Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Sưu tập Bộ cánh vẩy 2 by buixuanphuong09 Today at 14:07

CHUYỆN NGHỀ .. by Trăng Today at 14:03

CƯỜI ... by Trăng Today at 13:27

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 12:42

Lục Bát Hoa ĐV by buixuanphuong09 Today at 09:56

SẦU RIÊNG . by Trăng Today at 09:53

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Today at 09:44

Thơ họa ở ngoài mang về góp vui by buixuanphuong09 Today at 09:36

HÁT NÓI ĐỂ MÀ CHƠI : KHUYÊN AI ĐỪNG ĐỐ KỴ by Ma Nu Today at 01:40

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Yesterday at 19:35

Những Đoá Từ Tâm - Thơ Tình Yêu, Tình Nước by Việt Đường Yesterday at 19:32

HƯỚNG ĐẠO SINH by buixuanphuong09 Yesterday at 19:30

7 câu thành ngữ tục ngữ ai cũng quen dùng nhưng toàn bị sai by Trăng Yesterday at 15:48

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Trăng Yesterday at 15:37

cây đa bụi chuối by Trăng Yesterday at 15:32

ÐÔI MẮT NGỌC by BachVanNhi Fri 16 Aug 2019, 23:55

Đạo Thánh Đế by mytutru Fri 16 Aug 2019, 23:01

NHẮN NHỦ ... by Phương Nguyên Fri 16 Aug 2019, 17:36

Một số thành ngữ thông dụng by buixuanphuong09 Fri 16 Aug 2019, 17:08

Ở không by unikey Fri 16 Aug 2019, 13:22

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê by Trà Mi Fri 16 Aug 2019, 11:43

QUÊ HƯƠNG TÔI by Hoa mộc Fri 16 Aug 2019, 10:59

Truyện ngụ ngôn La Fontaine tròn 350 tuổi by Trà Mi Fri 16 Aug 2019, 10:03

Đỗ Nương Nương báo oán - Hồ Biểu Chánh by Trà Mi Fri 16 Aug 2019, 09:58

Phan Thanh Giản là người thế nào? by Trà Mi Fri 16 Aug 2019, 09:34

THƠ (Hoa Mộc) by Hoa mộc Fri 16 Aug 2019, 09:15

Truyện nay - Ái Hoa by Trăng Wed 14 Aug 2019, 20:05

Còn quậy chưa "về" by buixuanphuong09 Wed 14 Aug 2019, 09:07

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Tue 13 Aug 2019, 20:03

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Tue 13 Aug 2019, 19:58

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Phan Thanh Giản là người thế nào?

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 3528
Registration date : 01/04/2011

Phan Thanh Giản là người thế nào? - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Phan Thanh Giản là người thế nào?   Phan Thanh Giản là người thế nào? - Page 2 I_icon13Tue 13 Aug 2019, 08:47

Thử Đi Tìm Nguyên Nhân Tại Sao Cụ Phan Thanh Giản Bị Cộng Sản Bắc Việt Kết Tội

Trần Đông Phong

Trần Huy Liệu

Trần Huy Liệu là người như thế nào mà bài kết tội cụ Phan Thanh Giản của ông vào năm 1963 lại có ảnh hưởng tại miền Nam 12 năm sau đó?

Trần Huy Liệu là một nhân vật rất nổi tiếng và có nhiều uy quyền ở miền Bắc, nhất là trong lãnh vực văn hóa cho đến khi ông chết vào năm 1969.

Trần Huy Liệu sinh năm 1901, nguyên quán làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Năm 1924, Trần Huy Liệu đã từ Hà Nội vào Nam Kỳ để cộng tác với nhiều tờ báo ở Sài Gòn như Nông Cổ Mín Đàm, Ngòi Bút Sắt, làm chủ bút các tờ Đông Pháp Thời báo, Pháp Việt Nhất Gia v.v. Trong thời gian ở Nam Kỳ, ông là chi bộ trưởng Chi Bộ Đặc Biệt của Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Sài Gòn. Ông có tham gia phong trào đòi hỏi người Pháp phải phóng thích Cụ Phan Bội Châu, phong trào truy điệu Cụ Phan Chu Trinh và bị Pháp bắt vào năm 1927. Sau khi ra khỏi tù, ông lại bị người Pháp bắt vào năm 1929 và đày ra Côn Đảo cho đến năm 1935. Trong thời gian bị tù ở Côn Đảo lần này, ông chịu ảnh hưởng của các tù nhân Cộng sản, do đó, sau khi dược phóng thích vào năm 1935, ông về hoạt động tại Hà Nội và chính thức gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1936. Trong thời gian này, ông chủ trương những tờ báo thân Cộng sản như Đời Mới, Thời Báo, Tin Tức, Đời Nay rồi lại bị Pháp bắt vào năm 1939, sau đó bị đày lên Sơn La. Tại nhà tù này, thực dân Pháp cũng đang giam giữ nhiều đảng viên Cộng sản khác trong đó có những người sau này nổi tiếng như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ v.v. Năm 1942, ông được thực dân Pháp giảm án tù, cho đi an trí tại Thái Nguyên và Yên Bái. Tháng 3 năm 1945, nhân cơ hội người Nhật đảo chính người Pháp, ông trốn về chiến khu Tân Trào. Trong Quốc Dân Đại Hội họp tại Tân Trào ngày 8 tháng 7 năm 1945, tuy rằng tuổi đảng chỉ mới có chưa đầy mười năm nhưng Trần Huy Liệu lại được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng, chỉ đứng sau Hồ Chí Minh nhưng lại trên cả Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và Chu Văn Tấn v.v.

Ngày 29 tháng 8 năm 1945, Trần Huy Liệu được giữ chức Bộ trưởng Tuyên Truyền trong Chính phủ Lâm Thời và đã được Hồ Chí Minh chọn cầm đầu một phái đoàn của Việt Minh gồm có Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận vào Huế để nhận ấn tín và sự thoái vị của Vua Bảo Đại ngày 30 tháng 8 năm 1945. Trong những năm sau đó, Trần Huy Liệu được giữ những chức vụ quan trọng khác trong Tổng Bộ Việt Minh, Tổng Cục Chính Trị Quân Đội và năm 1946 đã được Hồ Chí Minh cử làm Ủy viên Thường trực Quốc Hội.

Theo nhà sử học Trần Gia Phụng thì họ Hồ giao cho Trần Huy Liệu làm bộ trưởng bộ Tuyên Truyền không phải vì tín nhiệm Trần Huy Liệu mà vì họ Hồ cần uy tín của ông, vốn là chi bộ trưởng Chi bộ Đặc Biệt Quốc Đân Đảng tại Sài Gòn. Họ Hồ giao cho ông ta làm trưởng phái đoàn trong việc chứng kiến lễ thoái vị của Vua Bảo Đại để trong trường hợp xảy những phản đối gì thì Trần Huy Liệu và Quốc Dân Đảng phải chịu trách nhiệm, trong khi Nguyễn Lương Bằng, bí danh Sao Đỏ, tuổi đảng cao hơn rất nhiều so với Trần Huy Liệu thì chỉ là một nhân viên trong phái đoàn này. ..

Vào năm 1946, khi bị Tướng Lư Hán gây áp lực đòi Việt Minh phải mở rộng thành phần chính phủ, Hồ Chí Minh nhượng bộ và đã mời những nhà lãnh đạo các đảng phái quốc gia như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam v.v. tham gia vào chính phủ liên hiệp cũng như chia 80 ghế đại biểu quốc hội cho phe Quốc Gia, tuy nhiên một trong những điều kiện mà phe Quốc gia đòi hỏi Hồ Chí Minh là phải loại bỏ Trần Huy Liệu, lúc đó đang giữ chức Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền ra khỏi chính phủ.

Sau năm 1954, Trần Huy Liệu được nổi tiếng là một đại gia nô của đảng Lao Động khi ông tuyên bố rằng Lịch sử Việt Nam chỉ bắt đầu từ khi Đảng Cộng sản ra đời.. . và Hồ Chủ Tịch là người sáng lập ra nước Việt Nam.. . Như vậy, theo sử gia Trần Huy Liệu thì trước năm 1930, khi đảng Cộng sản Đông Dương chưa chính thức ra đời thì chưa có dân tộc Việt Nam và phải đợi cho đến tháng 9 năm 1945 khi ông Hồ Chí Minh về nước thì mới có nước Việt Nam. Có lẽ nhờ vào sự nịnh hót và tâng bốc lố bịch đó mà Trần Huy Liệu được Đảng cho giữ những chức vụ quan trọng trong lãnh vực văn hóa như làm Trưởng Ban Nghiên cứu Văn-Sử-Địa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện trưởng Viện Sử học, Hội trưởng Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam cho đến khi qua đời vào năm 1969.

Đó là con người Trần Huy Liệu, một nhân vật có rất nhiều ảnh hưởng trong các lãnh vực chính trị, văn hoá và nhất là lịch sử vì vào đầu thập niên 1960, ông đang giữ chức vụ Chủ nhiệm và Tổng Biên Tập Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử và Viện trưởng Viện Sử Học, những chức vụ được một số người xem là không có quyền hành, tuy nhiên trong hệ thống Cộng sản Việt Nam hồi đó thì tất cả mọi cơ quan truyền thông, báo chí đều là công cụ của Đảng, là tiếng nói của Đảng, do đó một tờ báo như là Tạp Chí Nghiên cứu Lịch Sử tất nhiên phải đăng tải những bài về những đề tài mà Ban Văn Hóa Tư Tưởng của Đảng cho phép đăng và muốn đăng.

Về phương diện sử học, Trần Huy Liệu còn được nổi tiếng là người cha đẻ ra huyền thoại Lê Văn Tám, một nhân vật anh hùng trong lịch sử kháng chiến chống Pháp mà ngày nay có rất nhiều sách truyện được in lại để tuyên truyền trong giới thanh thiếu niên cũng như là nhiều công viên mang tên vị anh hùng này trên khắp nước, đặc biệt là công viên Lê Văn Tám tại Sài Gòn. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, một đệ tử của ông tại Viện Sử Học Hà Nội là Giáo sư Phan Huy Lê đã tiết lộ rằng nhân vật Lê Văn Tám của sử gia Trần Huy Liệu chỉ là một nhân vật tưởng tượng do Trần Huy Liệu bịa đặt ra với mục đích tuyên truyền cho đảng Cộng sản.

Vào năm 1963, trong khi tình hình kinh tế miền Bắc đang gặp phải nhiều khó khăn vì nạn hạn hán, trong khi đảng Cộng sản Việt Nam đang bị chia rẽ trầm trọng vì sự xung đột về ý thức hệ rất trầm trọng giưã hai nước Cộng sản đàn anh là Liên Xô và Trung Hoa Cộng sản, trong khi tình hình chiến sự tại miền Nam đang trở nên sôi động, câu hỏi được đặt ra là tại sao cũng đúng vào thời gian đó, đảng Lao Động (Cộng sản) Việt Nam, qua sử gia Trần Huy Liệu, lại cho mở nhiều cuộc hội thảo để chỉ trích, để đánh phá, để kết tội, để bôi nhọ và hạ bệ một vị danh nhân miền Nam đã từ trần từ năm 1867 tức là đã gần 100 năm về trước?

Trong bài này, người viết sẽ chỉ phân tích một số sự kiện đã xảy ra tại miền Bắc vào năm 1963 để thử tìm hiểu nguyên nhân tại sao Giáo sư Trần Huy Liệu lại bỏ nhiều thì giờ, công sức và ảnh hưởng để làm việc này, ông ta tự ý hay là đã nhận được lệnh của những người khác cao cấp hơn ông để mở chiến dịch hạ bệ cụ Phan Thanh Giản và với mục đích gì?

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 3528
Registration date : 01/04/2011

Phan Thanh Giản là người thế nào? - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Phan Thanh Giản là người thế nào?   Phan Thanh Giản là người thế nào? - Page 2 I_icon13Wed 14 Aug 2019, 09:29

Thử Đi Tìm Nguyên Nhân Tại Sao Cụ Phan Thanh Giản Bị Cộng Sản Bắc Việt Kết Tội

Trần Đông Phong

Tấn Công Khuynh Hướng Chủ Hòa Trong Đảng?

Vào năm 1956, một biến cố xảy ra tại Mạc Tư Khoa đã làm cả thế giới Tự Do sửng sốt và gây ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia trong khối Cộng sản, trong đó có cả Bắc Việt Cộng sản, đó là bài diễn văn của Nikita Khrushchev đọc tai Đại Hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô tại Mạc Tư Khoa vào ngày 25 tháng 2 năm 1956. Trong bài diễn văn này, Đệ Nhất Bí Thư Đảng Cộng sản Liên Xô đã tố cáo những tội ác diệt chủng tầy đình của Joseph Stalin, cực lực lên án tệ nạn sùng bái cá nhân và đồng thời đề cập đến chủ trương sống chung hòa bình (peaceful coexistence) giữa các quốc gia thuộc cả hai khối trên thế giới.

Vũ Thư Hiên, tác giả cuốn Đêm Giữa Ban Ngày, lúc đó đang là một sinh viên du học tại Mạc Tư Khoa đã tóm lược những ý chính trong bài diễn văn quan trọng này như sau:

Đại Hội XX không phải chỉ vạch trần tệ súng bái cá nhân Sta-lin, đòi phục hồi các chuẩn mực dân chủ trong mọi sinh hoạt xã hội, trong sinh hoạt đảng. .. Nó còn mở ra tầm nhìn mới cho cả thế giới Cộng sản. Nó bác bỏ quan điểm coi bạo lực là phương pháp dành chính quyền duy nhất cho giai cấp vô sản, coi mâu thuẫn giữa hai hệ thống thêá giới là không thể điều hòa (hòa hợp theo tiếng miền Nam). Đó là Đại hội của tinh thần hòa bình-cùng tôàn tại trong hòa bình, hợp tác hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, tinh thần giaiû quyết mọi tranh chấp bằng thương lượng, chấm dứt mọi thứ chiến tranh nóng cũng như lạnh, giải trừ quân bị. ..

Bài diễn văn của lãnh tụ Cộng sản Liên Xô trong thời gian những năm sau đó đã gây xáo trộn, sứt mẻ và chia rẽ trầm trọng trong khối các nước Cộng sản, nhất là giũa Liên Bang Xô Viết và Trung Hoa Cộng sản. Trung Cộng đứng đầu công kích Liên Xô đi theo chủ nghĩa xét lại và Liên Xô thì kết án Trung Cộng đi theo chủ nghĩa giáo điều lạc hậu.

Cộng sản Bắc Việt lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó xử vì cả hai nước đều là quốc gia và là đảng đàn anh, cũng như là đại ân nhân của Cộng sản Bắc Việt, do đó các nhà lãnh đạo đảng Lao Động Việt Nam (tức là Đảng Cộng sản Đông Dương được cải danh từ năm 1946) đã phải đi theo một đường lối mà ở BắcViệt được gọi là đánh đu còn ở miền Nam thì gọi là đi dây.

Một đặc điểm của thời kỳ này là đường lối đánh đu giữa hai cọc. Trên những trang báo Nhân Dân và các báo khác cũng thế, cứ mỗi bài nói tới Liên Xô thì lại có một bài nói về Trung Quốc, với số dòng tương đương, với cỡ chữ tương đương, không bên nào được lớn hơn bên nào.

Đường lối này được giữ trong một thời gian dài trong cuộc xung đột ý thức hệ chủ yếu là nhờ ông Hồ Chí Minh. Vai trò tôi là người giữa tôi chữa đôi bên của ông, đáng tiếc, đã tỏ ra không bền. Vị thế trung dung sở dĩ tồn tại được một thời gian còn nhờ ở tâm trạng do dự của Lê Duẩn. Một mặt Lê Duẩn sợ Mao Trạch Đông nổi nóng thấy Việt Nam không nồng nhiệt hưởng ứng cuộc chiến tranh tư tưởng do ông ta tiến hành chống Liên Xô. Mặt khác, Lê Duẩn sợ những người chủ mới của Điện Kremli lạnh lùng thắt hầu bao lại. Những ý kiến đối nghịch ở trong nước không được Lê Duẩn tính đến, hoặc không được tính đến một cách. nghiêm túc.. .

Thế là vào ngày 11 tháng 12 năm 1963, xuất hiện Nghị Quyết 9, một nghị quyết nửa dơi nửa chuột, không có lập trường rõ ràng đối với cuộc xung đột tư tưởng đang diễn ra gay gắt trong lòng phong trào Cộng sản quốc tế. Trong nghị quyết này, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa nói chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, vừa nói chống chủ nghĩa giáo điều, với câu chữ kín kẽ, rất kinh viện, trong một hệ khái niệm độc đáo, khó mà hiểu được người viết nghị quyết muốn gì. Liên Xô đọc cũng không thể bực mình, Trung Quốc đọc cũng không thể tức giận.

Ấy thế mà Nghị Quyết 9 lươn lẹo, được nhào nặn bởi chủ gánh xiếc ngôn ngữ Trường Chinh, lại ra đời không được thông đồng bén giọt như các nghị quyết khác, theo thông lệ bao giờ cũng được nhất trí thông qua bằng những cánh tay giơ cao. Khốn thay trong giai đoạn này đã xuất hiện làn sóng ngầm của xu hướng dân chủ trong Đảng, được cả một số ủy viên Trung Ương tán thành.

Nghị quyết 9 là cái Lê Đức Thọ và đàn anh Lê Duẩn cần có để trấn áp trào lưu dân chủ nọ. Nó phải được ra đời, bằng bất cứ giá nào.

Trường Chinh giải thích thêm trong một cuộc họp phổ biến Nghị quyết 9 cho các cán bộ cao cấp vào tháng Giêng năm 1964 rằng: Cần lưu ý các đồng chí một điều là Nghị quyết 9, do tình hình phức tạp trong phong trào Cộng sản quốc tế không thể viết hết ra những điều cần nói. Cần đặc biệt lưu ý rằng thực chất của Nghị quyết 9 chỉ có thể phổ biến bằng miệng, điều đó là: đường lối đối ngoại và đối nội của Đảng va øNhà Nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối nội và đối ngoại của đảng Cộng sản Trung Quốc.

Những người không đồng tình (với đường lối của Đảng,) lở miệng nói câu nào không giống lập trường của Đảng, lập tức bị chụp cho cái mũ xét lại hiện đại. Với Nghị quyết 9, đảng Cộng sản Việt Nam phân hóa thành hai cực: một bên là những người chủ trương chủ nghĩa dân chủ pháp trị, đòi kiến tạo một xã hội công dân có nhân quyền, bên kia là Đảng cầm quyền kiên trì một chủ nghĩa xã hội chuyên chế.

Trong bản Nghị quyết 9, ngoài phần đối ngoại vừa nói ở trên còn có một vấn đề liên quan đến tình hình đối nội, đó là chính sách chiếu cố miền Nam tức là tăng cường nỗ lực đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược tại miền Nam nhằm thực hiện thống nhất đất nước vào tay đảng Cộng sản. Vào thời gian đó, nền kinh tế Bắc Việt không lấy gì làm tốt đẹp, tình hình viện trợ từ các nước huynh đệ Cộng sản cũng không mấy khả quan vì có sự nứt rạn trong khối Cộng sản, do đó trong giới lãnh đạo Cộng sản tại Hà Nội có một số người ngả theo khuynh hướng hiếu hòa, sống chung hòa bình như lãnh tụ Liên Xô Nikita Khruschev đề nghị. Nếu chủ trương này được đa số ủy viên trong Ủy Ban Trung Ương ủng hộ thì vai trò của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ có thể bị lung lay, do đó nhóm này đã tấn công vào phe chủ hòa mà họ cho rằng một trong những người đại diện là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

Một thời gian ngắn sau khi Khruschev đọc bài diễn văn nổi tiếng tại Đại Hội XX, một biến cố vô cùng quan trọng tại Bắc Việt đã làm thay đổi vai trò lãnh đạo trong Đảng Lao Động: đó là sự thất bại của chiến dịch Cải cách Ruộng Đất và sau đó là vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Trước sự căm phẫn và bất mãn trong quảng đại quần chúng cũng như là đảng viên về sự tàn bạo, vô nhân đạo của cải cách ruộng đất theo khuôn mẫu Trung Hoa Cộng sản, vào tháng 10 năm 1956, Hồ Chí Minh đã phải đứng ra xin lỗi đồng bào và Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư đảng Lao Động.

Sau Hiệp Định Genève, Võ Nguyên Giáp được xem là Anh hùng Điện Biên Phủ và là người có nhiều uy tín nhất trong quânn đội, trong hàng ngũ đảng viên và trong quần chúng tại Bắc Việt, chỉ sau có Chủ Tịch Hồ Chí Minh mà thôi. Mọi người ai cũng đều tưởng rằng sau khi Trường Chinh từ chức thì ngôi vị tổng bí thư phải về tay Võ Nguyên Giáp, nhưng khi Hồ Chí Minh tuyên bố cử Lê Duẩn thay thế cho Trường Chinh thì cả miền Bắc đều chưng hửng, đa số không biết Lê Duẩn là ai vì Lê Duẩn hoạt động tại Nam Bộ từ 1945 và ngay sau Hiệp Định Genève thì lại bí mật nằm vùng ở lại miền Nam và chỉ ra Bắc khi được Hồ Chí Minh đề cử vào chức vụ này. Ngay cả sau khi được Hồ Chí Minh đề cử vào chức vụ Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động Việt Nam, Lê Duẩn vẫn lo ngại về cái uy thế và uy tín của Võ Nguyên Giáp trong quần chúng tại miền Bắc, trong Đảng và nhất là trong giới trí thức và quân đội. Lê Duẩn xem Võ Nguyên Giáp là một mối họa cho địa vị của ông ta và vì thế mà Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã tìm đủ mọi cách để hạ uy thế của Tướng Giáp.

Theo Vũ Thư Hiên thì sau khi Võ Nguyên Giáp bị thất sủng, theo những nguồn tin không chính thức, người ta mới biết rằng ông bị mất tín nhiệm vì cơ quan tổ chức của Đảng (dưới quyền Lê Đức Thọ) đã lục được trong thư khố của Pháp một lá đơn của cậu học sinh Võ Nguyên Giáp gửi quan Toàn Quyền Đông Dương xin học bổng du học với những lời lẽ quỵ lụy không thể chấp nhận được đối với người cách mạng.. . Ban Tổ chức Trung Ương không cần phân biệt cậu học trò Võ Nguyên Giáp với nhà cách mạng Võ Nguyên Giáp: Võ Nguyên Giáp rõ ràng tình nguyện làm tay sai cho thực dân. Đồn rằng nếu không chiếu cố tới công lao hãn mã của đại tướng từ thời kỳ còn bí mật, và đặc biệt trong chiến thắng Điện Biên Phủ thì Tướng Giáp đã bị lột lon và đuổi ngay khỏi Đảng.

Những người thạo chuyện cung đình nói rằng trong vụ này đã nhìn thấy móng vuốt của một nhân vật mới xuất hiện nhưng đã tỏ ra có bản lãnh cao cường là Lê Đức Thọ. ..

Tố cáo Võ Nguyên Giáp làm tay sai cho thực dân chưa đủ, phe Lê Duẩn còn liệt đại tướng họ Võ vào thành phần thân Nga Xô Viết, lúc đó bị xem như là thuộc vào thành phần chủ bại, chủ hòa: Tại nhiều cuộc nói chuyện với cán bộ, Lê Duẩn không bỏ lỡ dịp tốt nào mà không công kích quan điểm xét lại của một số đồng chí sa sút lập trường, sợ đụng đầu với bọn đế quốc quốc tế, làm nô lệ cho vũ khí luận, quên mất rằng yếu tố quyết định chiến tranh là sức mạnh chính nghĩa, là sức mạnh nhân dân.

Bùi Tín cũng cho biết thêm một vài chi tiết về việc Lê Duẩn coi thường và chê Võ Nguyên Giáp nhát như thỏ đế như sau:

Lúc sự kiện Vịnh Bắc Bộ diễn ra ngày 5 tháng 8 năm 1964, giữa Tổng Bí Thư Lê Duẩn và Bộ trưởng Quốc Phòng Võ Nguyên Giáp cũng xảy ra sự chống chọi nhau. Khi tình hình rất căng thẳng, trong một phiên họp Bộ Chính Trị, Chủ Tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cần chuẩn bị cho tốt để đối phó với tình hình. Nhưng ta không đánh trước. Nó đánh trước thì ta đánh trả ngay. Không để bị bất ngờ.

Tàu Mỹ cứ quanh quẩn ra vào khu vực các bờ 35 ki-lô-mét, chừng 20 hải lý. Tàu Maddox ẩn hiện trong khu vực ấy. Vì tàu Mỹ chưa vượt hẳn qua đường quy định hải phận quốc tế nên Tướng Giáp vẫn duy trì lệnh: Chưa đánh, chờ lệnh!

Cũng trong khi ấy, ông Lê Duẩn được báo cáo tình hình, liền ra lệnh thẳng cho Tổng Tham Mưu Trưởng Văn Tiến Dũng: Đánh! Được lệnh của Tổng Bí Thư, ông Dũng liền chuyển ngay lệnh ấy cho tư lệnh Hải Quân, Đô Đốc Giáp Văn Cương. Và tàu ta nổ súng. Trận ấy được báo cáo ngay về: ta bị chìm 2 chiếc tàu nhỏ, bị thương một tàu; phía địch bị thương một tàu. Sự kiện Vịnh Bắc Việt xảy ra như vậy.

Sau đó ông Lê Duẩn thường trách cứ ông Giáp nhằm hạ uy tín của đại tướng: Không dám tiến công địch, đánh giặc mà nhát như thỏ đế!

Sau đó, có nhiều tin đồn đại ở Hà Nội về chuyện Tổng Bí Thư Nikita Khruschev gửi thư riêng cho Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cũng như là tin đồn về một âm mưu đảo chánh do nhóm xét lại hiện đại chống đảng chủ trương với sự yểm trợ của Tòa Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội. Theo Vũ Thư Hiên thì Bây giờ ai cũng biết những người bị bắt trong vụ nhóm xét lại chống Đảng không hề có liên hệ gì với Tướng Giáp trong bất cứ mưu mô nào. Việc Lê Đức Thọ đính họ vào Tướng Giáp là sự ngụy tạo hòan toàn. Âm mưu đảo chánh không hề có. Thọ làm những việc đó chỉ để vu vạ cho Tướng Giáp, để hạ bệ Tướng Giáp, hẻ thù tiềm tàng, kẻ thù khả dĩ của Duẩn-Thọ mà thôi.

Trong âm mưu triệt hạ tướng Võ Nguyên Giáp và những người theo phe ủng hộ ông, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã thành công vì chẳng bao lâu sau đó thì Võ Nguyên Giáp được đưa sang Hung Gia Lợi chữa bệnh rồi sau đó viên đại tướng người hùng Điện Biên Phủ được giữ những chức vụ như Chủ Tịch Ủy Ban Kế Hoạch Gia Đình tức là lo về việc cai đẻ, Chủ tịch Hội Truyền Bá Quốc Ngữ v.v.

Sau khi loại được Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn trở thành nhân vật nắm trọn quyền lãnh đạo tại miền Bắc va theo đuổi chủ trương hiếu chiến, đẩy mạnh chiến tranh để giải phóng Miền Nam, theo đúng kế hoạch mà Duẩn đã hoạch định trong bản Đề Cương Giải phóng Miền Nam mà ông ta đã hoàn thành sau hai năm nằm vùng tại miền Nam. Trong giới đảng viên ở Hà Nội hồi đó, ai cũng biết rằng Lê Duẩn thuộc thành phần hiếu chiến. Vũ Thư Hiên nói rằng: Lê Duẩn thuộc loại người lớn lên nhờ chiến tranh. Không có chiến tranh, Lê Duẩn không còn là Lê Duẩn. Lê Duẩn chẳng ngần ngại chê bai Hồ Chí Minh không dám dùng bạo lực giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Bác còn do dự, chớ khi rời miền Nam tui đã chuẩn bị hết cả rồi. Với tui chỉ có uýnh thôi, uýnh cho tới thắng lợi cuối cùng.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 3528
Registration date : 01/04/2011

Phan Thanh Giản là người thế nào? - Page 2 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Phan Thanh Giản là người thế nào?   Phan Thanh Giản là người thế nào? - Page 2 I_icon13Fri 16 Aug 2019, 09:34

Thử Đi Tìm Nguyên Nhân Tại Sao Cụ Phan Thanh Giản Bị Cộng Sản Bắc Việt Kết Tội

Trần Đông Phong

Chuẩn Bị Cho Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa năm 1968?

            Mới đây, Giáo sư Nguyễn T. Liên Hằng, một sử gia trẻ tuổi người Việt Nam hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Kentucky ở Hoa Kỳ đã nghiên cứu rất nhiều tài liệu trong đó có các tài liệu từ các nước Xã Hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây để viết luận án tiến sĩ của cô tại Đại học Yale, nhan đề Giữa Những Cơn Bão: Lịch Sử Thế Giới về Chiến Tranh Việt Nam 1968-1973 và một phần của luận án này đã được đăng lại trong Journal of Vietnamese Studies tại Berkely số tháng 11 năm 2006. Trong bản luận án này, Tiến sĩ Liên Hằng Nguyễn đã đưa ra một vài khám phá mới về cuộc chiến tranh tại Việt Nam và một trong những khám phá đó là kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa tức là Kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân đã được hình thành từ đầu thập niên 1960.

Tiến sĩ  Liên Hằng Nguyễn cho biết rằng  ngay từ cuối thập niên 1950, trong nội bộ giới lãnh đạo đảng Lao Động tức là đảng Cộng sản Việt Nam đã chia thành hai phe: phe thứ nhất gồm có những người chủ trương tập trung mọi khả năng để xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, phe này còn được gọi là phe ôn hòa cũng chủ trương đánh bại miền Nam nhưng bằng chính trị, kinh tế và ngoại giao; trong khi đó thì phe thứ hai lại chủ trương cần phải dùng vũ lực song song với đấu tranh chính trị để thực hiện công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, do đó phe này được xem là phe chủ chiến.

Tiến sĩ Liên Hằng Nguyễn cho rằng những người theo phe ôn hòa trong Bộ Chính Trị gồm có Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp v.v. và một số đảng viên hoạt động tại miền Bắc, trong khi đó thì phe chủ chiến hay phe diều hâu thì có Lê Duẩn, tân Bí thư thứ Nhất của đảng Lao Động, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Trường Chinh, Trần Quốc Hoàn v.v. và những người ủng hộ nhóm này đa số là những đảng viên hoạt động tại miền Nam.

Tại Đại hội  lần thứ  3 của đảng Lao Động Việt Nam vào tháng 9 năm 1960 thì Hồ Chí Minh và các cấp lãnh đạo đảng đã chấp thuận kế hoạch về chiến tranh với sự thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng như là thông qua bản Quy chế của Đảng Lao Động Việt Nam cải tổ cơ cấu của Bộ Chính Trị cùng Ủy Ban Trung Ương Đảng dưới quyền của Lê Duẩn.  Theo bản quy chế mới này, Bộ Chính Trị  vẫn giữ vai trò lãnh đạo đảng, tuy nhiên nay thêm vào một tổ chức mới gọi là Ban Bí Thư gồm 7 thành viên để giúp cho Tổng Bí Thư Đảng trong việc điều hành văn phòng và giải quyết các vấn đề thường nhật cũng như là kiểm soát việc thực thi những quyết định của Bộ Chính Trị. Bảy nhân vật trong Ban Bí Thư này cũng có quyền hạn tương đương với 11 nhân vật trong Bộ Chính Trị và Lê Duẩn đã đề cử đa số những người từng hoạt động ở miền Nam vào Ban Bí Thư này như Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu.

Ngoài ra Lê Duẩn cũng đưa nhân vật số hai tại Nam Bộ là Lê Đức Thọ vào chức vụ Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng, một chức vụ không được xem là quan trọng trước đây do Lê Văn Lương cầm đầu.  Tuy nhiên sau khi nắm giữ chức vụ mới này, Lê Đức Thọ đã biến tổ chức này thành một cơ quan vô cùng quan trọng vì Ban Tổ Chức Đảng có quyền kiểm soát, bổ nhiệm, đề cử đảng viên vào những chức vụ chính trị và quan trọng nhất là thanh trừng đảng viên. Với chức vụ này, Lê Đức Thọ đã loại trừ một số đảng viên thuộc phe ôn hòa ra khỏi Đảng cũng như là bỏ tù một số đảng viên quan trọng như Vũ Đình Huỳnh, cựu bí thư của Hồ Chí Minh từ năm 1945, Thiếu Tướng Đặng Kim Giang, cựu tư lệnh phó tại Điện Biên Phủ, Hoàng Minh Chính, Viện trưởng Viện Triết Học Mác Xít, Hiệu trưởng Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc v.v. trong cái gọi là vụ án chống Đảng vào năm 1967.

Về mặt quân sự, Lê Duẩn đặt Tổng Cục Chính Trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam dưới quyền Tướng Nguyễn Chí Thanh với nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ các cấp chính ủy trong quân đội, đặt quân đội dưới quyền chỉ huy và lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nguyễn Chí Thanh được phong lên cấp đại tướng, ngang hàng với Võ Nguyên Giáp và không nằm dưới quyền Võ Nguyên Giáp.

Về mặt văn hóa tư tưởng, Lê Duẩn đặt Tố Hữu vào chức vụ Trưởng Ban Khoa Giáo và Tuyên Huấn Trung Ương với nhiệm vụ lãnh đạo giới văn nghệ sĩ và trí thức phải tuyệt đối trung thành với đường lối của Đảng. Tố Hữu là người trực tiếp lãnh đạo việc đàn áp các nhà trí thức và văn nghệ sĩ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm và một số nhà trí thức, văn nghệ sĩ đã bị bỏ tù.

Như vậy thì chỉ một thời gian ngắn sau khi được Hồ Chí Minh đề cử nắm giữ chức vụ Bí Thư thứ Nhất Đảng Lao Động Việt Nam, Lê Duẩn đã thành công trong việc củng cố quyền lực và sau đó áp đặt chủ trương đẩy mạnh chiến tranh để giải phóng miền Nam ngay từ cuối thập niên 1950. Tiến sĩ Liên Hằng Nguyễn nói rằng Phe Lê Duẩn đã đưa đến chiến lược lớn có hệ thống Tết Mậu Thân xoay qua ba thời điểm quan trọng sau đây: quyết định tiến tới chiến tranh vũ  lực ở miền Nam năm 1959-1960; quyết định bắt tay vào một cuộc chiến lớn hơn năm 1963-1964 và cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1967-1968.

Trong phần kết luận, Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng nói rằng: Được phác họa vào năm 1963 và hoàn chỉnh lại vào năm 1967, chiến dịch Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa tức là chiến dịch tổng tấn công Tết Mậu Thân nổ ra giữa tiếng pháo giao thừa đêm 31 tháng 1 năm 1968. Đợt đầu tiên là đáng kể nhất khi bộ đội chính quy  của Cộng sản Bắc Việt (người Mỹ gọi là NVA) kết hợp với các đơn vị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (người Mỹ gọi là VC) đã bất ngờ tấn công vào 36 thủ phủ, 5 thành phố và 64 tỉnh lỵ miền Nam. Thay vì châm ngòi cho các cuộc tổng nổi dậy ở các thành phố lớn ở miền Nam như (Cộng sản) dự tính, quân Cộng sản chỉ có thể cầm cự được ở cố đô Huế cho đến ngày 24 tháng 2 và đã để lại hậu quả vô cùng thảm khốc cho người dân Huế.

Như vậy thì mục đích của Lê Duẩn trong công cuộc thanh trừng các phần tử thuộc phe ôn hòa sau khi lên nắm giữ quyền lãnh đạo đảng Lao Động là nhằm vào việc đẩy mạnh đường lối cực đoan của ông ta, một đường lối hiếu chiến tuy không được đa số cán bộ lãnh đạo tại miền Bắc ủng hộ,  nhưng ông ta vốn là cựu Bí thư Đảng Ủy Trung Ương Cục Miền Nam, trong suốt thời gian 9 năm chiến tranh chống Pháp, cộng thêm hai năm nằm vùng sau Hiệp định Genève, cho nên trong thâm tâm Lê Duẩn vẫn nghĩ rằng đường lối đẩy mạnh chiến tranh là con đường đúng nhất, do đó ông đã quyết tâm loại bỏ những người thuộc phe ôn hòa  và ông ta đã thắng.

Kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa đã không còn gặp phải sự chống đối trong giới lãnh đạo đảng Lao Động và đã được đưa ra thực hiện tại miền Nam vào đầu năm 1968.

Khrushchev: Những Phần Tử Thân-Trung Cộng Đang Lãnh Đạo Việt Nam

Nikita Khrushchev, Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản và Thủ tướng Liên bang Xô-viết  từ năm 1958 đến năm 1964 có viết trong hồi ký Khrushchev Remembers của ông rằng trong giai đoạn cuối cùng tại Hội Nghị Các Đảng Cộng Sản và Lao Động Quốc Tế vào năm 1960 tại Mạc Tư Khoa, tất cả mọi phái đoàn đều đồng ý ký kết một bản tuyên ngôn chung tuy nhiên có một điều khoản mà riêng phái đoàn Trung Cộng nhất định không chấp nhận. Phiá Liên Xô cũng không chịu nhượng bộ Trung Cộng vì họ xem đó là một vấn đề nguyên tắc, do đó họ không chịu thoả hiệp. Khruschev nói rằng:

Hồ Chí Minh đến gặp tôi và nói: Đồng chí Khruschev, ông phải nhượng bộ Trung Cộng về điểm này. Tôi hỏi lại: Làm sao mà chúng tôi nhượng bộ được? Đây là một vấn đề nguyên tắc.Hồ Chí Minh nói: Trung Hoa là một nước rất lớn với một đảng Cộng sản rất lớn. Tôi nói: Đồng chí Hồ Chí Minh, phái đoàn Liên Xô đang dùng hết mọi nổ lực để bảo tồn sự đoàn kết trong phong trào Cộng sản thế giới. Đồng chí cũng hiểu rằng chúng tôi không thể nào nhượng bộ về vấn đề nguyên tắc.  Đường lối của Trung Cộng đi ngược lại cả thế giới Cộng sản, nếu nhượng bộ thì cục diện sẽ đi về đâu? Đồng chí nói rằng Trung Hoa là một nước lớn, đảng Cộng sản Trung Hoa là một đảng lớn, nhưng chắc đồng chí cũng phải đồng ý rằng Liên Xô không phải là một nước nhỏ và đảng Cộng sản Liên Xô cũng không phải là một đảng Cộng sản nhỏ.

Hồ Chí Minh đồng ý với tôi nhưng mà ông ta nói thêm đối với chúng tôi thì thật là khó khăn gấp hai lần. Đồng chí đừng quên rằng Trung Hoa là nước láng giềng của chúng tôi.

Sau khi nói chuyện với tôi, Hồ Chí Minh đi gặp đại diện của Trung Cộng cũng như những đại diện Cộng sản khác và sau cùng thì tất cả đã đạt được một thỏa hiệp mà cả hai phái đoàn Liên Xô cùng Trung Cộng đều chấp thuận ký vào bản tuyên ngôn mà không phe nào bị mất mặt.

Tôi rất buồn phiền khi Trung Cộng đã cắt đứt mọi liên lạc trong sự cộng tác chính trị với Liên Xô. Khi mà sự đổ vỡ giữa hai đảng Cộng sản Trung Hoa và Liên Xô không còn che giấu được nữa, Trung Cộng đã xỏ mũi đảng Lao Động Việt Nam. Trung Cộng đã sử dụng ảnh hưởng rất mạnh của họ để gây nên những xích mích giữa Việt Nam và Liên Bang Xô Viết và đã hướng dẫn Đảng Cộng sản Việt Nam chống lại Đảng Cộng sản Liên Xô.

Một số các chức vụ trong giới lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam lúc đó đều do các đồng chí thân-Trung Cộng nắm giữ. Trong khi mà Liên Xô đang cố gắng làm tất cả những điều có thể làm để giúp cho Việt Nam thì những phần tử thân-Trung Cộng trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam lại làm tất cả những gì họ có thể làm để  làm hài lòng Trung Cộng. Nói một cách khác, giới lãnh đạo Việt Nam đã làm những điều không những để chống lại Liên Xô mà còn chống lại những quyền lợi tốt đẹp nhất cho Việt Nam nữa.

Theo báo chí thì dường như mối liên hệ giữa Việt Nam với Liên Xô có vẻ như là rất tốt đẹp. Nhưng mà có một số tin tức tôi nhận được cho thấy rằng thực ra  thì mọi sự không có trôi chảy như báo chí và tryền hình mô tả.

Theo tin tức của tôi thì phiá Cộng sản Việt Nam đang có những đường lối dè dặt khó hiểu đối với chính phủ và Đảng Cộng sản Liên Bang Xô Viết. Điều này có nghiã là vẫn còn có một số phần tử thân-Trung Cộng trong chính phủ cũng như là giới lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam. Ngoài mặt thì có vẻ như là vẫn đang có những mối liên hệ thân hữu và sự thông cảm hổ tương giưã Việt Nam và Liên-Xô nhưng rất có thể đó chỉ là cái tiền diện do giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam dựng lên, có thể là với sự cho phép của ngay cả đàn anh Trung Cộng, nhằm mục đích là không để cho mất sự viện trợ của Liên Xô và khối các đảng Cộng sản huynh đệ. Tôi thật tình hy vọng rằng điều này không đúng tuy nhiên tôi vẫn nghĩ rằng chuyện đó có thể có thật. Tôi muốn tin rằng Việt Nam thực sự muốn có những mối liên hệ tốt đẹp với Liên Xô, nhưng tôi không tin rằng Trung Cộng lại cho phép Việt Nam thoát ra khỏi những nanh vuốt của họ và những phần tử thân-Trung Cộng vẫn còn tiếp tục nắm giữ quyền lãnh đạo tại Việt Nam. Trung Cộng sẽ làm tất cả những điều gì họ có thể làm được để cho Việt Nam phải lệ thuộc vào Trung Cộng….


Khruschev nhận xét rằng Hồ Chí Minh đã đầu tư rất nhiều ý tưởng cũng như là năng lực để đẩy mạnh tình thân hữu giưã quốc gia của ông với Liên Bang Xô Viết.

Điều đó có nghĩa là theo Khruschev, Hồ Chí Minh thân với Liên Xô nhưng ông ta cũng e dè Trung Cộng vì nước này là một đại cường ở sát nách Việt Nam.

           Khruschev lên lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1953 rồi kiêm luôn chức vụ thủ tướng chính phủ từ năm 1958, như vậy thì ông là người có quyền lực cao nhất tại Liên Xô cho đến khi ông bị Brezhnev hạ bệ vào năm 1964. Thời gian Khruschev nắm quyền cũng là thời gian ông Hồ Chí Minh nắm giữ những chức vụ và quyền lực cao nhất tại Việt Nam và với những phúc trình, những báo cáo do các sứ quán, do các cơ quan tình báo như KGB hay GRU của Liên Xô tại Bắc Kinh và Hà Nội gửi về, Tổng Bí Thư kiêm Thủ Tướng Nikita Khruschev tất nhiên phải hiểu rõ tình hình tại Bắc Việt hơn ai hết. Như vậy, dù biết rằng Hồ Chí Minh muốn đẩy mạnh tình thân hữu giữa Việt Nam và Liên Xô nhưng Khruschev vẫn nói rằng những phần tử thân-Trung Cộng vẫn còn tiếp tục nắm giữ quyền lãnh đạo tại Việt Nam, điều đó có nghĩa là theo Khruschev, cho đến khi ông bị mất chức vào tháng 12 năm 1964, ông Hồ Chí Minh không hoàn toàn nắm quyền lãnh đạo ở Bắc Việt, có nghĩa là nếu như không bị mất quyền thì ít ra Hồ Chí Minh cũng đã phải chia xẻ quyền lực với nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Tho, Trần Quốc Hoàn.

Cán Binh Nam Bộ Tập Kết Làm Loạn Tại Miền Bắc

Những người miềân Nam bị tập kết ra Bắc Việt vào năm 1954 và 1955 đều được Đảng hứa hẹn rằng sau hai năm, tức là đến tháng 7 năm 1956, thì sẽ có cuộc bầu cử theo Hiệp Định Genève và họ sẽ được trở về Nam Bộ. Nhưng sau tháng 7 năm 1956 thì cũng chẳng thấy bầu cử diễn ra và đến Tết năm 1957 thì rất đông đảo người miền Nam tập kết đã vô cùng thất vọng, vô cùng bất mãn và họ đã có những thái độ và hành động rất tiêu cực đối với Đảng và Nhà Nước, có nơi đã xảy ra những cuộc chống đối, nổi loạn và Nhà Nước đã phải sử dụng đến võ lực để dẹp tan những vụ nổi loạn này.

Ngoài ra cũng còn có một nguyên nhân khác nữa, đó là vấn đề đạo đức cách mạng. Ông Bùi Tín cho biết như sau: Tại Đại Hội Đảng lần thứ 3 (cuối năm 1960,) một số đại biểu ở các tổ chất vấn về chuyện Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lấy thêm vợ. Đây là các cán bộ tập kết từ miền Nam ra, rất muốn lấy vợ ở miền Bắc mà bị cấm, vì không liên lạc với gia đình ở miền Nam, do đó không có chứng cớ đầy đủ là vợ đã chết hoặc đã lấy chồng khác. Nếu cứ làm bừa thì họ sẽ bị kết tội vi phạm kỷ luật đảng, đạo đức xấu, hủ hóa có hệ thống, rất có thể bị khai trừ ra khỏi Đảng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh phải lên tiếng, thanh minh cho cả hai vị này rằng: Chuyện các chú ấy có hai bà là có thật, vợ cả, vợ hai, đều là vợ cả, nhưng các chú ấy đã làm chuyện này trước khi có luật hôn nhân và gia đình, cho nên xí xóa. Từ nay có luật rồi mới cấm thật sự.

Nhiều đại biểu vẫn không thông, cho rằng có hai thước đo về kỷ luật, về đạo đức: một cho trên và một cho dưới!

Như vậy, ngoài nguyên nhân không được trở về quê hương miền Nam sau hai năm như bộ máy tuyên truyền của Đảng vẫn hứa hẹn, ngoài nguyên nhân bị Đảng cấm không cho cán bộ miền Nam tập kết lấy vợ miền Bắc, một chuyện mà gần như hầu hết cán bộ cao cấp người miền Bắc được tự do và công khai làm tại miền Nam hồi kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Vy Thanh cũng có cho biết thêm về vấn đề này:

Mùa Xuân năm 1951, cán bộ Khu ủy 9 đồn rùm: vừa ổn định xong, Ban Tổ chức Đảng Trung Ương Cục Miền Nam có quyết định rất lạ: đồng chí lãnh đạo có công tác ở xa nhà hơn 300 cây số được quyền cưới vợ hai.

Liền sau đó mọi người thấy bác  Ba Duẩn đi cưới một cán bộ phụ nữ tên Nga ở Rạch Giá, bác Sáu Thọ cũng có thêm bà Hai sau hôm ăn chay đụng làm sập mùng cô học sinh hoa khôi trường Trung học Khu 9, Chính ủy Khu 9 Phan Trọng Tuệ lấy vợ hai tên Xuân, nữ  cán bộ trinh sát ở Bình Thủy, Cần Thơ.. .


Nhà văn Xuân Vũ, một người miền Nam tập kết ra Bắc vào năm 1954-1955 và đã sống ở miền Bắc trong hơn 10 năm trước khi đi B tức là lên đường vào giải phóng miền Nam, tuy nhiên khi vào đến miền Nam thì ông rời bỏ hàng ngũ Cộng sản và đã sáng tác rất nhiều tác phẩm lột trần bộ mặt thật của chế độ Cộng sản Hà Nội. Trong cuốn Cách Mạng Tháng 8, Cha Đẻ của Còng Số 8, ông Xuân Vũ có cho biết về tình hình những người Nam Bộ tập kết tại miền Bắc như sau:

Thời năm 1956-1958, xã hội miền Bắc như một chảo dầu sôi, nơi thì dân Nam Bộ tập kết bất mãn bỏ cơ quan đi, nơi thì thương binh Nam Bộ nổi dậy đánh chính quyền, chỗ thì học sinh miền Nam đụng súng với du kích, cán bộ địa phương. Có cả một đoàn sĩ quan Nam Bộ điều dưỡng tại Sầm Sơn kéo nhau về Nam, một anh hùng quân đội, Nguyễn Văn Song, trốn đi về Nam đơn vị không tìm lại được. Trong khi đó thì trung tá Phan Thanh Nhàn, người Bến Tre, bị hạ ngục vì mắc tội Ban Chữa Cháy Trung Ương để ứng phó với tình thế. Có nghiã là nơi nào nổi dậy, làm loạn thì ban chưã cháy phải đến, cái Ban đó có Nguyễn Trấn đứng một chân vì ông ta là bậc trưởng thượng của dân Nam Kỳ nên tiếng nói của ông ta có tác dụng của những trận mưa dội xuống những đám cháy mới bốc.. .

Những tên Nam Kỳ suốt 9 năm thờ lạy hung thần hang Pắc-Bó, bây giờ ra đất Bắc mới hiểu cái thắng lợi Điện Biên Phủ là cái gì. Nhiều tên thối chí chửi quá sức tưởng tượng và chui xuống tàu Arkhangels hoặc Starvoropol  để trở về Nam sau khi đặt chân lên đất Bắc chỉ có một ngày….

Ra Bắc rồi trắng con mắt ra. Đám dân Nam Kỳ được coi như những con heo thiếu vú, tức là con nái sề Hồ có hai cái vú thôi nhưng có ba đứa con. Con của mụ là Bắc và Trung đã ngoạm hết rồi, cho nên thằng Nam đành ngơ mõ lợn đứng dòm người anh em bú. Tôi nói không sai và cũng không có thêm thắt. Dân Liên khu Nem (Năm) được ưu đãi hơn dân Nam Cờ.


Nổi tiếng nhất hồi đó là vụ Ninh Bình: một số cán binh Nam Bộ tập kết vì bị cán bộ địa phương đối xử bất công nên đã nổi loạn, bắt giữ bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh và trưởng ty Công an Ninh Bình làm con tin. Cộng sản Hà Nội phải cho triệu Tướng Tô Ký về để giàn xếp. Vào tháng 8 năm 1945, Tô Ký chỉ là một cán bộ tầm thường không có gì xuất sắc nhưng nhờ được Nguyễn Văn Trấn giao cho nhiệm vụ truy lùng và thủ tiêu những nhà trí thức không theo Việt Minh và trong khoảng từ cuối tháng 9 đến tháng 10 năm 1945, Tô Ký  đã chỉ huy việc thủ tiêu hàng ngàn người trí thức tại vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Nhờ vào thành tích này, trước năm 1954, Tô Ký được Cộng sản phong làm Sư trưởng kiêm Chính ủy Sư đoàn 330 ở Nam Bộ, khi tập kết ra Bắc được phong quân hàm thiếu tướng rồi được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân Khu Tả Ngạn. Tô Ký là người được các anh em bộ đội tập kết thương yêu và kính trọng vì ông ta đối xử với đàn em rất bình dân như người Nam Kỳ, ông thường ra lệnh cho lính tráng gọi ông là anh Ba thay vì thiếu tướng như những người khác.

Khi Tô Ký đến Ninh Bình, ông đến gặp những người nổi loạn và thuyết phục họ ra đầu hàng, ông cũng hưá hẹn là Đảng và Nhà Nước sẽ khoan hồng và sẽ cứu xét thỏa đáng những điều khiếu nại của họ. Trong khi những người Nam Bộ tập kết này đang tập họp để chờ đợi anh ba Tô Ký điều đình với Đảng ở Hà Nội thì Tướng Phùng Thế Tài, Tổng Tham mưu Phó kiêm Tư Lệnh Phòng không của Không Quân Bắc Việt, một viên tướng được mệnh danh là tướng cao bồi của quân đội miền Bắc, đến Ninh Bình và đã ra lệnh cho bộ đội của ông ta mang tất cả những người miền Nam tập kết nổi loạn ra bắn bỏ tại bờ sông Đoan Vỹ tại Phủ Lý. Tướng Tô Ký đã nổi giận về việc giết người của Phùng Thế Tài và đã kiện lên Bộ Chính Trị về vụ sát nhân này nhưng Bộ Chính Trị lại ra mặt bênh vực Phùng Thế Tài vì Tài là một người thân tín của Hồ Chí Minh, đã từng làm cận vệ cho Hồ Chí Minh từ tháng 2 năm 1940 cho tới tháng 8 năm 1945, do đó Bộ Chính Trị đã quyết định rằng đó là một hành động chính đáng để đối phó với những phần tử vô kỷ  luật. Sau vụ này, đa số dân Nam Bộ tập kết đều vô cùng bất mãn và chính quyền Hà Nội phải ra lệnh cho đưa họ đi lên những nơi xa xôi trên vùng mạn ngược.

(còn tiếp)
Về Đầu Trang Go down
 
Phan Thanh Giản là người thế nào?
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Lịch Sử-