Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
HỎI ANH LẦN CUỐI ! by NGUYÊNHOANG Yesterday at 22:05

Cách Làm Thịt Quay Chay by mytutru Yesterday at 22:04

KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI - VŨ ĐỨC SAO BIỂN by Trăng Yesterday at 15:37

Sưu tập Bộ cánh vẩy 2 by buixuanphuong09 Yesterday at 13:55

QUÊ HƯƠNG TÔI by Hoa mộc Yesterday at 13:31

Tứ Diệu Đế by Hoa mộc Yesterday at 13:22

Qua thời gian by Hoàng Phong Yesterday at 13:18

Những giao tiếp chuyển đổi giữa cái cũ và cái mới trong thơ Đường luật Quách Tấn - Trần Thị Lệ Thanh by Trà Mi Yesterday at 13:10

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 12:08

Chiện bấm lỗ tai by Trà Mi Yesterday at 11:45

Thằng người gỗ - Carlo Collodi by Trà Mi Yesterday at 11:05

MỪNG NGÀY SINH LẦN 81 by buixuanphuong09 Yesterday at 10:27

Còn quậy chưa "về" by buixuanphuong09 Yesterday at 10:16

Phát hiện lợi ích của việc trở thành "mọt sách" by Trà Mi Yesterday at 08:55

CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Yesterday at 08:40

Thơ họa ở ngoài mang về góp vui by buixuanphuong09 Yesterday at 08:06

BẼ BÀNG by Phương Nguyên Tue 25 Jun 2019, 20:44

Lụi Thịt Thịt Lụi Chay by Trăng Tue 25 Jun 2019, 18:35

Cánh gà mạ vàng 24k by vieticgcorp Tue 25 Jun 2019, 17:37

TẬP TÀNH TRANH THƠ by Trăng Tue 25 Jun 2019, 12:54

ÐÔI MẮT NGỌC by BachVanNhi Tue 25 Jun 2019, 01:19

THƠ HUỲNH KIM NHÂN by HUỲNH KIM NHÂN Mon 24 Jun 2019, 18:50

DUYÊN TÌNH by nguoidienviyeunguoi Mon 24 Jun 2019, 10:30

Ba Tê Chay by mytutru Mon 24 Jun 2019, 06:39

Chút tâm tư by tâm an Mon 24 Jun 2019, 05:21

THƠ (Hoa Mộc) by Hoa mộc Sun 23 Jun 2019, 16:44

Chuyên gia phong thủy hướng dẫn chọn số hợp tuổi Bính Tý 1996 by Ngocdung368 Sun 23 Jun 2019, 16:30

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Sun 23 Jun 2019, 08:25

NẾU by Phương Nguyên Sat 22 Jun 2019, 20:54

Những Đoá Từ Tâm by Việt Đường Sat 22 Jun 2019, 20:18

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Tứ Diệu Đế

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
mytutru

mytutru

Tổng số bài gửi : 8691
Registration date : 08/08/2009

Tứ Diệu Đế  Empty
Bài gửiTiêu đề: Tứ Diệu Đế    Tứ Diệu Đế  I_icon13Yesterday at 10:29

hôm nay chúng ta lại tiếp tục thảo luận cùng nhau về Tứ Đế, phần sắc uẩn.
trước khi tiếp tục phần sắc cảnh, xin nhắc lại đại ý nội dung hôm trước.
Năm sắc thần kinh này là chỗ nương cho năm thức. Nói dễ hiểu, sắc nhãn là chỗ nương cho nhãn thức nên còn gọi là nhãn vật. Cũng như vậy đối với bốn sắc thần kinh còn lại.
Sắc thần kinh là chỗ nương của thức. Sắc thần kinh có hai dạng: thực tính và cụ thể. Thực tính có nghĩa là luôn bị biến đổi bởi cứng-mềm, nóng-lạnh, v.v… Hay còn gọi là phần nhạy cảm của sắc thần kinh. Cụ thể là tướng sắc thần kinh mà mắt thường có thể nhìn thấy, nên còn gọi là mắt thịt, mũi thịt, lưỡi thịt, tai thịt, thân thể. Sắc thần kinh chỉ làm việc là tiếp nhận đối tượng (sắc-thinh-khí-vị-xúc), còn nhận biết đối tượng (sắc-thinh-khí-vị-xúc) đó là thế nào là phận sự của thức. Ý giới, ý thức giới thuộc về danh pháp. Và chỗ nương của ý giới là sắc ý vật.
Ngoài sắc thần kinh, thức sanh lên còn phụ thuộc những yếu tố khác:
Nhãn thức: thần kinh nhãn – sắc (đầy đủ tứ đại) – ánh sáng – ngũ môn hướng tâm.
Nhĩ thức: thần kinh nhĩ – âm thanh (đầy đủ tứ đại)– lỗ trống – ngũ môn hướng tâm.
Tỷ thức: thần kinh tỷ – mùi khí (đầy đủ tứ đại) – rỗng không – ngũ môn hướng tâm.
Thiệt thức: thần kinh thiệt – vị chất (đầy đủ tứ đại) – nước bọt – rỗng không – ngũ môn hướng tâm.
Thân thức: thần kinh thân – đối tượng xúc chạm (đất-lửa-gió) – ngũ môn hướng tâm.
Và như vậy, trong sắc thần kinh không có yếu tố nào gọi là tuệ căn hay ý tưởng.
Chúng ta sang nhóm 2: sắc cảnh
sắc cảnh: chúng là 5 cảnh được tiếp thâu bởi năm sắc thần kinh và thường bị nhận biết bởi 5 thức, gồm sắc cảnh sắc, sắc cảnh thinh, sắc cảnh vị, sắc cảnh khí, sắc cảnh xúc. trong đó, cảnh xúc gồm có 3. Nên sắc cảnh nói rộng có 7.
-    Sắc cảnh sắc: là nơi tiến hành của nhãn thức, để cho nhãn thức nhận biết, hiện tượng các vật có hình thức. tên gọi khác: sắc, sắc xứ, sắc giới. Ý nghĩa của sắc cảnh sắc:
o    Đặc tính (trạng thái): đối chiếu với nhãn căn.
o    Phận sự: làm cảnh cho nhãn thức
o    Sự hiện có mặt: vật thực hay chỗ dạo của nhãn thức
o    Nhân gần: có sắc tứ đại hiển
sắc cảnh sắc, theo tài liệu "Cẩm nang nghiên cứu Thắng pháp" của ngài U Silananda, Pháp Triều biên dịch, còn có nghĩa là "nơi người thường dạo".
"nơi người thường dạo" ở đây có thể hiểu là đối tượng bên ngoài (hay còn gọi là ngoại phần) luôn là nơi chúng ta dính mắc, thường tới lui.
Đặc tính (trạng thái) của sắc cảnh sắc là "đối chiếu với nhãn căn". Có thể hiểu, trạng thái của sắc cảnh sắc là đối tượng tiếp thu của nhãn căn (thần kinh mắt).
Phận sự của sắc cảnh sắc là làm cảnh cho nhãn thức. cảnh ở đây được hiểu là đối tượng. Vì vậy, sắc cảnh sắc có phận sự là làm đối tượng cho nhãn căn (thần kinh mắt).
Sự hiện có mặt có thể hiểu là sự thành tựu của sắc cảnh sắc khi sắc cảnh sắc trở thành vật thực hay chỗ dạo của nhãn thức.
"Nhân gần: có sắc tứ đại hiển", cũng vậy, nhân đưa đến phát sinh sắc cảnh sắc có nhiều, nhưng cái làm nền tảng là sắc tứ đại hiển.
Có điều xin lưu ý, sắc đại hiển không sinh ra sắc y sinh. Hay nói cách khác, sắc y sinh không được sinh ra từ sắc tứ đại. Sắc y sinh chỉ phụ thuộc vào sắc đại hiển để hiện hữu. Ví như cái nhà. Chúng ta nương cái nhà để ở, che mưa che nắng và để tồn tại. Nhưng cái nhà không phải là cái sinh ra chúng ta.
Sắc cảnh thinh: là âm thanh phát ra, âm thanh bị nhĩ thức biết. Sắc này làm cho nhĩ thức tiến hóa. Tên gọi khác: thinh, thinh xứ, thinh giới. Ý nghĩa của sắc cảnh thinh:
o    Đặc tính (trạng thái): đối chiếu với nhĩ căn
o    Phận sự: làm cảnh cho nhĩ thức
o    Sự hiện có mặt: vật thực hay chỗ dạo của nhĩ thức
o    Nhân gần: có sắc tứ đại hiển
ý nghĩa "vật thực" ở đây được hiểu là chỗ nương nhờ.
Sắc cảnh khí: là các mùi bị tỷ thức nhận biết, cách báo tương tự cho biết vật là gì, là chỗ tiến hóa của tỷ thức. tên gọi khác: khí, khí xứ, khí giới. Ý nghĩa của sắc cảnh khí:
o    Đặc tính (trạng thái): đối chiếu tỷ căn
o    Phận sự: cho tỷ thức nương
o    Sự hiện có mặt: vật thực hay chỗ dạo của tỷ thức
o    Nhân gần: có sắc tứ đại hiển
Sắc cảnh vị: là các vị bị thiệt thức nhận biết, là nơi tiến hóa của thiệt thức. tên gọi khác: vị, vị xứ, vị giới. Ý nghĩa của sắc cảnh vị:
o    Đặc tính (trạng thái): cách đối chiếu với thiệt căn
o    Phận sự: làm cảnh cho thiệt thức
o    Sự hiện có mặt: vật thực hay chỗ dạo của thiệt thức
o    Nhân gần: có sắc tứ đại hiển
Sắc cảnh xúc: là sự xúc chạm (đất – lửa – gió), là cứng-mềm-thẳng-chùng-nóng-lạnh, là những chất bị đụng, bị thân thức biết, làm cho thân thức tiến hóa. Nước có bản thể rất tế nhị nên không phải là đối tượng xúc chạm của thân căn. Tên gọi khác: xúc, xúc xứ, xúc giới. Ý nghĩa của sắc cảnh xúc là theo ý nghĩa của sắc đất, sắc lửa và sắc gió.
Lưu ý: sắc cảnh sắc, sắc cảnh thinh, sắc cảnh khí, sắc cảnh vị, sắc cảnh xúc gom chung gọi là sắc cảnh (hay sắc dạo), vì:
•    Nhiều bò dạo đi nơi ấy, nên chỗ ấy được gọi là bò dạo
•    Chỗ có nhiều bò dạo đi, cũng như sắc nào làm cho tâm-tâm sở có sự đối chiếu
•    Nơi du hành của lục căn.
chúng ta sang nhóm 3: sắc tính.
sắc tính có 2: sắc tính nam và sắc tính nữ
-    Sắc tính nam: là sắc có biểu hiện cứng cỏi và lan tỏa khắp thân thể người nam, có cách thức nam (cử chỉ-hành động-lời nói-tướng đi-nhũ-dương vật). Nói cách khác, những cách nào thuộc về phần nam như nam căn; tướng nam; thân phần nam; thái độ nam; nết hạnh nam; hành động theo cách người nam, được gọi là sắc tính nam. Sắc tính nam khác sắc tính nữ ở 4 điểm (nam căn-nữ căn, hình tướng kệch cõm-yểu điệu, tính nết hùng dũng-nhu mì, hành động cứng cỏi-yếu ớt). Tên gọi khác: sắc nam quyền. Ý nghĩa của sắc tính nam:
o    Đặc tính (trạng thái): tư cách nam
o    Phận sự: bày ra cách người nam
o    Sự hiện có mặt: nam căn; tướng nam; thân phần nam; thái độ nam; nết hạnh nam; hành động theo cách người nam
o    Nhân gần: có sắc tứ đại hiển
-    Sắc tính nữ: là sắc có biểu hiện nhu mì và lan tỏa khắp thân thể người nữ, có cách thức nữ tính (cử chỉ-hành động-lời nói-tướng đi-nhũ-âm nang). Nói cách khác, những cách nào thuộc về phần nữ như là nữ căn, tướng nữ, thân nữ, thái độ nữ, nết hạnh nữ, hành động theo cách người nữ, được gọi là sắc tính nữ. Tên gọi khác: sắc nữ quyền. Ý nghĩa của sắc tính nữ:
o    Đặc tính (trạng thái): khuôn khổ nữ
o    Phận sự: trình bày cách nữ
o    Sự hiện có mặt: có nữ căn, tướng nữ, thân nữ, thái độ nữ, nết hạnh nữ, hành động theo cách người nữ
o    Nhân gần: có sắc tứ đại hiển
Mô Phật thưa cô cho con hỏi đặc tính của sắc tính nữ, cô giảng rõ cho con hiểu đc k.
"khuôn khổ nữ" có nghĩa: những cách nào thuộc về phần nữ như là nữ căn, tướng nữ, thân nữ, thái độ nữ, nết hạnh nữ, hành động theo cách người nữ
nói cách khác, có 6 điểm để có thể y cứ vào đó mà xác định tính nữ: hành động, phong cách, tướng đi, giọng nói, nhũ và âm nang.
trong 6 điểm này, hành động, phong cách, tướng đi, giọng nói, nhũ thì có thể dễ nhận ra
điều này cần hiểu, theo phép chế định của thế gian, đàn ông phải có thân tương vạm vỡ, giọng nói cứng, tướng đi mạnh mẽ, không có nhũ như người nữ. Nhưng đó là tướng nam theo chế định của thế gian. Nếu theo sắc tính, thì sắc tính nữ và sắc tính nam có thể có trên một thân thể. và đó là do nghiệp tạo.
Vậy có phải chính nghiệp tạo nên giới tính thứ 3 ko thưa SC?
nếu ngồi quay lưng với một người, bạn chỉ cần nghe giọng nói thì có thể đoán họ có sắc tính nào. và nếu nhìn tướng đi, phong cách của họ, bạn cũng có thể đoán ra sắc tính thành tựu trên người đó.
nói theo pháp, chỉ có 2 tính: sắc tính nam và sắc tính nữ. cách gọi "giới tính thứ ba" là theo chế định của thế gian.
Có nhiều dạng liên quan đến sự thay đổi giới tính hoặc giới tính không phù hợp thân tướng.
-    Āsitapaṇḍaka: thích hành dâm bằng đường miệng
-    Usūyapaṇḍaka: thích thị dâm, khi dòm đối phương thì trong lòng nhộn nhạo
-    Opakkamikapaṇḍaka: người bị thiến
-    Pakkhapaṇḍaka: tính tình bán nguyệt (nửa tháng tính nam, nửa tháng tính nữ)
-    Napuusakapaṇḍaka: sinh ra đã trái tính.
đây là 5 hạng người Pandaka, có nghĩa là họ sẽ không được xuất gia. Và trong số 5 hạng người này có những người bị thiến, tính tình bán nguyệt và sinh ra đã trái tính, có thể gọi là có sắc tính nam và sắc tính nữ. Nhưng xin lưu ý, cả hai sắc tính này không đồng thời hiện hữu.
và đây là do nghiệp
có người, nghiệp cho quả ngay khi còn trong lòng mẹ, có người thì nghiệp cho quả khi đã sinh ra và trưởng thành, có người nghiệp cho quả khi tuổi đã xế chiều.
nên có trường hợp muốn thay đổi giới tính khi còn bé, có trường hợp thay đổi giới tính tuổi thành niên, có trường hợp thay đổi giới tính sau khi đã thành thân.
trước đây, khi chưa học pháp đúng, con cũng từng khen thầy mình có "Tăng tướng". Bây giờ có học rồi, không dám nói như vậy nữa. và nếu ai khen con "Tăng tướng" con cũng không dám nhận.
Vậy phải làm ntn để thoát được cái nghiệp đó vậy cô
Đôi khi vì hoàn cảnh, vì môi trường sống, hay là theo phong trào họ sống theo lối sống đó
nghiệp cho quả rồi thì làm sao thay đổi hay thoát được.
MChỉ là bản thân phải nhận biết như vậy và không nên xuất gia, chỉ nên tinh cần giữ năm giới, làm phước thiện và nguyện đời sau được xuất gia.
Vậy mình là nữ thì sống đúng với khuôn khổ nữ . Không nên thể hiện mạnh mẽ như tướng nam đúng ko cô
Nếu trước đó ko có, nhưng sau khi xuất gia rồi mới có thì phải làm sao thưa cô
nói rằng theo phong trào, nhưng thực sự bản thân người đó cũng có nhân này rồi nên có thể tiếp nhận và làm theo.
Dạ đúng rồi.
theo con biết, bên Nam tông, nếu phát hiện bản thân là vậy, đương sự sẽ chủ động hoàn tục, hoặc người thầy tế độ sẽ nhắc nhở còn đương sự có hoàn tục hay không thì hoàn toàn là quyền của họ. nhưng nếu tiếp tục, họ cũng là tu không thành tựu, và còn phạm vào tội trộm.
Con thấy nhiều người nữ khi bị nói là yếu đuối . Họ trở nên mạnh mẽ cứng rắn hơn vậy thì có dc gọi là đổi sắc tương ko thưa cô
theo con, chữ "cứng rắn" trong suy nghĩ, dứt khoát trong hành động, nó không hoàn toàn thuộc tính nam.
yếu đuối là ” thiếu hẳn sức mạnh thể chất hoặc tinh thần, khó có thể chịu đựng được khó khăn, thử thách.
cái yếu của tính nữ là thuộc về thể chất.
dù cố gắng thế nào, chúng ta vẫn phải nhìn nhận đúng về sự khác biệt năng lực của người nữ và người nam.
ở đây là trên bình diện rộng và nhận thức của số đông.
còn nói thay đổi bề ngoài mạnh mẽ để khỏa lắp đi cái yếu đuối bên trong, thì chúng ta đã rõ.
ở đây, con chỉ xin nêu về quả của sự kiêng tránh tà hạnh. Trong 20 quả ấy, có một quá có nội dung "khó làm thân người nữ". Nói dễ hiểu, người đã kiêng tránh tà hạnh thì họ khó tục sinh làm người nữ.
chỉ xin các thành viên xem kỹ lại nội dung của sắc tính nam và sắc tính nữ. Y cứ vào đó để hiểu, tránh trường hợp bàn luận theo quan kiến cá nhân, sẽ đi xa pháp.
Nhóm 4: sắc ý vật
-    Sắc ý vật: là sắc lan tỏa trong máu bên trong trái tim, là nơi nương tựa của tâm-ý-thức. Sắc ý vật có hàng tỷ lan tỏa trong máu và có kích thước bằng 1/7 nước đọng đầu kim.
Chúng sanh nhờ sắc nào làm việc (lợi ích-không lợi ích), sắc đó gọi là sắc ý vật.
trở lại phần năm sắc thần kinh. thần kinh nhãn là chỗ nương của nhãn thức nên thần kinh nhãn còn gọi là nhãn vật. thần kinh tai là chỗ nương của nhĩ thức nên thần kinh tai còn gọi là nhĩ vật. tương tự như vậy với tỷ thức, thiệt thức và thân thức. và nói sáu căn thì phải kể kến ý căn.
ý căn thuộc về danh và nó cũng cần một vật để nương như 5 căn trước. và sắc ý vật là chỗ nương của ý căn.
xin lưu ý, chúng ta đừng nhầm lẫn sắc ý vật là trái tim.
Tim có 2 thứ: nhục đoàn tim, trái tim có hình như búp sen và một thứ sắc nghiệp nương sanh trong trái tim.
nhục đoàn tim là trái tim bằng thịt (nói gọn là tim thịt như mắt thịt, tai thịt, v.v...). còn sắc ý vật là thứ sắc nghiệp nương trong trái tim bằng thịt ấy.
vì vậy, khi bào thai được hình thành, trong đó có 3 sắc đầu tiên là sắc ý vật-sắc thân và sắc tính.
sắc nghiệp là sắc sanh do nghiệp trợ (trợ = giúp). có 25 loại nghiệp trợ cho sắc nội phần sanh liên tục trong thân của chúng sanh.
25 nghiệp = 12 nghiệp bất thiện + 8 nghiệp đại thiện + 5 thiện sắc giới.
ở cõi vô sắc, không có sắc trợ tạo do nghiệp.
Ý nghĩa của sắc ý vật:
o    Đặc tính (trạng thái): chỗ nương của ý giới, ý thức giới, tâm, thức.
o    Phận sự: là nơi chứa để của ý giới, ý thức giới, tâm, thức
o    Sự hiện có mặt: bảo vệ những ý thức giới, ý giới, tâm, thức
o    Nhân gần: có sắc tứ đại hiển
Ý giới có ba tâm (hướng ngũ môn và 2 tiếp thâu). Ý thức giới là 76 tâm còn lại, trừ ngũ song thức và ý giới.
tâm có ý nghĩa: đặc tính (trạng thái) là nhận biết đối tượng. phận sự là dẫn dắt các tâm sở. sự hiện có mặt là liên tục sinh diệt. nhân gần là có danh và sắc.
vậy phần sắc ý vật, có điểm nào cần bàn thêm không ạ?
trước khi tạm dừng, xin nhắc lại dàn bài Tứ Đế: chúng ta đang thảo luận cùng nhau về sắc uẩn. Và đây là một trong năm phần của ngũ uẩn. Tóm lại ý nghĩa của Khổ Đế, trong các kinh được dẫn ra, "tóm lại, năm thủ uẩn là khổ". Đến đây, chúng ta cũng nhận ra rằng, bản thân sắc uẩn là khổ vì nó bị áp chế, bị không chế bởi sự sanh diệt.
và từng sắc pháp trong 28 sắc pháp cũng là khổ vì nó bị áp chế, bị khống chế bởi sự sinh diệt. thêm nữa, chúng ta cũng nhận ra rằng: không có một bản thể nào đóng vai trò làm chủ trong thân này, cái tôi này. tất cả là sự trợ tạo của "nghiệp-tâm-vật thực-thời tiết", tất cả là sự hiện hữu và trợ duyên của các sắc pháp.
từ đó, chúng ta cũng phần nào hiểu được khái niệm "vô ngã" theo tinh thần nhà Phật.
và bởi vì không nhận ra như vậy, nên chúng ta cứ mãi dính mắc vào những cái có bản chất khổ như thế. Rồi chúng sẽ đi theo đường của chúng, và đến lúc đó, chúng ta thực sự phải chịu khổ.
con xin nhắc lại dàn bài để các thành viên tiện theo dõi.
Mô Phật! Thưa SC, Sắc ý vật là chỗ nương của ý căn (bao gồm ý giới, ý thức giới, tâm, thức).
Vậy như trước giờ con được biết theo khoa học thì bộ não và các nơ rôn thần kinh có chức năng điều khiển mọi suy nghĩ và hành động của con người.
Vậy 2 quan điểm này khác nhau ntn thưa SC?
sắc ý vật rất vi tế, dù là kính hiển vi cũng khó nhìn thấy. Cũng như thực tính của sắc thần kinh, kính hiển vi cũng không thể nhìn thấy. còn nói về nơ rôn thần kinh thì đó thuộc về sắc. sắc thì không thể điều khiển hành động, suy nghĩ hay lời nói, Nói cách khác, nơ rôn thần kinh như một dạng sắc là chỗ nương của ý giới, ý thức giới. có một thuyết khác cho rằng sắc ý vật nằm trong não. Tuy nhiên, đa số luận sư đều chấp nhận sắc ý vật là chỗ nương của tâm, chỗ nào có tâm chỗ đó có sắc ý vật. và chỗ nào có biết, chỗ đó có tâm.
Tuệ Minh có thể xem thêm trong tài liệu "Cẩm nang nghiên cứu Thắng pháp" tập 2, của ngài U Silananda, Pháp Triều biên dịch. từ trang 379 đến trang 388.
hoặc Tuệ Minh có thể xem tài liệu Abhidhammatthasangaha của Trưởng lão Tịnh Sự, trang 354-355
trong "Thắng pháp tập yếu luận" của HT Minh Châu chỉ nêu khái niệm. Tuệ Minh cũng có thể tham khảo.
về chuyên ngành, trong bộ Duyên Hệ (Patthana) có nêu. Bộ này đã được Trưởng lão Tịnh Sự chuyển dịch Việt ngữ rồi.
Patthana = bộ Vị Trí.
citta = viññāna = mano (tâm = thức = ý)
Hình ảnh trong đầu thuộc về tưởng uẩn
Khi thần kinh nhãn đối diện đối tượng, thì đối tượng đó được gọi là sắc cảnh sắc. Hình ảnh của đối tượng được lưu giữ, ghi dấu trong đầu, ngay cả khi không có đối tượng, chỉ cần nhắm mắt lại là hình ảnh đó lại hiện ra. Hình ảnh lúc đó được gọi là NIMITTA (nimitta: dấu hiệu, triệu chứng, ấn chứng, nguyên nhân). Và nó được gọi là pháp chế định.
Pháp chế định là ngôn ngữ được đặt định dựa trên đặc tính, công dụng của đối tượng. Pháp chế định có 2: danh chế định và nghĩa chế định. Nghĩa chế định có 7: hình dáng chế định, hợp thành chế định, chúng sanh chế định, phương hướng chế định, thời gian chế định, hư không chế định và tiêu biểu chế định.
Tưởng uẩn (Saññākkhandha) là tâm sở tưởng. Tâm sở tưởng (saññā) có ý nghĩa như sau:
-    Đặc tính (trạng thái): nhận biết
-    Phận sự: làm dấu hiệu tạo điều kiện để nhận biết trở lại
-    Sự hiện có mặt: hướng tới cái tương tự do mãnh lực của nắm bắt dấu hiệu.
-    Nhân gần: tùy đối tượng (đối tượng là cảnh để tâm sở tưởng phát sinh)
Vậy nên, hình ảnh trong đầu (ở giai đoạn 2) không thuộc tâm sở tưởng. Sở dĩ chúng ta còn nhận ra hình ảnh đó là do tưởng đã làm phận sự của nó “làm dấu hiệu tạo điều kiện để nhận biết trở lại”. Và hình ảnh đó thuộc pháp chế định.
Sắc (Rūpa) được định nghĩa là cái trở nên bị biến dạng, bị khuấy nhiễu, bị đè nén, bị đổ vỡ khi tiếp xúc hay kết nối với những điều kiện như nóng-lạnh, đói-khát, v.v…
Hình ảnh trong đầu không có những đặc tính như trên nên nó không gọi là sắc.
Điều kiện cần thiết đối với lộ ý môn có 4: ý vật – cảnh pháp – tâm hữu phần – sự chú ý. Cảnh pháp ở đây không thuộc sắc cảnh sắc.
Cảnh pháp của lộ ý môn có 2: cảnh rõ ràng và cảnh mờ nhạt. Vậy nên, hình ảnh trong đầu (ở giai đoạn 2) là 1 trong 4 điều kiện đối với lộ ý môn.
Lại nữa, cảnh pháp là những khái niệm (ngôn ngữ chế định, sự thật chế định). Những khái niệm này được trải nghiệm tại ý môn chứ không phải ngũ môn (năm sắc thần kinh).
Ví dụ: hình ảnh đàn ông, đàn bà trong đầu không phải một đàn ông, đàn bà có nghĩa tuyệt đối. Đó chỉ là khái niệm.
tài liệu tham khảo: Abhidhammatthasangaha - Trưởng lão Tịnh Sự. "Cẩm nang nghiên cứu Thắng pháp" - Sayadaw U Silananda, Pháp Triều biên dịch. Từ điển Pali - HT Bửu Chơn.
---------------------
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
Hoa mộc



Tổng số bài gửi : 73
Age : 19
Registration date : 31/05/2019

Tứ Diệu Đế  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tứ Diệu Đế    Tứ Diệu Đế  I_icon13Yesterday at 13:22

Tứ Diệu Đế 


Nhận lời xin của năm người 
Phật hoan hỉ thuyết pháp bài đầu tiên 
"Chuyển Pháp Luân" ngài giảng liền 
Chuyển "Bánh Xe Pháp" vừa tìm được ra 
"Pháp" là chân lý cao xa 
Phật lên tiếng nói: "Ngẫm ra ở đời 
Bốn điều chân lý tuyệt vời 
Là "Tứ Diệu Đế" con người chớ quên 
Bốn điều cao cả vô biên 
Đưa ta ra thoát khỏi miền u mê: 
- Một là "Khổ Đế" não nề 
Đây là chân lý nói về khổ đau 
Cuộc đời bất hạnh trước sau 
"Sinh, lão, bệnh, tử" tiếp nhau xoay vần 
Người theo lạc thú đuổi săn 
Cuối cùng còn lại vết hằn đau thương, 
Dù cho thoả mãn mọi đường 
Cuối cùng sẽ lại chán chường trống không 
Chẳng bao giờ thật hài lòng 
Khó cầu hạnh phúc, khó mong an bình. 
- Hai là "Tập Đế" phát sinh 
Nguyên nhân "Khổ" của đời mình là đây 
Khi ta chất chứa tâm này 
Chứa nhiều dục vọng, chất đầy tham lam 
Khổ đau kéo đến dễ dàng 
Tựa như người có bạc vàng đầy kho 
Đắm say giữ của bo bo 
Lòng tham ái đó khiến cho khổ đời 
Quẩn quanh suy nghĩ rối bời 
Gây ra phiền não cho người biết bao 
- Ba là "Diệt Đế" dứt mau 
Tìm đường diệt hết khổ đau tận nguồn, 
Khi ta gột sạch trong tâm 
Diệt trừ dục vọng, tham lam hết rồi 
Khổ đau sẽ chấm dứt thôi 
An bình, hạnh phúc ta vui vô cùng 
- Bốn là "Đạo Đế" con đường 
Giúp ta rũ sạch chập chùng khổ đau 


26.06.2019
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 
Về Đầu Trang Go down
 
Tứ Diệu Đế
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-