Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
CHUYỆN VỤN (Phương Nguyên) by Vo_thuong Yesterday at 20:29

Giàu Không Cần Vận May by mytutru Yesterday at 16:22

Truyện xưa - Ái Hoa by Ai Hoa Yesterday at 15:20

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Ai Hoa Yesterday at 15:18

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 14:19

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 13:22

Trịnh Công Sơn, thuở hàn vi by Trà Mi Yesterday at 08:55

Người Việt hợp tác với giặc Minh by Trà Mi Yesterday at 08:27

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê by Trà Mi Yesterday at 08:02

Dự Án Đường Sắt Cát Linh - Hà Đông by tvqm Yesterday at 06:30

Video Tế Điên Hòa Thượng by mytutru Tue 19 Mar 2019, 21:17

AlBum Nhạc Nhỏ TT by mytutru Tue 19 Mar 2019, 16:59

Lá Sương Sâm xay + Cách Trồng by mytutru Mon 18 Mar 2019, 23:27

Cách Làm Tôm Chay by mytutru Mon 18 Mar 2019, 19:34

Chưa “về” còn quậy by buixuanphuong09 Mon 18 Mar 2019, 15:42

Góc Vườn Đào 2019 by mytutru Mon 18 Mar 2019, 13:36

Sưu tập Bộ cánh vẩy by buixuanphuong09 Mon 18 Mar 2019, 11:52

Món Cà Ry Chay by mytutru Mon 18 Mar 2019, 10:11

Chè Chuối ngon by mytutru Mon 18 Mar 2019, 08:47

Thần Chú Mầu Nhiệm Cứu Cả Nhà by mytutru Mon 18 Mar 2019, 08:45

LỀU THƠ NHẠC by Trà Mi Mon 18 Mar 2019, 08:37

TÌNH NHÂN HỠI .......... by Trăng Sun 17 Mar 2019, 22:18

CÁI TÔI VÀ CÁI TA TRONG RU TA NGẬM NGÙI by Trăng Sun 17 Mar 2019, 22:16

Đường từ mía lau by thanhsingle Sat 16 Mar 2019, 22:02

Trích tập thơ " nhạt phai" Hoàng Phong by Hoàng Phong Sat 16 Mar 2019, 19:06

Cải Xá Bấu Ngọt by mytutru Sat 16 Mar 2019, 12:06

Lagu Nấm Chay by mytutru Sat 16 Mar 2019, 12:00

Câu chuyện thật cảm động by mytutru Sat 16 Mar 2019, 07:40

Tu Hành Là Chuyển Đổi.. by mytutru Sat 16 Mar 2019, 07:23

HÒ Ơ Ơ by nguoidienviyeunguoi Fri 15 Mar 2019, 11:26

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Người Việt hợp tác với giặc Minh

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 2742
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Wed 16 May 2018, 11:23

Người Việt hợp tác với giặc Minh

Lê Tư

“京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”
(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.) – Toàn Thư

Có hai nhân tố chính tác động đến việc lên ngôi của vua mới, một là “quản nội quân dân tướng lại 管内軍民將吏”, quân dân tướng lại trong hạt, hai là “phiên duệ kỳ điệt 番裔耆耊”, người già lão nơi biên viễn. Đứng đầu Hoa Lư thì chỉ cần sự ủng hộ của quân dân tướng lại, tức những người trực thuộc hệ thống hành chánh của tiểu vương quốc trung tâm, nhưng muốn làm vua Đại Cồ Việt thì phải thêm điều kiện đủ là sự đồng thuận của các thủ lĩnh bên ngoài khu vực đô thành. Tiếng nói của những tù trưởng nơi núi non 山, đồng ruộng 野, hang động 洞 và ao ngòi 壑 đủ mạnh để chủ động Hoa Lư phải cân nhắc hết sức nếu muốn làm điều gì trái ý họ. Đặc tính “hung ác”, “tráo trở”, sẵn sàng ép uổng cả nhà vua cho thấy họ là những chúa đất có tiềm lực quân sự. Điểm này khiến ta liên tưởng đến nhận xét của Tomé Pires vào đầu thế kỷ 16 về hòn đảo nay thuộc Philippines, Pires thấy Lữ Tống được quản lý bởi một nhóm trưởng lão chứ không có quốc vương. Tổ chức chính trị Đại Cồ Việt, dưới ảnh hưởng trung nguyên, chỉ vừa vượt qua giai đoạn thô sơ này và còn quãng đường rất xa mới đạt đến kiểu cấu trúc phong kiến tập quyền. Cách trình bày với vua Tống của Lê Hoàn cũng thật khéo, bằng cách nhấn mạnh ảnh hưởng của cừ súy địa phương trong việc suy tôn vua mới, Ngài đã hạn chế tác động từ hoàng đế Trung Hoa lên qui trình truyền ngôi tại nước Nam. Thời Đinh, có vẻ cộng đồng người tại trung lưu sông Hồng chưa đóng vai trò chính trị đáng kể nên không được đề cập riêng.

Người Quảng hay Mân đến Giao châu sinh sống là điều rất bình thường vào thế kỷ X. Vị vua thừa kế nhà Đinh là Lê Hoàn từng nói với sứ Tống Lý Nhược Chuyết rằng (996): “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi? ” (Toàn Thư II, 234).[5] Câu nói ít nhiều phản ánh sự luân chuyển con người, ý tưởng và hàng hóa giữa ba xứ tham gia buôn bán trên biển Đông, đồng thời cho thấy vua Lê có kiến thức nhất định về hoạt động phồn thịnh này.

Từ năm 991 đến năm 995, Toàn Thư ghi nhận Lê Đại Hành phân phong 8 trong số 9 hoàng tử về địa bàn châu thổ sông Hồng, đặc biệt ở vùng nay là Hưng yên, Hải phòng. Hành động đó cho thấy khu vực đồng bằng có sự phục hồi về dân số và kinh tế nên vấn đề an ninh hay thu thuế trở nên quan trọng hơn trước. Quan tâm tột độ của Lê Hoàn đối với trung nguyên hé lộ sự tái hình thành có thể vượt tầm kiểm soát của một cực chính trị khác đủ khả năng đương đầu với Hoa Lư.

Lý Thái tổ dời đô về Đại La, trong bản chất, là sự quay về không gian văn hóa của chính mình, (12) tránh xa phản ứng bất trắc của tập hợp bản xứ rất mạnh từ Hoan Ái. Cộng đồng “kinh” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt chính là gia tộc Lý và nhóm công khanh người Mân, có thể cả Quảng, cùng gia đình họ. Vây quanh là lớp thổ hào quen thuộc với lối sống và cách cai trị kiểu Trung Hoa, họ có mối quan hệ thương mại cả bằng đường bộ lẫn đường biển với phía Bắc từ trước. Thổ hào không chỉ là người địa phương mà còn có thể là người Hoa bản địa hóa hay người lai. Nền tảng của cộng đồng “kinh” là thần dân cũ của đế quốc Đường tập trung ở trung lưu sông Hồng, họ từng sống bên trong hệ thống hành chánh phủ Đô hộ hàng trăm năm.

Số lượng ít ỏi của tầng lớp ưu tú thuần gốc Bắc có thể được phát hiện qua ghi nhận thú vị sau đây trong Toàn Thư vào năm 1042:

Tháng 9, nhuận, xuống chiếu kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết, ngay lúc bấy giờ thì không bị tội (Toàn Thư I, 277)[6]

Thông tin này tiết lộ nhiều điểm lạ so với quan niệm ngày nay:

– Đương thời, việc đàn ông con trai ban đêm lẻn vào nhà người khác để quan hệ tình dục với vợ gia chủ rất phổ biến, đến nỗi nhà vua phải ban chiếu chấn chỉnh.

– Hai kẻ vụng trộm dan díu nhau ngay trong nhà chủ nhân. Nghĩa là người phụ nữ tán đồng việc này đồng thời không cho đó là tội lỗi.

– Sự việc rất bình thường với đa số dân chúng vì hai kẻ có thể mệnh danh “gian phu dâm phụ” dưới mắt Nho giáo không bị kết án bởi dư luận. Triều đình cũng thoái thác phân xử, nhường quyền quyết định cho ông chồng bất hạnh.

– Gia chủ có quyền đánh chết kẻ trộm tình nhưng chỉ ngay tại chỗ. Nếu đương sự thoát ra khỏi nhà, phép vua khắc nghiệt sẽ mất hiệu lực.

Chiếu chỉ rõ ràng bênh vực nhà quyền quý hay giàu có người gốc Hán. Họ đủ điều kiện lấy nhiều vợ nhưng do khó mang theo phụ nữ trên hải trình nguy hiểm nên phải kết hôn với người địa phương. Các bà vợ vẫn duy trì hành vi nay chúng ta còn thấy ở vài dân tộc ít người vùng cao, ví dụ như tập quán “coong trình” của tộc Dao đỏ (13). Với dân lưu vong mới đến Giao Chỉ một hai đời, hoạt động kiểu “coong trình” thật khó chấp nhận.

Mặt khác, chiếu chỉ khéo léo tránh va chạm phong tục địa phương vì triều đình chẳng tỏ ý bắt tội ai, cũng chẳng phán xét gì, chỉ cho ông chồng khoảng thời gian và không gian rất hẹp để tự xử lý. Đối tượng xử lý lại không phải là người đàn bà. Dường như thời điểm đó, phụ nữ có quyền làm như thế vì theo quan niệm bản thổ, người chồng chưa có vai trò độc tôn. Cũng có thể những phu nhân “phóng đãng” xuất thân từ các gia tộc hào sĩ địa phương mà sự thuận thảo của họ rất quan trọng đối với chính quyền Thăng Long.

Luật pháp mềm dẻo không triệt tiêu tập tục bản địa vốn được tôn trọng bởi khối người áp đảo, ngược lại, sau nhiều thế hệ định cư, người gốc Bắc lại có hành vi như thổ dân. Nạn nhân nổi tiếng của chiếu chỉ là Thái Úy Quan nội hầu Tô Trung Từ đời Lý Huệ tông. Tô Trung Từ thuộc nhóm liên minh với họ Trần ở Hải ấp, ông là cậu của Trần Tự Khánh, chú vua Trần Thái tông. Năm 1211, do vào nhà công chúa Thiên Cực lúc đêm tối để tư thông, họ Tô bị chồng công chúa đánh chết. (14)

Nhóm dân “sống ở kinh đô” đầu thời Lý là một sắc tộc mới đang tượng hình, khác biệt với các cộng đồng chung quanh, chiếm thiểu số so với tổng dân số trên vùng lãnh thổ nay là bắc bộ và bắc trung bộ. Họ bắt đầu sử dụng ngôn ngữ khác, dần hoàn chỉnh trong triều đình Lý vốn chủ đạo bởi vua quan nói tiếng Mân hoặc một thứ tiếng Hoa miền biển. Tiếng nói mới hẳn chịu tác động mạnh mẽ bởi tiếng nói của lớp lãnh đạo tại chỗ vốn bắt đầu ngừng sử dụng tiếng Hoa sau khi Ngô Quyền từ chối các Tiết độ sứ phương Bắc. Sự lan tỏa của ngôn ngữ này kèm theo văn hóa hỗn tạp nhưng tiên tiến đã chuyển hóa nhóm người bản địa hợp tác với ngoại tộc thành người “kinh”, đồng thời biến dân số bất khuất còn lại thành “dị tính”, “trại” hay tệ hơn, thành “mường mán”.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 2742
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Thu 17 May 2018, 09:59

Người Việt hợp tác với giặc Minh

Lê Tư


“京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”
(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.) – Toàn Thư


Sự khác biệt giữa dân ở “kinh” với dân “trại” có thể được phát hiện qua lịch sử chinh chiến của hai đời vua đầu triều Lý.

– Năm 1011: đem sáu quân đánh man Cử Long ở Ái châu (thuộc Thanh Hóa nay).

– Năm 1012: vua thân đi đánh Diễn châu (thuộc Nghệ An nay) vì người ở đấy không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân…Cuối năm này, bắt người Man và hơn 10.000 con ngựa tại châu Vị Long (thuộc Tuyên Quang nay)

– Năm 1013: vua thân đi đánh châu Vị Long do dân châu hùa theo người Man làm phản. Thủ lĩnh Hà Án Tuấn cùng bộ thuộc trốn vào rừng núi.

– Năm 1014: Dực Thánh vương chống người Man xâm nhập ở châu Bình Lâm (thuộc Tuyên Quang nay), chém hàng vạn người.

– Năm 1015: Vũ Đức vương và Dực Thánh vương đánh người Man ở Vị Long, Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên (thuộc Tuyên Quang nay); bắt được Hà Án Tuấn, chém bêu đầu ở chợ.

– Năm 1020: Khai Thiên vương và Đào Thạc Phụ đánh Chiêm ở trại Bố Chính, chém tướng giặc Bố Linh tại núi Long Tỵ (nay thuộc Quảng Bình).

– Năm 1022: Dực Thánh vương đánh Đại Nguyên Lịch, thâm nhập trấn Như Hồng thuộc Tống.

– Năm 1024: Khai Thiên vương đánh Phong Châu, Khai Quốc vương đánh châu Đô Kim.

– Năm 1025: lập trại Định Phiên ở phía nam Hoan Châu (khoảng Hà Tĩnh nay)

– Năm 1026: Khai Thiên vương đánh giặc ở Diễn Châu.

– Năm 1027: Khai Thiên vương đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh vương đánh châu Văn (nay thuộc Lạng Sơn).

– Năm 1028: vua mới Thái tông đánh phủ Trường Yên (Ninh Bình nay) do Khai Quốc Vương trấn trị làm phản.

– Năm 1029: đánh giáp Đãn Nãi ở châu Ái.

– Năm 1031: vua thân đi đánh châu Hoan.

– Năm 1033: vua thân đi đánh châu Định Nguyên, sau đó là châu Trệ Nguyên.

– Năm 1035: vua thân đi đánh châu Ái.

– Năm 1036: đặt hành dinh ở châu Hoan, đổi tên thành châu Nghệ An.

– Năm 1037: vua đánh đạo Lâm Tây, Khai Hoàng vương đánh Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên. Dựng hơn 50 kho tàng thuộc Nghệ An.

– Năm 1039: vua đi đánh Nùng Tồn Phúc.

– Năm 1041: cho Uy Minh hầu Nhật Quang làm Tri châu Nghệ An. Đánh bắt được Nùng Trí Cao.

– Năm 1042: Khai Hoàng vương đánh châu Văn.

– Năm 1043: Khai Hoàng vương đánh châu Ái, Phụng Càn vương đánh châu Văn. Đào Xử Trung dẹp giặc biển Chiêm Thành.

– Năm 1044: vua thân chinh Chiêm Thành, chém vua Chiêm Sạ Đẩu tại trận. Trên đường về, Vua ban tiết việt và gia tước vương cho Trấn thủ Nghệ An Nhật Quang.

– Năm 1048: Phùng Trí Năng đánh Ai Lao, Quách Thịnh Dật đánh động Vật Ác của Nùng Trí Cao.

– Năm 1050: dẹp loạn ở Vật Dương.

– Năm 1051: Thánh tông lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Việt.

Ngoài ba lần đối phó Chiêm Thành, đối tượng của các cuộc chinh phạt từ năm 1010 đến 1052 là các bộ tộc nói tiếng Tai-Kadai phía Bắc và người trại phía Nam. Riêng vùng đồng bằng rất yên ả. Bản chất chiến tranh phía Bắc và phía Nam khác nhau. Nhà Lý buộc phải ngăn chặn sự xâm nhập của “người lạ” từ phương Bắc. Đối với phương Nam, nhiều khả năng chiến tranh mang tính chất trừng phạt việc từ chối nộp cống thuế. Dưới triều trước, thủ lĩnh Hoan Ái còn định thần phục vua Chiêm thay vì vua tiền Lê. Đến triều Trần, khi Thăng Long suy yếu, Toàn Thư ghi chép rõ dân Tân Bình Thuận Hóa ủng hộ quân Chiêm, dân Nghệ An thì ăn ở hai lòng. Dường như dân trại chọn ngả theo vị vua thu thuế nhẹ hơn và gần gũi hơn về mặt văn hóa.

Triều đình Lý cũng không hoàn toàn yên tâm với các xứ đang an bình. Năm 1043, khi Lý Thái Tông hỏi ý các quan về cách đối xử với Chiêm Thành vì xứ này đã 16 năm không tiến cống thì được tâu trình như sau: “Bọn thần cho rằng đó là vì đức của bệ hạ tuy có đến nhưng uy thì chưa rộng. Sao thế? Vì từ khi bệ hạ lên ngôi đến giờ, họ trái mệnh không đến chầu, bệ hạ chỉ ban ơn đức để vỗ về, chưa từng ra oai dùng võ để đánh phạt. Bọn thần e rằng các chư hầu khác họ trong nước đều như Chiêm Thành cả, há chỉ riêng người Chiêm mà thôi đâu”. (Toàn Thư I, 279)[7]

Nghĩa là hệ thống cai trị trên toàn vương quốc của nhà Lý vẫn chưa mang tính tập quyền. Bên ngoài bộ máy trực trị vẫn tồn tại các chư hầu cùng họ và khác họ. Việc nộp phú thuế như thế nào từ các khu tự trị hoàn toàn tùy thuộc vào sức mạnh của tập đoàn trung ương. Cuộc xâm lược thành công Chiêm Thành năm 1044 dĩ nhiên đã ngăn ngừa hiệu quả manh động có thể có từ các chư hầu. Nhưng vì sao quan tướng nhà Lý đặt “hải nội dị tính chư hầu 海内異姓諸侯”, chư hầu khác họ trong nước, ngang với Chiêm Thành? Phải chăng văn hóa Đại Việt thời điểm đó do mới hình thành chỉ lan tỏa quanh Thăng Long và phủ Thiên Đức? Còn nhiều vùng ngay trong châu thổ vẫn theo truyền thống Đông Nam Á, được điều hành bởi các hào trưởng tự lập? Thời trung đại, “dị tính” có nghĩa gần như tương đương với “tộc người khác.”

Dân “kinh” thời Lý không thể đông hơn các cộng đồng mệnh danh “trại” hay “mường mán”. Họ chỉ là nhóm dân có văn hóa đặc thù, không là Hán nhưng đủ khác với cư dân xung quanh để chiến tranh bùng phát dai dẳng. Sự áp đảo về quân sự của triều đình trên các nhóm người ngoài vùng hạt nhân là sự áp đảo của một xã hội có tính tổ chức lên các cộng đồng riêng lẻ chưa có cơ cấu liên kết nhau sâu sắc. Tuy nhiên, có thể thấy chỉ đến đời thứ hai nhà Lý, triều đình đã cử Nhật Quang cai trị Nghệ An bên cạnh các thổ hào. Riêng châu Ái, nhà vua còn cử Khai Hoàng vương đánh dẹp vào năm 1043, nhưng đến năm 1105 khi Lý Thường Kiệt qua đời, đã thấy sử ghi việc Kiệt được Thánh tông phong chức Thái Bảo kèm tiết việt để thăm hỏi “lại dân” ở Thanh Hóa, Nghệ An. Như vậy, tầng lớp ưu tú nhà Lý bản địa hóa rất nhanh và các địa phương miền nam cũng mau chóng hòa hợp với trung châu. Trong vòng 100 năm, phân chia kinh-trại đã nhòa nhạt. Các trại, hay châu, Hoan và Ái đã trở các phủ Nghệ An và Thanh Hóa.

Về Đầu Trang Go down
Vo_thuong



Tổng số bài gửi : 698
Registration date : 28/02/2018

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Thu 17 May 2018, 13:13

Tỷ Trà Mi thuộc làu kinh sử .
Các địa phận Ái châu, Vị Long châu.....ngày xưa giờ đệ mới hiểu thuộc tỉnh nào ngày nay.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 2742
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Fri 18 May 2018, 07:26

Vo_thuong đã viết:
Tỷ Trà Mi thuộc làu kinh sử .
Các địa phận Ái châu, Vị Long châu.....ngày xưa giờ đệ mới hiểu thuộc tỉnh nào ngày nay.

hihi, học trò ông thầy mà hông biết sử ổng khõ đầu  bash :pp:
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 2742
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Fri 21 Sep 2018, 09:04

Người Việt hợp tác với giặc Minh

Lê Tư

“京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”
(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.) – Toàn Thư

Tuy vậy, khi văn hóa miền biển lấn ngược chiều sông Cái, các nhà lãnh đạo duyên hải dù cảm thấy gần gũi với quý tộc trung lưu sông Hồng, lại thấy mình khác với người Thanh Nghệ. Điều này dễ hiểu, vì vùng duyên hải dưới quan sát của các tác giả Trung Hoa, thổ dân chỉ chiếm một nửa nhân khẩu. Năm 1256, nhân kỳ thi nho học, vua Trần chia làm Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên, Kinh Thái học sinh và Trại Thái học sinh. Tống nho đã thâm nhập đồng bằng sớm sủa hơn khu vực phía nam nhiều. Chính nhà Trần dung nạp di thần Tống để kháng cự Mông Cổ xa lạ đến từ thảo nguyên. Liên kết chặt chẽ với Hoa tộc cả về quân sự lẫn văn hóa khoét sâu sự ngăn cách giữa tầng lớp thượng lưu Mân-Hán và đa số bình dân địa phương, khoảng cách tưởng đã phai nhạt vào cuối đời Lý. Thời bình, vấn đề giữa các tộc người có thể là thứ yếu nhưng trước đe dọa đòi hỏi huy động tổng lực của vương quốc, ủng hộ từ đa số bị trị trở thành yếu tố quyết định sự tồn vong của triều đại. Tính chất mong manh của một vương triều ngoại tộc được vua Trần hóa giải bằng hai hành động vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Đại Việt: đuổi cá sấu trên sông Lô và họp hội nghị tại thềm điện Diên Hồng.

Về việc nhà vua sai Nguyễn Thuyên đuổi cá sấu, chúng ta dễ hào hứng với thông tin gợi mở rằng Thuyên viết bài văn bằng quốc ngữ, tức chữ Nôm, nên thường hiểu sai về mục đích của thao tác này. Nhằm tìm hiểu động cơ của triều đình, phải đặt sự kiện vào trong dòng chảy căng thẳng của thế cuộc đương thời:

– Mùa đông năm 1278, Trần Thái tông băng. Nguyên đế sai Sài Xuân sang sứ dụ vua vào chầu. Vua cự tuyệt. Sứ giả Đại Việt sang Nguyên bị bắt giữ.

– Năm 1279, người Nguyên đánh trận quyết định với nhà Tống ở Nhai Sơn, quan quân Tống gồm cả hoàng gia chết đuối hơn 100.000 người.

– Năm 1280, xét duyệt sổ đinh và các sắc dịch. Trịnh Giác Mật ở Đà Giang làm phản, Trần Nhật Duật thu phục được.

– Năm 1281, nhà Nguyên phong chức tước cho vài người thuộc sứ đoàn nhà Trần, cử Sài Xuân sang Đại Việt hành xử khiêu khích.

– Năm 1282, Lạng Châu báo tin Toa Đô chuẩn bị 50 vạn quân mượn đường nước ta đi đánh Chiêm Thành. Lúc ấy, có cá sấu đến sông Lô, vua sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông để xua đuổi. Mùa đông, vua họp vương hầu và trăm quan tại Bình Than, cử Trần Khánh Dư làm Phó Đô tướng quân. Lấy Thái úy Trần Quang Khải làm Thượng tướng thái sư.

– Năm 1283, mùa thu, sứ giả Đại Việt thu được thông tin về đạo quân 50 vạn sắp vào cướp. Mùa đông, vua thân chỉ huy tập trận thủy bộ, cử Trần Hưng Đạo làm Quốc công Tiết Chế, bổ nhiệm nhiều tướng hiệu có năng lực.

– Năm 1284, mùa thu, Hưng Đạo vương duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu, bố trí phòng thủ các điểm xung yếu. Mùa đông, vua sai Trần Phủ sang Nguyên xin hoãn binh. Trần Phủ báo tin Thoát Hoan sẽ tấn công với lý do mượn đường đánh Chiêm Thành. Thượng hoàng triệu tập bô lão ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi ý kiến. Tất cả đều quyết chiến. Chỉ vài ngày trước Tết Nguyên đán, Mông Cổ vi phạm biên cảnh.

Trước Nguyễn Thuyên (1229 – ?), Hàn Dũ (768 – 824) từng làm việc tương tự khi bị biếm truất làm thứ sử Triều Châu, miền đất đương thời hãy còn là biên địa của đế quốc Đường. Họ Hàn vốn mộ Nho bài Phật, khổ nỗi, dân địa phương chắc chẳng “mộ” cũng chẳng “bài” cả hai. Để thu phục tập đoàn mông muội đa thần giáo, Hàn Dũ đã tạo nên sự kiện đuổi cá sấu bằng “Ngạc ngư văn”, qua đó, ông hành xử như một thầy mo bản thổ. Liam C. Kelley nhận xét rằng hành động của Hàn Dũ là thủ thuật cai trị phổ biến trong nhiều nền văn hóa khác nhau.

Toàn Thư không nói rõ Nguyễn Thuyên làm bài văn bằng thứ chữ gì, nhưng ngay sau lời kể vua ban họ Hàn cho ông, tác giả sử ký xác nhận Thuyên giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Như vậy, có thể đoán rằng ông làm bài văn bằng chữ Nôm, đọc cho cá sấu nghe bằng loại tiếng Việt mà dân quanh vùng sông Lô nghe, hiểu được. Ở đây, vị vua gốc Phúc Kiến đã đóng vai “thầy mo” của các bộ tộc Lạc để dễ dàng huy động họ trong cuộc đại chiến sắp xảy ra. Vị phù thủy này vô cùng tế nhị vì đã không buộc cá sấu hay dân địa phương phải nghe tiếng nước ngoài. (15)

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 2742
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Tue 19 Mar 2019, 08:35

Người Việt hợp tác với giặc Minh

Lê Tư


“京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”
(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.) – Toàn Thư


Hội nghị Diên Hồng mang dấu ấn cơ cấu Kuriltai của người Mông Cổ, chủ nhân trung nguyên lúc bấy giờ. Hội nghị trưởng lão tương tự vẫn thấy ở Afghanistan ngày nay dưới danh xưng Loya Jirga. Riêng Đại Việt, nơi hệ thống hành chánh phát triển hơn trên địa bàn chật hẹp, vua có thể trao đổi với lãnh đạo các phủ lộ để nắm tình hình địa phương nhưng vẫn triệu họp phụ lão, điều đó chứng tỏ hệ thống chính quyền không chặt chịa bao trùm toàn vương quốc. Nhiều khu vực vẫn tự chủ ở các mức độ khác nhau nên vua chỉ có thể trao đổi với thủ lĩnh địa phương thông qua cuộc họp này.

Hội nghị Bình Than dành cho tập đoàn cầm quyền bao gồm vương hầu người gốc Mân và trăm quan Hán hóa cao độ gắn kết với hoàng gia. Hành động đuổi cá sấu hay họp phụ lão là những nỗ lực tác động đến mọi ngóc ngách của khối dân bản địa. Hai thao tác chuẩn bị chiến tranh này cho thấy người Việt gốc vẫn chiếm đa số áp đảo mặc dù nhân số đồng bằng đã được bổ sung đáng kể bởi người Mân Quảng kinh dinh ven biển hoặc bởi di dân Tống.

Không còn báo cáo dân số thuở ban đầu, lúc nhà Lý phân chia kinh-trại. Li Tana tích hợp nhiều nguồn chứng minh một cách thuyết phục rằng dân cư thời Lý rất thưa thớt và chưa bao gồm dân số khu vực phía đông đồng bằng. Bà cũng đồng ý dân số tăng đột biến vào quãng thời gian 1200 – 1340. (16) Để suy đoán tương quan giữa dân số kinh và dân số các cộng đồng khác vào thời Lý, chúng ta thử xem xét tường trình Trương Phụ gửi về Kim Lăng năm 1408:

Chiêu an hơn 3.120.000 người, bắt được dân Man hơn 2.087.500 người (Minh Thực Lục I, 298)[8]

Sau khi Lý thái tổ chia Hoan Ái thành trại gần 400 năm (1010 – 1408), dân số nằm trong hệ thống hành chính trung ương, tức người chấp nhận văn hóa và sự cai trị từ Ty Bố Chính Giao Chỉ, chỉ chiếm 60% tổng dân số trên vùng đất nay là bắc bộ và bắc trung bộ (tỉ lệ khoảng 6/4). Con số “3.120.000 người” năm 1408 chắc chắn chủ yếu là dân “kinh lộ” và một ít dân “trại” vùng duyên hải Hải Tây mà người Minh trực tiếp thu thuế được. Dân số lên đến mức đó chỉ sau kỳ bùng nổ nhân khẩu tại đồng bằng xảy ra dưới thời Trần khi hệ thống đê điều toàn khu vực được xác lập và giống lúa Chiêm được phổ biến rộng rãi. Như vậy, có thể suy đoán tỉ lệ giữa dân số vùng trung lưu sông Cái với dân số các vùng Hoan Ái, vùng duyên hải, vùng đồi núi đầu thời Lý là con số rất khác tỉ lệ 6/4. Không đủ cơ sở để xác định tỉ lệ đó chừng 5/5, 4/6 hay 3/7…,(17) nhưng có thể xác định một điều : người nói các thứ tiếng Mường hay Tai-Kadai chưa trở thành dân tộc ít người vào thời điểm đó. Họ chỉ trở thành thiểu số khi nhiều thành viên trong số họ rời bỏ cộng đồng để hòa nhập vào người “kinh” hay “lộ”. Chính chiếu chỉ năm 1042 cho thấy các phụ nữ làm vợ hay thiếp của nhà quyền thế còn mang đậm tập quán của các bộ tộc sống cách biệt, bị ám ảnh bởi hôn nhân cận huyết. Dòng chảy nhân lực từ miền cao xuống còn thấy rõ vào cuối đời Trần qua bài thơ “Đề Tư Đồ Trần Nguyên Đán từ đường 題司徒陳元旦祠堂”, Đề thơ tại nhà thờ quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán, của Trần Nghệ tông. Thượng hoàng cho biết đội khiêng kiệu cho Ngài là “山僮 sơn đồng”, nô lệ người miền núi. Đối sánh số “nhân dân” 3.120.000 với số 2.087.500 “man nhân”, có thể nói rằng người man là các cộng đồng văn hóa khác biệt trên lãnh thổ An Nam, do điều kiện địa lý và trình độ phát triển, họ còn thuộc về nhiều bộ tộc khác nhau, nói ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau, nhưng chưa thật sự trở thành thiểu số trên chính quê hương mình.

Cần chú ý khái niệm kinh-trại chỉ được nhắc đến trong chính sử khi quyền lực thuộc về các gia tộc gốc Mân. Đến thời Hồ – Lê, không thấy Toàn Thư nhắc lại khái niệm này. Các vua Hồ lập đô ở Thanh Hóa, biến khu vực nay là Thanh Hóa và bắc Nghệ An thành “tứ phụ”, tức vùng lõi. Bộ phận điều hành lộ Đông Đô được đặt tên Phủ Đô hộ, một hàm ý ngoại vi hóa vùng kinh thành xưa. Từ đó, người trung châu được gọi là dân “kinh lộ”, ý chỉ người thuộc các lộ đồng bằng bao gồm cả lộ Đông Đô.

Taylor có lý của ông khi cho rằng khái niệm kinh-trại sẽ phát triển thành Việt-Mường sau này. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu theo cách khác: Kinh gồm người Hán vùng duyên hải bản địa hóa và người địa phương Hán hóa chấp nhận sự lãnh đạo của nhóm gốc Bắc; Trại là người địa phương Hán hóa mức độ thấp, còn gần gũi với các tộc bản xứ. Thổ dân đóng vai trò tương đối thụ động trong tiến trình Hán hóa của nhóm kinh, ngược lại, người bản địa vùng trại chủ động tiến trình này. Dưới mắt kinh, dân trại phong hóa tầm thường. Dưới mắt trại, dân kinh quá ngả về Bắc không đủ tư cách làm chủ nước.

Xét riêng cộng đồng “kinh” hay “kinh lộ” thời Lý Trần, chúng ta thấy tầng lớp ưu tú chủ yếu là người Hán vùng ven biển đông nam hoặc người lai miêu duệ của họ; tầng lớp dưới là dân bản địa gốc Mường được bổ sung bởi tù binh nói tiếng Nam đảo hoặc tiếng Tai-Kadai. Dĩ nhiên có tầng lớp trung gian đến từ nhiều nguồn, họ có thể là thầy thợ người Bắc, hoặc thành viên các gia tộc lớn, hoặc người bình dân tiến thân bằng chiến công hay học vấn. Cơ cấu dân số như vậy đóng vai trò quyết định thái độ chính trị của khu vực. Nó giải thích vì sao những “người có chút ít tiếng tăm” nhanh chóng hợp tác với quân Minh, trái lại, “quân nhân đinh nam” lúc cùng đường lại sẵn lòng phục vụ vua Giản Định. Xu hướng chính trị này ảnh hưởng sâu đậm, bền bỉ và góp phần quan trọng định hình lịch sử Đại Việt – Đại Nam – Việt Nam.

Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 2742
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Yesterday at 08:17

Người Việt hợp tác với giặc Minh

Lê Tư


“京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”
(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.) – Toàn Thư


Chất Hán vùng kinh lộ thẩm thấu trong giới tinh hoa đến mức độ nào? Đến các đời vua đầu Trần, ảnh hưởng Hán thấy rõ là bộ máy vương quyền được tổ chức kiểu Trung Hoa. Triết học Nho, Lão và Thiền tông ảnh hưởng mạnh chủ yếu trong tầng lớp biết chữ. Tuy vậy, những gì có nguồn gốc ngoại lai sau một thời gian hoạt động ở An Nam đã trở nên rất khác.

Năm 1293, sứ thần Nguyên Mông Trần Phu nhận xét hoàng tộc Trần như sau:

Hạ tục kiêu phù thậm,
Trung Hoa lễ nhạc vô.
Húy hiềm ngoa thị Nguyễn,
Thác chế tiếm xưng cô.
Tế tự tông phường tuyệt,
Hôn nhân tộc thuộc ô.


(Phong tục của tầng lớp dưới[9] hết sức bạc nẽo nông nổi,
Ở đây không có lễ nhạc của nước [Trung-quốc] văn minh.
Kiêng tên, nên đã mạo nhận là họ “Nguyễn”,
Mượn cớ có tang để tiếm xưng là “cô”.
Trong nơi tông miếu, việc tế tự mất hẳn,
Người cùng họ hàng lấy nhau thật xấu xa.) (18)

Vị sứ giả người Hán đại diện vua Mông Cổ không tìm thấy văn minh Trung Hoa tại triều đình Đại Việt. Ông phân biệt Hoa – Di không dựa vào đặc điểm sinh học của cộng đồng người, mà dựa vào thực hành văn hóa của giới thống trị. Dưới mắt Trần Phu, sự “khác” với thượng quốc thể hiện tính thấp kém.

Hơn 80 năm sau, Trần Nguyên Đán lại thấy sự “khác” giữa hai vương quốc ở góc cạnh “văn vận”, ông cho rằng đó là do tầm vóc văn hóa Đại Việt đã vượt qua Trung nguyên. (19) Dù tự hào đến vậy, Nguyên Đán vô tình vẫn dùng tiêu chuẩn cân đo phương bắc. Hẳn vì ngoài hệ giá trị đã am tường, ông không còn biết hệ nào khác.

Cả Trần Phu lẫn Trần Nguyên Đán đều là văn nhân đại thần. Phát biểu của họ hình thành từ cơ sở tri thức và học vấn đỉnh cao của mỗi xứ nên có thể xem như ý kiến điển hình. Chính sự “khác” cảm thấy bởi cả hai bên là nền tảng để người phương Nam tạo nên, và người phương Bắc nhìn nhận, thực thể Đại Việt. Thực thể này theo cách hiểu của Trần Hưng Đạo trong “Dụ chư tỳ tướng hịch văn” là tài sản thuộc họ Trần; công chúa Thiên Ninh cũng hiểu thiên hạ là “của tổ tông mình” nên không nhường họ khác. Tuy nhiên, sau mười năm giao chiến với quân Minh, Lê Lợi qua “Bình Ngô đại cáo” lại cho rằng thực thể đó thuộc về người Đại Việt dù nó bị cai trị bởi bất kỳ dòng tộc nào. Do vậy, Bình Định vương không chấp nhận quyền chọn chủ phương Bắc của nhóm ưu tú sinh sống bên trong cương vực nước Nam. Sau khi điểm lại tình hình lòng dân oán phản bởi chính sách triều Hồ, Ngài định danh nhóm hợp tác đồng thời định nghĩa việc họ làm nhân buổi rối ren một cách minh bạch:

“Ác đảng hoài gian cánh dĩ mại ngã quốc 惡黨懷奸竟以賣我國”, Bọn bất lương mưu cấu kết với giặc để bán nước ta.

Trong bối cảnh cái gọi là “dân tộc” theo định nghĩa phương Tây chưa hình thành, nhận xét của Lê Thái tổ cho thấy Ngài vươn trước thời đại mình rất xa.

Nguyên nhân gì khiến Lê Lợi tư duy mới mẻ như thế? Chúng ta sẽ có dịp quay lại với suy nghĩ của Ngài khi nghiên cứu các văn bản hành chính chấp bút bởi Thừa chỉ Nguyễn Trãi.

—————————————–

Tài liệu tham khảo:

A. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long. Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Toàn Thư – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

B. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010). Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Minh Thực lục – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 2742
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Người Việt hợp tác với giặc Minh   Yesterday at 08:27

Người Việt hợp tác với giặc Minh

Lê Tư





Chú thích:

(1) Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978), trang 669-670.

(2) Trần Quốc Vượng không đồng ý phả hệ này. Dựa vào Việt Kiệu Thư của Lý Văn Phượng, cụ Trần cho rằng họ Mạc vốn gốc người Đản Quảng Đông. Tuy nhiên, cụ không giải thích vì sao nếu là người Đản thì không phải hậu duệ Mạc Đĩnh Chi.

(3) Geoff Wade dịch sang tiếng Anh rất thuyết phục và rõ ràng các chức danh thuộc Ty Bố chính. Bố chính sứ, Tả Hữu Bố chính sứ, Tả Hữu Tham chính Ty Bố chính, Tả Hữu Tham nghị Ty Bố chính được dịch lần lượt là Administration Commisioner, Administration Comissioner of the Left/Right, Vice Administration Comissioner of the Left/Right, Assistant Administration Comissioner of the Left/Right. Tham khảo: Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu : an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Shingapore E-press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/entry/1104, accessed July 02, 2016.

(4) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch, Nxb Trẻ (tái bản 2015), trang 429-430.

(5) Ngô gia văn phái, sđd, trang 430.

(6) Xem Đặng Phương Nghi, Vài tài liệu mới lạ về những cuộc Bắc tiến của Nguyễn Huệ, Quang Trung Nguyễn Huệ, Tạp chí Xưa&Nay – Nhà xuất bản Văn Hóa (in lại các bài đăng trong tập san Sử Địa do Nguyễn Nhã chủ biên và chủ bút – 2008), trang 59.

(7) Keith W. Taylor, A History of the Vietnamese, Cambridge University Press (2013), trang 177. Nguyên văn: People in the Red River plain tended to support Ming government. People in the lowlands of the southern provinces of Thanh Hoa and Nghe An were generally responsive to the Ming government as well. But in the foothills and uplands of these southern provinces was an endemic resistance to Ming rule. In other words, following a distinction first reported during Tran times, many Kinh people perceived value in being part of the northern empire, but the Trai people did not. Thus, in the 1420s, after the death of Zhu Di, it was among the Trai population of the southern provinces that active resistance to Ming developed most rapidly, particularly in the lower valleys of the foothills south of Red River and west of coastal plains. The Tran terms Kinh and Trai represented different tendencies on a spectrum of cultural and linguistic practice that in modern time have been perceived as a difference between Vietnamese and various peoples collectively called Muong.

Lát cắt quá rạch ròi của Taylor về sự phân rẽ mang tính vùng miền trong lịch sử Việt Nam thu hút chỉ trích cay đắng từ nhiều người Việt. Tuy nhiên, cần bình tĩnh hơn để xem xét quan niệm đó. Thực tế suốt quãng thời gian cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, vào những thời điểm Đại Việt có chính quyền đủ mạnh, họ chống cả Hán lẫn Chiêm. Nhưng những lúc trung ương suy sụp, Từ Nghệ An vào nam ngả về Chiêm trong khi đồng bằng Bắc bộ có xu hướng quy phục Hán. Các cộng đồng Đại Việt không chỉ ngả về bên này hay bên kia, họ còn dựa vào sức mạnh bên ngoài để cướp và giết nhau không nương tay. Đó là sự thực vào đời Trần mạt, Hồ và Minh thuộc.

(8) Trái ngược với ý kiến của đa số học giả Việt Nam, nhà nghiên cứu Nhật Bản Minoru Katakura hoài nghi về tính tập quyền dựa trên luật pháp của thiết chế chính trị triều Lý. Sakurai Yumio thậm chí cho rằng việc phân chia Đại Cồ Việt thành 24 lộ là sáng tạo của sử gia đời Lê. Năm 2013, Momoki Shiro đề xuất lập luận rằng chính quyền Lý ban đầu mang tính địa phương, sau đó mới dần phát triển sang các khu vực khác. Shiro chứng minh “lộ” là một đơn vị giám sát mang tính chất quân sự, tư pháp và tài chính bao trùm các đơn vị hành chính như phủ, châu; theo ông, việc phát triển quá mức quyền lực ra khỏi vùng trung tâm là một trong những nguyên nhân khiến chính quyền Lý suy yếu và sụp đổ.

(9) Con số này rất đáng ngờ. Đại Việt sử lược chép là 5 ngàn. Xem: Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 20.

(10) Nam Chiếu đánh An Nam với sự ủng hộ của các thủ lĩnh bản địa như gia tộc họ Đỗ ở châu Ái, Lý Do Độc ở châu Phong. Đặc biệt có tù trưởng thân thiết với tướng Nam Chiếu Đoàn Tù Thiên tên Chu Cổ Đạo. Ông này cùng chết với Tù Thiên khi Cao Biền tái chiếm châu thành. Như vậy, đối tượng tàn sát của Nam Chiếu không thể là khối dân còn theo văn hóa Lạc rất gần gũi với các tộc nói tiếng Kra-Dai. Cuộc “thanh lọc sắc tộc” của họ chủ yếu nhắm vào binh lính, quan chức và các chủ đất ở hai châu Phong và Giao. Nếu quan lại, quân chính quy đa số là người Đường thì tập hợp chủ đất lớn nhỏ quanh phủ trị lại là các gia đình Hán-Việt. Nam Chiếu quét sạch 150.000 người thuộc Phong và Giao châu mở đường cho tộc Thái trồng trọt trên các mảnh đất vừa chiếm được như chúng ta đã thấy. Cuộc phản công kèm theo giết chóc quyết liệt không phân biệt quân dân của Cao Biền một lần nữa tạo nên khoảng trống nhân lực tại trung châu. Biền cất nhà và khai thông thủy lộ hẳn đều hướng đến việc khuyến khích cư dân phía Bắc đến định cư tại Giao Chỉ. Sức mạnh sa sút của phủ Đô hộ cũ phơi bày khi họ Khúc ở Hồng châu (nay thuộc Hải Dương), Lý Tiến từ Nam Hán (Quảng Đông nay), Dương Diên Nghệ từ châu Ái thay phiên nhau tiến chiếm phủ thành dễ dàng. Nhiều khả năng, một số binh lính và dân thường theo chân 3 nhà lãnh đạo trên đã ở lại sinh sống tại trung tâm đồng bằng đã trở thành thưa vắng khi đó. Ngoài nguồn nhân lực tự nhiên tràn xuống từ miền cao điền khuyết không gian trống trải, nguồn bổ sung nhân lực tinh hoa đáng kể có thể là người Mân khi vương quốc Mân sụp đổ vào năm 945 và người Quảng khi vương quốc Nam Hán bị sáp nhập vào đế quốc Tống năm 971. Tập họp các thành phần dân cư nêu trên là cơ sở để hình thành người “kinh” khi Lý Thái tổ dời đô ra Thăng Long.

(11) Xem Nguyễn Danh Phiệt, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Nxb Khoa học Xã hội (1990), trang 32-37.

(12) Xem Tạ Chí Đại Trường (2010), Có một nguyên nhân dời đô khác?, http://www.talawas.org/?p=23999.

(13) Theo tục “coong trình” của người Dao đỏ, phụ nữ có quyền ăn nằm với đàn ông nào họ thích. Hành động đó không bị xem là vi phạm đạo đức vì tộc Dao đỏ tin rằng sau khi qua đời phụ nữ cần có nhiều đàn ông đỡ đần để họ trải qua kiếp ma. Cũng có thể đó chỉ là phản ứng bản năng để cải tạo nòi giống của những người sống trong cộng đồng cách biệt, chịu nhiều hậu quả từ hôn nhân cận huyết.

(14) Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 95.

(15) Nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn về cách đọc Hán Việt cho phép suy luận sự hình thành chữ Nôm như một hệ thống văn tự xảy ra sớm nhất là vào đầu thế kỷ XI. Thời điểm này gần như trùng hợp với khởi điểm hình thành thứ tiếng tiền thân tiếng Việt hiện đại giả thiết bởi John Duong Phan. Phan cho rằng ngôn ngữ mới ra đời là do cộng đồng người nói loại tiếng Hán địa phương (Annamese Middle Chinese) chuyển sang nói tiếng Tiền Việt Mường. Tác động của quá trình chuyển đổi khiến tiếng Tiền Việt Mường biến thành tiếng Tiền Việt Mường lai, có nhiều phương ngữ. Một trong số phương ngữ đó sẽ biến chuyển qua nhiều thế hệ để trở thành ngôn ngữ mới đặc sắc là tiếng Việt. Như vậy, theo lập luận của Phan, có thể nói rằng chủ thể ban đầu tạo ra tiếng Việt, kiêm tác giả chữ Nôm, là những người Hán bản địa hóa chứ không phải người Việt Hán hóa. Toàn bộ đoán định trên phù hợp với diễn tiến lịch sử khi Lý Công Uẩn cùng nhóm công khanh người Mân chiếm quyền cai trị Đại Cồ Việt (năm 1009). Trước đó, các “kỳ nhân” bản địa như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn hẳn không có ý định tự thay đổi tiếng nói của mình. Điều này có thể dẫn đến trở ngại là chính quyền trung ương, ngoài văn ngôn Hán, còn dùng một thứ ngôn ngữ giàu tính địa phương mà không phải bất kỳ cộng đồng nào trong khu vực Đại Cồ Việt đều hiểu. Nếu dưới thời đô hộ, tiếng và chữ Hán là bắt buộc thì thời đầu tự chủ, Đại Cồ Việt thiếu ngôn ngữ bản địa chính thức mang lại sự nhất thống. Phải khẳng định rằng tập đoàn họ Lý có ý thức mạnh mẽ về một vương quốc phương Nam tách biệt khỏi Trung Hoa, tương tự vương quốc Mân của tổ tiên họ. Lý Thái tổ che dấu gốc Phúc Kiến và dĩ nhiên không thể sử dụng bất kỳ loại tiếng Hán nào trong triều đình. Có thể nhu cầu dùng chuyển ngữ phi Hán đã khiến nhóm cầm quyền ngả sang tiếng Tiền Việt Mường. Thứ tiếng này phát triển chậm chạp dưới thời Lý để rồi có bước nhảy vọt khi họ Trần mang vùng ven biển Bắc bộ hòa nhập mạnh vào văn minh Đại Việt. Những tác giả Nôm đầu tiên được lịch sử ghi nhận đều là trí thức duyên hải. Tuy nhiên, ngôn ngữ mới chỉ thực sự mang tính phổ quát khi Hồ Quý Ly/Lê Lợi nối kết vùng trại vào không gian Thăng Long đồng thời gia tăng chất bản địa trong lòng văn hóa Đại Việt cũ.

(16) Xem Li Tana (2014), Towards an environmental history of the eastern Red River Delta, Vietnam, c. 900-1400, Journal of Southeast Asian Studies, 45, trang 315-337 doi : 10.1017/S0022463414000319

(17) Theo thống kê dân số tháng 4 năm 2009, tỉ lệ người kinh và người các tộc khác trong toàn vùng từ đèo Hải Vân trở ra là 81.56/18.44.

Tỉ lệ này chỉ để tham khảo vì khái niệm “kinh” hiện đại không trùng khớp khái niệm “kinh” thời Lý Trần hay thời Lê sơ, địa bàn từ Thừa Thiên – Huế đến biên giới Trung quốc hiện nay cũng không trùng khít với khu vực từ Thuận Hóa đến biên giới Tống Nguyên Minh thời đó.

(18) Trần Nghĩa, Một bức “ký họa” về xã hội nước ta thời Trần: Bài thơ “An Nam tức sự” của Trần Phu, Tạp chí Văn học 1 (1972), trang 112-113.

(19) Xem Trần Nguyên Đán, Đề Quan lỗ bạ thi tập hậu, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nxb Khoa học Xã hội (Hà Nội 1978), trang 196.
Về Đầu Trang Go down
 
Người Việt hợp tác với giặc Minh
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Lịch Sử-