IndexTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Ghi danh tham gia lớp thơ Đường Luật by ocsen Yesterday at 19:45

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Yesterday at 12:01

Trang thơ Tú_Yên (P2) by Tú_Yên tv Yesterday at 10:57

THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG LUẬT HAY LUẬT THI (cận thể) VÀ CỔ PHONG (cổ thể) - Khải Chính Phạm Kim Thư by Trà Mi Yesterday at 08:32

Cá hồi nướng đào by Shiroi Yesterday at 04:26

Nhờ Admin và kỹ thuật giúp đỡ by Y Nhi Yesterday at 02:37

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Thu 20 Jul 2017, 12:46

Thân chào quý huynh tỷ . lâu không gặp hì hì .... by vancali96 Thu 20 Jul 2017, 07:40

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Wed 19 Jul 2017, 15:33

THƠ VUI CẨN VŨ. by Cẩn Vũ Tue 18 Jul 2017, 20:10

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Tue 18 Jul 2017, 19:32

Thơ Tùng Văn by Tung Van Tue 18 Jul 2017, 10:53

MONG NGÀY HẠNH PHÚC (MT-142-143) by Ntd Mon 17 Jul 2017, 15:25

Chiếc nón bài thơ by tranthingocxuan Mon 17 Jul 2017, 11:41

Họa Thơ Gió Bụi : Ừ by Gió Bụi Sun 16 Jul 2017, 23:14

HSN : CHIỀU by HanSiNguyen Sat 15 Jul 2017, 22:23

NGHĨA MẸ ƠN THẦY (MT-140-141) by Ntd Fri 14 Jul 2017, 16:27

MÌNH BẤT LỰC by Ma Nu Fri 14 Jul 2017, 01:11

BUỒN TÀN THU by HanSiNguyen Thu 13 Jul 2017, 16:12

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Thu 13 Jul 2017, 12:41

Thơ Tú_Yên - Quê Hương by Tú_Yên tv Thu 13 Jul 2017, 12:41

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Thu 13 Jul 2017, 12:38

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Thu 13 Jul 2017, 12:19

THƠ VUI TRÀO PHÚNG : BÙA LỖ BAN by Ma Nu Thu 13 Jul 2017, 10:36

Hoàng Vũ Luân by Hoàng Vũ Luân Thu 13 Jul 2017, 08:29

ROCK-TWIST-CHACHA-PASODOBLE... by HanSiNguyen Wed 12 Jul 2017, 10:13

XƯỚNG - HỌA Cẩn Vũ by Ma Nu Tue 11 Jul 2017, 23:48

Ngũ Độ Hành Em Tôi by Ma Nu Tue 11 Jul 2017, 02:16

THƠ NGŨ ĐỘ HÀNH by Ma Nu Tue 11 Jul 2017, 02:11

SỨc sống cuối đời by buixuanphuong09 Sat 08 Jul 2017, 08:22

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Share | 
 

 Chuyện Cổ Tích PG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 10, 11, 12
Tác giảThông điệp
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7729
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Sun 27 Feb 2011, 19:50

Tiền Thân Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni
(Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005)
Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai
---o0o---
Phần 17


PHỤ ÐÍNH

3- Thập Ðại Ðệ Tử

1. Sariputta (Xá-Lợi-Phất), trí huệ đệ nhất.

Ông Sariputta, nhỏ hơn đức Phật vài tuổi, sanh tại làng Upatissa (Nalaka), quận Nalanda, cha tên Vanganta [1] mẹ tên Rupa-Sari.
Lúc có thai ông, bà Sari bỗng trở nên thông minh tuyệt vời, luận đạo và giảng kinh Veda rất hay, hơn cả chồng là ông Vanganta và anh là ông Dighanakha. Ông Sariputta có cả thảy 3 người em gái là Cala, Upacala và Sisupacala, và 3 người em trai là Canda, Upasena và Revata.

Cả 3 người em trai về sau đều xuất gia và đắc quả A-la-hán [2].

Theo phẩm Xá-Lợi Mục-Liên Nhân Duyên trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh 48, từ thuở nhỏ ông Sariputta đã có thân tướng khôi ngô, khi lớn lên học tập các kỹ nghệ, thông hiểu bốn kinh Veda.

Năm 16 tuổi, ông đã luận nghị hàng phục được người khác, các anh em trong dòng họ thảy đều quy phục.
Ông trở thành người nổi tiếng trong làng nên có biệt danh là Upatissa.
Ông kết bạn thân với ông Moggallana ở làng Kolita bên cạnh.

Một hôm, cả hai rủ nhau đến dự lễ cúng tế long trọng ở thành Rajagriha, thấy mọi người vui chơi hỗn tạp, chợt nghĩ đến cuộc đời vô thường, hai người bạn rủ nhau đi tìm thầy học đạo. Sau khi dọ hỏi các vị đạo sư đương thời,
Sariputta và Moggallana đến thọ giáo với đạo sư Sanjaya, một trong sáu ngoại đạo. Chỉ trong bảy ngày, hai ông đã thông suốt được giáo chỉ của thầy, và được giao cho chức giáo thọ, có thể thay thầy để chỉ dạy cho các bạn đồng môn.

Nhưng Sariputta và Moggallana chưa hài lòng, hai ông chia tay nhau đi tìm chân sư, Sariputta đi về miền nam, Moggallana đi về phương bắc, hẹn khi gặp được chân sư sẽ thông báo cho nhau để cùng đến
học.

Chẳng bao lâu, ông Sariputta đang đi trong thành Rajagriha bỗng gặp đại đức Assaji đang đi khất thực. Thấy đại đức Assaji có vẻ mặt thanh thoát, tướng đi oai nghi tề chỉnh, ông đến hỏi:
- Kính bạch tôn giả, ngũ quan của ngài thật là trong sáng và thanh tịnh.
Xin ngài hoan hỷ cho con biết vì sao ngài thoát ly thế tục? Ai là vị tôn
sư của ngài? Ngài truyền bá giáo pháp của ai?

- Này đạo hữu, đại-đức Assaji đáp, bần tăng chỉ là một tu sĩ sơ cơ, chưa
đủ khả năng giảng giải giáo pháp đầy đủ và rành rẽ cho đạo hữu.

- Kính bạch tôn giả, con là Sariputta ở làng Upatissa, kính xin tôn giả
tùy hỷ chỉ giáo ít nhiều, con sẽ cố gắng tự tìm hiểu được phần nào hay
phần nấy. Xin ngài dạy cho con vài điểm thiết yếu, tóm lược cho con một vài ý quan trọng trong giáo pháp mà ngài đã học được.


- Ðức bổn sư Gotama chỉ dạy rất nhiều, nhưng bần tăng chỉ thuộc được bốn câu kệ sau đây. Vậy bần tăng xin đọc cho đạo hữu nghe:
Ye dhamma hetuppabhava - tesam hetum tathagato.
Aha tesan ca yo nirodho - evam vadi maha samano.
Có nghĩa là: Các pháp đều do nhân duyên sanh.
Như-Lai đã giảng giải rõ ràng các nhân duyên đó
Và chỉ cách chấm dứt các pháp.
Vị Ðại Sa-Môn dạy như thế.[3]
Bốn câu kệ đó vừa tóm tắt lý nhân duyên về sự sanh diệt của các pháp (vạn vật vô thường) vừa chỉ cách tu tập giải thoát (chấm dứt các pháp).
Ông Sariputta vốn rất thông minh, vừa nghe xong hai câu đầu liền bừng ngộ và đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna).

Từ đó về sau, để tỏ lòng biết ơn đối với đại-đức Assaji, mỗi khi nghe đại-đức Assaji ở nơi nào thì ông Sariputta quay về hướng ấy chấp tay đảnh lễ, và lúc ngủ luôn luôn quay đầu về hướng ấy.


Ðúng theo lời cam kết, Sariputta đi tìm Moggallana báo tin và đọc lại bốn câu kệ. Nghe xong, ông Moggallana cũng đắc quả Tu-đà-hoàn. Hai ông liền đến thầy cũ là đạo-sư Sanjaya-Belatthiputta báo tin và mời thầy cùng đến thọ giáo với Phật.

Ðạo-sư Sanjaya từ chối, nhưng có 155 đệ-tử của ông cùng theo
hai ông Sariputta và Moggallana đến Rừng Kè xin thọ giáo với Phật.
Một tuần lễ sau đại-đức Moggallana đắc quả A-la-hán. Ðến tuần thứ hai, khi nghe đức Phật thuyết kinh Vedana Pariggaha cho đạo-sĩ Dighanakha,
đại-đức Sariputta đắc quả A-la-hán. Chiều ngày hôm ấy, đức Phật triệu
tập tất cả các đệ-tử đến quanh ngài để tấn phong đại-đức Sariputta làm đệ nhứt đệ-tử, trí-huệ bậc nhứt.

Theo kinh Thập Nhị Du, sau khi xuất gia, Sariputta thường theo bên Phật, giúp ngài trong việc giáo hóa, tổ chức và điều hành Giáo Hội.

Ông thường được Phật khen ngợi và tin dùng. Ông là người chủ chốt trong việc hướng dẫn cư sĩ Sudatta kiến lập tinh xá Jetavana từ đầu đến cuối. Khi Devadatta lập Giáo Hội riêng ở Gayasisa, chính Sariputta và Moggallana đã đến tận nơi thuyết pháp và khuyên nhủ các vị khất sĩ nên trở về với Phật.

Cũng chính đại đức Sariputta là người chuyên giảng rộng lại phần giáo pháp cao siêu (abhidhamma) của đức Phật đã nói, để các vị khất sĩ được dễ hiểu.

Năm -545, Thượng tọa Sariputta về làng Upatissa thăm mẹ bệnh nặng và đã săn sóc bà cho đến khi bà lâm chung. Sau lễ trà tỳ của bà Sari, sẵn có mặt đầy đủ bà con và dân cư quen biết trong làng, Thượng tọa thuyết pháp cho họ nghe. Mọi người đều chăm chú lắng nghe vì Thượng tọa nói hay lắm.
Thượng tọa giảng về cuộc đời là vô thường và dẫy đầy những thống khổ về thân cũng như về tâm, Chánh pháp là con đường duy nhất có thể đưa con người ra khỏi biển khổ sanh tử để đến niết-bàn an lạc thanh tịnh.
Sau thời pháp, Thượng tọa làm lễ quy y Tam Bảo cho gần mười người. Rồi đêm đó Thượng tọa ngồi nhập định trong tư thế kiết già. Ðến sáng sớm hôm sau, chú thị giả Cunda mới biết là Thượng tọa Sariputta đã nhập diệt có lẽ vào lúc nửa đêm. Trước đó Thượng tọa có nói là muốn nhập diệt trước
Phật, và dặn Cunda nên đem y bát và xá lợi của Thượng tọa đến trình Phật và xin Phật cho chú đi theo kề cận ngài.

Y bát và xá lợi của Thượng tọa Sariputta được vua xứ Kosala thỉnh về Sravasti và xây tháp thờ tại Jetavana. Ngoài ra, dân làng Upatissa và Phật tử còn xây một tháp khổng lồ bằng gạch thờ ngài tại viện Ðại học Nalanda.

Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho ngài Sariputta sẽ thành Phật hiệu là Hoa-Quang Như-Lai (Padmaprabha), ở thế giới tên Ly-Cấu (Viradja),
vào kiếp Ðại Bửu Trang Nghiêm (Maha-ratana-vyuha kalpa).

Tác phẩm của ngài để lại: A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc Luận (20 quyển); Luận Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm (30 quyển).

Còn Tiếp
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7729
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Sun 27 Feb 2011, 20:01

2. Moggallana (Mục-Kiền-Liên), thần thông đệ nhất.

Ông Moggallana, sanh cùng một ngày với ông Sariputta, người làng Kolita, gần Nalanda, cha tên Moggalla, mẹ tên Moggali (Thanh Ðề), thuộc dòng Bà-la-môn, phong lưu, sang trọng.

Ông là người thông minh trí tuệ, học rộng và có đức hạnh. Ông kết bạn thân với ông Sariputta ở làng Upatissa, kế bên làng ông. Một hôm, cả hai rủ nhau đến dự lễ cúng tế long trọng ở thành Rajagriha, thấy mọi người vui chơi hỗn tạp, chợt nghĩ đến cuộc đời vô thường, hai người bạn rủ nhau đi tìm thầy học đạo.

Nhưng cha mẹ ông không thuận cho ông xuất gia. Ông tuyệt thực luôn mấy ngày liền. Cha mẹ ông đành chìu theo ý ông. Hai ông Moggallana và Sariputta liền rủ nhau đến nghe sáu vị đạo sư ngoại đạo thuyết pháp, cuối cùng hai ông đến xin thọ giáo với đạo sư Sanjaya.

Chỉ trong bảy ngày, hai ông đã thông suốt được giáo chỉ của thầy, và được giao cho chức giáo thọ, có thể thay thầy để chỉ dạy cho các bạn đồng môn. Nhưng Sariputta và Moggallana chưa hài lòng, hai ông chia tay nhau đi tìm chân sư, Sariputta đi về miền nam, Moggallana đi về phương bắc, hẹn khi gặp được chân sư sẽ thông báo cho nhau để cùng đến học.

Chẳng bao lâu, ông Sariputta gặp được đại đức Assaji tại thành Rajagriha (Vương Xá), và được đại đức Assaji đọc cho nghe bốn câu kệ của Phật về lý vô thường và đạo giải thoát.

Sau khi nghe xong, ông Sariputta liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Khi ông Sariputta tìm gặp ông Moggallana và đọc lại bốn câu kệ trên thì ông Moggallana cũng đắc quả Tu-đà-hoàn. Hai người liền dắt nhau đến gặp đạo sư Sanjaya báo tin và mời đạo sư cùng đến thọ giáo với Phật, nhưng đạo sư Sanjaya từ chối.

Trong lúc đó 155 đệ tử của đạo sư Sanjaya xin tháp tùng với hai
ông Sariputta và Moggallana đến xin xuất gia với Phật tại Rừng Kè, cách Rajagriha 2 km về phía nam. Chỉ một tuần lễ sau ngày xuất gia, đại đức Moggallana đắc quả A-la-hán.


Ðại đức Moggallana rất siêng năng tu tập thiền định nơi thanh vắng, nên chẳng bao lâu trở thành vị đệ tử thần thông bậc nhất của Phật.
Năm
-566, sau khi chứng được ngũ thông, thầy dùng thiên nhãn tìm xem cha mẹ mình hiện giờ ở đâu. Thầy thấy cha hiện đang sanh vào một gia đình
Bà-la-môn giàu có, còn mẹ thì phải đọa làm ngạ quỷ, chịu khổ sở đói
khát.

Thầy dùng thần túc thông mang cơm đến cho bà ăn, nhưng mỗi lần cơm đưa tới miệng thì biến thành lửa, không thể nào ăn được. Thầy liền cầu Phật chỉ dạy cách cứu mẹ khỏi khổ nạn ngạ quỷ.

Phật dạy cách thiết lễ trai tăng long trọng vào ngày tự tứ mãn hạ, gọi là lễ Vu Lan Báo Hiếu.
Thượng tọa Moggallana nghe lời Phật dạy, thiết lễ Vu Lan cúng dường. Nhờ lòng hiếu thuận tha thiết của Thượng tọa, và thần lực hộ niệm của chư tăng thanh tịnh và chư Phật mười phương, bà Moggali (Thanh-Ðề), mẹ của Thượng tọa Moggallana, liền cảm ứng được tâm lành, dứt hết tánh tham lam bỏn sẻn, được thoát cảnh ngạ quỷ, sanh về cõi trời Quảng-Quả, cõi trời đầu tiên của Tứ Thiền.


Thượng tọa Moggallana lại có tánh ngay thẳng kiên cường, thường hay chỉ trích những chỗ sai lầm trong giáo lý ngoại đạo, nên một hôm, vào năm -546, Thượng tọa bị một nhóm người võ trang gậy gộc phục kích và đánh chết dưới chân núi Isigili gần tinh xá Venuvana. Sau lễ trà tỳ, đức Phật chỉ nơi xây tháp an trí xá lợi Thượng tọa Moggallana ở gần cổng tinh xá Venuvana (Trúc Lâm).
Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho thầy Moggallana về sau sẽ thành Phật hiệu là Ða-Ma-La-Bạt Chiên-Ðàn-Hương Như Lai
(Tamalapatra-Chandanagandha), ở thế giới Ý-lạc (Manobhirama), vào kiếp Hỷ-mãn (Ratiprapurana).

Tác phẩm của ngài: Mục-Kiền-Liên Pháp Uẩn Túc Luận (12 quyển) trong Ðại Tạng Kinh.
3. Maha-Kassapa (Ma-Ha Ca-Diếp), hạnh đầu-đà đệ nhất.
(Xem Vị Tổ thứ nhất trong phần "Ba Mươi Ba Vị Tổ-Sư)
4. Subhuti[b][4] (Tu-Bồ-Ðề), giải không đệ nhất.

Ông Subhuti, quê ở thủ đô Sravasti, xứ Kosala, cha tên Bhuti, thuộc dòng Bà-la-môn. Khi vừa chào đời, tất cả đồ đạt trong nhà bỗng nhiên biến mất, ba ngày sau mới trở lại như trước, do đó cậu bé được đặt tên là Subhuti, có nghĩa là Không Sinh. Thầy tướng số lại bảo đó là điềm rất
tốt cho tương lai cậu bé, nên người nhà cũng gọi cậu là Thiện Cát.


Thuở nhỏ Subhuti có đồng nào thường đem cho người nghèo túng, có khi cởi áo ngoài cho luôn. Cha mẹ khuyên bảo không được bèn giữ Subhuti luôn trong nhà, không cho ra đường chơi. Subhuti đã không buồn, lại thích tìm đọc sách vở về triết học và tôn giáo. Subhuti thường tự hào nói với cha mẹ:
- Tất cả sum la vạn tượng trên vũ trụ đều hiện rõ trong tâm con, tâm con như hư không rỗng rang chẳng có chút gì.

Ðến khi Phật vừa thành lập xong tinh xá Jetavana ở Sravasti, cha mẹ ông Subhuti đều đến quy y với Phật. Một hôm cha ông bảo:
- Này Subhuti, con thường tự cho mình có trí huệ, thông hiểu chân lý, vũ trụ, nhân sinh. Nhưng sánh với đức Phật con còn thua rất xa.

Ðức Phật chẳng những có đại trí huệ mà còn có đại thần thông, đại từ bi. Từ khi ngài quang lâm đến Sravasti, các quan chức, thân hào, nhân sĩ và dân chúng đến quy y với ngài thật đông.

Cha định thỉnh đức Thế-tôn về nhà cúng dường để con có dịp học hỏi thêm.
Subhuti nôn nao gặp Phật, nên chiều hôm ấy ông lén đến Jetavana xem Phật là người thế nào.

Ðến nơi, Subhuti thấy Phật đang ngồi trên tòa cao thuyết pháp, thân tướng trang nghiêm, giọng nói đầm ấm, rõ ràng, vang xa, trước
hằng ngàn thính chúng ngồi im lặng lắng nghe. Ðức Phật nói đến đoạn kết bài pháp như sau:

- Này quý vị, sở dĩ thế gian dẫy đầy đau khổ bởi chiến tranh, chết chóc, cướp giựt, giết hại lẫn nhau, là vì chúng sinh mê lầm.
Vạn vật đều vô thường, vô ngã mà chấp là thường, là ngã.

Các lạc thú ở đời đều là nhân của khổ mà chấp là vui. Do đó phải chịu đau khổ luân hồi không lối thoát.
Quý vị nên dũng mãnh tinh tấn tu Giới Ðịnh Huệ để chứng ngộ rằng
tất cả chúng sinh đều cùng chung một thể tánh, đến chừng đó cảnh giới
niết-bàn an lạc, thanh tịnh, thường hằng sẽ hiện đến với quý vị.

Tuy chỉ nghe được đoạn kết, Subhuti rất cảm động và mong sớm được học pháp tu Giới Ðịnh Huệ, ông liền tiến đến trước Phật đảnh lễ xin xuất gia làm đệ tử. Ðức Phật hoan hỷ chấp thuận.

Ðại đức Subhuti vốn có tánh thương người nghèo khó, nặng nghiệp, không hiểu nổi giáo lý cao siêu, nên ông chỉ đến khất thực nơi nhà giàu có. Trái lại khất sĩ Maha-Kassapa chỉ đến khất thực nơi nhà nghèo, vì ông muốn cho họ có cơ hội làm việc phước thiện để tạo nghiệp lành cho đời sau.
Khi đức Phật biết được, đều quở hai ông không có tánh bình đẳng, và
khuyên các khất sĩ nên thực hành tánh bình đẳng bằng cách đi khất thực theo thứ tự từng nhà, không phân biệt giàu nghèo.


Thượng tọa Subhuti là người đứng ra thưa hỏi Phật trong kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-la-mật, và đã thâm nhập pháp Vô-ngã Ðộ-sanh để an-trụ tâm và pháp Vô-tướng Bố-thí để hàng-phục tâm.

Từ đó Thượng tọa nổi tiếng là vị đệ tử
Giải không đệ nhất của Phật.
Sau hạ thứ 7, khi được đại đức Anuruddha báo tin đức Phật lên cung trời Ðao-lợi thuyết pháp cho thánh mẫu Maha-Maya trong ba tháng sắp trở về, các vị đại đệ tử nô nức đi đón Phật. Uppalavanna
(Liên-Hoa-Sắc), vị tỳ-kheo-ni thần thông đệ nhất, là người đầu tiên bước đến đảnh lễ Phật và nói:

- Bạch Thế Tôn, đệ tử là Uppalavanna, người đầu tiên đến nghinh đón Thế Tôn, xin Thế Tôn chứng minh cho.
Ðức Phật mỉm cười nói:
- Này Uppalavanna, người nghinh đón Như Lai trước nhất chẳng phải là sư cô đâu.
Uppalavanna lấy làm lạ hỏi:
- Bạch Thế Tôn, nếu chẳng phải con vậy là ai?
Ðức Phật nhìn các đệ tử, ôn tồn nói:
- Cám ơn quý vị khất sĩ đã từ xa xôi về đây tiếp đón Như-Lai, nhưng người
gặp Như-Lai trước nhất chính là Subhuti. Thầy Subhuti hiện đang quán
Tánh Không của các pháp và thực hành Tâm Không trong một hang núi ở Griddhakuta, do đó thầy mới là người thấy Phật trước nhất.


Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho đại đức Subhuti về sau sẽ thành Phật hiệu là Danh Tướng Như Lai (Sasiketu), ở thế giới Bảo Sanh (Ratana-sambhava), vào kiếp Hữu Bảo (Ratana-vabhasa).

5. Punna Mantaniputta [5]
(Phú-Lâu-Na Mãn-Từ-Tử), thuyết pháp đệ nhất.
Ông Punna Mantaniputta (Pali) còn gọi là Purana Maitrayaniputra (Sanscrit, Phú-Lâu-Na Di-Ða-La-Ni-Tử) sanh cùng ngày với Phật, tại thủ đô Kapilavastu, xứ Sakya, con một vị quốc sư trong triều vua Suddhodana (Tịnh Phạn).

Ông là người đoan chính, thông minh, học rộng, biết thiên
văn, địa lý và cách khám bệnh cho thuốc, thông hiểu các kinh Veda, không thích việc trần thế.


Khi thái tử Siddhattha xuất gia, ông Punna Mantaniputta cùng 29 người bạn cũng xuất gia, vào núi Himalaya tu theo pháp Bà-lê-bà-giá-ca. Khi đức Phật thành đạo dưới cội Bồ-đề thì ông Punna Mantaniputta cùng 29 người bạn cũng đều đắc Tứ Thiền và Ngũ Thông.

Tất cả dùng thần túc thông hiện đến Isipatana (Sarnath), xin xuất gia, thọ cụ-túc giới, về sau đều chứng quả A-la-hán. Ðại đức được Phật công nhận là vị đệ tử thuyết pháp hay nhất.


Năm -565, đức Phật phái Thượng tọa Punna Mantaniputta đến xứ Thâu-lô-na (Du-lô-na) để giáo hóa dân chúng nơi đây nổi tiếng là hung ác và thô bạo.

Thượng tọa đến xứ Thâu-lô-na hoằng pháp rất thành công [6]
chỉ trong vòng một năm, độ được 500 người quy y Tam Bảo, và 500 người xuất gia, thành lập tinh xá tu học và kiết hạ ngay trong năm ấy.

Về sau, Thượng tọa nhập vô dư niết-bàn tại xứ này.

Lúc Phật nhập niết-bàn tại Kusinagar, Thượng tọa Punna Mantaniputta bận đi hoằng hóa xa nên không kịp đến dự lễ trà tỳ.

Khi Thượng tọa về đến động Saptaparna ở Rajagriha để tham dự kiết tập kinh điển thì cuộc kiết tập đã đến hồi kết thúc. Sau khi được nghe đọc lại ba tạng Kinh, Luật, Luận vừa kiết tập, Thượng tọa Punna Mantaniputta cho ý kiến như sau:

- Thưa chư huynh đệ, các vị kiết tập giáo pháp như thế này là điều rất
quý báu được mọi người cảm phục.

Về nội dung toàn bộ, tôi không có ý kiến gì thêm. Nhưng về tạng Luật, tôi thấy có 8 điều ngăn cấm về ăn uống không đúng hẵn với bản ý của đức Thế Tôn, và có thể gây trở ngại cho việc điều hành của tăng đoàn trong một tinh xá. Như là cấm tự lấy thức ăn, cấm mang thức ăn từ nơi khác về, cấm ăn các thứ trái cây, cấm ăn những vật thực sản xuất từ hồ ao ...

Gặp năm thất mùa, gặp thời đói khó, khi đi xin không được thức ăn, đức Phật đều cho phép 8 việc trên.

- Ðúng vậy, Thượng tọa Maha Kassapa nói, nhưng Thế Tôn chỉ cho phép 8 điều ấy trong những hoàn cảnh rất đặc biệt mà thôi.

Theo quyển 4 kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho Thượng tọa Punna
Mantaniputta sẽ thành Phật hiệu là Pháp Minh Như Lai (Dharmaprabhasa), ở thế giới Thiện Tịnh, vào kiếp Bửu Minh.

Còn Tiếp
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7729
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Sun 27 Feb 2011, 20:17

6. Maha-Kaccana [7] (Ma-Ha Ca-Chiên-Diên), luận nghị đệ nhất.

Ông Maha Kaccana (Maha Katyayana) tên thật là Nalaka, sanh ở thủ đô Ujjeni [8]
xứ Avanti (A-bàn-đề), dưới triều vua Pajjota. Ông lớn hơn Phật độ 10
tuổi. Ông là con thứ hai của ông Bà-la-môn tên Kacca làm quốc sư trong triều vua Suddhodana. Ông là cháu gọi ông Asita Kaladevala (A-tư-đà) bằng cậu ruột.

Ông Maha Kaccana thọ giáo với người cậu ruột là đạo sư Asita, chứng được Tứ Thiền và Ngũ Thông. Ông được vua Bimbisa xứ Magadha thỉnh về làm đạo sư.

Về sau vì không hiểu nghĩa hai câu kệ, ông nhớ đến lời tiên đoán của
thầy ông là Asita về sự ra đời của đức Phật nên ông tìm đến xin Phật
giải giúp. Nhân dịp này, Phật giảng cho ông nghe về Trung đạo, Tứ diệu
đế và 12 Nhân duyên.

Ông liền khai ngộ, xin xuất gia theo Phật, ít lâu sau đắc quả A-la-hán, được Phật khen là vị đệ tử luận nghị đệ nhất. Trên đường hoằng pháp, ngài Punna Mantaniputta thường thuyết pháp trước đại chúng, trái lại ngài Maha Kaccana thì thích thuyết pháp cho từng người để thuyết phục họ bằng cách luận nghị.

Sau khi Phật diệt độ, Thượng tọa Maha Kaccana vẫn còn sống, giáo hóa chúng sanh, và thường cảm hóa những
người theo ngoại đạo.

Theo
kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho Thượng tọa Maha Kaccana sẽ thành Phật hiệu là Diêm-Phù-Na-Ðề-Kim-Quang Như Lai (Djambunadaprabha).

Theo Câu-Xá Luận Quang Ký 1 thì quyển A-tỳ-đạt-ma Thi Thiết Luận trong Lục Túc Luận là do ngài soạn.
Trong Mật tông, ngài được xếp vào ngôi thứ 6, hàng phía trên, bên trái Phật Thích Ca Mâu Ni trong biểu đồ Mạn-đồ-la Thai Tạng Giới: Ngài ngồi trên tòa lá sen, lòng bàn tay phải dựng đứng, co ngón áp út và ngón út lại, tay trái cầm một góc cà-sa đặt trước ngực.

7. Anuruddha
(A-Na-Luật), thiên nhãn đệ nhất.

Anuruddha là em chú bác của thái tử Siddhattha, nhỏ hơn thái tử vài tuổi, sanh tại thủ đô Kapilavastu, xứ Sakya. Theo các kinh Khởi Thế 10, Luật Ngũ Phần 15, Chúng Hứa Ma-ha Ðế 2, thì Anuruddha là con của Dhotodana (Hộc Phạn).

Còn theo Phật Bản Hạnh Tập Kinh 11, Luận Ðại Trí Ðộ 3, thì
Anuruddha là con của Amitodana (Cam Lộ Phạn). Nhưng theo quyển The Buddha and His Teachings của Hòa Thượng Narada xuất bản năm 1998 thì Anuruddha là con của Sukkodana (Bạch Phạn), và là em của Mahanama.

Thuở nhỏ, Anuruddha đã rất hoạt bát, thông minh, có tài về âm nhạc, kỹ thuật, thường ca hát trước đông người và làm những điệu bộ khôi hài khiến mọi người vui cười, cảm mến.

Chú bé Anuruddha lại thích chơi đánh bạc ăn bánh, khi thua hết bánh chú lại chạy tìm mẹ xin thêm.

Có lần bà mẹ bảo Bánh không c
ó. Anuruddha rất được mẹ nuông chìu, chưa hề biết không có là cái gì, bèn nói Bánh không có cũng được, mẹ đưa cho con đi.
Bà mẹ lấy cái hộp không đưa cho chú xem. Nhưng lạ thay, khi mở hộp ra lại thấy đầy bánh trong hộp. Bà mẹ rất ngạc nhiên, cho rằng Anuruddha là một đứa bé phi thường, có phước báu lớn.

[10]
Năm -588, sau hạ thứ 2, ông Anuruddha cùng đi với Bhaddiya, Devadatta, Bhagu, Kimbila, Ananda và người thợ hớt tóc tên Upali, đến thành phố Anupiya, xứ Malla, để xin xuất gia theo Phật. Khi mới xuất gia, đại đức Anuruddha có tật mê ngủ, giải đãi công phu.

Một hôm, trong khi Phật thuyết pháp, đại đức Anuruddha ngồi ngủ gậc, bị Phật quở trách [11]. Ðại đức lấy làm tủi-hổ, khóc suốt bảy ngày đêm không ngủ, vì thế vướng bệnh lao mắt rồi mù luôn.

Ðức Phật an ủi, cho biết đó là tiền nghiệp phải trả, rồi dạy thầy tu pháp Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội (Aloka-sanna-kasina), là công phu tập trung tánh thấy vào Bổn Giác Chơn Như.

Ðại đức Anuruddha chuyên cần tu tập, ít lâu sau được thiên nhãn thông
(dibba-cakkhu), xem thấy mười phương thế giới rỗng suốt, rõ rệt dễ dàng như thấy trái xoài trong bàn tay. Ðức Phật thọ ký cho thành bậc
A-la-hán, và khen đại đức Anuruddha là vị đệ tử có thiên nhãn đệ nhất.

Sau
khi đắc quả A-la-hán, Thượng tọa Anuruddha thường độ cho nhiều người.
Một hôm, đang đi đường xa, gặp lúc trời tối, Thượng tọa ghé vào nhà trọ
nghỉ đêm. Bị cô chủ quán trêu ghẹo, Thượng tọa liền dùng thần thông bay
lên cao. Thấy phép lạ, cô chủ quán sụp xuống lạy, xin quy y Tam Bảo và
nguyện sẽ trở nên một tín nữ đứng đắn.


lần Thượng tọa Anuruddha đang đi từ Sravasti đến Vesali. Trên đường đi
gặp một thiếu phụ giận chồng, bỏ nhà chồng ở Sravasti đi về nhà cha mẹ
ruột ở Vesali. Thiếu phụ yêu cầu thầy đi chung đặng che chở dùm. Anh
chồng theo kịp, ngỡ rằng ông sư dắt vợ mình đi trốn, liền áp đến đánh.
Thượng tọa Anuruddha lặng thinh đứng nhập định. Chồng của thiếu phụ thấy
vậy, không dám nghĩ quấy, đổi giận làm vui, tỏ lời xin lỗi.Thượng tọa
Anuruddha cũng là người theo sát bên cạnh Phật lúc Phật nhập niết-bàn,
và hướng dẫn thánh chúng tụng niệm sau khi Phật vừa nhập diệt.

Theo
kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho Thượng tọa Anuruddha và 500 vị đệ tử
A-la-hán khác sẽ lần lượt thành Phật, cả thảy đồng một danh hiệu là Phổ
Minh Như Lai (Samantaprabhasa Tathagata).
8. Upali [13] (Ưu-Ba-Ly), trì luật đệ nhất.

Upali là người thợ hớt tóc, kém hơn Phật độ 10 tuổi, ở xứ Sakya, gần ranh giới xứ Malla. Năm -588, một hôm, sáu vị vương tử dòng Sakya là
Bhaddiya, Devadatta, Anuruddha, Bhagu, Kimbila và Ananda đi bằng xe tứ mã từ thủ đô Kapilavastu đến sát biên giới xứ Malla thì xuống xe, cho xe trở về, rồi cùng nhau đi bộ đến thành phố Anupiya thuộc xứ Malla, cách biên giới không xa. Anuruddha đề nghị mọi người cởi bỏ hết đồ trang sức quý giá, chỉ ăn mặc thật đơn giản trước khi qua biên giới. Mọi người tán thành.

Họ cởi những xâu chuỗi ngọc và những chiếc vòng bằng vàng bằng
bạc ra gói lại trong một cái áo. Khi vừa đến một làng nhỏ thì họ gặp một quán hớt tóc nghèo nàn. Anh thợ hớt tóc là một thanh niên trạc tuổi họ, mặt mày khôi ngô nhưng ăn mặc rách rưới.

Anuruddha ghé vào quán hỏi thăm đường đi đến thành phố Anupiya. Anh thợ hớt tóc cho biết tên anh là Upali và tình nguyện dắt sáu người khách lạ đi một đoạn đường sang biên giới.

Upali đưa các vương tử qua khỏi biên giới xứ Malla, chỉ đường đi Anupiya, rồi vái chào các vương tử để trở về.
Anuruddha cám ơn Upali và trao cho Upali cái áo gói đầy châu báu trong đó. Chàng nói:

- Này Upali, chúng tôi muốn theo Phật xuất gia. Chúng tôi không cần dùng những thứ trang sức châu báu này nữa. Chúng tôi tặng lại anh.

Từng ấy châu báu vàng bạc đủ để anh sống sung sướng suốt đời.

Các vương tử từ giã Upali rồi lên đường. Anh thợ hớt tóc mở chiếc áo ra.
Vàng ngọc làm anh ta lóe mắt. Anh không tin đây là sự thật.
Bỗng nhiên anh cảm thấy lo sợ, anh cảm thấy mất hết sự an ổn thảnh thơi hằng ngày.
Anh sợ kẻ tham biết được sẽ giết anh để cướp đoạt. Anh sợ quan quân biết được sẽ cho anh là kẻ trộm cắp. Upali suy nghĩ. Anh thấy các vương tử
giàu sang đến thế, quyền hành như thế mà vẫn bỏ hết để đi xuất gia, thì chắc việc xuất gia phải có cái gì quý báu hơn giàu sang danh vọng. Anh chợt có ý nghĩ liệng bỏ gói châu báu để đi theo các vị vương tử. Anh treo gói châu báu lên một cành cây gần đó, thầm nhủ rằng ai là người đầu tiên thấy gói châu báu này thì gói châu báu này sẽ thuộc về người ấy.
Rồi anh lật đật chạy theo các vương tử.

Các vương tử ngạc nhiên thấy Upali chạy theo vừa tới. Devadatta hỏi:
- Upali, anh chạy theo chúng tôi làm chi? Bọc châu báu anh để đâu?
Upali thở hổn hển, rồi kể lại câu chuyện.

Anh ta nói đã treo gói châu báu lên một cành cây, vì khi cầm gói châu báu ấy trên tay anh cảm thấy lo sợ cho tánh mạng, tâm không an. Anh xin các vị vương tử cho phép anh cùng đi theo đến Anupiya để xin xuất gia với Phật.

Devadatta cười ha hả:

- Anh mà cũng muốn đi xuất gia như chúng tôi à?
Nhưng Anuruddha và Bhaddiya tán thành ngay:
- Hay lắm, như vậy chúng ta cùng đi. Có anh dẫn đường càng dễ dàng cho chúng tôi.
Phật và tăng đoàn đang cư trú trong một khu rừng cách thành phố Anupiya chừng hai cây số về phía đông nam, gần sông Anoma. Bảy người tìm tới nơi xin gặp Phật.

Bhaddiya thay mặt cả nhóm trình lên Phật ý nguyện của họ
xin được xuất gia. Phật im lặng chấp thuận. Bhaddiya nói tiếp:


- Bạch Thế Tôn, chúng con xin cho Upali được xuất gia trước. Như vậy
chúng con phải xem Upali như một sư huynh để trừ ý niệm phân biệt kỳ thị còn sót lại trong lòng chúng con.


Ðức Phật khen ngợi cả bảy người, rồi cho Upali xuất gia trước, sau đến sáu vị vương tử. Ananda tuy mới 18 tuổi cũng được xuất gia, nhưng chỉ thọ giới sa-di [14] và học theo hạnh khất-sĩ. Ðúng 20 tuổi Ananda mới được thọ giới khất-sĩ.

Upali chuyên tu trì giới luật rất nghiêm túc, được Phật khen là vị đệ tử trì luật đệ nhất và thường cử đại đức đi hòa giải những xích mích trong hàng khất sĩ.
Trong cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại động Saptaparna ở Rajagriha, Thượng tọa Upali được đề nghị lên trùng tuyên tạng Luật, gồm 3 phần:
1) Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa, Giới Bổn) nói về giới hạnh của tăng ni, nhằm giúp cho 3 nghiệp và 6 căn được thanh tịnh.
2) Mahavagga (Ðại Phẩm luật) nói về các lễ xuất gia, sám hối, nhập hạ, cúng dường ... trong một tập thể lớn tăng ni.
3) Cullavagga
(Tiểu Phẩm luật) là những điều luật về thưởng phạt, hòa hợp tăng, xây
cất chùa tháp, bổn phận và trách nhiệm của tăng chúng, trong một tập thể nhỏ tăng ni.

Trong Mạn-đồ-la (mandala) Thai Tạng Giới của Mật tông, Thượng tọa Upali được xếp vào vị trí thứ 7, hàng bên trái đức Thích-Ca, với tướng tỳ-kheo, toàn thân màu da người, ngồi kiết già trên tòa lá sen.

9. Rahula [15]
(La-Hầu-La), mật hạnh đệ nhất.

Ông Rahula, sanh năm -595 tại thủ đô Kapilavastu, xứ Sakya, cha là thái tử Siddhattha, 29 tuổi, mẹ là công chúa Yasodhara, cùng tuổi với cha.
Chữ "Rahula" có nghĩa là "che án và trói buộc". Tục truyền rằng Rahula sanh nhằm lúc Rahulâsura-raja (La-hầu A-tu-la Vương) đưa tay che mặt trăng, nên có tên "Chướng Nguyệt"; Rahula lại ở trong thai mẹ đến 6 năm, nên có tên "Phú Chướng" (che án và trói buộc).


Sau khi sanh Rahula được 7 ngày, vua Suddhodana làm lễ đặt tên cháu nội thật long trọng. Ðến nửa đêm, mọi người đều mỏi mệt ngủ say, thái tử Siddhattha thừa dịp tốt liền cùng Channa (Xa-nặc) lên ngựa Kanthaka (Kiền-trắc) vượt thành xuất gia.

Năm -588, lúc đức Phật trở về Kapilavastu lần đầu tiên sau khi thành đạo, Rahula xin xuất gia, lúc bấy giờ ông mới được 7 tuổi. Ðức Phật bảo đại đức Sariputta làm y-chỉ-sư truyền giới và đại đức Moggallana làm vị
A-xà-lê, rồi cho Rahula làm khu-ô sa-di, vị sa-di đầu tiên, lo việc đuổi
quạ để giữ yên tĩnh trong giờ các vị khất sĩ ngồi thiền.


Năm -581, tại tinh xá Ghosita, Rahula được 14 tuổi, một hôm, sau khi phải dậy sớm quét lá một khu vườn rộng lớn, lúc trở về am thì am thầy đã bị thầy quản lý giao cho một vị khất sĩ khác ở. Rahula còn đương đứng ngơ ngác thì một trận mưa to kéo đến, thầy phải chạy vào nhà vệ sinh ngồi đục mưa. Dù vậy thầy vẫn không phiền trách ai, thầy đã giữ được tâm nhẫn nhịn và hòa nhã với tất cả mọi người.

Năm-579, Rahula được 16 tuổi, đang đi khất thực với đại đức Sariputta tại thành Rajagriha (Vương-xá), bỗng có một tên lưu manh bước đến bỏ cát vào bát của thầy Sariputta và lấy gậy đánh lên đầu Rahula đến chảy máu.
Thầy Sariputta an ủi:

- Này Rahula, nếu thật là đệ tử Phật phải có tánh nhẫn nhục, trong tâm không bao giờ khởi sân hận, nên đem lòng từ bi thương xót chúng sanh mê lầm. Ðức Thế-tôn thường dạy chúng ta, lúc được khen tặng đừng sinh lòng cao ngạo, lúc bị hạ nhục đừng sanh lòng oán giận.

Này Rahula, nên điều phục tâm giận tức bằng tính nhẫn nhục và lòng từ bi để làm tăng trưởng giới đức.

Rahula vẫn bình tĩnh, đến một nhà bên vệ đường xin nước rửa vết thương và xin ít vải để băng bó, rồi thầy an nhiên nói:

- Bạch thầy, trên thế gian này sao có lắm kẻ si mê hung ác. Ðến đâu cũng gặp toàn những việc đáng chán. Ðức Thế Tôn dạy chúng ta nên có lòng đại từ đại bi đối với họ, để mặc hạng người cuồng bạo nhục mạ chúng ta.
Các khất sĩ giữ hạnh nhẫn nhục để làm tăng trưởng giới đức, mà bọn cuồng si lại khinh chê, lại đi kính trọng những kẻ hung dữ độc ác hơn họ.
Dù có nghe Phật dạy chân lý từ bi nhẫn nhục, họ cũng cho là đồ hôi thúi như xác chết. Ðối với hạng người hung dữ không một chút căn lành thì có đem Chánh Pháp nói với họ cũng chẳng ích lợi gì.


Ðức Phật dạy chú sa-di Rahula rất nghiêm, nhất là khi chú làm điều gì trái phép. Khi lớn lên, đại đức Rahula nghiêm trì giới luật rất chu đáo, được mọi người khen là vị đệ tử mật hạnh đệ nhất.

Ngài nhập diệt trước Phật, vào khoảng 48 tuổi, có tháp thờ xá lợi tại tinh xá Jetavana (tháp số 12).

Theo kinh Pháp Hoa, đức Phật có nói nhờ nguyện lực đời trước nên Rahula được sanh làm con của Bồ-tát vương tử, đến khi Bồ-tát thành Phật, Rahula trở thành con Phật. Chẳng những ở đời này, mà trong vô số kiếp về sau,
Rahula sẽ luôn luôn làm con trưởng nam của chư Phật để thọ lãnh pháp
Phật, mãi cho đến khi tự mình thành Phật hiệu là Ðạo Thất Bảo Hoa Như
Lai (Sapta-ratana-padmavikramin).
10. Ananda (A-Nan), đa văn đệ nhất.
(Xem Vị Tổ thứ nhì trong phần "Ba Mươi Ba Vị Tổ-Sư")

[1] Xem "The Buddha and his teachings" của Narada, trang 114. Theo Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn-Trung-Còn thì cha của Sariputta tên là Tyshya (Tissa, Ðề-Xá).
[2]Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 209-211.
[3]Bài kệ bằng chữ Hán như sau: "Chư pháp tùng duyên sanh,
"Diệt, tùng nhân duyên diệt.
"Ngã, Phật, Ðại sa-môn,
"Từng ưng như thị thuyết.
[4] Xem Trung A-Hàm 43: kinh Câu-lâu-sấu Vô Tránh; Tăng Nhất A-Hàm 3, 28; Luận Ðại Tỳ-bà-sa 179; Luận Ðại Trí Ðộ 53; Kinh Thí-Dụ 1; Duy-Ma Kinh Văn Sớ 13; Ðại Ðường Tây Vực Ký 1.

[5] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tạp A-Hàm 10, 16; Trung A-Hàm 2: Kinh Thất Xa; Tăng Nhất A-Hàm 2, Phẩm Ðệ Tử; Phật Bản Hạnh Tập Kinh 37: Kinh Mãn Nguyện Tử; Kinh Ðạo Hành Bát Nhã 1, Phẩm Ðạo Hạnh; Luận Phân Biệt Công Ðức 4; Luận Ðại Trí Ðộ 3; Huyền Ứng Âm Nghĩa 3, 8.
[6] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tạp A-Hàm 13; Luật Ma-ha Tăng-ký 23.
[7] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Trưởng Lão Kệ; Tạp A-Hàm 9, 19, 20; Luật Ngũ Phần 21; Luật Thập Tụng 25; Pháp Hoa Kinh Văn Cú 1, hạ; Huệ Lâm Âm Nghĩa 8; Thai Tạng Giới Thất Tập, thượng.

[8]Theo Geography of Early Buddhism, trang 22, chữ Avanti.
[9] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 267-270; Từ Ðiển Phật Học
Huệ-Quang; Trung A-Hàm 18: kinh Bát Niệm; Trường A-Hàm 4: kinh Du Hành; Phật Bản Hạnh Tập Kinh 58; kinh Phật Ngũ Bá Ðệ Tử Tự Thuyết Bản Khởi, phẩm A-na-luật; Luận Ðại Trí Ðộ 11.

[10]Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 267-270.
[11] Xem Anguttara Nikaya VII 58; Digha Nikaya 33.
[12]
Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội : Trong khi thiền định, tập trung tư tưởng hoàn toàn vào sự nhận thức ánh sáng, cho đến khi nhắm mắt cũng thấy toàn ánh sáng khắp mọi nơi như lúc đang nhìn mặt trời mọc.
Quán biết ánh sáng là vô thường, khổ, vô ngã như tất cả mọi vật khác.

Xem quyển The Path of Purification (Visuddhi-Magga), chương IV và V, của Bhikkhu Nanamoli, Colombo, 1956; Buddhist Legends, quyển I, trang 21-22; Vocabulaire Pali-Français, trang 101, chữ Kasina.


[13] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tăng Nhất A-Hàm 3, Phẩm Ðệ tử; Luật Tứ Phần 4, 5; Luật Ngũ Phần 30; Luật Ma-ha Tăng-kỳ 32; Luận Ðại Trí Ðộ 2.
[14]Sa-di (samanera), sa-di-ni (samaneri) là ngườI tập sự xuất gia nam và nữ.
Sa-di phải thọ 10 giới: 1-Không sát sanh; 2-Không trộm cắp; 3-Không
dâm dục; 4-Không nói dối; 5-Không uống rượu; 6-Không ngồi ghế cao, nằm giường rộng; 7-Không xức nước hoa, đeo đồ trang sức; 8-Không múa hát xướng ca, không xem, không nghe; 9-Không cầm giữ tiền bạc và vật quý giá; 10-Không ăn phi thời.


[15] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ-Quang; Tạp A-Hàm 1, 8; Phật Bản Hạnh Tập Kinh 55; Kinh Thập Nhị Du; Luật Tứ Phần 11; Duy-ma-cật
Kinh Chú 3; Pháp Hoa Huyền Tán 1.

Hết Phần 17
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7729
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Wed 18 Jul 2012, 21:34

Làm vua bảy ngày


Nước Ấn Ðộ có một vị vua nổi tiếng nhất, giỏi giang nhất, đức độ nhất, và được dân chúng kính trọng ngưỡng mộ nhất, đó là vua A Dục. Sau khi Phật bát Niết Bàn chừng trăm năm, vua A Dục đã thống nhất nước Ấn Ðộ và để lại cho đất nước này một trang sử huy hoàng. Vua A Dục là một vị Phật tử thuần thành, lúc còn tại vị, không những ông dốc lòng tin tưởng đức Phật mà lại còn cực lực lo việc truyền bá thánh pháp.

Ðể phát khởi lòng tin của dân chúng đối với Phật pháp, ông đã đổ dồn không biết bao nhiêu là tâm trí lẫn tiền tài vào việc lập tháp cúng dường đức Phật ở khắp mọi nơi.

Ngày hôm nay, nước Ấn Ðộ còn lại rất nhiều di tích của những chùa viện lớn, đó là những kiến trúc được xây lên từ thời vua A Dục vậy. Vua mải lo tung tiền trong việc truyền bá Phật giáo nên có một cuộc sống rất phong phú và an vui.

Ðiều làm cho ông buồn tiếc nhất là người em tên là Thường Tu, không những không tin Phật giáo mà còn quy theo tà giáo, đi đâu cũng hủy báng Phật pháp. Vua A Dục thường thường khuyên răn ông, nhưng Thường Tu rất cố chấp, vua không biết phải xử trí bằng cách nào.


Một hôm trời tối, Thường Tu bước vào hoàng cung, nói với vua A Dục rằng : - Vương huynh ! Hôm nay đệ khám phá ra một điều và nghĩ tới một số vấn đề, không biết có thể nói với vương huynh không ?

Thường Tu nói xong, mở to hai mắt nhìn thẳng vua A Dục, đợi lệnh của vua.

- Thường Tu ! Hiền đệ là người em mà ta thương mến nhất, từ trước tới giờ ta không hề có sự phân biệt với hiền đệ, đệ nên thường thường giúp ta trong việc trị nước mới phải, thì có chuyện chi mà đệ không nói được với ta chứ ? Ðệ muốn nói gì thì cứ nói đi !


Thường Tu bèn tỏ ra rất nghiêm chỉnh :

- Vương huynh ! Ðệ muốn nói với vương huynh một vài lời trung thật, huynh đối với mấy ông tỳ kheo Phật giáo quá đỗi cung kính, quá đỗi ủng hộ mấy ông ấy, coi chuyện Phật sự còn quan trọng hơn việc quốc gia. Ðệ thấy mấy ông sa môn tỳ kheo chẳng có gì xứng đáng cho vương huynh cung kính tôn trọng như thế, nên đệ khuyên vương huynh nên coi trọng việc nước hơn.

Những lời hủy báng của Thường Tu, vua A Dục nghe như những mũi tên đâm vào tim, trong lòng rất buồn nên vội vàng ngăn lại rằng :

- Thường Tu, đệ hãy ngừng ngay những lời nói ấy. Hủy báng Tam Bảo là có tội. Ðệ không hiểu sự cao quý của các vị tỳ kheo, họ là những người đã đoạn trừ được ái dục, xa lìa thân quyến để xuất gia cửa Phật , khoác áo cà sa, hoằng pháp lợi sinh, tìm cầu sự an lạc cho nhân dân, cho xã hội. Phật giáo có hưng thịnh thì đất nước mới ổn định được.

Nghe những lời của vua A Dục, Thường Tu không hề đồng ý còn nói rằng :

- Vương huynh ! Huynh không nên tin họ như thế, cúng dường mấy ông tỳ kheo ấy
thì có lợi ích gì ? Ðệ thấy không những vô ích cho quốc gia, mà còn có hại đối với nhân tâm.
Cả ngày họ không làm việc, ngồi đó mà hưởng phúc, không lẽ dân chúng không muốn bắt chước sống như thế hay sao ? Hơn nữa, huynh nói họ là những người đã đoạn trừ ái dục, kỳ thật chuyện ấy không thể nào có được, huynh xem loại động vật còn biết thế nào là tình ái, huống chi là loài người ?


Những tà ngôn tà kiến ấy làm cho vua A Dục rất buồn khổ, cuối cùng ông nghĩ ra một giải pháp để sửa đổi quan niệm lầm lạc của Thường Tu. Một hôm vua A Dục bí mật gọi một vị đại thần vào cung, dặn phải làm như thế, như thế. Vị đại thần vâng theo lời dặn dò của vua mà thi hành.

Vào lúc trời chạng vạng tối, vua A Dục đang tắm ngoài ao, thì vị đại thần nọ cùng Thường Tu bước vào cung, thấy vua A Dục vắng mặt mà vương mão cùng long bào thì bày ngay đấy, vị đại thần bèn nói với Thường Tu rằng :

- Thân vương ! Tướng mạo, khuôn mặt của ngài và đại vương hết sức giống nhau, nếu ngài khoác long bào vào thế nào cũng có người lầm tưởng ngài là vua A Dục. Thân vương, ngài làm thử mà xem !

Thường Tu biết đây là một việc phạm pháp, nhưng tâm hiếu kỳ và tâm hư danh thúc đẩy, ông bèn mặc long bào và đội vương mão lên. Ðúng ngay lúc ấy vua A Dục bước vào, thấy thế nổi giận, trách mắng Thường Tu rằng :

- Ngươi thật là to gan, dám lén lấy áo mão của ta mà mặc, có phải là ngươi muốn làm phản không ? Ngươi tính chuyện soán ngôi, có phải chăng ? Chứng cớ đã rành rành, Thường Tu còn chạy chối vào đâu được ? Vua A Dục bèn hạ lệnh :

- Ðem hắn ra ngoài cửa thành chém đầu lập tức ! Vị đại thần nọ bèn vội vàng tiến đến can gián :

- Ðại vương ! Thường Tu là em vua, không phải là người ngoài, hơn nữa đây là lần đầu tiên xúc phạm, xin đại vương tha tội cho thân vương ! Vua A Dục nhìn xuống nét mặt ủ dột của Thường Tu, rồi đột nhiên hỏi :

- Thường Tu, ta hỏi ngươi, ngươi có thích làm vua không ?
- Tuy rất thích, nhưng thần không dám vọng tưởng.

Thường Tu trả lời rất nhỏ.
- Làm vua thì vui sướng ở chỗ nào ? Bây giờ thì Thường Tu đã lấy lại can đảm, trả lời rằng

- Vua là người được tôn trọng nhất nước, những khoái lạc vua hưởng kể ra không hết, mà những diễm phúc vua có thì nói ra cũng không cùng tận. Ðồng thời cũng không có ai trên đầu cai quản vua, như thế không phải vui sướng là gì ?

- Ðược! Ngươi đã muốn làm vua thì ta nhường ngôi cho ngươi làm vua trong bẩy ngày, ngươi có quyền tận hưởng ngũ dục tùy thích. Nhưng mãn kỳ hạn ấy, ngươi sẽ bị xử tử.

Vua A Dục quy định như thế xong bèn lui về hậu cung, và bí mật ra lệnh cho một vị thị thần đến trước cửa nhà của Thường Tu, chờ ông này chiều chiều từ cung điện trở về thì nhắc nhở một câu. Người thị thần tay cầm thanh đao bén, đứng ngay tại cửa nhà, mỗi khi thấy Thường Tu trở về thì lớn tiếng hô rằng :

- Thêm một ngày vừa mới trôi qua, còn mấy ngày nữa thì xử tử hình !

Thường Tu rất sợ chết, nghe thế mỗi ngày mỗi thêm phiền não, bất an. Không những ông không khởi lên được một niệm dục lạc nào, mà còn lo âu đến nỗi hình dung tiều tụy hẳn. Bẩy ngày làm vua trôi qua trong khổ sầu, đến sáng ngày thứ tám, vua A Dục lên ngôi báu trở lại, hai bên có văn võ bá quan đứng hầu, hỏi Thường Tu rằng :

- Sao, ngươi làm vua bẩy ngày, hẳn là đã hưởng thụ rất nhiều dục lạc phải không ?
Thường Tu nghe vương huynh hỏi như thế thì ủ rũ cúi đầu trả lời :


- Trong bẩy ngày vừa qua, thật sự đệ không nghe, không thấy gì hết, nói chi tới chuyện hưởng thụ. Mỗi ngày về đến cửa nhà , thấy tên thị thần tay cầm thanh đao sáng loáng, miệng lại hô lớn số ngày còn lại, đủ làm cho đệ ưu khổ rồi, còn tâm trí đâu mà nghĩ tới mấy thứ lạc thú dục lạc kia nữa ?

Vì thế cho nên trong bẩy ngày qua, đệ không nhìn thấy, cũng không nghe thấy gì cả.
Câu nói của Thường Tu làm cho vua A Dục hết sức vui lòng và yên tâm, ông bèn nói :
- Thường Tu, các vị tỳ kheo xuất gia thường thường tư duy đến vấn đề sinh tử lớn lao ấy, vì thế họ không thể nào có tâm trí đâu mà sinh khởi niệm ái dục hay tham chấp vật bên ngoài.
Vua A Dục còn thuyết rất nhiều pháp liên quan tới sự đau khổ của nhân sinh đối với vấn đề sinh tử, khiến Thường Tu cảm động rơi lệ, bèn phát tâm quy y Phật giáo và còn xin vương huynh cho phép mình xuống tóc xuất gia nữa.

st
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7729
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Chuyện Cổ Tích PG   Wed 18 Jul 2012, 23:35

Vua A Dục hối lỗi

Một trăm năm sau khi đức Phật nhật Niết Bàn , vị vua trị vì nước Ấn Ðộ tên là A Dục. Vua A Dục tính tình vô cùng tàn bạo, thích tự tay giết người, và lấy chuyện giết người làm niềm vui.

Ngày nào vua A Dục cũng phải giết người mới vui, ban đầu ông chỉ giết những tội phạm trong tù, về sau số tội nhân không còn bao nhiêu và cuối cùng, không còn ai cho ông giết nữa.

Nhưng ông lại quen thói giết người rồi, nên phải quay sang bắt người vô tội đem ra giết. Vua quen giết người nên thấy đó là chuyện thường, nhưng dân chúng thì sợ hãi đến cực độ.

Có một vị đại thần thấy thế không chịu đựng được nữa nên đã dâng kiến nghị lên tâu rằng :

Ðại vương, mỗi ngày đại vương lấy việc tự tay giết người làm trò vui, nhưng ảnh hưởng của việc này đối với nhân tâm hiện tại đã không tốt, đối với hậu thế cũng không tốt.

Nếu đại vương thích chuyện giếc chóc, chúng thần có thể tìm một người hiếu sát làm chuyện ấy thế cho đại vương, để đại vương khỏi bị mang tiếng sát nhân, chẳng hay đại vương thấy thế nào ?


A Dục vương thấy giải pháp này rất hay nên chấp thuận, bảo họ đi tìm một người như thế. Các vị đại thần đi tìm khắp nơi một kẻ khát máu về làm đao phủ thủ, nhưng không ai bằng lòng nhận lãnh làm việc này.

Về sau, tại một địa phương hẻo lánh, họ tìm được một người tên là Kỳ Lệ, đây là một người tính tình cực kỳ hung ác bạo ngược, tàn khốc không ai bì kịp.


Người này sinh sống bằng nghề săn thú, chuyên môn dùng tên độc bắn chết thú vật, lại còn thích giết người, nên ai ai cũng xa lánh chẳng dám đến gần.
Kỳ Lệ đến thành Hoa Thị là thủ đô của vua A Dục, vua gặp người sắp thay thế mình thì rất hài lòng. Kỳ Lệ xin vua A Dục xây cho mình một tòa nhà thật lớn dùng làm pháp trường, trong đó bày biện đủ các thứ khí cụ để giết người.

Trong pháp trường, họ còn đặt ra các phương pháp khác nhau để tra tấn giết chóc, và quyết định rằng hễ có người đặt chân vào toà nhà này rồi thì không có ngày trở ra, vì thế tòa nhà này có tên là "địa ngục nhân gian".


Tại một vùng duyên hải, có một cặp vợ chồng sinh được một đứa con trai, vì họ sống ở ven biển nên đặt tên cho con là Vị Hải. Về sau nhà này bị giặc cướp tấn công, hai vợ chồng chẳng may mất mạng, chỉ còn lại Vị Hải tuổi còn nhỏ mà đã mất cả cha lẫn mẹ, không biết làm sao mà sống. May quá có một vị tỳ kheo đi ngang chỗ ấy, thấy thế bèn đem Vị Hải về cho xuất gia.

Vị Hải theo sư phụ xuất gia làm sa di, rất ngoan ngoãn tinh tiến tu hành. Một hôm, chú đến thành Hoa Thị khất thực, thấy một tòa nhà cao lớn, muốn vào trong đó khất thực hóa duyên, nên mới tiến vào bên trong.
Chú không thấy bóng dáng một người nào mà chỉ thấy hai bên bày biện những khí cụ
giết người rất ghê rợn, chú lấy làm quái dị, vội vàng tìm đường thối lui, nhưng bỗng nhiên người giữ cửa tiến tới cản đường :


- Ê ! Chú sa môn kia ! Chú không biết quy luật ở đây sao ? Tòa nhà này có tên là Ðịa ngục nhân gian, do Vô Ưu Ðại vương* sai chủ nhân của ta là ông Kỳ Lệ về
đây trấn thủ. Ai vào đây rồi là không được trở ra nữa !


Lúc ấy Kỳ Lệ nghe có tiếng người cũng bước ra, ngăn không cho Vị Hải tìm đường trốn thoát :
- Số của mi xui xẻo, thôi thì hãy ngoan ngoãn chờ chết đi !

Vị Hải biết rằng lý luận với những kẻ không còn nhân tính này không ích lợi gì,
nên nói :

- Tôi không hề sợ chết, nhưng nghĩ mình tu hành chưa chứng được quả, thật là đáng tiếc. Bây giờ tôi chỉ xin các ông kỳ hạn cho tôi một tháng nữa thôi, cho phép tôi gia công tu hành, sau đó tôi sẽ để cho các ông tùy ý xử tử.
-
Xin gia hạn ngày chết, mi thật là vọng tưởng ! Nhưng thôi được, ta niệm tình mi nhỏ tuổi, nhưng một tháng lâu quá. Ta chỉ gia hạn cho mi bảy ngày nữa thôi !


Vị Hải chỉ còn có bảy ngày nữa để sống, chú bèn lui vào một góc nhà gia công tu hành, hy vọng trong thời hạn bảy ngày ngắn ngủi đó có thể giác ngộ và chứng quả.

Nhưng giác ngộ chứng quả không phải là chuyện dễ dàng, mà thời gian thì cứ thế mà từng ngày từng ngày trôi qua. Hôm nay đã qua tới ngày thứ bảy rồi, Vị Hải chỉ còn có ngày hôm nay để sống nữa thôi, ngày mai sẽ phải chịu xử tử hình.

Thế mà hiện bây giờ vọng niệm còn rối bời trong tâm của chú, còn giác ngộ và chứng quả thì chẳng thấy tăm hơi đâu cả !
Chiều tối đến "địa ngục nhân gian" có thêm một người khách, đó là một thiếu nữ bị kết tội không trinh tiết.

Vị Hải nhìn thấy tên Kỳ Lệ lòng lang dạ thú dùng chùy sắt đập vào đầu, vào mặt cô gái, cô gái bị đánh đến lòi cả mắt ra ngoài. Bỗng nhiên chú khởi tâm thương xót, và đối với thế gian thì lại khởi tâm yếm ly muốn xả bỏ.

Chú chợt nhớ lại lời dạy của đức Phật "sắc thân con người do ngũ ấm hợp thành, rất mong manh và không có thật". Chú nhìn lại cô thiếu nữ nọ, bị đánh thêm một cái nữa là trong khoảnh khắc hồn lìa khỏi xác.


Thân người thì không có gì chắc chắn, thế gian thì đầy khổ não, nếu không phải là một thánh nhân giải thoát thì không có cách nào tránh khỏi khổ đau. Vị Hải lại nỗ lực quan sát thêm nữa, đêm càng lúc càng đen và tâm của chú thì càng lúc càng sáng lạn.

Chú chứng được sơ quả Tu Ðà Hoàn, gia công tinh tiến thêm, đắc nhị quả, tam quả và cuối cùng thành tựu được đại quả A La Hán. Lúc đó, bình mình của ngày thứ tám đã bắt đầu ló dạng.


Kỳ Lệ bước tới trước mặt Vị Hải nói :

-Bảy ngày đã qua rồi, hôm nay đã qua ngày thứ tám, mi hãy chuẩn bị
chờ chết.


Vị Hải trả lời rất điềm nhiên :

- Tốt lắm ! Tốt lắm ! Ðêm đen của ta đã qua, ánh sáng của ta đã đến. Ngày tốt đến rồi thì ông cứ việc tùy ý mà xử tử ! Kỳ Lệ ném Vị Hải vào trong một cái nồi bằng đồng, trong lòng nồi đựng đầy nước phân, nước tiểu dơ bẩn, phía dưới thì đốt củi khô.

Lửa cháy đỏ hừng hực, ánh lửa rực lên một góc trời. Lửa đốt thật lâu nhưng nước cứ tiếp tục lạnh ngắt, cả cái nồi đồng cũng chẳng nóng lên chút nào. Kỳ Lệ cho châm thêm lửa mà vẫn chẳng thấy nhiệt độ tăng lên, hắn nổi cáu quát tháo người châm lửa là đồ vô dụng, rồi tự tay ném thêm vào lò rất nhiều củi gỗ, và còn thêm than và dầu.

Lửa bùng to hơn, nhưng nước trong nồi vẫn không chịu nóng. Hắn đưa mắt nhìn xem Vị Hải đã chết chưa, thì thật là không thể tưởng tượng được ! Nước dơ bẩn ô uế kia đã biến thành thanh tịnh từ bao giờ, trên mặt nước còn nổi lên những đóa hoa sen, còn Vị Hải thì ngồi kết già phu trên một đóa sen ngàn cánh.


Bốn phía rực lên ánh sáng rực rỡ, nhưng không phải là một thứ ánh sáng tầm thường, mà là ánh sáng màu hoàng kim làm chói mắt người nhìn. Tên Kỳ Lệ hung ác ấy không biết phải làm gì hơn là đem chuyện này lên tâu với vua A Dục.

Vua A Dục nghe chuyện, thấy đây là một sự kiện kỳ quái nên đem thật nhiều đại thần tùy tùng đến xem thực hư ra sao. Thấy sự thật rồi, vua A Dục bỗng khởi lên một lòng tôn kính hy hữu, quỳ xuống đất xấu hổ mà nói :
- Ðại Ðức ! Xin hãy tha thứ cho bọn chúng con dốt nát, bây giờ được thấy ngài như thế này con rất là xấu hổ ! Tất cả những thứ này đều do con gây tội, xin ngài từ bi tha thứ cho chúng con, cứu độ cho tất cả chúng con !

- Tốt lắm ! Tốt lắm ! Lúc đức Phật còn tại thế đã thọ ký cho ông rồi ! Ðức Phật có nói, một trăm năm sau khi Ngài nhập diệt, có một vị vua tên là A Dục sẽ là hộ pháp của Phật giáo, sẽ truyền bá pháp âm và dựng tháp, tạo phúc.

Vua A Dục nghe nói cách đây một trăm năm mà đức Phật đã biết sẽ có mình rồi, lại càng tăng thêm lòng tin, và xin quy y Phật Pháp Tăng với Vị Hải. Bao nhiêu tâm ý ác độc đã tan biến hết, vua A Dục biết sám hối một cách chân thành nên được cứu độ.

Vị Hải rất vui mừng vì đã làm được một việc công đức cho chúng sinh, vua A Dục cũng rất vui mừng vì đã tìm được chỗ quy y chân chính. Lúc vua A Dục lên tiếng thỉnh Vị Hải về cung với mình thì tên Kỳ Lệ bạo tàn, thấy vua A Dục sửa soạn lui về thành thì vội vàng tiến lên cản đường :
-
Ðại vương ! Chính ngài là người đưa ra quy luật là chỗ này chỉ có thể vào chứ không có thể ra. Bây giờ ngài cũng không được phép đi ra, xin ngài ở lại chịu tội.


Vua A Dục nghe thế giật mình kinh hoàng, nhưng ông tự trấn tĩnh lại ngay, hỏi rằng :
-
Mi là người vào đây trước, hay ta là người tới trước ?
- Thần là người vào đây trước !
- Nếu mi là người vào đây trước thì mi sẽ bị trị tội trước !

Ðám đại thần tùy tùng của vua bèn tóm ngay Kỳ Lệ ném vào lửa cho chết cháy, và dở tháo, hủy diệt luôn căn nhà "địa ngục nhân gian" ấy.

Từ đó trở đi, vua A Dục dùng chính sách nhân từ trị dân, dựng tháp cúng dường, đưa Phật pháp gieo rắc ở nước ngoài, dân chúng do đó được sống những chuỗi ngày an lạc.

Sám hối là con đường đưa đến sự được cứu độ. Người bằng lòng sám hối là người được sống một cuộc đời mới. Như vua A Dục vốn là một người hung ác, thế mà chịu sám hối sửa lỗi, trong một niệm đã trở thành một người thiện lành.

Sửa lỗi và sám hối thật là một pháp môn đại công đức, đáng tôn quý lắm vậy !
===
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
 
Chuyện Cổ Tích PG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 12 trong tổng số 12 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3 ... 10, 11, 12

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-