Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
NHỮNG LOÀI HOA ĐẸP TRONG THƠ CA by Phương Nguyên Yesterday at 23:17

ÔN LẠI SỬ NHÀ by Trăng Yesterday at 20:06

Sưu tập Bộ cánh vẩy 2 by buixuanphuong09 Yesterday at 17:25

Tha La Xóm Đạo - Phương Dung by ngovanhinh Yesterday at 15:52

Thơ họa ở ngoài mang về góp vui by buixuanphuong09 Yesterday at 15:41

Truyện ngụ ngôn La Fontaine tròn 350 tuổi by Trà Mi Yesterday at 11:25

Đỗ Nương Nương báo oán - Hồ Biểu Chánh by Trà Mi Yesterday at 11:19

Chút tâm tư by Thiên Hùng Mon 16 Sep 2019, 23:56

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Mon 16 Sep 2019, 23:46

Thơ ngtrkn by ngtrkn Mon 16 Sep 2019, 22:57

Khéo Tay Thiệt by mytutru Mon 16 Sep 2019, 21:36

Tô cơm cháy by Phương Nguyên Mon 16 Sep 2019, 20:43

cây đa bụi chuối by Phương Nguyên Mon 16 Sep 2019, 20:36

Em đi trên cỏ non - bản song ca tuyệt vời của 2 giọng ca gạo cội by ngovanhinh Mon 16 Sep 2019, 15:35

Liên Khúc Dạ Cổ Hoài Lang – Bài ca Đất Phương Nam - Quế Trân, Quốc Đại by ngovanhinh Mon 16 Sep 2019, 15:18

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê by Ai Hoa Mon 16 Sep 2019, 15:09

Chiều Lên Bản Thượng - Lệ Thủy, Tấn Tài - Bản song ca tuyệt vời by ngovanhinh Mon 16 Sep 2019, 15:08

Ca dao , tục ngữ : Đúng ? , Sai ? Có lý hay vô lý ? by Ai Hoa Mon 16 Sep 2019, 15:04

Bên Cầu Dệt Lụa - Thanh Nga (NSƯT), Thanh Sang - tuyệt phẩm cải lương xưa by ngovanhinh Mon 16 Sep 2019, 15:02

VỤNG by Phương Nguyên Mon 16 Sep 2019, 11:59

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Mon 16 Sep 2019, 04:03

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Sun 15 Sep 2019, 20:40

Truyện Thơ Cổ Tích by bounthanh sirimoungkhoune Sun 15 Sep 2019, 14:06

Ca Dao by bounthanh sirimoungkhoune Sun 15 Sep 2019, 14:05

Duyên Số Gặp Ma by bounthanh sirimoungkhoune Sun 15 Sep 2019, 14:04

Giữ Ðời Cho Nhau by BachVan Sun 15 Sep 2019, 03:47

Kinh Tăng Chi Bộ by mytutru Sat 14 Sep 2019, 21:06

Biểu Đồ 75 Pháp "Câu Xá Luận " by mytutru Sat 14 Sep 2019, 16:01

Gánh Lúa Đêm Trăng - Thanh Sang, Ngọc Giàu by ngovanhinh Sat 14 Sep 2019, 15:48

THỨ BẢY BUỒN! by Phương Nguyên Sat 14 Sep 2019, 10:02

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9
Tác giảThông điệp
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 3722
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 I_icon13Fri 13 Sep 2019, 12:45

Ai Hoa đã viết:
Trà Mi đã viết:
Chương 11

Trần Dần (1926-1997)

● Phê bình Việt Bắc

Phê bình tập thơ Việt Bắc
là ngòi nổ công khai đầu tiên của phong trào NVGP. Việt Bắc của Tố Hữu được tôn sùng như cuốn "thánh kinh" của văn học cách mạng. Từ khi tác phẩm ra đời cuối năm 1954 cho đến ngày nay, bao nhiêu giấy bút đã dành cho sự ca tụng nó. Hiếm có nhà phê bình nào, dám viết một câu phạm thượng về Việt Bắc. Đúng như Lê Đạt nhận xét: "Ở Việt Nam người ta chưa quen chê anh Tố Hữu bao giờ" (339). Sở dĩ việc phê bình thơ Tố Hữu, không chỉ khép kín trong các buổi họp nội bộ quân đội, mà thoát ra ngoài, nhờ hai người: Tử Phác, thư ký toà soạn báo Sinh Hoạt Văn Nghệ, tung trên Sinh Hoạt Văn Nghệ trước. Rồi Lê Đạt, phụ trách Văn Nghệ, đưa lên Văn Nghệ sau.

Vũ Tú Nam viết:

"Ngày 4/3/1955, nổ ra cuộc họp đầu tiên tranh luận phê bình tập thơ Việt Bắc, Trần Dần gọi thơ Tố Hữu là "tí ti la haine, tí ti l'amour" (tí ti căm thù, tí ti tình yêu) một cách hằn học, đểu cáng. Ngày 7/3/1955, bắt đầu tranh luận phê bình Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Trần Dần gọi những chiến sĩ Côn Đảo trong truyện là những "người cụt đầu", "toàn tim", mù quáng (...) Bài phê bình Vượt Côn Đảo của Trần Dần lệch lạc nguy hiểm như vậy, nhưng cũng có một số đồng chí trong quân đội không nhận ra, viết bài hưởng ứng. Cuối tháng 3/1955, khi duyệt những bức thư bạn đọc chung quanh việc phê bình Vượt Côn Đảo để in báo Sinh hoạt Văn nghệ, Cục Tuyên huấn quyết định bỏ bớt một số bài tán thành Trần Dần. Lúc này, Trần Dần phản ứng rất mạnh, gọi lãnh đạo là "répression policière!" (đàn áp kiểu cu-lít). Và  đầu tháng 4/1955, mượn cớ đau óc, Trần Dần xin nghỉ dài hạn, bỏ công tác, bỏ doanh trại bộ đội, tự tiện ra ngoài phố ở." (340)

Về không khí các buổi phê bình thơ Tố Hữu, Vũ Tú Nam ghi trong nhật ký, như sau:

5/3/1955: Tối qua, tranh luận về thơ Tố Hữu ở Cửa Đông, anh Nguyễn Chí Thanh tới (...) anh em đông lắm, cả Hồ Dzếnh. Hoàng Yến trình bày vấn đề “khả năng hiện thực trong thơ Tố Hữu - Tố Hữu có tiêu biểu cho thời đại không?” Trần Dần, Lê Đạt nói bốc nhất. Hoàng Trung Thông, Nguyễn Xuân Sanh ngồi ghi mà không nói gì. Tố Hữu không tới, Xuân Diệu không tới.

8/4/1955: Đêm 7-4, phê bình thơ Việt Bắc ở 51 Trần Hưng Đạo đến 12 h khuya. Dần tâm sự khi anh đi xe đạp có hai bộ đội theo dõi (?). Tối vào nhà bạn, lúc ra Dần bị bộ đội giữ mấy tiếng. Mình báo cáo sự việc với chi ủy. Trần Việt nói: Dần vào 69 Quán Thánh, nhà Hoàng Cơ Bình cũ, nên có thể bị theo dõi.

15/4/1955: Đêm qua, thảo luận về thơ Việt Bắc đến 12h đêm. Hoàng Yến, Trần Dần, Hoàng Cầm nói gay gắt. Trương Tửu tranh luận rất phản khoa học. Huy Cận ngồi im. Tạ Hữu Thiện nói nhiều suy diễn, ví dụ cho đoạn nào là giống Kiều… Hoàng Cầm dẫn thơ Hồ Xuân Hương để chứng minh "chất sống" và "hồn thơ" của nữ thi sĩ.
(341)

Trong bài Cách nhìn sự vật của nhà thơ Tố Hữu, viết tháng 5/55, Trần Dần viết: "Nói chung thơ Tố Hữu có rất nhiều cái lười biếng. "Ý lời tầm thường (...), rất nhiều cái kiểu "lòng ta xao xuyến, rung rinh", - "chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt hai là tù binh", - hoặc "đời vẫn ca vang núi đèo", hoặc "Cụ Hồ sáng soi". Không phải là thiên lệch trích ra một số câu như vậy, hãy đọc lại cả tập Việt Bắc xem, ta thấy nhan nhản những lối lười, nhạt, cả lảm nhảm nữa (...) Phá đường: "Nhà neo việc bận vẫn đi" - làm thì thi đua -, thi đua kết quả thì rồi mai địch chết. Ta đi tới: đủ cả Bắc Nam, Việt, Miên, Lào, Itsala, Itsarắc... xem ra thì có vẻ đúng chính trị. Nhưng xét sâu xem? (...) Tố Hữu nhìn sự vật nó chính trị công thức quá, lười tìm tòi quá. Chỗ nào hay thì là lập lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca dao... Tố Hữu chưa đem tới một cái nhìn mới mẻ gì. (342)

Tiễn đưa Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang ghi sổ tang:

"Lần đầu gặp anh trong cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc, đến nay dù hơn bốn mươi năm, biết bao là gian nan, trong những cố gắng chung để tìm cho văn nghệ Việt Nam một con đường phát triển thuận lợi nhất. Đúng hay sai, hôm nay tôi vẫn chưa dám khẳng định... Dù sao thiện chí của chúng ta chỉ có kẻ ác ý mới cố tình phủ nhận. Tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng, có lẽ tôi chỉ có thể nhắc lại cùng anh vế đối của Ngô Thì Nhậm nói cái lẽ tất yếu: Gặp thì thế, thế thì phải thế. (...) Cả nước biết lúc nào anh cũng có tư tưởng Nhất định thắng, dù cho ý chí ấy anh không đạt được thì cũng vẫn là phẩm giá cao đẹp của một con người" (343).

● Trần Dần ghi


Về NVGP, có những sự việc đã bị chôn sống, tưởng rồi sẽ tan trong lòng đất. Có những sự thực đã bị bóp méo đến độ dị dạng. Trong hơn nửa thế kỷ, người ta đã quen sống với những quái thai dị đạng đó: những xuyên tạc, bôi nhọ được đề cao như những chân lý. Ngờ đâu, những con chữ trong hòm lại có ngày đứng dậy, thuật lại truyện mình. Tập Trần Dần ghi 1954-1960 (344) là một trong những tư liệu hòm, tự khai, tự quật. Tác phẩm mở ra những dòng chữ đầu tiên để lấp những trang còn trắng về một thời kỳ văn học sử, còn chưa được biết, còn chưa được viết.

Tập Trần Dần ghi 1954-1960 thực chất là ba quyển sách gồm một: Phần đầu tích lũy những suy nghĩ về sáng tạo. Phần thứ nhì, tác giả quay lại chiến dịch đấu tố với những hình ảnh khủng khiếp kinh hoàng. Phần thứ ba, viết về cuộc sống cải tạo trong những năm kỷ luật. Với một lối viết tốc ký, ngắn gọn, thể hiện mỹ học khổ đau của Trần Dần.

Chuyện cải tạo sau Nhân Văn, nằm trong lối tốc ký ấy:

"9/9/58 (...) Ðêm, tôi thiếp đi trong mộng ác. Tay mưng, đau nhất là ở những chỗ đã thành chai mà lại mưng tái lại. Mọi bắp thịt suốt đêm lọc acide, và chôn cất những tế bào chết vì lao lực quá sức... Lục đục suốt đêm như vậy trong toàn bộ xác thịt tôi.

10/9/58 (...) Gió khiếp quá. Hàng sư đoàn gió bấc trèo qua núi lúc nào đổ xuống đồng cỏ. Suốt buổi sáng, mùa hè bị đánh tan nát. Nắng bị gió may thổi mát đi, nguội lửa.

Gió tốc mái, rứt mấy lá gồi chuồng bò. Cây cành bị túm tóc, vật vã kêu gào, gió vẫn không tha. Các tàu chuối bị tước xơ ra. Có tàu rách mướp, trông hệt một con rết xanh khổng lồ, hàng nghìn chân xanh ngọ ngoạy điên cuồng, cào trong không khí, cái đuôi nó bị giữ rịt ở thân, nó lồng lộn ngang ngửa, không thoát. (...)

Các nón lá bị gió nó hất chụp mặt. Nó kéo ra sau, quai nón xiết cổ như thừng thắt cổ! Bụi phả vào mắt chúng tôi, chưa dụi xong, gió đã ném thêm. Bọn tôi đào gốc, đã nhọc, còn bị lũ gió may kia trêu chọc. Nó đùa dai chứ... Có lúc tôi cuốc đất, mắt nhắm tịt, một anh mù làm việc"
(345).

Về những ngày sôi động sau 2 cuộc Chỉnh huấn ở Thái Hà ấp, 16/4/1958, Trần Dần ghi:

"Hiện nay Nguyễn Hữu Ðang, Thụy An, Minh Ðức đã bị bắt, chẳng bao lâu sẽ ra tòa. Báo chí vẫn tiếp tục diệt đánh Nhân Văn Bộ 6 Giai Phẩm Mùa Xuân
(346). Bộ 6 đã buông nhau ra. Bọn Nhân Văn Giai Phẩm cũng ô-rơ-voa (347) nhau hết (...) Sỹ Ngọc đóng cửa, miễn tiếp khách. Bản thân tôi, do chỗ đã tự giác đình bản tư tưởng thù địch (thứ tự giác kết quả của áp lực...) nên mọi mặt khác, tôi cũng đình bản cả giao du, đình bản cả việc viết lách. Có nên đi gặp những đồng chí lãnh đạo để hỏi những việc cần phải làm không? Ði thì lại sợ bị hiểu lầm. Nhưng nếu ngồi nhà, tiêu cực đợi, có khi còn bị hiểu lầm gấp bội. (...)

Bọn Ðang - Minh Ðức - Thụy An thân thì bị cầm tù, tội ác thì đem bêu đầu trên báo chí. Vai trò của bọn chúng trong các vụ phá hoại 3 năm đang được vạch trần. Phan Khôi thì đóng cửa, nằm khàn, không đọc báo. Trương Tửu, Trần Ðức Thảo làm gì? Còn cả loại B chúng tôi hiện ra sao? Làm gì? Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Ðạt đang tiếp tục kiểm thảo ở cơ quan, cùng với những Quang Dũng, Trần Lê Văn, v.v...

Chúng tôi đi sâu vào kiểm điểm sáng tác hơn nữa. Kiểm điểm sáng tác cho sâu mới thật là khó sao! Cứ như phải rứt bỏ một mảng thịt của mình.(...) Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. Hình phạt của một người bị bung dừ (...) Tôi vừa là một tội nhân, vừa phải cố tách mình ra, làm một đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám Nhân Văn"
(348).

Những người nhân văn ấy, đã phải nhận tội, phải "cắt bỏ những mảng thịt của mình", phải tự chửi rủa mình, phải tìm gặp lãnh đạo, phải tố cáo bạn bè để xin một chút ơn huệ thừa, nhưng rồi cũng không ai thoát được guồng máy, không ai tránh khỏi bị "ninh nhừ".

Con người nhất định thắng ấy, sau trận Thái Hà, đã thua, đã hàng, đã nhận tội, đã ly khai những lý tưởng ngày trước, đã phải đứng về phía bên này, để nhìn "bọn" bên kia: gồm những "tên thủ lĩnh chủ nghiã xét lại" Nguyễn Hữu Đang, "tên phá hoại" Minh Đức, "con mụ gián điệp" Thụy An..., đã xuống đến nấc thang cuối cùng của sự "giẻ rách hoá" con người.

10/12/ 59, Trần Dần ghi: "Sớm mai tòa án xử Thụy An gián điệp và Nguyễn Hữu Ðang phá hại, cả hai: hiện hành. Tôi không có giấy gọi cho dự, có lẽ vì không có vị trí gì ở đó. Không phải là nhân chứng, cũng không phải là đại biểu của nhân dân...

Người có một cái gì văng vắng. Tôi đã có đứng với nhóm Ðang cầm đầu. Tôi đã ly khai với "lý tưởng" đó. Cả khi đứng ở đó, cả khi ly khai, cả bây giờ, tôi vẫn cứ rớm máu. Chao ơi! Con đường để đi đến chỗ "Đúng" mới nhiều máu làm sao? Tương lai có để dành cho tôi nhát dao nào nữa không? Đang đã nhìn thấy cái sai lớn của Đang chưa? (...)

Ngoài trời mưa bụi. Rét xoàng. Không có gió. Ðôi lúc vài tiếng chuông xe đạp. Năm nay rét muộn. Ðang ra tòa cuối năm. Tôi cũng không thể nào nhởn nhơ với sự kiện này. Chao ôi! Con đường để đi tới chỗ "Ðúng" mới nhiều máu làm sao!"
(349)

Từ lâu "ghi trở nên một hình phạt". Nhưng vẫn ghi.

Cuốn sổ 1958, ghi lại con đường của những người muốn ngoi lên để đi đến chỗ "Đúng". Ai cũng muốn tìm một đường "máu" để thoát thân: biết đâu Đảng chả đoái thương mà nghĩ lại? Phương tiện nào cũng tốt kể cả "khai". Cả "tố".

Bao nhiêu khuôn mặt đã bước trên con đường "nhiều máu "ấy? Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã vo ve sự "Đúng" ấy? Trần Dần ghi. Bao nhiêu tên tuổi đã đạt được sự "Đúng" ấy? Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã "Sai." Trần Dần ghi.

Cả đúng lẫn sai đều lầm than, đều tiến dần tới tha hóa. Họ tan tác cả. Họ chia tay. Có những oán hận, căm thù. Chính quyền đã thành công trong sự "giẻ rách hoá" con người, như lời Lê Đạt.

Thành công lớn nhất của guồng máy là đã đánh vào những yếu tố thiêng liêng nhất của con người: đánh vào tình bạn, tình người, đánh tan tác hết. Những người nhân văn không chết, nhưng họ bị rút máu, rút gân, rút dần sinh lực. Họ đều rời rã, đều muốn hàng. Nhiều người đã đầu hàng, trong đó có Trần Dần. Họ muốn được lãnh đạo thương xót, họ muốn được lãnh đạo đoái hoài. Họ đã xuống đến đáy vực, họ chịu hết nổi. Họ sẵn sàng "chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa" nhưng người ta vẫn lạnh lùng quay đi. Người ta vẫn không cho ngoi lên. Cái phận người nhỏ nhoi. Phận người nhân văn bị sa lầy, lún xuống, trong thời không nhân văn của dân tộc mình. Câm và điếc. Như đã chết.

Và điều đó chỉ có mỹ học khổ đau của Trần Dần mới viết nên được.


_____________________

(339) Lê Đạt trả lời phỏng vấn RFI.

(340) Vũ Tú Nam, Sự thực về con người Trần Dần.

(341) Vũ Tú Nam, Những ngày thử thách, nhật ký chép lại, bđd.

(342) Nhật ký Trần Dần ghi, trang141.

(343) Bài điếu của Nguyễn Hữu Đang, in lại trong Trần Dần ghi, trang 460.

(344) Văn Nghệ, California, 2001.

(345) Trần Dần ghi, trang 334-335.

(346) Hoàng Cầm, Văn Cao, Lê Ðạt, Trần Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác.

(347) Au revoir, tạm biệt.

(348) Trần Dần ghi, trang 244, 245- 260.

(349) Trần Dần ghi, trang 376.


Lãnh đạo VN oai hơn cả hoàng đế ngày xưa, Cao Bá Quát chê thơ vua Tự Đức còn chưa đến nỗi bị chém đầu!   :potay:

có "Thực dân mới" thì cũng có "Phong kiến mới" á thầy, còn bây giờ là... Tư bản mới!  lol2
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 3722
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 I_icon13Fri 13 Sep 2019, 13:12

Chương 12

Hoàng Cầm (1922-2010)


Những văn nghệ sĩ thành viên chính của NVGP phần lớn đều đã giữ trọng trách trong nền văn nghệ kháng chiến: Lê Đạt làm thư ký riêng cho Trường Chinh (1947), rồi phụ tá cho Tố Hữu (1949). Tử Phác, làm trưởng phòng Văn Nghệ Tuyên Huấn Trung Ương (1951). Đặng Đình Hưng, đoàn trưởng kiêm chính trị viên đoàn Văn Công Nhân Dân Trung Ương (1952). Hoàng Cầm, đoàn trưởng Văn Công Tổng Cục Chính Trị (1952). Trong bài Múa sạp thấu lòng Tử Phác (350) Hoàng Cầm cho biết, thời 51- 52, Tử Phác là "cấp trên" của ông, chính Tử Phác đã "chỉ thị" cho Hoàng Cầm (trưởng đoàn văn công) và Mai Sao, nghiên cứu và thực hiện điệu múa sạp.

Những chi tiết trên đây giải thích tại sao NVGP có thể thành tựu được, bởi những văn nghệ sĩ chủ trương phong trào, nắm giữ các cơ sở chính của nền văn nghệ kháng chiến lúc bấy giờ: Trong quân đội, Tử Phác trách nhiệm báo Sinh Hoạt Văn Nghệ (tiền thân của Văn Nghệ Quân Đội). Về dân sự, Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang trách nhiệm tờ Văn Nghệ. Hoàng Cầm và Đặng Đình Hưng điều khiển toàn bộ Văn công quân đội và dân sự. Từ tháng 1/1956, Hoàng Cầm nắm nhà xuất bản Văn Nghệ, vì vậy mà một số tác phẩm không chính thống đã được in trong những năm 1956 -1958.

Hoàng Cầm sinh ngày 22/2/1922, tại làng Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; nguyên quán làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; mất ngày 6/5/2010 tại Hà Nội. Tên thật là Bùi Tằng Việt (chữ ghép của Phúc Tằng và Việt Yên). Cha: Bùi Văn Nguyên, dạy học và làm thuốc, có thời đã theo Quốc Dân Đảng, là bạn của Xứ Nhu, tức Nguyễn Khắc Nhu. Mẹ: Nguyễn Thị Duật, bán hàng xén. Bút danh khác: Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi... Học tiểu học ở Bắc Giang. 1937, đỗ Cao đẳng tiểu học ở Bắc Ninh. 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long; 1940, đỗ tú tài.

Làm thơ từ 8 tuổi. Những bài thơ đầu tiên được đăng trên báo Bắc Hà, năm 1936, ký tên Bùi Hoài Việt, có truyện ngắn đăng trên báo Đông Pháp.

Tác phẩm thành danh Hoàng Cầm là kịch thơ Hận Nam Quan viết năm 1937, ở tuổi 15, lúc còn học đệ tứ ở Bắc Ninh (in năm 1942). Hận Nam Quan được dạy trong vùng quốc gia trước 1954.

1938, đỗ Diplôme (Cao đẳng tiểu học) ở Bắc Ninh. Lên Hà Nội học trường Thăng Long và bắt đầu nghề văn. 16 tuổi, vừa học vừa làm cho nhà xuất bản Tân Dân và tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bẩy của Vũ Đình Long. Sáng tác nhiều truyện ngắn dưới bút hiệu Hoàng Cầm. Nổi tiếng với Hận ngày xanh - phóng tác Graziella của Lamartine và những truyện rút trong Ngàn lẻ một đêm. Năm 1940, đỗ Tú Tài, tiếp tục sáng tác và làm việc với Vũ Đình Long từ 40 đến 44.

1940, cưới người vợ đầu Hoàng Thị Hoàn.

1942 viết kịch thơ Kiều Loan.

Cuối 1944, vì tình hình chiến sự, Mỹ ném bom chợ Hàng Da, nhà xuất bản Tân Dân phải dọn về làng Tám ở ngoại thành. Hoàng Cầm trở về Bắc Giang đưa gia đình về quê Thuận Thành.


Tháng 9/1945, Hoàng Cầm cùng Hoàng Tích Chù lập ban kịch Đông Phương. Ngày 26/11/46, Kiều Loan được trình diễn lần đầu tại nhà Hát Lớn Hà Nội. Buổi duy nhất, rồi bị Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Giải phóng Hà Nội ra lệnh cấm, lý do: Pháp đã tấn công Hải Phòng. Ban Kịch Đông Phương đem Kiều Loan đi lưu diễn ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình... tại các đình làng.

Ngày 19/12/46, chiến tranh bùng nổ, ban kịch Đông Phương phải giải tán. 1947-1948: Hoàng Cầm và Tuyết Khanh (diễn viên chính, đóng vai Kiều Loan) sống chung, giữa 1947, hai người cùng gia nhập Vệ Quốc Đoàn. Hoàng Cầm sáng tác Đêm liên hoan. Thành lập Đội văn nghệ tuyên truyền đầu tiên trong quân đội. Điều khiển và phát triển đoàn Văn Nghệ Liên Khu Việt Bắc từ 1948 đến 1952. 1948, sáng tác Bên kia sông Đuống.

Tháng 7-8/1950, Đại Hội Văn Nghệ I họp tại Việt Bắc, quyết định loại trừ: tuồng, chèo, vọng cổ, và kịch thơ... ra khỏi nền văn nghệ cách mạng. Hoàng Cầm phải tuyên bố "treo cổ" kịch thơ của mình. Việc này sẽ được ông phản bác trong băng ghi âm - chúng tôi sẽ nói đến sau.

Tháng 7/1952, tướng Nguyễn Chí Thanh điều động Hoàng Cầm về làm đoàn trưởng đoàn Văn Công Tổng Cục Chính Trị đến đầu năm 1955.

1954, Hoàng Cầm, được cử tổ chức buổi Liên hoan mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa vào màn quan họ Bắc Ninh "Yêu nhau cởi áo cho nhau", và bị "đả đảo!" "đồi trụy!". Tướng Nguyễn Chí Thanh can thiệp để đoàn văn công tiếp tục trình diễn hết màn quan họ.

10/10/54 Hoàng Cầm và đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị về tiếp quản Hà Nội.

1/1/1955, Văn công quân đội chia làm ba đoàn, Hoàng Cầm điều khiển đoàn 1, chuyên về kịch nói, trong thời gian này, ông tham dự việc đòi cải tổ chính sách văn nghệ quân đội cùng Trần Dần, Tử Phác, Lê Đạt... và phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Tháng 4/1955, nộp đơn xin giải ngũ hoặc đổi sang Hội Văn Nghệ, vì bị Cục phó Cục Tổ Chức, thuộc Tổng Cục Chính Trị, buộc phải bỏ bà Lê Hoàng Yến.

Tháng 11/1955, được đổi ngành sang Hội Văn Nghệ, trách nhiệm nhà xuất bản Văn Nghệ.

Tháng 2/1956, cùng Lê Đạt chủ trương Giai Phẩm Mùa Xuân.

Tháng 9/1956, cùng Nguyễn Hữu Đang chủ trương Nhân Văn.

Tháng 6-7/1958, chịu kỷ luật cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng... tuy nhẹ hơn, chỉ bị một năm khai trừ khỏi Hội Nhà Văn, như Phùng Quán.

1982, bị bắt, tù 18 tháng vì tác phẩm Về Kinh Bắc.

1988, được "phục hồi".

Trong các bài đánh Hoàng Cầm, người ta thường dùng hai chữ "đồi trụy", nhắm vào đời tư: Hoàng Cầm nghiện thuốc phiện -như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Tử Phác- và có nhiều vợ. Người vợ đầu, Hoàng Thị Hoàn, là em gái ông Hoàng Hữu Nghị, hiệu trưởng trường La Clarté ở Bắc Giang, cưới năm 1940, sinh con trai đầu lòng Bùi Hoàng Kỳ, và hai con gái Bùi Hoàng Yến -kịch sĩ, Hoàng Cầm nghi bị đầu độc chết- và Bùi Hoàng Oanh, chết đói cùng mẹ năm 1949. Bà Tuyết Khanh sống chung từ đầu 1947, đến tháng 1/48, sinh con gái, tên là Kiều Loan, nhưng hai người phải xa nhau. Sau đó ông sống với bà Xuyến, cô hàng xén chợ Hạnh. Từ tháng 5/1955 Hoàng Cầm sống với bà Lê Hoàng Yến, cựu hoa khôi Hà Thành, đã có 6 con riêng, ông có với bà Yến hai người con. Ông ly dị bà Xuyến khoảng 1956. Năm 1985, bà Lê Hoàng Yến đột ngột từ trần vì bị căng huyết áp trong lúc Hoàng Cầm -sau khi bị bắt, bị tù vì tác phẩm Về Kinh Bắc- bị bệnh tâm thần.

● Tác phẩm:

- Kịch thơ: Hận Nam Quan, viết 1937, Người Bốn Phương, 1942; Kiều Loan, viết 1942, diễn 1946, Văn Học, 1992; Lên đường, Tân Dân, 1952; Cô gái nước Tần, Tân Dân, 1952; Trương Chi, chưa xuất bản, trích trên Văn số 24, ngày 18/10/57, và Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí.

- Truyện: Thoi mộng, Tân Dân, 1940; Hai lần chết, Tân Dân, 1941.

- Kịch: Ông cụ Liêu, viết 1950, in 1951; Đêm Lào Cai, in 1957.

- Thơ: Mắt thiên thu, viết 1941, mất bản thảo; Bên kia sông Đuống, viết 1948, Văn Hoá, 1993; Tiếng hát quan họ, in chung trong tập Cửa biển, 1956; Về Kinh Bắc, viết 1959, Văn Học, 1994; Mưa Thuận Thành, Văn Hoá, 1987; Lá diêu bông, viết 1970, Hội Nhà Văn, 1993; Men đá vàng, truyện thơ, viết 1973, Trẻ, 1989; Về cõi em, viết 1992, chưa in.

- Dịch, phóng tác: Hận ngày xanh, phóng tác Graziella của Lamartine, Tân Dân, 1940; Bông sen trắng, truyện thần thoại của Anderson, Tân Dân, 1941; Những truyện thần thoại rút từ Nghìn lẻ một đêm: Mang xuống tuyền đài, Tân Dân, 1942; Cây đèn thần, Tân Dân, 1942; Tỉnh giấc mơ vua, Tân Dân, 1942; Những niềm tin, dịch thơ Boualem Khanfa, Algérie, 1965; Mối tình cuối cùng, dịch Dostoievski, Phụ Nữ, 1988, ...

- Trong Hoàng Cầm hồn thơ độc đáo, Đông Tây, 2011, Lại Nguyên Ân tìm được: Người điên, kịch thơ một màn, 1946; Quê hương, thơ, Văn Nghệ, 1955; Mẹ tôi kể lại, truyện thơ, Văn Nghệ, 1955; Hoa đào nở trước ngõ, truyện thơ, Văn Nghệ, 1956.

_____________________

(350) Hoàng Cầm văn xuôi, nxb Văn Học 1999, trang 129.


Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

Trà Mi

Tổng số bài gửi : 3722
Registration date : 01/04/2011

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 I_icon13Mon 16 Sep 2019, 11:21

Chương 12

Hoàng Cầm (1922-2010)


● Địa vị Hoàng Cầm trong văn học

Trong ba nhà thơ tác nhân chính của phong trào NVGP, Trần Dần và Lê Đạt là đàn em. Hoàng Cầm thuộc thế hệ đàn anh, cùng thời với Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng.

Nét khác biệt giữa ba nhà thơ nằm trong chữ nghĩa, ví dụ cùng bối cảnh sông nước:

    Thuyền đi núi cũng phiêu bồng
    Đáy sông lẩn sắc cầu vồng trao nghiêng...
    Sông sâu chớp mắt thần linh
    Thuyền qua thạch động thấy mình cao bay

                                Thơ Đinh Hùng - Thủy mạc

    Thuyền ơi! Tóc chảy đêm vàng
    Giai nhân sóng soải hai hàng chiêm bao
    Chồng tôi phóng ngựa phương nào
    Mà dây vó sắt dẫm vào tuổi thơ

                                Thơ Hoàng Cầm - Kiều Loan

    Trăng liềm một mảnh lâng lâng bạc
    Nghiêng xuống cành dương lá lá rơi  
    Nhịp theo tiếng trúc cao vời
    Đất quay ngược hướng mơ trời Thuấn Nghiêu

                                Thơ Vũ Hoàng Chương - Tâm sự kẻ sang Tần

Thơ Đinh Hùng thanh thoát, nối kết âm-dương, trời đất-thủy thần. Đinh Hùng là nhà thơ của nước, của cõi âm. Thơ Hoàng Cầm diễm lệ, bi đát, hùng tráng hoà với đau thương, khổ đau tan trong mộng ước. Hoàng Cầm là nhà thơ của con người. Thơ Vũ Hoàng Chương điêu luyện, cao lộng, ẩn chí lớn tầm vóc càn khôn, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ của vũ trụ.

Ba tài năng lớn của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Ba phận số. Phải chăng thơ luôn luôn vận vào người, nên trong ba nhà thơ, chỉ mình Hoàng Cầm mắc nạn chữ suốt đời. Vũ Hoàng Chương, trong Nhớ Đinh Hùng có nhắc đến Dạ Đài:

"Hùng đứng làm cố vấn cho một nhóm thi hữu trẻ tuổi hơn trong đó có Vũ Hoàng Địch, Trần Dzần, Trần Mai Châu để xuất bản một giai phẩm lấy tên Dạ đài. Quả là cái tên "tiền định" (351).

Khi Đinh Hùng mất, 24/8/1967, Vũ Hoàng Chương làm câu đối đặt trước áo quan:

Hồn sáu đường mê tìm Phật độ
Tình muôn trang sử mặc Trời ngâm


Và trong bài ai điếu trước mộ, câu:

Mênh mang một tiếng cười dài
Hồn lay bốn vách dạ đài cho tan!


Vũ Hoàng Chương tổng kết đời Đinh Hùng từ Dạ đài đến Mê hồn ca, Đường vào tình sử ... trong bốn câu thơ hàm súc, gợi buổi giao thời giữa thơ mới và thơ tượng trưng thập niên 1940 mà Hoàng Cầm, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, là những đại diện.

Tố Hữu làm thơ từ 1937, nhưng thập niên 40, chưa nổi tiếng. 1946, mới in tập Thơ (352). Theo Hoàng Cầm trong băng ghi âm, trước kháng chiến, Tố Hữu đã có thơ đăng báo nhưng chưa ai biết Tố Hữu là ai, riêng ông để ý đến bài Hồ Chí Minh vì nó có những câu thơ "khát máu" quá đáng. Tựu trung, Tố Hữu đáp ứng yêu cầu thơ tuyên truyền, thơ đánh địch, thơ ca tụng lãnh tụ, theo đúng đường lối của Đảng mà Trường Chinh đã vạch trong Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) và Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt Nam (1948).

Tập Việt Bắc, in năm 1954, xác định Tố Hữu là nhà thơ hàng đầu của Đảng. Sau khi dẹp xong NVGP, uy thế Tố Hữu càng lừng lẫy, thơ ông trở thành kinh điển trong văn chương cách mạng sau thơ Hồ Chí Minh. Trong số những người viết về Tố Hữu, Đặng Thai Mai có nhận định xác đáng hơn cả:

- "Tố Hữu là nhà thơ chỉ viết để phục vụ cách mạng từ trước đến sau".
- "Tình cảm trong thơ Tố Hữu là tình cảm của một chiến sĩ cộng sản, luôn luôn đứng trên lập trường của Đảng mà tranh đấu, suy nghĩ, cảm xúc".
- "Tưởng không cần nhắc lại một lần nữa rằng, trong các yếu tố đã xây dựng nên cái đặc sắc của thi sĩ, như trên kia đã nói, thì chính là hoạt động cách mạng theo đường lối của Đảng. Không có cái nội dung cách mạng đó, không có lập trường tư tưởng đó, thì cũng không có thơ Tố Hữu"
(353)

Đó là vị trí của Tố Hữu trong văn học.

Trong kháng chiến, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phạm Duy, là ba nghệ sĩ có những đóng góp lớn. Ngoài sáng tác, Hoàng Cầm-Phạm Duy còn trình diễn khắp chiến trường Việt Bắc, xây dựng tinh thần kháng chiến quân. Giọng ngâm "oanh vàng đất Bắc" của Hoàng Cầm, xung động tinh thần tự hào của người lính Vệ quốc: "Rằng ta là Vệ Quốc Đoàn". Tiếng hát Phạm Duy giục giã thanh niên "cùng nhau xông pha lên đường" bảo vệ tổ quốc.

Hoàng Cầm ghi: "Từ sau cách mạng tháng Tám, Văn Cao với tôi và Phạm Duy đã trở thành bạn thân, lúc nào, ngày nào cũng có nhau, biểu diễn, sáng tác đều có nhau, thậm chí đi nghe hát ca trù (ả đào) hoặc đi uống rượu, đi cà phê sớm tối đều có nhau, khiến rất nhiều văn nghệ sĩ lúc bấy giờ đã gọi ba đứa chúng tôi là: "Bộ ba bất khả li” (Les trois inséparables). Vậy thì Văn Cao phải có mặt trong tập Giai Phẩm [Mùa Xuân] này chứ?" (354)

Cho kháng chiến, Hoàng Cầm đã góp hai lần xương máu: máu xương văn nghệ trong 9 năm sáng tác, trình diễn. Và xương máu gia đình: một vợ, Hoàng Thị Hoàn và một con, Bùi Hoàng Oanh, chết đói, 1949. Một em trai, Bùi Như Yên, chết trận, 1952.

Công lao Hoàng Cầm đối với văn học và kháng chiến giải thích một số vấn đề cụ thể:

- Hoàng Cầm có đủ tư thế văn nghệ để mời Văn Cao, Phan Khôi tham gia NVGP. - Hoàng Cầm là người Nguyễn Hữu Đang thuyết phục giúp Nhân Văn trước tiên.

- Hoàng Cầm có đủ uy tín cách mạng để đương đầu với Tố Hữu, bênh vực Trần Dần.

- Khi bị thanh trừng, Hoàng Cầm đã viết Về Kinh Bắc từ 1959, gián tiếp kết tội Đảng.

- 1982, Hoàng Cầm lại bị bắt, chính quyền tịch thu bản thảo Về Kinh Bắc.

Cuộc đời Hoàng Cầm gắn bó với lịch sử, không chỉ lịch sử kháng chiến, lịch sử NVGP, mà lịch sử dân tộc. Từ tác phẩm đầu tay Hận Nam Quan, Hoàng Cầm đã xác định con đường dân tộc: phải đề phòng phương Bắc, phải ghi nhớ Hận Nam Quan.

● Hận Nam Quan

Phi Khanh bị bắt sang Tàu, Nguyễn Trãi bí mật theo cũi cha, để cùng chết. Tới Nam Quan, Phi Khanh bắt con phải trở về, tìm đường khởi nghiã. Kịch thơ Hận Nam Quan, trước 1954, đã được giảng dạy trong vùng quốc gia, học sinh thuộc lòng những đoạn thơ:

    - Con yêu quý! Chớ xuôi lòng mềm yếu
    Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!
    Con về đi! Tận trung là tận hiếu
    Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang
    (...)
    - Ôi sung sướng, trời sao chưa nỡ tắt
    Về ngay đi ghi nhớ Hận Nam Quan
    Bên Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt
    Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.


Đó là trích đoạn bài học thuộc lòng thời tiểu học, nhưng toàn thể kịch thơ là một tác phẩm "cổ điển" của học sinh trung học. Trong những đêm văn nghệ Tết, học sinh miền Nam thường có màn trình diễn Hận Nam Quan. Hoàng Cầm đi vào lòng dân tộc như thế.

Hoàng Cầm 15 tuổi, nhưng thơ không hề non nớt, đã có những câu "tiên tri":

    Đây là ải địa đầu nước Việt
    Khóc trong lòng ghi nhớ Hận Nam Quan


15 tuổi, nhắc lại trang sử oanh liệt:

    Đây Nam Quan, quân Nguyên rời biển máu
    Thoát rừng xương, tơi tả kéo nhau về


15 tuổi, đe dọa quân Minh:

    Hỡi quân Minh! Sao không nhìn lịch sử
    Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương?


15 tuổi, xác định lòng quật khởi của dân tộc:

    Một ngày mai, khi Trãi này khởi nghiã,
    Kéo cờ lên, phất phới linh hồn cha
    Gạt nước mắt, nguyện cầu cùng thiên địa
    Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.


Nhưng bọn bán nước cầu vinh nào có nghe. Đó là bi kịch Hoàng Cầm và bi kịch chung của dân tộc.

_____________________

(351) Vũ Hoàng Chương, Nhớ Đinh Hùng, Loạn trung bút, Khai Trí 1970, trang 182.

(352) Năm 1959 in lại đổi tên thành Từ ấy.

(353) Đặng Thai Mai, Mấy ý nghĩ, viết ngày 10/4/1959, in trong tập Từ ấy, thơ Tố Hữu, Văn Học, 1959.

(354) Cái gì thúc đẩy thơ, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 221.
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

Ai Hoa

Tổng số bài gửi : 8948
Registration date : 23/11/2007

Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê   Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 I_icon13Mon 16 Sep 2019, 15:09

Trà Mi đã viết:
Chương 12

Hoàng Cầm (1922-2010)


● Địa vị Hoàng Cầm trong văn học

Trong ba nhà thơ tác nhân chính của phong trào NVGP, Trần Dần và Lê Đạt là đàn em. Hoàng Cầm thuộc thế hệ đàn anh, cùng thời với Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng.

Nét khác biệt giữa ba nhà thơ nằm trong chữ nghĩa, ví dụ cùng bối cảnh sông nước:

    Thuyền đi núi cũng phiêu bồng
    Đáy sông lẩn sắc cầu vồng trao nghiêng...
    Sông sâu chớp mắt thần linh
    Thuyền qua thạch động thấy mình cao bay

                                Thơ Đinh Hùng - Thủy mạc

    Thuyền ơi! Tóc chảy đêm vàng
    Giai nhân sóng soải hai hàng chiêm bao
    Chồng tôi phóng ngựa phương nào
    Mà dây vó sắt dẫm vào tuổi thơ

                                Thơ Hoàng Cầm - Kiều Loan

    Trăng liềm một mảnh lâng lâng bạc
    Nghiêng xuống cành dương lá lá rơi  
    Nhịp theo tiếng trúc cao vời
    Đất quay ngược hướng mơ trời Thuấn Nghiêu

                                Thơ Vũ Hoàng Chương - Tâm sự kẻ sang Tần

Thơ Đinh Hùng thanh thoát, nối kết âm-dương, trời đất-thủy thần. Đinh Hùng là nhà thơ của nước, của cõi âm. Thơ Hoàng Cầm diễm lệ, bi đát, hùng tráng hoà với đau thương, khổ đau tan trong mộng ước. Hoàng Cầm là nhà thơ của con người. Thơ Vũ Hoàng Chương điêu luyện, cao lộng, ẩn chí lớn tầm vóc càn khôn, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ của vũ trụ.

Ba tài năng lớn của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Ba phận số. Phải chăng thơ luôn luôn vận vào người, nên trong ba nhà thơ, chỉ mình Hoàng Cầm mắc nạn chữ suốt đời. Vũ Hoàng Chương, trong Nhớ Đinh Hùng có nhắc đến Dạ Đài:

"Hùng đứng làm cố vấn cho một nhóm thi hữu trẻ tuổi hơn trong đó có Vũ Hoàng Địch, Trần Dzần, Trần Mai Châu để xuất bản một giai phẩm lấy tên Dạ đài. Quả là cái tên "tiền định" (351).

Khi Đinh Hùng mất, 24/8/1967, Vũ Hoàng Chương làm câu đối đặt trước áo quan:

Hồn sáu đường mê tìm Phật độ
Tình muôn trang sử mặc Trời ngâm


Và trong bài ai điếu trước mộ, câu:

Mênh mang một tiếng cười dài
Hồn lay bốn vách dạ đài cho tan!


Vũ Hoàng Chương tổng kết đời Đinh Hùng từ Dạ đài đến Mê hồn ca, Đường vào tình sử ... trong bốn câu thơ hàm súc, gợi buổi giao thời giữa thơ mới và thơ tượng trưng thập niên 1940 mà Hoàng Cầm, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, là những đại diện.

Tố Hữu làm thơ từ 1937, nhưng thập niên 40, chưa nổi tiếng. 1946, mới in tập Thơ (352). Theo Hoàng Cầm trong băng ghi âm, trước kháng chiến, Tố Hữu đã có thơ đăng báo nhưng chưa ai biết Tố Hữu là ai, riêng ông để ý đến bài Hồ Chí Minh vì nó có những câu thơ "khát máu" quá đáng. Tựu trung, Tố Hữu đáp ứng yêu cầu thơ tuyên truyền, thơ đánh địch, thơ ca tụng lãnh tụ, theo đúng đường lối của Đảng mà Trường Chinh đã vạch trong Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) và Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt Nam (1948).

Tập Việt Bắc, in năm 1954, xác định Tố Hữu là nhà thơ hàng đầu của Đảng. Sau khi dẹp xong NVGP, uy thế Tố Hữu càng lừng lẫy, thơ ông trở thành kinh điển trong văn chương cách mạng sau thơ Hồ Chí Minh. Trong số những người viết về Tố Hữu, Đặng Thai Mai có nhận định xác đáng hơn cả:

- "Tố Hữu là nhà thơ chỉ viết để phục vụ cách mạng từ trước đến sau".
- "Tình cảm trong thơ Tố Hữu là tình cảm của một chiến sĩ cộng sản, luôn luôn đứng trên lập trường của Đảng mà tranh đấu, suy nghĩ, cảm xúc".
- "Tưởng không cần nhắc lại một lần nữa rằng, trong các yếu tố đã xây dựng nên cái đặc sắc của thi sĩ, như trên kia đã nói, thì chính là hoạt động cách mạng theo đường lối của Đảng. Không có cái nội dung cách mạng đó, không có lập trường tư tưởng đó, thì cũng không có thơ Tố Hữu"
(353)

Đó là vị trí của Tố Hữu trong văn học.

Trong kháng chiến, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phạm Duy, là ba nghệ sĩ có những đóng góp lớn. Ngoài sáng tác, Hoàng Cầm-Phạm Duy còn trình diễn khắp chiến trường Việt Bắc, xây dựng tinh thần kháng chiến quân. Giọng ngâm "oanh vàng đất Bắc" của Hoàng Cầm, xung động tinh thần tự hào của người lính Vệ quốc: "Rằng ta là Vệ Quốc Đoàn". Tiếng hát Phạm Duy giục giã thanh niên "cùng nhau xông pha lên đường" bảo vệ tổ quốc.

Hoàng Cầm ghi: "Từ sau cách mạng tháng Tám, Văn Cao với tôi và Phạm Duy đã trở thành bạn thân, lúc nào, ngày nào cũng có nhau, biểu diễn, sáng tác đều có nhau, thậm chí đi nghe hát ca trù (ả đào) hoặc đi uống rượu, đi cà phê sớm tối đều có nhau, khiến rất nhiều văn nghệ sĩ lúc bấy giờ đã gọi ba đứa chúng tôi là: "Bộ ba bất khả li” (Les trois inséparables). Vậy thì Văn Cao phải có mặt trong tập Giai Phẩm [Mùa Xuân] này chứ?" (354)

Cho kháng chiến, Hoàng Cầm đã góp hai lần xương máu: máu xương văn nghệ trong 9 năm sáng tác, trình diễn. Và xương máu gia đình: một vợ, Hoàng Thị Hoàn và một con, Bùi Hoàng Oanh, chết đói, 1949. Một em trai, Bùi Như Yên, chết trận, 1952.

Công lao Hoàng Cầm đối với văn học và kháng chiến giải thích một số vấn đề cụ thể:

- Hoàng Cầm có đủ tư thế văn nghệ để mời Văn Cao, Phan Khôi tham gia NVGP. - Hoàng Cầm là người Nguyễn Hữu Đang thuyết phục giúp Nhân Văn trước tiên.

- Hoàng Cầm có đủ uy tín cách mạng để đương đầu với Tố Hữu, bênh vực Trần Dần.

- Khi bị thanh trừng, Hoàng Cầm đã viết Về Kinh Bắc từ 1959, gián tiếp kết tội Đảng.

- 1982, Hoàng Cầm lại bị bắt, chính quyền tịch thu bản thảo Về Kinh Bắc.

Cuộc đời Hoàng Cầm gắn bó với lịch sử, không chỉ lịch sử kháng chiến, lịch sử NVGP, mà lịch sử dân tộc. Từ tác phẩm đầu tay Hận Nam Quan, Hoàng Cầm đã xác định con đường dân tộc: phải đề phòng phương Bắc, phải ghi nhớ Hận Nam Quan.

● Hận Nam Quan

Phi Khanh bị bắt sang Tàu, Nguyễn Trãi bí mật theo cũi cha, để cùng chết. Tới Nam Quan, Phi Khanh bắt con phải trở về, tìm đường khởi nghiã. Kịch thơ Hận Nam Quan, trước 1954, đã được giảng dạy trong vùng quốc gia, học sinh thuộc lòng những đoạn thơ:

    - Con yêu quý! Chớ xuôi lòng mềm yếu
    Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!
    Con về đi! Tận trung là tận hiếu
    Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang
    (...)
    - Ôi sung sướng, trời sao chưa nỡ tắt
    Về ngay đi ghi nhớ Hận Nam Quan
    Bên Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt
    Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.


Đó là trích đoạn bài học thuộc lòng thời tiểu học, nhưng toàn thể kịch thơ là một tác phẩm "cổ điển" của học sinh trung học. Trong những đêm văn nghệ Tết, học sinh miền Nam thường có màn trình diễn Hận Nam Quan. Hoàng Cầm đi vào lòng dân tộc như thế.

Hoàng Cầm 15 tuổi, nhưng thơ không hề non nớt, đã có những câu "tiên tri":

    Đây là ải địa đầu nước Việt
    Khóc trong lòng ghi nhớ Hận Nam Quan


15 tuổi, nhắc lại trang sử oanh liệt:

    Đây Nam Quan, quân Nguyên rời biển máu
    Thoát rừng xương, tơi tả kéo nhau về


15 tuổi, đe dọa quân Minh:

    Hỡi quân Minh! Sao không nhìn lịch sử
    Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương?


15 tuổi, xác định lòng quật khởi của dân tộc:

    Một ngày mai, khi Trãi này khởi nghiã,
    Kéo cờ lên, phất phới linh hồn cha
    Gạt nước mắt, nguyện cầu cùng thiên địa
    Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.


Nhưng bọn bán nước cầu vinh nào có nghe. Đó là bi kịch Hoàng Cầm và bi kịch chung của dân tộc.

_____________________

(351) Vũ Hoàng Chương, Nhớ Đinh Hùng, Loạn trung bút, Khai Trí 1970, trang 182.

(352) Năm 1959 in lại đổi tên thành Từ ấy.

(353) Đặng Thai Mai, Mấy ý nghĩ, viết ngày 10/4/1959, in trong tập Từ ấy, thơ Tố Hữu, Văn Học, 1959.

(354) Cái gì thúc đẩy thơ, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 221.

15 tuổi chưa trải đời chưa bít sợ chứ càng già càng nhát!

Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa (HXH) lol2

_________________________
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê - Page 9 Love10

Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
 
Nhân Văn Giai Phẩm - Thuỵ Khuê
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 9 trong tổng số 9 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-