Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thế giới Tình yêu by nguoidienviyeunguoi Today at 21:18

Sau 50 Năm Đọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư (GS Trần Văn Chi) by Trà Mi Today at 21:14

Quốc Văn Giáo Khoa Thư by Trà Mi Today at 21:02

So Sánh Hà Nội-Sài Gòn by Trà Mi Today at 20:52

Tứ đại mỹ nhân Saigon by Trà Mi Today at 20:28

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 18:50

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Ai Hoa Today at 16:40

Truyện xưa - Ái Hoa by Ai Hoa Today at 16:21

Tìm hiểu về Tử thần - Sứ giả của cái chết by Ai Hoa Today at 10:27

Saigon thuở đầu đi khai hoang by Trà Mi Today at 09:57

SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM by Trà Mi Today at 09:44

CHUYỆN NGHỀ .. by Trà Mi Today at 09:32

Tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Như Huỳnh (blogger Mẹ Nấm) được trả tự do. by tvqm Today at 09:05

Miền Nam Mến Yêu by Trà Mi Today at 08:43

Trí thức miền Nam sau 75 by Trà Mi Today at 08:25

Sài Gòn & Những tên đường by Trà Mi Today at 08:22

Hoa gieo tứ tuyệt 3 by buixuanphuong09 Today at 05:42

Bộ sưu tập Côn trùng by buixuanphuong09 Today at 05:14

TÌNH BUỒN by lehong Today at 04:37

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Today at 04:25

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Today at 04:15

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Yesterday at 22:37

Đường từ mía lau by thanhsingle Yesterday at 21:26

HOẢNG CHƯA NÊN BÚNG GIẬU by Ma Nu Yesterday at 20:33

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Wed 17 Oct 2018, 16:37

Đức Phật Nói Nhân Quả by mytutru Wed 17 Oct 2018, 13:56

Cảm Cười...chơi by nguoidienviyeunguoi Wed 17 Oct 2018, 13:24

THÁNH GIÓNG DẸP GIẶC ÂN by Ma Nu Wed 17 Oct 2018, 10:19

TẾU VUI : XIN LỬA by Ma Nu Wed 17 Oct 2018, 10:06

CÁC ẨN-SỐ CHÍNH-TRỊ trong Tiểu-thuyết Võ-hiệp Kim-Dung (Gs Nguyễn Ngọc Huy) by Ai Hoa Wed 17 Oct 2018, 09:51

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Nhận diện Hán Việt

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Bangla09

avatar

Tổng số bài gửi : 282
Registration date : 24/06/2009

Bài gửiTiêu đề: Nhận diện Hán Việt   Mon 01 Mar 2010, 20:33

Nhận diện và phân loại từ ngữ Hán Việt trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc



Từ ngữ Hán Việt trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc là chỉ về từ đơn, từ ghép, ngữ điển cố, thuật ngữ và một ít ngữ có tính thành ngữ. Như vậy, ở đây không có loại ngữ định danh ước lệ.

Những từ và ngữ này đều thể hiện nét trang nhã, đài các của lớp từ ngữ văn học. Cũng bắt đầu từ từ rồi đến ngữ, đối tượng khảo sát trước tiên là từ đơn Hán Việt.

1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT

Trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc, ngoài ba từ đơn thuộc loại song tiết, như: phù dung(芙 蓉), ý nhi (鷾 鴯), bồ liễu (蒲 柳), còn đa số đều là những từ đơn đơn tiết. Những từ đơn Hán Việt này đều được vay mượn từ tiếng Hán văn ngôn và cũng có những biến đổi nhất định về các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp. Hiện tượng này có thể trình bày tóm tắt như sơ đồ:


Sơ đồ phân lập từ đơn Hán Việt

(theo ba tiêu chí ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp)


Từ tiêu chí ngữ âm, lớp từ đơn Hán Việt trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc có thể chia thành hai loại lớn, như sau:

1.1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ ÂM

1.1.1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT THUẦN ÂM HÁN VIỆT

Những từ đơn Hán Việt loại này thường mang âm Hán Việt phổ thông theo phiên thiết, đó là: định (đệ ninh thiết 弟 寧 切), như (nhục dư thiết 辱 余 切), tưởng (tẩy dưỡng thiết 洗 養 ), sương (sư ương thiết 師 央 切). Trong dịch phẩm cũng có âm Hán Việt hạn chế, như : tuyền (tùng duyên thiết 從 緣 切), nhưng nó lại là một yếu tố trong từ ghép hỗn hợp vẹn tuyền.

Thuyết minh: Xét các âm Hán Hán Việt phổ thông trên, thì ngoài âm tuyền có sự cạnh tranh thắng thế của âm Hán Việt phổ thông là toàn. Còn định là âm Hán Việt phổ thông của “đệ ninh thiết”; tưởng là âm Hán Việt phổ thông của “tẩy dưỡng thiết” v.v., và những âm Hán Việt phổ thông này đều tương ứng với phiên thiết.

1.1.1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT BIẾN ÂM HÁN VIỆT

Đây là những từ đơn Hán Việt mang âm Hán Việt phổ thông nhưng lại mô phỏng phiên thiết tiếng Hán. Đó là : sinh (sư hanh thiết 師 亨 切), dung (dư long thiết 余 龍 切), hòe (hồ quai thiết), v.v..

Thuyết minh: Theo hệ thống ngữ âm thiết vận tiếng Hán, thì chữ Hán có phiên thiết là “sư hanh tiết, canh vận”, nên sanh mới là chính âm, còn sinh là biến âm, không theo “thiết” và “vận”. Chữ Hán có phiên thiết là “dư long thiết, đông vận” và chính âm là dong, còn âm dung là mô phỏng theo phiên thiết. Chữ Hán có phiên thiết là “hồ quai thiết, giai vận”. Vậy phải đọc là hoài, song âm hoài này không phổ thông như âm hòe. Như vậy, trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc, về từ đơn biến âm Hán Việt chỉ có vài từ như trên, nhưng những âm Hán Việt này cũng đã phổ biến trong tiếng Việt và cũng được mọi người Việt Nam sử dụng một cách bình thường.

1.2. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ NGHĨA

Thường thì nghĩa của từ Hán Việt đa phần là nghĩa vay mượn. Tuy nhiên, trong dịch phẩm cũng có một số từ đơn Hán Việt được sự gia giảm về ngữ nghĩa, những nét nghĩa gia giảm này chỉ bộc lộ trong từng ngữ cảnh nhất định. Cho nên, ở đây có thể chia những từ đơn Hán Việt tùy theo ngữ nghĩa được sử dụng trong câu thơ thành hai loại sau:

1.2.1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NGUYÊN NGHĨA HÁN

Nguyên nghĩa của một từ đơn Hán Việt là chỉ chung những nét nghĩa vốn có trong tiếng Hán văn ngôn. Nhờ một dung lượng nguyên nghĩa khá phong phú, như nghĩa gốc, nghĩa mở rộng..., những từ đơn Hán Việt loại này có đủ khả năng hoạt động một cách tự nhiên bên cạnh những từ ngữ thuần Việt. Có điều, trên phương diện vận dụng, người cầm bút chỉ chọn một nét nghĩa nào đó trong một từ để diễn đạt những tư duy lôgích, cũng như sắc thái phù hợp với vần điệu trong câu thơ tiếng Việt. Tính nguyên nghĩa của chúng luôn được bảo tồn cho dù xuất hiện ở bất cứ trường hợp nào. Đó là các nhóm từ chỉ phương hướng : đông, đoài; nhóm từ chỉ thời tiết : xuân, thu, đông ; nhóm từ chỉ hoạt động tâm lý : sầu, não, oán, thương, v.v..; nhóm từ chỉ các khái niệm trừu tượng: chí, hồn, kiếp v.v..

Chẳng hạn, xét về từ xuân thì tuy ở từng ngữ cảnh vẫn có nét nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng thì cũng đều dùng theo nguyên nghĩa trong tiếng Hán. Và vì vậy, nếu xuân trong câu: “Xuân từng đổi mới đông nào còn dư”, cả từ xuânđông ở đây đều là từ Hán Việt dùng để chỉ về mùa trong một năm thì trong câu: “Trải mấy xuân tin đi tin lại”, xuân lại là từ được mượn để chỉ cho một năm. Một ví dụ khác như từ hồn. Trong tiếng Hán hồn là chỉ về phần tinh thần của con người đối lập với thể xác (vị nhân chi tinh thần dã. Từ hải, tr. 4968. Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, tr. 184), và đây là nghĩa chính trong câu thơ: “Há như ai hồn say bóng lẫn”. Còn trong câu: “Hồn tử sĩ gió ù ù thổi” thì hồn lại là phần tinh thần của con người đã rời khỏi thể xác và tồn tại biệt lập. Tính nguyên nghĩa vẫn tồn tại trong từ hồn, mặc dù một bên thì phụ thuộc vào thân thể hiện hữu còn một bên đã tách rời thực thể.

1.2.2. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT BIẾN NGHĨA VIỆT

Sự biến nghĩa ở một số từ đơn Hán Việt là nói về những nét nghĩa được hình thành trong tiếng Việt. Chúng cùng tồn tại với những nét nghĩa tiếng Hán và chỉ bộc lộ rõ nét trong một ngữ cảnh nhất định của từng câu thơ trong dịch phẩm. Nhìn chung, sự biến nghĩa này có khi dựa trên nghĩa tiếng Hán, có khi thoát ly hẳn với tiếng Hán, độc lập bằng nghĩa Việt. Chẳng hạn, từ ước (約) trong tiếng Hán có 9 nghĩa (Từ hải, tr. 3400), hoặc 36 nghĩa (Hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển, tr. 1263 - 1264), nhưng lại không có nét nghĩa động từ: “cầu mong, ước ao, ước muốn” như trong câu: “Ước gì gần gũi tất gang”. Một ví dụ khác, như từ tưởng (想) chẳng hạn. Trong tiếng Hán tưởng có nghĩa là nghĩ ngợi, nhớ mong (tưởng: Hữu sở hi kí nhi tư chi dã. 有 所 希 冀 而 思 之 也..Từ hải, tr. 1809). Song khi xuất hiện trong câu thơ: “Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ” thì “chẳng tưởng” lại có nghĩa là chẳng ngờ đến. Tưởng ở đây chỉ còn là cái vỏ ngữ âm Hán Việt đang hàm chứa ý nghĩa Việt: việc đáng lý phải thế này lại bày ra thế khác. Hoặc như từ thấu (). Trong tiếng Hán thấu có nghĩa: vượt qua, xuyên qua, đạt đến mức tường tận. (khiêu dã, quá dã; triệt dã. Từ hải, tr. 4311). Từ những nét nghĩa này đã hình thành nét nghĩa khá tinh tế trong tiếng Việt: lên tới, vang tới, như trong câu” “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”. Một ví dụ khác như từ thương chẳng hạn. Nếu trong câu: “Con chim bạt gió lạc loài kêu thương” (nguyên tác: khiếu thanh ai), thương hàm nghĩa Hán: đau buồn xót xa, thì trong câu: “Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương”, thương lại mang nét nghĩa rất tinh tế là yêu mến, thương quí trong tiếng Việt (Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, tr. 403).

1.3. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ PHÁP

Theo sự hoạt động ở từng ngữ cảnh của câu thơ, lớp từ đơn HánViệt cũng có thể chia thành danh từ, động từ và tính từ.

Về mặt danh từ thì ở đây gồm có danh từ loại biệt, như khách; danh từ trừu tượng, như: chí, hồn, tiên; danh từ cụ thể, như: mai, đào, liễu, quyên v.v. ;

Ví dụ, xét về từ khách (客). Trong tiếng Hán khách được phân thành hai nét nghĩa riêng biệt. Một nét nghĩa: gởi, ở tạm (ký dã. Từ hải, tr. 1419; ký cư đích. Từ vựng, tr. 200); hoặc người từ nơi khác đến với mình, trái với chủ (Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, tr. 196). Một nét nghĩa khác được dùng để chỉ chung về một cấp bực người trong xã hội, như: hiệp khách, chính khách. (phiếm xưng kỳ nhân diệc viết khách. Từ hải, tr. 1419). Và vì vậy, trong dịch phẩm, khách được dùng theo nét nghĩa danh từ loại biệt kèm theo một định ngữ, như trong câu: “Khách má hồng nhiều nỗi truân chiên”, hoặc: “Khách phong lưu đương chừng niên thiếu”.

Những từ Hán Việt như: chí, hồn là những danh từ phi sự vật, nghĩa là chúng ở ngoài cảm quan xúc giác nhận biết của con người, song vẫn coi đó là những danh từ thật sự. Bởi vì, những danh từ này tuy không gọi tên sự vật một cách cụ thể như mai, đào v.v., nhưng chúng lại biểu đạt về tính sự vật đặc biệt, có thể coi là tính sự vật trong tưởng tượng, hoặc cũng có nhưng con người không thể nắm bắt được, cho nên có thể gọi chúng là những danh từ trừu tượng.

1.3.1. Từ đơn Hán Việt là danh từ

Trong phạm vi dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc, danh từ đơn Hán Việt bao gồm danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng là các từ:

Khách chí bức

bộ thủy thuyền

sự áo sắc

tuyết quân kỵ

oanh liễu quyên

mai đào ải

tình thoa ngọc

thu xuân đông

đoài hồn trâm

xiêm thước sương

hòe niên lệ

hương cảnh nguyệt

ốc hiên hoa

song trướng thân

trĩ nhạn tiên

tường thiên hài

quắc phương công

giáp khúc tượng

bào

1.3.2. Từ đơn Hán Việt là động từ

Động từ đơn Hán Việt ở đây gồm có tiến, học, phong v.v. chỉ về sự hoạt động của chủ thể; tưởng, sầu, muộn, thương v.v. chỉ cảm nghĩ, tâm tư, tình cảm của chủ thể; hoặc các động từ chỉ quá trình biến đổi, như: hóa, tàn, giải v.v.. Đó là các từ:

định tiến dung

quyết tàn cách

sầu não muộn

thương tưởng ca

xuyên 穿 ước thấu

kinh ngại phong

học hóa hộ

đề thẩm kết

động giải

1.3.3. Từ đơn Hán Việt là tính từ

Trong dịch phẩm, tính từ có số lượng rất ít, đó là các từ:

trọng tiện 便

cao



Tính chất từ loại của các từ trên cũng rất khó xác định. Nhìn chung, ngoài từ cao có dấu hiệu tính từ rõ nét, những từ còn lại thì dấu hiệu từ loại rất mờ nhạt, vì các từ này đều thuộc dạng đa từ loại đa nghĩa dụng trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt. Ví dụ, như từ trọng. Trong tiếng Hán, trọng có thể là một động từ: kính trọng, tôn sùng; hoặc mang nét nghĩa tính từ: sự cảm tạ trọng hậu; không coi thường; quan trọng (trọng tạ; bất khinh xuất; khẩn yếu. Từ vựng, tr. 898). Trong tiếng Việt, trọng có thể là một động từ với nét nghĩa cho là có ý nghĩa, tác dụng lớn, cần phải chú ý; đánh giá cao và tránh làm trái ý. Song cũng có thể là một tính từ mang nghĩa: ở mức độ rất cao, rất nặng, đáng lưu ý. (Từ điển tiếng Việt, tr. 1004). Trong Từ điển từ Hán Việt của Phan Văn Các, tr. 429 thì chỉ cho trọng là động từ với hai nét nghĩa: nặng; coi trọng, coi là quí. Trong Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, tr. 436. Trọng động từ có nét nghĩa: cho là có ý nghĩa, cần lưu ý đánh giá cao. Trọng tính từ có nghĩa: ở mức độ rất cao, rất nặng. Như vậy, kết hợp giữa những nét nghĩa trong các từ điển Hán cũng như Việt thì trong câu: “Phép công là trọng niềm tây sá nào”, trọng phải là một tính từ với nét nghĩa đối lập: phép công là trọng, niềm tây (riêng) là nhẹ. Cũng vậy, là tính từ trong câu: “Xuân từng đổi mới, đông nào còn ”, v.v.

Tất cả những từ đơn Hán Việt được liệt kê ở trên là chỉ tính theo từng từ khác nhau. Nhìn chung, trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc cũng có nhiều từ đơn xuất hiện từ hai lần trở lên. Ở đây xin kể ra một số từ đơn Hán Việt có tần số xuất hiện khá cao như sau:

hoa (11 lần : 225 (2 lần), 227 (2 lần), 228, 243, 244, 305, 307, 308, 360).

sầu (9 lần : 16, 64, 80, 120, 166, 204, 229, 241, 244, 403, 409).

sương (9 lần : 77, 180, 201, 216, 217, 219, 284, 308, 318).

cách (8 lần : 59, 60, 116, 241, 244, 288, 324, 409).

nguyệt (6 lần : 221, 225 (2 lần), 227 (2 lần), 228).

tình (5lần : 144, 153, 268, 365, 411).

Ngoài các từ đơn Hán Việt kể trên, trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc chỉ có một đại từ Hán Việt thuộc loại nhân xưng, đó là thiếp (妾) , nhưng tần số xuất hiện rất cao: 24 lần trong các câu thơ số 48, 52, 54, 58, 112, 113, 117, 159, 160, 198, 300, 302, 303, 326, 351 (2 lần), 363, 367, 368, 370, 371, 372, 392, 393.

Về phó từ thì ở đây cũng chỉ có hai loại. Một loại biểu thị mức độ cao của hành động, như đương (當) . Loại khác biểu thị phạm vi quan hệ là duy (唯) .

Xét về hai phó từ trên thì duy là loại hư từ và thường làm phó từ trong tiếng Hán văn ngôn với nét nghĩa chỉ, chỉ có (chỉ; chỉ hữu. Hư tự dụng pháp cập luyện tập, tr. 149-150) và khi hành chức trong câu thơ: “Duy còn hồn mộng được gần”, duy cũng là phó từ với nét nghĩa: chỉ, chỉ có. Riêng từ đương thì vốn là một thực từ trong các kết hợp: đương thời, đương đại, đương quyền v.v.. Nhưng trong câu: “Con thơ măng sữa vả đương phù trì”, thì đương ở đây chỉ là một phó từ đứng trước động từ kép phù trì.

Trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc cũng có sử dụng các từ láy, như trùng trùng (重 重), phảng phất (仿佛), ngâm nga (吟 哦).

Xét các từ láy trên thì thấy rằng, trùng trùng là từ láy theo phương thức láy điệp từ trong tiếng Hán và còn là một phần của dạng láy tư trùng trùng điệp điệp trong tiếng Việt phổ thông. Riêng các từ phảng phất, ngâm nga là từ láy thuộc khuôn láy song thanh, tức là láy lại phần phụ âm đầu.

Ở đây cũng có thể dùng trọng âm để xác định về hai từ láy phảng phất ngâm nga. Trong ngâm nga thì thấy rõ yếu tố nga đã hoàn toàn mất nghĩa và chỉ còn là một vỏ ngữ âm láy, phụ thuộc vào âm chính là ngâm. Riêng từ láy phảng phất thì cả hai yếu tố đều có nghĩa. Trong tiếng Hán phảng là mô phỏng theo; phất là phớt qua, thoảng qua. Do đó, cũng tùy theo ngữ cảnh, có thể một yếu tố bị mờ nghĩa và một yếu tố rõ nghĩa. Ví dụ, như câu hát nói của thi sĩ Tản Đà: “Ta hỏi gió quen ai mà phảng phất”. Đối với gió và hương thì chỉ có thể nói là làn gió thoảng qua; mùi hương thoang thoảng... Vậy thì, trong câu: “Lầu hoa kia phảng phất mùi hương”, phảng đã bị mờ nghĩa và phụ thuộc vào yếu tố chính là phất. Từ đó có thể xác định trọng âm chính là của từ láy phảng phất là ở phất.

Ngoài ra, ở đây cũng có những từ song tiết rất phù hợp với qui tắc láy đôi về âm vận và thanh điệu, song vì cả hai âm tiết đều có nét nghĩa riêng biệt và có thể sử dụng độc lập. Cho nên, cũng khó có thể xếp chúng vào loại từ láy. Chẳng hạn, xét từng yếu tố trong từ trắc trở thì thấy rằng chúng đều có nét nghĩa thực.

+ Từ điển Hán Việt thích nghĩa từng yếu tố như sau :

trắc : chật hẹp, trúc trắt

trở : trở ngại, cản trở

trắc trở 仄 阻 : chật hẹp và trở ngại, có khó khăn trở ngại. (Phan

Văn Các, Từ điển từ Hán Việt, tr. 423).

trắc : Dáng núi to; dáng núi so le, gập ghềnh cao thấp.

trở : Khó khăn, khó có thể vượt qua.

Trắc trở 崱 阻 : Gập gềnh khó khăn, không êm đềm thuận lợi

(Nguyễn Quốc Hùng, Hán Việt tân từ điển, tr. 745).

+ Từ điển Hán thích nghĩa từng yếu tố như sau :

trắc : Nghiêng lệch, hẹp (trắc khuynh 側 傾, hiệp dã 狹 也. Từ hải, tr. 286)

trắc : dáng núi to; cao thấp, không bằng phẳng (sơn đại mạo 山 大 貌 , sâm sai bất tề dã 參 差 不 齊 也. Từ hải, tr. 1554)

trở : hiểm trở, khó khăn (hiểm dã 險 也, gian nan dã 艱難 也. Từ hải, tr . 4619)

Như vậy, nếu so sánh trên văn tự thì chữ Hán có lý hơn chữ Hán ,vì bộ sơn là chỉ về núi non. Và khi nó kết hợp với chữ Hán ,tạo thành từ Hán Việt trắc trở thì mới biểu thị nét nghĩa chung là núi non cao thấp, đường đi gập ghềnh, hiểm trở, lôgích với cách miêu tả trong khổ thơ:

“Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ,

Lại lạnh lùng những chổ sương phong”.

Lên cao trông thức mây lồng,

Lòng nào mà chẳng động lòng bi thương”

2. TỪ GHÉP HÁN VIỆT

Trong phạm vi dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc, đối với từ ghép Hán Việt, nếu nhìn từ từ tiêu chí ngữ âm thì có thể phân ra hai dạng: thuần âm Hán Việtbiến âm Hán Việt. Còn về tiêu chí ngữ nghĩa thì sẽ có hai loại. Một loại là nguyên nghĩa Hán, loại khác là biến nghĩa Việt. Phân theo tiêu chí ngữ pháp thì sẽ có từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. sự phân lập này có thể trình bày như sơ đồ:

Sơ đồ phân lập từ ghép Hán Việt

(theo tiêu chí ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp)


2.1. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ ÂM

Nhìn từ hệ thống ngữ âm Hán Việt phiên thiết và âm Hán Việt phổ thông, từ ghép Hán Việt ở đây gồm có từ ghép thuần âm Hán Việt và từ ghép biến âm Hán Việt.

2.1.1. TỪ GHÉP HÁN VIỆT THUẦN ÂM HÁN VIỆT

Đây là những từ ghép Hán Việt mà hai yếu tố trong một từ đều đọc âm Hán Việt phổ thông tương ứng phiên thiết, hoặc một yếu tố đọc âm Hán Việt phổ thông mô phỏng phiên thiết. Vì vậy, có thể nhận xét loại từ ghép này qua cách phân loại sau:

(1) Từ ghép thuần âm Hán Việt phổ thông tương ứng với phiên thiết là các từ : thanh bình ( thanh : thất anh thiết 室 嬰 切; bình : bì nghinh thiết 皮 迎 切), nhung an (nhung: như dung thiết 如 容 切; 鞍an: a can thiết 阿 干 切), tương tư (tương: tây ương thiết 西 央切; 思 tư: tắc tư thiết 塞 思 切).

Thuyết minh: Trong từ ghép Hán Việt thanh bình thì thanh là âm Hán Việt theo đúng “thất anh thiết”; bình là âm Hán Việt của “bì nghinh thiết”. Riêng trong từ ghép nhung an thì nhung là âm Hán Việt của “như dung thiết”; an là âm Hán Việt chuẩn của “a can thiết”. Đối với âm đọc an cũng có sách đọc là yên (Lạc Thiện sao lục. Tr. 25), nhưng đó là âm tiếng Việt dịch nghĩa (an = yên ngựa) và sẽ không hiệp vần theo chủ ý của dịch giả:

...

“ Ba thước gươm một cỗ nhung an,

Xông pha giá bãi trăng ngàn”.

Tên reo đầu ngự giáo lan mặt thành”

Nhìn chung thì những từ ghép loại này đều mang vỏ ngữ âm Hán Việt tương ứng với phiên thiết và nhất là từ trước đến nay không có âm Hán Việt khác cạnh tranh.

(2) Từ ghép Hán Việt thuần âm Hán Việt phổ thông. Một yếu tố Hán Việt đọc âm phổ thông tương ứng phiên thiết và một yếu tố đọc âm Hán Việt mô phỏng theo phiên thiết, như : truân chuyên (truân: trư xuân thiết 豬 春 切; chuyên: tri yên thiết 知 焉 切 = triên àchiên), tiến thảo (tiến: tức ấn thiết ; thảo: thỏa áo thiết).

Thuyết minh: Xét từng yếu tố trong các từ ghép Hán Việt trên thì thấy rằng, chuyên là âm mô phỏng “tri yên thiết, tiên vận”, và vì vậy trong các từ điển Hán Việt cũng ghi âm chiên (Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, tr. 691. Nguyễn Quốc Hùng, Hán Việt tân từ điển, tr. 758). (Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, tr. 69, chiênchuyên; tr. 76, chuyênchiên. X. chiên). Vậy là các tự điển, từ điển đều chấp nhận chiên là âm chính và chuyên là âm mô phỏng phiên thiết. Hoặc trong từ ghép phù trì thì phù là âm Hán Việt mô phỏng của “phùng vô thiết, đông vận”; trì là chính âm Hán Việt theo “trình di thiết”. Còn như, trong từ ghép tiến thảo thì tiến là âm Hán Việt phổ thông mô phỏng theo “tức ấn thiết, chấn vận” (Từ hải, tr. 4329).

2.1.2. TỪ GHÉP HÁN VIỆT BIẾN ÂM HÁN VIỆT

Trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc chỉ một vài từ ghép Hán Việt là có hiện tượng biến âm cục bộ ở thanh điệu, như bút nghiên (筆 研), đai cân (帶 巾)

Thuyết minh: Biến âm cục bộ ở thanh điệu của từ ghép Hán Việt là hiện tượng khá phổ biến trong văn vần với mục đích hiệp vần thơ, hay luật thơ vần bằng. Ví dụ, chữ Hán có phiên thiết là “đóa ngải thiết, thái vận”, song từ trước đến nay người việt không ai nói đái cân hay cân đái mà chỉ quen âm đọc: đai cân/ cân đai. Riêng về âm nghiễn (硯) thì có thể đọc là nghiên theo âm Hán Việt của thông giả tự là chữ Hán (研), và giải thích là dụng cụ dùng để mài mực ( đồng . ma mặc chi cụ. Từ hải, tr. 3202 ). Do đó, suy cho cùng, hai từ ghép trên chỉ biến âm đọc về thanh điệu, còn về cấu trúc từ pháp thì vẫn là Hán nên chúng là từ Hán Việt thuộc loại biến thanh cục bộ.

2.2. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ NGHĨA

Về phương diện ngữ nghĩa của từ Hán Việt, trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc cũng có hiện tượng sử dụng xen kẽ giữa nguyên nghĩa tiếng Hán và biến nghĩa tiếng Việt. Vì vậy, ở đây có thể nhận xét ngữ nghĩa của từ Hán Việt trên hai phương diện sau:

2.2.1. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NGUYÊN NGHĨA HÁN

Đa số từ ghép Hán Việt trong dịch phẩm đều được dẫn dụng bằng nét nghĩa vốn có trong tiếng Hán văn ngôn. Chẳng hạn, xét về từ hồng tiện thì hồng là tên một loài chim có khả năng bay xa, chuyên giúp việc đưa tin tức; tiện là chỉ sự thuận lợi, dễ dàng. Từ hai yếu tố này hình thành nét nghĩa mang tính thành ngữ cho cả từ: thư từ, tin tức qua lại không bị trở ngại. Chính từ ghép này dịch giả đã mượn trong nguyên tác (Tây phong dục ký vô hồng tiện). Đồng thời, trong lớp từ ghép nguyên nghĩa này, cũng có những từ chính bản thân nó lại mang hai nét nghĩa tương phản, vì vậy, dịch giả đã khéo léo tạo ra một ngữ cảnh để xác định một nghĩa hành chức nhất định của từ. Ví dụ, từ ghép phong lưu hàm chứa hai nét nghĩa đối lập nhau, một nghĩa biểu thị phong cách tốt (bao nghĩa) và một nghĩa biểu thị hành động xấu (biếm nghĩa). Khi hành chức trong câu: “Khách phong lưu đương chừng niên thiếu” thì phong lưu phải được giải thích với nét nghĩa tốt: người có học thức, có cử chỉ thái độ thanh nhã, đài các; đối lập với nghĩa: chuyện tình nam nữ bất chính (phong tình lưu lãng 風 情 流 浪).

2.2.2. TỪ GHÉP HÁN VIỆT BIẾN NGHĨA VIỆT

Đây là loại từ ghép cũng được vay mượn từ tiếng Hán văn ngôn nhưng lại mang nét nghĩa được hình thành trong tiếng Việt thuộc phạm vi dịch phẩm. Ví dụ, từ ghép hư không. Trong tiếng Hán hư không có nghĩa là khoảng không trống rỗng, không có gì, nhưng trong tiếng Việt thì hư không còn có nghĩa là không có thật, là trạng thái lửng lơ, hụt hẫng trong mong chờ, như trong câu: “Bỗng thơ thơ, thẩn thẩn hư không”. Một ví dụ nữa như từ ghép trân trọng chẳng hạn. Trong tiếng Hán trân trọng có nghĩa: khéo tự bảo trọng (thiện tự bảo trọng. 善自保重Từ hải, tr. 2984. Thiện da bảo trọng đích ý tứ. 善 加 保 重 的 意 思Từ vựng, Tr. 541). Trong tiếng Việt, ngoài các nghĩa: tỏ ý quí trọng (Từ điển tiếng Việt, tr. 994) và nghĩa: quí trọng (Hán Việt tân từ điển, tr. 746), nó còn có thêm nét nghĩa : yêu quí, nâng niu và luôn giữ ở bên mình, như trong câu: “Để chàng trân trọng dấu người tương thân”.

2.3. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ PHÁP

Từ ghép Hán Việt trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc gồm có hai loại, đó là từ ghép đẳng lập từ ghép chính phụ.

2.3.1. TỪ GHÉP ĐẲNG LẬP HÁN VIỆT

Hoạt động trong dịch phẩm, loại từ ghép đẳng lập này cũng có thể xếp vào các từ loại, như danh từ, động từ, tính từ.



2.3.1.1. Từ ghép đẳng lập Hán Việt là danh từ

Những từ ghép đẳng lập ở đây đều bằng hai danh từ đơn Hán Việt, hoặc bán tự do hoặc tự do, và xét trong phạm vi dịch phẩm thì chúng cũng đảm nhận chức vụ danh từ, đó là:

cung tiễn 弓箭 thê noa 妻孥 bút nghiên 筆研

đao cung 刀弓 xà hổ 蛇虎 sương phong 霜風

nhung an 戎鞍 quan sơn 關山 tiêu hao 消耗

nguyệt hoa 月花 dung nhan 容顏 hình ảnh 形影

thời tiết 時節 xuân thu 春秋 nhan sắc 顏色

kỳ xí 旂幟 cung đình 宮庭 đai cân 帶巾

phong sương 風霜 công danh 功名 gia thất家室

2.3.1.2. Từ ghép đẳng lập Hán Việt là động từ

Trong số động từ ghép đẳng lập Hán Việt ở đây cũng có hiện tượng rút gọn nguyên một cụm từ và từ hóa thành động từ ghép. Ví dụ: tiến thảo (進討) là từ hóa từ cụm từ tiến binh thảo nghịch (進兵討逆); xuất chinh (出征)xuất sư chinh thú (出師征戍). Riêng từ trang điểm (妝點) là sự từ hóa từ cụm từ trang hoàng điểm xuyết (莊徨點綴) vốn thường dùng trong các hoạt động nghệ thuật.

Những động từ ghép đẳng lập Hán Việt ở đây gồm có:

xuất chinh 出征 bi thương 悲傷 tiến thảo 進討

chinh chiến 征戰 cách trở 隔阻 phù trì 扶持

trân trọng 珍重 hợp ly 合离 oán sầu

tương tư 相思 phân trương 分張 trang điểm 妝點

2.3.1.3. Từ ghép đẳng lập Hán Việt là tính từ

thanh bình 清平 hào kiệt 豪傑 trắc trở 崱阻

phong lưu 風流 hàn huyên 寒暄 hư không 虛空

thiết tha 砌磋 tân toan 辛酸 trung hiếu 忠孝

não nùng 惱濃 truân chuyên 迍邅

2.3.2. TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ HÁN VIỆT

Từ ghép chính phụ Hán Việt ở đây gồm có hai loại, đó là từ ghép chính phụ Hán Việt phụ trước chính sau với quan hệ hạn định và từ ghép chính phụ Hán Việt chính trước phụ sau với quan hệ chi phối.

2.3.1.1. Từ ghép chính phụ Hán Việt phụ trước chính sau

Những từ ghép Hán Việt loại này đều theo quan hệ hạn định, đó là:

hồng mao 鴻毛 chiến bào 戰袍 hà lương 河樑

chiến địa 戰地 chinh phu 征夫 đông nam 東南

tính mệnh 性命 tử sĩ 死仕 hành nhân 行人

chiến trường 戰場 chinh phụ 征婦 thiếu niên 少年

lão thân 老親 khuê phụ 閨婦 hài nhi 孩兒

hiếu nam 孝男 tương thân 相親 thư phong 書封

hồng tiện 鴻便 trùng quan 重關 khuê ly 閨离

giang tân 江津 tước phong 爵封 tiền đường 前堂

thiên chương 天彰 trượng phu 丈夫 lương thì 良時

quang âm 光陰 tình duyên 情緣 quan ải 關隘

nhạc từ 樂詞 huân tướng 勳將 thần kinh 神京

2.3.1.2. Từ ghép chính phụ Hán Việt chính trước phụ sau

Trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc loại từ ghép Hán Việt chính trước phụ sau có quan hệ chi phối, đó là:

truyền hịch 傳檄 đoạn trường 斷腸 lâm hành 臨行

đăng đồ 登途 xuất giá 出嫁 hướng dương 向陽

điểm sương 點霜 hứa quốc 許國 tỳ dân 庇民

phần vinh 分榮 đồng hưu 同休



3. NGỮ ĐIỂN CỐ HÁN VIỆT

Trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc ngữ điển cố Hán Việt đều xuất thân từ sử sách Trung Quốc, và được dẫn dụng theo các phương thức sau:

(1). Dùng tên nhân vật, tước hiệu, quốc hiệu v.v. , tức lànêu lên những tên gọi có thậtmang tính điển hình trong lịch sử Trung Quốc, để trình bày nguyện vọng, chí hướng. Ví dụ:

“Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử,

Tới Man Khê bàn sự Phục Ba

Thuyết minh: Lâu Lan là tên một nước tây vực về đời Hán, nay thuộc tỉnh Tân cương. Vua Lâu Lan giết sứ Hán. Vua Hán Chiêu Đế sai Phó Giới Tử giả đi săn, lập mưu giết vua Lâu Lan. Man Khê là thung lũng có khe nước nơi dân Man ở. Đời Hán, dân Man ở Vũ Lăng nổi lên chống lại. Vua Hán sai Mã Viện, biệt hiệu là Phục Ba tướng quân đi đánh dẹp. Ở đây, chinh phụ đã mượn tên hai danh tướng đã có công loạn trong lịch sử Trung Quốc xưa để nói về tài năng của chinh phu.

Hoặc: “Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước,

E đến khi đầu bạc mà thương

Mặt hoa nọ gã Phan Lang

Sợ khi mái tóc điểm sương không chừng”

Thuyết minh: Văn Quân là con gái Trác Vương Tôn ở Lâm Cùng, góa chồng, nghe Tư Mã Tương Như đàn khúc Phượng cầu hoàng đành theo làm vợ. Sau Tương Như muốn lấy vợ lẻ, Văn Quân mới làm bài Bạch đầu ngâm. Tương Như cảm tình không lấy vợ lẻ, cùng Văn Quân ở đến già. Phan Lang tức Phan An Nhân, là người có sắc đẹp và tài học cao siêu, mỗi khi ra đường con gái đua nhau ghẹo, ném quả đầy xe. Qua những ngữ điển tích này, Chinh phụ muốn nói là thời gian qua mau đến một ngày kia vợ chồng đều phải già yếu cả.

(2). Dùng tên địa phương, tên sông núi, tên thành quách v.v. Tức là nêu ra những tên gọi có tính tiêu biểu ở những nơi đã xảy ra một sự việc nổi bật, được nhiều người đương thời biết đến và được ghi vào lịch sử, thì liền khái quát được toàn bộ sự kiện trong đôi câu thơ. Đó là:



“Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,

Dạ chàng xa tìm cõi Thiên san...”.

Thuyết minh: Thiên san là ngọn núi phía Nam huyện Liêu dương, giáp Cao ly (cũng là tên núi ở Tây Cương). Đời Đường, rợ Vưu làm loạn, Tiết Nhân Quí đem quân đánh dẹp, bắn ba mũi tên giết ba tướng giặc. Giặc sợ phải đầu hàng. Quân lính mới hát rằng : Tướng quân tam tiễn định Thiên san. (將 軍 三 箭 定 千 山 : Tướng quân, ba mũi tên bình định núi Thiên san). Đọc đến đây, độc giả có thể nhận ra trong ý thơ sự kỳ vọng của người chinh phụ : chinh phu mã đáo thành công, khải ca hồi trào.

Hoặc: “Chốn Hàm dương chàng còn ngoảnh lại,

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang;

Khói Tiêu tương cách Hàm Dương,

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng”

Hàm dương là kinh đô của Tần Hiếu Công, nay thuộc xứ Thiểm Tây. Tiêu Tương là tên sông ở tỉnh Hồ Nam. Hàm dương Tiêu Tương là hai nơi cách xa nhau. Ở đây, chinh phụ bày tỏ rằng, dù cách xa nhau nhưng cả hai đều một lòng hướng về nhau.

Những ngữ điển cố trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc, gồm có:

Tràng thành 長城 Cam tuyền 甘泉 Thiên sơn 千山

Thái sơn 泰山 Hồng mao 鴻毛 Lâu Lan 婁闌

Giới Tử 介子 Man khê 蠻溪 Phục Ba 伏波

Doanh Liễu 營柳 Tràng dương 長楊 Hàm dương 咸陽

Tiêu tương 瀟湘 Hán Bạch thành 白城

Thanh Hải 青海 Hồ Hãn hải 瀚海

Tiêu quan 簫關 Vương Tôn 王孫 Hán dương 漢楊

Hoàng hoa 黃花 Dương đài 陽臺 Thuyền Vu 單于

Lạc dương 洛陽 Tương phố 湘 浦 Ngọc quan 玉關

Văn Quân 文君 Phan Lang 潘郎 Nhục Chi 月之

Lạc Dương 洛陽 Sâm Thương 參商 Tô Phụ 蘇婦

Ngân hà 銀河 Khuê triền奎纏 Bắc đẩu 北斗

Lũng tây nham 隴西岩 Tần,Hoắc 秦,霍

Ngoài ra, trong dịch phẩm cũng có sử dụng các thuật ngữ, như: não(), phiền(), kiếp(),đoài () .

Xét các thuật ngữ trên thì thấy não, kiếp, phiền là thuật ngữ của Thích Lão. Còn đoài () là một thuật ngữ trong ngành “phong thủy”, và là một trong bát phương: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, v.v.. Phương đoài là chỉ về phương tây theo bài “Bát cung phương vị khẩu quyết ”: “Đoài thượng khuyết chánh tây đương dậu”.

Đồng thời, trong dịch phẩm cũng sử dụng những ngữ đối xứng theo dạng thành ngữ. Sở dĩ ở đây chưa dám khẳng định chúng là thành ngữ là vì không tìm thấy chúng trong các sách thành ngữ Hán cũng như sách thành ngữ Hán Việt. Đó là: nữ công phụ xảo (女工婦巧), tử ấm thê phong (子蔭妻封), liên ngâm đối ẩm (聯吟對飲). Riêng ngữ điểm phấn trang hồng (點粉妝紅) là do dịch giả sáng tạo theo phương pháp tách ra và đưa hai tố Hán Việt phấn, hồng vào từ ghép điểm trang.

Tuy vậy, xét về mặt ngữ âm thì những ngữ này đều mang âm Hán Việt phổ thông, về ngữ nghĩa đều sử dụng nguyên nghĩa của từng yếu tố kết hợp lại, và đều có mối quan hệ tương quan. Chẳng hạn, nữ công luôn đi liền với phụ xảo, tử ấm thường liên quan đến thê phong, liên ngâm thường theo đối ẩm. Còn về mặt ngữ pháp, thì những ngữ này đều có quan hệ đẳng lập và cũng có thể phân loại như sau:

a) Loại có cấu trúc tương đương câu ghép:

Trích: (Chương 3: Nhận diện và phân loại từ ngữ Hán Việt trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc)
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh Trường Đại Học Quốc GiaTP.HCM

của Thầy Thích Viên Khai (Nguyễn Minh Huấn)
Tu viện Huệ Quang
Về Đầu Trang Go down
Bangla09

avatar

Tổng số bài gửi : 282
Registration date : 24/06/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhận diện Hán Việt   Mon 01 Mar 2010, 20:35

Nhận diện và phân loại từ ngữ Hán Việt trong tác phẩm Lục Vân Tiên

Từ ngữ Hán Việt là chỉ chung về các loại từ đơn, từ láy, từ ghép và các loại ngữ, như: ngữ định danh, ngữ điển cố, thuật ngữ, thành ngữ thuộc phạm vi tác phẩm. Sau đây sẽ lần lượt đi vào từng lớp từ và ngữ cụ thể.


1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT

Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, ngoại trừ 4 từ đơn thuộc loại song tiết, như: lâu la(嘍 囉), mẫu đơn(牡 丹), phù du (蜉 蝣), bồ liễu (蒲 柳), còn đa phần đều là loại từ đơn đơn tiết, nên ở đây thống nhất một thuật ngữ: Từ đơn Hán Việt.
Xét về mặt âm đọc, ý nghĩa và phạm vi sử dụng thì lớp từ đơn Hán Việt này có thể trình bày bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ phân lập từ đơn Hán Việt
(theo tiêu chí ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp)


1.1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ ÂM
Dựa trên hệ thống ngữ âm Hán Việt phổ thông bắt nguồn từ phiên thiết thì âm đọc của lớp từ đơn Hán Việt trong tác phẩm có thể chia thành hai loại lớn, đó là từ đơn thuần âm Hán Việt và từ đơn biến âm Hán Việt.
1.1.1. TỪ ĐƠN THUẦN ÂM HÁN VIỆT
Đây là loại từ đơn có âm đọc Hán Việt, hoặc tương ứng với phiên thiết hoặc mô phỏng theo phiên thiết, nhưng từ trước đến nay, chúng chỉ hành chức bằng một âm Hán Việt phổ thông. Từ tình hình cụ thể trong tác phẩm, loại từ đơn thuần âm Hán Việt này có mấy dạng sau:
(1) Từ đơn Hán Việt đọc âm Hán Việt phổ thông tương ứng với phiên thiết là các từ : thân (身 thi nhân thiết), bạn (伴 bạc oản thiết), chuyên (專 chu uyên thiết), án (案 ư cán thiết), cô (姑 cốc ô thiết), v.v..
Thuyết minh: Từ thân là âm Hán Việt phổ thông của thi nhân thiết. Cũng vậy, các từ bạn, chuyên, án, cô đều có âm đọc Hán Việt tương ứng với phiên thiết và những âm đọc này đều là âm Hán Việt phổ thông duy nhất trong tiếng Việt.
(2) Từ đơn Hán Việt đọc âm Hán Việt phổ thông mô phỏng phiên thiết là các từ : sầu (愁 sầm vưu thiết), thu (秋 thất ưu thiết), bổ (補 bốc ngũ thiết), ân (恩 a căn thiết).
Thuyết minh: Nhìn từ hệ thống ngữ âm phiên thiết thì thấy rằng, từ Hán Việt sầu chỉ đọc chệch phần vần của “sầm vưu thiết, vưu vận”; từ Hán Việt thu là đọc chệch phần vần của “thất ưu thiết, vưu vận”; từ Hán Việt ân là đọc chệch vần của “a căn thiết, nguyên vận”. Tuy nhiên, trong tiếng Việt từ trước đến nay chỉ thông dụng các âm Hán Việt: sầu, thu, bổ, ân mà không có các âm: sừu, thưu, bủ, an.
(3) Từ đơn Hán Việt đọc âm Hán Việt ít dùng tương ứng với phiên thiết là các từ : tuyền (全 tùng duyên thiết), lụy (淚 lộ vị thiết).
Thuyết minh: Từ đơn tuyền có phiên thiết là “tùng duyên thiết”, vậy tuyền là chính âm phiên thiết; từ đơn lụy có phiên thiết là “lộ vị thiết” thì lụy là chính âm phiên thiết. Nhưng các âm đọc này chỉ được sử dụng trong thi phú với mục đích hiệp vần, vì chúng còn có các âm Hán Việt phổ thông: toàn, lệ.
1.1.2. TỪ ĐƠN BIẾN ÂM HÁN VIỆT
Đây là loại từ đơn có hai âm Hán Việt của một từ Hán Việt. Một âm Hán Việt mô phỏng phiên thiết bằng cách đọc chệch phần vần, hoặc phụ âm đầu, và một âm Hán Việt khác tương ứng với phiên thiết. Loại này gồm có mấy dạng sau:
(1) Từ đơn Hán Việt đọc âm Hán Việt Nam bộ mô phỏng phiên thiết là các từ : nhơn (身nhân : y cân thiết), phước (福 phúc : phu ốc thiết), trào (朝 trì diêu thiết), hớn (漢 hắc án thiết), huờn (還 hồ ngoan thiết), v.v..
Thuyết minh: Những từ đơn Hán Việt đọc âm: nhơn, phước, võ, trào, hớn, ngãi đều được xem là âm Hán Việt phổ thông từ Nam trung bộ trở vào. Xét về những âm Hán Việt này thì thấy rằng chúng chỉ đọc chệch phần vần của thiết vận, như: nhơn, phước, trào, hớn, huờn,v.v.. Còn như âm Hán Việt sanh lại là chính âm của “sư hanh thiết, canh vận”; lịnh là âm Hán Việt theo “lại ánh thiết, kính vận”. Riêng âm Hán Việt võ lại có âm Hán Việt tương ứng với “vô phụ thiết, ngu vận”: vũ. Tuy nhiên, giữa hai âm Hán Việt này cũng có sự khu biệt về sắc thái nghĩa. Ví dụ, so sánh các tổ hợp: vũ trường/võ trường, vũ thuật/võ thuật, v.v. Hiện tựợng này cho thấy, nếu không nhìn vào hình thể chữ Hán thì cũng sẽ có thể hiểu rằng, vũ trường là nơi nhảy múa theo âm nhạc, còn võ trường là nơi luyện tập, hoặc thi đấu về võ nghệ; vũ thuật sẽ cho cách hiểu nước đôi: nghệ thuật biểu diễn nhảy múa, hoặc cách thức đánh võ, và vì vậy nó không rõ nghĩa bằng võ thuật.
(2) Từ đơn Hán Việt đọc âm Hán Việt Nam bộ kiêng tránh là các từ : kiểng (景 cảnh : kỷ ảnh thiết), trước (竹 trúc : trư úc thiết)
Thuyết minh: Xét về hai từ đơn Hán Việt kiêng tránh này thì thấy rằng âm kiểng giữ đúng phụ âm đầu của phiên thiết “kỷ ảnh thiết”, và chỉ thay đổi phần vần; ngược lại âm cảnh thì giữ đúng phần vần, nhưng thay đổi phụ âm đầu. Riêng âm trước thì chỉ thay đổi phần vần của thiết vận “trư úc thiết, ốc vận”.
Ngoài ra, trong tác phẩm Lục Vân Tiên còn có một số từ đơn Hán Việt thuộc loại đa âm đa nghĩa dụng. Đây là loại từ đơn tương ứng với một chữ Hán nhưng lại có hai âm đọc Hán Việt khác nhau theo hai phiên thiết khác nhau và được ghi bằng hai chữ quốc ngữ biểu thị những ý nghĩa khác nhau tùy theo phạm vi sử dụng. Những từ đơn tiết đa âm đa nghĩa dụng này đều được mượn thẳng từ tiếng Hán. Ví dụ, chữ Hán 傳 luôn hoạt động bằng hai âm phiên thiết trong tiếng Hán lẫn tiếng Việt. Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, nếu theo phiên thiết thứ nhất “trục viện thiết” thì âm đọc Hán Việt là truyện, và vì vậy nó xuất hiện với tư cách là danh từ loại biệt trong tổ hợp “truyện Tây Minh” ; còn phiên thiết thứ hai là “trừ viên thiết” thì âm đọc Hán Việt lại là truyền, cho nên nó phải xuất hiện với tư cách là động từ như trong câu thơ “Truyền quân dẫn Trịnh Hâm vào”.
1.2. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ NGHĨA
Nghĩa ở đây là ngữ nghĩa từ vựng của từ Hán Việt. Những nghĩa này, hoặc được vay mượn từ tiếng Hán, hoặc được hình thành trong câu thơ tiếng Việt của tác phẩm. Vì vậy, ngữ nghĩa của từ đơn Hán Việt ở đây có thể phân ra hai loại:
1.2.1. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NGUYÊN NGHĨA HÁN
Nguyên nghĩa ở đây là nói về nghĩa gốc và nghĩa phái sinh của tiếng Hán văn ngôn trong các từ Hán Việt, như: mai (梅), trúc (竹), thuyền (船), chí (志), sầu (愁), v.v.. Hoặc cũng có những từ Hán Việt đa nghĩa được vay mượn những nét nghĩa khác nhau để diễn đạt những khái niệm khác nhau trong từng câu thơ. Ví dụ, từ đạo được dùng hai lần trong hai ngữ cảnh với hai nguyên nghĩa khác nhau:
đạo 道 : Chiếc, lá, luồng ánh sáng (danh từ loại biệt)
Ví dụ : “Rày con xuống chốn phong trần,
Thầy cho hai đạo bùa thần đem theo”.
đạo 道 : Lẽ phải, đạo lý, đạo nghĩa làm người (danh từ trừu tượng)
Ví dụ : “Chàng đà về chốn cửu tuyền,
Thiếp lăm trọn đạo lánh miền gió trăng”.
Phần lớn những từ đơn Hán Việt sử dụng nguyên nghĩa đều là những từ đã nhập hệ tiếng Việt. Chúng có thể là những từ không có sự cạnh tranh của các từ thuần Việt, hoặc cũng có nhưng không quá cần thiết phải thay bằng từ thuần Việt. Chẳng hạn, danh từ loại biệt đạo hoàn toàn có thể thay bằng danh từ loại biệt lá như ta vẫn thường nói “lá bùa”, nhưng như thế thì sẽ thiếu phần trang trọng đối với một thuật ngữ.
1.2.2. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT BIẾN NGHĨA VIỆT
Đây là những từ đơn Hán Việt hoạt động bằng nghĩa tiếng Việt trong câu thơ của tác phẩm. Chẳng hạn các từ bạn (伴) , hung (凶), mụ (姥), v.v..
Nhận xét từ bạn thì thấy rằng, nếu bạn trong câu “Sao không kết bạn mà đi tựu trường” mang nét nghĩa Hán : chúng bạn, bạn bè, thì trong ngữ cảnh :
“Nguyệt Nga bảng lảng bơ lơ,
Nửa tin rằng bạn nửa ngờ rằng ai”.
bạn đã từ nét nghĩa Hán chuyển sang nét nghĩa Việt: bạn lứa đôi, như người Nam bộ vẫn nói : “tôi làm bạn với bả tận nẳm”. Cũng vậy, trong câu “Mình cao đồ sộ dị kỳ rất hung, thì từ hung này phải hiểu theo nét nghĩa được hình thành trong tiếng Việt : tướng mạo, hình dáng to lớn dữ tợn, chứ không phải nói về hạng người độc ác xấu xa, hoặc hiện tượng không tốt, như trong tiếng Hán (hung : ác dã, bất cát dã, sát thương nhân giả viết hung 惡 也, 不 吉 也 , 殺 傷 人 者 曰 凶). Hoặc, như từ mụ, trong tiếng Hán mụ (姥) là một từ đa nghĩa. Theo tự điển Hán thì mụ gồm có ba nghĩa : bà già (lão niên phụ nữ, 老 年 婦 女), tiếng tự xưng của bà già (lão niên phụ nữ đích tự xưng, 老 年 婦 女的 自 稱), mẹ chồng (trượng phu đích mẫu thân, 丈 夫 的 母 親), (Cổ Hán ngữ thường dụng tự tự điển, tr.363). Thế nhưng, trong tác phẩm Lục Vân Tiên, mụ được sử dụng có phần khác với nét nghĩa và sắc thái vốn có. Nếu trong câu : “Ông hơ bụng dạ mụ hơ mặt mày”, từ mụ mang nét nghĩa là “bà già” trong xưng hô ở Nam bộ, thì mụ trong câu : “Ông rằng hỡi mụ Quỳnh Trang” lại là từ dùng để gọi người vợ già của ông chồng già trong gia đình; đến câu “Thể Loan cùng mụ Quỳnh Trang đeo sầu”, mụ trở thành từ được dùng để gọi chung những phụ nữ lớn tuổi, với hàm ý coi khinh. Như vậy, từ mụ ở đây đã được vay mượn theo nghĩa thứ nhất, và cũng có sự biến thiên đáng kể về sắc thái nghĩa tùy theo phạm vi hoạt động : từ cách xưng hô mang sắc thái trung tính trong tiếng Hán chuyển sang cách gọi thông tục, khinh thường trong tiếng Việt.
1.3. TỪ ĐƠN HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ PHÁP
Ngữ pháp nói ở đây là chỉ về khả năng đảm nhiệm một chức vụ nào đó trong hoạt động kết hợp của từ thuộc lĩnh vực phân tích từ loại. Trong tác phẩm, ngoài những từ đơn Hán Việt đã có sẵn tính chất từ loại, còn có một số từ đơn phải xác định từ loại của chúng trong từng câu thơ tiếng Việt. Nghĩa là chúng xuất hiện một cách linh hoạt mang tính từ loại lâm thời khi hoạt động trong một ngữ cảnh nhất định. Cũng lấy từ bạn 伴 làm ví dụ thì thấy rằng, nó có thể là một danh từ làm bổ ngữ với nét nghĩa : bạn bè, khi xuất hiện trong câu : “Trước là tìm bạn sau là nghỉ chân”, nhưng cũng có thể là động từ vị ngữ với nét nghĩa : làm bạn với nhau, kề cận bên nhau một cách hòa hợp khi hành chức trong câu: “Vầy sau trúc bạn cùng mai mới mầu”. Trong hai trường hợp trên, ở ngữ cảnh thứ nhất, tính danh từ của từ bạn thể hiện rõ nét nhờ kết hợp với động từ “tìm”; nhưng ở ngữ cảnh thứ hai từ bạn lại là một động từ gần như theo phương thức hoạt dụng trong tiếng Hán (Đông phong dĩ lục giang nam ngạn : Gió đông đã làm tươi xanh đôi bờ giang nam). Vì những lý do đó, vấn đề phân định từ loại của lớp từ đơn Hán Việt ở đây cũng chỉ có thể thực hiện ở những từ tiêu biểu.
Theo tiêu chí ngữ pháp thì từ đơn Hán Việt trong tác phẩm có thể xếp theo các từ loại: danh từ, động từ, tính từ.
1.3.1. Từ đơn Hán Việt là danh từ
truyện 傳 thân 身 quận 郡 huyện 縣
văn 文 võ 武 chí 志 hiệu 號
danh 名 đạo 道 án 案 phủ 府
cơ 機 sương 霜 tuyết 雪 bạn 伴
hội 會 dân 民 đảng 黨 tướng 將
quân 軍 sự 事 ân 恩 ý 意
trâm 簪 vật 物 hình 形 quan 官
mai 梅 hoa 花 lê 梨 lựu 榴
hòe 槐 trúc 竹 tùng 松 liễu 柳
trà 茶 khách 客 cảnh 景 mạng 命
đoàn 團 quán 館 tâm 心 lệ (lụy) 淚
cầm 琴 thi 詩 tràng 場 tang 葬
nhạn 鴈 sách 冊 ngục 獄 bức 幅
trần 塵 bồn 盆 thuyền 船 hoàn 丸
trướng 帳 chức 職 tượng 像 dân 民
triều 朝 ải 隘 dinh 營 thành 城
kiệu 轎 xiêm 襜 áo 襖 trượng 丈
bút 筆 khoa 科 đề 題 chỉ 旨
chùy 錐 lôi 雷 trận 陣 hào 濠
binh 兵 tội 罪 yến 燕 bằng 憑
kinh 京 thì 時 phòng 房 bệ 陛
nghiệp 業 kỳ 期 phận 分 thế 世
tình 情 hồn 魂 tài 才 hình 形
sương 霜 phú 賦 đàn 壇 phấn 粉
1.3.2. Từ đơn Hán Việt là động từ
Hoàn 還 hại 害 động 動 phòng 防
nghiệm 驗 cứu 救 đáp 答 định 定
tưởng 想 thương 傷 họa 畫 tả 寫
nguyện 願 sầu 愁 não 惱 cầu 求
cách 隔 trình 呈 kết 結 thưởng 賞
phiền 煩 đãi 待 đề(viết)題 cấm 禁
trúng 中 dưỡng 養 trương 張 hô 呼
chứng 證 tế 祭 dự 與 kình 擎
lãnh 領 ngâm 吟 giáng 降 thoát 脫
liệu 料 phụ 負 cam 甘 lâm 臨
nhượng 讓 tạ 謝 trị 治 sanh 生
dung 容 luận 論 suy 衰 đạp 沓
ẩn 隱 thông 通 phát 發 phá 破
chiếm 佔 hiềm 嫌 ngại 礙 giải 解
giả 假 lụy 累 học 學 lịnh 令
phán 判 tấu 奏 trừ 除 đình 停 tường 詳 ngâm 吟 lâm 臨 hòa 和
thỉnh 請 lập 立 động 動 dụng 用
phụ 負 phán 判 quyết 決 học 學
1.3.3. Từ đơn Hán Việt là tính từ
trinh 貞 minh 明 cao 高 oan 宛
vinh 榮 nịnh 佞 thâm 深 hung 凶
gian 奸 kỳ 奇 bình 平 khổ 苦
suy 衰 tuyền 全 hoang 荒 tạm 暫
Những từ đơn được thống kê trên đây là tính theo từng từ khác nhau, nếu tính theo lần gặp thì số lượng còn nhiều hơn nữa. Nhìn chung, trong tác phẩm Lục Vân Tiên chỉ có một vài từ đơn xuất hiện một lần, còn tất cả đều xuất hiện từ hai lần trở lên. Sau đây là một số từ đơn tiêu biểu có tần số xuất hiện khá cao trong các câu thơ của tác phẩm.
傷 thương (31 lần : 88, 476, 489 (2 lần), 491, 493, 495, 497, 499, 501, 504, 607, 920, 923, 944, 982, 1015, 1109, 1173, 1207, 1219, 1295, 1351, 1408, 1410, 1427, 1448, 1480, 1796, 1798, 2050)
情 tình (19 lần : 202, 238 (2 lần), 240, 277, 302, 586, 863, 883, 1040, 1062, 1138, 1171, 1198 (2 lần), 1212, 1424, 1496, 2004)
愁 sầu (10 lần : 80, 637, 642, 833, 1065, 1297, 1300, 1324, 1819, 2026)
身 thân (9 lần : 4, 617, 645 (2lần), 646 (2 lần), 1128, 1357, 1473)
霜 sương (5 lần : 86, 632, 938, 1074, 1646)
Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, từ đơn Hán Việt là đại từ gồm có hai dạng. Dạng thứ nhất vốn là đại từ thật sự trong tiếng Hán văn ngôn. Dạng thứ hai là những đại từ lâm thời có tính riêng biệt thuộc phạm vi tác phẩm. Đó là:
- Từ đơn Hán Việt là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất của hàng vua chúa thời xưa, như trẫm (朕)
Ví dụ : “Phán rằng trẫm sợ nước Phiên”.
- Từ đơn Hán Việt là danh từ được dùng làm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất của nữ giới thời xưa, như thiếp (妾)
Ví dụ : “Thơ rồi này thiếp xin dâng”.
- Từ đơn Hán Việt là đại từ xưng hô trong quan hệ gia tộc được dùng làm đại từ xưng trong xã hội, như ông (翁), bà (婆).
Ví dụ : “Ông rằng “nàng ở hà phương”.
“Lạc đường đến hỏi thăm nhà bà đây”.
- Từ đơn Hán Việt là tính từ được dùng làm đại từ nhân xưng lâm thời, như lão (佬).
Ví dụ : “Nầy thôi để lão dắt ngay về nhà”.
Hiện tượng trên cho thấy những từ đơn Hán Việt làm đại từ ở đây rất là phong phú chẳng khác gì một xã hội xưng hô được thu nhỏ vào trong tác phẩm.
Ngoài ra trong tác phẩm cũng có sử dụng một ít hư từ, như tuy (雖), tằng (曾), v.v..
Trong tiếng Hán văn ngôn thì tuy là liên từ được dùng khi có một ý trái ngược với hàm nghĩa : dầu, mặc dù (suy thác chi từ; túng dã; tức sử dã. Từ hải, tr. 4700); còn trong tiếng Việt, tuy được xếp vào loại kết từ qua cách giải thích : từ biểu thị điều sắp nêu ra là một sự thật đáng lẽ làm cho điều được nói đến không thể xảy ra, nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của điều vẫn xảy ra ấy (Từ điển tiếng Việt, tr. 1030). Như vậy, trong hai từ điển Hán và Việt đều xác nhận tuy là một liên từ (kết từ) như trong câu: “Tuy là soi khắp mọi nơi,
Khi mờ khi tỏ khi vơi khi đầy”
Nhận xét thêm về liên từ thì tuy ở đây lại có mối quan hệ phụ thuộc. Nó có thể được dùng với một liên từ khác thành cặp sóng đôi, trong đó liên từ mang tính phụ thuộc là quan trọng, liên từ còn lại có thể vắng mặt. Cách dùng này có thể diễn đạt : “Tuy là soi khắp mọi nơi, (nhưng) khi mờ,...”
Trong khi đó tằng lại là một phó từ thuần túy với nét nghĩa: từng, đã từng, đã trải qua, như trong câu thơ :
“Quán rằng kinh sử đã tằng,
Xem rồi lấy thấy lòng hằng xót xa”
Trong tác phẩm Lục Vân Tiên cũng có sử dụng loại từ láy, như: bôn bôn(奔奔), bôn ba (奔波), lưu linh (流伶), thung dung (從容),linh đinh (伶仃),bồi hồi (徘徊) , bàng hoàng (徬徨).
Để xét xem bôn bôn có phải là từ láy hay không, ở đây có thể thử nghiệm một so sánh: nếu như xinh xinh trong tiếng Việt được xem là dạng từ láy với sắc thái nghiã kém hơn xinh, thì bôn bôn lại có sắc thái nghĩa cao hơn bôn. Nó khác với bôn ở chỗ: vừa nhanh vừa vội vàng không theo một định hướng. Thêm vào đó bôn bôn còn là một phần của dạng láy tư bôn bôn ba ba trong tiếng Việt địa phương. Vì vậy bôn bôn vẫn được xem là từ láy Hán Việt.
Theo tác giả Hồ Lê (Cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, Tr. 239-274), thì cũng có thể dùng trọng âm để xác định về từ láy. Trong từ láy, trọng âm chính chỉ tồn tại ở một bộ phận của từ. Vậy thì, trọng âm chính của bôn ba là ở bôn; trọng âm chính của lưu linh là ở lưu, trọng âm chính của thung dung là ở thung; trọng âm chính của linh đinh là ở linh. Riêng hai từ láy bồi hồi và bàng hoàng thì cũng khó nhận ra trọng âm chính nằm ở yếu tố nào. Để giải quyết tình trạng kém minh xác này cũng có thể căn cứ vào cách láy toàn phần thuộc dạng điệp từ hồi hồi, hoàng hoàng trong tiếng Hán thì thấy rằng trọng âm chính của bồi hồi là ở hồi và bàng hoàng là ở hoàng. (Văn tuyển Dương Hùng, Cam tuyền phú: Đồ hồi hồi dĩ hoàng hoàng hề, ...chú: hồi hoàng vị tâm kinh. Từ hải trích dẫn, tr. 1733)

2. TỪ GHÉP HÁN VIỆT
Từ ghép Hán Việt là những từ do hai yếu tố Hán Việt có nghĩa ghép lại với nhau mà thành. Trong tác phẩm Lục Vân Tiên từ ghép Hán Việt có thể trình bày như sơ đồ sau:
Sơ đồ phân lập từ ghép Hán Việt

(theo ba tiêu chí ngữ âm, ngữ nghiã và ngữ pháp)
Từ sơ đồ phân lập, trước hết có thể tiếp cận lớp từ ghép Hán Việt này qua tiêu chí ngữ âm.
2.1. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ ÂM
Từ hệ thống ngữ âm Hán Việt bắt nguồn từ thiết vận tiếng Hán, lớp từ ghép Hán Việt ở đây gồm có hai loại lớn, như sau:
2.1.1. TỪ GHÉP THUẦN ÂM HÁN VIỆT
Đây là những từ ghép mà hai yếu tố Hán Việt tạo nên nó đều đọc âm Hán Việt phổ thông tương ứng với phiên thiết, hoặc có một yếu tố đọc âm Hán Việt phổ thông mô phỏng phiên thiết. Nhưng cả hai dạng âm Hán Việt này đều không có âm Hán Việt khác cạnh tranh. Những từ ghép loại này được phân thành hai tiểu loại, đó là:
(1) Từ ghép Hán Việt thuần âm Hán Việt phổ thông tương ứng với phiên thiết là các từ: tiết hạnh (節 tiết: tức yết thiết, 行 hạnh: hộ canh thiết), từ tạ (辭 từ : tập từ thiết; 謝 tạ: tập dạ thiết), lôi đình (雷 lôi: lư hồi thiết; 霆 đình: đề hình thiết), v.v..
Thuyết minh: Xét trong các từ ghép trên thì thấy rằng, cả hai yếu tố Hán Việt tạo nên chúng đều đọc âm Hán Việt phổ thông duy nhất tương ứng với phiên thiết. Chẳng hạn, trong từ ghép tiết hạnh thì tiết là âm Hán Việt của “tức yết thiết”; hạnh là âm Hán Việt của “hộ canh thiết” v.v..
(2) Từ ghép Hán Việt thuần âm Hán Việt phổ thông. Một yếu tố Hán Việt âm phổ thông không tương ứng phiên thiết và một yếu tố Hán Việt âm phổ thông tương ứng với phiên thiết, như : sơn xuyên (山 sơn: sư gian thiết = san, 川 xuyên: xuất uyên thiết), kinh kỳ (京 kinh: kỳ anh thiết = canh, 畿 kỳ: cần nghi thiết), v.v..
Thuyết minh: Xét trong từ ghép Hán Việt sơn xuyên thì sơn là âm Hán Việt phổ thông mô phỏng theo “sư gian thiết”; xuyên là âm Hán Việt phổ thông tương ứng với “xuất uyên thiết”, v.v..
2.1.2. TỪ GHÉP BIẾN ÂM HÁN VIỆT
Từ ghép biến âm Hán Việt là những từ ghép mà trong hai yếu tố tạo nên nó có một yếu tố Hán Việt biến âm cục bộ ở thanh điệu hoặc vần điệu.
(1) Từ ghép Hán Việt có yếu tố Hán Việt biến âm cục bộ vần điệu mô phỏng phiên thiết là các từ: Châu diệc (周 易), giáp tí (甲子), trước lâm (竹 林).
Thuyết minh: Trong từ ghép Châu diệc thì diệc là âm Hán Việt biến vần từ “怡 籍 di tịch thiết, 陌 mạch vận”; âm Hán Việt tí là biến vần từ “咨 此 tư thử thiết”, trước là biến vần từ “豬 郁 trư úc thiết, 屋 ốc vận”.
2.1.4. Từ ghép Hán Việt có yếu tố Hán Việt biến âm cục bộ thanh điệu mô phỏng phiên thiết là các từ: chúc nguyền (祝 願), khuyên giáo (勸 教), v.v..
Thuyết minh: Trong từ ghép chúc nguyền thì nguyền là âm Hán Việt biến thnh từ “遇 勸 ngộ khuyến thiết”; khuyên là biến thanh từ “去 怨 khứ oán thiết, 愿 nguyện vận”.
2.2. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ NGHĨA
Nghĩa ở đây là nói về nghĩa từ vựng của từ Hán Việt. Những nét nghĩa này bao gồm nghĩa gốc, nghĩa phái sinh trong tiếng Hán và những nghĩa được hình thành trong tiếng Việt. Vì vậy, ngữ nghĩa của từ ghép Hán Việt có thể chia ra hai loại loại nhỏ, như sau:
2.2.1. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NGUYÊN NGHĨA HÁN
Trong tác phẩm, đa phần những từ ghép Hán Việt thường được dẫn dụng qua một nét nghĩa nào đó vốn có của tiếng Hán. Những từ ghép Hán Việt được sử dụng theo nguyên nghĩa này bao gồm hai loại chính phụ và đẳng lập, chúng có thể là những từ ngữ thuần túy văn học, song cũng có thể là một điển cố dưới dạng từ ngữ. Đó là các từ nhân tình, thế sự, hồ nghi, tào khang, v.v.. Đối với các từ ghép này, trong từ điển Hán cũng như từ điển Hán Việt đều có sự giải thích thống nhất về nghĩa gốc cũng như nghĩa phái sinh. Ví dụ :
hồ nghi 狐疑 (Hán) : hồ tính đa nghi, cố thế vị nhân lâm sự do dự viết hồ nghi (狐 性 多 疑 故 世 謂 人 臨 事 猶 豫 曰 狐疑).
(Hán Việt) : tính con cáo hay nghi ngờ, đa nghi; chỉ sự ngờ vực, chưa hiểu rõ vấn đề
thế sự 世 事 (Hán) : vị thế gian chi sự, thế giới thượng các chủng các dạng đích sự tình (謂 世間 之 事 世界 上 各 種 各 樣 的 事情).
(Hán Việt) : việc đời, chuyện đời.
tào khang 糟 糠 (Hán) : bần giả sở thực chi thô lương, vị bần cùng thời chi thê (貧 者 所 食 之 粗 糧, 謂 貧 窮 時 之 妻).
(Hán Việt) : (bã rượu và cám) thứ đồ ăn xấu của người nghèo, sau dùng để chỉ người vợ sống với nhau từ lúc hàn vi. Cũng dùng để chỉ tình nghĩa vợ chồng thuở còn nghèo nàn.
2.2.2. TỪ GHÉP HÁN VIỆT BIẾN NGHĨA VIỆT
Đây là những từ ghép có sự thay đổi về ngữ nghĩa khi hoạt động trong câu thơ tiếng Việt thuộc phạm vi tác phẩm. Sự biến nghĩa này, so với nét nghĩa trong tiếng Hán thì có khi nó là sự thu hẹp có khi lại là mở rộng.
Về phương diện mở rộng nghĩa trong tiếng Việt thì có thể lấy từ ghép phong trần (風塵) làm ví dụ. Nó có thể xuất hiện bằng nét nghĩa vốn có là gió và bụi, là chỉ về cõi đời nhiễu nhương (phong khởi trần dương, trạng thế sự chi nhiễu nhương. 風 起 塵 揚, 狀 世 事 之 擾 攘. Từ hải, tr. 4846) của tiếng Hán như trong câu thơ : “Rày con xuống chốn phong trần”; song cũng từ cơ sở của nét nghĩa Hán này mà phái sinh thêm nét nghĩa Việt là long đong, vất vả như trong câu: “Phong trần ai cũng phong trần như ai”. Hoặc trong tiếng Hán từ sự nghiệp gồm hai yếu tố mang nét nguyên nhân kết quả : làm một việc gì thì gọi là sự, sự việc ấy thành công thì gọi là nghiệp (sở doanh vị chi sự, sự thành vị chi nghiệp. 所 營 謂 之 事 事 成 謂 之 業. Từ hải, tr.195), nhưng trong câu : “Nước trôi sự nghiệp hoa tàn công danh” thì sự nghiệp lại được chuyển rộng sang nét nghĩa : công việc to lớn của nam nhi nhằm phục vụ quốc gia, dân tộc với cách trang trọng hóa từ ngữ trong cấu trúc liên hợp “sự nghiệp ... công danh” của tác giả.
Về phương diện thu hẹp nghĩa theo cách làm mờ nghĩa một yếu tố và biến nó thành đồng nghĩa với yếu tố kia, đồng thời cấp cho cả từ một nét nghĩa mang tính thành ngữ dựa vào yếu tố chính thì có thể xét thấy trong từ ghép ma quỉ (魔鬼). Nhìn từ góc độ tiếng Hán thì yếu tố ma không phải là chỉ người chết mà là một khái niệm về sự ngăn che, phá hoại (ma kỳ nghĩa vi chướng hại, phá hoại đẳng. 魔 其 義 為 障 害 波壞 等. Từ hải, tr. 4972), hoặc nói về một thói quen không thể dẹp bỏ (phàm sự thành tập bất năng bài trừ giả giai vị chi ma. 凡 事 成 習 不 能 排 除者 皆 謂 之 魔. Từ hải, tr. 4972). Còn quỉ mới là yếu tố chỉ linh hồn người chết (nhân tử viết quỉ. 禮 祭 法 人 死 曰 鬼. Lễ, Tế pháp). Vì vậy, quỉ không mang nghĩa xấu, như Trần Bình Trọng dùng tiếng Hán để trả lời tướng giặc Minh : “Ninh vi Nam quỉ bất vi Bắc vương” (寧 為 南 鬼 不 為 北 王. thà làm quỉ (ma) nước Nam chứ không làm vua đất Bắc). Trong khi đó, ở tiếng Việt ma và quỉ đều được dùng để chỉ linh hồn người chết, nhưng cũng có sự phân biệt, nếu ma là linh hồn người mới chết, thì quỉ lại là linh hồn người chết lâu năm biến thành, dữ tợn và quái ác hơn ma. Khi hai yếu tố này kết hợp lại với nhau và trở thành một từ ghép thì nó thể hiện nét nghĩa khái quát về thế giới vô hình thuộc cõi âm, chuyên quấy phá con người như trong câu thơ: “Vì chưng ma quỉ lộ trình rất thiêng”.

2.3. TỪ GHÉP HÁN VIỆT NHÌN TỪ TIÊU CHÍ NGỮ PHÁP
Xuất hiện trong tác phẩm Nôm ở nửa thế kỷ XIX, dù là vay mượn hay tự tạo, lớp từ ghép Hán Việt này đa phần đều theo cấu trúc từ pháp tiếng Hán. Căn cứ vào mối quan hệ của những thành tố của từ, tất cả từ ghép Hán Việt trong hai văn bản có thể chia thành hai loại lớn, đó là từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.
2.3.1. TỪ GHÉP ĐẲNG LẬP HÁN VIỆT
Trong tác phẩm Lục Vân Tiên từ ghép đẳng lập Hán Việt có thể phân thành danh từ, động từ và tính từ.
2.3.1.1. Từ ghép đẳng lập Hán Việt là danh từ
Đây là loại từ ghép đẳng lập Hán Việt được cấu tạo bởi hai yếu tố vốn đều là những danh từ đơn tiết trong tiếng Hán, và khi hành chức trong phạm vi hai văn bản thì chúng đảm nhận chức vụ danh từ, đó là các từ :
long vân 龍雲 phong trần 風塵 thôn hương 村鄉
khí tượng 氣象 tinh thần 精神 âm hao 音耗
phong cảnh 風景 dung nhan 容顏 bút nghiên 筆硯
anh hào 英豪 sơn xuyên 山川 danh tánh 名姓
tướng mạo 相貌 công danh 功名 đơn quế 丹桂
lương đống 樑棟 hồng hộc 鴻鵠 quân thần 君臣
quán xá 館舍 danh lợi 名利 yêu quái 妖怪
công hầu 公候 cầm thú 禽獸 nguyệt hoa 月花
thân danh 身名 phụ tử 父子 sự nghiệp 事業
sương tuyết 霜雪 trâm anh 簪瓔 đài các 臺閣
quan san 關山 phần mộ 墳墓 sử kinh 史經
dung nghi 容儀 binh mã 兵馬 qua mâu 戈矛
lôi đình 雷霆 tật bịnh 疾病 uyên ương 鴛鴦
cốt cách 骨格 tánh tự 姓字 văn vật 文物 quán xá 館舍 thân thể 身體 quỉ thần 鬼神
ma quỉ 魔鬼 kinh quyền 經權 can qua 杆戈 thân hình 身形 lâm sơn 林山 thất gia 室家 loan phụng 鸞鳳 nhật nguyệt 日月 tình ý 情意 phu phụ 夫婦 phong ba 風波 ân tình 恩情
tả hữu 左右 tài trí 才智 tai ương 災殃
hồn phách 魂魄 hài cốt 骸骨 hồng hộc 鴻鵠
2.3.1.2. Từ ghép đẳng lập Hán Việt là động từ
Đây là những từ ghép đẳng lập Hán Việt được cấu tạo bởi hai yếu tố vốn là động từ đơn tiết trong tiếng Hán, và trong câu thơ tiếng Việt, chúng cũng xuất hiện với tư cách là những động từ ghép, đó là :
báo bổ 報補 báo đáp 報答 từ tạ 辭謝
từ biệt 辭別 phân băng 分崩 ẩn tàng 隱藏
qui lai 歸來 cảm thương 感傷 ẩn dật 隱逸 sanh thành 生成 cáo tạ 告辭 oán hận 怨恨
bảo hộ 保護 bảo dưỡng 保養 cự đương 拒當
biến hô 變呼 trữ dưỡng 貯養 xử phân 處分
bộ hành 步行 phản hồi 返回 học hành 學行
dưỡng dục 養育 phù trì 扶持 giao hòa 交和
đề huề 提攜 phấn phát 奮發 thảm sầu 慘愁
ưu phiền 優煩 nghĩ lượng 擬量 báo ứng 報應
2.3.1.3. Từ ghép đẳng lập Hán Việt là tính từ
Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, những từ ghép Hán Việt là tính từ cũng được cấu tạo bởi hai yếu tố vốn là tính từ đơn tiết trong tiếng Hán, đó là các từ:
hiển vinh 顯榮 thủy chung 始終 chánh tà 正邪
gian truân 艱迍 nguy hiểm 危險 hoạn nạn 患難
gian nan 艱難 phú quí 富貴 tài tình 才情
an nhàn 安閒 chính chuyên 正專 chỉnh tề 整齊
nghiêm trang 嚴莊 trinh tiết 貞節 gian tà 奸邪
thị phi 是非 hào hoa 豪華 u minh 幽冥
cẩn nhiệm 僅任 trung chánh 忠正 dị kỳ 異奇
tầm thường 尋常 trung hiếu 忠孝 tiết hạnh 節行
2.3.2. TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ HÁN VIỆT
Từ ghép chính phụ trong tác phẩm Lục Vân Tiên, gồm có hai loại lớn như sau:
2.3.2.1. Từ ghép chính phụ Hán Việt phụ trước chính sau
Đây là loại từ ghép Hán Việt mà yếu tố đứng sau là chủ thể, còn yếu tố đứng trước hạn định yếu tố đứng sau. Đó là các từ:
nhơn tình 人情 khoa tràng 科場 hậu đàng 後堂
khoa kỳ 科期 sự tình 事情 tiền đường 前堂
bắc phương 北方 tiền trình 前程 sơn đài 山臺
khuê môn 閨門 văn nhân 文人 tiên tử 仙子
quan ải 關隘 hoa đình 花庭 hương án 香案
võ miếu 武廟 thanh khâm 青衾 lê đình 梨庭
kinh địa 京地 cúc hương 菊香 bàn thạch 盤石
dương gian 陽間 tam canh 三更 đông phương 東方
mẫu tang 母葬 dương trần 陽塵 thế lợi 世利
nhân gian 人間 sơn trung 山中 thế sự 世事
huyện đàng 縣堂 châu lụy 珠淚 gia thần 家臣
âm cung 陰宮 trướng tiền 帳前 ải quan 隘關
hậu sinh 後生 tượng nhân 像人 dạ đài 夜臺
kim giai 金階 âm ti 陰司 học đường 學堂
tọa tiền 座前 khải ca 凱歌 hung đồ 凶徒
lộ trình 路程 cô bồng 孤蓬 hảo tâm 好心
cố tri 故知 oan gia 冤家 danh nhu 名儒
thất phu 匹夫 sơn quân 山君 ngư phủ 漁父
cử nhân 舉人 giang trung 江中 thiên hoang 天荒
tứ chi 四肢 song thân 雙親 lưỡng biên 兩邊
tái sanh 再生 chư hữu 諸友 cựu hiềm 舊嫌
2.3.2.2. Từ ghép chính phụ Hán Việt chính trước phụ sau
Đây là những từ ghép mà các yếu tố tạo nên nó theo trật tự thuận như từ ghép chính phụ thuần Việt. Tuy nhiên, các yếu tố này khi kết hợp lại với nhau thì sẽ thể hiện nét nghĩa mang tính thành ngữ cho cả từ. Đó là các từ:
xuất hành 出行 lập thân 立身 hộ thân 護身 đăng trình 登程 hành hung 行凶 bất kỳ 不期
vô duyên 無緣 hữu duyên 有緣 gia công 加工 tống tình 送情 bất bình 不平 liễm dung 斂容 bất tài 不才 khai phong 開封 lâm nguy 臨危 đoạn trường 斷腸 giải phiền 解煩 giải nguy 解危 báo hiếu 報孝 tị trần 避塵 an dinh 安營
bất hiếu 不孝 cách chức 革職 bình tặc 平賊
bất nhân 不仁 cứu khổ 救苦 cứu tử 救死
ai hoài 哀懷 hồi trào 回朝 đăng đàn 登壇
khuynh thành 傾城 bãi binh 擺兵 thuận tình 順情
quyên sinh 捐生 báo chúa 報主 sự phu 事夫
chung thân 終身 tri âm 知音 xuất giá 出嫁
trá hôn 詐婚 dung thân 容身 định hồn 定魂
chấp nhứt 執一 biếm quyền 貶權 cảm nghĩa 感義
ứng kỳ 應期 đề binh 提兵 tấn binh 進兵
kinh hồn 驚魂 hồi hương 回鄉 lậu tình 漏情
bi thiết 悲切 cách diễn 隔演 tỉnh thân 省親
thủ khoa 首科 tháp tùng 插從 xuất chinh 出征
Ngoài ra, trong tác phẩm Lục Vân Tiên cũng có một số từ ghép chính phụ là đại từ. Chúng đều là những từ xưng hô về các mối quan hệ trong xã hội Việt Nam trung đại theo tiếng Hán văn ngôn, và còn có cả những đại từ xưng hô theo dạng điệp từ của tiếng bạch thoại, đó là :
tôn sư 尊師 tiểu sinh 小生 quân tử 君子
tiểu tử 小子 tiện thiếp 賤妾 nhạc gia 岳家
nghĩa tế 義婿 ca ca 哥哥 tẩu tẩu 嫂嫂
ái nữ 愛女 ngọc hữu 玉友 Tiên sư 先師
Trong tác phẩm có một số ngữ định danh, nhưng đều không có thực mà là do tác giả đặt ra. Cho nên, ở đây xếp chúng vào loại ngữ định danh ước lệ. Về nhân danh ước lệ thì có Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Võ Thể Loan, Võ công, Lục ông, Bùi công, Quỳnh trang, Hớn Minh, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Địa danh ước lệ: Trà Hương thôn, Hà khê phủ, Đông thành, Quận thành, Hàn giang, Đại đề, Tây viên, Ô qua.
3. NGỮ ĐIỂN CỐ HÁN VIỆT
Nhìn chung, ngữ điển cố Hán Việt trong tác phẩm Lục Vân Tiên được liệt kê thành mấy loại sau:
3.1. Loại điển cố sử địa, hiện thực (bao gồm nhân danh, địa danh, sơn danh, thành danh, quốc hiệu, vương hiệu, v.v.) :
Kiệt, Trụ 桀,紂 U, Lệ 幽,厲 Tống, Vệ 宋,衛
Trần, Khuông陳,匡 Thúc Quí 叔季 Ngũ Bá 五霸
Tử Lộ 子路 Nhan Uyên 顏淵 Triệu Tử 趙子
Như Hoành 如衡 Ngô Khởi 吳起 Mãi Thần 買臣
Tôn Tẫn 孫儐 Bạch Hàm 白頷 Gia Các 諸葛
Bàng Quyên 龐涓 Ngũ Bá 五霸 Thúc Quí 叔季
Hớn mạt 漢末 Đồng tử 董子 NguyênLượng元諒
Hàn Dũ 翰愈 Thái Công 太公 Hoàn Công 桓 公
Liêm Lạc 廉洛 Sào Phủ 巢父 Hứa Do 許由
Trần Đoàn 陳團 Võ Hậu 武后 Ngũ Viên 五員
Hạng Võ 項羽 Tống công 宋公 Tử Củ 子糾
Tiểu Lạc 剿剌 Thế Dân 世民 Bất Vi 不圍
Dị Nhân 異人 Điêu Thuyền貂嬋 Đường cung 唐宮
Diên Thọ 延壽 Hồ Dương 胡楊 Hạ Cơ 夏姬
Doãn Phủ 允府 Trần Quân 陳君 Di, Tề 夷,齊
Dị Ky 異姬 Như Ý 如意 Văn Quân 文君
Đổng Công 董公 Tam Tư 三思 Tạ nữ 謝女
Hồ Việt 胡越 Nghiêm lăng嚴陵 Lư san 蘆山
Ô giang 烏江 Tràng thành 長城 Cam tuyền 甘泉
Thái sơn 泰山 Hồng mao 鴻毛 Thiên sơn 千山
Man khê 蠻溪 Tràng dương長楊 doanh Liễu 營柳
Hàm dương 咸陽 Tiêu tương 瀟湘 Bạch thành 白城
Thanh Hải 青海 Hán, Hồ 漢,胡 Nghiêu, Thuấn堯舜
Hãn hải 瀚海 Tiêu quan 簫關 Hán dương 漢楊
Hoàng hoa 黃花 Dương đài 陽臺 Thuyền Vu 單于
Lạc dương 洛陽 Tương phố 湘 浦 Ngọc quan 玉關
Lữ hậu 呂后 Từ phi 辭妃
Lã Phụng Tiên 呂鳳 先 Lũng tây nham 隴西岩
Bình nam ngũ hổ 平南五虎 Chiêu Quân cống Hồ 昭君貢 胡
3.2. Loại điển cố truyền thuyết văn chương, thư tịch y dịch:
Nguyệt lão 月老 Ngưu lang 牛郎 Chức nữ 織女
Bàn cổ 盤古 Vương Mẫu 王母 Tam phủ 三府
Xích lân 赤磷 Động đình 洞庭 Hán giang 漢江
Lưu Kỷ 蘆机 LươngNgọc 良玉 Hạnh Nguyên 杏元
tao khang 糟糠 tang bồng 桑蓬 thanh khâm 青衾
Nam giản 南澗 Đông sàng 東床 Đại khoa 大科
tiểu khoa 小科 Bồng lai 蓬萊 Nam tào 南曹
huỳnh tuyền 黃泉 sâm thương 參商 dương liễu 揚柳
Ô kiều 烏橋 Trì linh 池靈 cửu tuyền 九泉
linh phụng ngô đồng靈 鳳 梧桐 Công chúa ngũ long 公 主 五 龍
Đại thánh Tề Thiên 大 聖 齊 天 Thiên tướng thiên binh 天 將天兵
Nội kinh 內徑 Y học 醫學 Thọ thế 壽世
Đông y 東醫 Cang mục 綱目 Thanh nang 青囊
Ngự toản 御算 Hồi xuân 回春 Lục quân 六君
Tứ vật 四物 Thập toàn 十全 Bát vị 八味
Ngũ sài 五柴 Tư âm 滋陰 Huỳnh liên 黃連
Huỳnh bá 黃柏 Huỳnh cầm 黃芩 Vạn linh 萬靈
Hoàn tình 丸睛 Châu diệc 周易 Huỳnh kim 黃金
Dã hạc 野鶴
Bát trận tân phương 八陣新方 Ngân hải tinh vi 銀海精微

4. THUẬT NGỮ HÁN VIỆT
Trong tác phẩm cũng có sử dụng khá nhiều thuật ngữ Hán Việt. Những thuật ngữ này đều có tính chuyên ngành, đó là:
4.1. Thuật ngữ trong ngành Đông y, gồm có :
mạch 脈 điều (hòa thuốc)調 vị (thuốc) 味
gia 加 bội 倍 bổ (thuốc) 補
thang danh 湯名 điểm (thuốc) 點 nội thương 內傷
đầu thang 投湯 lục bộ 六部 phù hồng 浮洪
kinh lạc 經絡 giáng hỏa 降火 nhiệt tâm 熱心
ngoại cảm 外感 ngoại khoa 外科 phù hồng 浮洪
quân thần 君臣 (quân thần tá sứ)
tam tiêu tích nhiệt 三 焦積 熱 mạng môn tướng hỏa 命 門 相 火
4.2. Thuật ngữ trong tôn giáo, dịch học bói toán, gồm có :
hào 爻 sách 索 ứng 應
giao 交 thế 世 khắc 克
ấn 印 niệm 念 đàn 壇
lục nhâm 六壬 lục giáp 六甲 can chi 干支
đinh mão 丁卯 giáp tí 甲子 lục xung 六 沖
(quẻ) du hồn遊魂 phù chú 符 咒 khôi tinh 魁星
tử vi 紫微 pháp phù 法符 số hệ 數係
Phụ mẫu (hào)父母 Tử tôn (hào)子孫 chứng minh 證明
từ bi 慈悲 qui y 皈依 phiền não 煩惱
Thập phương chư phật 十 方 諸 佛 khuyên giáo 勸教
5. THÀNH NGỮ HÁN VIỆT
5.1. Thành ngữ Hán Việt nhìn từ tiêu chí ngữ âm
Nếu lấy âm Hán Việt phiên thiết làm chuẩn thì có thể chia thành ngữ ra làm hai loại sau:
5.1.1. Thành ngữ thuần âm Hán Việt là những thành ngữ mà trong đó các yếu tố đều được đọc bằng âm Hán Việt theo phiên thiết, đó là vạn lý trường đồ, họa hổ bất thành, báo đức thù công, v.v.
5.1.2. Thành ngữ biến âm Hán Việt là những thành ngữ mà trong đó có một hoặc hai yếu tố Hán Việt được đọc theo âm Hán Việt địa phương, như : kiến ngãi bất vi, bĩ cực thới lai, Hồ Việt nhứt gia, v.v.
5.2. Thành ngữ Hán Việt nhìn từ tiêu chí ngữ nghĩa
Về phương diện ý nghĩa của thành ngữ Hán Việt, ở đây có thể đi tìm theo hai hướng, mà truyền thống vẫn quen gọi là nghĩa đen và nghĩa bóng.
5.2.1. Thành ngữ Hán Việt dùng theo nghĩa đen.
Đối với loại thành ngữ biểu thị nghĩa đen thì việc truy tìm nghĩa của nó là bắt đầu từ việc tìm nghĩa của từng yếu tố tạo nên nó. Nghĩa của thành ngữ sẽ là tổng hợp nghĩa của các thành viên. Ví dụ : tu nhân tích đức, trọng nghĩa khinh tài, báo đức thù công, công toại danh thành, v.v.
5.2.2. Thành ngữ Hán Việt dùng theo nghĩa bóng.
Đối với loại thành ngữ được sử dụng theo nghĩa bóng, tức là dùng bằng phương thức tỉ dụ hoặc ẩn dụ thì việc tìm nghĩa cũng khó khăn hơn, vì nghĩa của nó là nghĩa của cả tổ hợp có được do liên tưởng mà rút ra, suy ra từ nghĩa kết hợp của các thành viên. Ví dụ : khởi phụng đằng giao, họa hổ bất thành, lưu thủy cao sơn, bình thủy tương phùng, v.v.
5.3. Thành ngữ Hán Việt nhìn từ tiêu chí ngữ pháp
Nếu đứng trên tiêu chí ngữ pháp thì có thể chia thành ngữ ra hai loại: thành ngữ có quan hệ đẳng lập và thành ngữ có quan hệ chính phụ.
5.3.1. Thành ngữ có quan hệ đẳng lập
Đây là loại thành ngữ mà các yếu tố tạo thành nó đều độc lập, bình đẳng, không lệ thuộc vào nhau. Vị trí của các thành tố, các vế cũng tương đối tự do. Trong thành ngữ đẳng lập cũng có mấy loại sau.

(1) Loại có cấu trúc như từ ghép, đó là :

(3) Loại có cấu trúc điệp và đối
Đây là những thành ngữ mà các thành viên trong nó được láy lại về âm hay về nghĩa (điệp âm, điệp nghĩa) hoặc trái ngược nhau về nghĩa (đối)
+ Điệp : đồng tịch đồng sàng (điệp âm : đồng)
thiên tướng thiên binh (điệp âm : thiên)
dũ xuất dũ kỳ (điệp âm : dũ)
+ Đối : đạo hỏa phó thang (đối : hỏa/thang)
trọng nghĩa khinh tài (đối : trọng/khinh)
+ Vừa điệp vừa đối :
bán tín bán nghi ( điệp âm : bán, đối : tín/nghi)
báo đức thù công (điệp nghĩa : báo = thù, đối : đức/công)
5.3.2. Thành ngữ có quan hệ chính phụ
Đây là loại thành ngữ mà các yếu tố tạo ra nó không ngang bằng nhau về kết cấu. Nó mang nét nghĩa theo các mối quan hệ hạn định, chi phối. Đó là :

(1) Loại có cấu trúc tương đương động ngữ :

Tác giả: Thích Viên Khai
Trích: Luận văn tốt nghiệp Khoa Trung Văn - Trường ĐHSP TP.HCM
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhận diện Hán Việt   Tue 02 Mar 2010, 06:10

Cám ơn 24 nhiều lắm đó nha hi

Chắc Shiroi phải tập trung đọc thêm rất là nhiều lần mới hiểu được hơn một tí.

Bài viết rất hay nhưng trình độ cao dành cho người học Văn khoa và Hán ngữ...
Shiroi thì giỏi xếp... mấy cọng mì á
Smile
Về Đầu Trang Go down
Bangla09

avatar

Tổng số bài gửi : 282
Registration date : 24/06/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Nhận diện Hán Việt   Tue 02 Mar 2010, 19:28

Shiroi đã viết:
Cám ơn 24 nhiều lắm đó nha hi

Chắc Shiroi phải tập trung đọc thêm rất là nhiều lần mới hiểu được hơn một tí.

Bài viết rất hay nhưng trình độ cao dành cho người học Văn khoa và Hán ngữ...
Shiroi thì giỏi xếp... mấy cọng mì á
Smile

@ Chị Shiroi
Định vào trả lời chị từ sớm nhưng em bị virut ồ ạt tấn công .HÌ hì ..Có lẽ ai đó không muốn NT đăng bài hoặc trả lời chị chăng?
Em đọc 10 lần mà vẫn chưa hiểu hết ạ . HÌ hì ...
Về Đầu Trang Go down
 
Nhận diện Hán Việt
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-