Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 00:19

Truyện xưa - Ái Hoa by Trà Mi Yesterday at 22:28

TÌNH BUỒN by lehong Yesterday at 22:10

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Yesterday at 22:01

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Trà Mi Yesterday at 21:56

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Yesterday at 21:50

KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI - VŨ ĐỨC SAO BIỂN by Trà Mi Yesterday at 21:44

Thế giới Tình yêu by nguoidienviyeunguoi Yesterday at 21:18

Sau 50 Năm Đọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư (GS Trần Văn Chi) by Trà Mi Yesterday at 21:14

Quốc Văn Giáo Khoa Thư by Trà Mi Yesterday at 21:02

So Sánh Hà Nội-Sài Gòn by Trà Mi Yesterday at 20:52

Tứ đại mỹ nhân Saigon by Trà Mi Yesterday at 20:28

Tìm hiểu về Tử thần - Sứ giả của cái chết by Ai Hoa Yesterday at 10:27

Saigon thuở đầu đi khai hoang by Trà Mi Yesterday at 09:57

SỰ GiÁO DỤC VÀ THI CỬ QUA CÁC THỜI ĐẠI Ở VIỆT NAM by Trà Mi Yesterday at 09:44

CHUYỆN NGHỀ .. by Trà Mi Yesterday at 09:32

Tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Như Huỳnh (blogger Mẹ Nấm) được trả tự do. by tvqm Yesterday at 09:05

Miền Nam Mến Yêu by Trà Mi Yesterday at 08:43

Trí thức miền Nam sau 75 by Trà Mi Yesterday at 08:25

Sài Gòn & Những tên đường by Trà Mi Yesterday at 08:22

Hoa gieo tứ tuyệt 3 by buixuanphuong09 Yesterday at 05:42

Bộ sưu tập Côn trùng by buixuanphuong09 Yesterday at 05:14

Thơ Hoàng Liên Sơn by Hoàng Liên Sơn Thu 18 Oct 2018, 22:37

Đường từ mía lau by thanhsingle Thu 18 Oct 2018, 21:26

HOẢNG CHƯA NÊN BÚNG GIẬU by Ma Nu Thu 18 Oct 2018, 20:33

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Wed 17 Oct 2018, 16:37

Đức Phật Nói Nhân Quả by mytutru Wed 17 Oct 2018, 13:56

Cảm Cười...chơi by nguoidienviyeunguoi Wed 17 Oct 2018, 13:24

THÁNH GIÓNG DẸP GIẶC ÂN by Ma Nu Wed 17 Oct 2018, 10:19

TẾU VUI : XIN LỬA by Ma Nu Wed 17 Oct 2018, 10:06

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Bí Mật Dầu Lửa

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3  Next
Tác giảThông điệp
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:14

Link Tải Ebook: http://myebookmaker.com/book.php?id=36269



Tựa


Hồi 11, 12, tuổi tôi không hiểu tại sao những cây đèn dầu lửa (dầu hôi) nhỏ lại gọi là đèn Huê-kỳ, nhất là mỗi khi đi qua phố hàng Thiếc ở Hà-nội tôi thấy tiệm nào cũng có vài ba người thợ đương chế tạo những cây đèn mà trong Nam này gọi là đèn trứng vịt ấy. Tôi nghĩ : “Đèn lớn thì gọi là đèn Tây còn đèn nhỏ thì gọi là đèn Huê-kỳ, chắc vì Tây giỏi hơn Huê-kỳ.” Và tôi yên trí với ý ấy. Thật là ngây thơ!

Sau này, khi đọc một bài báo tôi mới hiểu ở cuối thế kỷ trước, người Huê-Kỳ, đào được nhiều mỏ dầu lửa, cần phải kiếm thị trường để tiêu thụ thứ dầu ấy, mà khắp thế giới không có thị trường nào mênh mông bằng thị trường Trung-quốc, cho nên họ bèn làm hàng ức chiếc đèn dầu lửa rồi chở vô Thượng-Hải, cho không người Trung-Hoa. Vâng, họ cho không cũng như bây giờ họ cho không chúng ta bột D.D.T., lại phái người đi từng nhà, rất lễ phép yêu cầu chủ nhân cho xịt thử để trừ ruồi muỗi giùm chúng ta vậy. Dân Trung-Hoa dùng đèn và tất nhiên phải mua dầu của họ. Do đó mới có tên đèn Huê-kỳ.

Nửa thế kỷ trước họ phải quảng cáo lối “Mỹ” ấy vì nhân loại chưa thấy rõ công dụng ghê gớm của dầu lửa. Họ gọi nó là “Oil”, người Pháp kêu nó là “Pétrole”, các nhà hóa học mệnh danh nó là “Naphte”, nhưng các kỹ nghệ gia lại đặt cho nó cái tên là “Hắc-kim”, còn các chính trị gia xưng tụng nó là “cái gân của chiến tranh”. Vì nước nào có nhiều dầu lửa nhất thì chắc chắn là thắng trận.

Người ta đã biết nó từ thời thượng cổ. Trong Thánh kinh có nói ông già Noé thoa nó lên chiếc thuyền của ông, cho gỗ lâu mục, chiếc thuyền mà ông dùng để cứu vớt giòng giống loài người và thú vật trong trận Hồng Thủy. Các người Ai Cập lại dùng nó để ướp thây ma. Nhưng thời ấy người ta chỉ biết rằng nó là một thứ dầu đặc nổi ở trên mặt sông hoặc mặt hồ thôi.

Mãi tới năm 1859, Đại tá Edwin Drake, người Mỹ mới có ý nghĩ rằng ở dưới đất chắc phải có mỏ dầu lửa và ông lại gần bờ hồ Erié (tại Bắc Mỹ) đào một giếng dầu ở giữa cảnh rừng núi hùng vĩ của người Da-đỏ.

Ngay sau khi ông thành công, đồng bào của ông cuồng nhiệt ùa nhau đi kiếm dầu khắp nơi, như khoảng mười năm trước họ cuồng nhiệt đi đãi vàng ở Cựu-Kim-Sơn vậy.

Ở Pensylvanie, Californie, Texas, chỗ nào cũng có người hỳ hục đào. Người ta phá rừng, đục đá, làm xáo lộn cả mặt đất. Rồi thì, y như trong truyện thần tiên của Á-rập, những châu thành đông đúc đua nhau nổi lên ở giữa những nơi hoang vu với những nhà máy rầm rầm, những ống khói tua tủa. Trong một thời, biết bao nhà triệu phú phát lên, nhưng cũng biết bao sản nghiệp sụp đổ, vì có kẻ may, chỉ đào 13 thước đã thấy dầu thì cũng có người rủi, xuống tới 200 thước mà chưa gặp. Vả lại đào một giếng dầu không những tốn kém hàng ức Mỹ Kim mà nhiều khi lại nguy hiểm nữa : nếu không biết đề phòng trước mà đào nhằm lớp hơi ở trên mặt dầu thì hơi phì lên, bùng cháy và có thể thiêu ra tro cả một vùng rất rộng.

Các báo chí hồi ấy hoan nghênh nhiệt liệt sự phát minh của Đại tá Drake. Các nhà khoa học nghiên cứu dầu, tìm cách lọc và được những chất thạch lạp (paraffine) (1), những chất dung-môi (solvant) (2), dầu trơn (lubrifiant) và những nhiên liệu (combustible) (3) như dầu lửa, dầu ma-dút (mazout), các thứ dầu nặng (huiles lourdes) và nhất là dầu xăng.

Nhờ những nhiên liệu ấy, các động cơ phát triển một cách dị thường. Trong có vài chục năm người ta thấy xuất hiện ra biết bao kiểu xe hơi, máy bay, xe tăng, tầu biển, tầu chiến, máy cày, máy điện… Ta có thể nói không có dầu lửa (4) thì không có nền kỹ nghệ ngày nay, mà chiến tranh cũng không có bộ mặt như bây giờ. Đại tá Drake đã đoán đúng : Sự phát kiến của ông đã làm xáo lộn cả thế giới. Và chỉ cần đọc những tin đăng trên mặt báo hồi này về sự tranh chấp dầu lửa giữa Anh và Ba-tư, ta cũng đủ biết sự quan trọng của thứ “hắc-kim” ấy.

Đại tá cũng lại là một trong những người thứ nhất đưa ra giả thuyết này : dầu lửa do những thảo vật và thú vật chết, tan nát, biến chất rồi bị vùi xuống dưới lớp phù sa, cát, sỏi ở đáy biển, hoặc dưới lớp đá trong những cuộc biến chuyển vĩ đại hồi tiền sử.

Giả thuyết ấy chưa lấy gì làm chắc và hiện nay người ta vẫn chưa biết rõ nguồn gốc của dầu lửa.

Hầu hết các mỏ dầu lửa bây giờ đều do Mỹ và Anh khai thác. Đó cũng là một nguyên nhân quan trọng giúp họ thắng nổi Đức và Nhật trong chiến tranh vừa rồi. Nhưng các nhà bác học đã tính rằng chẳng bao lâu nữa những mỏ dầu sẽ cạn hết và họ đương tìm nhiều cách để cứu vãn tình thế nguy hiểm ấy. Họ đã chế ra được thứ dầu hóa hợp (synthétique) nhưng giá còn đắt quá. Họ lại đã tìm được dầu ở dưới đáy biển. Và mới rồi một tờ báo cho hay bác sĩ Zobell đương nghiên cứu cách “cấy giống” dầu lửa, nghĩa là nuôi các vi trùng tạo thành dầu lửa và diệt các vi trùng phá hoại dầu lửa để cho giếng dầu lâu cạn.


***


Cuốn “Bí mật Dầu lửa” này tả đời mạo hiểm, gian lao của Đại tá khi ông đi tìm và đào mỏ dầu lửa đầu tiên ở làng Titusville, miền Pensylvanie. Ông được chàng Sam Smith giúp từ đầu chí cuối. Năm 1935, nghĩa là 76 năm sau, chàng còn sống và kể lại chuyện Đại tá cho những khách du lịch tới thăm quê hương của dầu lửa.

Tác giả, ông Robert Gaillard là một trong những khách du lịch ấy. Khi về Pháp, ông viết cuốn “Le secret de l’or noir” để chép lại chuyện đó. Ông tiểu thuyết hóa nó một chút, nhưng chuyện vẫn là chuyện thật.

Khung cảnh trong truyện là một miền mênh mông hoang vu giữa nơi rừng núi của dân Da đỏ Cherakee ở gần hồ Erié. Vai chính gồm năm người:

● Đại tá Drake, có nhiều sáng kiến, cương quyết, chịu hy sinh cho khoa học và nhân loại, nhưng tính rất nóng nảy.

● Chàng Sam, được lòng người Da đỏ, có chí làm giàu và một lòng tin vô biên ở Đại tá.

● Ông già Smith, thân phụ chàng Sam, điềm tĩnh, mềm mỏng và rất có nhiều kinh nghiệm.

● Nàng Marjorie vui vẻ và kiên nhẫn.

● Và chàng Hoggan can đảm, tận tâm vô cùng.

Những đức tính của năm vai đó bổ túc lẫn cho nhau. Thiếu một người thì công việc không thành.

Không có chàng sam thì Đại tá không tới được miền có dầu lửa và cũng không được người Da đỏ giúp sức.

Không có ông già Smith thì Đại tá vì nóng nảy quá, không biết mềm mỏng với thổ dân mà tất lỡ việc.

Không có Hoggan kiếm thêm được tiền để mua khí giới và máy móc thì công việc phải bỏ dở.

Và không có nàng Marjorie thì không ai đủ kiên tâm để đào bới lớp dầu hết. Nàng vui vẻ an ủi, khuyến khích, săn sóc mọi người. Mối tình của nàng với Sam thật êm đềm. Tác giả đã khéo tả, vừa cho ta có cảm tưởng Marjorie là một nàng Tiên trong những truyện thần thoại, vừa cho ta thấy địa vị quan trọng của đàn bà trong nhiều công việc phát minh của nhân loại.

Một nhân vật khả ái nữa là Kaghamisham tù trưởng Da đỏ : chàng cùng với bộ lạc chống bọn người Mỹ khi ngờ họ lại chiếm đất đai, nhưng khi biết người Mỹ chỉ tìm dầu lửa thì chàng tặng cho bọn Đại tá Drake một cánh đồng dầu lửa để đáp ơn cứu sống chàng.

Vì vậy, đọc truyện này, chẳng những các bạn trẻ biết được phong cảnh hoang vu và hùng vĩ của một miền ở Bắc Mỹ, biết cách mạo hiểm trong rừng sâu, biết đời sống và tính tình của một bộ lạc Da đỏ, mà còn học được những gương quyết tín ở sự thành công rực rỡ, hy sinh cho một lý tưởng cao cả không màng danh lợi, kiên nhẫn đi cho tới đích, biết cương quyết, nhưng cũng có lúc nên mềm mỏng và luôn luôn phải tập suy nghĩ, có óc sáng kiến. Có đủ bấy nhiêu đức thì mới thành công trong những việc lớn được.

Thấy truyện của Robert Gaillard đã hứng thú lại rất có lợi cho sự đào luyện nhân cách, cho nên tôi dịch lại để cống hiến các bạn thiếu niên một món giải trí bổ ích và mong rằng các bạn tập được tinh thần mạo hiểm của người phương Tây để sau này tìm kiếm khai thác những mỏ kim thuộc còn đương yên giấc ngủ hàng triệu năm trong lòng đất của non sông, tại miền thượng du Bắc Việt và dãy núi Trường Sơn ở Trung Việt. Và biết đâu đấy, một ngày kia các bạn chẳng đào được một mỏ dầu lửa như Đại tá Drake (5), hoặc một mỏ… uranium nữa, để cải thiện đời sống của nhân loại chứ không phải để chế bom nguyên tử!

Long Xuyên ngày rằm tháng chạp năm Tân Mão (1951)
                                                                                                                         

                                                                                                                                               DỊCH GIẢ



______________

(1) Chất trắng lấy ở dầu lửa dùng làm nến (đèn cầy) và làm dầu xổ.

(2) Chất lỏng có thể hòa tan chất khác được.

(3) Chất đốt cháy.

(4) Tiếng dầu lửa trong bài tựa này có 2 nghĩa : Khi thì chỉ thứ dầu đen, đặc, mới lấy ở dưới đất lên như ở đây ; khi thì chỉ thứ dầu đã lọc rồi mà ta dùng để đốt đèn như trong tiếng đèn dầu lửa.

(5) Cách đây vài tháng, báo hằng ngày đăng tin một kỹ sư ngoại quốc bảo rằng Việt Nam có thể có mỏ dầu lửa (Chú thích tháng 10 năm 1968)


Được sửa bởi nhanbkvn ngày Wed 08 Jun 2016, 10:21; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:15

PHẦN THỨ NHẤT

Chương 1

THÁNH DƯỢC



Dược sư Peter Kier không phải như vô số ông lang băm hồi đó ở Mỹ, trộn đại vài vị thuốc không công phạt gì hết rồi nói rằng thuốc trị được bá chứng mà làm giàu một cách mau chóng.

Không, “thánh dược” của ông, ông phải đích thân đi kiếm năm 1858 ở dãy núi Alleghanis. Ông phải chịu ngàn nỗi nguy hiểm, trốn tránh dân Da đỏ Delawares, chống cự với những thú dữ đói khát ; nhưng sau, chính Pontiac, vị Chúa Da đỏ đã ân cần tiếp đón ông và để tỏ tình thân thiện, lại tặng ông một chiếc khăn choàng thêu, một đôi giày da hoẵng (1) và cho một bọn hộ tống ông chở vị thuốc đó về Pittsburgh nữa.

Các thân chủ của ông bấy giờ khát khao vị thuốc ấy lắm. Cho nên suốt ngày khách mua nườm nượp trước cửa tiệm nhỏ của ông trong đó ông bán đủ thứ : thuốc uống, đồ chơi, thức ăn. Chưa bao giờ ông buôn bán được phồn thịnh như vậy. Tại phía sau, Sam Smith, một thanh niên giúp việc ông ở Venango cùng về với ông, túi bụi đổ thuốc vào những ve 10 phân lít một.

Chất dầu đen và nặng làm nhờn tay chàng và cái mùi băng phiến của nó làm cho chàng chóng mặt như say rượu, nhưng chàng không sao ngừng tay được vì làm không kịp, người mua đông quá.

Mỗi ve nhỏ bán 2 xu mà thùng đựng tiền của ông Kier đầy nhóc bạc cắc.

Từ mấy ngày nay ông khỏi phải hết hơi khoe như hồi đầu những tánh chất của vị thần dược của người Da đỏ đó nữa. Nhiều người đã thấy nó linh nghiệm rồi, khỏi cần phải quảng cáo. Vả lại ông khôn khéo, cho in những tờ cáo bạch rồi thuê tụi nghèo đói rách rưới đi phát cùng đường ở châu thành Pittsburgh.

Trong tờ cáo bạch ông tuyên bố : “Bà con có đau bệnh gì, cứ dùng thuốc của tôi thì sẽ mạnh. Dầu của tôi đã nổi danh là trị được bệnh đui, bệnh điếc, bệnh tê liệt. Muốn biết nó thần hiệu ra sao, xin bà con cứ hỏi các người cùi, đau gan, đau mật, hoặc bị chứng phong thấp, bị bệnh thần kinh.”

Ở dưới lại in lời cảm tạ của những thân chủ : ông Hawkes ở Boston đau tim chỉ uống 3 ve mà khỏi, bà Childereek ở Savannah dùng thuốc có 3 ngày mà hết tàn nhang ở mặt. Sau cùng một người hói muốn giấu tên, chỉ bôi có nửa tháng mà tóc mọc lên rậm, mềm và tơ hơn hồi trước nhiều.

Đã 6 giờ chiều mà khách hàng còn chen chúc đợi ở trước. Ông Kier bảo họ hôm sau trở lại vì ông sắp đóng cửa tiệm. Rồi ông vào phía sau, nói lớn tiếng:

- Sam! Thôi nghỉ. Rửa tay đi và có muốn đi chơi thì đi. Nhưng ngày mai rán tới sớm nhé.

Sam đáp : Dạ.

Vài phút sau, chàng đóng cửa tiệm, rồi đi dạo trên đại lộ, trong lòng dương dương tự đắc và tràn trề hy vọng vì tự nghĩ mới 17 tuổi đầu được tự do mà mỗi tháng lại để dành được ba Mỹ Kim lận.

Chàng rảo bước, đút tay túi quần, vừa đi vừa huýt gió và xóc những đồng tiền vàng cho nó kêu leng keng. Vì những đồng tiền ấy mà đêm nào chàng cũng mộng thấy của cải và hạnh phúc.

Thật chàng đã khó khăn mới xin phép được cha để theo ông Kier. Cô em họ xa của chàng, nàng Marjorie King cũng khóc lóc khi chàng lên đường. Chính chàng đã rán lắm mới giữ được khỏi thổn thức, vì chàng không ưa thành thị, chàng thích căn nhà có cha già ở Titusville, thích hồ Erié đầy cá và khu rừng rộng đầy con mồi. Nhưng chàng có tham vọng và chỉ muốn làm giàu. Muốn vậy chỉ có cách là ra thành thị. Chàng tự nhủ : “Ba Mỹ kim. Bắt đầu lên rồi đây. Khi mình về, cô ả Marjorie chắc ngạc nhiên lắm, hồi đó nghi ngờ về tương lai của mình và khuyên mình an phận ở nhà theo nền nếp tổ tiên”.

Chàng đương khoan khoái nghĩ tới những chiếc bánh tráng bột bắp rất ngon của cô Marjorie, tới thứ rượu bia cha chàng chế và thứ thuốc hút mà ông tẩm rượu và mật, thì bỗng thấy có ai chạm vào vai mình. Chàng quay lại. Một người trạc tứ tuần đương ngắm chàng, thân hình cao thẳng và mạnh như cây bá hương đỏ.

Trên mặt cương quyết của người ấy có một thẹo dài nằm ngang má từ tai bên trái tới miệng.

Người đó hỏi:

- Có phải anh làm cho dược sư Kier không?

Sam đáp:

- Phải.

- Và chính anh giúp ông ta bán thuốc?

Sam gật đầu một lần nữa.

- Tôi là Đại tá Edwin Drake. Anh còn trẻ, không nhớ được cuộc chiến tranh với Mễ-tây-cơ cho nên anh chưa biết tôi. Không sao. Anh đi lại tiệm ăn với tôi, tôi có chuyện muốn nói với anh.

Rồi Đại tá nắm tay Sam, dắt lại một quán ồn ào, rất đông khách.

Trong góc quán có một lò lớn để quay gà, vịt và heo nữa. Các công tử và các ông hội đồng thường lại đó uống rượu “rom” trước bữa ăn và sau bữa còn nốc thêm mấy ve bia nữa.

Đại tá Drake bảo Sam ngồi xuống và hỏi:

- Anh có biết dược sư Kier kiếm thứ dầu mà ông khoe là trị được bá chứng ấy ở đâu không?

Sam hơi ngạc nhiên và lấy làm tự đắc được ngồi trong một quán sang trọng, bên cạnh một vị đại tá anh hùng.

Chàng đáp:

- Biết chứ! Ở tại xứ tôi mà! Ở Titusville, gần hồ Erié, trên Suối Dầu và trên mặt hồ.

- Anh biết miền đó không?

- Thưa ông, biết rõ lắm. Tôi sanh tại Venango rồi qua ở Titusville. Tôi đã thấy tất cả các bộ lạc (2) Da đỏ từ Michilimakinak tới Ohio. Tôi biết nói các thổ ngữ (3) Sioux, Mandangua, Cherakee, Delaware. Tất cả tụi đó đều là bạn thân của tôi.

- Được lắm. Thôi chúng ta uống rượu đi rồi ăn. Ông Kier trả công anh bao nhiêu?

- Thưa mỗi ngày năm cắc nhưng tôi chắc chắn rằng khi bán hết dầu, ông chủ tôi sẽ dắt tôi theo để đi lấy dầu với ông và lúc đó tôi sẽ được thưởng mười đồng nữa.

Đại tá mỉm cười:

- Ông Kier rộng rãi thật.

- Dạ! Vì tuy khỏi alleghany, đường có nguy hiểm và khó nhọc thật, nhưng lấy dầu thì không gì dễ bằng. Nó ở ngay trên mặt hồ hoặc suối. Chỉ việc cúi xuống múc từng thùng một! Tụi Da đỏ không phản kháng chi hết, chúng biết rằng ông Kier có múc hoài cũng không khi nào hết mà sợ.

- Và anh tin rằng dầu ấy linh nghiệm ư?

Sam nhún vai:

- Tôi thú thật với ông, không bao giờ nghĩ tới điều ấy hết. Tụi Da đỏ dùng nó làm thuốc. Tôi nghĩ chỉ những thày mo (4) của bọn họ mới biết cách chế thứ thuốc ấy thôi. Ông Kier thì múc dầu về rồi bán liền, không chế gì hết. Nếu nó không trị được bệnh thì cũng vô hại.

Đại tá uống một hơi hết ly rượu, kêu một ly khác rồi nhìn thẳng vào mặt người thanh niên, bảo:

- Anh Sam nè, tôi thẳng thắn đề nghị với anh như vầy : tôi trả anh mỗi ngày một đồng để dắt tôi lại suối Dầu và nếu mọi sự xong xuôi, tôi sẽ thưởng anh hai chục đồng.

Chàng mừng quá, mãi mới ấp a ấp úng được:

- Ông nói thật chứ?

- Thật! Nếu anh bằng lòng thì khoảng tám ngày nữa chúng ta khởi hành. Tôi cho anh hay trước tôi sẽ có ba chiếc xe, mười con la cái, một số lớn dụng cụ và đủ khí giới tốt để cho tụi chó chết Da đỏ (5) không dám ngó ngóe bén mảng tới đoàn xe của ta.

Đại tá thường có giọng thô lỗ ấy của các quân nhân. Sam nói:

- Ông muốn cạnh tranh với ông Kier. Nếu tôi giúp ông thì bất nghĩa với ông chủ của tôi, ông ấy tốt với tôi lắm.

Đại tá cười rộ:

- Quỷ thần ơi! Ông chủ anh là một đứa con nít. Thứ dầu ấy mà chỉ dùng để chữa bệnh tê bại và bệnh câm thôi ư? Không biết dùng nó vào việc khác thì là đồ tồi. Này em, tôi thề với em rằng hai chúng ta có thể làm xáo lộn cả thế giới. Em có quả quyết theo tôi không?

Sam như bị lòng nhiệt huyết và giọng cương nghị của Đại tá thôi miên, nhìn ông một lúc, mắt long lanh ngưỡng mộ rồi hăng hái đáp:

- Dạ có!

Ông Drake chìa bàn tay hộ pháp ra:

- Đập vào đây (6). Thỏa thuận chứ? Thôi, ăn đi và hẹn tám ngày nữa sẽ gặp nhau.


***

Suốt một tuần lễ, Sam mơ tưởng tới vàng. Chàng tưởng tượng cảnh giàu có. Nhưng nào chỉ có bấy nhiêu? Chàng sẽ còn làm xáo lộn cả thế giới kia! Tên chàng, bằng chữ vàng, sẽ chói lọi trên cẩm thạch như tên các vị danh nhân, như Washington (7), như nghị trưởng Bucchanan!

Chàng đã xin ông Kier cho chàng thôi việc, nói rằng xa ông chàng buồn lắm, nhưng một vận may vô cùng đã tới và chàng phải đi để lập một sự nghiệp lớn lao hơn.

Dược sư cho rằng chàng hơi khùng và kiếm được ngay người khác để thay. Ở Pittsburgh có cả trăm thanh niên đương thèm thuồng chỗ đó!

Sau cùng, ngày quan trọng đã tới. Từ hừng sáng, Sam lại chợ Pittsburgh đã thấy Đại tá Drake với xe cộ, la cái và hai người đồng hành nữa : Jack Hoggan và George Kent, cả 2 đều mạnh khỏe, da mặt rám nắng, chai như da nai. Coi điệu bộ của họ cũng biết ngay họ đã lưu lạc giang hồ, đã cả ngàn lần thoát chết trong những cánh đồng cỏ mênh mông hoặc những khu rừng xanh thăm thẳm.

Những kẻ qua đường thấy họ, không ngạc nhiên chút chi hết, vì thời đó thường có những người khẩn hoang bỏ thành thị, mạo hiểm dấn thân vào những miền xa lạ để làm giàu hoặc chôn xương nơi đất khách.

Sam vừa leo lên một chiếc xe do đại tá đánh thì cả đoàn lữ hành lên đường ngay.

------------------------
(1) Loài hươu con.

(2) Họ chưa tổ chức thành quốc gia, mỗi bộ lạc do một tù trưởng cầm đầu.

(3) Tiếng nói của dân trong miền, tức của mỗi bộ lạc.

(4) Thầy cúng của thổ dân.

(5) Thời đó người Mỹ vẫn còn cái giọng như vậy với người Da đỏ.

(6) Cũng như mình móc ngón tay nhau, tỏ ý thỏa thuận.

(7) Vị Tổng thống đầu tiên của Huê Kỳ.

Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:16

Chương 2

QUA ĐÈO QUA SUỐI



Lần trước gặp Đại tá, Sam chưa có dịp nhận xét được ông kỹ. Lần này ngồi trên xe, bên cạnh ông, chàng thấy ông xấu xí nhất đời : mũi vừa dài vừa to, môi thì dày, nhất là vết thẹo lớn ở má bên trái mới tai hại. Nhưng đi được một quãng, tới chỗ ngừng thứ nhất, cảm tưởng đó tiêu tan mất và chàng chỉ còn nhận thấy ông tràn trề nghị lực về thể chất cũng như về tinh thần. Ông luôn luôn hoạt động, coi sóc đoàn xe, ra lệnh cho người này người khác một cách ngọt ngào và thân mật và không một giây nào là ông không chăm chú dò xét cảnh vật ở chung quanh hoặc nét mặt những người đồng hành. Người chiến sĩ già ấy thử sức bền bỉ của họ, nhưng ông có thế yên tâm vì họ đều là hạng lực sĩ cả.

Một điều làm cho Sam rất ngạc nhiên là Đại tá chở theo một số khí cụ vĩ đại. Anh tự nghĩ, có muốn làm xáo lộn cả thế giới như Đại tá nói thì mang theo vài đồ dùng cũng đủ, hà tất phải chở theo cả đống sắt ấy. Nào là những ống dài vô kể, những ròng rọc, trục kéo, cán quay… các thứ ấy chỉ làm cho hành trình thêm khó khăn vì đường mòn đã khó đi mà lại phải qua đèo, qua đầm, muôn phần nguy hiểm nữa! Mấy trăm chiếc thùng sắt kia chất trên một cỗ xe thì còn được đi, nhưng còn những khí cụ khác ích lợi gì đâu?

Tuy chàng bẩm sinh rất dè dặt, nhưng khi tới chỗ cắm trại thứ nhất, chàng không thể giữ kín nỗi lòng được nữa mà phải hỏi:

- Thưa Đại tá, tôi không dám khuyên ông, nhưng ngay từ ngày mai, chúng ta tới một miền rất hoang vu mà có lẽ chưa có một người da trắng nào đặt chân đến hết. Không có đường cái mà có lẽ cũng không có đường mòn xe đi được nữa. Những đồ sắt vô ích này sẽ làm cho hành trình chúng ta khó khăn lắm. Với lại qua sông, qua đầm, nó sẽ sét mất.

Ông Drake đáp giọng hơi gay gắt:

- Này em, tôi không quí gì bằng những đồ sắt ấy và những ý nghĩ trong đầu tôi. Tài sản của tôi đó. Em không muốn tôi bỏ cả tài sản của tôi chứ?

Sam nghĩ tới tiền công một đồng một ngày mà lo lắng. Tài sản của ông ấy chỉ có đống sắt bỏ đi ấy thôi ư? Vậy ông tính trả công mình bằng thứ ấy sao?

Nhưng mệt quá, chàng ngủ li bì và sáng hôm sau đoàn lữ hành lại tiếp tục đi tới Alleghany.

Từ đây là bắt đầu cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Toàn là đá, núi như có ai đục cạnh thật sắc bén. Miền ấy có hỏa sơn, đất vài chỗ nứt ra sâu hõm xuống thành đường dài hàng trăm thước xe đi lọc cọc lắc lư thật khó khăn.

Trước cảnh hùng vĩ ấy, loài người thấy mình rất nhỏ bé.

Mặt trời ở trên đỉnh đầu chang chang chiếu xuống ; đoàn xe tiến rất chậm vì la đã mệt mỏi, thỉnh thoảng người phải xuống xe, đầy tiếp mới qua được những khúc đường gồ ghề.

Không thấy một bóng người. Toàn là chim, phần nhiều là những mãnh cầm như loài thần ưng, loài đại bàng trắng chỉ ở trên những ngọn núi cao chót vót, không ai tới được. Không khí vang động tiếng chim kêu.

Đã quen sống trong miền ấy từ thuở nhỏ, Sam thuộc đường lắm và bẩm sinh chàng có cái giác quan về phương hướng cũng như những người sống giữa cảnh thiên nhiên, trong rừng sâu núi cả. Ông Drake để chàng dẫn đường và đôi khi chàng có cảm tưởng rằng chính chàng làm chủ đoàn lữ hành.

Họ đi như vậy hai ngày, ăn những thực phẩm dự trữ mà Đại tá đã mua ở Pittsburgh. Nhưng ông nghĩ phải đề phòng sự bất trắc, nhất là trong những cuộc hành trình đầy nguy hiểm như vậy, cho nên ông quyết định rằng khi nào tới miền rừng thì phải săn bắn mà ăn, không được dộng tới những thực phẩm mang theo.

Ông phân phát khí giới : mỗi người được một khẩu súng sáu và một cây súng trường kiểu mới nhất dùng trong quân đội.

Ông chỉ cách dùng những khí giới đó cho ba người xúm ở chung quanh rồi kết:

- Có các súng này, anh em không còn sợ gì nữa ; cách năm trăm thước thì phải bách phát bách trúng.

Họ đã định ra khỏi đường sâu hõm thì cắm trại. Phải đốt nhiều lửa cho bớt lạnh và cũng để cho các thú dữ tò mò không dám tới gần. Vậy ai nấy tới chỗ ngừng đều đi kiếm củi khô ngay. Trong khi Sam đương lượm củi, chàng nghe có tiếng Đại tá gọi. Chàng chạy lại, thấy Đại tá đương cúi xuống đất:

- Anh Sam, lại đây, coi đống tro này.

Sam cúi xuống, thọc tay vô đống bụi xám rồi thưa:

- Có ai đã cắm trại ở đây rồi. Không phải mới hồi hôm, nhưng cách đây cũng chưa trên hai ngày vì tro đã lạnh nhưng chưa bị gió thổi tản mát đi.

Đại tá đứng thẳng lên, vẻ lo âu, hỏi:

- Tụi nào cắm trại vậy?

- Chắc chắn tụi Da đỏ rồi. Người Da trắng không cần lựa củi khô, họ đốt cả những cành tươi thành ra khói bốc lên mù mịt, ở xa thấy được. Tụi Da đỏ chỉ đốt củi khô, cho không có một sợi khói nào bay lên hết và như vậy ở xa không ai biết rằng có họ.

Đại tá ngắt lời:

- Tôi biết. Nhưng lành hay dữ?

Sam nhún vai:

- Chúng ta ở trong khu vực của bộ lạc Delaware, nhưng có lẽ là tụi mọi Cherakee đi kiếm miền có nhiều mồi để săn bắn rồi ngừng tại đây. Chúng có thể tưởng lầm rằng mình đuổi theo chúng để tranh mồi với chúng. Cho nên phải đề phòng chúng tấn công mình.

- Vậy phải cho hai bạn kia hay và đề phòng ngay đi.

Họ lựa củi rất kỹ, chỉ đốt những cành thiệt khô và định thay phiên nhau canh gác. Hoggan và Kent canh trước.

Khi lửa cháy rồi, họ ăn qua loa rồi quấn mền sửa soạn ngủ.


Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:16

Chương 3

SĂN BẮN



Đêm ấy không xảy ra chuyện gì hết.

Mới bình minh, đoàn lữ hành lại tiếp tục đi về phía rừng. Miền này khó qua hơn miền núi vì dây leo chằng chịt và không có đường mòn.

Nhưng mới đầu xe đi hơi nhanh vì mặt trời chưa nóng, la còn khỏe. Vả lại đường hơi phẳng, trống ; nhờ có nhiều đá, cây cối còn thưa.

Khi mặt trời lên đến gần đỉnh đầu, họ bắt đầu tới khu rừng hoang. Một dòng suối đổ xuống như thác, trắng xóa rồi uốn khúc chảy ở gần đó, tiếng ào ào văng vẳng đưa lại.

Đại tá ra lệnh:

- Ngừng lại đây. Hoggan và Kent đi câu còn Sam và tôi đi săn.

Mới đi sâu vào trong rừng, hai thày trò có cảm giác như chìm vào một cõi tịch mịch phi thường. Nhưng nếu chú ý nghe thì thấy trong sự tĩnh mịch ấy có vô số tiếng động nho nhỏ gần như nhận không được vì bị cây cối sầm uất ở chung quanh làm nghẹt tắt đi.

Hàng trăm sinh vật nhỏ lanh lẹ đương rình họ. Những con sóc ở trên cây bách bạo dạn nhẩy từ cành này qua cành khác hoặc vội vàng chạy qua một khoảng rừng trống. Những con ưng (1) đây đó lượn vòng tròn ở trên không. Nghe tiếng vỗ cánh, tiếng chíp chíp nhè nhẹ, tiếng sột soạt trên lá khô, ta đoán được rằng có những loài cầm thú nhỏ bé, rụt rè, mắt long lanh sợ sệt đương nhìn theo hai người đi săn.

Họ chỉ kiếm mồi lớn thôi. Họ đã đi một giờ trên mặt đất mùn (2) êm như nhung, nhưng đầy cành khô dòn răng rắc, mà không kiếm được con mồi nào hết. Mệt quá, Đại tá ngồi phịch xuống một thân cây đổ trên mặt đất, đặt súng lên đùi rồi chấm mồ hôi trên trán.

Ông nói, giọng mỉa mai:

- Tên Da đỏ nào muốn kiếm mồi ở đây sẽ thất vọng tới bực nào! Không chịu săn họa mi và sơn ca thì đành chết đói.

Không thấy Sam đáp, ông quay lại thì ra ông đã nói một mình. Sam không có ở đó. Ông đứng dậy, tính kêu chàng thì có một tiếng súng nổ vang ở trong rừng, kế sau đó cả ngàn tiếng sột soạt của các con thú vật cuồng loạn chạy trốn trong bụi hoặc trên cành.

Đại tá gọi:

- Sam! Kiếm được gì không?

Một tiếng ở xa vọng lại:

- Dạ.

Một chút sau ông thấy chàng đi lại, vác một con nai dính máu và môi huếch lên trong lúc hấp hối. Nhưng chàng liệng con vật xuống đất rồi nhẩy vội vào trong bụi. Đại tá thấy vậy ngạc nhiên quá, tự nghĩ chắc Sam đã thấy một con mồi khác, rồi ông yên lặng ngắm nghía con nai.

Vài phút sau, chàng thanh niên trở lại, vẻ ưu tư phiền muộn hiện rõ trên mặt.

Ông Drake nhận thấy, hỏi:

- Thấy cái gì không?

- Có. Và tôi tự hỏi không biết có nên bắn phát súng đó không?

- Nhưng có cái gì mà anh lo lắng vậy?

- Thưa Đại tá, lúc nãy, khi tôi trở về đây hình như tôi nghe thấy tiếng mái chèo vỗ trên nước. Tiếng đó đặc biệt lắm. Cho nên tôi liệng con nai rồi nhảy vội vô bụi. Tôi đã không lầm. Vì khúc sông ở ngoài kia chảy vô gần đây và tôi thấy trên dòng nước một chiếc thuyền độc mộc (3) của tụi mọi… và tất nhiên là trong thuyền có một tên mọi!

Đại tá cũng đâm lo, hỏi:

- Bộ lạc nào vậy? Thù hay bạn?

- Tôi không biết nó thuộc bộ lạc nào nhưng tôi biết chắc rằng hình sơn trên mình nó là hình của bộ lạc Cherakee. Trong những khu rừng này, khó mà gặp được bạn lắm. Nói chung thì tụi Da đỏ luôn luôn là kẻ thù của người Da trắng.

- Vậy mà tôi cứ tưởng anh thân với chúng.

- Dạ, thân. Nhưng trong bọn chúng mình chỉ có tôi thân với chúng thôi, vả lại tôi không thân thiết hết thảy tụi nó.

Chàng vác con nai lên rồi lẳng lặng đi về. Tới chỗ cắm trại thì hai người kia đang làm thức ăn. Họ câu chỉ trong một lát mà được rất nhiều cá.

Kent làm cá rồi xiên để nướng còn Hoggan thì kiếm củi để đốt.

Sam liệng con nai xuống rồi cùng đi kiếm củi với Đại tá. Canh đã sôi, những con cá nhỏ như lá liễu, vàng ánh, bốc hơi lên ngào ngạt, làm cho phát thèm.

Bốn người ngồi đối diện nhau cùng ăn và Đại tá bắt đầu cho Hoggan và Kent hay chuyện Sam đã thấy tên mọi Da đỏ rồi ông kết luận:

- Tôi nghĩ chúng mình đã bị họ rình rồi, tên Da đỏ đó sẽ theo dõi chúng ta. Nó sẽ báo tin cho tụi nó hay. Ngay bây giờ thì chắc chắn là không có chi phải lo hết. Khi nào chúng mình vô tình làm điều gì phật ý chúng thì lúc đó mới nguy hiểm. Chẳng hạn nếu chúng thấy ta ở lâu trên đất này, nguy hại cho chúng, thì tất chúng sẽ không để yên cho ta đâu.

- Còn như nếu chúng ta săn mồi của chúng?

- Chúng biết điều lắm, hiểu rằng chúng ta phải săn mồi để có thức ăn. Nhưng cũng đừng nên phá phách một cách vô ích.

Bữa đó kém vui. Ăn xong, bọn lữ hành lại tiếp tục đi mãi tới sẩm tối, ai nấy đều mệt lả, mới ngừng lại. Cả buổi họ phải dùng gươm đốn cây, chặt dây leo để mở đường, thành thử mất nhiều thì giờ và rất khó nhọc.

Tới chỗ ngừng, Sam cầm rìu phá một khoảng đất hơi rộng để cắm trại, rồi đi kiếm củi khô. Khu đất ấy, cành cây bao phủ ở trên đầu, khít như một cửa tò vò và trời mới chiều mà trong đó đã tối như đêm dày. Sam kiếm được một cây khô, lấy tay đẩy và chân đạp, cây gục xuống liền. Ở chỗ ngãy, vỏ cây banh ra ruột cây đã mục, thành bụi, khô như bùi nhùi (4) và bắt lửa nhậy gần bằng thuốc súng. Chàng bốc một nắm, đem về trại đánh một hòn đá lửa và nhóm bếp.

Vỏ cây đó cháy lên, Hoggan nướng một miếng thịt nai lớn.

Họ ăn vội rồi quấn mền ngủ. Lúc đó đương mùa nắng họ khỏi phải dựng trại. Họ phủ cành tươi lên trên cho ngọn lửa cháy âm ỉ vì ban đêm khói có bốc lên cũng không sợ ai thấy, vả lại khói không sao lên khỏi cái tàn lá ở trên đầu họ được.

Hoggan, Kent và Đại tá ngủ li bì. Sam quen với cảnh rừng và đồng cỏ, cho nên thức để canh. Được một lúc, chàng thấy thú vật hiện ở chung quanh trại. Chúng tò mò ngó ngọn lửa, mắt sáng như than hồng. Một con cú vọ đậu trên một cây gần đó, buông tiếng kêu thê thảm.

Rừng đầy những sức huyền bí, hư ảo. Như có hàng ngàn vật lạ, đương hăm dọa bọn người Da trắng.

Sam chăm chú ngó. Chàng khoan thai nhồi một cối thuốc lấy bùi nhùi châm rồi bình tĩnh hút. Chàng tự hỏi Đại tá muốn bắt chàng làm gì đây. Chàng không quen máy móc. Những khí cụ bằng sắt vô ích và cồng kềnh kia làm chàng lo lắng. Mặc! Sau này sẽ biết. Chỉ ít bữa nữa thôi, không phải đợi lâu đâu. Chàng nghĩ sắp được gặp Marjorie và thấy lòng rung động nhẹ nhàng, êm ái hơn là khi chàng nhớ lại vẻ mặt cứng cỏi nhưng thẳng thắn làm sao, hiền từ làm sao của ông thân chàng.

Một bầy chó sói tới. Chúng ngồi xổm, nhìn ba người ngủ và một người thức. Chúng no mập và hiền, có vẻ như những con chó tốt, lông cứng. Sam đứng dậy, liệng vài cành vô đống lửa, rồi trở về chỗ, quấn mình trong mền.

Chàng có cảm tưởng không có chi xảy ra hết và chàng thiu thiu rồi ngủ luôn như mấy người kia.

Chàng tỉnh dậy trước hết. Ánh sáng mặt trời chiếu qua vòm lá cao và rậm của khu rừng mờ mờ. Lửa vừa tàn.

Sam nhận thấy rằng đàn chó sói vẫn không nhúc nhích.

---------------------------
(1) Một loài mãnh cầm.

(2) Lớp đất đen do lá thối mà thành.

(3) Người Mọi khoét một thân cây lớn để làm thuyền. Thuyền hẹp và dài, nhưng rất chắc.

(4) Vật dễ bén lửa dùng để nhóm lửa.

Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:17

Chương 4

THỔ DÂN VÀ BEO



Ròng rã hai ngày nữa, tới một miền đất cứng, rừng thưa, đoàn lữ hành tiến mau hơn được.

Đại tá nói:

- Tôi có cảm tưởng rằng chúng ta gần tới nơi.

Sam đáp:

- Thưa phải. Cầu Trời phù hộ, không gặp điều gì cản trở hết.

Đoàn xe càng đi vô sâu, chàng thanh niên đó càng cảm thấy có cái gì không yên. Những người sống lâu trong rừng thường có linh cảm ấy, giác quan thứ sáu kỳ dị ấy.

Bốn người lữ hành không biết gì về tên mọi hết, cũng không thấy một ngọn lửa nào, một dấu vết cắm trại nào, một bóng người nào cả. Nhưng Sam mơ hồ cảm thấy, đoán được rằng ở chung quanh có kẻ nào đương lẩn núp rình mò. Cảnh rừng như mất sự điều hòa. Chàng khó chịu về điều ấy, cho nên thỉnh thoảng chàng thình lình nhảy từ trên xe xuống, ngừng lại, quạu quọ, cánh mũi phập phồng như một con thú đánh hơi thấy sự nguy hiểm.

Ba người kia thản nhiên, tâm hồn không rối loạn kỳ dị như Sam. Họ có thấy gì đáng lo đâu?

Nhưng một tai nạn sắp xảy tới.

Từ buổi sáng họ theo bờ một dòng sông có thác mà loài cá hương ưa ở. Hoggan tiếc rằng Đại tá không cho ngừng lại một chút để câu, chắc chắn là được nhiều cá lắm. Nắng mỗi lúc một gắt. Mấy con la đã mệt nhoài. Ông Drake mồ hôi đầm đìa, phải cho ngừng sớm để nghỉ ngơi, ăn uống.

Họ xuống xe và như thường lệ, ai nấy đi kiếm củi. Sam vẫn có cảm giác bất an đó, nhưng chàng không cho ai hay cả. Chàng rán xua đuổi cảm giác ấy đi, nhưng nó vẫn trở lại. Chàng đương đi sâu vào phía trong, bỗng nghe có tiếng lá sột soạt ở bên rồi một vật gì rớt đánh bịch xuống đất. Chàng tháo cây súng đeo ở vai – chiếc súng ấy không bao giờ rời chàng từ khi chàng thấy tên mọi – và đứng rình một lúc.

Có cái gì xảy ra thật. Tai chàng quen nghe các tiếng động nhỏ, thấy rõ có một sinh vật gì đương đi trên lớp đất mềm trong rừng. Chàng đoán không phải là tiếng người mà là một con thú vào loại beo đương bước chầm chậm và đều đều.

Rừng rậm quá, chàng không ngó xa được, đứng yên một chỗ, quay đi quay lại ngó chung quanh.

Thấy yên lặng một hồi lâu, chàng về chỗ nghỉ. Ba người kia đợi lâu quá không thấy chàng về, lấy làm lạ và ăn trước. Sam ăn vội vàng, thỉnh thoảng lại nghe ngóng tiếng động ở trong rừng. Nhưng cảnh vật hoàn toàn tĩnh mịch.

Đại tá hỏi Sam:

- Anh có vẻ lo lắng. Có gì vậy?

Chàng đáp:

- Tôi lo lắng thật. Tôi không hiểu vì sao. Có lẽ tôi lầm. Không có gì xác nhận điều tôi lo hết.

Bốn người hút thuốc rồi sửa soạn lên xe. Nhưng khi ông Drake đương buộc la vào xe thì có một tiếng kêu như xé không gian.

Sam, súng sẵn trong tay, chạy về phía tiếng kêu. Ba người kia chậm chạp hơn, chạy theo và khi kịp Sam thì chàng đã bắn một phát súng rồi. Trông cảnh tượng ở trước mắt, họ hiểu liền. Một tên Da đỏ nằm lăn trên mặt đất, bên cạnh một con beo lớn lông vấy máu, đương giẫy giụa, hấp hối.

Sam giảng:

- Con ác thú ấy vồ tên mọi, nhưng tôi tới kịp.

Ông Drake lăng xăng ở chung quanh tên Da đỏ bị beo vồ ở cánh tay : vết thương rộng và sâu, máu chảy như suối. Tên Da đỏ vẫn tỉnh không tỏ vẻ sợ sệt gì hết. Nhưng nét mặt lầm lầm của y tỏ rằng y đương đề phòng và bực tức vì đã phải mang ơn người Da trắng cứu mạng cho. Đại tá và Hoggan quen cứu thương hồi còn chiến tranh, người thì vội vàng chạy vô xe lấy băng, người thì bó chặt cánh tay cho tên Da đỏ.

Khi bó xong, tên Da đỏ đứng dậy được. Sam liền hỏi y bằng tiếng Cherakee:

- Bạn tên chi?

Nét mặt tên Da đỏ tức thì bớt hung dữ đi một chút và lộ vẻ ngạc nhiên lạ lùng. Hắn chậm rãi đáp:

- Bạn nói được tiếng tôi và bạn đã cứu tôi. Cám ơn bạn. Tôi sẽ có dịp tỏ cho bạn thấy rằng Kaghamisham này không phải là kẻ vô ơn.

Nhưng Kaghamisham muốn lủi đi mà không cảm ơn gì hết.

Sam giữ lại:

- Kaghamisham, tôi biết mấy ngày nay bạn theo rình chúng tôi. Vì lẽ gì vậy? Bạn cho chúng tôi là kẻ thù của bạn chăng?

Tên Da đỏ đáp:

- “Mắt Đại-bàng” – nó đã đặt cho Sam tên đó – còn trẻ và khôn lanh lắm. Kaghamisham không muốn rình bạn Da trắng nhưng có nhiều lẽ để đề phòng bọn khẩn hoang. Nhưng bây giờ Kaghamisham biết rằng đều là bạn thân cả Kaghamisham sẽ không quên điều ấy.

Sam hỏi nữa:

- Bây giờ bạn đi đâu?

Tên Da đỏ đưa tay không bị thương khoác một vòng, đáp:

- Về phía kia.

Sam suy nghĩ một hồi lâu rồi nói, giọng nhỏ nhẹ:

- Bạn Da đỏ bị thương mà ở xa bộ lạc. Đường dài và khó đi, ở tít “phía kia” lận. Bạn muốn cùng đi với chúng tôi không? Ngồi xe tiện hơn là đi bộ hoặc chèo thuyền.

Tên mọi Da đỏ cương quyết từ chối:

- Không, vợ Kaghamisham đợi Kaghamisham. Vợ Kaghamisham săn sóc Kaghamisham và nếu cần thì nâng đỡ, dìu dắt Kaghamisham.

Ngừng một lúc lâu rồi y thình lình nói, vẻ thèm thuồng lấp lánh trong cặp mắt:

- Bạn Da trắng có một cây gậy sấm đẹp quá!

Y gọi cây súng là cây gậy sấm. Không suy nghĩ gì hết, như có sức gì xô đẩy, Sam đưa liền cây súng cho y.

- Bạn Da đỏ của tôi đã thích cây gậy sấm này thì xin bạn nhận lấy nó. Tôi biếu bạn đấy.

Tên Da đỏ vô cùng cảm động đưa tay ra đỡ và nói:

- “Mắt Đại bàng” sáng suốt và đại lượng. Kaghamisham không bao giờ quên bạn. Chào các bạn.

Và y lẹ làng nhẩy vô bụi, biến mất.

Bốn người quay mặt vào nhau, đứng một hồi lâu, trân trân, vẻ trầm tư. Đại tá nói trước:

- Tôi không biết anh cho tên Da đỏ cây súng quý báu đó là phải hay không phải. Nhưng đã cho rồi thì thôi. Cầu Trời cho chúng đừng dùng những viên đạn của ta mà giết ta một ngày kia.

Sam đáp, giọng bình tĩnh:

- Ông đừng lo. Tôi biết rõ tụi họ. Tôi chắc chắn rằng bộ lạc của tên đó đã sai y đi rình ta. Trên ba ngày nay, nó đã theo hút ta. Chúng ta đã cứu sống nó, lại tặng nó một vật mà nó thích nhất. Thế nào ta cũng được lòng nó. Sau này có lúc ta phải cần tới nó. Điều chắc chắn là nó sẽ cho bạn bè nó hay rằng chúng ta tốt bụng.

Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:17

Chương 5

LÀNG TITUSVILLE



Sau ba ngày mệt nhọc nữa, qua những cảnh trơ trọi và hùng vĩ, đoàn lữ hành tới Titusville, một làng có khoảng ba chục căn nhà vách ván.

Sam hồi hộp trông thấy những nóc nhà ấy vì sắp được gặp cha già và Marjorie. Chàng về bất ngờ ; hai người thân ấy sẽ vui vẻ làm sao!

Ông Drake cũng vui như chàng nhưng vì những lẽ khác. Khi bắt đầu tới miền văn minh ấy, Sam đã đưa tay chỉ ở phía xa một dòng lấp lánh như bạc, đó là Suối Dầu. Ông đã tới đích! Bao nhiêu mệt nhọc tiêu tan đi hết. Hoggan và Kent vui thích nhẩy múa.

Đại tá hỏi Sam:

- Suối Dầu cách Titusville bao xa?

- Nó chảy qua Titusville. Từ nhà ba tôi đi độ mười lăm phút thì tới. Lúc nữa, ngồi bàn ăn, trong khi nếm món bánh tráng bột bắp của Marjorie làm, Đại tá ngó qua cửa sổ sẽ thấy dòng suối đó.

Chính dân trong làng đã tự cất lấy nhà để ở. Có căn thì làm bằng thân cây đẽo sơ sơ rồi phết lên một lớp đất sét xanh. Có căn thì làm bằng ván đóng không khít, để lọt vào nhà những hương dại của rừng sâu và mùi băng phiến trên Suối Dầu.

Dân cư siêng năng cày ruộng và nuôi bò. Không có tiều phu trong cánh rừng bao la. Họ có bán củi cho ai được đâu? Cũng không có thợ mộc chuyện môn vì người nào ở Titusville cũng biết đốn và xẻ cây. Làng chỉ có một quán rượu và thưa thớt vài tiệm bán những đồ mà người chủ phải trải nghìn nỗi khó khăn mới chở được từ tỉnh về.

Ông già Smith đã được Sam và Marjorie phụ lực để tự cất lên căn nhà ông đương ở. Từ khi con trai ông theo dược sư Kier ra thành thị, ông mất vui, mặc dầu Marjorie tìm đủ cách làm khây khỏa tuổi già của ông.

Mồ côi từ nhỏ, nàng được ông đem về nuôi với Sam và coi như con gái ông vậy.

Nàng sanh trưởng giữa cảnh hoang vu đó như một đóa hoa lan mọc trong đám cỏ dại. Cử chỉ lanh lẹn, nước da bánh ít (1). Trời cho nàng có nhan sắc và nhiều đức quý, nhất là một nghị lực không gì thắng nổi.

Khi đoàn lữ hành tới Titusville thì ông già đương sửa một chiếc xe bò cũ kỹ, không có búa ông phải dùng một thỏi gang mà đóng những cây đinh đã sét, còn Marjorie vui vẻ như con sáo, làm việc lặt vặt trong nhà.

Mặt trời đã gần tới đỉnh đầu. Mấy con la, như có cái gì bí mật báo trước, biết rằng sắp tới chuồng, gắng sức thêm một chút.

Vài đứa nhỏ và cả những người đứng tuổi nữa, đi theo ba chiếc xe, lấy làm lạ lắm vì đời sống trong làng rất phẳng lặng, chỉ trừ một đôi khi mới có những cuộc ẩu đả do thằng John River, một tên du đãng, gây ra thôi.

Xe ngừng lại. Ông già Smith ngửng đầu lên thấy con, ngó trân trân nó một lúc, không thốt được nửa lời. Sau cùng ông kêu người con nuôi:

- Marjorie, con! Ra coi này! Quỷ thần ơi! Có sự bất ngờ nào thú vị hơn nữa không?

Khuôn mặt xinh xinh của Marjorie hiện trong khung cửa sổ. Nàng đưa mắt nhìn hết la rồi tới xe, tới Hoggan, tới Kent, tới Đại tá. Một chút sau nàng mới thấy Sam. Nàng la lên, vẻ mặt tươi như hoa:

- Anh Sam! Anh mới về? Thích quá!

Sam chạy lại, âu yếm nắm tay nàng. Ông Drake ngừng trước mặt ông nói:

- Ông có phước lắm, được một người con như anh sam! Trên đời không có người thứ hai như ảnh nữa. Thật là thông thạo đời sống trong rừng. Mắt lanh, lại suy xét rất đúng.

Ông già điềm tĩnh đáp:

- Nó giống tôi.

Rồi ông nhìn đoàn lữ hành, những khí cụ kỳ cục của họ và hỏi:

- Bộ ông có ý muốn lập nghiệp ở đây sao?

- Chính vậy. Tôi thích miền này. Hoggan, Kent và tôi, chúng tôi sẽ lựa một nơi cất một nhà ván ở chung quanh đây rồi bắt đầu làm việc.

Ông già nhún vai:

- Trồng bắp thì tốt, còn ngoài ra…

- Tôi đã có ý nghĩ riêng và có đủ khí cụ trong xe để thắng Hóa công!... Ông cứ tin ở tôi.

Ông Smith nhìn Đại tá, có vẻ nghi ngờ rồi nhún vai lần nữa, kết:

- Cầu trời phù hộ ông thành công.

Trong khi đó, Marjorie và Sam đương tâm sự với nhau. Nhưng họ đã bắt đầu muốn lớn tiếng. Nàng nói:

- Anh đã chịu nhận rằng ở thành thị không khá ư? Em không ngờ anh mau hiểu như vậy… Từ rày, chắc anh biết nghe lời ba và em chứ?

Sam cương nghị đáp:

- Em Marjorie, anh về đây, không phải vì thất bại ở tỉnh rồi thất vọng mà đổi ý đâu. Chỉ vì anh đã kiếm được một cách làm giàu mau hơn đó thôi!

Nàng cười, giòn giã:

- Làm giàu! Tội nghiệp anh Sam! Sản nghiệp của chúng ta ở trong khu đất này đây. Ở ngay đây này ; có điên mới đi tìm ở nơi khác.

Sam giọng bực tức:

- Để mặc anh. Em biết rằng anh một lòng một dạ : Anh vẫn muốn cưới em, nhưng chỉ khi nào có được một đống vàng để dâng em, anh mới cưới.

Nàng lại cười vang lên:

- Em có cần vàng đâu – Rồi cúi mặt, nàng nói nhỏ : Anh bắt em đợi hoài. Có nhiều người ở Titusville này muốn đánh tiếng rồi đó.

- Ngày mai anh sẽ có được hai chục đồng.

Nàng nhún vai:

- Hai chục đồng? Hai chục đồng mà làm gì?

Lòng sam như thắt lại. Chàng nhìn xa xăm về phía chân trời, nghĩ tới nỗi khó khăn dọc đường, tới lòng can đảm cương quyết, tới nỗi hy vọng mênh mông của chàng rồi tự nhủ:

- Hai chục đồng, ít thật! Nhưng mới đầu được như vậy…

-------------------------------
(1) Trong Nam nói “nước da bánh ít” cũng tựa như ngoài Bắc nói “nước da bánh mật” tuy bánh ít không phải là bánh mật.
Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:18

Chương 6

ĐẠI TÁ DRAKE KHỞI CÔNG



Cha con gặp gỡ, bữa đó vui vẻ lắm, nhưng Đại tá nóng lòng muốn được dạo trên bờ suối Dầu, cho nên nuốt vội vàng, không thưởng thức những món ăn và những chiếc bánh tráng mà Marjorie làm rất công phu. Thành thử những người khác cũng ăn qua loa cho xong bữa.

Vừa mới nuốt xong miếng cuối cùng, ông đã đứng dậy giục Sam:

- Thôi, chúng mình làm việc chứ! Người nào muốn xáo lộn thế giới thì thấy ngày ngắn lắm! Nếu muốn thành công thì phải mau mau lên.

Sam nghĩ tới số tiền thưởng hôm đó – hai chục đồng! – bèn đáp:

- Tôi xong rồi.

Cả bốn người cùng đi ra.

Ông Smith và cô Marjorie ngồi lại, ngó nhau một lúc. Nàng nói:

- Họ như quỷ bắt ma làm, ba thấy không? Đại tá có vẻ dễ chịu lắm, nhưng con thấy ông ấy mơ tưởng hão huyền quá. Chỉ nói tới làm xáo lộn thế giới thôi.

- Ba cũng nghĩ thế. Thường chỉ có những kẻ điên mới nói vậy. Tụi khùng đó không chịu nghe lời một lão nông như mình. Nhưng thằng Sam về đây là ba vui rồi. Để ba coi chừng nó.

- Dạ, ba phải coi chừng anh ấy lắm mới được.

- Con cứ tin nơi ba. Ba không để cho nó làm trò điên đâu.

Ông Drake và Sam đi bộ mười lăm phút thì tới một dòng suối nước đen ngòm. Sam nói:

- Suối Dầu đó.

Đại tá ngó dòng nước nặng nề cuồn cuộn chảy, hít đầy phổi hơi băng phiến rồi tiến tới sát bờ suối, nhúng tay vào làn nước nhờn nhờn. Nước không dính vào da ông. Ông đưa tay lên ngửi, nói một mình.

- Dầu! Dầu!

Ba người kia đứng cạnh ông vài thước, tự hỏi ông muốn nói gì. Thì đích thị là dầu rồi chứ còn gì nữa? Nhưng ông hy vọng múc hết dầu trên suối này chăng? Thùng chở theo tuy nhiều thật, nhưng làm sao đủ được? Hoặc giả ông có ý đi đi về về từ Pittsburgh lại đây chăng?

Nhưng họ không nói gì hết, ông trả lương họ thì họ cứ việc nghe lời ông.

Đại tá trở lại. Ông lặng lẽ đi một hồi, xem xét chung quanh. Sau cùng ông ngừng lại trên một khoảng đất bằng phẳng khá rộng ở bên mép rừng, cạnh sông chừng năm chục thước. Trên mặt đất chỗ đó có đá. Ông giậm mạnh gót giày rồi gọi:

- Hoggan! Kent! Các em làm ơn đi kiếm rìu và cưa lại đây. Đốn vài cây đó rồi cất nhà ở đây. Còn Sam, tôi cần dùng đến em, em theo tôi, đừng rời tôi nửa bước nghe!

Nói xong, Đại tá tiến tới nữa. Thỉnh thoảng ông ngừng lại, như để đếm đá sỏi trên đường. Ông cúi xuống, cào đất, rồi đứng dậy, bước thêm vài bước.

Ông lặn lội tới đây để tìm suối Dầu mà bây giờ có vẻ như không nghĩ tới suối đó nữa. Sam liếc trộm ông, muốn mỉm cười trước vẻ mặt kỳ dị của đại tá. Có khi ông ngừng trước một viên sỏi và trầm ngâm suy nghĩ hàng mười lăm phút. Thình lình ông thấy ở trước mặt một khoảng đất cát vàng và nóng.

Sam lo lắng tự hỏi không biết ông chủ mình có điên không. Chưa thấy ai kỳ dị như vậy, làm nhiều trò lố bịch quá. Chàng tự nhủ “Marjorie nói như vậy có lý chăng?”

Đại tá quay lại toe toét cười:

- Em Sam, chúng ta phải thành công! Có lẽ lâu! Nhưng nhờ Trời, chúng ta sẽ thành công.

Sam cũng cười. Chàng chưa gặp người nào hành động kỳ cục như Đại tá, nhưng cũng chưa thấy ai có giọng hăng hái như ông. Chỉ nghe ông nói, chàng đã thấy tự tin lại, hết nghi ngờ gì nữa.

Lâu ư! Có sao đâu? Sinh trưởng nơi rừng sâu cỏ rậm này, chàng kiên nhẫn đợi được.

Ông Drake bá vai chàng rồi hai người thủng thẳng đi về nhà.

- Chúng ta khởi công ngay từ ngày mai. Nếu tôi không nén lòng được thì tôi đã bắt đầu dựng máy từ chiều nay rồi. nhưng phải biết từ từ. Hôm nay hãy nghỉ ngơi đã!

Đáng lẽ về thẳng nhà, ông quẹo rồi kéo Sam vào quán rượu.

- Vào đây cụm ly mừng ngày tới Titusville và sự thành công trong công việc của chúng ta

Quán tồi tàn, cũng cất bằng ván như những nhà khác trong làng. Không có bàn ghế cho khách. Một cái quầy lớn chia phòng ra làm hai phần không đều nhau, một bên là khách, một bên là chủ quán. Đại tá kêu hai ly rượu, người ta mang lại một chai rượu và hai cái chén vại. Đại tá tự rót rượu lấy.

Cụm chén với Sam rồi ông uống một hơi hết chén của ông. Đưa bàn tay lớn lên chùi mép xong, ông nói:

- Này Sam, chúng ta phải can đảm, nghe không? Chúng ta như các nhà phát minh. Họ luôn luôn bị thiên hạ chê cười không nhiều thì ít, vì thiên hạ ngu dại, không hiểu họ, xét thấu đạt được lòng hy sinh của họ đối với nhân loại. Ít ngày nữa em sẽ thấy nhiều điều ngạc nhiên lắm nhưng dù sao cũng phải tin tôi và giữ bí mật. Đừng cho một ai biết chúng ta làm gì và dùng cách nào để tìm kiếm nhé? Nghe rõ chưa?

Sam gật đầu.

- Vậy, chúng ta đi về nhà em, ăn uống nghỉ ngơi rồi ngày mai trại cất rồi – tôi mong vậy – em sẽ từ biệt gia đình và ở lại với tôi.


***

Mặt trời chưa mọc mà khu rừng ở bên đã vang lên những tiếng rìu của Hoggan và Kent. La và xe đã dắt tới chỗ làm việc. Đại tá đã dỡ các khí cụ ở trên xe xuống. Từ trước những khí cụ ấy bao phủ dưới một tấm vải bố, Sam coi không rõ, cho là đồ sắt vô ích, bỏ đi. Bây giờ thấy từng món trải trên đất, chàng mới nhận rằng khí cụ rắc rối lắm. Lộn xộn như vậy mà sao Đại tá nhận ra được từng món nhỉ?

Ông có vẻ rất thông thạo, lắp, quay, vặn, một lát thành một bàn máy đặt trên một cái giàn sơ sài bằng gỗ thông.

Sam giúp ông, không hiểu chút chi hết. Nhờ nghĩ rằng dùng máy đó hai thày trò sẽ làm xáo lộn cả thế giới mà chàng có đủ can đảm để làm việc.

Nhưng chàng nén lòng không được phải hỏi:

- Lắp máy này để làm gì vậy, thưa ông?

Đại tá mỉm cười:

- Đó là cái máy cổ-hạc (1) chúng ta sẽ đào một cái giếng. Lưỡi đục đây. Có thêm ít dụng cụ nữa và chịu kiên tâm, chúng ta sẽ đào tới trung tâm trái đất!

Sam ngạc nhiên vô cùng.

Nhiều ngày qua. Nhà cất xong đã từ lâu. Đại tá đã bắt đầu khởi công. Bốn người khó nhọc suốt ngày quay cán quay và trục kéo, Sam vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ rằng thế giới sẽ bị xáo lộn hết, nhưng chàng vẫn hy vọng.

Một buổi chiều, khi hai thầy trò đương đào giếng, thì ông Smith thình lình tới. Chàng không nghỉ tay, chào cha.

Đại tá vui vẻ nói:

- Ông tò mò muốn coi chúng tôi làm việc? Phải lắm. Mời ông lại đây.

Ông già không vui vẻ như họ và có vẻ lo nghĩ. Ông chậm rãi nói:

- Lại thăm ông không phải vì tò mò đâu. Có chuyện muốn cho ông hay.

Đại tá bước lại gần. Ông già tiếp:

- Phải, như có chuyện gì ở trong rừng và thấy ông ở xa xóm quá, tôi hơi ngại.

- Xin ông giảng rõ cho.

Ông Smith nhìn chòng chọc vào mặt Đại tá:

- Bọn ông chỉ có bốn người, làm sao chống cự với hai ba trăm tên quỷ Da đỏ điên khùng được. Vì nếu ông cứ nhất định ở đây thì có ngày chúng tấn công ông. Anh Dick Broomfield, người đánh bẫy thú, đã thấy tụi Da đỏ đi đi lại lại trong rừng. Đó là tụi Cherakee, đông và dữ lắm. Chúng giết hết bọn ông được. Nên thôi đi!

Ông Drake gãi cằm:

- Ông nghĩ tại sao chúng không đánh ai, lại đánh chúng tôi? Chúng tôi có ít khí cụ bỏ đi này và mươi con la. Muốn cướp bóc thì đánh trong xóm chẳng hơn ư?

Giọng ông già gay gắt hơn:

- Tại sao ông biết rằng chúng không thù oán ông?

- Tôi biết rằng không phải khi không mà ông cho tôi biết tin ấy. Chắc đã có người cho ông hay. Tối nay, chúng tôi xin lại thăm ông và chúng ta sẽ bàn bạc. Nhưng ông nên biết rằng không phải một nhóm Mọi đó mà ngăn cản công việc của tôi được đâu! Điều ấy chắc chắn. Còn nếu ông lo cho con trai ông thì tôi sẵn lòng cho nó về với ông.

Ông già nổi giận, la:

- Nè! Ai biểu ông vậy? Tôi nói cho ông hay giòng họ tôi không khi nào sợ tụi Da đỏ! Thằng sam nó lớn rồi, đủ sức chống cự như ông cha nó.

Ông Drake không đáp, quay về chiếc máy cổ hạc. Ông già đưa tay giữ lại:

- Có điều này ông cần phải biết ngay từ bây giờ. Riêng tụi Da đỏ đã là khó khăn cho ông rồi. Có lẽ ông tưởng rằng dân Titusville về phe ông và giúp ông chống cự với chúng… Nhưng…

- Nhưng?

- Nhưng dân tình ở đây cũng chẳng ưa ông nữa. Nên nói thẳng với ông như vậy. Vì hành vi của ông có vẻ hơi bí mật. Ông không bao giờ xuống xóm hết, như có ý lánh mặt mọi người. Và người ta có nghi ông là điên hoặc là thầy pháp thì không phải là vô lý. Ông giảng cho tôi nghe cái máy với cái giàn đó để làm cái trò gì vậy? Ông nói để đào giếng. Đào giếng ở Titusville? Titusville là một làng có nhiều nước nhất ở khắp Châu Mỹ! Nào là suối, nào là hồ Erié! Nước có dư, sợ không có đất mà tưới! Phần đông dân làng cho rằng ông có âm mưu gian hiểm gì đó. Nói thẳng với ông rằng chính thằng say rượu John River nó phao tin ấy và hô hào mọi người chống ông.

Đại tá thình lình đáp, gần như thản nhiên:

- Tôi không biết tên John River đó, nhưng tôi xin ông cho nó hay rằng hạng người như tôi có một cách rất đặc biệt để đối phó với những kẻ nào dám động đến lông chân chúng tôi. Còn bà con trong xóm thì tôi không hiểu họ trách tôi điều gì. Tôi đào một cái giếng ở gần suối Dầu có hại gì cho họ đâu? Có làm trở ngại họ điều gì đâu?

Ông Smith đáp cụt ngủn:

- Lòng người như vậy đó.

Rồi bỏ đi.

Ông già đi khỏi rồi, Đại tá thấy lòng bừng bừng nổi giận ghê gớm. Ông đã nhất định ở xa xóm để giữ kín bí mật của mình, tưởng mình không giao thiệp với ai thì thiên hạ để yên mình. Không ngờ thiên hạ tò mò muốn xía vô công việc của ông. Thằng John River nào đó liệu hồn đa! Giòng họ ông vốn nóng nảy. Nghĩ vậy, ông nắn những bắp thịt của ông sau mấy ngày làm việc, đã cứng lại như sắt. Còn tụi Da đỏ thì chỉ vài viên đạn là đủ cho chúng chạy như chuột rồi, lo gì? (2)

Sam nghe được câu chuyện giữa cha và chủ. Anh thấy Đại tá vì giận dữ mà hết khôn và khinh thường nguy hiểm quá.

Ngay tối hôm ấy anh nói:

- Thưa Đại tá, ông đừng nên bỏ ngoài tai những lời của ba tôi. Tôi biết tính người. Nếu không có việc quan trọng thì không bao giờ người mất công lại đây đâu. Xin ông nghe tôi, có nhiều tai nạn phải đề phòng. Nếu tụi Da đỏ hoặc dân trong xóm lại từng đám đông phá máy của ông thì trễ công việc của ông nhiều lắm.

Đại tá đã quên không nghĩ tới điều ấy ; ông nắm chặt hai tay lại:

- Lúc nữa, chúng ta lại thăm ba anh, nhờ ông chỉ bảo cho.


----------------------------
(1) Một thứ máy, giống cổ con hạc, dùng để nhấc những vật nặng. Tiếng Pháp là Grue.

(2) Sau này, Đại tá còn nhiều lần tỏ vẻ hung hăng vô lối có khi tàn bạo nữa, với người Da đỏ. Đó là một tật của đại tá mà cũng là một tật chung của các người khẩn hoang thời đó. Đọc chuyện của họ, ta chỉ nên noi gương mạo hiểm, kiên nhẫn, hy sinh của họ thôi.

Trái lại ta sẽ thấy dân Da đỏ rất dễ thương, can đảm, thẳng thắn, nhớ ơn và có tinh thần đoàn kết. Tiếc thay họ đã bị diệt gần hết, đó là một tội lớn của người Mỹ đối với nhân loại.
Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:18

Chương 7

CUỘC ẨU ĐẢ



Bốn người tới xóm, khi đi ngang qua quán rượu thì tên du đãng John River ở trong đó bước ra.

Sam chỉ nó và nói cho Đại tá hay. Ông đương giận, đứng lại một chút, làm bộ đi lại phía thằng du côn, rồi thình lình đổi ý, tiếp tục theo con đường cũ.

John River uống rượu nhiều quá, đầu choáng váng, vẻ hung hăng. Nhưng nó không dám khiêu khích thẳng Đại tá. Nó kêu Sam:

- Nè Sam! Mày tự đắc lắm từ hôm mày tập sự cái nghề thầy pháp đó. Mày làm lơ với bạn cũ. Ham làm giầu quá, hóa điên rồi con ơi!

Ông Drake ra lệnh:

- Đừng đáp.

Sam nghe lời, không thèm ngó thằng khốn nạn đó nữa. Nhưng River thấy vậy, tức, tiến về phía Sam, nói:

- Này Sam, ở Titusville này, tao là một trong những người thương mày nhất. Tao biểu thẳng mày : thà mày ở Pittsburgh đi, chứ đừng dắt về đây những quân lạ mặt ấy mà làng xóm ai cũng ghét, giận và không sớm thì muộn, sẽ tống cổ đi. Tao biểu mày vậy đó. Nếu mày muốn sống thì về nhà ba mày đi.

Ông Drake thình lình quay lại, la:

- Câm đi! Nếu mày nói thêm một lời nữa River, thì tao cho mày đo đất a!

River cả cười, vênh váo:

- A! Bẩm ông, cái hạng chim chích chòe như ông không đáng cho tôi nhốt đâu. Này tôi cho hay, đối với tôi, ông phải bỏ cái giọng kẻ cả làm cao đó đi.

Hoggan thân hình vạm vỡ, bắp thịt cứng như sắt, đã tiến lại phía thằng du côn. Tên này giữ thế thủ, nhưng Đại tá đặt tay lên vai Hoggan:

- Lùi lại, Hoggan! Việc này phải đích thân tôi xử với nó mới được!

Sam nói:

- Thưa Đại tá, mặc nó : nó say rượu, nói bậy bạ.

Người trong xóm nghe thấy la lớn, tò mò ra coi. Ở Titusville, đời sống thiệt yên ổn, phẳng lặng. Cho nên hơi có chuyện gì là thiên hạ xúm lại coi liền.

Đại tá bình tĩnh nói:

- John River, tôi biết anh nói xấu tôi một cách bỉ ổi, thói đó cần phải trị mới được. Nhưng tôi cũng sẵn sàng tha thứ cho anh, nếu anh không đích thân gây sự với tôi. Cho nên tôi buộc lòng phải đánh anh nhừ tử.

Phần đông dân làng không ưa River nhưng quân khốn nạn đó đã làm cho họ ghét Đại tá và tin rằng ông có nhiều hành vi bí mật. Tuy vậy họ vẫn thích những người can đảm và khi thấy thái độ của River không làm cho ông núng lòng chút nào hết thì ai nấy đều vui vẻ, sắp được coi một cuộc ẩu đả. Trong nháy mắt họ đã cá nhau ai thắng ai bại. Kẻ thì bàn rằng River còn trẻ, sẽ thắng ; kẻ thì tin ở những bắp thịt và sự bình tĩnh của Drake.

Sam tuy thấy cuộc ẩu đả không thể tránh được, cũng rán can:

- Thôi, Đại tá, đánh nó chỉ bẩn tay thôi. Mặc cho nó đi và mời ông về thăm ba tôi.

Ông không nghe, nói với tên du côn:

- Cha chả! Thằng điên này muốn ăn quả đấm của tôi, để cho nó nếm mùi chơi.

River vui vẻ đáp:

- Được, thủ thế đi.

Y tin ở sức của y. Y đã chế ngự được hết thảy những tên cứng cổ ở Titusville, hạ được cả những người mạnh nhất, cho nên tưởng sẽ thắng được dễ dàng một người đã lớn tuổi như Đại tá.

Ông đáp:

- Ừ. Thủ thế.

Nhưng ông chưa nói xong thì River đã nhẩy bổ lại, nhắm mặt ông, thoi lia lịa. Ông chống đỡ nhanh như chớp làm cho những người đứng coi không nhận được các miếng đỡ của ông nữa. Họ cũng không kịp thấy ông đánh River một cú thôi sơn, chỉ thấy thân hình thằng du côn tung lên trời theo một hình vòng cung rồi té sóng soài trên đất.

Y chống khuỷu tay ngồi dậy. Nét mặt hết vẻ bình tĩnh, tự tin. Y lấy tay dính đất cát chùi dòng máu chảy ở môi dưới, gầm lên, chửi ông Drake rồi đứng dậy.

- A! Giỏi đa! Tao cho mày thắng keo đầu. Còn keo thứ nhì về tao.

Rồi nó nắm tay nhẩy bổ vào tấn công. Tay phải ông móc tay trái nó, còn tay kia ông gạt quả đấm ra. Ai nấy đều trầm trồ khen ngợi, nhận rằng ông giỏi môn đấu quyền, một môn võ rất thịnh hành thời ấy. Tức thì nhiều người cá ông thắng. River chau mày : nó mới nhận thấy rằng kẻ địch mạnh lắm và phần thắng chưa chắc về nó.

Rồi nó mất trí, hóa ngu, bướng, không có phương pháp gì hết, cứ đâm bổ vào tấn công, để rồi cũng thất bại như những lần trước.

Đại tá mỉm cười. Ông thấy ngộ quá, hết giận, có cảm tưởng như tập thể thao, cho gân cốt giãn ra.

Đã quyết định chơi cho tới cùng, ông liền tấn công. Ông nhào vô, thừa lúc River hở cơ, thoi nhiều cú rất trúng, tuy nhẹ nhưng đau, làm cho mặt y sưng lên, không còn hình dáng gì hết.

Y vẫn chưa chịu thua. Hai má sưng vù, một con mắt húp lên, không thấy đường nhưng nó vẫn nghĩ chỉ khi nào nằm bất tỉnh trên đất mới chịu thua.

Ông Drake hai tay đầy máu địch thủ, quay lại một chút, bình tĩnh hỏi Sam:

- Trễ rồi, phải không? Phải làm cho xong chứ?

Ông đã vô ý khinh địch, có thể nguy hiểm cho ông được. River tuy còn non nớt về môn đấu quyền, cũng biết thừa dịp địch thủ hở cơ, quay mặt đi mà đưa tay lên, nhẩy bổ lại.

Nhưng Đại tá chỉ làm bộ vô ý để nhử nó, nên tránh ngay được và tấn công lại. Hai thân thể như quấn với nhau, rồi người ta thấy một cánh tay của Đại tá duỗi ra, giơ lên và River lăn một vòng nữa trên mặt đất.

Ai nấy hồi hộp chăm chú nhìn kẻ bại nằm ngay đơ.

Một ông già nói:

- Ông thắng rồi. Tôi khen ông.

Ông Drake phủi bụi rồi cùng với ba người kia đi về nhà ông Smith. Đám đông theo sau họ, chưa hết hồi hộp và bàn tán về cuộc ẩu đả. Đại tá đã vô tình để lại một cảm tưởng tốt trong đầu óc dân làng, nhờ vậy được cảm tình của nhiều người. Còn River thì bị người ta ghét thêm.

Sam nói:

- Tốt lắm! Chúng ta hy vọng thằng River sẽ chừa tới già. Tôi không tin nó muốn trả thù đâu. Dù sao tôi thấy rằng dân Titusville hôm nay mến ông rồi.

Họ tới nhà. Sam vô trước. Marjorie ra đón, nói:

- Ngộ dữ! Bây giờ lại đi học thói của thằng du côn River nữa. Này anh Sam, em tự hỏi không biết anh có hơn quân vô lại đó không. Người ta bàn tán nhiều về anh rồi. Sống yên ổn, đừng cho ai biết tới mình thì hơn.

Sam không đáp vì có mặt cha và Đại tá.

Ông già nói:

- Tôi không biết ông hạ thằng River như vậy là nên hay không nên. Dù sao, tôi cũng nghĩ rằng nó thành kẻ thù không đội trời chung của ông. Không cần phải làm như vậy. Nhưng thôi, hãy nói chuyện về tụi Da đỏ đã.

Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:19

Chương 8

ĐẠI TÁ KỂ MỘT CHUYỆN



Marjorie đã dọn trên bàn một đĩa bánh tráng bột bắp mà Sam thích lắm. Còn ông Smith thì đặt một bình bia và nhiều ly. Ông nói liền:

- Tôi nghĩ rằng ông làm cho tụi Da đỏ thù oán chỉ vì ông cất nhà ngay ở gần làng. Tụi nó sợ làng Titusville bành trướng ra nhiều, làm cho khu đất của chúng thu hẹp lại và như vậy nguy hiểm cho chúng. Chính chúng tôi ở đây, cũng không được yên ổn gì. Nhưng chúng biết sức chúng tôi nên không dám làm hung. Nếu đủ sức thì chúng đã đuổi chúng tôi ra khỏi miền này từ lâu rồi.

Đại tá đáp:

- Nếu vậy thì tốt hơn hết là tôi giao thiệp với chúng và thẳng thắn giảng cho chúng hiểu.

Ông già cười nửa miệng một cách tinh quái:

- Một chiến sĩ già như ông phải biết rằng không thể gì nói tới chuyện thẳng thắn với tụi Da đỏ trời đánh đó được chứ? Chỉ có đại úy Robert Rogers dắt bộ đội từ Bắc tới Nam, truy kích quân Hurons và Pháp, mới tin rằng bọn Da đỏ ngay thẳng! Và như vậy có lẽ vì chính đại úy là một đồ ngu, ngu thượng hạng.

- Thôi, xin ông đừng vu oan đại úy Rogers nữa. Các tiểu bang mang ơn ông ấy nhiều lắm. Ông là một trong những người tiên-khu (1) có danh nhất. Nghe ông nói tôi mới thấy lòng vô ơn của loài người đối với những vị đã hy sinh tánh mạng và hạnh phúc cho nhân loại. Số phận tôi sau này cũng như vậy thôi.

Ông già vẫn nói thẳng:

- Ông ư? Nếu ông tin rằng ông có quyền được các dân tộc mang ơn ông thì một là ông tự lừa dối ông, hai là ông tưởng tượng quá mạnh, như dân ở đây đã nói. Tôi không muốn làm phật ý ông, cũng không muốn khuyên ông. Một người vào tuổi ông phải biết việc mình làm ra sao chứ, phải không ông? Ông nhận rằng hành vi của ông có vẻ như điên khùng chứ?

- Tôi chắc ông muốn biết công việc tôi làm lắm.

- Tôi không có tánh tò mò. Tự do mà! Ai làm gì thì làm, muốn làm ra sao thì làm! Xin ông hiểu rằng tôi sở dĩ nghĩ tới ông là vì con tôi theo ông mà nó cũng điên như ông rồi. Nó còn nhỏ, chưa đủ trí khôn. Ông hiểu tôi chứ? Ở cái miền rừng rú này, phải biết suy xét, suy xét một cách chắc chắn nhất và sáng suốt nhất, nếu không thì khó sống được với thú dữ, tụi Da đỏ hoặc tai trời ách đất.

Marjorie lại gần nghe và gật đầu mỉm cười khen phải. Không bao giờ nàng cho sự tham vọng của người yêu là có lý hết. Nàng không nghĩ rằng chàng thiếu tài sức đâu : vừa can đảm vừa mạnh, lại rất hùng dũng hăng hái nữa. Nhưng làm giầu lớn lại là chuyện khác. Nàng nghĩ cứ theo nền nếp trong nhà, tiếp tục công việc của ông cha, giữ gìn và khuếch trương di sản của các người, là khôn hơn cả. Bấy nhiêu đủ rồi, nhiều rồi nữa.

Ông Drake cắn một miếng bánh tráng, hớp một hớp rượu cho khỏi khô cổ, rồi chống khuỷu tay lên bàn, dõng dạc nói:

- Ông lão, đầu óc người con “điên” của ông còn sáng suốt hơn hết thảy những đầu óc ở làng này hợp lại, kể cả đầu óc của ông nữa. Tôi nghĩ rằng anh ấy có một tương lai rất xán lạn vì anh ấy rất khôn ngoan. Trời chứng cho lời nói của tôi.

Ông già nổi giận:

- Cha chả! Đừng giở cái giọng đó với lão. Phải, nó có đủ tư cách con người lắm, nhưng nó không phải là loài phượng hoàng đâu.

Đại tá cũng la lớn:

- Ông lầm rồi. Tôi kể cho ông nghe một chuyện để làm gương tốt cho ông. Ngày xưa, ở Ai Cập, một người nổi danh biết được khoa vạn năng (2). Ông ta ở giữa nơi thâm sơn cùng cốc. Tại Bagdad, có một sinh viên trẻ tuổi muốn học khoa đó. Một hôm chàng gói ghém quần áo rách rưới rồi lên đường kiếm nhà hiền triết.

Tới nơi, chàng thấy chỉ là một người thợ rèn, nhưng chàng cũng xin học. Người thợ rèn bảo : “Được, cầm dây thừng này và kéo bễ đi.” Chàng vâng lời, tin rằng thế nào thày cũng sẽ dạy học cho. Năm năm sau chàng vẫn kéo bễ. Một hôm chàng hỏi : “Thưa sư phụ, khi nào sư phụ dạy đạo cho con?” Người thợ rèn đáp : “Kéo bễ đi”. Và chàng lại kéo bễ năm năm nữa. Sau cùng, một buổi sáng, người thợ rèn lại gần bảo : “Thôi, ngừng, về nhà đi. Con đã học được cái đạo lớn nhất, rộng nhất trong đời rồi đó ; con đã thấu được đạo vạn năng : là đức kiên nhẫn.”

Anh Sam cũng có đủ kiên nhẫn như sinh viên đó vậy.

Ông Smith vừa ngó Đại tá vừa nghe ; và coi cặp mắt ông lão, cũng đoán được ông cho đại tá là điên chắc chắn.

Ông Drake tiếp:

- Phải, anh Sam đã theo tôi, mà không hỏi tôi một câu, anh đã tin tôi và chịu khó làm việc cực nhọc. Những đức ấy, có lẽ ông đã truyền lại cho anh nhưng ông thiếu một đức mà anh ấy có.

Ông già la:

- Thiên lôi ơi! Hồi lão còn trẻ, có lẽ lão cũng xuẩn như nó. Có lẽ lão cũng đâm đầu liều lĩnh mạo hiểm. Nhưng lão đã tới tuổi biết suy nghĩ. Trước khi làm việc thì cũng phải biết mình làm việc gì mới được chứ.

- Ông nói có lý.

Đại tá ngồi suy nghĩ hồi lâu. Rồi ông đưa mắt nhìn mọi người , nhìn ông già và nhìn Sam.

Chàng thanh niên có vẻ lúng túng vì được ông khen lúc nãy, nhất là vì ông đã so sánh chàng với thân phụ chàng. Chàng cúi đầu, mân mê ngón tay. Sau cùng đại tá ngó Marjorie.

--------------------------------
(1) Đi trước mở đường.

(2 Làm gì cũng được hết.
Về Đầu Trang Go down
nhanbkvn



Tổng số bài gửi : 1602
Registration date : 16/07/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Bí Mật Dầu Lửa   Tue 07 Jun 2016, 18:19

Chương 9

ĐIỀU BÍ MẬT CỦA ĐẠI TÁ


Đại tá hỏi nàng:

- Còn cô, cô nghĩ sao về điều ấy? Đàn bà bẩm sinh có trực giác linh cảm, chắc thấy rõ hơn đàn ông chúng tôi.

Ông già xen vô:

- Tôi chắc chắn rằng nó cũng đồng ý với tôi.

Thiếu nữ đáp một cách tinh ranh:

- Cái đó còn tùy. Nếu ông bắt anh Sam kéo dây mười năm thì khó mà anh ấy giàu được… tội nghiệp.

- Phải, tôi đâu có đủ tiền trả anh ấy mỗi ngày một đồng trong một thời gian lâu như vậy được. Tôi nghèo. Cả sản nghiệp của tôi chỉ có cái máy đó thôi.

- Nếu vậy thì anh ấy đã mất trí rồi vì anh ấy tin chắc rằng theo ông kéo dây thì sẽ giàu lớn.

Ông Drake cười nửa miệng, nói nho nhỏ:

- Tôi tưởng phải nói minh bạch cho ai nấy đều hiểu. Thật ra không có một ai tưởng tượng được công việc của tôi hết.

Ông Smith lớn tiếng:

- Tôi đã nói với ông rằng tôi không tò mò muốn biết mà. Việc riêng của ông, ông làm sao thì làm, mặc ông.

Ông Drake yên lặng trong một phút rồi nói:

- Chiều nay nóng quá. Rượu bia này tuy ngon, nhưng có trà nóng thì thú lắm.

Marjorie ngạc nhiên nhìn ông.

- Cô pha trà cho tôi được chứ?

- Dạ được, nhưng ông phải đợi một lát. Bếp đã tắt mà củi thì hết. Anh Sam kiếm cho em vài cành khô nhé?

Sam sắp sửa đứng dậy. Đại tá ra dấu cho anh ngồi xuống.

- Ông Smith, ông có chút dầu không?

- Ở đây, nhà nào mà không có? Suối dầu ở ngay trước cửa mà không múc thứ thuốc trị bá chứng đó về thì uổng lắm.

- Được.

Rồi đại tá đứng dậy, bảo Marjorie kiếm một hộp thiếc cũ.

Ông đổ chút dầu vào trong hộp, đốt lên và hỏi:

- Tại sao phải dùng củi? Ngọn lửa này còn nóng hơn các thứ khác nữa. Cô đặt xoong lên đây và cô đã đoán được dự định của tôi rồi chứ?

Marjorie đáp nho nhỏ:

- Tôi đã đoán được một chút, nhưng xin ông giảng thêm.

Đại tá dõng dạc giảng:

- Thứ dầu đó, người Pháp gọi là “pétrole”. Bà con thấy công dụng của nó chưa? Thấy nó ích lợi cho các bà nội trợ ra sao chưa? Nhất là ở châu thành công dụng của nó còn lớn hơn ở đây nhiều. Cả thế giới cần tới nó!

Ông già nói:

- Phải, nhưng nó nổi ở trên mặt nước, tại sao ông không múc về mà lại phải dùng cái máy ấy?

Ông Drake mỉm cười:

- Chắc ông đã nghe nói ở Âu châu, nhất là ở nước Anh, người ta đã chế ra những máy kỳ dị chạy bằng hơi nước và ở miền tây nước mình, mới đây, có người bắt đầu dùng thử nó rồi chứ? Phải có nhiều củi và than để đun sôi nước trong các máy ấy. Nếu bây giờ dùng dầu này hoặc hơi của dầu này để đốt những nồi xúp-de thì khoa học tiến bộ biết bao nhiêu, ông thấy không?

Ông già đáp một cách cương quyết:

- Lão chẳng biết chút gì về máy móc hết mà cũng chẳng thấy nó dùng được việc gì cả.

- Ông không thấy sao? Ông sống ở đây như giữa bốn bức tường một nhà khám. Ông không thích xe lửa sao? Ông có biết rằng chiếc đầu máy kỳ dị, chiếc xe lửa của Stephenson (1) đó, chạy một giờ trên 50 cây số và chở được 100 hành khách, không kể hàng hóa nữa không? Một ngày kia chúng ta sẽ có một chuyến xe lửa đi ngang Châu Mỹ, từ đông qua tây, mà có lẽ không mất đầy một tháng.

- Ồ, già rồi, tôi không ham du lịch nữa. Ông nghĩ sao thì nghĩ, tôi ở đây dễ chịu lắm. Một căn nhà, vài thửa ruộng, đủ rồi.

- Ông là người vị kỷ. Nhờ xe lửa mà đồ ở tỉnh chở về đây sẽ bán với một giá rẻ bằng nửa giá quá đắt hiện nay. Hơn nữa bắp của ông, hết thảy những huê lợi của ông, ông có thể chở ra tỉnh bán giá cao hơn được.

Ông Smith nhún vai. Ông có vẻ thích và để ý tới xe lửa vì nó có lợi cho ông. Ông hỏi:

- Vậy ông tính cho thằng Sam làm sở xe lửa ư?

- Không. Tôi nói đến xe lửa vì dầu lửa có thể giúp cho nó phát triển được. Thật ra, tôi chỉ nghĩ đến sự tiến hóa của nhân loại thôi. Nhờ dầu lửa, kỹ nghệ có thể khuếch trương lạ lùng và sẽ có nhiều sự phát minh kỳ dị.

Marjorie xen vào:

- Nhưng điều tôi không hiểu là dầu nổi ở trên mặt nước mà tại sao ông lại phải đào để kiếm nó?

Đại tá lại mỉm cười:

- Cô thử tưởng tượng cả thế giới sẽ cần dùng biết bao nhiêu dầu! Dầu ở suối này đủ sao được. Vậy phải kiếm thêm nữa. Cho nên tôi phải đào đất. Tôi nghĩ thứ dầu nổi ở trên mặt suối này và trên mặt hồ Erié cũng vậy, đều do mỏ ở dưới đất cả. Nếu máy của tôi đào nhằm một mỏ đó và tới lớp dầu thì tôi chỉ có việc múc lên.

- Vậy anh Sam đã có lý mà tôi không ngờ. Anh ấy đã may mắn gặp được ông. Dù ông có lầm đi nữa thì ý đồ cũng rất mới mẻ.

Đại tá mỉm cười với nàng, còn sam thì mắc cỡ, đỏ mặt tía tai lên, nói với người yêu:

- Em biết nhận lỗi như vậy, đáng khen lắm.

Nàng nhũn nhặn đáp:

- Tính em thành thật.

Đại tá uống bia, mơ mộng một lúc rồi nói:

- Hết thảy các nhà phát minh hồi đầu đều bị thiên hạ cho là điên. Archimède điên! Raleigh điên! Pastuer (2) điên! Tất cả những người mà nhân loại mang ơn đều điên, điên ráo! Người ta muốn cho tôi ra sao thì cho, tôi không cần. Tôi biết rằng tôi có lý. Tôi tin chắc rằng tôi không lầm. Có thứ dầu lửa đó, làm gì mà chẳng được? Nhờ nó không cồng kềnh như than và củi, biết đâu người ta sẽ chẳng chế tạo được những xe lửa đặc biệt, những xe hai ba chỗ ngồi, chạy trên đường cái nhanh như gió? Biết đâu người ta sẽ chẳng nhờ sự phát minh của tôi mà chế một máy bay được ở trên không?

Ông già nói:

- Thôi, đại tá ơi, ông đi quá lố rồi.

Ông Drake đập mạnh tay xuống bàn, la:

- Tôi đi quá lố? Có ngày nào là ông không nghe thấy người ta thực hành được những điều bây giờ ai cũng cho là tự nhiên nhưng mươi năm trước thì người ta cho là không sao làm được không? Tại sao lại không thể có những máy bay được như chim? Ông cho tôi biết một việc gì mà loài người không làm được nào!

Đại tá có thể nói hàng giờ được. Ông gặp một vấn đề ông thích nhất, đó là cái mộng vĩ đại của ông. Marjorie mỉm cười nghe ông, không có vẻ chi mỉa mai hết. Đàn bà dễ hiểu được những ý cao cả quảng đại hơn đàn ông. Họ sẵn sàng nhận những ý đó như người mẹ chiều những ý muốn kỳ khôi của con nít vậy. Nhưng đại tá đã đánh thức những tình cảm cao đẹp mà nàng không ngờ rằng mình có ; ông đã xé bức màn phủ mắt nàng và nàng đã thấy thế giới mênh mông hơn. Ông điên hay chỉ là một thi sĩ, ông có lý hay là chỉ mơ mộng, nàng không biết, nhưng biết rằng tâm hồn ông cao thượng và không nên cười ông.

Ông Smith nhắc lại lời của Đại tá:

- Một việc gì mà loài người làm không được ư? Thì đây, ông khôn lanh như vậy, xin ông lấy dầu ở dưới đất lên giùm tôi.

- Rồi tôi lấy lên cho ông coi.

- Tôi mong vậy. Nhưng hình như chúng tôi đã đợi lâu quá rồi.

Đại tá sắp đáp thì nghe có tiếng la.

Sam chạy ra cửa sổ, Hoggan và Kent theo sau. Hàng ngàn ngôi sao lấp lánh trên nền trời xanh như biển. Một ánh đỏ rực nhuộm máu một phía chân trời. Tiếng la hét theo gió đưa tới, lớn hơn và rõ hơn.

Tim đập mạnh, Sam nói:

- Họ hô tấn công.

Ông Smith bình tĩnh, vừa đáp vừa đi lại phía tường, gỡ cây súng cũ móc ở đinh bằng sợi dây da.

- Chắc chắn là tụi da đỏ.

Ông Drake để hết cả súng ở trại, bực tức la:

- Có những khí giới tốt đó ở đây thì loài cẩu trệ ấy sẽ trốn chạy hết ráo.

Sam vẫn ngó ra ngoài. Có vài người đi ngang qua, biểu anh:

- Tụi Da đỏ mới đốt rừng và rút lui rồi.

Ông Smith nói:

- Đốt rừng? Thế là nghĩa lý gì? Chúng có thủ đoạn gì đây?

Đại tá chạy ra ngoài, nhìn về phía trời đỏ rực, kêu:

- Trời ơi! Có vẻ như ở phía trại chúng ta.

Ông già theo ra:

- Tôi không lấy làm lạ. Tôi đã biểu trước mà! Ông nên mừng rằng chưa đào gặp được lớp dầu, nếu không thì lúc này đây, cả làng Titusville sẽ ở trong một cảnh ngộ dữ. Ông bạn ơi, thôi, đừng nói tới những phát minh của ông nữa.

Nhưng đại tá không nghe, gọi Hoggan, Kent và Sam:

- Chạy về với tôi, cứu được vật gì thì cứu.

Trong đêm tối, cả bốn người cùng chạy. Kent, mập hơn, thỉnh thoảng vấp vào đá và rễ cây vì không thấy rõ đường. Đại tá và Sam cứ chạy thẳng về phía trước, qua được mọi trở ngại, không vấp váp.

Họ tới một chỗ trống và thấy căn nhà ván của họ bốc lửa ngùn ngụt. Thất vọng, ông ngừng chân, nắm tay lại, bứt tóc la:

- Cứu cái máy! Cái máy trước hết!

Rồi họ chạy lại. Cây để cất nhà là loại có dầu, cho nên cháy bừng bừng, như có ai tưới dầu vô. Đại tá và Sam cùng tới, thấy máy bị vùi dưới một đống thân cây. Rõ ràng có kẻ đập mạnh để phá nó. Nhưng có phá nổi không?

-----------------------------------
(1) Người Anh (1781-1848) được coi như là nhà phát minh ra đầu máy xe lửa.

(2) Archimède là nhà bác học Hy Lạp, ở thế kỷ thứ ba trước tây lịch. – Raleigh là nhà thám hiểm Anh ở thế kỷ XVI, tìm được nhiều miền ở Mỹ. – Pasteur là nhà bác học Pháp ở thế kỷ XIX.
Về Đầu Trang Go down
 
Bí Mật Dầu Lửa
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 3 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện Sưu tầm :: Tủ sách Tuổi Hoa :: Hoa đỏ-