chị cả là Piya mắc bệnh cùi, vào rừng ở.

Trong khi đó vua xứ Kasi ở Benares là Rama cũng mắc bệnh cùi, truyền ngôi cho con trai cả rồi vào sâu trong rừng núi ở, thời may gặp thuốc hết bệnh. Hai người gặp nhau, vua Rama chỉ thuốc cho bà Piya được lành bệnh, hai người ăn ở với nhau, thành lập xứ Koliya, lên làm vua (19)

Ở Kapilavastu, bốn hoàng tử con vua Ikshvaku (Okkaka) không thể lập gia đình với người bản xứ vì không có ai thuộc giai cấp quý tộc (Ksatriya) nên phải sống chung với bốn chị em gái còn lại như vợ chồng (20) Trong số bốn hoàng tử này có ba người chết, hoàng tử còn lại là Okkamukha (Ni-Câu-La (21) lên làm vua. Sau truyền ngôi cho con là Câu-Lô (22)

(?). Câu-Lô truyền ngôi cho con là Jayasena (Cù-Câu-Lô (23)

Jayasena truyền ngôi cho con là Sihahanu (Sư-Tử-Giáp). Vua Sihahanu (Sư-Tử-Giáp) sinh được bốn người con trai là: Suddhodana (Tịnh-Phạn), Dhotodana (Hộc-Phạn), Sukkodana (Bạch-Phạn) và Amitodana (Cam-Lộ-Phạn); và một người con gái là Amita (Cam-Lộ vương phi) gả cho vua Suppabuddha (Thiện-Giác vương) xứ Koliya.

Vua Sihahanu truyền ngôi cho con là Suddhodana. Vua Suddhodana (Tịnh-Phạn vương) và hoàng hậu Maha-Maya sinh ra thái tử Siddhattha (Sĩ-Ðạt-Ta) về sau thành Phật hiệu là Sakyamuni (Thích-Ca Mâu-Ni).

Do đó đức Phật có cả thảy năm họ: Gotama (Cồ-Ðàm), Okkaka (Cam-Giá), Sujata (Thiện Sanh), Suryavamsa (Nhật-Chủng) và Sakya (Thích-Ca). Nhưng người thời bấy giờ thường dùng tiếng Gotama để chỉ họ của đức Phật, tiếng Sakya để chỉ dòng-dõi, bộ tộc hay tên xứ, và tiếng Sakyamuni để chỉ Phật hiệu của ngài.

Phật hiệu Sakyamuni có nghĩa là "năng nhơn tịch mặc ". Sakya là "năng nhơn ", là bậc anh hùng có khả năng hơn người. Muni là "tịch mặc", tịch tĩnh, vắng lặng, cũng có nghĩa là nhơn-từ. Sakyamuni cũng có nghĩa là " bậc anh-hùng hoàn-toàn ".

2- Lúc mới sanh (năm -624)

Vua Suddhodana GOTAMA và hoàng-hậu Maha-Maya là người giàu lòng nhân ái, kính trọng thánh hiền. Ðã gần bốn mươi tuổi mà chưa có con. Vua và hoàng hậu thường lập đàn cúng vái, và mở hội bố thí cho người nghèo khổ để cầu sanh được một hoàng nam hầu sau này nối ngôi vua.

Năm 624 (24) trước tây lịch, tại khu lâm-viên xinh đẹp Lumbini (25) (Lâm-tỳ-ni, hiện nay thuộc lãnh thổ Nepal), thái-tử Siddhattha GOTAMA, thuộc dòng-dõi bộ tộc Sakya, con vua Suddhodana GOTAMA, 42 tuổi, và hoàng-hậu Maha-Maya, 44 tuổi, sanh vào ngày trăng tròn tháng Vesak (26) (còn gọi là Visakha hay Vaisakha, tương ứng với tháng tư hay tháng 5 dl).

Trước đó mười tháng, trong khi được vua cho phép giữ tám giới thanh tịnh, vào đêm trăng tròn tháng Asatha (tháng 6 hay tháng 7 dl), tại thành Kapilavastu (27) (Ca-tỳ-la-vệ), hoàng-hậu Maya nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà.(28)

trong bụng có một hoa sen lớn màu trắng, từ trên trời bay xuống chun vào hông phải của bà, lúc đó bà cảm thấy thân tâm khoái lạc, nhẹ nhàng, sáng chói như ánh trăng rằm. Sáng hôm sau, bà thuật lại giấc chiêm bao kỳ diệu ấy cho vua nghe.

Nhà vua cho mời 64 nhà tiên tri Bà-la-môn đến giải mộng; các vị nầy đoán là hoàng-hậu đã mang thai và thái-tử sắp được sanh ra sẽ là một đại đế hoặc một thánh nhân tiếng tăm lừng-lẫy. Từ lúc thọ thai thân tâm hoàng hậu luôn luôn được an lạc, thanh tịnh, trí huệ sáng suốt.

Theo phong tục, gần đến ngày sanh, hoàng-hậu Maha-Maya đi từ thành Kapilavastu về nhà cha mẹ ruột là quốc vương Suppabuddha và hoàng hậu Amita ở thành Devadaha còn gọi là Ramagama thuộc xứ Koliya (Câu-lợi, hiện nay thuộc lãnh thổ Nepal).

Giữa đường phái đoàn tạm nghỉ chân trong khu lâm viên Lumbini, cách Kapilavastu khoảng 30 km về hướng đông-nam, đang mùa hoa cỏ xinh tươi. Hoàng-hậu đến một hồ nước tắm rửa, thay đổi y- phục, rồi đi ngắm cảnh đẹp xung quanh hồ. Thấy đóa hoa Vô-ưu (29)

(asoka) vô cùng xinh đẹp trên cây, bà vói tay phải định hái thì chuyển bụng. Bà vội đứng vịn cành cây. Các thế nữ vội chạy đến đứng chăng màn bốn phía. Bỗng cõi đất rung động, hào quang chiếu khắp nơi, rồi thái tử xuất hiện ra đời (30) thân ngài thanh tịnh không bị nhơ nhớp, vẽ mặt an lành không khóc la.

Chư thiên biết đấng cứu thế ra đời liền hiện đến tung hoa, tấu nhạc, ca hát
chúc mừng. Hoàng hậu và các cung nữ hân hoan chào đón thái-tử (31)

Khi mới sanh ra thái-từ Siddhattha cũng được tắm rửa lần đầu tiên (32) tại hồ nước nói trên. Hồ nước Puskarini này hiện nay được xây lại theo hình vuông mỗi cạnh 20m, nổi tiếng là linh-thiêng, có khả năng trị bệnh cho người xuống tắm. Bên cạnh hồ hiện còn một cây bồ-đề to lớn, cành lá sum-sê, đã có từ hồi đức Phật còn tại thế.
Bên cạnh hồ hiện nay có ngôi đền thờ nữ thần Maha-Maya, trong đó có chỉ vị trí chính xác nơi đức Phật đản sanh, và có hai bức tranh nổi điêu khắc cảnh đức Phật đản sanh, một bức bằng đá và một bức bằng cẩm-thạch .

Ðến năm 244 trước tây lịch, vua Asoka có đến đây chiêm-bái theo sự hướng dẫn của đạo sư Moggaliputta-Tissa (Mục-Kiền-Liên-Tử Ðế-Tu). Vua Asoka có cho dựng gần hồ một trụ đá kỷ niệm. Trên trụ đá có khắc năm hàng gồm 93 chữ bằng tiếng Brahmi như sau:

<< Devanapiyena Piyadasina (33) lajina-visativasabhisitena
Atana-agacha mahiyite. Hida Budhe-jate Sakyamuniti
Silavigadabhi cha kalapita silathabhe cha usapapite.
Hida Bhagavam jateti Lumbini-game ubalike kate. Atha-bhagiye cha.>>

(Có nghĩa là: Vua Piyadasina, được các vị thiên thần kính mến và ủng hộ, đích thân đến đảnh lễ chỗ này, sau khi lên ngôi được 20 năm. Ðây là nơi đức Phật Sakyamuni đản sanh. Vua hạ lệnh xây dựng một vách thành bằng đá bao quanh nơi nầy và một trụ đá bên trong để đánh dấu chỗ đức Thế Tôn đản sanh. Vua cho phép dân làng Lumbini từ nay chỉ đóng một phần tám thuế mễ cốc.)

Trong ký sự của ngài Huyền Trang vào thế kỷ thứ bảy có nói " Ðầu trụ đá có hình con ngựa rất mỹ thuật và trơn láng". Nhưng hiện nay chưa tìm được di tích tượng con ngựa đặc biệt ấy.

Kinh sách còn nói đến trong lúc đức Phật đản sanh thì đồng thời bảy nhân vật sau đây cũng chào đời: 1-Cây Ðại Bồ-đề, 2-Yasodhara (Da-Du-Ðà-La), 3-Kaludayin (Ca-Lưu-Ðà-Di), 4-Channa (Xa-nặc), 5-Kanthaka (ngựa Kiền-trắc), 6-Con voi báu, và 7-Bốn bình châu-báu. (34)
3- Sau khi sanh

Qua ngày hôm sau, tiên ông Asita Kaladevala (A-tư-đà) do thấy điềm lạ trên trời, biết có thánh nhơn vừa giáng sinh, liền cùng với đệ tử là cháu ruột gọi ông bằng cậu, tên Nalaka (35) từ sườn núi Himalaya đến xin phép vua được xem tướng cho thái-tử (36) Vua Suddhodana rất vui-vẻ cho bồng thái-tử ra đảnh lễ tiên ông.

Nhưng, trước sự kinh-ngạc của mọi người, thái-tử bỗng nhiên quay về phía tiên ông và đặt hai chân lên đầu tóc của ông.

Ðang ngồi trên ghế, tiên ông Asita vội đứng dậy chắp tay xá chào thái-tử (37)
và tiên đoán thái-tử sẽ trở thành bậc vĩ-nhân cao quí nhất của nhân loại.

Nhà vua cũng làm theo, xá chào thái-tử. Trong khi xem tướng cho thái-tử, tiên ông Asita tỏ vẻ rất vui mừng, nhưng khi xem xong thì ông oà lên khóc nức-nở. Nhà vua ngạc nhiên hỏi điềm lành dữ thế nào, tại sao ông hết vui mừng lại khóc. Tiên ông Asita sục sùi đáp:

- Tâu Ðại Vương, thái-tử có 32 tướng tốt (38) và 80 vẻ đẹp (39) sau nầy sẽ là vị Chuyển Luân Thánh Vương cai trị bốn châu thiên hạ; nhưng chắc ngài sẽ xuất gia tu hành thành bậc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, là bậc thầy lỗi lạc của khắp các cõi trời và cõi người, giảng dạy pháp mầu để ban vui cứu khổ cho chúng sanh.
Rất tiếc nay tôi đã quá già rồi, không còn sống đến lúc đó để được nghe lời ngài chỉ dạy, nên tôi tủi thân tôi khóc.

Lễ quán đảnh được tổ chức vào ngày thứ năm sau khi thái-tử ra đời. Vua Suddhodana triệu-tập sáu vị hiền-triết Bà-la-môn để chọn tên và tiên đoán tương-lai cho con. Tên được chọn là Siddhattha (Siddartha, Sarvarthasiddha) có nghĩa là người thành-đạt nguyện-vọng. Sau khi bàn thảo về tương-lai của thái-tử, năm vị đưa lên hai ngón tay, tuyên bố:

- Muôn tâu Ðại Vương, thái-tử sẽ trở thành bậc Chuyển-Luân-Thánh-Vương (Cakravartin), vị hoàng-đế vĩ-đại nhất thế-gian nếu ngài muốn trị-vì thiên-hạ. Nếu xuất gia tu hành, ngài sẽ thành bậc Chánh-Ðẳng-Chánh-Giác (Samma-sambuddha) cứu nhân-loại ra khỏi cảnh tối-tăm đau-khổ .

chỉ đưa lên một ngón tay và nói: Nhưng vị trẻ tuổi nhất tên Kondanna (Kiều-Trần-Như) (40)

- Tâu Ðại Vương, sau nầy, sau khi nhìn thấy một người già, một người bệnh, một xác chết và một tu sĩ, thái-tử sẽ xuất gia đi tìm chân-lý và sẽ trở thành một vị Phật, Vô-Thượng Chánh-đẳng Chánh-giác.

Sau khi sanh thái-tử được bảy ngày thì hoàng-hậu Maya từ trần (41) vãng sanh về cung trời Ðao-lợi (Tavatimsa) (42). Thái-tử được giao cho người dì ruột cũng là thứ-hậu trong triều là bà Pajapati Gotami (43) (Ba-Xà-Ba-Ðề Kiều-Ðàm-Di), chăm sóc.
Do các lời tiên đoán của các nhà tiên tri nên vua Suddhodana tìm đủ mọi cách cho thái-tử Siddhattha hưởng đầy đủ lạc thú trong hoàng cung, không bao giờ nhìn thấy các cảnh khổ đau, bệnh hoạn, già chết ở đời. Khi thái tử được sáu tuổi, vua Suddhodana cho mời các vị thầy nổi tiếng vào triều dạy học, mong đào tạo thái-tử thành một vị vua tương lai có đầy-đủ khả-năng và đức-hạnh để kế nghiệp ngài.

C- THỜI GIAN LÀM THÁI TỬ

Từ lúc đản sanh (năm -624) đến lúc xuất gia vào năm 29 tuổi (năm -595).

1- Thời thơ ấu

Thái tử Siddhattha dự lễ hạ điền. (44) Năm lên 7 tuổi, thái-tử Siddhattha được đi dự lễ hạ-điền ngoài cổng thành phía nam với vua cha để khai mạc mùa cày cấy. Ngồi dưới bóng mát của tàng cây ni-câu-đà.(45)

Năm lên 7 tuổi, thái-tử Siddhattha được đi dự lễ hạ-điền ngoài cổng thành phía nam với vua cha để khai mạc mùa cày cấy. Ngồi dưới bóng mát của tàng cây ni-câu-đà (45) to lớn, thái-tử chăm-chú nhìn cảnh người dân cày tay lấm chân bùn, mình trần trùng-trục dưới cơn nắng cháy, mồ hôi nhễ-nhại, vừa cố gắng ấn sâu lưỡi cày xuống đất vừa cầm roi đánh và la hét con trâu.

Con trâu cố sức kéo cày dưới làn roi, làm bật lên những mảng đất lớn. Những con giun quằn-quại đau đớn. Những con chim bay đến tranh nhau ăn giun. Một con chồn đang lảng-vảng gần đó rình bắt chim.

Một anh thợ săn đang tìm cách giăng bẫy bắt chồn. Thái tử than thầm: "Ôi! đời sống là một trường tranh đấu giết hại lẫn nhau dẫy đầy đau khổ". Trong lúc mọi người vui-vẻ theo dõi những trò vui của cuộc lễ thì thái-tử ngồi tréo chân theo lối kiết-già trầm-ngâm suy-nghĩ, định tâm theo lối chỉ quán (46)

và đắc sơ thiền (sotapanna (47)

Trong khi thời gian trôi qua mà bóng cây ni-câu-đà ấy không di động, vẫn ở yên một chỗ che mát thái tử. Các cung nữ thấy hiện tượng lạ như vậy thì lấy làm ngạc nhiên đến tâu cho vua hay. Nhà vua đến nơi, đứng yên lặng nhìn thái-tử một lúc rồi xá chào và nói: "Hỡi nầy con yêu quí, đây là lần thứ nhì phụ vương đảnh lễ con". Rồi nhà vua đọc bài kệ khen rằng:

" Như lửa trên đầu núi,
" Như trăng giữa không-gian,
" Át hết thảy ngôi sao.
" Ngồi thiền dưới gốc cây,
" Uy quang chiếu sáng ngời.
" Cũng như lúc sơ sinh,
" Thân đã tọa thiền rồi,
" Thần quang soi khắp cả
" Mười phương chư chúng sinh
" Nhân đây mà được độ. (48)

Thái tử Siddhattha học văn

Từ thuở nhỏ thái-tử đã tỏ ra thông-minh xuất chúng. Trong mọi môn học, từ văn-chương đến võ-thuật ... ngài chỉ cần học một thời-gian ngắn là hết sở học của thầy.

Năm lên 8 tuổi, vua cho mời vị giáo-sư nổi tiếng tên Visavamitra (Tỳ-xa-bà-mật-đa-la) vào cung dạy thái-tử và các vương-tử về Phạn văn (Sanskrit) và kinh Vệ-đà (Veda). Vừa mới gặp thầy bữa đầu thái-tử hỏi:

- Thưa thầy, tôi rất mừng hôm nay được thầy tới đây dạy bảo, tôi muốn học những sách về Phạn-văn và Veda. Những bộ đó có 64 loại (Brahmana, Nighandu, Sokkharappabhedana, Itihasa, Veyyakarana, Rigveda, Atharvaveda, ...) (49) vậy thầy định dạy về loại nào trước? (50)

Giáo-sư Visavamitra vốn là một người thông minh, tài trí, học rộng, nhưng khi nghe thái-tử mới 8 tuổi hỏi như thế thì toát mồ-hôi trán, vì chính ông cũng chưa biết hết 64 loại mà thái tử vừa kể. Ông vội-vàng quỳ xuống đọc bài thơ khen tặng thái-tử như sau:

" Giỏi thay! Hay thay! Chưa từng có!
" Một người sáng suốt được như ngài.
" Trí-tuệ trong sáng vầng nhật nguyệt,
" Thông hiểu các pháp của thế-gian.
" May mắn chúng tôi được gặp ngài
" Qua dời gót ngọc tới học-đường!
" Những sách mà ngài vừa mới nói,
" Quả là chúng tôi chưa từng thấy.
" Dĩ nhiên ngài đã thông hiểu rồi!
" Ðáng làm đạo-sư cho trời, người,
" Chúng tôi đâu dám làm giáo học!
" Cúi xin ngài sẽ chỉ bảo cho. (51)
Thái tử Siddhattha học võ

Về võ thuật, khi thái tử được khoảng 12-13 tuổi, triều thần giới-thiệu võ-sư Kshantideva (Sàn-Ðề-Ðề-Bà) là người thông hiểu 29 môn võ-nghệ, để dạy thái-tử. Võ-sư được lệnh về thành, vào yết-kiến vua; vua rất vui-vẻ giao cho dạy thái-tử.

Ðầu tiên võ-sư biểu-diễn các môn quyền cho thái-tử xem. Thái-tử nói: "Các môn này tôi đã thông hiểu rồi, không cần phải học".

Vậy các môn ấy võ-sư chỉ phải dạy cho các vương-tử khác thôi. Sau đó võ-sư đem hết tài lực biểu-diễn các môn bí-truyền cho thái-tử xem về đô vật, cởi ngựa, cởi voi, lái chiến xa, sử dụng cung, kiếm, trường thương, móc câu ... Nhưng thái-tử cũng nói: "Những môn nầy tôi đã thông hiểu cả rồi". Tới đây võ-sư biết mình không có tài gì hơn để dạy, bèn làm bài kệ khen thái-tử rằng:

" Thái-tử tuổi thơ ấu,
" Học hỏi rất an-nhàn,
" Chẳng mất bao công lực,
" Nháy mắt đã hiểu liền.
" Gấp trăm ngàn kẻ khác,
" Học tập biết bao năm,
" Thành công rất ít ỏi.
" Võ-nghệ với văn-chương,
" Thái-tử vượt hơn người. (52)

Thái tử Siddhattha cứu chim thiên nga (54)

Ngoài ra thái-tử còn tỏ ra có lòng từ ái đặc biệt. Một hôm, thái-tử vào khoảng 12 tuổi, đang chơi ngoài sân thì có con chim thiên-nga bị tên bắn trúng cánh xà xuống bên cạnh. Thái-tử dịu-dàng săn-sóc vết thương cho con thiên-nga, được một lúc sau thì có người em cô cậu là Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa), nhỏ hơn thái tử một tuổi, trên tay còn cầm cung tên, đến bảo rằng chính mình bắn được nên đòi bắt chim thiên nga lại.

Thái-tử không chịu trả. Cuối cùng việc nầy được đưa ra triều đình phân xử. Giữa triều, Devadatta nói:
- Lúc con chim thiên nga đang bay trên trời thì nó không thuộc về của ai cả. Nhưng chính tôi đã bắn trúng con thiên nga rơi xuống đất thì nó trở thành của tôi.

Thái-tử biện luận rằng:

- Sự sống là điều quí nhứt trên đời, kế đó là sự tự do. Con chim thiên nga đang bay trên trời là biểu tượng của sự sống và sự tự do. Nó không thể trở thành vật sở hữu của người đã bắn nó. Vì vậy chim thiên-nga phải được giao cho người bênh vực sự sống và sự tự do cho nó chứ không nên giao cho người giết hại nó. Giết hại là điều không nên làm.

Do đó người có tâm giết hại không có quyền làm chủ sự sống và sự tự do của kẻ khác.
Sau khi thảo luận một hồi lâu, triều thần cho rằng thái-tử Siddhattha có lý.
2- Tuổi trưởng-thành

Thái tử Siddhattha lập gia đình (55)

Lúc thái tử Siddhattha được 16 tuổi, vua Suddhodana bàn tính với triều thần tìm người vợ tương lai cho thái tử, mong rằng với sự ràng buộc gia đình thái tử sẽ bỏ ý định xuất gia và sẽ trở thành một đại đế mang lại sự vẻ vang cho cho dòng họ Sakya. Các vị đại thần giới thiệu nhiều cô gái nhan sắc và đức hạnh, nhưng vua Suddhodana bảo:
- Thái tử khó tính lắm ! Chúng ta phải hỏi trước xem thái tử thích có người vợ như thế nào.
Vâng lệnh vua, các vị đại thần liền đến gặp thái tử để hỏi ý kiến ngài về việc chọn lựa người vợ tương lai. Siddhattha đáp:
- Bảy ngày nữa tôi sẽ trả lời quý vị.

Rồi thái tử tự nghĩ:

- Ta đã biết rõ rằng vô số đau khổ đều do ham muốn, tham ái mà ra. Ái dục là nguồn gốc của đau khổ, xích mích, hung dữ, phiền muộn, là ly thuốc độc, là ngọn lửa, là lưỡi gươm hại người. Ta không cảm thấy sung sướng gì khi ở bên cạnh một người nữ. Tại sao ta lại không chọn lối sống yên tĩnh trong rừng? Ở đó tâm ta sẽ được an nhàn, thảnh thơi trong cái vui thiền định.

Nhưng dưới áp lực gia đình và của mọi người xung quanh, cuối cùng thái tử nghiêng về truyền thống gia đình và gác lại lý tưởng xuất gia. Thái tử nhớ lại các vị Bồ-tát trước kia cũng đều lập gia đình cả. Hoa sen thanh tịnh không thể lấm bùn nhơ. Ðến kỳ hẹn, thái tử nói với các vị đại thần:

- Nếu phải lập gia đình thì tôi thích có người vợ đạo đức hơn là chỉ có sắc đẹp. Người đó phải diệu hiền, từ thiện, chân thật, không gian xảo và ganh tị, không thích se sua, rượu chè, cờ bạc và tiệc tùng. Người đó cũng phải là một cô dâu hiền, một bà chủ tốt với tôi tớ, không nề hà thức khuya dậy sớm. Người đó phải trẻ đẹp nhưng không tự cao.

Sau khi nghe các vị đại thần thuật lại lời thái tử, vua Suddhodana ra lệnh cho vị giáo sĩ Bà-la-môn trong triều:

- Này ông Bà-la-môn, ông hãy đi khắp thủ đô Kapilavastu, vào từng nhà tìm những cô gái có những đặc điểm mà thái tử đã mô tả, dù là con nhà quý tộc, hay Bà-la-môn, hay thương gia, hay nông dân cũng được. Vì thái tử chỉ chú trọng đến đức hạnh chứ không phân biệt giai cấp. Ông báo cho ta biết tất cả những cô gái đó.

Chẳng bao lâu, ông Bà-la-môn về báo cáo với vua về những cô gái ông đã chọn cho thái tử. Trong số đó ông chú ý đặc biệt đến công chúa Gopa-Yasodhara (Da-Du-Ðà-La), cùng tuổi với thái tử Siddhattha, con vua Suppabuddha
(Thiện Giác Vương), là người có đầy đủ nhất những đặc điểm mà thái tử Siddhattha đã nêu ra. Nhà vua liền cho tổ chức một đại lễ phát quà cho những cô gái nói trên.

Trong buổi lễ, từng cô gái trẻ đẹp bước đến nhận một món nữ trang quý giá do chính tay thái tử Siddhattha trao cho. Nhưng thái tử vẫn thản nhiên, không tỏ ra chú ý đến cô nào cả. Cuối cùng Yasodhara bước đến, đôi mắt tròn sáng, vui vẻ, diệu hiền nhìn thẳng vào mặt thái tử. Thái tử Siddhattha hơi lúng túng vì không còn món nữ trang nào để tặng cho cô. Yasodhara mĩm cười nói:

- Thưa thái tử, hình như tôi có lỗi gì nên ngài không muốn tặng quà cho tôi phải chăng?
- Thưa cô, không phải vậy, chỉ tại cô đến sau cùng đó thôi. Vậy cô hãy nhận món quà này.
Nói xong, thái tử cởi chiếc nhẫn trong tay mình ra, trao cho Yasodhara. Nhưng Yasodhara cười nói:

- Tôi không dám nhận chiếc nhẫn riêng của thái tử đang dùng đâu?
- Cô cứ nhận đi, đây là món quà mọn của tôi tặng cô mà !
- Tôi không dám ! Tôi đến đây không phải để lấy món trang sức của thái tử mà chính là để làm món trang sức cho thái tử.

Nói xong, Yasodhara rút lui. Siddhattha thừ người nhìn theo.

Các vị đại thần đều cho rằng thái tử Siddhattha đã chú ý đặc biệt đến Yasodhara. Vua Suddhodana liền cử sứ thần đến thủ đô Devadaha xứ Koliya xin cầu hôn công chúa Yasodhara cho thái tử Siddhattha. Nhưng vua Suppabuddha gạt ngang, cho rằng chưa ai thấy Siddhattha có tài cán gì về võ thuật. Vua Suddhodana rất phiền muộn vì bị mất thể diện.

Ðể an ủi cha, thái tử Siddhattha vén màn bí mật cho cha biết tuy chưa bao giờ biểu diễn võ thuật, chàng có thể tranh tài với bất cứ ai. Yên chí, vua Suddhodana đề nghị với vua Suppabuddha tổ chức một cuộc tranh tài về võ thuật mà người thắng cuộc sẽ thành hôn với Yasodhara.

Cuộc tranh tài gồm ba bộ môn: đãu kiếm, bắn cung và đãu vật. Có cả thảy 500 thanh niên tham dự. Về đãu kiếm, chỉ có Devadatta đở được 5 chiêu của thái tử Siddhattha, Nanda đở được 3 chiêu, còn mấy người khác chỉ đở được 1 - 2 chiêu là cùng.
Về bắn cung thì có 3 tấm bia được dựng lên từ gần đến xa, mỗi người chỉ được bắn một mũi tên vào mỗi tấm bia. Nanda chỉ bắn được một mũi tên trúng vào tâm điểm bia gần nhất, còn hai mũi kia đều ra ngoài tâm điểm. Devadatta bắn được hai mũi tên trúng vào tâm điểm bia thứ nhất và bia thứ nhì, mọi người hoan hô nhiệt liệt, nhưng đến mũi thứ ba thì ra ngoài tâm điểm.

Những người khác thì cả 3 mũi tên đều sai tâm điểm. Ðến phiên thái tử Siddhattha, ba lần dương cung, cung đều bị gãy. Thái tử hỏi cha có cây cung nào khác chắc chắn hơn không. Vua Suddhodana bèn sai quân cận vệ vào đền thờ hoàng thượng Sihahanu mang ra một cây cung thật to và nặng, không ai dùng nổi.

Siddhattha dương cung một cách nhẹ nhàng, bắn cả 3 mũi tên đều trúng vào tâm của 3 tấm bia. Toàn thể khán giã vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

Ðến phần đãu vật, không ai địch nổi Siddhattha. Devadatta 3 lần bị hạ lưng chấm đất. Sau cùng thái tử chấp cả 36 thanh niên vào ôm mình một lược, chàng chuyển thần lực vung tay ra một cái, cả 36 người đều ngã lăn xuống đất. Devadatta tức giận vì ganh tị, bỏ về trước.

Vua Suddhodana rất vui mừng, phấn khởi, và cao hứng sai quân hầu là Channa (Xa-Nặc) dắt con ngựa chứng hung dữ Kanthaka (Kiền-Trắc) ra cho mọi người cỡi thử. Vài thanh niên cỡi thử đều bị ngựa hất văng xuống đất. Siddhattha ngồi vững trên lưng ngựa cho đến khi con ngựa chịu đứng yên. Thái tử cho ngựa chạy ba vòng sân, rồi trở lại chào vua Suddhodana và vua Suppabuddha.

Ðể tôn vinh thái tử, vua Suddhodana lại sai Channa về triều dắt con voi trắng tốt đẹp nhất của mình ra cho thái tử cỡi về cung. Channa vừa dắt voi ra tới cổng thành thì gặp Devadatta vừa về đến nơi. Devadatta hỏi:

- Ngươi dắt voi đi đâu?
- Thưa ngài, tôi dắt voi ra cho thái tử cỡi về.

Ðang cơn nóng giận, Devadatta, tay trái nắm lấy vòi voi, tay phải đấm mạnh vào đầu voi. Con voi to lớn ngã gục chết liền, nằm chật cả cổng thành khiến người qua lại không được. Nanda tới sau, nắm vòi kéo voi ra khỏi cửa thành.

Thái tử Siddhattha đi trên chiến xa (55) lộng lẫy cũng vừa về đến nơi, thấy vậy lên tiếng trách Devadatta và khen ngợi Nanda, rồi bước xuống dùng thần lực nhấc voi lên ném ra xa một câu-lô-xá (trên 500m), khi voi rơi xuống làm lún đất thành một cái hố lớn, đến nay còn lưu truyền là hố voi.

Lúc bấy giờ thái tử Siddhattha được 17 tuổi, lễ thành-hôn với công chúa Yasodhara được tổ chức vô cùng long trọng. Nhưng một thời-gian sau, nhận thấy Yasodhara không đủ sức quyến rũ làm cho Siddhattha bỏ ý định xuất gia, vua Suddhodana lại kén thêm cho thái-tử hai bà thứ phi nữa là Gopika (Cù-Di) và Migaranika (Lộc-Dã), ngoài ra còn các thế-nữ không kể. Nhà vua lại cho xây ba cung điện cho thái-tử ở tùy theo thời-tiết nóng, lạnh hay mưa (56)

Về cuộc đời nhung lụa ấy đức Phật đã kể lại như sau:

"Ðời sống của ta (lúc bấy giờ) thật là tế-nhị, vô cùng tinh-vi. Trong hoàng cung, chỗ ta ở, phụ hoàng có đào ao, xây những đầm sen. Khi sen xanh đua nhau khoe màu ở đây thì sen đỏ vươn mình phô sắc phía bên kia, và trong đầm bên cạnh sen trắng đua nhau khoe vẻ đẹp dưới ánh nắng ban mai. Trầm hương của ta dùng đều là loại thượng hảo hạng từ xứ Kasi (57)

đưa về. Khăn và xiêm áo của ta cũng may toàn bằng hàng lụa bậc nhất từ Kasi chở đến.

"Ngày cũng như đêm, mỗi khi ta bước chân ra khỏi cung điện là có tàng lộng che sương đỡ nắng.

"Phụ hoàng cũng kiến tạo riêng cho ta ba tòa cung điện. Một để cho ta ở mùa lạnh, một mùa nóng và một mùa mưa. Trong suốt bốn tháng mưa ta lưu tại một biệt điện có đầy đủ tiện-nghi, giữa những cung tần phi nữ.

Cho đến hàng nô-tỳ của phụ hoàng cũng được ăn sung mặc sướng chứ không phải như ở các nhà khác, gia-đình chỉ được ăn cơm xấu và thức ăn cũ" (58)

Vua Suddhodana làm đủ mọi cách để ngăn cản việc xuất gia của thái-tử. Vừa tổ chức các trò chơi, ca, vũ, nhạc, kịch trong cung nội, vừa tổ-chức các cuộc bố-thí, phóng sinh, khuyên dân tu thiện, vừa bố-trí không cho thái-tử ra khỏi thành nhìn thấy cảnh dân đói khổ, già, bệnh, chết. Thái-tử Siddhattha ở trong hoàng cung vui-thú với năm cảnh dục-lạc thế gian ròng-rã mười năm.
Thái tử Siddhattha nhớ đại nguyện: (59)

Lúc bấy giờ ở cõi trời Tịnh-Cư (60) có một vị Tiên (rishi) tên Suddhavasa (Tác-Bình) thấy thái-tử vui-thú với năm cảnh dục-lạc trong hoàng cung, ròng-rã 10 năm, mặc dù tâm không đam-mê nhưng thời-gian thắm-thoát qua mau không đợi người, vì thế ông đứng trên hư-không lúc canh khuya lớn tiếng nói rằng:

"Hỡi ngài Hộ-Minh (Vessantara) Bồ-tát, xin ngài hãy sớm nhàm chán cảnh đời phàm-tục mà xuất gia tu đạo. Xin ngài chớ yên vui với dục-lạc mà quên đại nguyện cứu độ chúng sinh đau khổ khỏi cảnh sinh, già, bệnh, chết".

Rồi ông Suddhavasa lại đọc bài kệ sau đây:
"Hay thay nhân-giả tuổi cao rồi,
"Mau chóng xuất gia cho mãn nguyện.
"Sớm ban lợi ích khắp trời người.

Năm cảnh dục lạc (61) nên nhàm chán,

"Chớ đắm sáu trần (62) cõi đời.
"Chỉ có xuất gia hành đại trí,
"Tu thiền, định, huệ, đạt Chơn-như (63)
"Mới mong cứu được khổ luân-hồi.
"Chúng sinh hoạn-nạn nhiều phiền-não!
"Nhân-giả là bậc đại-y-sư
"Thuyết nhiều pháp dược chữa bệnh người,
"Mau chóng đưa lên đài thượng giác.
"Chúng bị vô-minh che tối mịt,
"Cùng bao tà-kiến vây ràng buộc,
"Khai thông trí-tuệ được sáng ngời,
"Làm cho trời, người, mắt hết bệnh.

Thái-tử Siddhattha đã nhiều đời nhiều kiếp trồng căn lành nên khi nghe trên không đọc bài kệ xong, ngài tự biết đã đến lúc xuất gia tầm đạo.

Cũng đêm đó vị Tiên Suddhavasa dùng thần lực làm cho vua Suddhodana chiêm bao thấy bảy cảnh tượng như sau:

1- Thấy lá phướn của vua Ðế-Thích từ cửa thành phương đông bay ra.
2- Thấy Thái-tử cỡi con đại bạch tượng đi ra cổng thành phía nam.
3- Thấy Thái-tử ngồi trên xe tứ mã từ cổng thành phía tây đi ra.
4- Thấy một cái xe lớn chở rất nhiều châu bảo trang-nghiêm đi ra cửa bắc.

5- Thấy Thái-tử đứng ở một con đường lớn giữa thành, tay cầm dùi đánh vào một cái trống lớn.
6- Thấy Thái-tử ngồi trên lầu cao quăng châu báu xuống và có rất nhiều người lại lấy đem đi.
7- Thấy bên ngoài thành có sáu người cất tiếng khóc lớn, rồi vật mình lăn ra đất trông rất thê thảm.
Nhà vua tỉnh giấc, tâm ý bồi-hồi lo-sợ, sai triệu người đoán mộng vào xem thử lành dữ thế nào. Mộng-sư vào hầu vua, nghe vua kể xong, suy-nghĩ hồi lâu rồi tâu rằng:
- Tâu Bệ-hạ! Khó lắm, hạ thần không hiểu thấu, xin Bệ-hạ tha thứ !

Nhà vua đang buồn lo thì có quan giữ cửa vào thưa:

- Tâu Bệ-hạ! Ngoài cổng thành có người xin vào đoán mộng hầu Bệ-hạ.
- Ðược, cho họ vào đây.
Tiên ông Suddhavasa giả làm người đoán mộng, vào đến nơi, nghe vua kể xong liền thưa rằng:
- Tâu Bệ-hạ! Ðiềm thứ nhất là thái-tử sẽ xuất gia; điềm thứ hai là điềm thái-tử sẽ đắc quả; điềm thứ ba là điềm thái-tử được pháp tứ vô úy (64)

thứ tư là điềm thái-tử thành Phật; thứ năm là điềm thái-tử chuyển pháp luân; thứ sáu là điềm thái-tử đắc ba mươi bảy phẩm

pháp bảo[65]; thứ bảy là điềm nhóm lục sư ngoại đạo[66] lo buồn kêu khóc. Xin Bệ-hạ cứ hoan-hỉ, không nên lo buồn làm gì, vì đó toàn là những điềm lành.

Nói xong, tiên ông Suddhavasa bái tạ lui ra. Vua Suddhodana nghe xong, trong lòng tuy bớt lo buồn, nhưng lại nghĩ cách bày thêm nhiều thú vui tiêu-khiển trong hoàng cung để thái-tử quên chí xuất gia.

Thái tử Siddhattha dạo chơi bốn cửa thành

Tiên ông Suddhavasa muốn cho thái-tử đi chơi ra ngoài thành để biết những việc xấu tốt của đời, mục-đích khuyến-khích thái-tử chán bỏ năm món dục-lạc[67] chốn hoàng cung. Ông giả một tên quân hầu nói chuyện với thái-tử, khen chốn sơn lâm là nơi lạc thú nhất của con người.

Thái-tử nghe rồi đến xin phép vua cha được ra ngoài các cửa thành dạo chơi. Vua ra lệnh sửa sang đường xá, treo cờ dựng phướn trang nghiêm trên các nẻo đường thái-tử sắp đi qua.

Hôm đó thái-tử ngồi trên xe vàng sáng chói cùng với Channa (Xa-Nặc) và đoàn quân hầu hộ-tống ra cửa thành phía đông. Dân chúng được tập họp hai bên đường để rải hoa và hoan-hô thái-tử.

Tiên ông Suddhavasa biến hình làm một ông lão nghèo-nàn, lưng còng, răng rụng hết, đi thất-thểu, mặt cúi xuống đất, hơi thở phì-phào, đầu bạc như tuyết, tay chống gậy, run rẩy, khập-khểnh đi qua trước xe thái-tử. Thái-tử nhìn thấy, ngậm-ngùi hỏi Channa:

- Người này làm sao thế?
- Thưa thái-tử, người này là người già.
- Già là gì?
- Thưa thái-tử, người ta sinh ra lúc còn ít tuổi gọi là trẻ. Từ sáu mươi tuổi trở lên cơ-thể suy-tàn, tóc bạc da mồi, lưng còng sườn vạy, tinh-thần mờ tối, thở ra không hẹn hít vào, chỉ còn chờ chết, gọi là già.

- Thân ta rồi đây cũng bị như thế ư?
- Vâng! Thưa thái-tử, sang hèn tuy khác nhau, có trẻ tất có già, nhất định không ai thoát khỏi cảnh già nua như ông lão này. Thái-tử sau này cũng thế.

Thái-tử cảm thấy buồn cho thân-phận con người, liền bảo đoàn tùy-tùng quày xe trở về cung. Suốt mấy hôm liền thái-tử trầm-ngâm suy-nghĩ một mình để tìm cách thoát tướng già khổ cho tương lai mình và tất cả chúng sinh.

Một hôm khác, thái-tử lại cùng với Channa và đoàn tùy-tùng ra cửa thành phía nam. Suddhavasa biến thành một người bệnh, thân hình tiều-tụy, run rẩy, nằm trên phẩn và nước tiểu của mình bên lề đường, rên rĩ thảm-thiết, hầu như sắp chết. Thái-tử nhìn thấy, hỏi Channa:

- Người này sao lại như vậy?
- Thưa thái-tử, người này đang cơn bệnh nặng sắp chết.
- Thế nào gọi là bệnh?
- Khi thân-thể không được yên-ổn, hoặc bị nóng, hoặc bị lạnh, hoặc bị đau nhức, thương tổn trong ngũ tạng, khí lực bạc nhược, tinh thần yếu đuối, mạng sống bấp-bênh, gọi là bệnh.

- Chỉ riêng một người này hay ai rồi cũng thế?
- Thưa thái-tử, không riêng gì người này đâu, tất cả trời, người, cho đến muôn vật, không ai thoát khỏi bệnh hoạn.
- Như vậy chính thân ta đây rồi cũng thế ư !

Thái-tử buồn-bã ra lệnh quày xe trở về cung. Suốt mấy hôm liền thái-tử trầm-ngâm suy-nghĩ một mình để tìm cách giải-thoát khỏi cảnh già, bệnh cho mình và tất cả chúng sinh.

Một hôm khác, thái-tử lại cùng với Channa và đoàn tùy-tùng ra cửa thành phía tây. Suddhavasa biến thành một xác chết nằm bên vệ đường, bắt đầu sình-ươn, hôi thúi, ruồi nhặng bu quanh, trông rất ghê tởm. Thái-tử kinh-ngạc hỏi Channa:
- Này Channa, người này sao lại như vậy?
- Thưa thái-tử, đây là cái xác chết đang chờ thân nhân hỏa táng!
- Sao lại gọi là xác chết?

- Thưa thái-tử, con người hoặc bị bệnh nặng, hoặc bị thương-tích các nơi hiểm-yếu, hồn lìa khỏi xác, cơ-thể không còn một chút sinh-lực, chẳng khác gì gỗ đá, bỏ lại cha, mẹ, vợ, con, họ-hàng, sau khi hỏa táng thân-thể sẽ chỉ còn lại một đống tro tàn.
- Chính thân ta rồi đây cũng lại như thế sao?
- Thưa thái-tử, tất cả các sinh vật cho đến các bậc vua chúa đều không tránh khỏi cái chết.

Thái-tử buồn-bã ra lệnh quày xe trở về cung. Suốt mấy ngày liền, thái-tử trầm-ngâm suy-nghĩ một mình để tìm cách giải-thoát khỏi các tướng khổ già, bệnh, chết cho mình và tất cả chúng sinh.

Ít lâu sau thái-tử lại cùng với Channa và đoàn tùy-tùng ra cửa thành phía bắc. Suddhavasa lần này hóa thân làm một vị sa-môn[68] mặc áo cà-sa, tóc râu nhẵn-nhụi, trang-nghiêm trầm-tĩnh, vẻ mặt thanh-thoát, chân bước khoan-thai, tay cầm bát đi khất thực bên vệ đường.

Thái-tử ngắm nhìn một hồi, chợt nhớ lại kiếp xưa, liền xuống xe, đến trước vị sa-môn đảnh-lễ rồi hỏi:
- Thưa ngài sa-môn, xuất gia như ngài thì được lợi ích gì?

- Thưa thái-tử, tôi nhận thấy con người tại gia luôn-luôn bị đau-khổ về sinh, già, bệnh, chết, tất cả các pháp ở thế-gian đều vô thường, bại-hoại, không an, nên tôi lìa gia-đình, thân-tộc, đến ở chỗ an-nhàn, thanh-vắng, để cầu thoát ách khổ-não ấy.

Tôi tu-tập đạo vô-lậu[69] giải-thoát, điều phục năm giác quan[70], không cho sa-ngã vào năm cảnh dục-lạc[71] của thế-gian, phát tâm từ-bi để ban những pháp vô-úy[72] cho đời, và giữ tâm bình-đẳng hộ-niệm[73] chúng sinh không bị ô-nhiễm bởi các pháp thế-gian, được đạo giải-thoát. Ðó là mục-đích xuất-gia của tôi.
Thái-tử nghe xong trong lòng hoan-hỷ, tự nghĩ rằng: " Trong toàn cõi nhân thiên, có lẽ chỉ có lối tu xuất-gia này là hơn hết ". Thái-tử liền giục tả hữu quày xe trở về thành. Chiều hôm đó thái-tử ngồi trầm-ngâm suy-nghĩ: "Chính thân ta phải chịu sanh, gìà, bệnh, chết, phiền-não và ô-nhiễm.

Tại sao mọi người vẫn mải-mê chạy theo những cái mà bản chất đều vô-thường như vậy. Vì phải chịu sanh, già, bệnh, chết, phiền-não và ô-nhiễm, ta đã nhận thức được sự tai-hại của những điều ấy. Hay ta thử đi tìm cái chưa ai thành đạt, cái chân-lý tuyệt-đối, cái hạnh-phúc tối thượng của cảnh niết-bàn "[74].

Rồi thái-tử lại nghĩ: "Ðời sống tại gia thật tù-túng chật-hẹp, là chỗ ẩn-náu của bụi trần ô-trược, phiền-não và ràng-buộc. Chỉ có xuất gia mới có thể có được một đời sống an-tịnh, thong-dong, tự-tại "[75].
Thái tử Siddhattha xin phép xuất gia

Sáng hôm sau, công-chúa Yasodhara, đang mang thai sắp đến ngày sanh, vẻ mặt mệt-mỏi, vừa thức giấc vội nói với thái-tử rằng:

- Thưa thái-tử, hồi hôm em trằn-trọc mãi ngủ không được, đến khi vừa chợp mắt thì chiêm bao thấy 20 điềm chẳng lành như sau:

Em thấy quả đất lay-động, lá phướn của vua Ðế-Thích văng xuống đất, các ngôi sao trên trời rơi-rụng, một cây lộng lớn trong thành bị Channa lấy đi, và còn cắt tóc em mang đi nốt, những xâu chuỗi anh-lạc trên mình em bị rơi mất cả, thân hình em bỗng trở nên xấu-xí, chân tay tự nhiên rơi-rụng, và thân thể lõa-lồ, ngồi lên ghế thì ghế sập cẳng, nằm lên giường thì giường gãy chân,

lại thấy những núi lớn sụp đổ, trong thành những cây cổ-thụ gãy ngã ngổn-ngang, mặt trăng mất ánh sáng, mặt trời mất tinh quang, trong thành những ngọn đuốc cháy sáng đều hướng ra ngoài, thần hộ thành kêu khóc, thành Kapilavastu biến thành nơi hoang-vắng, hoa quả trong vườn đều rơi-rụng, các tráng-sĩ hộ-vệ chạy tán-loạn. Theo em nghĩ thì 20 điềm ác-mộng này có lẽ là điềm em sắp chết, hay là thái-tử sắp dứt tình ân-ái bỏ em mà đi hay sao?

- Ðây chỉ là do công-chúa lo-sợ tôi đi xuất-gia[76] đó thôi. Song giấc mộng này chỉ là những điềm lành, không có gì đáng lo ngại, công-chúa cứ yên tâm, không nên phiền-não làm chi cho mệt tinh-thần.[77]

- Thưa thái tử, em sắp đến ngày sanh nở, con của chúng ta sắp chào đời, có thể là một hoàng nam. Xin thái tử đoái nghĩ đến mẹ con em sẽ phải sống đời hiu quạnh buồn thảm nơi hoàng cung nếu không có thái tử bên cạnh. Xin thái tử hãy ở lại với em và con, đừng đi xuất gia.

- Công chúa ơi[78], có bao giờ nàng nhìn thấy một ông cụ hay một bà lão độ 80, hay 90, hay 100 tuổi không? Lưng họ còng xuống như một mái nhà sắp sụp đổ, tay rung rẫy chống gậy, dáng đi khập-khểnh như sắp ngã xuống bất cứ lúc nào, tuổi trẻ đối với họ chỉ còn là một kỷ niệm xa vời, răng gãy xếu-xáo, lưa thưa vài sợi tóc bạc trên đầu, da nhăn nheo như trái mướp khô ! Có bao giờ nàng nghĩ đến một ngày kia chính nàng cũng sẽ phải chịu cảnh già nua như vậy, không thế nào tránh khỏi không?

Công chúa ơi, có bao giờ nàng nhìn thấy một người đàn ông hay một người đàn bà đau yếu bệnh hoạn, phải chịu oằn-oại trên phẩn và nước tiểu của chính mình không? Có người còn được người khác chăm sóc, có người thì không được ai chăm sóc cả ! Có bao giờ nàng nghĩ đến một ngày kia chính nàng cũng sẽ phải chịu cảnh đau yếu bệnh hoạn như vậy, không thế nào tránh khỏi không?

Công chúa ơi, có bao giờ nàng nhìn thấy xác của một người đàn ông hay một người đàn bà, một hai hay ba ngày sau khi chết, sình trương, nứt nẻ, hôi thúi, rục rã không? Có bao giờ nàng nghĩ đến một ngày kia chính nàng cũng sẽ phải chịu cảnh chết chóc thảm thương như vậy, không thế nào tránh khỏi không? ...

- Thôi thôi, thái tử đừng nói đến những cảnh tượng đáng ghê sợ như thế nữa, sẽ có ảnh hưởng không tốt đến con của chúng ta.

- Này công chúa, ta muốn xuất gia chính là để cố tìm ra phương thức thoát khỏi những cảnh đau khổ trong sinh, già, bệnh, chết, sanh tử luân hồi cho chính ta, cho nàng, cho con chúng ta, và cho tất cả chúng sanh đang mê muội chìm đắm triền miên trong biển khổ sanh sanh tử tử. Ðến khi thành công ta sẽ trở về đây để cứu nàng, cứu con và tất cả mọi người. Nàng nên can đảm ở lại chờ ta, đừng ngăn cản ta.

Công chúa Yasodhara nằm úp mặt xuống giường thút-thít khóc.
Vài hôm sau thái-tử vào gặp vua cha xin phép đi xuất gia:
- Kính lạy Phụ-vương, lòng con đêm ngày muốn xuất gia tầm đạo giải-thoát, kính xin Phụ-vương hoan-hỷ cho con được toại nguyện.

- Thái-tử con! Cha rất thương yêu con nên cha không đành lòng nào thấy con trở thành kẻ ăn xin không nhà không cửa, bữa đói bữa no, rày đây mai đó. Hơn nữa cha mong con sau nầy sẽ nối ngôi vua cai trị thiên hạ. Con đừng đi đâu hết, cứ ở lại đây với cha, rồi con muốn gì cha cũng chiều ý con.

- Như Phụ-vương muốn cho con ở lại thì xin Phụ-vương ban cho con bốn điều này: Một là làm sao cho con trẻ mãi không già; hai là làm sao cho con mạnh khoẻ hoài không bệnh; ba là làm sao cho con sống hoài không chết; bốn là làm sao cho con học được đạo giải-thoát để cứu chúng sanh khỏi những thống-khổ ở đời.

- Này con yêu quí, cứ theo bốn điều con xin đó thì chính cha đây cũng không có, làm sao cha ban cho con được !

Sau khi thái-tử lạy tạ lui ra, vua Suddhodana buồn rầu họp tất cả những người thân-tín trong hoàng cung lại, nói rằng:

- Thái-tử vừa lại đây xin phép đi xuất gia. Nếu ta đồng ý cho đi thì sau này không có người tài trí kế vị, vậy ai có ý-kiến gì hay để giữ thái-tử ở lại hoàng cung chăng?

- Tâu Ðại-vương, quan Tổng-binh nói, hạ-thần sẽ đặt 500 binh-sĩ hùng-tráng khỏe mạnh thay phiên nhau ngày đêm canh gác tại mỗi cửa thành, và thêm 500 binh-sĩ tinh-nhuệ tuần-hành ngày đêm trên mặt thành, thì chắc-chắn không thế nào thái-tử lén ra khỏi thành được.

- Tâu Hoàng-thượng, Hoàng-hậu Pajapati nói, thần thiếp sẽ tăng-cường thêm các thế-nữ xinh đẹp nhất trong hoàng cung để ngày đêm hầu-hạ thái-tử, vừa giúp vui bằng các trò chơi, tiếng đàn, giọng hát, vừa trông chừng thái-tử.
- Các khanh ráng cẩn-thận, vua nói, ta sẽ trọng thưởng.

Một hôm, thái tử Siddhattha đang đi dạo chơi trong một công viên ở ngoài thành, gặp lúc trời nắng tốt, thái tử xuống hồ nước trong xanh giữa những hàng cây cao vút để tắm cho mát. Trong lúc đang kỳ cọ, bỗng nghe tiếng vua trời Ðao-Lợi là Sakka Indra văng vẳng bên tai:

- Hởi ngài Hộ-Minh Bồ-tát, thời kỳ xuất gia đã đến, ngài chớ nên chần chờ nữa, chúng sanh đau khổ triền miên đang cần ngài cứu độ.

Nghe xong, thái tử Siddhattha thấy lòng hăng hái phấn khởi. Vừa lúc ấy có quân hầu mang lệnh vua đến báo công chúa Yasodhara vừa sanh hoàng nam. Thái tử vui mừng lên lưng ngựa phóng nhanh về thành. Lúc thái tử hân hoan đi ngang qua, cô Kisa Gotami đứng trên lầu nhìn thấy liền cất tiếng hát:

- Hạnh phúc thay được làm cha,
Hạnh phúc thay được làm mẹ,
Hạnh phúc thay được làm vợ
Của một chàng trai như thế.

Trong lúc đang vui mừng phấn khởi, thái tử Siddhattha liền quành ngựa lại, ném tặng nàng xâu chuổi ngọc đeo cổ của chàng trị giá một trăm ngàn đồng tiền vàng, rồi tiếp tục về hoàng cung. Thái tử chợt nghĩ: Ai ai cũng mong được hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ở thế gian vô thường, sanh, già, bệnh, chết này thật chóng tàn phai; làm thế nào để có được Hạnh-Phúc Chân-Thật Vĩnh-Cửu?

Phần Ghi Chú:

[1] Kiếp có 2 nghĩa: 1- Từ lúc sanh ra đến lúc chết (nghĩa thường); 2- Kiếp (kalpa) = 432 triệu năm.

[2] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 154, 190, 200; Khuddaka-nikaya 10.

[3] Các kiếp hiện tại tên Hiền (Bhadra kalpa), các kiếp quá khứ tên Trang-Ngiêm (Vyuha kalpa), các kiếp vị-lai tên Tinh-Tú (Naksatra kalpa).

[4] Trước đức Phật Sakyamuni có 24 vị Phật sau đây: Dipankara, Kondanna, Mangala, Sumana, Revata, Sobhita, Anomadassi, Paduma, Narada, Padumuttara, Sumedha, Sujata, Piyadassi, Atthadassi, Dhammadassi, Siddhattha, Tissa, Phussa, Vipassin, Sikhin, Vessabhu, Kakucchandha, Konagamana và Kassapa.

[5] Mười thánh hạnh là Hỷ-xả tùy thuận, Từ-bi lợi-ích chúng sanh, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn dũng cảm, Chân-thật, ba nghiệp Thanh-tịnh, Thiện-nguyện đầy đủ, tâm Bình-đẳng, Ðịnh-lực đầy đủ, Trí-huệ sáng suốt.
[6] Thọ ký là lời tiên đoán để khuyến khích người tu nên vững tâm bền chí để đạt đến kết quả.

[7] Xem Chánh Tông Ký. Theo Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn thì Hộ-Minh là Prabhapala; theo quyển The Life of The Buddha của A. Foucher, trang 18, thì Hộ-Minh là Svetaketu; trước khi xuất gia là thái tử Visvantara (Vessantara), trang 35. Theo The Life of Buddha as Legend and History của Edward J Thomas, trang 99, thì Hộ-Minh là Vessantara.

[8] Theo kinh Trường-A-Hàm, mục Sơ-Ðại-Bản-Duyên, thì ở cõi Ta-Bà này đã có 6 vị Phật ra đời trước đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni. Thuộc kiếp Trang-Nghiêm có các vị Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassin), Thi-Khí (Sikhin) và Tỳ-Xá-Phù (Visvabhu, Vessabhu). Thuộc kiếp Hiền có các vị Phật Câu-Lưu-Tôn (Kakucchandha), Câu-Na-Hàm (Konagamana) và Ca-Diếp (Kassapa), rồi đến Thích-Ca-Mâu-Ni (Sakyamuni).

[9] Pháp-tướng có ba là Ðịnh tướng (Samatha), Huệ tướng (Vibhasa, Tỳ-bà-xá-na), Xả tướng (Upeksa, Ưu-tất-xoa). Tu tam pháp tướng tức là tu định, tu huệ và tu xả. Bồ-tát tu Tam Pháp Tướng sẽ đắc Vô-tướng Niết-bàn.

[10] Ba đướng ác: địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh.

[11] Thiên Long Bát Bộ : Trời (Deva), Rồng (Naga), Dạ-xoa (Yaksa), A-tu-la (Asura), Ca-lầu-la (Garuda), Càn-thát-bà (Gandharva), Khẩn-na-la (Kimnara), Ma-hầu-la-già (Mahoraga).

[12] Theo trong kinh thì xứ Sakya thuộc châu Nam-Diêm-Phù-Ðề ở giữa cõi Ta-Bà thế-giới.

[13] Xem The Life of Buddha as Legend and History của Edward J. Thomas, trang 1-15; Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang, chữ Cam-Giá Vương; Mahavastu; Phật Sở Hành Tán 1; Trường A-Hàm 13; Chúng Hứa Ma-ha-đế; Ðại Lâu Thán; Luật Ngũ Phần 15.

[14] Ayodhya còn gọi là Saketa, hiện nay là tên thành phố nằm giữa đường từ thành phố Lucknow đến thành phố Gorakhpur.

[15] Xem Từ điển Phật Học Huệ Quang; Kinh Ðại Nhật 5; Kinh Ðại Khổng Tước Chú Vương hạ; Thích Ca Phả 1; Thai Tạng Giới Thất Tập hạ.
[16] Thiện sanh : nhờ có căn lành nên sanh ra.
[17] Cam giá : sanh ra trong vườ
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Sat 31 Jul 2010, 17:10


TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT THÍCH CA (trang 2)

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai


=
D- THỜI GIAN HỌC ĐẠO
Từ năm 29 tuổi đến năm 35 tuổi.
=
1-Ra Đi (Năm 595)

Năm 595 trước tây lịch, thái-tử Siddhattha được 29 tuổi[1]. Công chúa Yasodhara vừa hạ sanh hoàng nam duy nhất là Rahula[2] được bảy ngày. Sau bữa tiệc linh-đình mừng cháu nội đích tôn của vua chào đời, đêm đã quá khuya, mọi người đều mỏi-mệt. Vua trời Ðế-Thích là Sakka Indra[3] dùng thần lực làm cho tất cả quan quân và thế-nữ ngủ say mê, nằm ngổn-ngang khắp mọi nơi.

Riêng thái-tử cảm thấy băn-khoăn không ngủ được, tự nghĩ nên nhân cơ-hội có một không hai nầy để ra đi. Ngài im lặng đứng nhìn công-chúa Yasodhara và Rahula lần cuối cùng để từ-giã.

Hai mẹ con nằm bên nhau tạo nên một hình-ảnh ấm-cúng chan-hòa tình thương thiêng-liêng, cao-cả, ngây-thơ, nồng-nàn, êm-dịu làm thái-tử xúc-động, chùn chân. Thái-tử chợt nhớ đến sông mê, bể khổ vô bờ-bến của chúng sinh phải chịu trong vô lượng kiếp, ngài liền bước vội ra ngoài gọi Channa:

- Channa, ngươi mau dắt ngựa Kanthaka đến đây cho ta.
- Thưa thái-tử, bây giờ đã quá nửa đêm, ngài dùng ngựa để làm gì?
- Thời đã tới, ta đi xuất gia tầm đạo, ngươi chớ cản ta, không được trái ý ta.

Channa run sợ, lén dắt ngựa tới. Thái-tử vừa lên mình ngựa thì trời đất rung chuyển sáu lần. Channa chỉ kịp bám lấy đuôi ngựa thì bốn ông Thiên-vương[4] đã bay xuống cầm bốn chân ngựa bay vút qua thành, tới chỗ đạo-sĩ Bhargava (Bạt-Già hay Bạt-ca-bà) tu khổ hạnh thì đáp xuống. Ðêm đó rạng ngày mồng 8 tháng 2[5] năm Bính Dần (-595),

thái-tử Siddhattha và Channa thấy mình đang ở bên kia bờ sông Anoma[6], cách thành Kapilavastu 36 dậm (58 km) về hướng tây nam[7], gần làng Anupiya, thuộc xứ Malla. Thái-tử rút gươm cắt tóc vừa phát nguyện: " Tôi cắt bỏ mớ tóc này để phát nguyện đoạn hết phiền-não và tập-chướng ".

Vua Trời Ðế-Thích (Ðao Lợi) là Sakka Indra liền đưa vạt áo hứng tóc của ngài rồi bay về thiên cung xây tháp cúng dường. Thái-tử lại thầm nghĩ: "Còn tấm áo bào này ta cũng phải thay đổi mới thành tướng xuất gia".

Sakka Indra biết ý liền hóa làm người đi săn, tay cầm cung tên, mình mặc áo cà-sa vàng đi tới. Thái-tử nhìn thấy hỏi rằng:
- Tại sao ông mặc áo của người tu-hành mà đi làm việc giết hại như vậy?
- Thưa ngài, tôi mặc áo này để cho mấy con hươu nhìn thấy không bỏ chạy. Nhờ vậy tôi mới săn được nhiều.

- Ông mặc áo thầy tu mà làm việc sát hại thật không nên. Còn tôi muốn xuất gia cầu giải-thoát mà chưa có áo tu-sĩ. Vậy ông nên đổi áo với tôi đi.

Sakka Indra thành kính cởi áo cà-sa dâng thái-tử. Thái-tử cũng cởi áo bào đổi cho. Thái-tử hoan-hỷ mặc áo cà-sa xong[8], uy dung tự nhiên cải biến, thầm nghĩ: "Từ đây ta thật có hình tướng xuất gia ".

Trước khi từ-giã[9], thái-tử ôn-tồn nói với Channa: "Này Channa, ta thấy người thế gian, thân tuy xa nhau mà khi tâm hợp nhau thì tâm họ vẫn theo nhau. Cũng có người thân tuy gần nhau mà tâm không hợp nhau thì tâm họ vẫn xa cách nhau. Ta lìa bỏ cung điện ngai vàng chỉ có một mình ngươi theo ta tới đây.

Ta sẽ ở lại nơi nhàn vắng nầy tầm đạo, còn ngươi hãy mang các trang-phục của ta về dâng lên Phụ-vương và tâu rằng: Tâu Bệ-hạ, đối với các sự tôn-vinh, quyền-thế và lạc-thú ở đời, Thái-tử không nghĩ đến, không mong muốn, cũng không cầu sinh lên các cõi trời để hưởng năm món dục-lạc, và cũng không phải bất hiếu,

giận-hờn, mà chính vì thấy chúng-sinh lầm đường lạc nẻo, không biết con đường chính, chìm nổi trong vòng sinh tử luân hồi, nên Thái-tử nguyện xuất gia để tìm phương-pháp giải-cứu cho họ.

Cúi xin Bệ-hạ chớ buồn vì Thái-tử. Nếu Phụ-vương nói ta còn ít tuổi, chưa nên xuất gia, thì ngươi tâu rằng: Tâu Bệ-hạ, mạng người vô-thường không có hạn-định tuổi, có ai là người chắc đến già mới chết. Ngươi thưa với dì ta rằng:

Người ta sinh ra ở đời, ân-ái có ngày biệt-ly, ta vì muốn đoạn-trừ những mối đau-khổ đó nên đi xuất gia học đạo, xin bà đừng thương nhớ làm chi mà sinh sầu khổ.

Ngươi cũng nên nói với các công-chúa rằng ta muốn phá bỏ cái màn vô-minh, nguyện thành ngôi chánh-giác rồi sẽ trở về đưa dắt mọi người lên đường giải-thoát."

Channa nghe xong bái chào thái-tử, nước mắt đầm-đìa, lên ngựa trở về thành.

Channa về đến hoàng cung; hoàng-hậu Pajapati, công-chúa Yasodhara và hai bà phi Gopika và Migaranika, cùng các thế-nữ nhìn thấy Channa về mà không thấy thái-tử đều lo-lắng hỏi:

- Thái-tử bây giờ ở đâu?
- Thưa hoàng-hậu, thái-tử đã lìa bỏ năm món dục-lạc để cầu đạo giải-thoát. Hiện ngài đang ở nơi sơn lâm, mặc áo cà-sa, cắt bỏ râu tóc, thành người xuất gia. Xin hoàng-hậu hoan-hỷ!

- Ta có phụ gì ngươi, hoàng-hậu nói, sao ngươi lại dám để thái-tử ở một mình nơi sơn lâm lạnh-lẽo đầy ác thú, độc trùng, lấy gì bảo-đảm tánh-mạng cho thái-tử?
- Thưa bà, thái-tử bắt con trở về trình bà những món trang-phục này và xin bà cứ an tâm, đừng lo buồn gì, chẳng bao lâu thái-tử đắc quả chánh-giác sẽ trở về.
- Nhà ngươi vô cớ làm hại ta, công chúa Yasodhara nói, ngươi còn trở về đây làm chi nữa?

- Thưa bà, thái-tử vượt thành xuất gia là do sức thần-thông của chư thiên làm cho mọi người ngủ say, rồi bốn ông Thiên-vương xuống nắm bốn chân ngựa bay lên trời mà đi, chứ con đây chỉ là kẻ theo hầu mà thôi.

Xin bà tha-thứ. Nhưng mà hay lắm, quý lắm! Khi thái-tử bay qua thành tự nhiên có hào-quang sáng chói cả trời đất. Thật là kỳ lạ!

Về đến hoàng cung, ngựa Kanthaka vô cùng buồn bã, bỏ ăn mấy ngày rồi ngã lăn ra chết, vãng sanh lên cung trời Ðao-lợi (Tavatimsa).

Thái-tử Siddhattha, bây giờ đã trở thành sa-môn Gotama, ở lại bờ sông Anoma bảy ngày, vui thú tĩnh-tọa giữa cảnh u-tịch của núi rừng, gần thành phố Anupiya của xứ Malla. Nơi đây vị tân sa-môn có dịp quan-sát lối tu khổ-hạnh của nhóm ông Bhargava (Bạt-Già).

Các ông đạo-sĩ khổ-hạnh nầy che thân hoặc bằng lá, hoặc bằng cỏ, hoặc bằng vỏ cây kết lại; khi ăn thì dùng các thứ cây, cỏ, hoa,quả, có ông ăn mỗi ngày một bữa, hoặc hai ngày, ba ngày một bữa; có ông thờ thần nước, thần lửa, có ông thờ mặt trời, mặt trăng; có ông đứng một chân suốt ngày, có ông đưa hai tay lên trời suốt ngày, có ông nằm trên chông gai, hoặc nằm gần bên đống lửa, hoặc ở mé nước. Sa-môn Gotama (Cồ-Ðàm) hỏi:

- Các ông tu khổ hạnh như vầy để cầu điều gì?
- Chúng tôi mong sau khi chết sẽ được sanh lên các cõi trời hưởng phước.

- Ðược sanh lên các cõi trời, sa-môn Gotama nói, tuy vui thú thật, nhưng khi hết phước cũng lại bị đọa-lạc, sinh tử luân hồi trong sáu đường[10]; kết cuộc cũng bị khổ trong sanh tử luân hồi. Tôi muốn tìm cách tu nào để trừ hết cái căn-bản khổ đó.
Thảo-luận đến tối cũng không ai tìm được phương-pháp nào hay. Sa-môn Gotama bèn xin từ giã để tiếp-tục con đường tầm đạo. Ông Bhargava thấy sa-môn Gotama có tướng tốt và chí lớn liền bảo:

- Này đạo-hữu, cách đây khoảng 120 dặm về hướng đông nam, ở gần thủ đô Vesali của xứ Vajji (Bạt-kỳ), có một vị đạo-sư rất nổi tiếng, đạo-đức sâu-rộng, tài học cao minh, tên là Alara-Kalama (A-la-la Ca-lam)[11] có đến 300 đệ-tử. Vậy đạo-hữu nên đến đó đàm-luận thử xem.

Sa-môn Gotama cám ơn ông Bhargava rồi lên đường tìm đến đạo-sư Alara-Kalama.

Vua Suddhodana sau khi hay tin thái-tử vượt thành xuất gia thì đêm ngày thương nhớ, lòng dạ héo-hon. Ngài triệu-tập quần-thần đàm luận rồi sai quan Thái-sư cầm đầu một nhóm văn-thần đi mời thái-tử về hoàng cung.

Trong nhóm đó có năm vương-tôn dòng Sakya[12] là các ông Kondanna (Kiều-trần-như), Bhaddiya (Bạt-đề), Dasabala-Kassapa (Thập-lực-Ca-diếp) còn gọi là Vappa (Bà-sư-ba), Mahanama-Kulika (Ma-ha-nam Câu-lỵ), Assaji (Át-bệ, A-xà-du). Phái đoàn đến khu rừng bên bờ sông Anoma, gặp đạo-sĩ Bhargava, hỏi rằng:

- Thưa đạo-sĩ, thái-tử Siddhattha rời thành đi xuất gia có tới đây không?
- Thưa quý ngài, có một đồng-tử tới đây đàm đạo cùng chúng tôi, nhưng hiện giờ có lẽ đang ở nơi vị đạo-sư Alara-Kalama gần thủ đô Vesali của xứ Vajji.

Phái-đoàn liền từ giã đạo sĩ Bhargava và tiếp tục đi đến Vesali, tìm đến đạo tràng Alara-Kalama. Ðến nơi thấy thái-tử mặc áo sa-môn, liền quỳ xuống thưa rằng:

- Kính thưa thái-tử, Ðại-vương tuy đã biết ý thái-tử muốn xuất gia học đạo từ lâu, nhưng ngài vẫn ngày đêm mong nhớ, tinh-thần dã-dượi, thân-thể hao mòn. Xin thái-tử hãy mau trở về hoàng cung, Ðại-vương sẽ dành riêng một nơi yên-tĩnh để thái-tử an tâm tu học, cứ gì phải ở nơi sơn lâm vắng-vẻ mới được.

- Tôi sao không biết nỗi khổ tâm và thâm tình của Phụ-vương. Chính vì muốn giải-quyết tận gốc-rễ các nỗi khổ triền-miên đó của chúng sinh mà tôi phải đi xuất gia tầm đạo.

Vả lại bây giờ Phụ-vương tôi đã có cháu nội là Rahula ở bên cạnh để an ủi và nối nghiệp sau này. Xin quý vị hãy trở về tâu cùng Phụ-vương, khi giải-quyết xong cái khổ nói trên của chúng sinh tôi sẽ trở về.

Thấy thái-tử đã có đầy đủ tướng xuất gia lại một lòng khẳng-khái không lay chuyển, nhóm năm anh em ông Kondanna tình nguyện ở lại bảo-vệ thái-tử, để quan Thái-sư trở về tâu lại với vua.
2- Vị đạo-sư thứ nhất: Alara-Kalama[13]

Khi sa-môn Gotama vừa gặp đạo-sư Alara-Kalama liền đảnh-lễ và nói:

- Thưa đạo-sư, xin đạo-sư cho con thọ giáo và sống đời phạm-hạnh thiêng-liêng dưới sự hướng-dẫn của đạo-sư.

- Hãy ở lại đây với ta, hỡi anh bạn trẻ, cách dạy của ta nhằm giúp người thông-minh sớm nhận thức được giáo-lý cao siêu bằng trí-tuệ trực-giác của chính mình, và thực hiện cuộc sống trong sự chứng-ngộ đó.

Người tu phải diệt trừ chấp thân là ngã, đến khi thành tựu thì thần thức rời khỏi thân như chim sổ lồng, mặc tình bay lượn tự do trong tam giới, đó là giải thoát.

- Thưa đạo-sư, giáo-lý cao siêu mà đạo-sư đã nhận-thức bằng trí-tuệ trực-giác phải được thực hành như thế nào và kết quả như thế nào?

Ðạo-sư Alara-Kalama liền giải-thích cho sa-môn Gotama biết cách tu-tập và các cảnh-giới chứng-ngộ theo thứ lớp như sau:

1- Không tham sống sợ chết, không ham muốn danh lợi tài sản thế gian, nhàm chán các thú vui thế tục, sẵn sàng vui vẻ lìa bỏ tất cả thì đắc Sơ-thiền, đạt Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa (được tâm ly trần bất nhiễm).

Sau khi mạng chung, có thể sanh đến các cõi trời Phạm-chúng-thiên (Brahma-parisajja), Phạm-phụ-thiên (Brahma-purohita), Ðại-phạm-thiên (Mahabrahma).

Người đắc sơ thiền ví như thau nước đục (tâm) để yên lâu ngày, cặn cáu (phiền não) lắng xuống được 8/10, thân tâm nhẹ nhàng vui vẻ; nhưng khi nước bị quấy động, cặn cáu lại nổi trở lên.

2- Xa lìa các thú vui thế-tục, chuyên vui trong thiền-định thì đắc Nhị-thiền, đạt Ðịnh Sanh Hỷ Lạc Ðịa (được tâm định). Sau khi mạng chung, có thể sanh đến các cõi trời Thiểu-quang-thiên (Parittabha), Vô-lượng-quang-thiên (Appamanabha), Quang-âm-thiên (Abhassara).

Người đắc nhị thiền ví như thau nước đục để yên lâu ngày, cặn cáu lắng hết xuống đáy thau, nước trở nên trong suốt, tâm được nhẹ nhàng, định tỉnh, sáng suốt; nhưng khi nước bị quấy động, cặn cáu lại nổi trở lên.

3- Năm căn[14] thanh tịnh. Không còn cảm thọ buồn vui trước ngoại cảnh, tâm luôn luôn an lạc trong chánh niệm thì đắc Tam-thiền, đạt Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa (được năm căn thanh tịnh).
Sau khi mạng chung, có thể sanh đến các cõi trời Thiểu-tịnh-thiên (Parittasubha), Vô-lượng-tịnh-thiên (Appamanasubha), Biến-tịnh-thiên (Subhakinha). Người đắc tam thiền ví như thau nước đục được lắng trong, tất cả cặn cáu đều lắng xuống đáy thau và được vớt bỏ ra ngoài hết 8/10.

4- Sáu căn[15] thanh tịnh. Không còn ý thức phân biệt, không còn cố chấp đúng sai, phải quấy, hay dở, tốt xấu, mê ngộ, chánh tà. Tâm luôn-luôn an lạc, thanh-tịnh, siêu-thoát, không ngăn-ngại thì đắc Tứ-thiền, đạt Xả Niệm Thanh Tịnh Ðịa (được ý căn thanh tịnh).

Sau khi mạng chung, có thể sanh đến các cõi trời Quảng-Quả thiên (Vehapphala), Vô-Tưởng thiên (Asanna), Vô-Phiền thiên (Aviha), Vô-Nhiệt thiên (Atapa), Thiện-Kiến thiên (Sudassana), Thiện-Hiện thiên (Sudassa), Sắc-Cứu-Cánh thiên (Akanittha).
Người đắc tứ thiền ví như thau nước hoàn toàn trong trẻo tinh khiết, không còn một chút cặn cáu. Nước có thể bị quấy động, nhưng vẫn trong trẻo, không bị vẩn đục.

5- Thực-hành thiền-định, hòa mình với vạn vật vô biên. Cảm thấy thân mình và vạn vật đồng một thể tánh, đồng hòa tan trong cõi hư-vô không biên-giới, thì đắc Không-Vô-Biên-Xứ (Akasanantya-yatana), được thân không. Sau khi mạng chung, có thể sanh vào cõi trời Vô-sắc thứ nhứt.

Người đắc Không Vô Biên Xứ ví như nước đã bốc thành hơi, không còn trông thấy, nhưng có thể đong lại thành mây, thành mưa. Người đắc Không-Vô-Biên-Xứ có thể được Thần-Túc-Thông.

6- Thực-hành thiền-định, không còn thấy mình có thân, chỉ còn cái tâm-thức vô-biên, bình đẳng với chúng sanh muôn loài không khác, thì đắc Thức-Vô-Biên-Xứ(Vijnanantya-yatana), được thức không. Sau khi mạng chung, có thể sanh vào cõi trời Vô-sắc thứ hai.

Người đắc Thức Vô Biên Xứ ví như nước đã bốc thành hơi thật nhẹ, không thể đong lại thành mây, thành mưa nữa. Người đắc Thức-Vô-Biên-Xứ có thể được Thiên-Nhản-Thông, Thiên-Nhĩ-Thông và Tha-Tâm-Thông.

7- Thực-hành thiền-định đến khi chứng-ngộ các pháp đều không, không có gì là của mình (Vô-sở-hữu), không có gì để chứng đắc (Vô-sở-đắc), không có gì cần thiết (Vô-sở-dụng), thì đắc Vô-Sở-Hữu-Xứ (Akincanna-yatana), được pháp không. Sau khi mạng chung, có thể sanh vào cõi trời Vô-sắc thứ ba.

Ðó là cõi trời cao nhứt mà tôi đã chứng-ngộ. Ngoài ra không còn gì nữa. Người đắc Vô Sở Hữu Xứ ví như nước đã bốc thành hơi thật nhẹ, vượt ra ngoài bầu khí quyển, chỉ còn một chút tánh ướt. Người đắc Vô-Sở-Hữu-Xứ có thể biết được một số kiếp trước của mình.

Sa-môn Gotama theo lời chỉ-dẫn đó tu-tập vài ngày cũng chứng-ngộ cảnh-giới Vô-Sở-Hữu-Xứ. Nhưng ngài cũng thất vọng vì chưa thấu-triệt được chơn-lý tối-thượng mà ngài mong-ước. Ðạo-sư Alara-Kalama lấy làm hoan-hỷ thấy đệ-tử lỗi-lạc của mình thành công mau chóng, khen rằng:

- Này đạo-hữu, tôi thật vô cùng hoan-hỷ được có một người bạn đồng tu đáng kính như đạo-hữu. Giáo-lý mà tôi đã chứng-ngộ bằng tuệ-giác và đã tuyên-bố thành-đạt, thì nay đạo-hữu cũng đã chứng-ngộ như tôi. Vậy đạo-hữu hãy ở lại đây với tôi, chúng ta hãy cùng nhau hợp sức dẫn-dắt nhóm đạo-sĩ này.

- Thưa đạo-sư, tâm lìa khỏi thân vẫn còn ngã chấp, tức còn sanh tử luân hồi. Con tự thấy cần phải tu tiến thêm nữa vì tâm con chưa hoàn-toàn vắng-lặng, cội-gốc sanh tử chưa dứt trừ, cảnh-giới niết-bàn chưa chứng-ngộ, chơn-lý vô thượng chưa thông đạt. Con xin từ giã đạo-sư để tiếp-tục lên đường tầm đạo.
3- Vị đạo-sư thứ nhì: Uddaka-Ramaputta[16]

Ông Kondanna khuyên sa-môn Gotama nên đến gặp thầy cũ của ông là đạo-sư Uddaka Ramaputta[17] (Uất-Ðầu Lam-Phất) ở gần thành Rajagriha[18] (Vương-Xá), xứ Magadha (Ma-kiệt-đà). Thành Rajagriha, còn gọi là Rajagaha, cách Vesali khoảng 160 km về hướng nam.

Sa-môn Gotama cùng với năm anh em ông Kondanna đi mười ngày đường đến gặp đạo-sư Uddaka Ramaputta. Lúc bấy giờ đạo-sư đã 75 tuổi và có 700 đệ-tử, 300 tu học tại chỗ và 400 ở các địa-điểm khác. Ðạo-sư giảng:

- Thông-thường người ta hay chấp nơi hình-tướng của muôn sự muôn vật, hoặc chấp rằng các sự vật đều không có hình tướng, như vậy đều là lầm-lạc cả. Nên cần suy-xét cho chính-chắn, chỉ lãnh thọ cái thể nhiệm-mầu (l' essence, cái tinh-thể, chơn như) của muôn sự muôn vật mà thôi.

Như vậy mới tránh khỏi mọi vọng chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tâm không còn nghĩ tưởng (được tưởng không), đặng quả giải-thoát cao nhứt, không còn đau khổ nữa, và sanh về cõi trời Phi-tưởng phi-phi-tưởng".

Sa-môn Gotama nhập định vài ngày đã chứng được định Phi-tưởng phi-phi-tưởng (N'eva-sanna-nasanna-yatana), không còn tri-thức cũng không phải không còn tri-thức, tâm-thức trở nên tế-nhị đến đỗi không thể nói là có hay không có tâm-thức. Ví như nước đã rã ra thành oxy và hydro, không phải nước nhưng cũng có thể là nước. Ðược tin nầy đạo-sư Uddaka Ramaputta rất lấy làm vui-vẻ nói:

- Này đạo-hữu Gotama, tôi vô cùng hoan-hỷ được có một người bạn đồng tu tài đức đáng tôn-kính như đạo-hữu. Những gì tôi đã hiểu-biết và chứng-ngộ thì nay đạo-hữu cũng đã hiểu-biết và chứng-ngộ. Vậy thì đạo-hữu hãy ở lại đây để dẫn-dắt nhóm đạo-sĩ này hộ tôi, vì tôi nay đã quá già rồi, không còn ở thế-gian này bao lâu nữa.

- Thưa đạo-sư, con thấy trong cảnh-giới Phi-tưởng Phi-phi-tưởng vẫn còn các hành nghiệp vi-tế làm nhân cho tám cái khổ vi-tế sau đây:

1- Tâm còn sanh niệm, đó là sanh khổ.
2- Niệm niệm nối tiếp nhau, đó là già khổ.

3- Ðộng niệm chưa dứt, định-lực chưa vững, đó là bệnh khổ.
4- Ðịnh-lực còn có thể bị thối chuyển, đó là tử khổ.
5- Còn nhớ nhung, đó là ái biệt ly khổ.

6- Còn có điều không vừa ý, đó là oán tắng hội khổ.
7- Có khi cầu định chẳng đặng vì có sự cản trở, đó là cầu bất đắc khổ.
8- Thọ, tưởng, hành, thức chưa hoàn-toàn dứt, đó là ấm xí thạnh khổ.

Con cầu đạo vô thượng, mong dứt trừ tận gốc rễ mọi hình-thức đau khổ. Chí nguyện chưa thành, nên con xin phép đạo-sư được tiếp-tục lên đường tầm đạo.

- Này đạo-hữu Gotama, đạo-sư Uddaka Ramaputta nói, chí nguyện cao-cả của đạo-hữu thật đáng thán-phục, vậy khi đạo-hữu thành công xin hãy nhớ đến tôi trước.

Tình cờ vua Seniya Bimbisara đến thăm đạo-sư Uddaka Ramaputta, thấy vậy liền đến đảnh lễ sa-môn Gotama và đề nghị chia cho ngài phân nửa giang sơn nếu ngài chịu ở lại Magadha. Sau khi sa-môn Gotama từ chối, nhà vua yêu-cầu sa-môn sau khi thành công nhớ trở lại thành Vương-xá độ ngài.
4- Sáu năm tu khổ-hạnh tại Uruvela

(từ năm 595 đến năm 589 trước tây lịch )

Sa-môn Gotama thấy rằng không còn ai khác giỏi hơn để ngài có thể nương tựa, đã đến lúc ngài phải tự tu tự chứng để đạt sở nguyện. Ngài bèn cùng với 5 người bạn đạo là Kondanna (Kiều-Trần-Như), Bhaddiya (Bạt-Ðề), Vappa còn gọi là Dasabala-Kassapa (Thập-Lực Ca-Diếp), Mahanama-Kulika (Ma-Ha-Nam Câu-Lỵ)

và Assaji (Át-Bệ) từ giã đạo sư Uddaka Ramaputta, đến khổ-hạnh-lâm (tapovana, dukkharakrya) tại làng Uruvela, gần thành phố Gaya, cách Vương-xá khoảng 30 km về phía đông-nam, để chuyên tu khổ hạnh. Vào thời bấy giờ, cho đến nay vẫn còn, ở Ấn-độ, có nhiều đạo-sĩ tin-tưởng mãnh-liệt rằng lối tu khắc-khe ép xác, khổ hạnh có thể khắc phục và thanh-lọc thân tâm, diệt trừ tất cả dục vọng, và đưa đến giải-thoát cùng tột. Dĩ nhiên sa-môn Gotama quyết định trắc-nghiệm pháp môn này.

Ngài đến một hang đá hẻo lánh ở lưng chừng núi Dungsiri, bắt đầu một cuộc tranh-đấu quyết-liệt để khắc-phục thân xác, với niềm hy-vọng rằng một khi đã làm chủ được mọi nhu-cầu phức-tạp và phiền-toái của thân thì tâm sẽ được giải-phóng khỏi sự thống-trị của vật-chất để đạt đến mức độ giải-thoát cao-siêu. Ngài cố-gắng đến mức cùng tột của lối tu khổ-hạnh.

Chỉ ăn lá, rễ cây, vài hột mè, hột đậu mỗi ngày, ngủ rất ít, suốt ngày ngồi thiền hoặc đi kinh-hành. Thân hình ngài chỉ còn da bọc xương, cái rốn gần đụng xương sống. Về sau đức Phật đã kể lại trong kinh Majjhima Nikaya (Trung Bộ) số 36, cảnh ngài tu khổ-hạnh như sau:

"Lúc ấy tư-tưởng sau đây phát sanh đến tôi: Hay là ta thử cắn chặt răng lại, cong đầu lưỡi ép sát vào vòm hàm trên, và dùng tư-tưởng thiện đè bẹp, chế-ngự và tiêu-diệt tư-tưởng xấu.

Thế rồi tôi cắn chặt răng lại, cong đầu lưỡi ép sát vào vòm hàm trên, và cố-gắng đè-bẹp, chế-ngự, tiêu-diệt tư-tưởng xấu bằng những tư-tưởng tốt. Lúc tôi tranh-đấu như vậy thì mồ-hôi từ trong nách tôi chảy tuôn ra.

Như một người mạnh đè đầu đè cổ một người yếu xuống, ấn mạnh xuống, bắt phải thần phục, tôi cũng tranh-đấu như vậy để hàng-phục những tư-tưởng bất thiện. Nghị-lực tôi thật mạnh-mẽ và bất khuất.

Tinh-thần tôi thật vững-vàng không lay-động. Nhưng thân tôi mòn mỏi không còn chịu đựng nổi sự cố-gắng kiên-trì đè nặng lên nó. Mặc dù những cảm-giác đau-đớn đó phát sanh trong thân tôi, nó không ảnh-hưởng đến tâm tôi chút nào."

"Rồi tôi tự nghĩ: Hay là ta hãy tham-thiền về sự nín thở một lần nữa! Rồi tôi kiểm-soát chặt-chẽ sự hít vào và thở ra bằng miệng, bằng lỗ mũi, bằng lỗ tai.

Và khi tôi nín thở thì đầu tôi đau bưng lên khủng-khiếp. Cũng như có một lực-sĩ siết chặt đầu tôi bằng một sợi dây da cứng. Tuy nhiên nghị-lực tôi vẫn mạnh, Những cảm-giác đau-đớn đó không ảnh-hưởng gì đến tâm tôi."

"Rồi tôi tự nghĩ: Hay là ta hãy tham-thiền về sự nín thở một lần nữa! Rồi tôi nín thở bằng miệng, bằng lỗ mũi, bằng lỗ tai. Khi tôi kiểm-soát hơi thở như thế thì một luồng hơi mạnh thọc xuyên qua bụng tôi.

Cũng như có một tên đồ-tể thiện-nghệ hay mới tập-sự đang dùng dao bén rạch bụng tôi. Tuy nhiên nghị-lực tôi vẫn mạnh. Cảm-giác đau-đớn như thế không hề ảnh-hưởng gì đến tâm tôi."

"Một lần nữa, tôi lại tự nghĩ: Hay là ta lại tham-thiền về sự nín thở một lần nữa! Rồi tôi kiểm-soát hơi thở ra thở vào bằng miệng, bằng lỗ mũi và bằng lỗ tai. Khi tôi nín thở thì một hơi nóng kinh-khủng thiêu đốt thân tôi.

Cũng như có hai người lực-sĩ đang nắm chặt tay chân tôi đặt lên một đống than cháy đỏ cho đến khi thân tôi bị thiêu rụi. Dù vậy nghị-lực tôi vẫn mạnh. Cảm-giác đau-đớn như thế không hề ảnh-hưởng đến tâm tôi."

"Lúc bấy giờ có những vị thiên-thần thấy tôi như vậy thì nói với nhau rằng: Ðạo-sĩ khổ-hạnh Gotama đã chết. Vài vị khác nói: Ðạo-sĩ khổ-hạnh Gotama chưa chết, nhưng đang chết dần. Trong khi vài vị khác nói: Ðạo-sĩ khổ-hạnh Gotama chưa chết, cũng không phải đang chết dần vì ngài là một vị A-la-hán. Ðây chỉ là lối sống của một vị A-la-hán."

"Rồi tôi tự nghĩ: Hay ta thử hành pháp tuyệt thực hoàn-toàn! Lúc bấy giờ có những vị thiên-thần đến gần tôi và nói: Thưa ngài, ngài không nên hành pháp tuyệt thực hoàn-toàn. Nếu ngài làm như vậy, chúng tôi sẽ rót thiên-tinh-thể bổ-dưỡng vào thân ngài qua các lỗ chân lông để nuôi sống ngài.

Tôi nghĩ: Nếu ta nói ta hành pháp tuyệt thực mà các thiên-thần lại rót thiên-tinh-thể bổ-dưỡng vào thân qua các lỗ chân lông để nuôi sống ta, té ra ta gian-dối. Thôi ta không cần phải tuyệt thực."

"Rồi tôi lại nghĩ: Hay ta chỉ thọ thực mỗi ngày một bụm nước đậu hoặc rau cỏ!

Khi tôi chỉ dùng thật ít vật thực đặc hoặc lỏng như thế thì thân tôi trở nên gầy khô như những cọng sậy ghép lại với nhau. Bàn tọa của tôi chỉ còn bằng cái móng chân con lạc-đà.

Xương sống tôi như một xâu chuỗi dựng đứng lên và cong vào. Xương sườn tôi tựa như một cái sườn nhà bị sụp đổ. Tròng mắt tôi chẳng khác nào hình ảnh những ngôi sao dưới đáy giếng sâu. Da đầu tôi rụng tóc, nhăn nheo như một trái mướp phơi khô. Khi muốn rờ da bụng thì tay tôi đụng nhằm xương sống. Khi muốn rờ xương sống thì tay tôi đụng nhằm da bụng.

Vì thiếu vật thực, da bụng tôi ép sát vào xương sống. Lúc muốn đứng dậy đi tiểu tiện thì tôi luống-cuống té ngã xuống. Tôi đập nhẹ tay chân cho thân mình tôi sống lại. Than ôi, lúc đập như thế, lông trên mình tôi lả-tả rơi xuống đất vì đã chết gốc. Những người thấy tôi như vậy thì nói:

Ðạo-sĩ Gotama da đen. Có người lại nói: Ðạo-sĩ Gotama da không phải đen mà xanh. Có người lại nói: Ðạo-sĩ Gotama không đen, không xanh mà nâu sậm. Màu da sáng sủa của tôi trở nên tàn-tệ đến như thế vì thiếu vật thực."

"Rồi tôi tự nghĩ: Dù các đạo-sĩ khổ-hạnh hay Bà-la-môn trong quá khứ đã chịu đựng những cảm-giác nhức-nhối, đau-đớn, xót-xa như thế nào thì cũng đến mức này là cùng, không thể hơn nữa.

Dù các đạo-sĩ khổ-hạnh hay Bà-la-môn trong tương-lai sẽ chịu đựng những cảm-giác nhức-nhối, đau-đớn, xót-xa như thế nào thì cũng đến mức này là cùng, không thể hơn. Tuy nhiên, dù đã trải qua bao nhiêu khắc-khổ, khó-khăn, đau-đớn, tôi vẫn chưa đạt được sự giác-ngộ tối thượng về nội tâm vượt lên trên trạng-thái con người. Hay là còn con đường nào khác dẫn đến sự Chứng-Ngộ tối thượng?"

Thấy sa-môn Gotama đã gần kề cái chết mà chưa đạt được chí nguyện, Ma-Vương liền hiện đến gần ngài và nói:

"Này đạo-sĩ gầy còm, thân hình tiều-tụy! Giờ chết đã gần kề. Thân thể ngươi đã chết mòn gần hết, chỉ còn lại một phần ngàn. Nhưng hãy sống, hỡi đạo-sĩ, đời sống rất tốt đẹp. Có sống mới tạo được phước. Hãy sống độc thân và năng cúng tế thần lửa, ngươi sẽ tạo được nhiều phước báo. Ép mình sống đời khổ-hạnh như thế này để làm gì? Con đường kiên-trì nỗ lực quả thật kham-khổ, khó-khăn, không phải dễ thành-tựu".

Sa-môn Gotama đáp:

"Này Ma-Vương xấu-xa, quỉ-quyệt, thân quyến của tội-lỗi và lười-biếng. Ngươi chỉ đến đây vì lợi ích riêng của ngươi. Ta tu hành với niềm tin vững-chắc, với sự kiểm-soát thân tâm chặt-chẽ, với sự tinh-tấn và trí-huệ.

Ta đã quyết tâm như vậy, sao ngươi còn muốn lung-lạc ta? Máu cạn thì mật khô, thịt cũng hao mòn. Thịt ta càng hao mòn thì tâm ta càng thanh-tịnh. Tâm ta càng thanh-tịnh thì càng an-trụ, càng sáng-suốt, định-lực càng vững-chắc. Thể-xác càng đau-đớn thì tâm càng xa lìa tham ái. Chừng ấy ta biết rõ thế nào là sự trong sạch của một chúng sanh.

"Tham vọng là đạo binh số một của ngươi. Ðạo binh thứ nhì là bất mãn, thứ ba là thèm khát, thứ tư là ái dục, thứ năm là hôn trầm, thứ sáu là sợ hãi, thứ bảy là hoài nghi, thứ tám là giả dối, ngu si, thứ chín là lợi-lộc, khen tặng, vinh-dự, thứ mười là tự cao và khinh người.

"Này Ma-Vương, đó là quân đội của ngươi, đó là khách luôn luôn ẩn náo bên trong hạng người xấu-xa quỉ-quái như ngươi. Người hèn nhát yếu đuối thì không thắng nổi, nhưng ai đã chế ngự được đạo binh ấy là tìm được hạnh-phúc.

"Ta cột trên ngọn cờ của ta chùm cỏ Munja[19]. Sống đời hèn nhát trên thế-gian này thật là nhục nhã! Ta thà chết trên chiến-trường còn hơn sống mà thất-bại!"[20]

Nghe đến đây Ma-Vương lộ vẻ thất vọng, chán nãn, buồn rầu, bỏ đi.

Gần 6 năm tu khổ hạnh, sức lực sa-môn Gotama càng ngày càng suy yếu, thân thể gầy còm do sự nhịn ăn, thức đêm, thức ngày. Có khi ngài bị ngất xỉu trong lúc ngồi thiền dưới cội cây hoặc lúc đang đi kinh hành. Hiện nay còn có một động đá ở lưng chừng núi Dungsiri, vùng Uruvela, cách Bodh-Gaya khoảng 5 km về hướngđông bắc, kỷ niệm nơi ngài tu khổ hạnh. Trước động đá hiện có một ngôi chùa Tây-Tạng.

Một hôm, đang ngồi thiền cạnh bờ sông Nairanjana (Ni-liên-thiền), sa-môn Gotama bỗng nghe tiếng một giáo-sư âm-nhạc đang dạy học-trò trên một chiếc thuyền đi ngang qua: "Con nên nhớ, lên dây đàn phải vừa đúng độ căng, tiếng đàn mới thanh-tao. Nếu dây dùng quá thì tiếng đàn mềm nhũng điếc câm, nếu dây căng quá thì dây phải đứt ". Ðang lúc thân-thể suy-tàn cùng-cực, sa-môn Gotama bừng ngộ pháp tu trung đạo.
E- ÐỨC PHẬT THÀNH ÐẠO

Năm 29 tuổi (-595) thái tử Siddhattha rời bỏ hoàng cung, đến bờ sông Anoma thuộc làng Anupiya, xứ Malla, tham vấn ông Bhargava đang tu khổ hạnh; kế đến một làng gần thủ đô Vesali, xứ Vajji (Bạt-Kỳ), học với vị đạo sư thứ nhất là Alara-Kalama, đạt đến bậc thiền Vô Sở Hữu Xứ.

Rồi ngài lại đến Rajagriha (Vương Xá), thủ đô xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), học với vị đạo sư thứ hai là Uddaka-Ramaputta về bậc thiền Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Chỉ độ vài ngày đã học hết sở học của thầy.

Nhưng chưa được thỏa mãn với trình độ chứng ngộ đó, ngài đến làng Uruvela bên bờ sông Nairanjana chuyên tu khổ hạnh trong 6 năm nữa. Sau đó ngài lại bỏ lối tu khổ hạnh để lập ra pháp tu trung đạo, và 49 ngày sau, ngài thành đạo dưới cội cây Bồ-đề.
1- Chọn lối tu trung-đạo

Năm 589 trước tây lịch, Sa-môn GOTAMA được 35 tuổi, trong lúc thân thể suy nhược cùng cực, ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh chỉ giúp người tu diệt trừ các dục vọng, làm chủ các đòi hỏi của thân xác; nhưng với thân thể suy yếu, tâm thức không thể đạt đến giác ngộ hoàn-toàn.

Từ chỗ ngồi, ngài loạng choạng đứng lên, cử động và nắn bóp tay chân cho đở tê, râu tóc và quần áo mục nát trên thân ngài rơi lả tả xuống đất. Ngài tìm đến một bãi tha ma gần đó lượm một bộ y phục, xuống sông giặt giũ, tắm rửa, rồi mặc vào, đi lần vào xóm khất thực. . .

Từ nay ngài áp dụng lối tu trung đạo, không quá hành xác cũng không quá buông lung, chỉ ăn uống vừa đủ cho có sức khoẻ để giữ cho tinh thần được sáng suốt.

Ngài bắt đầu phân định giờ giấc tham thiền, khất thực, độ ngọ, kinh hành, nghỉ-ngơi, nhưng vẫn giữ "tam thường bất túc" nghĩa là ba thứ ăn, ngủ và nghỉ không được quá đầy đủ mà phải hơi thiếu.

Năm anh em ông Kondanna thấy vậy cho rằng ngài đã thối chí ngã lòng trong việc tu-tập, quay về đời sống lợi-dưỡng, nên cùng nhau rời ngài đi đến vườn nai (Lộc uyển) tại làng Isipatana, hiện nay là Sarnath, cách Gaya khoảng 204 km về hướng tây tây-bắc tiếp tục tu khổ hạnh. Thành phố Sarnath cách thành phố lớn Varanasi (tên cũ là Benares) 10 km về hướng bắc.

Sa-môn Gotama, trong sáu năm tu khổ hạnh, rất nhờ sự giúp-đỡ tận tình của năm anh em ông Kondanna về tinh-thần cũng như vật-chất. Bây giờ còn lại một mình, trong cảnh cô-đơn, ngài phải tự giải-quyết những vấn-đề phức-tạp, khó-khăn, từ lớn đến nhỏ, nhưng ngài không nản chí ngã lòng. Ngài thường đến bờ sông Nairanjana (Ni-liên-thiền, hiện nay là sông Phalgu) ngồi thiền định trên bãi cát.

Một hôm, có hai cô bé chăn bò tên Nanda và Bala[21] đang dắt bò xuống sông tắm. Hai cô thấy sa-môn Gotama y-phục tả-tơi, thân-thể gầy yếu, nhưng nét mặt trang-nghiêm, hiền-lành, thanh-thoát, đang ngồi thiền định, thì sanh lòng kính mến liền lựa một con bò cái thật tốt, tắm rửa cho nó sạch-sẽ rồi tự tay vắt lấy sữa, nấu chín, tới nơi thành kính quỳ gối dâng lên. Sa-môn Gotama nhận sữa rồi chú nguyện rằng:

- Tôi vì lòng độ sinh nên dùng món ăn này, nguyện được khí lực khoẻ mạnh; người dâng cúng đời đời được thức ăn ngon, thân thể hùng tráng, được tâm từ, bi, hỷ, xả, an-lạc, không tật bệnh, sống lâu, giàu bền, trí-tuệ đầy đủ.

Chú nguyện xong, ăn rồi, ngài cảm thấy thân-thể khoẻ-mạnh, khí-lực sung-túc. Ngài thầm nghĩ rằng: "Sáu năm khổ hạnh, áo rách tả-tơi,vậy ta nên đổi tấm áo phẩn-tảo[22] này". Sa-môn Gotama đi lần xuống sông Nairanjana giặt áo, tắm rửa vừa xong thì có vị trời Tịnh-cư dâng áo cà-sa cúng-dường. Sa-môn Gotama bỏ áo phẩn-tảo, mặc áo cà-sa rồi từ-từ đi tới mé rừng, tìm một cội cây mát-mẻ để ngồi thiền-định.

Thông-thường ngài nằm nghỉ từ canh ba đến canh năm dưới một cội cây. Khi sao mai vừa ló dạng, ngài thức dậy, xuống sông rửa mặt rồi tìm nơi ngồi thiền-định. Ðến giờ tỵ ngài đi khất thực trong xóm làng gần đó. Sau khi độ ngọ xong, ngài đi kinh-hành, xuống sông tắm, rồi lại tìm nơi mát-mẻ ngồi thiền-định.

2- Ðêm thành đạo [23] (năm -589)

Ðến ngày thứ 49 kể từ lúc năm anh em ông Kondanna bỏ đi, trong lúc ngài đang ngồi thiền định dưới gốc cây cổ-thụ Ajapala[24] (cách cây Bồ-đề độ 100m về hướng đông, hiện nay có dựng bảng kỷ-niệm gần cổng vào Bồ-Ðề Ðạo-Tràng), sắp đi khất thực, thì có hai chị em nàng Sujata, con ông xã trưởng Senani, mang bát cháo sữa (kheer)

đến cúng vị Thần gốc cây để tạ ơn vị Thần đã giúp người chị toại nguyện theo lời khấn vái cầu con trước đây; thấy sa-môn Gotama tướng mạo trang nghiêm tươi sáng đang tĩnh-tọa, hai nàng tưởng là vị Thần hiện ra nhận lễ vật nên hai nàng đặt bát cháo sữa bằng vàng trước mặt sa-môn Gotama, cung-kính đảnh-lễ rồi ra về.

Sau khi ăn xong bát cháo sữa[25], sa-môn Gotama thấy cơ thể khoẻ mạnh lạ thường nên không đi khất thực mà chỉ đi kinh-hành trong chốc lát rồi xuống sông Nairanjana tắm.

Ngài nhận thấy thân mình hôm nay trở nên vô cùng tươi sáng, đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, da màu vàng ròng rực-rỡ. Ngài vô cùng phấn-khởi, sau khi rửa bát xong, ngài để cái bát bằng vàng trên dòng nước và nguyện rằng: "Nếu hôm nay ta được chứng quả thành Phật, thì nguyện cho cái bát nầy nổi trên mặt nước và trôi ngược lại dòng sông ".

Quả nhiên cái bát nổi phêu trên mặt nước và trôi ngược lại dòng sông 80 sải tay, đến khi gặp phải một xoáy nước mạnh thì chìm xuống đáy sông. Sa-môn Gotama hăng-hái đi trở lên bờ, đến cây Pippala[26] (ficus religiosa, cây Bồ-đề) to lớn, cành lá sum-sê.

Nơi đây rất thích-hợp cho việc thiền-định, vừa có bóng mát, vừa khoảng-khoát sáng-sủa, có rừng cây phía sau lưng, có con sông chảy ngang trước mặt với bãi cát vàng rộng lớn, phong cảnh thật thanh-nhàn. Ðến trước cội cây, ngài thầm nghĩ: "Dưới cội cây nầy, làm thế nào có một tòa ngồi cho yên-tĩnh trang-nghiêm ".

Bỗng thấy một em bé gánh cỏ đi ngang qua đó, Sa-môn Gotama gọi lại hỏi xin một mớ cỏ để làm tòa ngồi. Em bé vui-vẻ và cung-kính dâng ngài sáu bó cỏ sắc (kusha) mềm-mại như lông cổ chim công, mùi thơm ngào-ngạt. Ngài cám ơn và hỏi:

- Cháu tên gì? Năm nay cháu mấy tuổi?

- Thưa ông, cháu tên Sotthiya Svastika (Cát-Tường). Năm nay cháu được 9 tuổi. Mà ông xin cỏ để làm gì? Bộ ông có nuôi trâu bò hả?

- Không phải, tôi đã xuất gia đi tu, đâu có nuôi trâu bò gì. Tôi chỉ xin cỏ để chêm ngồi cho êm và thẳng lưng để có thể ngồi lâu được. Tôi chỉ mong được giác ngộ thành Phật để cứu độ chúng sinh khỏi mọi đau khổ ở đời.

- Thưa ông, bộ ngồi lâu trên đống cỏ thì sẽ được giác ngộ thành Phật hả?

- Không phải vậy đâu cháu. Ngồi kiết già, lưng thẳng đứng chỉ là phương tiện giúp cho sự thực hành Chỉ Quán chóng đạt đến Ðịnh Huệ. Nhưng muốn giác ngộ thành Phật còn phải thực hành đầy đủ các hạnh Từ Bi Hỷ Xả nữa mới được.

Nếu cháu muốn học thì khi cháu lớn lên và tôi đã thành đạo rồi, tôi sẽ dạy cho. Hôm nay, tôi vì chúng sinh đau khổ, nguyện ngồi dưới gốc cây này cho đến khi chứng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, nếu chưa toại nguyện thì dù tan xương nát thịt quyết không đứng lên.[27]

Nói rồi, ngài xấp cỏ thành tọa-cụ và bồ-đoàn[28], ngồi kiết-già, lưng thẳng đứng hướng về phía gốc cây, mặt hơi cúi xuống nhìn về hướng đông, phía bờ sông Nairanjana. Tức thì thế-giới chấn-động sáu lần, làm rung-chuyển cả trời đất.

Trên không trung từng đàn chim vui mừng bay liệng, trong cành lá đủ giọng hót thánh-thót líu-lo, tám bộ chúng trời rồng[29] mang hương hoa đến múa hát và hòa tấu nhạc khúc cúng dường.

Bồ-tát Gotama ngồi trên tòa cỏ, đầy đủ thế lực hùng mạnh như sư-tử; trí-tuệ sáng-suốt như vừng thái-dương. Ngài bắt đầu thực-hành các pháp thiền-định (Jhana, Dhyana) theo thứ lớp từ thấp lên cao như sau:

1 - Quán niệm hơi thở (anapana-sati) để thanh-lọc và ổn-định thân tâm.

2 - Khởi tâm lìa ái dục và vọng tưởng bằng cách quán Tứ Niệm Xứ, nhập Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa, an trụ SƠ THIỀN (Không tham sống sợ chết, không ham muốn danh lợi tài sản thế gian, không đắm nhiễm các thú vui thế tục, sẵn sàng vui vẻ lìa bỏ tất cả)

3 - Xuất sơ thiền, bỏ quán chiếu. Giữ tâm an lạc tập trung vào một điểm, nhập Ðịnh Sanh Hỷ Lạc Ðịa, an trụ NHỊ THIỀN (Xa lìa các thú vui thế tục, chuyên vui trong thiền định)

4 - Xuất nhị thiền, bỏ cái vui thiền định. Giữ tâm an nhiên, bình đẳng trước mọi cảm thọ khổ vui, nhập Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa, an trụ TAM THIỀN (Năm căn thanh tịnh, không đắm nhiễm năm trần)

5 - Xuất tam thiền, lìa tất cả cảm thọ khổ vui. Giữ tâm an lạc, thanh tịnh, bình đẳng trước ngoại cảnh, nhập Xả Niệm Thanh Tịnh Ðịa, an trụ TỨ THIỀN Sáu căn thanh tịnh, không đắm nhiễm sáu trần)

6 - Xuất tứ thiền. Quán thân mình hòa tan vào cõi hư-vô không biên-giới để nhập Không-Vô-Biên-Xứ định (Akasanantya-yatana). An trụ Thân Không.

7 - Xuất Không Vô Biên Xứ định. Quán thân mình không còn, chỉ còn cái tâm-thức vô-biên mà thôi để nhập Thức-Vô-Biên-Xứ định (Vijnanantya-yatana). An trụ Thức Không.

8 - Xuất Thức Vô Biên Xứ định. Quán tất cả sự vật đều hoàn-toàn trống không, vô-sở-hữu, vô-sở-đắc, vô-sở-dụng, để nhập Vô-Sở-Hữu-Xứ định (Akincanna-yatana). An trụ Pháp Không.

9 - Xuất Vô Sở Hữu Xứ định. Quán thân, tâm mình và toàn thể vạn vật đều trống không, không còn gì để nghĩ tưởng, để nhập Phi-Tưởng-Phi-Phi-Tưởng-Xứ định (N'evasanna-nasanna-yatana). An trụ Tưởng Không

10 - Rồi nhân lúc tinh-thần sảng-khoái, định lực kiên-cố, chí cả quyết thành, ngài được tri-giác khai thông, nhập Ðại-định, cảm thấy năm uẩn[30] đều không, mười tám giới[31] chẳng có, ngã-chấp tiêu-tan, được Ngã Không, đi vào Diệt-Thọ-Tưởng định (Nirodha-samapatti), chứng được Phương Quảng thần-thông du-hý, Thủ-Lăng-Nghiêm định, đầy đủ đức tướng trang-nghiêm, đảnh phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương Phật quốc, khiến cho trời, người vui-vẻ, địa-ngục sáng choang, Ma-vương kinh-sợ.

Bấy giờ từ giữa hai lông mày, Bồ-tát phóng ra một đại đạo hào-quang, chiếu tới cung-điện của Ma-vương[32], làm át mất ánh sáng trên thiên-cung (Tha-hóa-tự-tại thiên). Ma-vương biết Bồ-tát sắp thành đạo Bồ-đề, triệu tập tất cả họ hàng, thiên ma, thiên binh, thiên tướng đến, dạy rằng:

- Hiện nay có một người dòng Sakya sắp thành đạo vô thượng tại Gaya ở cõi Diêm-phù-đề. Chúng ta phải mau đem binh tướng đến nơi, phá-hoại cho bằng được, nếu không thì cung-điện của chúng ta sẽ sụp-đổ, uy-thế và quyền-lợi của chúng ta sẽ lần hồi mất hết.

- Kính lạy Phụ-vương, con của Ma-vương là Thương-Chủ thưa, xin Phụ-vương chớ đem lòng thù oán với Bồ-tát Gotama, mà làm những điều ác nghịch với ngài, con e cha hối không kịp, xin cha hãy nghĩ lại.

- Chà! Con còn nhỏ, chưa từng biết sức thần-thông biến-hóa của cha, con đừng xen vào quyết-định của cha.

- Thưa cha, chẳng phải con không biết thần-thông uy-lực của cha, trái lại chính cha chưa rõ thần-thông, phúc-đức, oai-lực rộng lớn của Bồ-tát Gotama. Nếu cha không tin, lúc đến nơi cha sẽ biết.

- Thôi đi! Ðừng nói nữa! Cha là Vị Trời tối cao ở cõi Dục này. Tất cả đều phải chết dưới uy lực của cha. Ái dục, tham lam, giận tức, si mê là vũ khí sắc bén của cha, không ai tránh khỏi. Con hãy xem đây.

Nói rồi Ma vương Ba-Tuần liền điều-động bốn đạo thiên binh, thiên tướng, quyết đến nơi tiêu diệt vị sa-môn sắp thành đạo. Hằng ngàn binh tướng, đầu trâu mặt ngựa, kỳ hình dị tướng, gầm thét vang trời, nổi mưa giông, sấm sét, ngập lụt, bắn tên lửa tới tấp như mưa. Nhưng Bồ-tát Gotama vẫn ngồi yên bất động, không vật gì chạm được đến mình Bồ-tát. Ngài nói:

- Này Ma Ba-Tuần, kiếp trước ngươi đã từng làm chủ một ngôi chùa, thọ tám giới, mỗi ngày cúng một bát cơm cho một vị Bích-Chi-Phật. Nhân phúc đức ấy nên được sanh về cõi trời Tha-Hóa-Tự-Tại làm Ðại Ma-vương. Còn ta đã từng cúng-dường vô lượng chư Phật trong vô số kiếp, công đức không thể nghĩ bàn, thì ngươi làm sao hại ta được. Thôi, ngươi hãy đi đi, nếu còn ngoan-cố, mất hết phước báo, sẽ bị đọa trong ba đường ác[33].

- Này đạo sĩ Gotama, đừng khoác lác, chính nhờ những công đức tối thượng mà ta mới được làm Chúa Tể cõi Dục này. Tất cả mọi người ở thế gian đều biết. Còn ngươi chỉ là một đạo sĩ quèn, ngồi một mình dưới gốc cây, thì có công đức gì? Ai làm chứng cho ngươi?
- Này Ma Ba-Tuần, đại địa này là bà mẹ vô tư của muôn loài chúng sanh sẽ làm chứng cho ta.

Vừa nói Bồ-tát Gotama vừa dũi tay phải chấm đầu ngón tay xuống đất. Ðại địa bỗng chấn động sáu cách, tiếng đại hồng chung trong các đền thờ xung quanh ngân lên vang dội, một vùng đất lớn trườc mặt Bồ-tát nứt ra, vị Ðại Ðịa thần Sthavara nhô nửa người lên khỏi mặt đất với đầy món trang sức quý báu trên mình, cung kính đảnh lễ trước Bồ-tát và nói:

- Kính thưa Ðại Bồ-tát, con xin làm chứng về vô lượng công đức không thể nghĩ bàn của Bồ-tát trong quá khứ.

Nói xong, Ðịa thần trợn mắt nhìn Ma Vương, rồi rút mình xuống đất; mặt đất liền lại như cũ. Binh tướng của Ma-vương bỏ chạy tán loạn. Ma-vương vừa hoảng sợ vừa hổ thẹn vội rút binh về. Khi ấy con của Ma-vương là Thương-Chủ hiện đến trước mặt Bồ-tát Gotama, đảnh lễ sát đất và sám-hối rằng:

- Kính lạy Bồ-tát! Xin ngài từ bi hỷ xả, nhận lòng thành kính sám-hối của con, tha-thứ cho cha con là kẻ phàm ngu đã trót phạm tội não loạn Bồ-tát. Chúng con xin cầu nguyện Bồ-tát chóng thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Nhưng Ma Vương chưa chịu thua, quyết dùng độc kế cuối cùng. Vừa về đến thiên cung, liền gọi ba cô con gái đến bảo:

- Các con hãy hóa-trang và ăn mặc cho thật đẹp, xuống cõi Diêm-phù-đề, gặp sa-môn dòng Sakya đang ngồi nhập định dưới cội cây pippala gần thành-phố Gaya, ra tài múa hát, trêu chọc, khêu gợi dục tình, khiến cho hắn mất hết thần-thông, không thể thành đạo vô thượng có hại cho chúng ta.

Ba cô gái tên là Tanha (Ái Dục), Arati (Bất Mãn) và Raga (Tham Vọng) nghe theo lời cha, hóa ra ba nàng tiên tuyệt đẹp, hình dung yểu-điệu, nhan-sắc xinh tươi, cùng nhau đi đến chỗ Bồ-tát Gotama đang ngồi, giả đem hương hoa cúng dường, rồi múa hát, lần lần tìm cách gợi chuyện, trêu chọc, tỏ tình, quyến rủ.

Nhưng Bồ-tát vẫn ngồi an-nhiên bất động, tâm trí bền vững như núi Tu-di. Ba cô thấy thế, ngạc-nhiên, đến trước mặt Bồ-tát xem ngài còn sống hay đã chết. Bồ-tát bảo rằng:

- Các ngươi đã trồng căn lành nhiều đời, nay được làm thiên-nữ, hưởng phước báo nơi cõi trời, sao không nhớ thân này là vô thường, có ngày hoại diệt, còn có thái-độ vô lễ đối với ta? Thân hình tuy đẹp mà tâm bất chính có khác chi cái túi da đựng đồ nhơ bẩn, lại đây làm chi, hãy đi đi, ta không dùng.

Nói rồi ngài đưa tay lên chỉ mặt, tự nhiên ba cô tiên biến dạng thành ba bà lão da nhăn, tóc bạc, lưng còng, loạng-choạng đứng không vững. Ba cô hoảng sợ lật-đật bỏ chạy về thiên cung trình lại với Ma-Vương Ba-Tuần.

Vua trời Ðại-phạm (Brahma), vua trời Ðao-lợi (Sakka Indra, Thích-Ðề-Hoàn-Nhơn hay Ðế-Thích) và vô số các vị trời đứng đầy cả hư-không, nhìn thấy Bồ-tát Gotama hàng-phục Ma-Vương, ai nấy đều vui mừng, đồng thanh tán-thán:
- Hay lắm! Hay lắm! Chưa từng có! Chưa từng có! Bồ-tát Gotama giờ đây đắc đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác!

Các vị trời vui mừng, tung hoa, rắc hương, tấu nhạc cúng dường.

Sau khi hàng-phục Ma-Vương xong, Bồ-tát Gotama tiếp-tục nhập Diệt-Thọ-Tưởng định và bắt đầu cuộc chiến thắng vẻ-vang trong trận giặc cuối cùng hết sức tế-nhị và khó-khăn gồm ba giai-đoạn:

1- Tận diệt các vi-tế phiền-não (Kammavasa) còn ẩn náo trong tâm làm nghiệp nhân cho sanh tử luân hồi (Samsara). Ðến canh một đêm đó ngài toàn thắng trận giặc nầy và chứng Túc-Mạng-Minh (Pubbe-nivasanussati-nana): Ngài biết rõ tất cả các tiền kiếp của ngài, ở thời-đại nào, tên gì, sanh trưởng trong gia-đình nào, giai-cấp nào, sinh sống ra sao, vui thích và đau khổ thế nào, chết cách nào, rồi tái sanh vào cảnh nào, vân vân ...

2- Tận diệt các vi-tế vô-minh (Avidyasava). Ðến canh ba ngài toàn thắng trận giặc nầy và chứng Thiên-Nhãn-Minh (Cutupapata-nana): Ngài biết rõ tất cả sự biến chuyển của vạn vật qua các giai-đoạn thành, trụ, hoại, không; và biết rõ chúng sanh ở thời-đại nào, tên gì, sanh trưởng trong gia-đình nào, giai-cấp nào, sinh sống ra sao, vui thích và đau khổ thế nào, tạo nghiệp gì, chết cách nào, rồi tái sanh vào cảnh nào, vân vân ... Ngài biết rõ tất cả nhân duyên nghiệp báo của chúng sanh, từ đó suy ra luật Nhân-Quả Luân-Hồi.

3- Tìm ra phương cách giúp chúng sinh chấm dứt phiền-não và vô-minh, đạt đến giác-ngộ hoàn-toàn, thoát ra khỏi vòng sanh-tử luân-hồi. Ðến canh năm, sao mai vừa ló dạng, vào ngày mồng tám tháng chạp âm lịch[34] năm Nhâm Thân (đầu năm -589), ngài chứng Lậu-Tận-Minh (Asavakkhaya-nana):

Do đã biết rõ tất cả các tiền kiếp của chính bản thân mình và của mỗi chúng sinh, nên ngài nhận thấy rõ-ràng đâu là khổ, đâu là nguyên-nhân của khổ, đâu là hạnh-phúc chân-thật vĩnh-cửu, và làm thế nào để đạt được hạnh-phúc chân-thật vĩnh-cửu đó.

Ngài đã tìm ra Tứ-Diệu-Ðế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo).
Ðức Phật liền đọc lên bài kệ[35] đầu tiên sau khi thành đạo như sau:
Lang-thang bao kiếp luân-hồi,

Tìm hoài chẳng gặp kẻ xây cất nhà[36].
Tử sanh phiền-não thật mà!
Này ông thợ chánh, ta đà thấy ông[37].

Chớ hòng xây cất, đừng mong,
Sườn nhà[38] sụp nát, đòn dông[39] không còn.
Như-Lai đạo quả đã tròn,

Ái-dục dứt sạch, chẳng còn ngã nhơn. (Kinh Pháp-Cú, bài 153 và 154)

Bồ-tát Gotama đã trở thành bậc toàn thiện toàn giác (accariya manussa), là bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác (anuttara samma sambodhi), là đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni (Sakyamuni Buddha). Ngài là bậc duy nhứt trong các cõi trời và cõi thế-gian có đầy-đủ mười đức-hiệu sau đây:

1- Như-lai = Thân tâm bất động, không dời đổi.
2- Ứng cúng = Xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của trời và người.
3- Chánh biến tri = Trí-tuệ thông suốt. Hiểu biết tất cả đúng như thật.

4- Minh hạnh túc = Ðầy đủ các hạnh cao-thượng.
5- Thiện thệ = Ðã làm đủ các hạnh nguyện cao-thượng.
6- Thế-gian giải = Biết giải-thích tất cả mọi sự việc ở thế-gian.

7- Vô thượng sĩ = Không còn ai cao quí hơn.
8- Ðiều-ngự trượng-phu = Có đầy đủ khả năng điều-phục, chế-ngự và ủng-hộ chúng sanh thoát mê, đạt ngộ.

9- Thiên nhơn sư = Là bậc thầy của các cõi trời và cõi người.
10- Phật Thế-tôn = Là bậc sáng-suốt, giác-ngộ hoàn-toàn.
3- Tuần-lễ đầu tiên sau khi thành đạo

Ðức Phật ngồi không cử-động dưới tàng cây Bồ-đề để chứng nghiệm Hạnh-Phúc Giải-Thoát (Vimutti-sukha). Trong đêm cuối tuần ngài xuất thiền và suy niệm về Thập Nhị Nhân Duyên[40] (Paticca-samuppada). Nhân và Duyên là nguyên-nhân chánh và các nguyên-nhân phụ làm phát sanh sự sống.

Ví-dụ: Sở-dĩ có cây xoài mọc lên là vì có nguyên-nhân chánh là hột xoài, và các nguyên-nhân phụ là đất, nước, ánh sáng, không-khí, khí-hậu ... thích-hợp cho sự phát triển của hột xoài thành cây xoài. Mười hai nhân duyên là 12 yếu-tố chánh làm nhân và duyên cho nhau để phát sanh hiện-tượng sanh tử luân hồi của chúng sanh. Muốn chấm-dứt dòng sanh tử luân hồi đó thì phải dứt trừ một trong 12 yếu tố đó, và phải biết yếu tố nào dễ trừ nhứt đối với mình.

Các yếu tố dễ trừ nhứt là Ái, Thủ và Vô-minh. Dứt trừ Ái-dục là chận đứng không cho 6 căn duyên theo 6 trần. Dứt trừ Thủ là thật hành hạnh bố-thí. Dứt trừ Vô-minh là phải học giáo-lý và thiền quán để biết rõ thân tâm và vạn vật đều vô thường, vô ngã; để biết rõ Chơn-tâm, Phật-tánh của mình mới thật là thường, lạc, ngã, tịnh.
Vào canh một đêm đó, Ðức Phật bắt đầu suy luận theo chiều sanh khởi (anuloma) như sau: Khi cái này có thì cái kia có, khi cái này phát sanh thì cái kia phát sanh.

Do Vô Minh[41] (Avijja) phát sanh, nên Hành (Samkhara) phát sanh.
Do Hành[42] phát sanh, nên Thức (Vinnana) phát sanh.
Do Thức[43] phát sanh, nên Danh (Nama) và Sắc (Rupa) phát sanh.

Do Danh và Sắc[44] phát sanh, nên Sáu Căn (Salayatana) phát sanh.
Do Sáu Căn[45] phát sanh, nên Xúc (Phassa) phát sanh.
Do Xúc[46] phát sanh, nên Thọ (Vedana) phát sanh.

Do Thọ[47] phát sanh, nên Ái (Tanha) phát sanh.
Do Ái[48] phát sanh, nên Thủ (Upadana) phát sanh.
Do Thủ[49] phát sanh, nên Hữu (Bhava) phát sanh.

Do Hữu[50] phát sanh, nên Sanh (Jati) phát sanh.
Do Sanh[51] phát sanh,nên Bệnh, Lão và Tử (Jara-marana),
Phiền-não, Ðau-khổ phát sanh.
Toàn khối đau-khổ trong cuộc sống hiện tại đã phát sanh như thế.

Rồi Ðức Phật nói bài kệ[52] sau đây:
Khi các thực-tại hiển bày,
Thánh-nhơn thiền-định, rõ ngay ngọn ngành.
Nhân nào quả nấy đành-rành,

Các duyên phò-trợ phát sanh luân-hồi. (Trích trong Vinaya-pitaka)

Khoảng canh ba đêm đó, Ðức Phật suy-luận theo chiều hoại-diệt (patiloma) như sau: Khi cái này không còn thì cái kia cũng không còn, khi cái này diệt thì cái kia cũng diệt.
Khi hết Vô-minh thì Hành chấm dứt.
Khi hết Hành thì Thức chấm dứt.

Khi hết Thức thì Danh và Sắc chấm dứt.
Khi hết Danh và Sắc thì Sáu Căn chấm dứt.
Khi hết Sáu Căn thì Xúc chấm dứt.

Khi hết Xúc thì Thọ chấm dứt.
Khi hết Thọ thì Ái chấm dứt.
Khi hết Ái thì Thủ chấm dứt.

Khi hết Thủ thì Hữu chấm dứt.
Khi hết Hữu thì Sanh chấm dứt.
Khi hết Sanh thì Bệnh, Lão, Tử, Phiền-não, Ðau-khổ chấm dứt.

Toàn khối đau-khổ trong cuộc sống hiện-tại có thể được chấm dứt như thế.

Rồi Ðức Phật nói bài kệ sau đây:
Khi các thực-tại hiển bày,
Thánh-nhơn thiền-định, rõ ngay ngọn ngành.
Nhân diệt, quả phải tan-tành,

Các duyên chẳng thuận, quả sanh đàng nào? (Trích trong Vinaya-pitaka)

Ðến canh năm, sáng hôm sau, Ðức Phật suy-luận theo hai chiều sanh-khởi và hoại-diệt như sau: Khi cái này có thì cái kia có, khi cái này phát sanh thì cái kia phát sanh. Khi cái này không có thì cái kia không có, khi cái này diệt thì cái kia cũng diệt[53].

Khi Vô-minh phát sanh thì Hành phát sanh, vân vân. Và như thế toàn khối đau-khổ luân-hồi phát sanh.

Khi Vô-minh diệt thì Hành cũng diệt, vân vân. Và như thế toàn khối đau-khổ luân-hồi cũng phải chấm dứt.
Rồi Ðức Thế-Tôn nói bài kệ sau đây:
Khi các thực-tại hiển bày,
Thánh-nhơn thiền-định, rõ ngay ngọn ngành.
Ma-Vương binh tướng tan-tành,

Chân-lý chiếu sáng, chúng sanh an hòa. (Trích trong Vinaya-pitaka)
4- Tuần-lễ thứ hai sau khi thành đạo

Ðức Phật trải qua tuần-lễ thứ hai một cách bình-thản, ngài đứng cách cây Bồ-đề khoảng 100m về hướng đông, chăm-chú nhìn cây Bồ-đề trọn một tuần không nháy mắt, hồi tưởng lại cuộc trường kỳ chiến đãu cam go, gian khổ, với tự thân, tự tâm, trong vô lượng kiếp, cho đến ngày nay thành đạo dưới cội Bồ-đề, để rút tỉa kinh nghiệm hầu tìm ra một

Con Ðường ngắn hơn và dễ dàng hơn cho chúng sanh sau này. Hiện nay nơi đây còn có tháp kỷ-niệm do vua Asoka dựng lên, tên là Animesalocana Cetiya.

Noi theo gương lành cao quí ấy, và để tưởng nhớ công ơn Ðức Phật, hàng tín-đồ đến ngày nay vẫn còn tôn kính các cây Bồ-đề ở Bodhgaya, Sarnath, Lumbini, Jetavana, Anuradhapura (Sri-Lanka), Châu-Ðốc (Việt-Nam).

Cây Bồ-đề tại Jetavana (vườn Cấp-Cô-Ðộc) được trồng do ý kiến của ngài Ananda, được Phật chấp thuận, và ông Cấp-Cô-Ðộc thực hiện bằng cách lấy hột của một trái chín của cây Ðại-Bồ-Ðề về trồng gần cổng vào tinh xá, lúc Phật thường trú nơi đây, để các tín đồ từ xa đến viếng Phật, rủi gặp lúc Phật đi vắng, có thể lễ bái cây Bồ-đề này cũng như lễ bái Phật.

Cây Bồ-Ðề hiện nay tại Lumbini cũng đã có từ lúc Phật còn tại thế.

Vào thế-kỷ thứ ba trước tây lịch, ni sư Sanghamitta, con vua Asoka, chiết một nhánh phía nam của cây Ðại-Bồ-Ðề, đem qua Sri-Lanka (Tích-Lan) trồng tại thủ đô Anuradhapura, đến nay vẫn còn tươi tốt sum-sê.

Cây Bồ-đề tại Bodhgaya và tại Sarnath, Ấn-độ, hiện nay cũng đều là cây con chiết nhánh từ cây Bồ-đề tại Anuradhapura ở Sri-Lanka.

Một cây con của cây Bồ-đề tại Bodhgaya ngày nay được Ðại-đức Jina Rajadasa, hội-trưởng hội Thông-Thiên-Học Quốc-tế tại Ấn-độ, tặng Việt-Nam vào năm 1952, được trồng tại trung tâm thị-xã Châu-Ðốc, miền tây Nam-Việt. Các hội viên hội Bồ-Ðề Ðạo-Tràng thường tụng niệm tại đây mỗi buổi chiều tối. Ngoài ra các chùa lớn tại Việt-Nam như chùa Trấn-Quốc ở Hà-nội, chùa Từ-đàm ở Huế, chùa Xá-lợi ở Sài-gòn đều có trồng một cây Bồ-đề thật uy-nghiêm.

1- Cây Ðại-Bồ-Ðề (lúc Phật thành đạo) sanh ra:
2- Cây Bồ-đề Ananda tại Jetevana lúc Phật thường trú tại đây
3- Cây Bồ-đề tại Anuradhapura (Sri-Lanka) sanh ra:
4- Cây Bồ-đề tại Sarnath
5- Cây Bồ-đề Ananda tại Jetavana hiện nay
6- Cây Bồ-đề tại Bodhgaya hiện nay sanh ra:
7- Cây Bồ-đề tại Châu-Ðốc (Việt-Nam).
5- Tuần-lễ thứ ba sau khi thành đạo

Vì Ðức Phật vẫn còn ở quanh-quẩn bên cội Bồ-đề, nên chư thiên lúc bấy giờ còn nghi-ngờ không biết ngài đã đắc quả Phật chưa. Ðức Phật đọc được tư-tưởng ấy, ngài dùng oai-lực thần-thông tạo một "đường kinh-hành quí báu" (Ratana Cankamana, đường kinh-hành bằng ngọc), và đi tới đi lui trên đường kinh-hành này suốt tuần lễ thứ ba. Dưới mỗi bước chân Phật có một hoa sen nở ra đỡ lấy không cho chân chạm đất.

Con đường này hiện nay được xây bằng gạch lên cao khỏi mặt đất độ một thước, nằm song song với cạnh phía bắc tháp Ðại Giác. Trên mặt đường có đúc 18 hoa sen bằng xi-măng, tượng trưng cho 18 bước chân của đức Phật.

Theo Phật-giáo đại thừa thì trong ba tuần lễ đầu (21 ngày) sau khi thành Phật, ngài hiện thân đ
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Sat 31 Jul 2010, 17:11

Tiếp Theo Trang 2

Theo Phật-giáo đại thừa thì trong ba tuần lễ đầu (21 ngày) sau khi thành Phật, ngài hiện thân đức Tỳ-Lô-Giá-Na (Vairocana Buddha) thuyết kinh Hoa-Nghiêm[54] (Avatamsaka sutra) cho vô số đại Bồ-tát, các Vua trời và các vị Thần đã thọ giáo với Ðức Phật Tỳ-Lô-Giá-Na từ vô lượng kiếp. Nguyên tên kinh là "Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh".

Nội dung kinh này đứng trên cảnh-giới bất-tư-nghì giải-thoát của chư Phật để mô tả toàn thể pháp-giới tánh, còn gọi là vô-ngại pháp-giới. Ðức Phật có ý nói kinh đốn giáo đại thừa này cho các vị đã có nhiều căn lành trước, để các vị này lần hồi truyền-bá lại cho các vị thấp hơn, cho đến khắp cả pháp giới chúng sinh.

6- Tuần-lễ thứ tư sau khi thành đạo
Ðức Phật ngự trong "bảo cung"[55] (Ratana-ghara, cái phòng bằng ngọc) để suy-niệm về những điểm phức-tạp của Tạng Luận (Abhidhamma, giáo-lý cao-siêu, vi diệu pháp).

Kinh sách ghi nhận rằng khi ngài suy-tưởng về lý Nhân Quả Tương Quan (Patthana), quyển khái-luận thứ bảy của tạng Luận, tâm và thân ngài trở nên hoàn-toàn tinh-khiết và do đó phát ra một vừng hào-quang sáu màu, hiện nay là sáu màu của lá cờ Phật-Giáo Thế-Giới. Năm màu đầu là: xanh, vàng, đỏ, trắng, cam. Màu thứ sáu là tổng-hợp năm màu đầu. Bảo Cung hiện nay ở cạnh phía bắc tháp Ðại Giác.

7- Tuần-lễ thứ năm sau khi thành đạo
Ðức Phật trở lại ngồi dưới cội cây Ajapala, nơi ngài đã nhận bát cháo sữa của hai chị em nàng Sujata, để tiếp-tục chứng nghiệm hạnh-phúc giải-thoát (Vimutti-sukha). Trong lúc Ðức Phật ngồi tham thiền thì ý nghĩ sau đây phát sanh:

- Quả thật là đau buồn nếu sống mà không có ai để ta lễ bái và tỏ lòng tôn kính. Hay là ta hãy sống gần một vị đạo-sĩ hay một vị bà-la-môn nào để tôn kính và sùng bái?

Có lẽ ta nên sống gần một vị đạo-sĩ khác hay một vị bà-la-môn để tôn kính và lễ bái vị ấy hầu nâng cao giới-đức (silakkhanda) đến chỗ toàn-thiện? Nhưng ta không thấy ai có giới-đức hơn ta để ta cộng tác, tôn kính, lễ bái, kể cả chư Thiên, Ma-vương hay Phạm-thiên ở các cõi trời, cũng như các đạo-sĩ hay Bà-la-môn ở cõi người.

Có lẽ ta nên sống gần một vị đạo-sĩ khác hay một vị Bà-la-môn để tôn kính và lễ bái hầu nâng cao định lực (samadhikkhanda) đến chỗ toàn thiện? Nhưng ta không thấy trên thế-gian này có vị đạo-sĩ hay Bà-la-môn nào có định lực hơn ta để ta cộng tác, tôn kính và lễ bái.

Có lẽ ta nên sống gần một vị đạo-sĩ khác hay một vị Bà-la-môn để tôn kính và lễ bái hầu nâng cao trí-tuệ (pannakkhanda) đến chỗ toàn thiện? Nhưng ta không thấy trên thế-gian này có vị đạo-sĩ hay Bà-la-môn nào có trí-tuệ hơn ta để ta cộng tác, tôn kính và lễ bái.

Có lẽ ta nên sống gần một vị đạo-sĩ khác hay một vị Bà-la-môn để tôn kính và lễ bái hầu nâng cao mức độ giải-thoát (vimuttikkhanda) đến chỗ toàn thiện? Nhưng ta không thấy trên thế-gian này có vị đạo-sĩ hay Bà-la-môn nào có mức độ giải-thoát hơn ta để ta cộng tác, tôn kính và lễ bái.

Hay là ta nên sống trong sự tôn kính và lễ bái chính cái Giáo-Pháp mà ta đã chứng-ngộ?

Lúc bấy giờ vị Phạm-thiên Sahampati, hiểu được ý Phật, liền từ cõi trời Phạm-thiên (Brahma) hiện đến trước mặt Phật, nhanh như một lực-sĩ duỗi thẳng cánh tay hay co tay vào. Và, đắp y lên vai trái, quỳ gối phải xuống đất, chấp tay lễ Phật và bạch rằng:
- Bạch đức Thế-tôn, quả thật như vậy, những bậc Ứng-Cúng, Chánh Ðẳng Chánh Giác, trong quá-khứ đều tôn-kính và sùng-bái chính Giáo-Pháp này.

Những bậc Ứng-Cúng, Chánh Ðẳng Chánh Giác, trong tương-lai cũng sẽ tôn-kính và sùng-bái chính Giáo-Pháp này. Thế nên, bạch đức Thế-tôn, ngài là bậc Ứng-Cúng, Chánh Ðẳng Chánh Giác, trong đời hiện tại, cũng nên tôn-kính và sùng-bái chính cái Giáo-Pháp này.

Bạch đức Thế-tôn, các bậc Chánh Biến Tri trong quá-khứ, vị-lai và hiện-tại, đã, sẽ và đang cứu-giúp chúng sanh thoát khổ, đều tôn-kính Giáo-Pháp cao-thượng này. Ðó là đặc tánh chung của chư Phật.

Vậy, ai muốn được lợi ích và tinh-tấn, dĩ nhiên cũng nên tôn-kính Giáo Pháp cao-thượng này, và luôn luôn nhớ đến lời vàng của chư Phật.

Vị Phạm-thiên Sahampati bạch xong, cung kính đảnh-lễ Phật, đi nhiễu một vòng xung quanh ngài rồi biến mất.

Vì chư Tăng cũng có những đặc tánh và chí-hướng cao-thượng nên cũng được Ðức Phật tôn-kính[56].

Vào cuối tuần thứ năm, khi ngài xuất định, có một vị Bà-la-môn đến gần, chào thân-thiện rồi hỏi:

- Thưa Tôn-giả Gotama, đứng trên phương diện nào ta trở thành một thánh nhơn (Brahmana), và những điều-kiện nào làm cho ta trở thành thánh nhơn?

Ðức Phật đáp bằng bài kệ sau đây:
Thánh nhơn tật xấu chẳng còn,
Chẳng còn ngã-mạn, chẳng còn nhiễm dơ.
Sáu căn thanh-tịnh như tờ,
Sở học rốt ráo, sống đời thanh cao.
Dù đi bất cứ nơi nào,

An-nhiên, tự-tại, chẳng lo sợ gì. (Kinh Udana, Tự-Thuyết)

8- Tuần-lễ thứ sáu sau khi thành đạo [57]
Ðức Phật rời cây Ajapala đến cây Mucalinda[58], và ngồi thiền định tại đây một tuần-lễ nữa để chứng nghiệm hạnh-phúc giải-thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to đổ xuống. Mây kéo tới đen nghịt và gió lạnh thổi suốt nhiều ngày.

Lúc ấy Rắn thần Mucalinda từ trong hang chun ra, lấy mình quấn bảy vòng xung quanh Ðức Phật, và phùng mang lớn ra che trên đầu ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động tới thân ngài. Ðến cuối ngày thứ bảy, trời quang mây tạnh, Mucalinda tháo mình trở ra, rồi biến thành một thanh niên đứng chấp tay trước mặt Phật. Ðức Phật đọc bài kệ khen ngợi và khuyên nhủ Mucalinda như sau:

Hạnh-phúc thay sống đời ẩn-dật,
Có bao nhiêu cũng đủ ấm no.
Hạnh-phúc thay sống trong thiền-định,

Ðược thấy, nghe Chơn-lý nhiệm-mầu.
Hạnh-phúc thay kẻ có tâm lành,
Sống đơn-sơ, lợi-ích chúng sanh.

Hạnh-phúc thay sống không ràng buộc,
Vượt lên trên dục vọng sáu căn.
Nhưng hạnh-phúc cao hơn tất cả,
Là xa lià chấp ngã, chấp ta.[59]

9- Tuần-lễ thứ bảy sau khi thành đạo
Ðức Phật từ cội cây Mucalinda bước sang cội cây Rajayatana và ở đó chứng nghiệm hạnh-phúc giải-thoát.

Cuối tuần thứ bảy, ngài đi từ cội cây Rajayatana trở lại cội cây Ajapala. Trong lúc ngồi thiền-định, những tư-tưởng sau đây phát sanh:

- Giáo-pháp mà Như-Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận-thức, khó lãnh-hội, vắng-lặng, cao siêu, không nằm trong phạm-vi lý luận, rất tế-nhị, chỉ có bậc hiền thánh mới thấu hiểu.

Chúng sanh còn trong vòng tham-ái dục-lạc vật-chất khó hiểu nổi lý "Mười Hai Nhân Duyên" (hay lý Duyên Khởi). Và Niết-bàn là trạng-thái chấm dứt các điều-kiện sanh khởi, hết dục vọng, không còn tham ái, không còn ràng buộc, cũng không phải là một đề-tài dễ lãnh hội. Nếu Như-Lai truyền dạy Giáo-pháp ấy thì kẻ khác sẽ không hiểu được. Thật hoài công! Phí công vô ích!

Như-Lai đã khó-khăn lắm mới chứng ngộ được Giáo-pháp (Dhamma). Không cần phải phổ-biến ngay bây giờ. Người còn mang nặng tham ái và sân hận không dễ gì thấu triệt. Người tham ái chìm đắm trong đêm tối, không thấy được Giáo-pháp, vì bị tham ái bao phủ như đám mây đen kịch. Giáo-pháp đi ngược dòng đời, sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức và rất tế-nhị.

Nghĩ như vậy, Ðức phật chưa quyết định truyền-bá Giáo-pháp. Nhân dịp ấy, Ma Vương (Mara) liền hiện đến, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi đến trước Phật quỳ xuống đảnh lễ và nói:

- Bạch Thế Tôn, chúng sanh ở thế gian này rất ngu muội và ngang ngược, bao nhiêu vị Phật ra đời trước đây đều không độ được chúng. Xin Thế Tôn đừng phí công vô ích. Xin đức Thế Tôn hãy nhập Ðại Bát-niết-bàn vô sanh bất diệt ngay từ bây giờ để tận hưởng hạnh phúc giải thoát.

- Này Ma Ba-Tuần, Như Lai đã vì đại nguyện cứu khổ chúng sanh nên mới xuất hiện ở thế gian này. Như Lai chỉ nhập Ðại Bát-niết-bàn sau khi đã thành lập Giáo Ðoàn Khất Sĩ với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo và đã truyền đạt đầy đủ Giáo Pháp Cao Thượng cho các vị Tỳ-kheo để tiếp nối nhau chỉ dạy lại cho chúng sanh. Thôi! ngươi hãy đi đi, đừng quấy rầy ta vô ích.

Ma-Vương buồn giận lui ra, cầm gậy vạch một đường dài trên mặt đất làm đường ranh giới tượng trưng giữa mình và đức Phật, rồi rút lui.

Vị Phạm-thiên Sahampati vội hiện đến trước Phật, đi nhiễu ba vòng xung quanh Phật, rồi quỳ xuống bạch Phật như sau:

- Bạch đức Thế-tôn, cầu xin ngài hãy truyền dạy Giáo-pháp của Phật! Có những chúng sanh bị ít nhiều cát bụi vướng trong mắt, nếu không được nghe Giáo-pháp của Phật sẽ bị trầm-luân sa-đọa. Nhưng họ cũng có thể ngộ được chơn-lý.

Thuở xưa ở xứ Magadha có phát sanh một Giáo-pháp không toàn hảo, do người còn trần-tục nghĩ ra. Nay xin đức Thế-tôn hoan-hỷ mở rộng cửa Vô Sanh Bất Tử, cho chúng sanh được nghe Giáo-pháp giải thoát của đấng Trọn Lành.

Bậc Toàn Giác, Toàn Trí đứng trên đỉnh tối cao của lâu đài Pháp-bảo, cũng như người đứng trên ngọn núi đá cao nhìn xuống, thấy rõ-ràng từng người ở vòng quanh phía dưới. Xin đấng Hoàn-Toàn Hạnh-Phúc hãy nhìn xuống chúng sanh đang chìm đắm trong biển khổ sanh tử!

Xin Ngài hãy cương-quyết lên, vị anh-hùng, vị chiến thắng, vị lãnh-đạo, vị cứu thế, xin Ngài hãy truyền-bá Giáo-pháp khắp thế-gian. Chắc-chắn sẽ có nhiều người lãnh-hội được.

- Này Sahampati, Như-Lai nghĩ rằng người còn tham ái và sân-hận không dễ gì hiểu nổi Giáo-pháp của Như-Lai. Người tham ái bị chìm đắm trong đêm tối, không thể thấy được Chân-lý. Vì Chân-lý trái ngược với tham ái nên thành ra sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức và rất tế-nhị. Vì thế nên Như-Lai chưa quyết định truyền-bá Giáo-pháp.

Vị Phạm-thiên Sahampati thỉnh Ðức Phật lần thứ hai, Ðức Phật cũng trả lời như trước. Khi vị Phạm-thiên cung thỉnh lần thứ ba, đức Thế-tôn dùng Phật-nhãn quán-sát thế-gian. Ngài nhận thấy rằng có kẻ ít người nhiều cát bụi trong mắt, người thông-minh sáng-suốt, kẻ mù-mịt tối-tăm, bẩm tánh người này tốt, người kia xấu, có chúng sanh khó dạy, cũng có chúng sanh dễ dạy, và có một số ít khác nhận thức được hiểm-họa của tội-lỗi và đời sống.


Cũng như trong hồ sen, có sen xanh, đỏ, trắng, vàng lẫn-lộn. Có cây sanh dưới nước, lớn lên dưới nước, và sống suốt đời dưới nước; có cây sanh dưới nước, lớn lên trong nước, và sống trưởng thành trên mặt nước; có cây sanh dưới nước, lớn lên trong nước, và sống trưởng thành nhô lên khỏi mặt nước, không vướng chút bùn nhơ. Sau khi quán-sát xong ba hạng chúng sanh, hạ, trung và thượng, Ðức Phật tuyên-bố với vị Phạm-thiên rằng:

- Này Sahampati, cửa Vô Sanh đã rộng mở, để cho ai có tai muốn nghe đặt trọn niềm tin[60]. Này Sahampati, vì nhận thấy chúng sanh còn quá thấp kém nên trước đây Như-Lai chưa quyết định truyền dạy Giáo-pháp vô thượng.

Vị Phạm-thiên Sahampati vô cùng mừng rỡ đã thỉnh cầu được Ðức Phật hoằng dương Chánh-pháp, liền đảnh lễ tạ ơn ngài, đi nhiễu quanh ngài, rồi rút lui.[61]

10- Hai thiện-tín đầu tiên
Sau 49 ngày an vui thiền định, không ăn uống, kể từ lúc ăn bát cháo sữa của hai cô Sujata, hôm nay, trong lúc Ðức Phật ngồi dưới cội cây Rajayatana,có hai thương-gia người Miến-điện tên Tapussa và Bhallika từ Ukkala (hiện nay là Orissa) đến, đi ngang qua gần đó. Có một vị trời, vốn là bà con kiếp trước với hai thương-gia, đến mách bảo rằng:

- Này hai ông, đức Thế-Tôn vừa đắc quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang ngồi dưới cội cây Rajayatana đàng kia. Hai ông nên đến đó cúng dường bột rang và mật ong[62], sẽ được an vui và hạnh-phúc lâu dài.

Hai thương-gia vui mừng, sửa-soạn bột rang và mật ong rồi đến trước Phật cung kính đảnh lễ, cầu Phật nhận lãnh hai món cúng dường khiêm-tốn này để hai ông được an vui hạnh-phúc lâu dài. Ðức Phật, không còn bát khất thực nữa[63], nghĩ rằng:

- Các đấng Như-Lai không bao giờ đưa tay thọ nhận vật thực. Làm sao ta nhận hai món bột rang và mật ong này?

Lúc ấy bốn vị Thiên-vương[64] đoán biết ý nghĩ của Phật, liền từ bốn phương bay đến dâng lên Ðức Phật bốn cái bát bằng vàng; Ðức Phật không nhận.

Bốn vị liền dâng lên bốn cái bát bằng bạc; Ðức Phật không nhận. Bốn vị liền dâng lên bốn cái bát bằng ngọc; Ðức Phật cũng không nhận. Bốn vị sực nhớ đến chư Phật đời trước thường dùng bát bằng đá, liền dâng lên bốn cái bát bằng đá và đồng thưa rằng:
- Bạch đức Thế-tôn, xin ngài hãy nhận bột rang và mật ong trong cái chén đá này.

Ðể cho bốn vị Thiên-vương đều hài lòng, Ðức Phật để cái chén thứ nhất vào lòng bàn tay trái, tay phải cầm cái chén thứ hai để chồng lên chén thứ nhất rồi ấn xuống làm hai cái nhập lại làm một, rồi đến cái chén thứ ba và thứ tư cũng được nhập vào như thế.. Cuối cùng bốn cái chén đá được nhập lại làm một nhưng vẫn còn dấu vết của bốn miệng chén[65].

Ðức Phật đưa chén ra nhận vật thực. Sau khi thọ thực xong, ngài bảo hai vị thương-gia Tapussa và Bhallika như sau:
- Này hai ông, nếu hai ông muốn được phúc báo lâu dài thì nên quy-y Phật bảo, quy-y Pháp bảo và thọ trì năm giới.

Hai vị thương gia liền quỳ xuống đảnh lễ ngài và bạch rằng:

- Bạch đức Thế-tôn, xin ngài cho phép chúng con được quy-y Phật và quy-y Pháp, thọ trì năm giới, và xin ngài thu nhận chúng con vào hàng thiện-tín (upasaka) của ngài từ nay cho đến hết cuộc đời của chúng con.

Ðó là hai thiện-tín đầu tiên đã quy-y Nhị Bảo (Phật và Pháp, chưa có Tăng). Sau khi đã được Ðức Phật ban pháp quy-y và truyền năm giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu, không nói dối), và trước khi từ giã ngài để trở về quê ở Miến-Ðiện, hai vị thương-gia xin ngài ít vật lưu niệm để luôn luôn tưởng nhớ đến ngài. Ðức Phật tặng cho hai vị một ít tóc và móng tay và bảo rằng:

- Hằng ngày các ông trông thấy những vật này cũng như trông thấy Như-Lai vậy.

Hai vị cung kính nhận lãnh, lạy tạ rồi mang về Miến-Ðiện xây tháp thờ. Hiện nay bảo vật này vẫn còn được giữ-gìn cẩn-thận trong bảo tháp của chùa Swedagon tại thủ-đô Rangoon (Ngưỡng-Quang).
=========

Phần Ghi Chú Của Trang 2

[1] Siddhatta xuất gia vào năm 29 tuổi, theo Digha-nikaya 16: Maha-Parinibbana-sutta.
[2] Theo kinh Pháp Hoa Huyền Tán 1, phần cuối (Ðại 34, 671 hạ), thì đức Phật có 3 người con trai là Sunakkhatta (Thiện-Tinh), Upavana (Ưu-Bà-Ma-Na) và Rahula (La-Hầu-La). Hai người đầu, lớn tuổi hơn Rahula, là con của các thứ phi.

Theo kinh Ðại Bát Niết Bàn, tập 2, phẩm Ca-Diếp Bồ-tát, trang 344, thì Sunakkhatta xuất gia theo làm thị giả cho Phật, tu đến tứ thiền, nhưng sau lại tin theo bạn ác, thành nhứt-xiển-đề, bị đọa địa ngục một kiếp;

Upavana (Ưu-Bà-Ma-Na) cũng xuất gia, có lúc làm thị giả cho Phật và đã có mặt bên Phật suốt 3 tháng sau cùng cho đến lúc Phật nhập niết-bàn. Rahula (La-Hầu-La) có nghĩa là một trở ngại.

Khi hay tin Yasodhara vừa sanh được một hoàng nam, Siddhattha buộc miệng thốt lên: "Lại thêm một trở ngại". Lại có tài liệu cho rằng Rahula sinh ra nhằm lúc Rahulâsura (La-hầu-la A-tu-la) đưa tay che mặt trăng để đánh nhau với trời Ðế-Thích.

Rahula có nghĩa là "chướng nguyệt", che mặt trăng. Rahulâsura là Vua A-tu-la trụ ở thành Quang Minh, tầng đất thứ nhất dưới đáy biển.

[3] Sakka Indra là vua trời Ðế Thích, còn gọi là trời Ðao Lợi (Tavatimsa).

[4] Tứ Thiên vương (Catum-maha-rajika-deva) gồm có Trì Quốc Thiên vương ở phía đông, Tăng Trưởng Thiên vương ở phía nam, Quảng Mục Thiên vương ở phía tây, Ða Văn Thiên vương ở phía bắc của một thế giới. Ở giữa thế giới có núi Tu-di (Sumeru), chung quanh núi Tu-di có 8 lớp núi và 8 lớp biển.

[5] Theo The Life of Buddha as Legend and History, trang 55, thì là ngày trăng tròn tháng Uttarasatha (tháng 6-7 dl).

[6] Theo ông Cunningham thì Anoma hiện nay là sông Aumi thuộc quận Gorakhpur; nhưng theo ông Carlleyle thì Anoma hiện nay là sông Kudawa-Nadi thuộc quận Basti.

[7] Xem The Life of The Buddha của A. Foucher, trang 78. Theo The Life of Buddha as Legend and History, trang 61 thì là hướng đông.

[8] Nơi đây về sau có tháp kỷ niệm tên Kashayagrahana shrine, theo The Life of Buddha as Legend and History, trang 57.

[9] Nơi Siddhattha từ giả Channa và Kanthaka về sau có đền kỷ niệm tên Chandaka-nivartana hay Kanthaka-nivattana shrine, xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 55-56.

[10] Sáu đường hay lục đạo luân hồi ở cõi dục là trời, a-tu-la, người, địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh.

[11] Ông Alara-Kalama tu hạnh xuất gia theo phái Samkhya (Tăng-khứ, Số luận) đã đắc ngũ thông, đạt đến bậc thiền Vô-sở-hữu xứ.

[12] Thường gọi chung là Năm Anh Em Kiều-Trần-Như. Năm vị nầy đều là bà con bên nội hoặc bên ngoại của Siddhattha. Riêng ông Kondanna đã từng thọ giáo với đạo-sư Uddaka Ramaputta (Uất-đầu-lam) và là vị Bà-la-môn trẻ tuổi nhất trong nhóm sáu vị được vua mời đến xem tướng cho thái-tử lúc mới sanh.

Trong hội Pháp-Hoa đức Phật có thọ-ký cho ông Kondanna sẽ thành Phật hiệu là Samantaprabhasa (Phổ-Minh). Bốn người bạn của ông Kondanna là con của bốn trong năm vị Bà-la-môn lớn tuổi đã xem bói cho thái tử lúc mới sanh.

[13] Xem Majjhima-nikaya 26, 36, 85, 100; Trung A-Hàm 204; Tạp A-Hàm 110; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1421.
[14] Năm căn = mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.
[15] Sáu căn = mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (bộ óc).

[16] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 186, 190, 1421; Majjhima-nikaya 4, 26, 36, 85; Khuddaka-nikaya / Sutta-nipata / Maha-vagga / Pabbajja-sutta.

[17] Ông Uddaka Ramaputta (Uất-đầu-lam-phất) là con và đệ tử của ông Rama. Ông được cha truyền đạo theo phái Yoga, tu theo ngoại-định (kasina). Ông là vị đạo-sư giỏi nhứt toàn xứ Ấn-độ thời bấy giờ.

Trong kinh có chép rằng khi ông vừa đắc định Phi-Tưởng Phi-Phi-Tưởng và ngũ thông, ông bay tới đền vua Bimbisara; vua mừng rỡ, đảnh lễ dưới chân ông và cúng dường trọng-thể.

Vua căn-dặn hoàng-hậu Videhi: "Như ta đi khỏi mà Tiên-nhơn tới thì khanh nên lễ kính và cúng-dường cũng như ta vậy".

Một hôm ông Uddaka Ramaputta đến trong lúc vua Bimbisara vắng mặt, hoàng-hậu Videhi vâng lệnh vua lễ-bái dưới chân, Tiên-nhơn trong thấy sanh lòng tưởng quấy, liền mất hết thần-thông, phải đi bộ trở về.

Có lúc ông ngồi nhập định trên núi bị chim thú kêu la quấy rầy; ông bỏ xuống gần mé nước tọa thiền bị cá tôm làm rối; trong lúc tâm-thần bất định, ông lở lời nguyện làm con Phi-ly (chồn bay) để trên giết bầy chim, dưới giết đoàn cá.

Sau đó ông tự ăn-năn, lâu lắm mới đắc lại Phi-Tưởng Phi-Phi-Tưởng định. Khi đức Phật thành đạo thì ông đã thác sanh về cõi trời Vô-sắc Phi-Tưởng Phi-Phi-Tưởng.

Ðức Phật nói sau khi hưởng hết phước báo cõi trời ông sẽ bị đọa làm giống chồn bay theo lời đã lỡ nguyện trong khi buồn giận. (Xem Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn-Trung-Còn, chữ Uất-đầu-lam-phất ).

[18] Rajagriha hay Rajagaha (Vương-xá) hiện nay là thành-phố Rajgir thuộc Tiểu-bang BIHAR.

[19] Thời bấy giờ trước khi ra trận, chiến-sĩ cột trên ngọn giáo của mình chùm cỏ Munja tỏ rằng không bao giờ lùi bước trước quân thù.

[20] Xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 72-73.
[21] Xem Buddhacarita-sutta.

[22] Áo phẩn tảo (pamsu-kula) là áo cà-sa may bằng vải rách lượm trong đống rác.
[23] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 186, 187, 190; Majjhima-nikaya 26, 36; Lalitavistara; Buddhacarita; Samyutta-nikaya; Dhammapada 153-154; Udana I.1-3.

[24] Một loại cây sung ở Ấn-độ: Banyan tree, Figuier d'Inde, cây dừng.
[25] Sau khi ăn xong bát cháo sữa này, Ðức Phật nhịn ăn luôn 49 ngày liền.

[26] Cây Pippala (Tất-bát-la) còn có tên khác là Assattha (Bát-đa) vì trái của cây này tên là Pippala, còn bông của nó tên là Assattha. Ðây là một loại cây đa, tên khoa học là Ficus religiosa. Sau khi Phật thành đạo, người ta đặt tên cây là Bodhi (Bồ-đề) có nghĩa là cây Giác-ngộ.

[27] Ðoạn đối thoại này phỏng theo kinh Lalitavistara. Xem The Life of The Buddha, A. Foucher, trang 107.
[28] Tọa-cụ là tấm thảm vuông trải xuống đất để ngồi cho sạch-sẽ. Bồ-đoàn là cái gối tròn để lót ngồi cho thẳng lưng.

[29] Thiên long bát bộ gồm có Trời (Deva), Rồng (Naga), Dạ-xoa (Yaksa), A-tu-la (Asura), Ca-lầu-la (Garuda) còn gọi là Kim-sí-điểu, Càn-thát-bà (Gandharva) chuyên hòa tấu nhạc, Khẩn-na-la (Kimnara) chuyên múa hát và đánh trống, Ma-hầu-la-già (Mahoraga) đầu người mình rắn chuyên thổi sáo.

[30] Năm uẩn hay năm ấm là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Là 5 yếu-tố cấu tạo thành con người.
[31] Mười tám giới là: 6 căn, 6 trần và 6 thức. Có nghĩa là tất cả pháp giới.

[32] Ma Vương (Mara) là vua cõi trời Tha-hóa-tự-tại (Paranimmitavasavatti), cõi trời cao nhất ở cõi Dục. Theo tiếng Pali mara là chết, Mara là thần Chết hay Ma Vương. Ma Vương là vị thần có ảnh hưởng rất lớn ở cõi Dục vì tất cả sự vật nơi đây đều chịu định luật vô thường, tức phải chết, và tất cả sinh hoạt nơi đây đều do động cơ tham sân si thúc đẩy. Người nào còn tham sân si là còn phải thần phục Ma Vương, dưới quyền điều khiển của Ma Vương.

[33] Ba đường ác: địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh.
[34] Theo Phật giáo nguyên thuỷ, đức Phật giáng sanh, thành đạo và nhập niết bàn đều nhằm ngày trăng tròn tháng vesak (tháng 4-5 dương lịch).
[35] Xem Kinh Pháp-Cú 153-154; The Life of Buddha as Legend and History, trang 75.
[36] Tìm xem do đâu mà có thân để tạo nghiệp.
[37] Người thợ xây nhà chính là ái-dục và chấp ngã.
[38] Sườn nhà là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến ...
[39] Ðòn dông nhà là vô minh.
[40] Xem Samyutta-nikaya /Nidana-vagga / Paticca-samuppada-sutta.

[41] Vô-minh là quên, không biết CHƠN-TÂM của mình. Trong kinh Lăng-Nghiêm Phật dạy "Tri kiến lập tri tức vô minh bổn". Nghĩa là: Từ "tánh biết" không có chủ-thể và đối-tượng mà lập ra cái "biết" có chủ-thể và đối-tượng, rồi 6 căn vướng mắc vào 6 trần sanh ra chê khen thương ghét, đó chính là gốc của "vô minh".

Do vô minh nên thấy có đối-đãi, phân biệt. Do vô minh nên vạn vật vô thường mà ta cho là thường, vô ngã mà ta cho là có ngã; dục lạc ở thế gian là khổ mà ta cho là vui. Do vô minh nên quên hết các kiếp trước, không biết nhân quả luân hồi. Tiếng Pali ‘avijja-paccaya samkhara’ có nghĩa là ‘vô-minh duyên-sanh ra hành’.

[42] Hành là thay-đổi, biến-chuyển, di-động; là ý nghĩ, hành động hay lời nói tạo nghiệp
[43] Thức là cái biết do sự phân-biệt tốt, xấu, hay, dở, phải, quấy ... Sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra sáu thức. Thức là động lực đi thọ sanh.

[44] Danh là vật vô hình, chỉ có tên, không có tướng, là tâm thức, là thọ, tưởng, hành và thức; Sắc là vật hữu hình, là cơ thể.
[45] Sáu căn là mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, bộ óc (mano).

[46] Xúc là sự tiếp-xúc giữa căn và trần, ví-dụ như nhãn-căn và sắc-trần.
[47] Thọ là cảm-giác dễ-chịu, khó-chịu, trung-tính, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần.

[48] Ái là ưa thích, muốn có làm của riêng mình. Là dục vọng, khao khát, ham muốn, là động cơ tạo nghiệp

[49] Thủ là giữ làm của riêng mình, là tâm vướng mắc vào một vật, một quan niệm hay một chủ thuyết gì.
[50] Hữu là sở-hữu, là của mình, cũng có nghĩa là nghiệp do mình tạo ra (kamma-bhava).

[51] Sanh là hiện-hữu, hiện sinh, có mạng sống.
[52] Xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 76.

[53] Nguyên văn: "Imasmim sati, idam hoti; imasmim asati, idam na hoti." Có nghĩa là: Khi cái này như vầy thì có cái kia; khi cái này không phải như vầy thì không có cái kia.

[54] Có bài tụng của Thiên-Thai tông như sau: " Hoa-Nghiêm tối sơ tam thất nhựt, (21 ngày)

" A-Hàm thập nhị, Phương-Ðẳng bát, (20 năm)

" Nhị thập nhị niên Bát-Nhã đàm,(22 năm)

" Pháp-Hoa, Niết-Bàn, cộng bát niên. (8năm)

[55] Gọi như vậy vì lúc ấy Ðức Phật suy niệm về phần rất quí báu của tạng Luận (Abhidhamma).

[56] Ðức Phật thuyết bài pháp này tại tinh xá Jetavana ở thủ đô Sravasti. Ngài muốn chứng tỏ lòng tôn-kính của ngài đối với Tăng-già để khuyên bà Maha Pajapati Gotami nên cúng dường chư Tăng bộ y mà bà đã ra công may để cúng dường Ðức Phật.

[57] Có thuyết cho rằng trong tuần lễ này đức Phật thuyết pháp tại Long Cung.

[58] Hiện nay, tại Bodhgaya, về hướng đông-nam, có một hồ sen lớn, giữa hồ có tượng Rắn thần đang che mưa gió cho Ðức Phật, và có bảng ghi kỷ-niệm. Trước hồ có trụ đá của vua Asoka.

[59] Nguyên văn bài kệ: "Sukho viveko tuthassa sutadhammassa passato

"Abyapajjham sukham loke panabhutesu samyamo

"Sukha viragata loke kamanam samatikkamo

"Asmimanassa yo vinayo etam ve paramam sukham.

(Udana-sutta, kinh Tự-Thuyết).

[60] Nguyên văn: Aparuta tesam amatassa dvara-ye sotavanta pamuncantu saddham.
[61] Xem Majjhima-nikaya 26: Ariyapariyesana-sutta; Lalitavistara.
[62] Bột rang và mật ong là lương-thực mà du-khách Ấn thời bấy giờ thường mang theo mình để ăn dọc đường.

[63] Bình bát của Phật đã chìm xuống đáy sông Nairanjana lúc Phật tắm lần cuối trước khi thành đạo.
[64] Tứ Thiên Vương = Catum-maha-rajika.

[65] Theo The Life of The Buddha của A. Foucher, trang 132-133: Ngài Pháp-Hiển, thế kỷ thứ 5, còn thấy cái bát đặc biệt này của Phật được thờ trong một ngôi chùa ở Pesawar; nhưng khi ngài Huyền-Trang, thế kỷ thứ 7, đến Pesawar thì ngôi chùa này đã đổ nát và cái bát của Phật cũng mất tích.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Sun 01 Aug 2010, 19:17


TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT THÍCH-CA (trang 3)
Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai

=
F- ÐỨC PHẬT THUYẾT PHÁP LẦN ÐẦU TIÊN

Sau khi chấp nhận lời thỉnh cầu của vị Phạm-thiên Sahampati về việc truyền-bá Giáo-pháp, Ðức Phật suy nghĩ:

- Ai là người đầu tiên sẽ được thọ hưởng Giáo-pháp? Ai là người có thể lãnh hội Giáo-pháp mau chóng nhất?

Alara-Kalama (vị đạo sư đầu tiên của thái tử Siddhattha) là người có học vấn, thông-minh, là bậc thiện-tri-thức, đã lâu rồi không còn bao nhiêu cát bụi trong mắt. Hay là Như-Lai sẽ truyền Giáo-pháp cho vị này trước nhứt?

Một vị trời liền hiện ra trước mặt Ðức Phật, đảnh lễ ngài và bạch rằng:

- Bạch đức Thế-tôn, đạo-sư Alara-Kalama đã từ trần một tuần nay rồi.

Ðức Phật dùng thiên-nhãn kiểm nhận điều này. Rồi ngài nghĩ đến vị đạo-sư thứ nhì của ngài là Uddaka-Ramaputta. Vị trời lại xuất hiện bạch rằng đạo-sư Uddaka-Ramaputta vừa mới qua đời đêm hôm trước. Một lần nữa Ðức Phật lại dùng thiên-nhãn kiểm-nhận. Rồi ngài nghĩ đến năm vị đạo-sĩ rất tinh-tấn, đã từng tận tâm phục-vụ ngài trong sáu năm dài tu khổ hạnh.

Ngài dùng thiên-nhãn quan-sát, nhận thấy năm vị này là Kondanna, Bhaddiya, Vappa, Mahanama-Kulika và Assaji hiện đang ở tại Lộc-Uyển (Vườn Nai, Migadava), trong làng Isipatana (hiện nay là Sarnath), cách thành phố Benares (hiện nay là Varanasi) 10km về phía bắc.

1- Lên đường đi Lộc-Uyển

Ðức Phật định dùng con đường lớn để đi từ thành-phố Gaya đến thành-phố Benares. Trên đoạn đường từ Bồ-Ðề Ðạo-Tràng (Bodhgaya) đến Gaya, có một đạo-sĩ khổ hạnh tên Upaka[1] gặp Phật, hỏi:

- Này đạo hữu, ngũ quan của đạo hữu thật thanh tịnh, nước da của đạo hữu thật tươi sáng. Ðạo hữu xuất gia với ai? Thầy của đạo hữu là ai? Ðạo hữu truyền-bá Giáo-pháp của ai?

Ðức Phật đáp bằng bài kệ:

- Như-Lai đã vượt qua tất cả, đã thông suốt tất cả.
Ðã thoát ly tất cả mọi ràng buộc,
Từ bỏ tất cả, không còn ái nhiễm,
Tự mình thấu hiểu tất cả, còn gọi ai là thầy? (Kinh Pháp Cú, bài 353)

Như-Lai không có thầy,

Không ai bằng Như-Lai.
Trên thế-gian và kể cả chư thiên,
Không ai có thể sánh với Như-Lai.
Như-Lai là một vị A-la-hán trên thế-gian này,

Là một vô thượng sư;
Tự mình thành bậc Toàn Giác,
Tâm vắng lặng và thanh-tịnh.

Như-Lai đang trên đường đến xứ Kasi
Ðể chuyển bánh xe Pháp;
Và giữa thế-giới người mù,
Như-Lai sẽ gióng trống Vô-sanh.[2]

- Này đạo hữu, đạo-sĩ Upaka hỏi vặn, vậy phải chăng đạo-hữu đã tự nhận mình là A-la-hán, là bậc quyền-lực siêu-phàm?

- Các bậc siêu-phàm đều giống Như-Lai,
Ðều đã tận diệt mọi ô nhiễm,
Khắc-phục tất cả những điều xấu-xa tội-lỗi.
Thế nên, này Upaka, Như-Lai là bậc siêu-phàm.

- Có thể như vậy được sao? Có thể như vậy được sao? Upaka cúi đầu lẩm-bẩm, rồi đi rẻ sang đường khác trong khi đức Phật tiếp tục đi về hướng bắc.
Ðức Phật vẫn bình-thản lên đường đi Gaya, rồi đi từ Gaya đến Benares, từ Benares đến Isipatana, rồi tìm đến Lộc-Uyển (Migadava).

Theo kinh sách Sri-Lanka thì Upaka về sau cười vợ, ông rất thương yêu vợ nhưng bị vợ tiêu xài phung phí, mất hết gia sản, ông tìm đến Phật xin xuất gia và được Phật độ.

2- Ông Kondanna và 4 người bạn xuất gia [3]

Ðức Phật đến Lộc-Uyển, thuộc làng Isipatana (hiện nay là Sarnath), vào đầu tháng ba dương lịch năm 589 trước tây lịch. Thấy Ðức Phật đang từ đàng xa đi đến, năm vị đạo-sĩ nhóm ông Kondanna bàn tính với nhau sẽ không đảnh lễ ngài với lòng tôn-kính như xưa. Các vị ấy hiểu lầm ngài khi ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh để thực-hành lối tu trung-đạo. Các vị ấy nói với nhau:

- Này các đạo-hữu, sa-môn Gotama đang đi đến chúng ta kia. Sa-môn ấy đã không bền chí cố gắng tu khổ hạnh, đã trở lại đời sống lợi-dưỡng xa-hoa. Sa-môn ấy không đáng cho chúng ta niềm-nở đón tiếp và cung-kính phục-vụ.

Ta không nên rước bát và rửa chân y. Nhưng dầu sao ông ta cũng thuộc dòng vua chúa, chúng ta cũng nên dọn một chỗ ngồi để sẵn, nếu ông ta muốn ngồi thì cứ ngồi.

Tuy nhiên, khi Ðức Phật đến gần, vẻ trang-nghiêm và oai-nghi của ngài tự nhiên cảm-hóa năm vị đạo-sĩ. Không ai bảo ai, người đến rước bát, người dọn chỗ ngồi, người đi lấy nước cho ngài rửa chân, và gọi ngài bằng "đạo-hữu" (avuso), lối xưng-hô thường dùng giữa những người bạn đạo, hoặc để người bề trên xưng-hô với kẻ dưới.

(Hiện nay có tháp Chaukhandi kỷ niệm nơi đức Phật gặp lại năm anh em ông Kondanna. Tháp này là một ụ đất lớn, trên đỉnh có một tháp canh xây bằng gạch).

Ðức Phật mở lời khuyên dạy:

- Này các Tỳ-kheo (Bhikkhu, bhiksu), không nên gọi Như-Lai bằng tên hay bằng "đạo-hữu". Này các Tỳ-kheo, Như-Lai là bậc Thế-tôn, là đấng Toàn-Giác. Này các Tỳ-kheo, hãy nghe đây, Như-Lai đã thành đạo-quả Vô Sanh Bất Diệt. Như-Lai sẽ giảng dạy Giáo-pháp giác ngộ và giải thoát.

Nếu thực-hành đúng theo lời chỉ dạy của Như-Lai thì chẳng bao lâu các thầy cũng sẽ chứng-ngộ do chính trí-tuệ trực-giác của quý thầy, và trong kiếp sống này quý thầy sẽ đạt được một đời sống vô cùng thiêng-liêng cao-cả. Chính vì muốn đi tìm đời sống cao-thượng ấy mà nhiều con nhà quyền-quý đã rời bỏ gia-đình, sự-nghiệp để sống đời không nhà cửa.

- Này đạo-hữu Gotama, trước kia, với bao nhiêu kỷ-luật nghiêm-khắc và khổ hạnh mà đạo-hữu còn chưa đạt được kiến-thức siêu phàm nào hoặc chứng-ngộ nào xứng đáng với một vị Phật. Bây giờ đạo-hữu đã từ bỏ sự cố-gắng, trở về đời sống xa-hoa lợi-dưỡng thì làm sao đạt được một kiến-thức đặc-biệt siêu phàm hoặc một chứng-ngộ xứng đáng với một vị Phật?

- Này các Tỳ-kheo, Như-Lai không hề xa-hoa, không hề ngưng cố-gắng, và không hề trở lại đời sống lợi-dưỡng. Như-Lai là đức Thế-tôn, là đấng Toàn-Giác. Này các Tỳ-kheo, hãy nghe đây, Như-Lai đã thành đạt đạo quả Vô Sanh Bất Diệt và sẽ giảng-dạy Giáo-pháp giác ngộ và giải thoát. .

Nếu thực-hành đúng theo lời chỉ dạy của Như-Lai thì chẳng bao lâu các thầy cũng sẽ chứng-ngộ do chính trí-tuệ trực-giác của quý thầy, và trong kiếp sống này quý thầy sẽ đạt được một đời sống vô cùng thiêng-liêng cao-cả. Chính vì muốn đi tìm đời sống cao-thượng ấy mà nhiều con nhà quyền-quý đã rời bỏ gia-đình, sự-nghiệp để sống đời không nhà cửa.

Lần thứ nhì năm đạo-sĩ vẫn giữ nguyên thành-kiến và tỏ ý thất vọng. Ðến lần thứ ba, sau khi Ðức Phật lập lại lời xác nhận, năm đạo-sĩ vẫn giữ vững lập-trường, tỏ ý hoài-nghi. Ðức Phật hỏi lại:

- Này các Tỳ-kheo, Các thầy có biết một lần nào trước đây Như-Lai đã nói với các thầy như thế không?

- Quả thật không.
Ðức Phật lập lại một lần nữa rằng ngài là đấng Toàn-Giác, và chính năm đạo-sĩ cũng có thể chứng-ngộ nếu thực-hành đúng theo lời chỉ dạy của ngài.

Ðó là những lời nói chân-thành do chính Ðức Phật thốt ra. Năm vị đạo-sĩ là bậc thiện trí, mặc dù đã có thành-kiến không tốt, khi nghe Ðức Phật lập lại nhiều lần như vậy, cũng đã nhận-định rằng Ðức Phật đã thật-sự thành-tựu đạo quả vô thượng và có đầy đủ khả năng để hướng-dẫn mình.

Năm thầy bấy giờ đã tin lời Ðức Phật, bèn thỉnh Ðức Phật đến một nơi thanh-nhàn mát-mẻ, trong vườn nai, cách nơi gặp-gỡ độ trên một cây số, ngồi xuống, yên lặng lắng nghe Ðức Phật thuyết kinh Chuyển Pháp Luân (Dhamma-cakka-pavattana)[4].

3- Ðức Phật thuyết kinh Chuyển Pháp Luân [5] (năm -589)

Ðến canh ba đêm đó, dưới ánh trăng rằm vằng vặc, Ðức Phật nói:

Này các tỳ-kheo, có hai cực-đoan (anta) mà hàng xuất-gia (pabbajitena) phải tránh:
1 - Sự xu-hướng theo dục-lạc các căn (Kamasukhallikanuyoga), vì như thế là phàm-tục, thấp-hèn, thô-bỉ và tai hại;
2 - Sự nghiêm-khắc trong lối tu khổ-hạnh (Attakilamathanuyoga), vì như thế là đau-đớn, không xứng thánh hạnh và vô ích.

Như-Lai đã từ bỏ cả hai cực-đoan ấy, theo con đường Trung-đạo (Majjhima Patipada) để phát-triển nhãn-quan (cakkhu), tri-kiến (nana), và tiến đến an-tịnh[6] (vupasamaya), trí-tuệ cao-siêu (abhinnaya), giác-ngộ (sambodhaya), và niết-bàn (nibbana, nirvana).

Này các tỳ-kheo, thế nào là con đường Trung-đạo mà Như-Lai đã áp-dụng để phát-triển nhãn-quan, tri-kiến và tiến đến an-tịnh, trí-tuệ cao-siêu, giác-ngộ và niết-bàn?

Ðó là Bát Chánh Ðạo[7], gồm có:

1- Chánh-kiến (samma ditthi, là thấy biết sự vật đúng theo thật tướng vô thường, thật thể vô ngã, và thật tánh không của chúng; không lầm theo biên kiến, tà kiến; người có Chánh-kiến là người thông hiểu Tứ Diệu Ðế, biết đời là khổ nên không tham luyến, biết nguyên nhân của khổ nên không sợ chìm đắm trong sanh tử luân hồi, biết tâm tịch diệt là an-lạc thanh-tịnh, biết Bát-chánh-đạo là con đường giải-thoát đứa đến hạnh-phúc chân-thật vĩnh-cửu ),

2- Chánh-tư-duy (samma sankappa, là suy nghĩ đúng theo Chánh Pháp để có thể mang đến an vui, hạnh phúc cho tất cả mọi người, để hiểu rõ Chơn-lý),
3- Chánh-ngữ (samma vaca, là nói lời hòa nhã, chân chính, hợp đạo lý, hữu ích cho người nghe, hoằng pháp lợi sanh),

4- Chánh-nghiệp (samma kammanta, là hành động chơn chánh, lợi mình, lợi người, giúp người hết khổ được vui, giữ ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh),
5- Chánh-mạng (samma ajiva, là sinh sống bằng nghề chơn chánh không xúc phạm đến thân mạng, tài sản kẻ khác),

6- Chánh-tinh-tấn (samma vayama, là siêng làm điều lành, năng tránh điều ác),
7- Chánh-niệm (samma sati, là luôn luôn nhớ các điều lành nên làm, nhớ các điều ác nên tránh, nhớ pháp môn tu tập; Chánh-niệm tối cao là Vô-niệm),
8- Chánh-định (samma samadhi, là luôn luôn giữ tâm thanh-tịnh, sáng-suốt, không tán-loạn).

Ðến đây Ðức Phật giảng về Tứ Diệu Ðế như sau:

1) Này các tỳ-kheo, đây là sự thật về Khổ (dukkha-ariya-sacca, Khổ đế)!
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, không ưa thích mà gặp là khổ, yêu thương mà phải xa lìa là khổ, mong cầu mà không được là khổ. Tóm lại, bám víu vào thân ngũ uẩn[8] này là khổ.

2) Này các tỳ-kheo, đây là sự thật về Nguyên-Nhân Của Khổ (dukkha-samudaya-ariya-sacca, Tập đế).
Chính tham-ái (tanha) là nguyên-nhân của tái-sanh (ponobhavika), với sự hợp-tác của lòng thiết-tha khao-khát mong được cái này, cái kia trong cuộc sống. Chính tâm tham cầu dục-lạc (kamatanha), tham cầu hiện-sinh (bhavatanha) và tham cầu vô-sinh (vibhavatanha) là nguyên-nhân của tái-sanh và đau khổ.

3)Này các tỳ-kheo, đây là sự thật về Hết Khổ (dukkha-nirodha-ariya-sacca, Diệt đế).
Chính là khi tâm đã hoàn-toàn xa-lìa và tận diệt tham-ái, không còn ham muốn lợi danh, không còn chạy theo dục vọng các căn. Ðó là tâm rời bỏ, từ-khước, thoát-ly và không luyến-tiếc, không vướng mắc.

4) Này các tỳ-kheo, đây là sự thật về Con Ðường Ðưa Ðến Hết Khổ (dukkha-nirodha-gamini-patipada-ariya-sacca, Ðạo đế).

Chính là Bát Chánh Ðạo, gồm có Chánh-kiến, Chánh-tư-duy, Chánh-ngữ, Chánh-nghiệp, Chánh-mạng, Chánh-tinh-tấn, Chánh-niệm và Chánh-định.

Ðến đây đức Phật bắt đầu thực hiện tam chuyển pháp luân như sau:

1.1- Ðây là Khổ đế (tức là sự thật về các phiền-não, đau-khổ trong vòng sanh tử luân hồi, như đã giải thích ở phần Sự Thật Về Khổ).

Này các tỳ-kheo, Khổ đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

1.2- Ðây là Khổ đế các thầy nên nhận-biết (parinneyya).
Này các tỳ-kheo, Khổ đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

1.3- Ðây là Khổ đế Như-Lai đã nhận biết (parinnata).
Này các tỳ-kheo, Khổ đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

2.1- Ðây là Tập đế (tức là sự thật về các nguyên nhân của phiền-não, đau-khổ và sanh tử luân hồi, như đã giải thích ở phần Sự Thật Về Nguyên Nhân Của Khổ).
Này các tỳ-kheo, Tập đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

2.2- Ðây là Tập đế các thầy nên tận diệt (pahatabba).
Này các tỳ-kheo, Tập đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

2.3- Ðây là Tập đế Như-Lai đã tận diệt (pahinam).
Này các tỳ-kheo, Tập đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

3.1- Ðây là Diệt[9] đế (tức là sự thật về niết-bàn an lạc thanh tịnh, là chân hạnh-phúc, như đã giải thích ở phần Sự Thật Về Hết Khổ).
Này các tỳ-kheo, Diệt đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

3.2- Ðây là Diệt đế các thầy nên chứng ngộ (sacchikatabba).
Này các tỳ-kheo, Diệt đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

3.3- Ðây là Diệt đế Như-Lai đã chứng ngộ (sacchikatam).
Này các tỳ-kheo, Diệt đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

4.1- Ðây là Ðạo đế (tức là Bát Chánh Ðạo, như đã giảng ở phần đầu kinh này).
Này các tỳ-kheo, Ðạo đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

4.2- Ðây là Ðạo đế các thầy nên thực hành (bhavetabba).
Này các tỳ-kheo, Ðạo đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

4.3- Ðây là Ðạo đế Như-Lai đã thực hành (bhavitam).
Này các tỳ-kheo, Ðạo đế này là pháp chưa từng được nghe trước đây. Chính Như-Lai đã thấy, biết, hiểu, chứng-nghiệm và sáng tỏ.

Rồi để kết thúc phần "tam chuyển pháp luân", Ðức Phật nói:

Này các tỳ-kheo, nếu Như-Lai chưa hoàn-toàn thấu-triệt Bốn Thánh Ðế này về ba phương-diện[10] và mười hai phương-thức[11] một cách hoàn-toàn sáng tỏ thì Như-Lai đã không xác-nhận trước thế-gian này gồm cả chư thiên, Ma vương, Phạm-thiên, đạo-sĩ, giáo-sĩ, trời và người rằng Như-Lai đã đạt được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác (anuttara samma-sambodhi).

Này các tỳ-kheo, đến khi Như-Lai đã hoàn-toàn thấu-triệt Bốn Thánh Ðế này về ba phương-diện và mười hai phương-thức một cách hoàn-toàn sáng tỏ thì Như-Lai mới xác-nhận trước thế-gian này gồm cả chư thiên, Ma vương, Phạm-thiên, đạo-sĩ, giáo-sĩ, trời và người rằng Như-Lai đã đạt được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác .

Và lúc ấy tri-kiến và tuệ-giác (nanadassana) phát sanh: Tâm Như-Lai được giải-thoát một cách vững chắc, không còn lay-chuyển. Ðây là lần giáng sanh cuối cùng của Như-Lai, Như-Lai sẽ không bao giờ tái sanh nữa.

Ðức Phật giảng xong, năm vị tỳ-kheo vui mừng tán-dương lời dạy của đức Thế-tôn. Ngài Kondanna liền chứng được pháp-nhãn thanh-tịnh (dhammacakkhu)[12] và ngài thấy rằng "Cái gì có sanh tất phải có diệt " [13].

Lúc Ðức Phật chuyển Pháp Luân, chư thiên trên quả địa-cầu hoan-hô: "Pháp Luân này quả thật tuyệt diệu! Không có đạo-sĩ, giáo-sĩ, chư thiên, Ma-vương hoặc Phạm-thiên nào trên thế-gian có thể giảng được như đức Thế-tôn đã giảng tại Lộc-Uyển (Vườn Nai) trong làng Isipatana, gần Benares ".

Nghe như vậy, chư thiên ở các cung trời Tứ-Ðại-Thiên-Vương (Catum-maha-rajika), Ðao-Lợi (Tavatimsa), Dạ-Ma (Yama), Ðâu-Suất-Ðà (Tusita), Hóa-Lạc (Nimmanarati), Tha-Hóa-Tự-Tại (Paranimmitavasavatti), và chư Phạm-thiên ở các cõi trời Phạm-Chúng thiên (Brahma Parisajja), Phạm-Phụ thiên (Brahma Purohita), Ðại-Phạm thiên (Maha-Brahma), Thiểu-Quang thiên (Parittabha),

Vô-Lượng-Quang thiên (Appamanabha), Quang-Âm thiên (Abhassara), Thiểu-Tịnh thiên (Parittasubha), Vô-Lượng-Tịnh thiên (Appamanasubha), Biến-Tịnh thiên (Subhakinha), Quảng-Quả thiên (Vehapphala), Vô-Tưởng thiên (Asanna), Vô-Phiền thiên (Aviha), Vô-Nhiệt thiên (Atapa), Thiện-Kiến thiên (Sudassana), Thiện-Hiện thiên (Sudassa) và Sắc-Cứu-Kính thiên (Akanittha) cũng đồng thanh hoan-hô.

Trong khoảnh-khắc ấy tiếng hoan-hô vang dội, làm cho cả mười ngàn thế-giới thuộc cõi Phạm-thiên đều rung chuyển mạnh-mẽ. Một hào-quang rực-rỡ chiếu sáng thế-gian. Ðức Thế-tôn liền nói: "Kondanna quả đã giác ngộ! Kondanna quả đã giác ngộ! ". Do đó ngài Kondanna có tên là Annata Kondanna (A-nhã Kiều-Trần-Như), có nghiã là "Kondanna là người đã giác ngộ".

Qua ngày hôm sau, lúc đức Phật thuyết pháp cho hai vị tỳ-kheo thì ba vị kia đi khất thực, rồi đến giờ ngọ chia ra cho sáu người ăn. Ngày kế thay phiên nhau, hai vị đi khất thực, ba vị ngồi nghe Phật thuyết pháp.

4- Ðức Phật thuyết kinh Vô Ngã Tướng [14]

Năm ngày sau, cũng tại Lộc-Uyển, đức Thế-tôn giảng kinh Vô Ngã Tướng (Anatta-lakkhana sutta) cho năm vị tỳ-kheo đầu tiên như sau:

- Này các tỳ-kheo, sắc thân (rupa) không có ngã tướng (vô ngã, anatta). Này các tỳ-kheo, nếu sắc thân có ngã tướng thì sắc thân không phải chịu đau khổ, bệnh hoạn, già nua, hoại diệt. "Thân ta có thể như thế này, thân ta cũng có thể không phải như thế này", cả hai trường-hợp đều có thể được.

Nhưng vì sắc không có ngã, nên sắc phải chịu khổ, và không thể xác-định "Thân ta là thế này, thân ta không phải thế này".

Cũng vậy, này các tỳ kheo, thọ (vedana), tưởng (sanna), hành (samkhara) và thức (vinnana) cũng đều vô ngã, không có thật thể. Cả năm uẩn đều luôn luôn biến đổi không ngừng.

Vậy, này các tỳ-kheo, các thầy nghĩ thế nào? Thân này là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế-tôn, là vô thường (anicca).
- Cái gì vô thường là hạnh-phúc hay đau-khổ?

- Bạch đức Thế-tôn, là đau-khổ.
- Vậy, có hợp lý chăng, nếu nghĩ đến cái gì vô thường, đau khổ và tạm bợ với ý tưởng: "Cái này của tôi; cái này là tôi; cái này là bản ngã của tôi"?
- Bạch đức Thế-tôn, chắc-chắn là không hợp lý.

-Cũng vậy, này các tỳ-kheo, thọ, tưởng, hành và thức đều là vô thường và đau khổ. Có hợp lý chăng, nếu nghĩ rằng những cái vô thường, đau khổ và tạm bợ đó là "của tôi, chính tôi, bản ngã của tôi"?
- Bạch đức Thế-tôn, chắc-chắn là không hợp lý.

- Như vậy, này các tỳ-kheo, đối với tất cả sắc thân, dù ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, dù ở trong hay ở ngoài, thô kệch hay vi tế, thấp hay cao, xa hay gần, các thầy đều nên nhận thức đúng với thực thể của nó: "Thân này không phải của tôi (n'etam mama), thân này không phải là tôi (n'eso h'amasmi), thân này không phải là bản thể của tôi (na me so atta)."

Tất cả thọ, tưởng, hành, thức, dù ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, dù ở trong hay ở ngoài, thô kệch hay vi tế, thấp hay cao, xa hay gần, các thầy đều nên nhận thức đúng với thực thể của chúng: "Những thứ này không phải của tôi, những thứ này không phải là tôi, những thứ này không phải là bản thể của tôi."

Bậc thánh đệ tử nhận thức được như vậy sẽ nhàm chán sắc thân, thọ, tưởng, hành, thức; xa lìa năm uẩn nhơ-nhớp, và được giải-thoát khỏi mọi ràng buộc. Vị ấy sẽ tự biết rõ-ràng "Ta đã được giải thoát", không còn tái sanh nữa, đời sống phạm-hạnh đã được thành-tựu, những điều phải làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.

Trong lúc đức Phật giảng kinh này, hai ông Vappa và Bhaddiya giác ngộ trước, kế đến hai ông Mahanama Kulika và Assaji. Lúc giảng xong, năm vị tỳ-kheo hân-hoan tán dương lời dạy của ngài.

Tất cả năm vị đều được pháp-nhãn thanh-tịnh, giải thoát khỏi mọi ràng buộc, đắc quả A-la-hán. Ðức Phật bèn làm lễ xuất gia cho năm vị như sau: Hãy đến đây, này các tỳ-kheo! Giáo pháp đã được giảng dạy đầy đủ, các thầy hãy sống đời tu hành thánh thiện để chấm dứt mọi đau khổ.

5- Ông Yasa và 4 người bạn xuất gia [15]

Tại thành-phố Benares (hiện nay là Varanasi), có một thanh niên tên Yasa, con nhà giàu sang danh giá. Chàng sống trong cảnh xa-hoa phung-phí. Một buổi sáng, chàng dậy sớm hơn mọi khi, nhìn thấy các nàng hầu thiếp nằm ngủ ngổn-ngang bừa-bãi thì lấy làm nhờm chán. Ấn tượng ghê tởm này luôn luôn ám ảnh chàng.

Toàn thể đền đài nguy nga tráng lệ bây giờ đối với chàng chỉ còn là một nơi tối tăm buồn bã đầy dẫy những hình ảnh thô kịch xấu xa. Nhận thức tánh cách tạm bợ của đời sống phàm tục, Yasa bỏ nhà ra đi, mong tìm được ánh sáng của một đời sống cao thượng. Chàng vừa đi vừa than thở "Thống khổ thay cho tôi! Ðọa đày thay cho tôi! ".
Vô tình chàng vượt qua sông Vanara, đi lần đến Isipatana, nơi Ðức Phật tạm ngụ sau khi độ năm vị tỳ-kheo đắc quả A-la-hán.

Yasa đến nơi vào sáng sớm, lúc Ðức Phật đang đi kinh hành. Hôm ấy nhằm ngày thứ sáu sau khi Ðức Phật chuyển pháp luân. Thấy chàng từ xa đến, Ðức Phật bước ra ngoài đường kinh hành và ngồi lại một nơi đã dọn sẵn. Yasa đi đến nơi, miệng vẫn than "Thống khổ thay cho tôi! Ðọa đày thay cho tôi! ". Ðức Phật lên tiếng:

- Nơi đây không có thống khổ, nơi đây không có đọa đày. Này Yasa! Hãy đến đây! Hãy ngồi xuống đây, Như-Lai sẽ giảng giáo pháp cho ông.

Yasa ngạc nhiên nghe có người gọi tên mình; nhìn lại thấy Ðức Phật đang ngồi trang nghiêm tĩnh tọa, liền cuối xuống tháo đôi giày trang trí bằng vàng ra, đến trước Phật, cung kính đảnh lễ rồi ngồi lại một bên, thưa:
-Kính thưa đạo-sư, con khổ quá! Kính mong đạo-sư giải khổ cho con!

Sau vài lời thăm hỏi, Ðức Phật bắt đầu giảng về hạnh bố thí (dana), giới hạnh (sila), những cảnh trời (sagga), những tai hại của nhục dục ngũ trần (kamadinava), phước báo của đởi sống xuất gia (nekkhamma-nisamsa).

Ðến khi nhận thấy tâm của Yasa bắt đầu thuần thục và sẵn sàng lãnh hội giáo lý cao siêu, ngài giảng về Bốn Thánh Ðế. Sau khi nghe Ðức Phật giảng xong, ông Yasa liền đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna).

Mẹ của Yasa là người đầu tiên phát giác sự vắng mặt của con. Bà báo cho chồng. Nhà triệu phú liền ra lịnh cho người nhà cỡi ngựa đi tìm khắp nơi, riêng ông đi về hướng Isipatana. Khi nhận ra dấu giày của con in trên đất, ông dò lần đến nơi.

Thấy ông từ xa đến, Ðức Phật dùng thần thông không cho ông nhận thấy con. Nhà triệu phú đến gần Ðức Phật, cung kính hỏi thăm ngài có thấy con ông là Yasa không. Ðức Phật bảo:

- Này ông! Hãy ngồi lại đây! Ông sẽ được gặp mặt con của ông.
Nhà triệu phú lấy làm mừng rỡ, vâng lời ngồi xuống. Ðức Phật giảng cho ông một thời pháp. Ông rất hoan hỷ thưa rằng:

- Lành thay! Lành thay! Bạch đức Thế-tôn, cũng tựa hồ như người kia dựng lại ngay ngắn một vật nghiêng ngã, hay khám phá ra một vật được dấu kín, hay chỉ đúng đường cho người đi lạc, hay cầm đèn soi sáng trong đêm tối cho người có mắt trông thấy! Ðức Thế-tôn dùng nhiều phương thức thuyết giảng giáo pháp cũng như thế. Bạch đức Thế-tôn, con xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng.

Xin đức Thế-tôn thâu nhận con vào hàng thiện tín. Xin ngài cho phép con nương tựa nơi Tam Bảo từ nay cho đến giờ phút cuối cùng của đời con.

Ðức Phật hoan hỷ chấp nhận và truyền ban năm giới. Cha ông Yasa là người thiện nam (upasaka) đầu tiên thọ lễ quy y với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo. Khi nghe Ðức Phật thuyết pháp cho cha xong, ông Yasa đắc quả A-la-hán.

Vừa lúc ấy Ðức Phật thâu thần thông để cho nhà triệu phú nhìn thấy con. Ông lấy làm vui mừng, thỉnh Ðức Phật cùng các vị đệ tử về nhà trai tăng ngày hôm sau. Ðức Phật chấp nhận bằng cách làm thinh.

Sau khi ông triệu phú ra về, ông Yasa xin Ðức Phật cho thọ lễ xuất gia. Ðức Phật làm lễ xuất gia cho ông Yasa với những lời sau đây:
- Hãy đến đây, này tỳ-kheo! Giáo pháp đã được Như-Lai truyền dạy đầy đủ. Từ nay thầy hãy sống đời phạm-hạnh thiêng-liêng của bậc xuất gia để chấm dứt mọi đau khổ

Với đại đức Yasa, tổng số các vị đệ tử xuất gia vào ngày thứ sáu sau khi Phật chuyển pháp luân là sáu vị: Kondanna (Kiều-Trần-Như), Bhaddiya (Bạt-Ðề), Vappa (Bà-Phạm) còn gọi là Dasabala-Kassapa (Thập-Lực Ca-Diếp), Mahanama-Kulika (Ma-Ha-Nam Câu-Lỵ), Assaji (Át-Bệ) và Yasa (Da-Xá). Tất cả đều đắc quả A-la-hán.

Ngày hôm sau Ðức Phật đến nhà ông triệu phú với sáu vị đệ tử A-la-hán. Mẹ và vợ của ngài Yasa đến nghe Ðức Phật thuyết pháp, đắc quả Tu-đà-hoàn, xin thọ lễ quy y Tam Bảo[16]. Hai bà là hai người tín-nữ (upasika) đầu tiên.

Ðại đức Yasa có bốn người bạn thân tên Vimala, Subahu, Punnaji và Gavampati. Khi bốn vị này nghe tin người bạn quý của mình đã cạo râu tóc và đắp y để sống đời không nhà cửa, không sự nghiệp, thì đến thăm và tỏ ý muốn noi theo gương lành ấy.

Ðại đức Yasa tiến dẫn cả bốn vị vào yết kiến Ðức Phật. Sau khi nghe Phật thuyết pháp cả bốn vị đều đắc quả A-la-hán và đều xin xuất gia theo Phật. Vậy đến ngày thứ bảy, sau thời pháp đầu tiên tại Lộc Uyển, tổng số đệ tử Phật lên đến mười vị, đều đắc quả A-la-hán.
=========
GHI CHU

[1] Xem Buddhist Legends, quyển III trang 235.
[2] Xem Majjhima-nikaya 26: Ariapariyesana-sutta.
[3] Xem Khuddaka-nikaya / Maha-vagga; Samyutta-nikaya / samyutta 56 / sutta 11.

[4] Hiện nay ở Sarnath có tháp Chaukhandi kỷ-niệm nơi Phật gặp lại 5 anh em ông Kiều-Trần-Như, tháp Dhamekh kỷ-niệm nơi Ðức Phật thuyết pháp lần đầu tiên, và ngôi chùa Mulagandhakuti kỷ-niệm nơi thành lập Tam Bảo và nhập hạ lần đầu.

[5] Xem Lalitavistara; Buddhacarita; Samyutta-nikaya / Maha-vagga 1; Majjhima-nikaya 26; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 109, 112.
[6] Không còn dục-vọng.

[7] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 112.
[8] Năm uẩn là sắc (rupa), thọ (vedana), tưởng (sanna), hành (samkhara), thức (vinnana). Ðó là năm yếu-tố tâm-lý và vật-chất cấu-tạo nên con người.
[9] Chữ "Diệt" ở đây có nghiã là tịch-diệt, là vắng-lặng, là vô sanh, là niết-bàn.

[10] Ba phương-diện là chính mình nhận biết, có kinh-nghiệm bản thân, biết chỉ dạy cho người khác.
[11] Mỗi Thánh Ðế có 3 phương-diện, Bốn Thánh Ðế có 12 phương-thức.
[12] Pháp-nhãn thanh-tịnh là một trong 3 quả-vị đầu tiên (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm). Ngài Kondanna đắc quả Tu-đà-hoàn.

[13] Nguyên văn: Yam kinci samudaya-dhammam sabbam tam nirodha-dhammam.
[14] Xem The Buddha and His Teachings, trang 100-102 (Mahavagga; Samyutta-nikaya III).
[15] Xem Mahavagga 1; Khandhaka 1; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 186, 187.
[16] Trong lễ quy y Tam Bảo, người thiện-nam hay tín-nữ phải đọc ba câu kinh quy y sau đây:

Buddham Saranam Gacchami (Con xin quy y Phật)
Dhammam Saranam Gacchami (Con xin quy y Pháp)
Sangham Saranam Gacchami (Con xin quy y Tăng)


Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 02 Aug 2010, 19:25

[color=purple]
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT THÍCH CA (trang 4)

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai

=
G- TỪ HẠ THỨ NHỨT ÐẾN HẠ THỨ 5

Ðây là giai-đoạn thành lập Giáo-Hội Tăng-Già và Giáo-Hội Tỳ-kheo-ni. Trong giai đoạn này, đức Phật huấn luyện các đệ tử nồng cốt, thuyết phục để được sự ủng hộ của những nhân vật có thế lực về chính-trị cũng như về tôn-giáo, thành lập bốn tinh xá lớn làm cơ sở tu học cho tăng ni.

Ðó là: Venuvana[1] (Veluvana,Trúc Lâm) tại thủ đô Rajagriha của xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), Jetavana (Kỳ Viên) tại thủ đô Sravasti của xứ Kosala (Kiều-tát-la). Mahavana (Ðại Lâm) tại thủ đô Vesali của xứ Vajji (Bạt-kỳ), Nigrodha (Ni-câu-đà) tại thủ đô Kapilavastu của xứ Sakya.

Thời bấy giờ Magadha và Kosala là hai xứ lớn nhất ở lưu vực sông Ganga. Vua Bimbisara xứ Magadha và vua Pasenadi xứ Kosala đều trở thành hai thiện tín nhiệt thành của đức Phật.

1- Hạ thứ nhất tại Lộc-Uyển (năm -589)

Ðến ngày trăng tròn tháng bảy dương lịch, Phật nhập Hạ[2] đầu tiên với mười vị đệ tử A-la-hán tại Lộc Uyển, trong làng Isipatana hiện nay là Sarnath. Hiện nay có chùa Mulagandhakuti do ngài Anagarika Dharmapala (Pháp Hộ) khởi công xây cất vào năm 1922 để kỷ niệm nơi Phật nhập Hạ lần đầu.

Nơi đây là một địa điểm thiêng liêng của Phật giáo, là một trong Bốn Ðộng Tâm (Nơi Phật giáng sanh, thành đạo, thuyết pháp lần đầu, và nơi Phật nhập niết-bàn), vừa là nơi Phật chuyển pháp luân (thuyết pháp lần đầu), vừa là nơi xuất phát Giáo Hội Tăng Già với đầy đủ Phật, Pháp,

Tăng. Vào năm 244 trước tây lịch, đại đế Asoka đến hành hương nơi thánh địa này, có cho xây cất một số đền đài và một trụ đá kỷ-niệm, trên đầu trụ có tượng đá sư tử bốn mặt đội "Bánh Xe Pháp Bảo" (Dharmacakra) tuyệt đẹp, ngày nay vẫn còn được trưng bày tại Bảo Tàng Viện Sarnath. Hình sư tử bốn mặt được dùng làm biểu tượng chánh thức của xứ Ấn.

Ông Jawaharlal Nehru viết: "Tại Sarnath, gần Benares, dường như tôi vẫn còn thấy Ðức Phật đang thuyết giảng bài pháp đầu tiên, và những lời dạy của ngài văng vẳng từ xa vang lại, đang còn thì thầm bên tai tôi, xuyên qua hai ngàn năm trăm năm.

Trụ đá Asoka với những lời ghi khắc trên đó dường như nói lên cho tôi bằng những ngôn từ tuyệt mỹ về một con người, mặc dù cũng là hoàng đế, nhưng vĩ đại hơn bất luận vua chúa hay hoàng đế nào." (The Discovery of India, trang 44; Calcutta, Signet Press 1946).

Năm mươi người bạn khác của ông Yasa xin xuất gia[3]

Trong mùa hạ này, 50 người bạn khác của ông Yasa, tất cả đều thuộc các gia đình nổi tiếng nhứt trong vùng, cũng đến nghe Phật thuyết pháp, đắc quả A-la-hán và xin xuất gia tỳ-kheo, nâng số đệ tử Phật lên 60 vị, đều là bậc A-la-hán.
Phật trao sứ mệnh hoằng pháp cho các vị tỳ-kheo

Ðến ngày mãn hạ, Ðức Phật gọi các đệ tử đến bảo:

- Này các tỳ-kheo, Như-Lai đã thoát ra khỏi mọi ràng buộc, dù ở cảnh người hay cảnh trời. Các thầy cũng vậy, này các tỳ-kheo, các thầy cũng đã thoát ra khỏi mọi ràng buộc, dù ở cảnh người hay cảnh trời. Các thầy hãy ra đi đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người, đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Vì lòng từ-bi, các thầy hãy đem lại sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại.

Các thầy hãy đi mỗi người một ngả, hoằng dương Giáo Pháp, toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, toàn hảo về cả hai phương diện tinh-thần và văn-tự. Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng vừa toàn thiện vừa trong sạch.

Có những chúng sanh vướng ít nhiều cát bụi trong mắt, nếu không nghe được Giáo Pháp sẽ sa đọa. Cũng sẽ có những người am hiểu được Giáo Pháp.
Chính Như-Lai cũng đi, Như-Lai sẽ đi về hướng Uruvela ở Sananigama để hoằng dương Giáo Pháp.

Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí. Hãy truyền dạy Giáo Pháp cao siêu. Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Ðược vậy là các thầy đã hoàn tất nhiệm vụ.
- Bạch đức Thế-Tôn, Ðại-đức Kondanna nói, xin ngài chỉ dạy chúng con cách làm lễ xuất gia cho người phát tâm tu học.

- Quý thầy đã từng thấy Như-Lai làm lễ xuất gia cho nhiều người rồi; vậy quý thầy cứ làm như thế.
- Bạch đức Thế-Tôn, Ðại-đức Assaji nói, oai-đức ngài rất lớn nên không cần nghi thức rườm-rà. Nhưng đối với chúng con, một nghi thức tối thiểu để sử dụng trong lúc làm lễ xuất gia rất là cần thiết. Xin sư huynh Kondanna đề nghị một nghi thức đơn giản, rồi nhờ đức Thế-Tôn chỉ dạy thêm.

- Bạch đức Thế-Tôn, Ðại-đức Kondanna nói, theo con nghĩ, trước hết nên cho giới tử cạo sạch râu tóc, mặc áo cà-sa, rồi theo nghi lễ quỳ xuống trước mặt vị tỳ-kheo truyền giới, chấp tay thành khẩn lập lại ba lần như thế này:
" Con xin quy y Phật, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời này. Con xin quy y Pháp, con đường của tình thương và sự giác-ngộ. Con xin quy y Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh-thức."

Bạch đức Thế-Tôn, con mạo muội đề nghị như thế, không biết con có phạm vào lỗi-lầm nào không?
- Nghi-thức thầy đề-nghị hay lắm, Như-Lai xác nhận với đại chúng: Quỳ đọc ba lần tam quy dưới chân một vị tỳ-kheo thì có thể trở nên một vị tỳ-kheo.

Ðại chúng hoan-hỷ tuân theo lời Phật dạy. Ông Punna Mantaniputta và 29 người bạn xuất gia[4]

Sau ngày mãn hạ, đức Phật đi từ Isipatana về Uruvela. Trên khoảng đường từ Isipatana đến Benares, lúc đức Phật dừng chân, ngồi dưới cội cây, trong một cụm rừng nhỏ Kappasika[5], có ba mươi thanh niên vui vẻ trẻ trung cũng dắt vợ đến chơi trong cụm rừng ấy. Một trong ba mươi người đó không vợ nên dắt theo một người bạn gái.

Trong khi ai nấy xuống sông tắm, vui đùa với nhau, thì cô bạn gái bỏ đi, lén đem theo các món đồ quí giá của mấy người kia. Ðến lúc hay ra, mọi người cùng nhau chạy đi tìm kiếm trong rừng. Gặp đức Phật, họ đến gần, hỏi thăm ngài có thấy một người phụ-nữ chạy ngang qua đó không. Ðức Phật hỏi lại:

- Theo ý các ông thì nên tìm một người phụ-nữ hay nên tìm ra thực ngã của mình là hơn?
- Thưa sa-môn, tìm ra thực ngã của mình hẳn là hơn.
- Vậy các ông hãy ngồi lại đây, Như-Lai sẽ giảng Giáo-pháp cho các ông.
- Chúng con xin nghe.

Ba mươi thanh niên cung kính đảnh lễ rồi ngồi xuống chăm chỉ nghe. Sau khi nghe đức Phật giảng về Vọng-Ngã, Chơn-Ngã và Tứ Diệu Ðế, cả ba mươi thanh niên ấy lấy làm hoan-hỉ, liền xin xuất gia theo Phật.

Sau khi làm lễ xuất gia, Phật bảo tất cả đến Lộc-Uyển gặp thầy Kondanna, xin thầy cho cạo bỏ râu tóc, khoác áo khất-sĩ và thọ lãnh những lời chỉ dẫn tu học; đến tháng bảy năm sau sẽ gặp lại Phật tại Rajagriha (Vương-Xá) để nhập Hạ.

Trong nhóm 30 thanh niên nầy có một vị tên Punna Mantaniputta (Purana Maitrayaniputra[6],Phú-Lâu-Na Di-Ða-La-Ni-Tử) về sau được Phật xác nhận là vị tỳ-kheo thuyết pháp hay nhất trong số các đệ-tử Phật.

Số đệ-tử Phật từ nay được 90 vị. Ông Uruvela Kassapa, 2 người em, và 1000 đệ tử xuất gia[7]

Ðộ mười ngày sau, đức Phật đến Uruvela (vùng Bodhgaya). Nơi đây có ba anh em tu khổ hạnh, thờ thần Lửa. Người anh cả là Uruvela Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa Ca-Diếp) có 500 đệ-tử, người anh kế là Nadi Kassapa (Na-đề Ca-Diếp) có 300 đệ-tử, và người em út là Gaya Kassapa (Già-da Ca-Diếp) có 200 đệ-tử.

Các tiếng Uruvela, Nadi, Gaya chỉ nơi cư trú của mỗi người. Ba vị này tu theo đạo Bà-la-môn, thờ Thần Lửa. Họ sống trong những túp lều dựng bằng cành cây và lá cây. Áo của họ mặc làm bằng vỏ cây. Tóc để dài thắt thành bính hoặc bới trên đỉnh đầu. Họ không đi khất thực nhưng tiếp nhận các thức cúng dường của dân chúng từ các làng mạc trong vùng.
Họ tự nấu nướng lấy. Họ cũng chăn nuôi súc vật để ăn và để cúng tế. Ðạo-sĩ Uruvela Kassapa đã trên 100 tuổi nhưng còn rất khỏe mạnh.

Ông là người tinh thông ba bộ kinh Vệ-đà, sống một cuộc đời đức hạnh gương mẫu, và tự tin rằng mình đã chứng quả A-la-hán. Ông rất được hai người em tôn kính. Những buổi giảng đạo của ông được dân chúng địa phương đến tham dự rất đông.

Ðức Phật đến viếng vị này trước nhất. Tôn giả Uruvela Kassapa thấy vị sa-môn còn trẻ mà đạo phong uy-nghiêm cũng đem lòng quý mến. Sau một lúc đàm đạo, ông hoảng hốt nhận thấy rằng có những tư-tưởng trong kinh Vệ-đà mà ông chưa nắm vững được.

Vị sa-môn này đã chỉ cho ông những chỗ uyên-áo (rất khó hiểu) của các bộ Atharvaveda và Rigveda. Lạ hơn nữa là khi nói đến các môn ngữ-học, văn pháp, sử truyện và mười tám pháp tế-tự của đạo Bà-la-môn, không có điều gì mà vị sa-môn này không thông.

Trưa hôm ấy, đức Phật nhận lời thọ ngọ trai với Uruvela Kassapa. Xếp áo cà-sa lại làm bốn để trải thành tọa cụ trên bờ cỏ, đức Phật ngồi đoan trang thọ trai trong im lặng. Uruvela Kassapa cũng giữ sự yên lặng đoan trang để thọ trai bên cạnh vị khách sa-môn.

Chiều hôm ấy, trong khi đàm đạo với Uruvela Kassapa, đức Phật hỏi:
- Này hiền giả, hiền giả hãy nói cho tôi biết vì sao Thần Lửa lại có thể đem lại cho chúng ta sự giải thoát?

- Sa-môn Gotama, sau một lúc im lặng suy nghĩ tôn giả Kassapa đáp, lửa là bản chất uyên nguyên của vũ-trụ. Lửa có nguồn gốc từ Phạm-thiên (Brahma). Vì vậy trong các điện thờ, hình tượng Phạm-thiên luôn luôn được đặt vào vị trí trung-ương.

Kinh Atharvaveda có nói về phép thờ Lửa. Lửa là sự sống. Nếu không có lửa thì không có sự sống. Lửa là ánh sáng, là hơi ấm, là nguồn năng lượng làm phát sinh ra cây cối, muông thú và con người.

Lửa phá tan bóng tối, phá tan sự lạnh lẽo, đem tới nguồn vui và sự sinh trưởng của vạn vật. Thức ăn nhờ lửa mà trở nên tinh-khiết. Con người nhờ lửa mà trở về hợp nhất được với Brahma.

Vì lửa là sự sống nên lửa chính là Brahma vậy. Thần lửa Agni cũng chỉ là một trong muôn ngàn biểu hiện của Brahma. Trong hỏa viện, thần lửa Agni thường được biểu hiện như có hai cái đầu: một đầu biểu trưng cho lửa thường dùng hằng ngày và một đầu biểu trưng cho lửa của sự tế lễ và trở về nguyên thể.

Có tới bốn mươi bốn phép tế lửa. Người đạo-sĩ thờ lửa phải giữ giới, phải khổ hạnh và phải chuyên cần tu tập mới có đủ tư cách duy trì Thần Lửa và làm sáng tỏ con đường giải-thoát.

- Tôn giả Kassapa, đức Phật hỏi tiếp, ngài nghĩ thế nào về những người cho rằng nước là bản chất đầu tiên của sự sống, nước bắt nguồn từ Brahma, và nước có công năng làm cho con người trở nên thanh-tịnh để trở về hợp nhất với Brahma (Phạm-thiên)?

Uruvela Kassapa im lặng. Ông nghĩ đến hằng triệu người, ngay trong giờ phút này, đang tắm trong nước sông Hằng (Ganga) và trong những dòng sông, hồ nước linh thiêng khác, mong rửa sạch được mọi tội-lỗi và nghiệp chướng để sau này có thể trở về với Brahma. Một lát sau, ông nói:

- Sa-môn Gotama, nước không thật sự giúp ta siêu thoát được. Nước đi xuống, trong khi lửa bốc lên. Khi ta chết, thân xác ta nhờ lửa mà bay lên thành khói ...

- Tôn giả Kassapa, ngài nói như vậy e không đúng. Ðám mây trắng đang bay trên trời kia cũng là nước đấy. Nước cũng có thể bay lên. Khói cũng là hơi nước. Cả hai thứ mây và khói đều sẽ phải trở lại mặt đất. Vạn vật, như ngài đã biết, luôn luôn luân chuyển tuần hoàn.
- Nhưng vạn vật đều có một nguồn gốc, và có thể trở về nguồn gốc ấy.

- Tôn giả Kassapa, vạn vật nương nhau mà có mặt. Tôn giả hãy nhìn chiếc lá trong tay tôi đây. Hạt giống là nhân, đất, nước, hơi nóng, đám mây, mặt trời, thời gian, không gian ... đều là duyên giúp cho chiếc lá này có mặt. Thiếu một trong các duyên ấy thì chiếc lá này sẽ khác đi hoặc không thành. Tất cả các loài đất đá, thảo mộc và cầm thú đều theo luật nhân duyên sinh ấy.

Nguồn gốc của một vật là vạn vật. Tôn giả hãy quán sát kỹ xem. Có bao giờ chỉ có một nhân đơn độc mà đưa tới được một quả đâu. Phải có đủ nhân duyên hòa hợp mới sanh ra quả.
Ý niệm về một nguyên nhân duy nhất đầu tiên là một vọng tưởng do vọng chấp thiếu nhận xét mà ra. Này tôn giả, chiếc lá trong tay tôi đây là do tất cả các pháp trong vũ-trụ họp lại để tạo thành, trong đó có nhận thức của tôn giả.

Vị đạo-sĩ Bà-la-môn im lặng.

Trời đã tối. Ðạo-sĩ Uruvela Kassapa mời Phật ngủ lại trong túp lều của ông. Nhưng đức Phật ngỏ ý muốn được nghỉ đêm một mình trong hỏa viện. Vị đạo-sĩ Bà-la-môn nói:

- Mấy hôm nay có một con rắn lớn vào ẩn trong hỏa viện, đuổi thế nào nó cũng không đi. Sa-môn Gotama không nên nghỉ đêm trong đó, có thể bị nguy hiểm. Chính vì con rắn kia mà lâu nay chúng tôi đã phải lập tế đàn ngoài trời để hành lễ. Xin ngài nghỉ đêm tại đây cho an-toàn.

- Tôn giả an tâm. Tôi xin được nghỉ đêm trong hỏa viện. Chắc cũng không sao đâu.
- Sa-môn đã muốn nghỉ đêm tại hỏa viện thì xin cứ tự tiện. Ngài muốn ở đó bao lâu cũng được.

Ðêm ấy đức Phật nghỉ trong hỏa viện. Trên bàn thờ trung ương, lửa được nuôi bằng nhiều ngọn đèn, mỗi ngọn đèn có nhiều bấc.

Góc bên trái có một đống gỗ lớn, có lẽ đây là gỗ chiên-đàn dùng để đốt lên mỗi khi hành lễ. Ðức Phật nghĩ nếu có một con rắn ở trong hỏa viện thì chắc nó ẩn mình trong đống gỗ. Ngài chọn góc đối diện, xếp áo cà-sa làm bốn, trải xuống làm tọa cụ và bắt đầu ngồi thiền định. Ðến khuya, đức Phật thấy một con rắn thật lớn nằm khoanh tròn giữa hỏa viện, ngài lên tiếng nhỏ nhẹ nói:

- Rắn ơi, hãy đi ra ngoài rừng ở cho an ổn, đừng ở đây sẽ nguy hiểm đến tánh mạng.

Giọng nói của Phật chứa đầy tinh thương và sự hiểu biết. Con rắn từ từ trườn đi về phía cửa. Ðức Phật cũng ngả lưng xuống tọa cụ. Khi Phật thức giấc thì ánh trăng khuya chênh chếch chiếu qua khung cửa sổ vào nơi người nằm. Ngài ngồi dậy, cầm áo lên rũ bụi, rồi khoác áo lên người, đi ra khỏi hỏa viện, vào ven rừng để thiền hành.

Lúc trời tang tảng sáng thì hỏa viện bốc cháy, không biết vì lý do gì. Các đệ tử của đạo-sư Kassapa thấy lửa, hoảng hốt la lớn, rồi chạy đi tìm bình xuống sông Nairanjana múc nước lên tưới. Nhưng tất cả mọi cố gắng đều vô hiệu. Hỏa viện của họ bốc cháy dữ dội, không còn cách gì cứu chữa.

Ðạo-sĩ Uruvela Kassapa đang bùi-ngùi thương tiếc vị sa-môn đức hạnh và tài ba mà ông vừa mới được quen biết từ sáng hôm qua. Giữa lúc ấy thì đức Phật xuất hiện. Ðang đi thiền hành trên đồi cao, thấy lửa bốc cháy, ngài quay trở về. Thấy Phật, đạo-sĩ Kassapa mừng rỡ chạy lại nắm lấy tay người.

- May quá, may quá, sa-môn Gotama vẫn an toàn, không sao cả. Tôi mừng quá.
- Cám ơn tôn giả, tôi vẫn được an toàn.

Ðức Phật biết hôm nay là ngày đạo-sĩ Uruvela Kassapa thuyết pháp. Nghe nói trong số những người nghe pháp, ngoài năm trăm đệ-tử tu-sĩ, còn có gần một ngàn người từ các thôn xóm kéo tới. Giờ thuyết pháp được định vào buổi trưa, sau giờ thọ trai.
Biết rằng sự có mặt của mình trong buổi thuyết pháp sẽ làm cho vị lãnh đạo không được thoải mái, đức Phật cầm bát đi vào thôn xóm để khất thực. Ðến giờ ngọ, ngài ngồi thọ trai bên bờ hồ sen. Ði thiền hành quanh hồ, rồi đến tĩnh tọa dưới bóng cây cổ thụ. Ðến xế chiều, đạo-sĩ Kassapa tìm tới.

- Sa-môn Gotama, hôm nay vào giờ ngọ trai chúng tôi chờ mãi mà không thấy ngài. Sao ngài không tới?
- Cám ơn tôn giả, tôi muốn đi ngắm cảnh quanh đây, và để ngài được tự nhiên trong lúc thuyết pháp.
- Hôm qua sa-môn Gotama nói về sự có mặt của chiếc lá như là sự tập hợp của nhiều yếu-tố nhân duyên. Ngài nói rằng con người cũng do sự tập hợp của nhân duyên mà thành. Vậy thì khi các nhân duyên tan rã, con người đi về đâu?

- Ðã từ lâu chúng ta bị kẹt vào ý niệm về ngã (atma) như một cái ta thường tại bất biến. Chúng ta đã quen nghĩ rằng khi thân xác tan rã, cái ngã ấy vẫn còn tồn tại và có thể trở về nguồn gốc của nó là Brahma (Phạm-thiên) để cộng trú với ngài. Này tôn giả Kassapa, đó là một sai lầm căn bản đã từng làm lạc lối biết bao nhiêu thế-hệ.

Tôn giả Kassapa nên biết: Vạn pháp từ nhân duyên sanh và cũng do nhân duyên mà diệt. Cái này sanh vì cái kia sanh, cái này diệt vì cái kia diệt. Ðó là nguyên lý duyên sinh mà tôi đã khám phá được nhờ thiền quán. Trong thực tại, không có một cái gì đồng nhất và bất biến. Không có ngã, dù là đại ngã hay tiểu ngã.

Này tôn giả Kassapa, ngài đã từng quán chiếu về thân-thể, cảm thọ, tâm tưởng, tâm hành và tâm thức chưa[8]? Con người có mặt là do sự tập hợp và vận hành của năm uẩn ấy. Ðó là những dòng biến chuyển liên tục, trong đó không có một yếu-tố nào thường tại.

Ðạo-sĩ Uruvela Kassapa im lặng suy nghĩ hồi lâu, rồi hỏi:
- Như vậy có phải là sa-môn Gotama chủ trương thuyết hư-vô không?
- Không phải. Quan-niệm vạn vật đều là hư-vô cũng là một tà kiến như quan niệm về một bản ngã trường tồn bất biến. Tôn giả Kassapa, ngài hãy nhìn mặt hồ này đây.

Tôi không hề nói rằng nước, lá sen, hoa sen trong hồ là hư-vô. Tôi chỉ nói rằng nước, lá sen, hoa sen đều là những hiện-tượng do nhân duyên phối hợp mà có mặt, và trong tự thể của chúng không hề có một thực thể bất biến và thường tại.

- Vậy, nếu không có ngã, không có "atma", thì cần gì phải tu hành để đạt tới giải thoát? Giải thoát cho ai? Ai là người được giải thoát?

Ðức Phật nhìn vào mắt vị đạo-sĩ Bà-la-môn. Cái nhìn sáng chói như tia nắng mặt trời nhưng cũng êm dịu như ánh trăng. Ngài mỉm cười nói:

- Tôn giả Kassapa hãy thử tự tìm lấy câu trả lời. Hôm khác, chúng ta sẽ tiếp tục câu chuyện.

Hai người trở về trú sở. Uruvela Kassapa nhường tịnh thất mình cho Phật nghỉ đêm. Ông sang nghỉ đêm tại túp lều của một người đệ-tử lớn. Tôn giả Uruvela Kassapa rất được các đệ-tử quý mến và cung kính vâng lời.

Trong những ngày kế tiếp, đức Phật không đi khất thực bên ngoài vì sáng nào đạo-sĩ Kassapa cũng cho đem thức ăn cúng dường tại chỗ. Tuy vậy, trưa nào sau khi thọ trai, ngài cũng đi kinh hành ở ven rừng hoặc bên bờ hồ, rồi đến nơi có bóng mát ngồi tĩnh tọa.
Cứ xế chiều, Kassapa lại đi tìm Phật để đàm đạo. Càng ngày ông càng nhận thức được tầm vóc vĩ đại của tuệ giác và đức hạnh của đức Thế-tôn.

Một hôm nọ trời mưa giông tầm-tã suốt đêm. Sáng hôm sau nước sông Nairanjana (Ni-liên-thiền) tràn bờ, làm ngập lụt xóm làng nhà cửa trong vùng. Khu rừng nơi đạo-sĩ Kassapa và năm trăm đệ-tử đang hành đạo cũng bị ngập lụt.

Tuy vậy mọi người đều chạy kịp lên chỗ cao, không ai bị nước cuốn. Riêng vị sa-môn Gotama thì không ai thấy mặt. Ðạo-sĩ Kassapa đốc thúc nhiều chiếc ghe đi tìm. Cuối cùng người ta thấy đức Phật đang đứng trên một đỉnh đồi.


Nước dâng lên rất mau và rút xuống cũng mau. Các vị tu-sĩ trong giáo đoàn của ông Kassapa đã khởi sự dựng lại hỏa viện bị cháy và các túp lều bị nước cuốn đi hoặc làm cho xiêu vẹo.

Một buổi chiều, đức Phật cùng đạo-sĩ Kassapa đứng bên bờ sông Nairanjana đàm đạo. Ðạo-sĩ Kassapa hỏi Phật:

- Hôm trước sa-môn Gotama có nói về sự quán chiếu năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Tôi đã thử thực tập quán sát và thấy rằng cả năm dòng hiện tượng là thân thể, cảm thọ, tri giác, tâm hành và tâm thức đều biến chuyển luôn, không có cái nào thường tại bất biến. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu được rằng nếu không có tự ngã thì ta cần gì phải nhọc công tu tập? Giải thoát cho ai? Ai là người được giải thoát?

- Này tôn giả Kassapa, ngài có công nhận rằng khổ đau là một sự thật không?
- Tôi công nhận khổ đau là một sự thật.
- Ngài có công nhận rằng khổ đau nào cũng có nguyên nhân, cũng như muôn vật trong vũ-trụ, vật nào cũng do nhân duyên kết hợp mà thành?

- Tôi công nhận khổ đau nào cũng có nguyên nhân.
- Khi những nguyên nhân của khổ đau có mặt thì khổ đau có mặt; vậy khi những nguyên nhân của khổ đau vắng mặt thì khổ đau có vắng mặt không?
- Dĩ nhiên khi những nguyên nhân của khổ đau không còn thì khổ đau cũng không còn.
- Này tôn giả Kassapa, khổ đau không còn tức là giải thoát, cần gì phải có tự ngã mới có giải thoát. Này tôn giả, nguyên nhân sâu xa của khổ đau là vô minh, nguyên nhân gần của khổ đau là tham ái. Vạn vật đều vô thường mà ta tưởng là thường, đó là vô minh.

Vạn vật đều không có tự ngã mà ta tưởng là có tự ngã, đó là vô minh. Từ vô minh phát sinh ra tham ái, mong cầu được cái nọ cái kia, rồi sinh ra thương, ghét, tham lam, giận hờn, sợ hãi ...và biết bao phiền não, đau khổ khác.

Con đường giải thoát là con đường quán chiếu thực tại để thực chứng được tự tính vô thường, vô ngã, và duyên sinh của vạn pháp, của muôn vật. Con đường giải thoát là con đường diệt trừ vô minh. Vô minh diệt thì tham ái diệt; tham ái diệt thì phiền não diệt và khổ đau diệt. Ðó là giải thoát.

Uruvela Kassapa im lặng. Một lát sau, ông hỏi:
- Sa-môn Gotama, tôi biết những điều ngài nói ra là những điều ngài thực chứng chứ không phải lý luận suông. Theo ngài thì đạo quả giải thoát chỉ có thể do công phu quán chiếu đem lại. Vậy tất cả những lễ nghi thờ phụng và lời khấn nguyện đều là hoàn toàn vô ích hay sao?

Ðức Phật chỉ tay sang bờ sông bên kia nói:
- Này tôn giả Kassapa, nếu có người đang đứng bên này sông muốn sang bờ bên kia thì người ấy phải làm gì?

- Người ấy phải lội qua sông hoặc phải dùng thuyền chèo qua bên kia.
- Ðúng vậy. Nhưng nếu có người muốn qua sông mà không chịu lội, cũng không dùng thuyền, chỉ lập đàn cúng tế và khấn nguyện thì tôn giả nghĩ sao?
- Tôi cho rằng người đó không thực tế, và không biết chừng nào người đó mới qua sông được.
- Cũng vậy, Ðức Phật nói, nếu không tu tập quán chiếu để diệt trừ vô minh, tham ái và phiền não thì ta không đạt tới bờ giải thoát được, dù ta có tế lễ, khẩn cầu suốt cả cuộc đời.

Ðạo-sĩ Uruvela Kassapa bỗng sụp lạy dưới chân Phật. Ông khóc nức nở và nói:
- Kính lạy thầy, con đã lầm lỡ gần hết cuộc đời, giờ đây xin thầy chấp nhận con làm đệ tử của thầy để con có cơ duyên học hỏi và tu tập con đường giải thoát.
- Lành thay! Nhưng còn các đệ tử của ông thì sao?
- Xin thầy cho con có dịp tiếp xúc với họ. Chiều mai con sẽ xin trình thầy quyết định của con.

Hai ngày sau, Uruvela Kassapa và tất cả 500 đệ tử đều cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa. Họ liệng xuống sông Nairanjana tất cả những búi tóc, hình tượng và dụng cụ tế lễ, rồi tập họp trước mặt Phật, quỳ xuống, đồng nói lớn:

" Con xin quy y Phật, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời này.
" Con xin quy y Pháp, con đường của tình thương và sự giác-ngộ.
" Con xin quy y Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.

Sau lễ xuất gia, đức Phật giảng cho 500 vị khất sĩ (tỳ-kheo) mới về Tứ Diệu Ðế, Vô Ngã, phép quán hơi thở, thân thể và tâm ý, phép khất thực và tĩnh cư.

Ngày hôm sau, đạo sĩ Nadi Kassapa cùng 300 đệ tử cũng tìm đến nơi. Hôm qua họ hốt hoảng khi thấy hàng trăm búi tóc và dụng cụ thờ cúng trôi lều bều trên sông Nairanjana; họ nghĩ rằng một tai nạn nào đó đã xảy ra cho trung tâm tu học của Uruvela Kassapa.
Sau khi nghe giải thích họ đều đồng ý xin xuất gia và cho người đi thông báo cho ông Gaya Kassapa hay. Ba anh em Kassapa rất thương mến nhau, lại cùng chung lý tưởng nên chỉ trong bảy ngày, tất cả ba anh em và 1000 đệ tử đều xuất gia theo Phật , nâng số đệ tử Phật lên 1093 vị.

Sau đó đức Phật hướng dẫn tất cả đến đỉnh núi Gaya-Sisa (núi Tượng Ðầu), cách Uruvela không xa, và giảng kinh thứ ba[9] là kinh Adittapariyaya (kinh Lửa). Nghe xong kinh này, tất cả 1003 vị tỳ-kheo mới đều đắc quả A-la-hán.

Ðức Phật cư trú tại Gaya-Sisa liên tiếp trong ba tháng để chỉ dạy cho các tu-sĩ mới.
Ðức Phật nói Kinh Lửa (Aditta-Pariyaya)[10]:

Này các tỳ-kheo, tất cả đều bị thiêu đốt. Này các tỳ-kheo, tất cả đều bị thiêu đốt là như thế nào?

Mắt nằm trong lửa, hình sắc nằm trong lửa, nhãn thức nằm trong lửa. Cảm giác (thọ), dù vui sướng hay đau khổ, hay không vui sướng không đau khổ, phát sanh do nhãn-xúc, đều nằm trong lửa.

Lửa ấy bắt nguồn từ đâu? Từ những ngọn lửa tham ái, sân hận, si mê, sanh, già, bệnh, chết, buồn phiền, than khóc, đau khổ, âu-sầu và tuyệt vọng. Như-Lai tuyên bố như vậy.

Hãy quán tưởng điều này, này các tỳ-kheo, người đệ-tử thuần-thục của bậc thánh nhơn thấy nhàm chán với mắt, hình sắc, nhãn thức, nhãn xúc, dù cho cảm giác nhận được có như thế nào chăng nữa - vui sướng, đau khổ, hay không vui sướng không đau khổ.

Cũng thế, người đệ-tử thuần-thục của bậc thánh nhơn thấy nhàm chán với tai, âm thanh, mũi, mùi hương, lưỡi, vị, thân, xúc, tâm, ý, tâm thức, tâm xúc, dù cho cảm giác nhận được có như thế nào chăng nữa - vui sướng, đau khổ, hay không vui sướng không đau khổ.

Do nhàm chán, người đó không còn luyến ái; do không còn luyến ái, người đó được giải-thoát. Người đó sẽ tự biết rằng mình không còn tái sanh nữa, đời sống phạm hạnh[11] đã hoàn mãn, những gì cần làm đã làm xong, và sẽ không bao giờ trở lại trạng thái này nữa.
Khi đức Phật dứt lời, tất cả các vị tỳ-kheo đều đắc quả A-la-hán, dứt sạch mọi ô-nhiễm.
5- Hạ thứ 2 tại Venuvana (năm -588)
Phật độ vua Bimbisara

Từ Gayasisa đức Phật đi Rajagriha (còn gọi là Rajagaha, hiện nay là Rajgir, Vương-Xá) để gặp lại vua Seniya Bimbisara (Ba-Tư-Nặc) theo lời hứa trước khi ngài thành đạo. Ðại đức Uruvela Kassapa xin Phật cho cả giáo đoàn đi theo. Ông trình bày với Phật là sẽ không có trở ngại gì cho việc 1000 vị khất-sĩ về tới kinh-đô xứ Magadha (Ma-Kiệt-Ðà).

Gần thủ-đô Rajagriha có nhiều khu rừng để các vị khất-sĩ cư trú. Họ có thể đi khất thực ở các vùng ngoại-ô và ngay cả trong thủ-đô để có dịp giáo-hóa dân chúng miền này. Sau khi nghe Ðại đức Uruvela Kassapa trình bày, đức Phật bằng lòng cho tất cả 1003 vị khất sĩ (tỳ-kheo) đi theo người về thành Rajagriha (Vương-xá).

Ba anh em Kassapa tổ chức tăng đoàn rất nghiêm minh. Một ngàn vị khất sĩ được chia ra thành 40 chúng, mỗi chúng gồm 25 vị trong đó có một vị làm chúng trưởng. Ðạo phong của các vị khất-sĩ nhờ khéo tổ-chức nên càng ngày càng sáng rỡ, đầy đủ uy-nghi.

Từ Gaya đến Rajagriha chỉ khoảng 52 km mà tăng đoàn phải đi đến 10 ngày. Vì mỗi buổi sáng các vị khất sĩ (tỳ-kheo) phải chia nhau ghé vào các thôn xóm để khất thực. Sau đó họ tập họp lại trong một khu rừng hoặc trên một bãi cỏ để thọ trai trong im-lặng.
Thọ ngọ trai xong, họ lại lên đường, đi thành từng chúng. Hình dáng các vị khất-sĩ khoác áo cà-sa màu vàng đi trầm lặng trên đường lần hồi gây một ấn-tượng sâu đậm và đẹp-đẽ trong lòng dân chúng.

Ðến Rajagriha, Ðại đức Uruvela Kassapa hướng-dẫn đức Phật và tăng đoàn về tạm cư ở khu rừng Latthivana (Rừng Kè, Palm Grove), tại đền Supatthita cách thủ-đô Vương-Xá độ 2 km về phía nam. Sáng hôm sau, giáo đoàn được phép ôm bát vào thành khất thực.

Các vị khất-sĩ chia ra thành từng chúng 25 người, đi thành hàng một, bước từng bước khoan thai và có ý-thức, mắt nhìn thẳng xuống phía trước mặt, dáng điệu uy-nghi và lặng-lẽ.
Theo lời Phật dạy, họ im lặng dừng lại trước mỗi nhà, không phân biệt giàu nghèo, khoảng năm phút, rồi tiến tới trước cổng nhà bên cạnh. Trong khi đứng im lặng chờ đợi được cúng dường, họ theo dõi hơi thở và thực tập phép quán niệm mà đức Phật đã dạy.

Khi được cúng dường, họ chỉ lặng lẽ nghiêng mình cám ơn mà không nói lời khen chê nào về thực phẩm được cúng dường. Người cúng dường sau khi sớt thức ăn vào bát vị khất-sĩ, có thể đặt một vài câu hỏi. Các vị khất-sĩ đã được lệnh ân cần trả lời về những câu hỏi đó.

Ðại ý, các vị cho biết là mình tu học trong giáo đoàn Tỉnh-Thức, dưới sự hướng dẫn của sa-môn Gotama dòng Sakya, thường được gọi là Phật; họ được thầy dạy về Bốn Sự Thật, Năm Giới và Tám Thánh Ðạo.

Tất cả các vị khất-sĩ đều được lệnh trở về trú sở trước giờ ngọ để ăn trưa chung với nhau và nghe pháp thoại. Buổi chiều và buổi tối dành cho sự tu học và thiền tập. Vì vậy từ giữa trưa cho đến rạng sáng ngày hôm sau, không ai còn thấy bóng dáng một khất-sĩ áo vàng nào trong thành phố nữa.

Chỉ trong vòng nửa tháng, phần lớn dân chúng thủ-đô đã biết tới sự có mặt của giáo đoàn khất sĩ do Phật lãnh đạo. Vào những buổi chiều khi trời đã mát, nhiều vị thí chủ tìm tới Latthivana (Rừng Kè) gặp Phật và tăng đoàn để học hỏi về đạo lý tỉnh thức.

Ðức Phật chưa kịp đi thăm vua Seniya Bimbisara[12] thì nhà vua đã được báo cáo về Phật và giáo đoàn khất-sĩ đông đảo của người.

Nhà vua được biết người lãnh đạo giáo đoàn này chính là vị sa-môn trẻ tuổi mà mình đã gặp trước đây nơi đạo tràng của đạo-sư Uddaka Ramaputta. Một buổi chiều, nhà vua cùng với hoàng-hậu Videhi và thái-tử Ajatasattu (A-Xà-Thế)[13] ngồi xe tứ mã đến Rừng Kè để thăm Phật.

Nhà vua có mời đi theo mình một trăm hai mươi vị nhân sĩ, trí thức và lãnh đạo cao cấp trong giới Bà-la-môn. Ðến ven rừng, nhà vua xuống xe đi bộ vào. Hoàng hậu Videhi cầm tay thái tử Ajatasattu theo sau. Một trăm hai mươi vị tân khách Bà-la-môn cũng làm như thế.

Nghe tin vua đến, đức Phật cùng Uruvela Kassapa đi ra đón tiếp. Tất cả 1003 vị khất sĩ đều có mặt, ngồi vây quanh. Ðức Phật mời vua, hoàng hậu, thái tử và các vị tân khách an tọa.
Vua Seniya Bimbisara bắt đầu giới thiệu các nhân sĩ Bà-la-môn với Phật. Trong số các vị tân khách này có nhiều người lảu thông kinh-điển và giáo-lý Vệ-đà. Họ thuộc đủ các khuynh hướng đạo học và tôn giáo trong vùng.

Phần lớn các vị nhân sĩ này đã từng nghe danh đạo sĩ Uruvela Kassapa, và một số đã được gặp ông, nhưng ngoài quốc vương Bimbisara chưa ai được gặp Phật lần nào. Thấy thái độ cung kính của Uruvela Kassapa đối với Phật, nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên.
Uruvela Kassapa đã trên 100 tuổi trong lúc đức Phật chỉ mới 36 tuổi. Các quan khách thì thầm với nhau, không biết ai là thầy ai là đệ tử. Biết ý họ, đại đức Uruvela Kassapa liền đứng dậy, đi tới trước mặt Phật, chắp tay nói chậm rãi rõ ràng từng tiếng:

- Kính bạch sa-môn Gotama, bậc giác ngộ hoàn toàn, bậc tôn quý nhất trên đời, con là Uruvela Kassapa xin cung kính đảnh lễ thầy.

Nói xong ông kính cẩn lạy Phật ba lạy. Ðức Phật đỡ Kassapa dậy, bảo ông ngồi xuống bên tay trái của người. Bây giờ tất cả cử tọa đều hoàn toàn im lặng. Ðức Phật lên tiếng nói cho mọi người nghe kinh Maha Narada Kassapa Jataka nói về Uruvela Kassapa đã có nhân duyên làm đệ tử Phật từ nhiều kiếp trước.

Kế đó đức Phật giảng về Tứ Diệu Ðế, tính vô thường, vô ngã và duyên sanh của con người và vạn vật, chỉ dạy cách diệt trừ mê lầm và đau khổ bằng cách thực hành đời sống tỉnh thức, giữ giới luật thanh tịnh, định tâm và quán chiếu. Giọng Phật trong sáng, vang xa như tiếng chuông đồng, ấm áp như nắng xuân, trầm hùng như tiếng hải triều.

Hơn một ngàn người lắng tai nghe trong im lặng, ai nấy đều vui mừng được thấy tâm mình bừng sáng, đầy hy vọng an lạc. Bao nhiêu nghi vấn trong lòng dần dần được cởi mở. Khi đức Phật dứt lời, vua Bimbisara, vừa đắc quả Tu-đà-hoàn, nở một nụ cười sung sướng, rạng rỡ.

Ông đứng dậy chắp tay cung kính bạch Phật:
- Thưa Thế Tôn, hồi còn nhỏ trẫm có năm điều ước nguyện. Bây giờ năm điều ước nguyện ấy đều đã được thành tựu. Ước nguyện thứ nhất là được làm lễ quán đảnh và lên ngôi vua; ước nguyện ấy đã thành. Ước nguyện thứ hai là được gặp một bậc đạo sư giác ngộ; ước nguyện ấy cũng đã thành.

Ước nguyện thứ ba là có duyên kính ngưỡng bậc giác ngộ ấy; ước nguyện này cũng đã thành. Ước nguyện thứ tư là được bậc giác ngộ ấy dạy cho trẫm con đường chánh pháp; ước nguyện này cũng đã thành. Ước nguyện thứ năm là có thể hiểu được giáo pháp của bậc giác ngộ ấy; ước nguyện này vừa được thành tựu.

Thưa Thế Tôn, trẫm đã bắt đầu hiểu được giáo lý mầu nhiệm của ngài. Hôm nay, xin Thế Tôn hoan hỷ nhận trẫm làm đệ tử tại gia của ngài.

Ðức Phật mỉm cười im lặng chấp thuận. Nhà vua lại thỉnh cầu Phật và tất cả tăng đoàn đến thọ trai ở đền vua vào ngày trăng tròn sắp tới. Ðức Phật cũng hoan hỷ nhận lời.

Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 02 Aug 2010, 19:32

Phật giảng năm giới của người cư sĩ

Vua Seniya Bimbisara có chủ ý tổ chức một cuộc đón rước Phật và tăng đoàn thật long trọng. Vua cho mời rất nhiều nhân sĩ đến nghe Phật thuyết pháp. Tất cả các quan chức trong triều cũng đều được mời đến dự. Dân chúng được lệnh treo đèn kết hoa trên những con đường mà Phật và tăng đoàn sẽ đi qua.

Trong lúc nhà vua đang chuẩn bị thì 90 vị khất sĩ đã xuất gia theo Phật ở Lộc-Uyển, Isipatana, đang đi hoằng-hóa các nơi lần lượt tập họp về khu lâm viên Latthivana (Rừng Kè) gặp Phật để chuẩn bị nhập hạ sắp tới.

Ngày trăng tròn đã tới. Khoảng mười giờ sáng, đức Phật cùng trên một ngàn vị khất sĩ (tỳ-kheo) mặc áo cà-sa màu vàng, tay ôm bình bát, đi vào thành Rajagriha (Vương-Xá), đáp lại lời mời của vua Bimbisara. Ðoàn người trang nghiêm lặng-lẽ đi qua các con đường đã được dân chúng treo cờ, kết hoa. Dân chúng đứng xem đông nghịt hai bên đường.

Vua Seniya Bimbisara cùng các triều thần và nhân sĩ ra tận ngọ môn đón Phật và tăng đoàn. Vào đến sân rộng lớn trước đền vua, đã được che rạp, trang trí, kết hoa lộng lẫy, đức Phật được mời ngồi vào ghế danh-dự, một bên có vua Bimbisara, bên kia có tỳ-kheo Uruvela Kassapa. Thái-tử Ajatasattu mang nước và khăn ra cho Phật rửa chân tay.

Tiếp theo, quân hầu cũng mang nước và khăn ra cho tất cả các vị khất sĩ rửa chân tay. Lễ tẩy tịnh đã xong, nhà vua đứng dậy long trọng chào mừng và giới thiệu quan khách, rồi cung kính sớt các thức ăn vào bát của Phật. Hoàng hậu Videhi cũng đứng lên chỉ dẫn quân hầu trong hoàng cung cúng dường thức ăn cho các vị khất sĩ và tiếp đãi quan khách.

Ðến giờ ngọ, đức Phật và giáo đoàn khất sĩ mặc niệm và chú nguyện trước khi ăn. Vua Bimbisara và tất cả quan khách cũng đều giữ im lặng trong thời gian dùng bữa. Tất cả đều cảm nhận tính chất thanh tịnh và an lạc thoát ra từ nhân cách của đức Phật và của giáo đoàn khất sĩ. Sau khi đức Phật, tăng đoàn và quan khách đã thọ trai xong, bình bát của các vị khất sĩ được quân hầu đem rửa rồi giao trả lại cho mỗi vị.

Vua Bimbisara hướng về đức Phật, cung kính chấp tay. Ðức Phật hiểu ý, lên tiếng giảng về năm giới của người Phật-tử tại gia như là phương thức xây dựng, bảo vệ hòa-bình và hạnh phúc cho quốc gia dân tộc; năm giới cũng là nguyên tắc sống chung hòa bình và an lạc trong gia đình cũng như ngoài xã hội:

" Giới thứ nhất là không sát hại. Giữ giới này là để nuôi dưỡng lòng từ-bi. Tất cả các loài sinh vật đều ham sống sợ chết. Ta biết quý sự sống của ta thì ta cũng phải quý trọng sự sống của những loài sinh vật khác. Nuôi dưỡng lòng từ-bi, thương người, thương cả muôn vật làm cho cuộc đời bớt khổ và đẹp đẽ thêm lên.

Nếu mọi người trong nước đều biết giữ giới không sát hại thì đất nước sẽ không bị loạn lạc, dân chúng được yên ổn làm ăn. Khi mọi người thương nhau và đoàn kết với nhau thì dân giàu nước mạnh.

" Giới thứ hai là không xâm phạm đến tài sản của kẻ khác. Mình muốn cho người khác tôn trọng tài sản của mình do công lao khó nhọc của mình làm ra, thì mình cũng phải tôn trọng tài sản của người khác. Không được trộm, cướp, lường gạt hoặc dùng quyền lực của mình để cưỡng chiếm tài sản của kẻ khác.

Không được lợi dụng sự khờ dại hoặc hoàn cảnh khó khăn của kẻ khác để thủ lợi cho mình. Nếu dân chúng biết giữ giới này thì trong nước sẽ có công bằng xã hội, an cư lạc nghiệp.

" Giới thứ ba là không xâm phạm tiết hạnh của kẻ khác. Giới này giúp cho vợ chồng tin tưởng nhau, gia đình được an vui, đầm ấm, cùng nhau xây dựng tương lai, hạnh phúc cho con cháu, xây dựng một xã hội lành mạnh.

" Giới thứ tư là không nói dối, không nói những lời thô bỉ, không gây chia rẽ căm thù. Lời nói phải phù hợp với sự thật: có thì nói có, không thì nói không, không thêm bớt làm sai lệch sự thật. Lời nói chân thật tạo niềm tin và hạnh phúc. Lời nói thô bỉ và gây chia rẽ tạo sự thù nghịch, oán hận và chiến tranh.

" Giới thứ năm là không uống rượu và không sử dụng các chất ma túy. Rượu và các chất ma túy làm cho con người mất tự chủ, mất sáng suốt, dễ làm những điều xằng bậy gây tai vạ cho bản thân, gia đình và xã hội. Nếu đại vương và các quan trong triều đều gìn giữ giới này và khuyến cáo dân chúng gìn giữ giới này thì đó là một đại phước cho quốc gia.

" Ðại vương, bậc quốc vương đứng đầu một nước cần sống trong tỉnh thức, trong sự sáng suốt, để biết những gì đang xảy ra trong vương quốc mình. Nếu đại vương làm cho trong triều và dân chúng hiểu sự ích lợi và thực hành năm giới thì vương quốc Magadha sẽ trở thành vương quốc cường thịnh nhất trong hoàn vũ."

Ðức Phật vừa dứt lời, vua Bimbisara sung sướng tiến tới trước Phật đảnh lễ. Hoàng hậu Videhi cũng đứng lên cầm tay thái tử Ajatasattu đi tới trước Phật, bà dạy thái tử chấp tay vái chào Phật.

[/color]


Được sửa bởi mytutru ngày Mon 02 Aug 2010, 19:49; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7717
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Mon 02 Aug 2010, 19:34

Phật kể chuyện cây bông sứ

Hoàng hậu Videhi đảnh lễ Phật, rồi nói:
" Bạch Thế-Tôn, hôm nay có thái tử Ajatasattu, con của con, và nhiều trẻ em khác con của các vị vương tử, đại thần và quan khách. Các cháu đông có đến bốn trăm đứa. Xin đức Thế-Tôn đem lòng thương xót chỉ bày cho thiếu nhi con đường của tình thương và sự tỉnh thức."

Nói xong hoàng hậu sụp xuống lạy Phật. Thái tử Ajatasattu cũng làm theo bà. Ðức Phật mỉm cười đưa tay ra cầm tay thái tử. Hoàng hậu Videhi quay lại ra dấu cho các thiếu nhi đến tập họp trước mặt Phật. Ðây toàn là trẻ em nhà quyền quý nên em nào cũng được phục sức rất tươm tất. Trai cũng như gái đều có đeo vòng ở cổ tay và cổ chân. Các em gái mặc những chiếc áo sari lộng lẫy đủ màu, trông thật tươi mát. Tất cả đều ngồi xuống trước mặt Phật.

Ðức Phật nói:
" Này các con, trước khi ta được làm người, ta đã từng làm đất, đá, cây cối, chim chóc và muông thú. Các con cũng vậy. Trong những kiếp xa xưa, các con cũng đã từng làm đất, đá, cây cối, chim muông. Ngày hôm nay ta được gặp các con cũng có thể là vì trong những kiếp trước ta và các con đã từng gặp nhau. Chúng ta đã có thể làm cho nhau sung sướng. chúng ta cũng đã có thể làm cho nhau đau khổ.

" Hôm nay ta muốn kể cho các con nghe một chuyện đã từng xảy ra từ hàng ngàn kiếp trước. Ðây là chuyện một con cò, một con cua, một cây bông sứ và rất nhiều tôm cá. Hồi đó ta là cây bông sứ. Và trong số các con, có thể có đứa đã làm con cò, có đứa đã làm con cua, và nhiều đứa làm tôm cá.

" Trong câu chuyện này, con cò là một đứa nham hiểm, có tính hay lường gạt. Nó đã làm cho biết bao nhiêu con khác chết chóc và đau khổ. Lúc đó ta là cây bông sứ, ta cũng đã đau khổ vì nó. Nhưng ta đã học được một bài học quý báu. Ðó là: Khi mình lường gạt và làm kẻ khác đau khổ thì chính mình cũng sẽ bị lường gạt và bị đau khổ trở lại.

" Lúc đó ta làm cây bông sứ bên cạnh một hồ sen vừa thơm vừa mát, nhưng không có cá. Gần đó có một cái ao nhỏ hẹp, dơ bẩn, nóng bức, nhưng lại có nhiều tôm cá. Một con cò đi ngang qua đó thấy tôm cá quá nhiều mới nảy sinh ra một mưu kế. Nó tới đứng bên bờ ao, làm ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ. Bọn cá thấy, hỏi:

- Bác cò ơi, bác suy nghĩ gì đấy?
- Ta đang suy nghĩ đến số phận của các chú. Ở đây ao hẹp, nước ít lại nóng bức, dơ bẩn. Các chú lại thiếu thức ăn. Ðời sống của các chú có vẻ khổ cực, ta thương lắm.
- Vậy bác có cách gì giúp tụi cháu không, bác cò?

- Nếu tụi bây để tao mang từng đứa tới bỏ xuống cái hồ sen đằng kia thì ở đó tụi bây được tha hồ bơi lội trong nước mát có vô số thức ăn.
- Bác cò ơi, từ thuở cha mẹ sinh ra chúng cháu chưa bao giờ nghe nói loài cò mà lại có lòng tốt với loài tôm cá. Bác bày ra cách đó chẳng qua là để ăn thịt tụi này từng đứa, phải không?

- Tụi bây đa nghi lắm. Tao là bác của tụi bây, không lý tao lại nói gạt tụi bây sao. Sự thật là đằng kia có một cái hồ sen rộng lắm, nước nhiều mà lại mát nữa. Nếu tụi bây không tin thì một đứa hãy theo tao qua đó xem. Rồi tao lại mang nó về đây kể lại cho tụi bây xem có đúng không.


" Bọn tôm cá châu đầu vào nhau bàn luận một hồi, rồi cử một con cá nhám đi với cò. Con cá nhám này đã già, thân thể rất cứng chắc. Nó bơi lội giỏi đã đành, mà còn có thể di chuyển dễ dàng trên đất cạn. Con cò cặp con cá nhám vào mỏ, bay đến hồ sen, thả con cá vào hồ cho nó bơi lội thỏa thích khắp nơi trong hồ, rồi lại mang con cá nhám trở về ao.

Cá nhám thuật lại tất cả những gì nó đã thấy trong hồ sen. Bọn tôm cá nghe kể rất lấy làm vui sướng. Chúng tranh nhau yêu cầu con cò chở chúng sang hồ sen.

Cò bằng lòng. Nó cắp con cá đầu tiên vào mỏ và bay đi. Nhưng thay vì thả cá xuống hồ sen, nó bay về phía cây bông sứ, đặt cá vào cháng ba của thân cây, dùng mỏ rỉa thịt cá ra ăn, rồi hất xương cá xuống gốc cây bông sứ. Ăn xong nó lại bay về ao để mang một con cá khác đến ăn, xương cá dưới gốc cây càng ngày càng nhiều, chồng chất lên nhau.

" Ta là cây bông sứ. Ta chứng kiến tất cả những điều này. Ta rất tức giận con cò nhưng ta không thể nào ngăn cản nó được. Các con biết không, cây bông sứ chỉ có thể đâm rễ sâu xuống đất, mọc cành, mọc lá, trổ hoa, nhưng không thể chạy đến ao để báo tin dữ cho bọn cá tôm được, cũng không thể vươn cành ra để ngăn cò ăn thịt cá. Nhựa cây chảy dồn dập trong thân, cây bông sứ rung rung như muốn khóc.

Con cò không để ý tới. Ngày này sang ngày khác, nó cứ mang cá đến cây bông sứ để ăn thịt. Hết cá đến tôm. Ta rất đau lòng nên thầm nguyện sau này nếu được làm thú hay làm người ta sẽ ra sức bênh vực kẻ yếu và ngăn chận không cho kẻ hung bạo và gian xảo lừa gạt và tàn sát kẻ khác.

" Vài ngày sau, cá tôm dưới ao đã hết, chỉ còn lại một con cua kình khá lớn. Lúc đầu cò chê. Nhưng sau đói bụng quá, nó đến gần bờ nước nói với cua:

- Này cháu, tất cả tôm cá mà ta chở đến hồ sen hiện đang vui sướng vẫy vùng bên đó. Cháu lại đây bác chở qua đó luôn cho.
- Bác làm sao chở cháu được? Cháu là con cua, mình cứng, trơn và nặng. Lỡ bác đánh rơi thì cháu tan xác mất.
- Ðừng sợ, bác sẽ ngậm cháu thật chặt.

" Con cua suy nghĩ: Có thể là cò đã thả tất cả tôm cá xuống hồ sen; cũng có thể cò đã ăn thịt tất cả họ hàng nhà tôm nhà cá. Ta phải cẩn thận đề phòng. Nó nói với cò:
- Bác ơi, cháu sợ lắm. Nếu bác cho cháu bám hai càng vào cổ bác thì cháu mới đỡ sợ.

" Cò bằng lòng để cua bám vào cổ nó rồi vỗ cánh bay đi. Nhưng thay vì bay thẳng xuống hồ, nó bay đến đậu trên cây bông sứ. Cua hỏi:
- Bác ơi, sao bác không đưa cháu xuống hồ mà lại đậu trên cây cao thế này, cháu sợ lắm.

- Ai dại dột gì mà đi chở mướn không công cho bọn bây. Tao cũng đâu phải là đầy tớ của bọn bây. Tao chỉ muốn chở tụi bây tới đây để ăn thịt từng đứa mà thôi. Hãy xem đống xương dưới gốc cây kia kìa.

- Bác cò độc ác ơi, bọn tôm cá dại dột quá mới bị bác lừa dối và ăn thịt. Nhưng với cháu thì bác đừng có hòng. Bác hãy mang cháu xuống hồ, nếu không cháu sẽ kẹp đứt cổ bác cho mà xem.

Nói xong, cua siết càng vào cổ cò. Cò đau quá kêu lên:
- Thôi thôi, anh Hai ơi, anh Hai đừng kẹp tôi đau quá. Ðể tôi đưa anh Hai xuống hồ.

" Cò bay đáp xuống bờ hồ, đứng gần mé nước. Cua sợ buông cổ cò ra sẽ bị cò ăn thịt như bọn tôm cá trước. Nó nghiến răng kẹp hai cái càng lại thật mạnh khiến cho cổ cò đứt rời ra. Cò ngã lăn ra chết. Cua đi xuống nước.

" Các con ơi, lúc đó ta là cây bông sứ. Ta chứng kiến tất cả tấn thảm kịch từ đầu đến cuối. Tuy ta không làm gì được, nhưng ta đã học được một bài học quý báu: Ở đời, ăn ở hiền lành sẽ được nhiều người giúp đỡ; ăn ở độc ác sớm muộn gì cũng sẽ lâm vào cảnh thảm thương.
Ta nguyện đời đời sẽ làm việc lợi ích cho muôn loài. Nhờ phát nguyện như thế, ta đã được làm người trong nhiều vạn kiếp.Giờ đây, gặp các con, ta muốn truyền lại bài học quý báu đó cho các con."

Tất cả các thiếu nhi có mặt chăm chú nghe đức Phật kể chuyện tiền thân của ngài. Ðứa nào cũng thương cho cây bông sứ và cho tất cả những con tôm cá bị lừa gạt. Ðứa nào cũng căm giận con cò và khen con cua sáng trí và biết lo xa.

Vua Bimbisara đứng dậy, đến trước mặt Phật chấp tay đảnh lễ và nói:

- Hôm nay đức Thế-Tôn đã ban cho người lớn và trẻ em một bài học thật quý giá. Trẫm mong thái tử Ajatasattu thấm nhuần được lời dạy của ngài. Vương quốc Magadha rất may mắn được ngài dừng chân hoằng hóa nơi đây. Trẫm có một món quà muốn dâng lên bậc Giác-ngộ và tăng đoàn, không biết ngài có chịu cho trẫm cái hân hạnh được dâng cúng món quà ấy không?

Ðức Phật im lặng đưa mắt nhìn vua.

Vua Bimbisara cúng dường ngự uyển Venuvana (Trúc Lâm)

Vua Bimbisara nói tiếp:

- Về phía bắc thủ đô Rajagriha chừng một dậm (1.6 km) có một vườn tre rất rộng, vừa yên tịnh vừa mát mẻ, trẫm gọi là Venuvana (Veluvana, Trúc Lâm). Trẫm muốn hiến dâng công viên ấy để Thế-Tôn và tăng đoàn dùng làm tinh xá hành đạo và tu học. Ðược như vậy trẫm và dân chúng nơi đây sẽ có nhiều cơ hội đến thọ giáo với ngài. Mong đức Từ-Bi chấp nhận cho lòng thành của trẫm.

Ðức Phật nghĩ đến mùa an cư kiết hạ sắp đến, cần có nơi thuận tiện cho chư tăng tu học, ngài mỉm cười gật đầu ưng thuận. Vua Bimbisara vô cùng mừng rỡ. Vua nghĩ rằng tinh xá Venuvana sắp được thành lập sẽ giữ được bậc Giác-ngộ lâu dài trong vương quốc mình. Trong số các vị tân khách có nhiều người thuộc giới lãnh đạo Bà-la-môn không mấy hoan hỷ về quyết định này của vua, nhưng họ giữ im lặng.

Vua truyền đem ra một cái bình vàng. Ngài tự tay làm lễ rót nước trong bình lên bàn tay phải của Phật và trân trọng tuyên bố:

- Bạch Thế-Tôn, cũng như nước trong chiếc bình vàng này chảy vào tay ngài, khu vườn Venuvana đã được trẫm dâng tặng cho ngài và giáo-đoàn do ngài lãnh đạo để làm tinh xá tu học cho chư Tăng.

Lễ bàn giao đã xong. Lễ cúng dường trai phạn cũng đã hoàn mãn. Ðức Phật và 1250 vị khất sĩ A-la-hán từ giã hoàng cung trở về đền Supatthita ở khu lâm viên Latthivana.

Hai ông Sariputta, Moggallana và 155 người bạn xuất gia[14]


Trong thời gian Phật ngụ tại đền Supatthita ở lâm viên Latthivana (Rừng Kè), cách thành Rajagriha (hiện nay là Rajgir) khoảng 2 km về phía nam, thì 90 vị khất sĩ đã được Phật hóa độ trước kia ở Lộc-Uyển (Migadava) tại làng Isipatana (Sarnath) gồm nhóm ông Kondanna (5 người), nhóm ông Yasa (55 người) và nhóm ông Punna Mantaniputta (30 người) cũng lần lượt đến Latthivana nhập vào tăng đoàn để chuẩn bị kỳ nhập hạ thứ nhì như Phật đã dặn.

Trong làng Upatissa (hiện nay là Kalapinaka) còn gọi là Nalaka, thuộc quận Nalanda, ở phía bắc thành Rajagriha, có một thanh niên rất thông minh tên Sariputta (Xá-Lợi-Phất), cha tên Tissa, mẹ tên Rupa-Sari.

Vì Sariputta nổi tiếng thông minh lại sanh trưởng trong gia đình quyền quý nhứt trong làng nên người trong vùng ấy gọi chàng là Upatissa. Sariputta có một người bạn chí thân tên Moggallana (Mục-Kiền-Liên), con bà Moggali (Thanh Ðề), ở làng Kolita (hiện nay là Kulika), bên cạnh làng Upatissa.

Moggallana cũng rất thông minh và thuộc gia đình quyền quý nhứt trong làng nên có biệt danh là Kolita. Sariputta và Moggallana sanh ra cùng một ngày.


Gia đình của cả hai người đều theo truyền thống Bà-la-môn giáo. Một hôm, cả hai rủ nhau đến dự lễ cúng tế long trọng nhiều ngày trên đỉnh núi gần thành Rajagriha.
Ngày đầu họ cùng vui chơi với mọi người, nhưng đến ngày thứ ba, đang ngồi nghỉ dưới bóng cây, bỗng Sariputta nghĩ đến 100 năm sau tất cả mọi người đang nô đùa hỗn tạp nơi đây sẽ chết hết và cảnh vật nơi đây sẽ hoàn toàn thay đổi, vậy mà hiện nay ai nấy đều thản nhiên trước cuộc đời vô thường.
Ông buồn bã nói ý nghĩ của mình cho Moggallana nghe, rồi hai người bạn rủ nhau đi tìm thầy học đạo.

Cả hai tìm đến xin thọ giáo với đạo-sư Sanjaya Belatthiputta, lúc ấy có 250 đệ-tử. Không bao lâu hai người đã lãnh hội tất cả giáo-lý của thầy. Nhưng cảm thấy chưa thỏa mãn, bèn dắt nhau tìm đến nhiều vị đạo-sư Bà-la-môn nổi tiếng khác. Cuối cùng cũng thất vọng. Hai người bèn quyết định chia tay nhau đi xa hơn để tìm minh sư.

Ông Sariputta đi về phương nam, còn ông Moggallana đi về phương bắc. Hẹn nhau khi gặp minh sư sẽ thông báo cho nhau biết để cùng đến học.

Một hôm, đang đi trong thành Rajagriha, ông Sariputta bỗng nhìn thấy một tu sĩ y bát trang nghiêm, tướng đi từ tốn, mắt nhìn xuống độ vài thước trước chân, nét mặt trầm tĩnh thong dong, biểu lộ sự vắng lặng sâu xa bên trong. Vị đại-đức đáng tôn kính nọ khoan thai đi từ nhà này sang nhà khác để nhận lãnh chút ít vật thực tùy lòng quảng đại của thí chủ.

Cốt cách siêu phàm của đại-đức Assaji làm cho ông Sariputta chú ý[15], ông yên lặng đi theo sau quan sát, không dám lên tiếng quấy rầy. Ðại-đức Assaji đi bát xong, tìm một nơi thích hợp để ngồi lại thọ thực. Khi đại đức Assaji thọ thực xong, ông bèn đến bên cạnh, rót nước vào chén dâng đại-đức rồi bạch rằng:

- Kính bạch đại-đức, ngũ quan của ngài thật là trong sáng và thanh tịnh. Xin ngài hoan hỷ cho con biết vì sao ngài thoát ly thế tục? Ai là vị tôn sư của ngài? Ngài truyền bá giáo pháp của ai?
- Này đạo hữu, đại-đức Assaji đáp, bần tăng chỉ là một tu sĩ sơ cơ, chưa đủ khả năng giảng giải giáo pháp đầy đủ và rành rẽ cho đạo hữu.

- Kính bạch đại-đức, con là Sariputta ở làng Upatissa, kính xin đại-đức tùy hỷ chỉ giáo ít nhiều, con sẽ cố gắng tự tìm hiểu được phần nào hay phần nấy. Xin ngài dạy cho con vài điểm thiết yếu, tóm lược cho con một vài ý quan trọng trong giáo lý mà ngài đã học được.
- Ðức bổn sư Gotama chỉ dạy rất nhiều, nhưng bần tăng chỉ thuộc được bốn câu kệ sau đây. Vậy bần tăng xin đọc cho đạo hữu nghe:

Ye dhamma hetuppabhava -
tesam hetum tathagato.
Aha tesan ca yo nirodho -
evam vadi maha samano.

Có nghĩa là:

Các pháp đều do nhân duyên sanh.
Như-Lai đã giảng giải rõ ràng như thế
Và chỉ cách chấm dứt các pháp.
Vị Ðại Sa-Môn dạy như thế.[16]

Bốn câu kệ đó vừa tóm tắt lý nhân duyên về sự sanh diệt của các pháp (vạn vật vô thường) vừa chỉ cách tu tập giải thoát (chấm dứt các pháp = chấm dứt sanh tử luân hồi). Ông Sariputta vốn rất thông minh, vừa nghe xong hai câu đầu liền bừng ngộ và đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna).
Từ đó về sau, để tỏ lòng biết ơn đối với đại-đức Assaji, mỗi khi nghe đại-đức Assaji ở nơi nào thì ông Sariputta quay về hướng ấy chấp tay đảnh lễ, và lúc ngủ luôn luôn quay đầu về hướng ấy.
Ðúng theo lời cam kết, Sariputta đi tìm Moggallana báo tin và đọc lại bốn câu

kệ. Nghe xong ông Moggallana cũng đắc quả Tu-đà-hoàn. Hai ông liền đến thầy cũ là đạo-sư Sanjaya-Belatthiputta báo tin và mời thầy cùng đến thọ giáo với Phật. Ðạo-sư Sanjaya từ chối, nhưng có 155 đệ-tử của ông cùng theo hai ông Sariputta và Moggallana đến Venuvana (Trúc-lâm) xin thọ giáo với Phật. Ðược tin này đạo sư Sanjaya tức đến ói máu. Ðức Phật chấp nhận tất cả vào tăng đoàn với lời kêu " Hãy lại đây, các Tỳ-Kheo!

Hãy sống đời thánh thiện theo Chánh Pháp để chắm dứt mọi đau khổỂ. Một tuần lễ sau, lúc đang ở gần làng Kallavala, đại-đức Moggallana được Phật dạy quán Tứ Ðại (đất, nước, gió, lửa), đắc quả A-la-hán.

Ðến tuần thứ hai, khi nghe đức Phật thuyết kinh Vedana-Pariggaha cho đạo-sĩ Dighanakha ở động Sukarakhata, đại-đức Sariputta đắc quả A-la-hán. Chiều ngày hôm ấy, đức Phật triệu tập tất cả các đệ-tử đến quanh ngài để tấn phong đại-đức Sariputta làm đệ nhứt đệ-tử, trí-huệ bậc nhứt, và đại-đức Moggallana làm đệ nhị đệ-tử, thần thông bậc nhứt.

Kể từ đây số đệ-tử Phật lên đến 1250 vị, đều đắc quả A-la-hán (Arhat, arahat, arahant).

Phật thành lập tinh-xá đầu tiên Venuvana

Ðã sắp đến mùa an cư kiết hạ nên qua ngày hôm sau, sau buổi cúng dường trai tăng tại đền vua, sứ giả của vua đưa Phật và các vị trưởng lão trong tăng đoàn đến viếng Venuvana (Trúc-Lâm).
Thật là một nơi cư trú lý tưởng cho giáo đoàn khất sĩ. Khu vườn rộng vào khoảng bốn mươi mẫu tây, cách trung tâm thủ-đô Rajagriha (Vương -Xá) khoảng 2 km về phương bắc.

Trong vườn tre mọc xanh tươi, đủ các loại. Giữa vườn tre có hồ Kalandaka (hay Karanda) nước trong veo. Những chiếc thảo am có thể được dựng lên rải rác để làm chỗ cư trú cho các vị đại đức lớn tuổi.
Các vị đệ tử lớn như Kondanna, Kassapa, Sariputta, Moggallana đều rất hoan hỷ họp nhau lại hoạch định cách tổ chức Trúc-Lâm thành một tinh xá có quy củ. Ðức Phật dạy:

- Mùa mưa không tiện cho việc du hành khất thực. Các vị tỳ kheo cần có nơi an cư thanh tịnh để cùng nhau tinh tấn tu học, vừa tránh được sự ướt át dọc đường, vừa khỏi dẫm đạp lên các loài côn trùng bò ra đầy đường.

Trong ba tháng an cư[17], thiện nam tín nữ có thể mang thực phẩm tới cúng dường tại các trung tâm an cư. Và mỗi ngày họ sẽ được các vị xuất gia giảng dạy về giáo lý trong các thời khóa giảng, ngoài ra họ có thể nêu câu hỏi để được giải đáp thêm.

Truyền thống an cư kiết hạ được thiết lập từ đây. Chỉ còn mười lăm hôm nữa mùa an cư thứ hai sẽ bắt đầu với đầy đủ 1250 vị tỳ kheo A-la-hán.

Dưới sự điều động của đại đức Moggallana, các vị khất sĩ trẻ tuổi dựng lên một am nhỏ cho Phật và nhiều am nhỏ khác cho các vị khất sĩ lớn tuổi. Tất cả đều được làm bằng tre, tranh và đất bùn. Am của Phật tuy nhỏ nhưng rất xinh xắn. Phía sau có một bụi tre vàng.

Bên trái có một khóm tre xanh. Thầy Nagasamala đóng cho Phật một cái chõng tre và hai cái ghế, và đặt một lu nước cạnh bụi tre để Phật có nơi rửa mặt và tay chân. Thầy Nagasamala là một vị khất sĩ trẻ. Trước đây thầy là đệ tử của đại đức Uruvela Kassapa. Từ ngày đến Venuvana đại đức Uruvela Kassapa tiến cử thầy Nagasamala làm thị giả đầu tiên cho Phật.

Ðại đức Sariputta tiếp xúc với một cư sĩ ở thành Rajagriha; vị này cúng dường cho tinh xá Venuvana một cái chuông đồng treo gần hồ Kalandaka, dưới một cành cây cổ thụ. Tiếng chuông báo hiệu giờ giấc tu học. Phật dạy mỗi khi nghe tiếng chuông, tất cả mọi người đều phải theo dõi hơi thở và thực hành chánh niệm.

Các vị đệ tử cư sĩ của Phật ngày nào cũng tới Trúc-Lâm để giúp đỡ công trình kiến thiết. Ðại đức Uruvela Kassapa lãnh đạo tăng đoàn rất giỏi, mà điều hợp sự hỗ trợ của các cư sĩ cũng tài. Thầy hội họp với các vị thí chủ về việc cúng dường trai tăng, giúp cho mỗi vị khất sĩ đều có đầy đủ cà-sa, bình bát, tọa cụ, khăn lau mặt, vợt lọc nước, vân vân...

Ngày an cư đến. Thời khóa biểu tu học do đức Phật cùng các đại đệ tử soạn thảo từ trước được ban hành và được tăng đoàn chấp hành nghiêm chỉnh. Buổi sáng vào đầu canh tư có chuông báo thức.

Sau khi rửa mặt, các vị khất sĩ bắt đầu thiền tập ngay tại chỗ ngủ của mình. Mọi người thực tập thiền tọa và thiền hành nhiều lần cho đến khi mặt trời lên tới đầu ngọn tre. Sau đó là giờ đi khất thực. Ðại chúng chỉ nghỉ đi khất thực vào những ngày có thí chủ cúng dường thực phẩm đầy đủ cho cả tăng đoàn.

Vào những ngày này, các vị khất sĩ có thể sử dụng thì giờ buổi sáng để gặp y-chỉ-sư của mình hầu tham vấn về những điều mình chưa nắm vững trong lãnh vực giáo nghĩa cũng như trong lãnh vực thực hành chỉ (samatha) quán (vipassana). Y-chỉ-sư là một vị khất sĩ đã đạt được nhiều tiến bộ trên đường tu tập. Các vị đại đức Kondanna, Assaji, Kassapa, Sariputta, Moggallana, Bhaddiya, Vappa, Mahanama-Kulika, v.v...

đều là những vị y-chỉ-sư lớn. Mỗi vị phụ trách hướng dẫn năm sáu mươi vị khất sĩ mới học. Có những vị y-chỉ-sư hướng dẫn mười người, hai mươi người hoặc ba mươi người. Mỗi vị khất sĩ mới học đều có y-chỉ-sư của mình. Ðó là người huynh trưởng trong đạo mà mình cần nương tựa để học hỏi.

Ðại đức Uruvela Kassapa đã cùng đại đức Sariputta làm công việc phân phối này rất kỹ lưỡng trước ngày an cư.
Vào đầu giờ ngọ, các vị khất sĩ đều có mặt tại tinh xá, đứng thành hàng dài ở sân cỏ cạnh bờ hồ. Sau khi đã được phân phát thức ăn, mọi người ngồi xuống bãi cỏ và bắt đầu thọ trai trong im lặng.

Buổi trai phạn hoàn tất vào cuối ngọ. Sau đó đức Phật thường thuyết pháp cho đại chúng. Có khi ngài giảng dạy cho các vị khất sĩ thì các cư sĩ được dự thính.

Có khi ngài giảng dạy cho các cư sĩ thì các khất sĩ được dự thính. Lại có những buổi ngài giảng dạy cho các thiếu nhi thì các cư sĩ và khất sĩ đều dự thính. Thường thường trong các buổi giảng cho trẻ em, đức Phật hay kể lại những chuyện tiền thân của ngài.

Có khi các đại đệ tử đứng ra giảng dạy thay Phật thì Phật ngồi nghe. Sau đó ngài thường chỉ điểm thêm và khen ngợi những phần được chỉ bày rành rẽ. Sau giờ thuyết pháp, giới cư sĩ lần lượt ra về, các tu sĩ được nghỉ ngơi một thời gian. Sau đó chuông lại báo hiệu giờ thiền tọa và thiền hành.

Kế đến giờ tự do tham vấn và học hỏi. Ðến giờ hợi (21 giờ) là giờ chỉ tịnh, mọi người đều im lặng nghỉ ngơi. Ðức Phật và các đại đệ tử thường thiền tọa cho đến nửa đêm và dậy sớm hơn các vị trẻ tuổi.

Vua Bimbisara rất thường đến Trúc-Lâm thăm Phật và tăng đoàn. Ngài chỉ đem theo hoàng hậu Videhi, thái tử Ajatasattu và vài người hầu cận. Ngài để xe tứ mã và quân hầu ở ngoài cổng và đi bộ vào tinh xá. Có một hôm thấy các vị khất sĩ ngồi dưới mưa để nghe giảng, vua bạch với Phật xin xây cất một giảng đường để các vị xuất gia có thể thọ trai hoặc nghe pháp.

Từ ngày giảng đường được xây dựng xong, đời sống trong tinh xá bắt đầu có đủ tiện nghi. Giảng đường rộng lớn, chẳng những có thể che mưa nắng cho 1250 vị khất sĩ mà còn có thể chứa thêm khoảng một ngàn cư sĩ nữa.

Một hôm vua Bimbisara đến thăm Phật một mình. Sau một hồi đàm đạo, vua tâm sự với Phật:
- Trẫm có một đứa con trai khác mà Thế-tôn chưa từng gặp. Trẫm rất muốn nó và mẹ nó đến thăm ngài.

Thưa Thế-Tôn, mẹ nó không phải hoàng hậu Videhi, mẹ nó tên Ambapali (Amrapali), và nó tên Jivaka (Kỳ-Bà), năm nay được mười bốn tuổi. Mẹ nó cư ngụ tại Vesali, phía bắc thành phố Pataliputta (hiện nay là Patna). Ambapali không thích đời sống gò bó trong cung cấm, nàng không màng chức tước, địa vị, chỉ thích đời sống tự do.

Trẫm đã ban cho hai mẹ con mấy cơ sở tự túc kinh tế, trong đó có một vườn xoài rất đẹp ở làng Amvara gần Vesali. Jivaka rất thông minh nhưng nó cũng giống mẹ, không thích chính trị và quyền hành. Hiện nó đang ở Rajagriha để học nghề y sĩ. Trẫm thương nó lắm. Xin Thế-Tôn cũng thương nó như trẫm.

Và nếu được Thế-Tôn chấp thuận, trẫm sẽ bảo nó đến đây thăm ngài để được học hỏi giáo pháp cao thượng.

Ðức Phật mỉm cười ưng thuận. Nhà vua hân hoan chấp tay từ giã Phật.
[/color]



Được sửa bởi mytutru ngày Mon 02 Aug 2010, 19:53; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
 
Chuyện Cổ Tích PG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 6 trong tổng số 12 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 5, 6, 7 ... 10, 11, 12  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-