Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Hình ảnh 43 bó hoa sinh nhật đẹp làm say đắm mọi cô gái by buinam2307 Yesterday at 22:21

Xem bói tướng mũi đàn ông chi tiết by Min Đặng Yesterday at 14:51

Kính chúc Thầy và Tỷ Shiroi by Bảo Minh Trang Yesterday at 12:04

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 09:58

Truyện cười ngày 8/3 (sưu tầm) by Trà Mi Yesterday at 09:22

THẦY ÁI HOA by THƠ THƠ Yesterday at 09:01

HOA GIEO TỨ TUYỆT by buixuanphuong09 Yesterday at 08:41

KHÚC TÌNH THƠ – TNBC. by NGUYÊNHOANG Yesterday at 08:19

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 06:57

NHÀ CÓ CHUỘT by Phương Nguyên Thu 16 Nov 2017, 23:17

ĐOẠN CUỐI MỘT CHUYỆN TÌNH by Phương Nguyên Thu 16 Nov 2017, 23:02

CÒN NHỚ..CHƯA QUÊN - THƠ NGUYÊNHOANG. by NGUYÊNHOANG Thu 16 Nov 2017, 18:21

Sự tích hoa dã quỳ by Trà Mi Thu 16 Nov 2017, 14:10

BÀN VỀ MỘT BÀI CA DAO THỜI MINH MẠNG by Trà Mi Thu 16 Nov 2017, 10:43

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Thu 16 Nov 2017, 10:12

KÍNH TẶNG THẦY by buixuanphuong09 Thu 16 Nov 2017, 09:47

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Thu 16 Nov 2017, 09:25

Kĩ Niệm Ngày Nhà Giáo 20.11 by mytutru Wed 15 Nov 2017, 23:57

Sự tích hoa cúc tây by Trà Mi Wed 15 Nov 2017, 13:36

DẠO ĐÀN DƯỚI TRĂNG (MT-156) by Ntd Wed 15 Nov 2017, 11:17

ẤM TÌNH MÙA ĐÔNG (MT-154-155) by Ntd Wed 15 Nov 2017, 11:16

VẦNG TRĂNG SÁNG TỎ (MT-152-153) by Ntd Wed 15 Nov 2017, 11:15

BÀI THƠ VỀ CÁC ĐỊA DANH QUÊ HƯƠNG TÔI by mayngan2 Wed 15 Nov 2017, 11:10

Thơ PHẠM KHANG by VẾT CHÂN CỦA NGÀY Tue 14 Nov 2017, 19:57

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Tue 14 Nov 2017, 17:35

Tranh thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Mon 13 Nov 2017, 10:39

Thơ Tú_Yên by Tú_Yên tv Mon 13 Nov 2017, 10:35

NHỚ AI... by NGUYÊNHOANG Mon 13 Nov 2017, 08:56

HẾT GAS by NGUYÊNHOANG Mon 13 Nov 2017, 00:53

THỨ BẢY... Than!!! by Phương Nguyên Sun 12 Nov 2017, 22:30

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Kinh Chú Lăng Nghiêm và Thập Chú

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7862
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Kinh Chú Lăng Nghiêm và Thập Chú   Sun 27 Mar 2016, 17:47

NGHI THỨC  (trang 1)

(Chú Lăng Nghiêm Và Thập Chú)

Người thường trì tụng chú Lăng Nghiêm này thì được công đức khôn lường. 
NGHI THỨC CÔNG PHU KHUYA 

(khởi sự từ 4 giờ khuya) 
NIỆM HƯƠNG LỄ BÁI 
(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm) 

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN: 
Án lam tóa ha. (3 lần) 

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN: 
Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần) 

(Chủ lễ thắp ba cây hương quỳ ngay thẳng cầm hương ngang trán niệm bài cúng hương). 
CÚNG HƯƠNG 

Nguyện thử diệu hương vân, 
Biến mãn thập phương giới, 
Cúng dường nhứt thiết Phật, 
Tôn pháp chư Bồ tát, 
Vô biên Thanh văn chúng, 
Cập nhứt thiết Thánh Hiền, 
Duyên khởi quang minh đài, 
Xứng tánh tác Phật sự, 
Phổ huân chư chúng sanh, 
Giai phát Bồ đề tâm, 
Viễn ly chư vọng nghiệp, 
Viên thành Vô thượng đạo. 

KỲ NGUYỆN 

Ðệ tử chúng đẳng, nguyện thập phương thường trú Tam bảo, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, 
Tiếp dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật, Từ bi gia hộ đệ tử... pháp danh... 
Bồ đề tâm kiên cố, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, dữ pháp giới chúng sanh, 
nhứt thời đồng đắc A nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề. 

(Đứng dậy cắm hương vào lư rồi chắp tay đứng thẳng và niệm) 

TÁN PHẬT 
Pháp vương Vô thượng tôn 
Tam giới vô luân thất 
Thiên nhơn chi Ðạo sư 
Tứ sanh chi Từ phụ 
Ư nhứt niệm quy y 
Năng diệt tam kỳ nghiệp 
Xưng dương nhược tán thán 
Ức kiếp mạc năng tận. 

QUÁN TƯỞNG 
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch, 
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì, 
Ngã thử đạo tràng như Ðế châu, 
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung. 
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, 
Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ. 

- Chí tâm đảnh lễ: 

Nam mô Tận hư không, biến pháp giới,quá, hiện, 
vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo. (1 lạy) 

- Chí tâm đảnh lễ: 
Nam mô Ta bà Giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, 
Ðương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, 
Ðại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, 
Ðại hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Hộ pháp Chư tôn Bồ tát, 
Linh sơn hội thượng Phật Bồ tát. (1 lạy) 

- Chí tâm đảnh lễ: 

Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Ðại từ Ðại bi A Di Ðà Phật, 
Ðại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Ðại Thế Chí Bồ tát, 
Ðại nguyện Ðịa Tạng vương Bồ tát, 
Thanh tịnh Ðại hải chúng Bồ tát. (1 lạy) 

(Đứng ngay ngắn tụng Lăng Nghiêm) 



Được sửa bởi mytutru ngày Sun 27 Mar 2016, 18:14; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7862
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Kinh Chú Lăng Nghiêm và Thập Chú   Sun 27 Mar 2016, 18:06

Trang 2

CHÚ LĂNG NGHIÊM 
Nam mô Lăng Nghiêm Hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần) 

Diệu trạm tổng trì bất động tôn, 
Thủ Lăng Nghiêm Vương thế hi hữu, 
Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng. 
Bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân, 
Nguyện kim đắc quả thành bảo vương, 
Hườn độ như thị hằng sa chúng, 
Tương thử thâm tâm phụng trần sát, 
Thị tắc danh vi báo Phật ân, 
Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh, 
Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, 
Như nhứt chúng sanh vị thành Phật, 
Chung bất ư thử thủ nê hoàn. 
Ðại hùng đại lực đại Từ bi, 
Hi cánh thẩm trừ vi tế hoặc, 
Linh ngã tảo đăng Vô thượng giác, 
Ư thập phương giới tọa đạo tràng; 
Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong, 
Thước ca ra tâm vô động chuyển. 
Nam mô thường trụ thập phương Phật. 
Nam mô thường trụ thập phương Pháp. 
Nam mô thường trụ thập phương Tăng. 
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 
Nam mô Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm. 
Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. 
Nam mô Kim Cang Tạng Bồ tát. 

Nhĩ thời Thế Tôn, tùng nhục kế trung, dõng bá bảo quang, 
quang trung dõng xuất, thiên diệp bảo liên, hữu hóa Như Lai, 
tọa bảo hoa trung, đảnh phóng thập đạo, bá bảo quang minh, 
nhứt nhứt quang minh, giai biến thị hiện, thập hằng hà sa, 
Kim Cang mật tích, kình sơn trì sử, 
biến hư không giới, đại chúng ngưỡng quan, 
úy ái kiêm bảo, cầu Phật ai hựu, nhứt tâm thính Phật, 
vô kiến đảnh tướng, phóng quang Như Lai, tuyên thuyết thần chú: 

ÐỆ NHẤT 
01. Nam-mô tát đát tha 
02. Tô già đa da 
03. A ra ha đế 
04. Tam-miệu tam bồ-đà tỏa 
05. Nam mô tát đát tha 
06. Phật đà cu tri sắc ni sam 
07. Nam-mô tát bà 
08. Bột đà bột địa 
09. Tát đa bệ tệ 
10. Nam-mô tát đa nẩm 
11. Tam-miệu tam bồ đà 
12. Cu tri nẩm 
13. Ta xá ra bà ca 
14. Tăng già nẩm 
15. Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm. 
16. Nam-mô tô lô đa ba na nẩm. 
17. Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm. 
18. Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm. 
19. Tam-miệu dà ba ra 
20. Ðể ba đa na nẩm. 
21. Nam-mô đề bà ly sắc nỏa. 
22. Nam-mô tất đà da 
23. Tỳ địa da 
24. Ðà ra ly sắc nỏa. 
25. Xá ba noa 
26. Yết ra ha 
27. Ta ha ta ra ma tha nẩm 
28. Nam-mô bạt ra ha ma ni 
29. Nam-mô nhơn dà ra da 
30. Nam-mô bà dà bà đế 
31. Lô đà ra da. 
32. Ô ma bát đế 
33. Ta hê dạ da. 
34. Nam-mô bà dà bà đế 
35. Na ra dả 
36. Noa da 
37. Bàn dá ma ha tam mộ đà da 
38. Nam-mô tất yết rị đa da 
39. Nam-mô bà dà bà đế 
40. Ma ha ca ra da 
41. Ðịa rị bác lặc na 
42. Dà ra tỳ đà ra 
43. Ba noa ca ra da. 
44. A địa mục đế 
45. Thi ma xá na nê 
46. Bà tất nê 
47. Ma đát rị dà noa 
48. Nam-mô tất yết rị đa da 
49. Nam-mô bà dà bà đế 
50. Ða tha dà đa câu ra da 
51. Nam-mô bát đầu ma câu ra da. 
52. Nam-mô bạc xà ra câu ra da. 
53. Nam-mô ma ni câu ra da 
54. Nam-mô dà xà câu ra da 
55. Nam-mô bà dà bà đế 
56. Ðế rị trà 
57. Du ra tây na. 
58. Ba ra ha ra noa ra xà da 
59. Ða tha dà đa da 
60. Nam-mô bà dà bà đế 
61. Nam-mô A di đa bà da 
62. Ða tha dà đa da 
63. A ra ha đế. 
64. Tam-miệu tam bồ đà da 
65. Nam-mô bà dà bà đế 
66. A sô bệ da 
67. Ða tha dà đa da 
68. A ra ha đế 
69. Tam-miệu tam-bồ đà da 
70. Nam-mô bà dà bà đế 
71. Bệ xa xà da 
72. Câu lô phệ trụ rị da 
73. Bác ra bà ra xà da 
74. Ða tha dà đa da. 
75. Nam-mô bà dà bà đế 
76. Tam bổ sư bí đa 
77. Tát lân nại ra lặc xà da 
78. Ða tha dà đa da 
79. A ra ha đế 
80. Tam-miệu tam-bồ đà da 
81. Nam-mô bà dà bà đế 
82. Xá kê dã mẫu na duệ 
83. Ða tha dà đa da 
84. A ra ha đế 
85. Tam-miệu tam-bồ đà da 
86. Nam-mô bà dà bà đế 
87. Lặc đát na kê đô ra xà da 
88. Ða tha dà đa da 
89. A ra ha đế 
90. Tam-miệu tam-bồ đà da 
91. Ðế biều 
92. Nam-mô tát yết rị đa 
93. Ế đàm bà dà bà đa 
94. Tát đác tha dà đô 
sắc ni sam 
95. Tát đác đa bát đác lam 
96. Nam-mô a bà ra thị đam 
97. Bác ra đế 
98. Dương kỳ ra 
99. Tát ra bà 
100. Bộ đa yết ra ha 
101. Ni yết ra ha 
102. Yết ca ra ha ni 
103. Bạt ra bí địa da 
104. Sất đà nể 
105. A ca ra 
106. Mật rị trụ 
107. Bát rị đác ra da 
108. Nảnh yết rị 
109. Tát ra bà 
110. Bàn đà na 
111. Mục xoa ni 
112. Tát ra bà 
113. Ðột sắc tra 
114. Ðột tất phạp 
115. Bát na nể 
116. Phạt ra ni 
117. Giả đô ra 
118. Thất đế nẩm 
119. Yết ra ha 
120. Ta ha tát ra nhã xà 
121. Tỳ đa băng ta na yết rị 
122. A sắc tra băng xá đế nẩm 
123. Na xoa sát đác ra nhã xà 
124. Ba ra tát đà na yết rị 
125. A sắc tra nẩm 
126. Ma ha yết ra ha nhã xà 
127. Tỳ đa băng tát na yết rị 
128. Tát bà xá đô lô 
129. Nể bà ra nhã xà 
130. Hô lam đột tất phạp 
131. Nan giá na xá ni 
132. Bí sa xá 
133. Tất đác ra 
134. A kiết ni 
135. Ô đà ca ra nhã xà 
136. A bát ra thị đa câu ra 
137. Ma ha bác ra chiến trì 
138. Ma ha điệp đa 
139. Ma ha đế xà 
140 Ma ha thuế đa xà bà ra 
141. Ma ha bạt ra bàn đà ra 
142. Bà tất nể 
143. A rị da đa ra 
144. Tỳ rị câu tri 
145. Thệ bà tỳ xà da 
146. Bạt xà ra ma lễ để 
147. Tỳ xá lô đa 
148. Bột đằng dõng ca 
149. Bạt xà ra chế hắt na a giá 
150. Ma ra chế bà 
151. Bát ra chất đa 
152. Bạt xà ra thiện trì 
153. Tỳ xá ra giá 
154. Phiến đa xá 
155. Bệ để bà 
156. Bổ thị đa 
157. Tô ma lô ba 
158. Ma ha thuế đa 
159. A rị da đa ra 
160. Ma ha bà ra a bác ra 
161. Bạt xà ra thương yết 
ra chế bà 
162. Bạt xà ra câu ma rị 
163. Câu lam đà rị 
164. Bạt xà ra hắt tát đa giá 
165. Tỳ địa da 
166. Kiền dá na 
167. Ma rị ca 
168. Khuất tô mẫu 
169. Bà yết ra đá na 
170. Bệ lô giá na 
171. Câu rị da 
172. Dạ ra thố 
173. Sắc ni sam 
174. Tỳ chiếc lam bà ma ni giá. 
175. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà. 
176. Lồ xà na 
177. Bạt xà ra đốn trỉ giá 
178. Thuế đa giá 
179. Ca ma ra 
180. Sát sa thi 
181. Ba ra bà. 
182. Ế đế di đế 
183. Mẫu đà ra 
184. Yết noa. 
185. Ta bệ ra sám 
186. Quật phạm đô 
187 Ấn thố na mạ mạ tỏa. 
ÐỆ NHỊ 
188. Ô Hồng 
189. Rị sắc yết noa 
190. Bác lặc xá tất đa 
191. Tát đác tha 
192. Già đô sắc ni sam 
193. Hổ hồng đô lô ung 
194. Chiêm bà na 
195. Hổ hồng đô lô ung 
196. Tất đam bà na 
197. Hổ hồng đô lô ung 
198. Ba ra sắc địa da 
199. Tam bác xoa 
200. Noa yết ra 
201. Hổ hồng đô lô ung 
202. Tát bà dược xoa 
203. Hắt ra sát ta 
204. Yết ra ha nhã xà 
205. Tỳ đằng băng tát na yết ra 
206. Hổ hồng đô lô ung 
207. Giả đô ra 
208. Thi để nẩm 
209. Yết ra ha 
210. Ta ha tát ra nẩm 
211. Tỳ đằng băng tát na ra 
212. Hổ hồng đô lô ung 
213. Ra xoa 
214. Bà già phạm 
215. Tát đác tha 
216. Già đô sắc ni sam 
217. Ba ra điểm 
218. Xà kiết rị 
219. Ma ha ta ha tát ra 
220. Bột thọ ta ha tát ra 
221. Thất rị sa 
222. Câu tri ta ha tát nê 
223. Ðế lệ a tệ đề thị bà rị đa 
224. Tra tra anh ca 
225. Ma ha bạt xà lô đà ra 
226. Ðế rị bồ bà na 
227. Man trà ra 
228. Ô hồng 
229. Ta tất đế 
230. Bạt bà đô 
231. Mạ mạ 
232. Ấn thố na mạ mạ tỏa. 
ÐỆ TAM 
233. Ra xà bà dạ 
234. Chủ ra bạt dạ 
235. A kỳ ni bà dạ 
236. Ô đà ca bà dạ 
237. Tỳ xa bà dạ 
238. Xá tát đa ra bà dạ 
239. Bà ra chước yết ra bà dạ 
240. Ðột sắc xoa bà dạ 
241. A xá nể bà dạ 
242. A ca ra 
243. Mật rị trụ bà dạ 
244. Ðà ra ni bộ di kiếm 
245. Ba già ba đà bà dạ 
246. Ô ra ca bà đa bà dạ 
247. Lặc xà đàn trà bà dạ 
248. Na dà bà dạ 
249. Tỳ điều đát bà dạ 
250. Tô ba ra noa bà dạ 
251. Dược xoa yết ra ha 
252. Ra xoa tư yết ra ha 
253. Tất rị đa yết ra ha 
254. Tỳ xá giá yết ra ha 
255. Bộ đa yết ra ha 
256. Cưu bàn trà yết ra ha 
257. Bổ đơn na yết ra ha 
258. Ca tra bổ đơn na yết ra ha 
259. Tất kiền độ yết ra ha 
260. A bá tất ma ra yết ra ha 
261. Ô đàn ma đà yết ra ha 
262. Xa dạ yết ra ha 
263. Hê rị bà đế yết ra ha 
264. Xả đa ha rị nẩm 
265. Yết bà ha rị nẩm 
266. Lô địa ra ha rị nẩm 
267. Mang ta ha rị nẩm 
268. Mê đà ha rị nẩm 
269. Ma xà ha rị nẩm 
270. Xà đa ha rị nữ 
271. Thị tỷ đa ha rị nẩm 
272. Tỳ đa ha rị nẩm 
273. Bà đa ha rị nẩm 
274. A du giá ha rị nữ 
275. Chất đa ha rị nữ 
276. Ðế sam tát bệ sam 
277. Tát bà yết ra ha nẩm 
278. Tỳ đà dạ xà 
279. Sân đà dạ di 
280. Kê ra dạ di 
281. Ba rị bạt ra giả ca 
282. Hất rị đởm 
283. Tỳ đà dạ xà 
284. Sân đà dạ di 
285. Kê ra dạ di 
286. Trà diễn ni 
287. Hất rị đởm 
288. Tỳ đà dạ xà 
289. Sân đà dạ di 
290. Kê ra dạ di 
291. Ma ha bát du bát đác dạ 
292. Lô đà ra 
293. Hất rị đởm 
294. Tỳ đà dạ xà 
295. Sân đà dạ di 
296. Kê ra dạ di 
297. Na ra dạ noa 
298. Hất rị đởm 
299. Tỳ đà dạ xà 
300. Sân đà dạ di 
301. Kê ra dạ di 
302. Ðát đỏa dà lô trà tây 
303. Hất rị đởm 
304. Tỳ đà dạ xà 
305. Sân đà dạ di 
306. Kê ra dạ di 
307. Ma ha ca ra 
308. Ma đác rị già noa 
309. Hất rị đởm 
310. Tỳ đà dạ xà 
311. Sân đà dạ di 
312. Kê ra dạ di 
313. Ca ba rị ca 
314. Hất rị đởm 
315. Tỳ đà dạ xà 
316. Sân đà dạ di. 
317. Kê ra dạ di 
318. Xà dạ yết ra 
319. Ma độ yết ra 
320. Tát bà ra tha ta đạt na 
321. Hất rị đởm 
322. Tỳ đà dạ xà 
323. sân đà dạ di 
324. Kê ra dạ di 
325. Giả đốt ra 
326. Bà kỳ nể 
327. Hất rị đởm 
328. Tỳ đà dạ xà 
329. Sân đà dạ di 
330. Kê ra dạ di 
331. Tỳ rị dương hất rị tri 
332. Nan đà kê sa ra 
333. Dà noa bác đế 
334. Sách hê dạ 
335. Hất rị đởm 
336. Tỳ đà dạ xà 
337. Sân đà dạ di 
338. Kê ra dạ di 
339. Na yết na xá ra bà noa 
340. Hất rị đởm 
341. Tỳ đà dạ xà 
342. Sân đà dạ di 
343. Kê ra dạ di 
344. A-la-hán 
345. Hất rị đởm 
346. Tỳ đà dạ xà 
347. Sân đà dạ di 
348. Kê ra dạ di 
349. Tỳ đa ra dà 
350. Hất rị đởm 
351. Tỳ đà dạ xà 
352. Sân đà dạ di 
353. Kê ra dạ di 
354. Bạt xà ra ba nể 
355. Câu hê dạ câu hê dạ 
356. Ca địa bát đế 
357. Hất rị đởm 
358. Tỳ đà dạ xà 
359. Sân đà dạ di 
360. Kê ra dạ di 
361. Ra xoa vỏng 
362. Bà dà phạm 
363. Ấn thố na mạ mạ tỏa 
ÐỆ TỨ 
364. Bà dà phạm 
365. Tát đác đa bát đác ra 
366. Nam-mô tý đô đế 
367. A tất đa na ra lặc ca 
368. Ba ra bà 
369. Tất phổ tra 
370. Tỳ ca tát đác đa bát đế rị 
371. Thập Phật ra thập Phật ra 
372. Ðà ra đà ra 
373. Tần đà ra tần đà ra 
374. Sân đà sân đà 
375. Hổ hồng hổ hồng. 
376. Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra. 
377. Ta ha 
378. Hê hê phấn 
379. A mâu ca da phấn 
380. A ba ra đề ha da phấn 
381. Ba ra bà ra đà phấn 
382. A tố ra 
383. Tỳ đà ra 
384. Ba ca phấn 
385. Tát bà đề bệ tệ phấn 
386. Tát bà na dà tệ phấn 
387. Tát bà dược xoa tệ phấn 
388. Tát bà kiền thát bà tệ phấn 
389. Tát bà bổ đơn na tệ phấn 
390. Ca tra bổ đơn na tệ phấn 
391. Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn. 
392. Tát bà đột sáp tỷ lê 
393. Hất sắc đế tệ phấn 
394. Tát bà thập bà lê tệ phấn 
395. Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn 
396. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn. 
397. Tát bà địa đế kê tệ phấn 
398. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn 
399. Tát bà tỳ đà da 
400. Ra thệ giá lê tệ phấn 
401. Xà dạ yết ra 
402. Ma độ yết ra 
403. Tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn. 
404. Tỳ địa dạ 
405. Giá lê tệ phấn 
406. Giả đô ra 
407. Phược kỳ nể tệ phấn 
408. Bạt xà ra 
409. Câu ma rị 
410. Tỳ đà dạ 
411. La thệ tệ phấn 
412. Ma ha ba ra đinh dương 
413. Xoa kỳ rị tệ phấn 
414. Bạt xà ra thương yết ra dạ 
415. Ba ra trượng kỳ ra xà da phấn 
416. Ma ha ca ra dạ 
417. Ma ha mạt đát rị ca noa 
418. Nam-mô ta yết rị đa da phấn. 
419. Tỷ sắc noa tỳ duệ phấn 
420. Bột ra ha mâu ni duệ phấn 
421. A kỳ ni duệ phấn 
422. Ma ha yết rị duệ phấn 
423. Yết ra đàn tri duệ phấn 
424. Miệc đát rị duệ phấn 
425. Lao đát rị duệ phấn 
426. Giá văn trà duệ phấn 
427. Yết la ra đác rị 
duệ phấn. 
428. Ca bát rị duệ phấn 
429. A địa mục chất đa 
430. Ca thi ma xá na 
431. Bà tư nể duệ phấn 
432. Diễn kiết chất 
433. Tát đỏa bà tỏa 
434. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa. 
ÐỆ NGũ 
435. Ðột sắc tra chất đa 
436. A mạt đác rị chất đa 
437. Ô xà ha ra 
438. Dà ba ha ra 
439. Lô địa ra ha ra 
440. Ta bà ha ra 
441. Ma xà ha ra 
442. Xà đa ha ra 
443. Thị tỉ đa ha ra 
444. Bạt lược dạ ha ra 
445. Kiền đà ha ra 
446. Bố sử ba ha ra 
447. Phả ra ha ra 
448. Bà tả ha ra 
449. Bát ba chất đa 
450. Ðột sắc tra chất đa. 
451. Lao đà ra chất đa 
452. Dược xoa yết ra ha 
453. Ra sát ta yết ra ha 
454. Bế lệ đa yết ra ha 
455. Tỳ xá giá yết ra ha 
456. Bộ đa yết ra ha 
457. Cưu bàn trà yết ra ha 
458. Tất kiền đà yết ra ha 
459. Ô đát ma đà yết ra ha 
460. Xa dạ yết ra ha 
461. A bá tất ma ra yết ra ha. 
462. Trạch khê cách 
463. Trà kỳ ni yết ra ha 
464. Rị Phật đế yết ra ha 
465. Xà di ca yết ra ha 
466. Xá câu ni yết ra ha 
467. Lao đà ra 
468. Nan địa ca yết ra ha 
469. A lam bà yết ra ha 
470. Kiền độ ba ni yết ra ha 
471. Thập phạt ra 
472. Yên ca hê ca 
473. Trị đế dược ca 
474. Ðát lệ đế dược ca 
475. Giả đột thác ca 
476. Ni đề thập phạt ra 
477. Tỉ sam ma thập phạt ra 
478. Bạt để ca 
479. Tỷ để ca 
480. Thất lệ sắc mật ca 
481. Ta nể bát để ca 
482. Tát bà thập phạt ra 
483. Thất lô kiết đế 
484. Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm 
485. A ỷ lô kiềm 
486. Mục khê lô kiềm 
487. Yết rị đột lô kiềm 
488. Yết ra ha 
489. Yết lam yết noa du lam 
490. Ðản đa du lam 
491. Hất rị dạ du lam 
492. Mạt mạ du lam 
493. Bạt rị thất bà du lam 
494. Tỷ lật sắc tra du lam 
495. Ô đà ra du lam 
496. Yết tri du lam 
497. Bạt tất đế du lam 
498. Ô lô du lam 
499. Thường dà du lam 
500. Hắc tất đa du lam 
501. Bạt đà du lam 
502. Ta phòng án dà 
503. Bát ra trượng dà du lam 
504. Bộ đa tỷ đa trà 
505. Trà kỳ ni 
506. Thập bà ra 
507. Ðà đột lô ca 
508. Kiến đốt lô kiết tri 
509. Bà lộ đa tỳ 
510. Tát bát lô 
511. Ha lăng già 
512. Du sa đát ra 
513. Ta na yết ra 
514. Tỳ sa dụ ca 
515. A kỳ ni 
516. Ô đà ca 
517. Mạt ra bệ ra 
518. Kiến đa ra 
519. A ca ra 
520. Mật rị đốt 
521. Ðát liểm bộ ca 
522. Ðịa lật lặc tra 
523. Tỷ rị sắc chất ca 
524. Tát bà na câu ra 
525. Tứ dẫn dà tệ 
526. Yết ra rị dược xoa 
527. Ðác ra sô 
528. Mạt ra thị 
529. Phệ đế sam 
530. Ta bệ sam 
531. Tất đát đa bát đác ra 
532. Ma ha bạt xà lô 
533. Sắc ni sam 
534. Ma ha bát lặc trượng kỳ lam 
535. Dạ ba đột đà 
536. Xá dụ xà na 
537. Biện đát lệ noa 
538. Tỳ đà da 
539. Bàn đàm ca lô di 
540. Ðế thù 
541. Bàn đàm ca lô di 
542. Bát ra tỳ đà 
543. Bàn đàm ca lô di 
544. Ðát điệt tha 
545. Án 
546. A na lệ 
547. Tỳ xá đề 
548. Bệ ra 
549. Bạt xà ra 
550. Ðà rị 
551. Bàn đà bàn đà nể 
552. Bạt xà ra bán ni phấn 
553. Hổ hồng đô lô ung phấn 
554. Ta bà ha. / 3 lần

CHÚ ĐẠI BI 
Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) 
Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. 

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. 
Nam mô a rị da. 
Bà lô yết đế thước bát ra da. 
Bồ đề Tát đỏa bà da. 
Ma ha Tát đỏa bà da. 
Ma ha ca lô ni ca da. 
Án. Tát bàn ra phạt duệ. 
Số đát na đát tả. 
Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. 
Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. 
Nam mô na ra cẩn trì. 
Hê rị ma ha bàn đa sa mế. 
Tát bà a tha đậu du bằng. 
A thệ dựng. 
Tát bà tát đá na ma bà dà. 
Ma phạt dạt đậu. 
Đát điệt tha. 
Án a bà lô hê. 
Lô ca đế. 
Ca ra đế. 
Di hê rị. 
Ma ha Bồ đề Tát đỏa. 
Tát bà tát bà. 
Ma ra ma ra. 
Ma hê ma hê rị đà dựng. 
Câu lô câu lô yết mông. 
Độ lô độ lô phạt xà da đế. 
Ma ha phạt xà da đế. 
Đà ra đà ra. 
Địa rị ni. 
Thất Phật ra da. 
Dá ra dá ra. 
Mạ mạ phạt ma ra. 
Mục đế lệ. 
Y hê y hê. 
Thất na thất na. 
A ra sâm Phật ra xá rị. 
Phạt sa phạt sâm. 
Phật ra xá da. 
Hô lô hô lô ma ra. 
Hô lô hô lô hê rị. 
Sa ra sa ra. 
Tất rị tất rị. 
Tô rô tô rô. 
Bồ đề dạ Bồ đề dạ. 
Bồ đà dạ bồ đà dạ. 
Di đế rị dạ. 
Na ra cẩn trì. 
Địa rị sắc ni na. 
Ba dạ ma na. 
Sa bà ha. 
Tất đà dạ. 
Sa bà ha. 
Ma ha tất đà dạ. 
Sa bà ha. 
Tất đà du nghệ. 
Thất bàn ra dạ. 
Sa bà ha. 
Na ra cẩn trì. 
Sa bà ha. 
Ma ra na ra. 
Sa bà ha. 
Tất ra tăng a mục khư da. 
Sa bà ha. 
Sa bà ma ha a tất đà dạ. 
Sa bà ha. 
Giả cát ra a tất đà dạ. 
Sa bà ha. 
Ba đà ma yết tất đà dạ. 
Sa bà ha. 
Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ. 
Sa bà ha. 
Ma bà rị thắng yết ra dạ. 
Sa bà ha.
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.
Nam mô a rị da. 
Bà lô cát đế. 
Thước bàn ra dạ. 
Sa bà ha
-Án tất điện đô. Mạn đà ra. Bạt đà da. Sa bà ha.( câu cuối này đọc 3 lần) 

THẬP CHÚ: 

NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ÐÀ LA NI:
 

Nam mô Phật đà da.
Nam mô Ðạt ma da.
Nam mô Tăng dà da.
Nam mô Quán Tự Tại Bồ tát Ma ha tát, cụ đại bi tâm giả. Ðát điệt tha.
Án chước yết ra phạt để chấn đa mạc ni, ma ha bát đẳng mế, 
rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị, sa dạ hồng, phấn ta ha.
Án, bát đạp ma chấn đa mạt ni, thước ra hồng.
Án bát lặc đà, bát đẳng mế hồng.

2. TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ: 


Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẩm. 
Á bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẩm. Ðát điệt tha. 
Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, 
bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, 
sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha.

3. CÔNG ÐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ: 

Nam mô Phật đà da.
Nam mô Ðạt ma da.
Nam mô Tăng dà da.
Án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.

4. PHẬT MẪU CHUẨN ÐỀ THẦN CHÚ: 

Khể thủ Quy y Tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi.
Ngã kim xưng tán Ðại Chuẩn Ðề, duy nguyện Từ bi thùy gia hộ.
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam Bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha.
Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Ðề, Ta bà ha.

5. THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ÐỊNH 
QUANG MINH VƯƠNG ÐÀ LA NI:
 

Án, nại ma ba cát ngỏa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nể, 
thiệt chất đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế, 
tam dược tam bất đạt dã, đát nể dã tháp.
Án, tát rị ba, tang tư cát rị, bót rị thuật đạp, đạt ra mã đế, 
cả cả nại tang mã ngột cả đế, 
ta ba ngỏa tỷ thuật đế, mã hắt nại dã, bát rị ngỏa rị tá hắt. 

6. DƯỢC SƯ QUÁN ÐẢNH CHƠN NGÔN 

Nam mô bạt dà phạt đế, bệ sát xả, lủ rô thích lưu ly, 
bát lặt bà, hắt ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hắt đế, tam miệu tam bột đà da. 
Ðát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xả, tam một yết đế tóa ha.

7. QUÁN ÂM LINH CẢM CHƠN NGÔN 

Án, ma ni bác di hồng, ma hắt nghê nha nạp, 
tích đô đặt ba đạt, tích đặt ta nạp, vi đạt rị cát, 
tát nhi cáng nhi tháp, bốc rị tất tháp, cát nạp bổ ra nạp, 
nạp bốc rị, thưu thất ban nạp, nại ma lô kiết, thuyết ra da, tá ha.

8. THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN 

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, 
tỳ lê nể đế, ma ha dà đế, chơn lăng càng đế, Ta bà ha.

9. VÃNG SANH TỊNH ÐỘ THẦN CHÚ 

Nam mô a di đa bà dạ, Ða tha dà đa dạ, Ða địa dạ tha.
A di rị đô bà tỳ,
A di rị đa tất đam bà tỳ,
A di rị đa tì ca lan đế,
A di rị đa, tì ca lan đa,
Dà di nị dà dà na,
Chỉ đa ca lệ Ta bà ha.

10. THIÊN THIÊN NỮ CHÚ
Nam mô Phật Ðà.
Nam mô Ðạt Mạ.
Nam mô Tăng Dà.
Nam mô thất lỵ, ma ha để tỷ da, đát nể dã tha, 
ba lỵ phú lầu na giá lỵ, tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, 
tam mạn đà, tỳ ni dà đế, ma ha ca rị dã, ba nể ba ra, ba nể tát rị phạ lặt tha, 
tam mạn đà, tu bác lê đế, phú lệ na, a rị na, đạt mạ đế, ma ha tỳ cổ tất đế, 
ma ha Di Lặc đế, lâu phả tăng kỳ đế, 
hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà, a tha A nậu, đà la ni. 

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH 

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, 
chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; 
sắc tức thị không, không tức thị sắc; 
thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. 
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng: 
bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. 
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; 
vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp; 
vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận; 
nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. 
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề Tát đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, 
vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết bàn.
Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu Đa la tam miệu tam Bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, 
thị đại minh chú, thị Vô thượng chú, 
thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
“Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.” (Câu cuối đọc 3 lần)
Ma ha Bát nhã Ba la mật đa (3 lần) 

TÁN PHẬT
Thượng lai hiện tiền thanh tịnh chúng,
Phúng tụng Lăng Nghiêm chư phẩm chú,
Hồi hướng Tam bảo chúng Long Thiên,
Thủ hộ Già lam chư Thánh chúng.
Tam đồ bát nạn cu ly khổ,
Tứ ân, tam hữu tận triêm ân,
Quốc giới an ninh binh cách tiêu,
Phong điều võ thuận dân an lạc.
Ðại chúng huân tu hi thắng tấn,
Thập địa đốn siêu vô nan sự,
Tam môn thanh tịnh tuyệt phi ngu,
Ðàn tín quy y tăng phước huệ.
Sát trần tâm niệm khả sổ tri,
Ðại hải trung thủy khả ẩm tận,
Hư không khả lượng phong khả kế,
Vô năng thuyết tận Phật công đức.
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Thập phương thế giới diệc vô tỷ,
Thế gian sở hữu ngã tận kiến,
Nhứt thiết vô hữu như Phật giả.
Nam mô Ta bà Thế giới, tam giới đạo sư, tứ sanh từ phụ, 
nhơn thiên giáo chủ thiên bá ức hóa thân Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (7 lần)
Nam mô Ðại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. (3 lần)
Nam mô Ðại hạnh Phổ Hiền Bồ tát. (3 lần)
Nam mô Hộ pháp Chư tôn Bồ tát. (3 lần)
Nam mô Ðạo tràng Hội thượng Phật, Bồ tát. (3 lần)

Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7862
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Kinh Chú Lăng Nghiêm và Thập Chú   Sun 27 Mar 2016, 18:19

(Trang 3)

SÁM PHỔ HIỀN
(Quỳ đọc) 

Ðệ tử chúng đẳng,
Tùy thuận tu tập.
Phổ Hiền Bồ tát,
Thập chủng đại nguyện:
Nhứt giả lễ kính chư Phật,
Nhị giả xưng tán Như Lai,
Tam giả quảng tu cúng dường,
Tứ giả sám hối nghiệp chướng,
Ngũ giả tùy hỉ công đức,
Lục giả thỉnh chuyển pháp luân,
Thất giả thỉnh Phật trụ thế,
Bát giả thường tùy Phật học,
Cửu giả hằng thuận chúng sanh,
Thập giả phổ giai hồi hướng. 

BÀI TÁn PHẬT

Tán lễ Thích Tôn
Vô thượng Năng nhơn.
Tăng kỳ cửu viễn tu chơn.
Ðẩu suất giáng thần,
Trường từ bửu vị kim luân,
Tọa Bồ đề tòa đại phá ma quân.
Nhứt đổ minh tinh đạo thành, giáng pháp lâm.
Tam thừa chúng đẳng qui tâm,
Vô sanh dĩ chứng.
Hiện tiền chúng đẳng qui tâm.
Vô sanh tốc chứng.
Tứ sanh cửu hữu, đồng đăng hoa tạng huyền môn. 
Bát nạn, tam đồ cộng nhập tỳ lô tánh hải.
(Đứng dậy đọc bài hồi hướng và tam quy y) 

HỒI HƯỚNG

Phúng kinh công đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi hướng,
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ tát đạo.
Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung,
Cửu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cọng thành Phật đạo.
Nam mô A Di Đà Phật

Phục Nguyện:

Cây Bồ đề cao sồ sộ dìm đà che mát khắp cả Tam thiên,
Hoa Ưu bát nở liền rực rỡ thơm tho cùng thế giới,
Nào bổn đạo xóm làng qua lại đều nhờ mưa pháp thấm căn lành,
Nào Tổ tiên, nội ngoại vong linh đều đến Liên trì vào Hội Thánh.

Phổ nguyện:

Cả trăm họ bỏ tà quy chánh,
Suốt bốn loài nhập Thánh siêu phàm,
Bao nhiêu phước thiện thảy noi làm,
Tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Nguyện cho:

Thế giới hòa bình, nhân dân an lạc,
Mưa thuận gió hòa, mùa màng thịnh vượng.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

TAM QUY Y 

Tự quy y Phật,
Đương nguyện chúng sanh,
Thể giải đại đạo,
Phát Vô thượng tâm. (1 lạy)

Tự quy y Pháp,
Đương nguyện chúng sanh,
Thâm nhập kinh tạng,
Trí huệ như hải. (1 lạy)

Tự quy y Tăng,
Đương nguyện chúng sanh,
Thống lý đại chúng,
Nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

tkn
Nguyện đem công đức này 
Hướng về khắp tất cả 
Đệ tử và chúng sanh 
Đồng trọn thành Phật đạo 

Mam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần) 
Xong quỳ lạy ba lạy rồi đứng lên xá 
(Lạy Phật 3 lạy.. Lạy tổ 3 lạy.. Lạy các bậc thầy 3 lạy) 
Xá cũng vậy . 



tkn.Đào Liên
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7862
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Kinh Chú Lăng Nghiêm và Thập Chú   Mon 28 Mar 2016, 21:11

Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG Thập Nhị THẦN CHÚ
 
Những người hành trì Kinh Đại Thừa Phật Giáo đều có tụng các Thần Chú trong các thời khoá nhằm mục đích tiêu trừ nghiệp chướng oan khiên, thêm được phước lành tăng trưởng.

Ý nghĩa chữ Thần Chú như trước đã giải thích là lời nói bí mật của chư Phật (Mật ngôn hay Phật ngôn), lời nói đặc biệt này chỉ có các đức Phật trong mười phương nghe biết mà nó không phải là thứ ngôn ngữ thường tình của các chúng sanh trong ba cõi sử dụng, cho nên những thứ ngôn ngữ này người phàm phu không thể nào hiểu rõ.

Những ai muốn chư Phật, chư Bồ Tát trong mười phương gia hộ những khổ đau của cuộc đời chỉ cần hành trì Thần Chú được chỉ dẫn sẽ được linh ứng theo sở cầu.
 
Thần Chú của Mật Tông có nhiều loại và mỗi loại có công dụng riêng, nhưng các Thiền Gia trong các Thiền Môn chỉ chọn khoảng một số Thần Chú để sử dụng tụng trong các buổi lễ như Cầu An, Cầu Siêu, Sám Hối, v.v... gồm có Thần Chú Lăng Nghiêm, Thần Chú Đại Bi và mười Thần Chú khác gọi là Thập Chú. Ý Nghĩa và công dụng các Thần Chú nói trên được giải thích như sau:
 
1)- Chú Lăng Nghiêm:

Công dụng của Thần Chú Lăng Nghiêm, theo Triết Lý Đạo Phật hay Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm trong Phật Học Phổ Thông Khoá VI và VII của Hoà Thượng Thích Thiện Hoa, trang 255 và 266 đức Phật nói:

“Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề không thể trừ được, ông (chỉ ông A Nan) nên dạy họ chí tâm trì chú Lăng-nghiêm này thì các nghiệp chướng đều tiêu diệt” và đức Phật nói tiếp:
 “Sau khi ta diệt độ các chúng sanh đời sau, nếu có người trì tụng chú này thì các tai nạn: thủy tai, hoả hoạn, thuốc độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỉ quái, v.v... đều chẳng hại được”.

Chúng ta muốn đạt thành những ý nguyện cho cuộc sống được an lạc và thành quả trên con đường giác ngộ giải thoát thì phải chuyên cần hành trì thâm nhập Chú Lăng Nghiêm này để nhờ thần lực chuyển hoá hộ.

Điều đó chính đức Phật đã nói trong Kinh Lăng Nghiêm:
 “Ma Đăng Già là kẻ dâm nữ, không có tâm tu hành còn được thành quả Thánh, huống chi các ông là bậc Thanh văn, có chí cầu đạo vô thượng, lại trì tụng chú này, thì quyết định thành Phật rất dễ, cũng như than gió tung bụi, chẳng có khó gì.”
 
2)- Chú Đại Bi:

Theo Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni giải thích:

 “Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời vì ngài Quán Thế Âm mà nói ra chú Đại Bi này.
Lúc đó Ngài mới trụ bực Sơ Địa, sau khi nghe chú này rồi thì siêu chứng lên bậc Bát Địa liền, Ngài thấy hiệu nghiệm như vậy liền phát đại nguyện rằng:
“Nếu qua đời vị lai có thể đem thần chú này ra làm lợi ích cho chúng sanh thì cho thân Ngài sanh ra ngàn cái tai ngàn con mắt,” v.v...
Ngài nguyện vừa xong thì quả nhiên tay mắt đều đầy đủ tất cả và lại được chư Phật Phóng quang soi đến thân Ngài, đồng thời soi khắp vô biên thế giới. Khi ấy Ngài lại phát nguyện nữa rằng:

“Người nào nếu trì tụng chú này mỗi đêm 5 biến thì đặng tiêu hết những tội nặng sanh tử trong trăm ngàn vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ. 
Bằng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác và chẳng đặng sanh về cõi Phật hay chẳng đặng những pháp Tam Muội, chẳng biện tài, sở cầu không toại chí, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là Đại Bi Tâm Đà La Ni”.
Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành và lòng hay nghi thì không thấy hiệu nghiệm được liền mà thôi.
Theo Nhị Khoá Hiệp Giải của Hoà Thượng Thích Khánh Anh, trang 74 giải thích:

 “Thuở ấy, đức Quán Thế Âm rất kín nhiệm Phóng ra hào quang lớn chiếu cả mười phương các cõi nước đều rực rỡ thành màu vàng ròng; rồi chấp tay bạch Phật rằng: Tôi có thần chú....
Đại Bi tâm Đà La Ni, nay tôi muốn nói ra để cho các chúng sanh đều đặng an lạc, vì nó có hiệu lực: tiêu trừ bệnh hoạn, tuổi sống lâu dài, giàu có, thêm điều lành, dứt hết các tội, được toại tâm với sự mong cầu, nên được Phật hứa cho thuyết chú.”
Đây là những sự linh ứng và diệu dụng của Thần Chú Đại Bi.

 
3)- Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni:

Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện nên Ngài bạch với Phật xin để Ngài thuyết chú này. 

Những người trì tụng mà rõ được nghĩa thâm mật của chú này thì cái thắng lợi ấy cũng thí như cây như ý sanh ra những ngọc bảo châu như ý, tuỳ nguyện muốn cầu việc gì cũng được.
Lúc Bồ Tát thuyết chú này rồi, sáu chưởng chấn động, cung điện của Ma Vương đều nổi lửa cháy sợ hãi không cùng, các loài độc ác chúng sanh đều lăn nhào té ngã, còn những kẻ thọ khổ trong địa ngục và ngạ quỷ thì đều đặng sanh về cõi Trời.
Người nào nhứt tâm trì tụng chú này thì các thứ tai nạn đều được tiêu trừ mà đến lúc lâm chung lại được thấy đức Phật A Di Đà và Ngài Quán Thế Âm tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ.


4)- Thần Chú Tiêu Tai Cát Tường:

Theo Kinh Tiêu tai Cát Tường: Khi Phật ở tại từng trời Tịnh Cư nói với các thiên chúng cùng các vị quản lý 28 ngôi sao và 12 cung thần rằng:

 “Có chú Xí Thạnh Quảng Đại Oai Đức Đà La Ni” của Phật Ta La Vương đã nói hồi trước.
 
Ta nay thuyết ra đây là pháp để trừ những tai nạn. Nếu trong Đế đô quốc giới có các vị đặc trách sao yêu tinh đến làm những điều chướng nạn, hay những vị đặc trách sao quan hệ bổn mạng của nhân loại có gì bất tường phải lập đạo tràng, rồi khắc ký mà niệm chú này 108 biến thì tai chướng tức thời trừ diệt hết.”
 
5)- Thần Chú Công Đức Bảo Sơn:

Theo Viên Nhơn Vãng Sanh có dẫn chứng Kinh Đại Tập nói rằng: “Nếu người tụng chú này một biến thì công đức cũng như lễ Kinh Đại Phật Danh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến (45.400), còn như phạm tội nặng đang đọa vào địa ngục A Tì mà nhứt tâm trì tụng chú này thì trong lúc mạng chung chắc đặng sanh về bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh bên cõi Tịnh Độ mà đặng thấy Phật A Di Đà.”

 
6)- Thần Chú Phật Mẫu Chuẩn Đề:

Câu chú này trích trong Kinh Chuẩn Đề. Bốn câu kệ đầu là:

“Khể thủ quy y Tô tất Đế,” v.v... cho đến “Duy nguyện từ bi thùy gia hộ” là của Ngài Long Thọ Bồ Tát.
Trong bốn câu kệ:
* Câu đầu là nói về Pháp Bảo; câu hai là nói về Phật Bảo; câu thứ ba là nói về Tăng Bảo; câu thứ tư là nói mình xin nhờ ơn sự gia hộ của Tam Bảo.

*) Khể thủ quy y Tô Tất Đế: nghĩa là cúi đầu quy kính Pháp Viên Thành (pháp nhiệm mầu). Chữ Tô Tất Đế: nguyên tiếng Phạn là Susidhi, Tàu dịch là Diệu Thành Tựu, nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sanh rất mầu nhiệm.
*) Đầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi (cu đê): nghĩa là thành tâm đảnh lễ bảy trăm ức Phật. 
Chữ “Cu Chi” hay là “Cu Đê”, nguyên tiếng Phạn là “Koti”, Tàu dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức; cho nên trên đây nói ”thất cu chi” tức là số bảy trăm ức vậy.
*) Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề: nghĩa là tôi nay xưng tán đức Đại Chuẩn Đề. Chữ “Chuẩn Đề”, nguyên tiếng Phạn là “Candi”, Tàu dịch có hai nghĩa:
Thi Vi, 2) Thành Tựu.
Thi Vi: nghĩa là lời nguyện rộng lớn đúng nơi lý và dùng đại trí để dứt vọng hoặc, vì đủ các nhơn hạnh để ra làm việc lợi tha cho chúng sanh, nên gọi là Thi Vi.
Thành Tựu: nghĩa là từ nơi pháp không mà hiện ra pháp giả rồi thành tựu đặng pháp tịch diệt.
Sở dĩ Chú này xưng là “Phật Mẫu Chuẩn Đề” là nói: Pháp là thầy và thiệt trí, là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng pháp “Chuẩn Đề Tam Muội” mà chứng đạo Bồ Đề.


Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng: Khi Phật ở vườn Kỳ Đà vì có tứ chúng bát bộ đông đủ, Ngài nghĩ thương những chúng sanh đời mạt pháp sau này, tội dày phước mỏng, nên mới nhập “Chuẩn Đề Định” mà thuyết thần chú như vầy:
Nam Mô Tát Đa Nẩm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha, Án, Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề, Ta bà Ha.
Phật nói: 

Nếu trì chú này mãn chín mươi vạn (900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm trì tụng, liền được tiêu trừ tai nạn bệnh hoạn, tăng trưởng phước thọ. Khi tụng mãn 49 ngày, Bồ Tát Chuẩn Đề khiến hai vị Thánh thường theo người ấy hộ trì.

Nếu có người hoặc cầu mở trí tuệ, hoặc cầu chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh Giác, chỉ y theo pháp thiết lập đàn tràng, tụng đủ một trăm vạn (1.000.000) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh Độ, phụng thờ chư Phật, nghe cả diệu pháp mà được chứng quả Bồ Đề.

 
7)- Thần Chú Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni:

Chú này trích trong Kinh Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà La Ni. 

Kinh ấy nói: “Đức Thích Ca Thế Tôn nghĩ thương chúng sanh đoản mạng trong đời vị lai, muốn cho thêm được thọ số, hưởng được hạnh phúc, nên Phật nói với Đại Trí Huệ Diệu Cát Tường Bồ Tát rằng:

Những nhơn loại ở trong cõi Diêm Phù Đề này thọ mạng chỉ đặng trăm tuổi, mà ở trong số đó lại có phần đông người tạo lắm điều ác nghiệp nên bị tổn đức giảm kỷ thác yểu chết non. Nếu như nhơn loại thấy đặng chú này, hoặc biên chép, hoặc ấn tống, hoặc thọ trì đọc tụng thì lại tăng thọ mạng sống ngoài trăm tuổi và qua đời sau mau chứng quả Bồ Đề.”
8)- Thần Chú Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn:

Thần chú này được trích ra từ nơi Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức. Theo như trong kinh, đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bệnh gì mà cứ nhứt tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống vào thì các bệnh đều lành liền.
Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh tật và được sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sanh về cõi Tịnh Lưu Ly. 

Nhưng phải biết rằng: chú này được gọi là “Quán Đảnh” là nói chú này do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Người nào nếu thọ trì đọc tụng chú này mà đặng thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý) thì hào quang Phật chiếu ngay đến nơi đảnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.

Nên biết ánh quang của Phật khác hơn ánh quang của ma, nguyên vì ánh quang của ma thì chói loà khiến cho người ta sợ hãi, còn ánh quang của Phật thì mát mẻ và làm cho ta vui mừng.

Vậy ai là người thọ trì chú này hoặc niệm Phật cần phải phân biệt rõ hai cái ánh quang nói trên. 
Chớ đừng thấy ánh quang của ma lậo lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn nến, như kẻ nhìn nhang kia mà nhận lầm cho là thấy tánh.
 
9)- Thần Chú Quán Âm Linh Cảm Chơn Ngôn:

Đức Quán Thế Âm có lòng Đại Bi rất tha thiết, bi nguyện của Bồ Tát rất thâm sâu, công đức độ sanh của Bồ Tát lan rộng khắp mười phương. Người nào thành tâm trì tụng chú này thì liền được lòng Đại Bi của Bồ Tát chắc chắn ủng hộ.

 
10)- Thần Chú Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn:

Chú này được trích ra từ trong kinh Đại Phương Đẳng Đà La Ni.

Kinh này nói: “Ngài Văn Thù Sư Lợi nghĩ thương về sau đến đời mạt pháp các chúng Tỳ Kheo có phạm tội Tứ Trọng và các chúng Tỳ Kheo Ni có phạm tội Bát Trọng thì làm sao mà sám hối đặng, nên mới cầu Phật chỉ rõ phương pháp.
 
Lúc ấy Đức Thích Ca Như Lai mới thuyết ra chú này; vì chú này là chú của bảy vị Phật đời trước thường nói, rất có oai lực làm diệt hết các tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch mà đặng phước vô lượng.

Tứ Trọng, Ngũ Nghịch là tội rất nặng, nếu không phải cách sám hối vô sanh thì tưởng không thể nào tiêu diệt cho đặng. Nhưng vì thần chú này là bảy vị Phật đời trước xứng tánh thuyết ra, cho nên những người trì tụng niệm niệm cũng phải xứng tánh để đặng lý vô sanh thì tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt, cũng như nước sôi đổ vào tuyết thì tuyết liền bị tan biến ngay lập tức.

 
11)- Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ:

Thần chú này được trích từ trong kinh Bạt Nhứt Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Thần chú này có công dụng diệt được các trọng tội như: tội Tứ Trọng,

Ngũ Nghịch, Thập Ác, Hủy Bán Chánh Pháp.
 Người nào nếu y pháp mà chí tâm trì tụng chú này thì Đức Phật A Di Đà thường trụ ở nơi đảnh đầu người ấy luôn cả ngày đêm mà ủng hộ, không cho oan gia thừa tiện nhiễu hại, trong lúc hiện thế đặng an ổn và đến khi mạng chung được vãng sanh Tịnh Độ.
Cách thức hành trì, Trước khi trì tụng chú này, hành giả phải rửa mình, súc miệng cho sạch sẽ, ngày đêm sáu thời, thắp hương lễ Phật, quì gối trước bàn thờ, chấp tay cung kính trì tụng mỗi thời tối thiểu 21 biến thì được linh ứng và hoặc trì tụng đươc ba vạn (300.000) biến thì được thấy đặng Phật A Di Đà thọ ký.

 
12)- Thần Chú Thiện Nữ Thiên:

Thần chú này được trích từ trong kinh Kim Quang Minh. Trong kinh Kim Quang Minh nói rằng: “Nếu chúng sanh nghe nói chú này mà một lòng thọ trì đọc tụng hương hoa cúng dường thì nhứt thiết những thứ thọ dụng như vàng, bạc, châu báu, trâu dê, lúa thóc đều đặng đầy đủ hết thảy”.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
 
Kinh Chú Lăng Nghiêm và Thập Chú
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-