Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
100 Câu Hỏi Phật Pháp by mytutru Today at 17:04

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 13:43

Quán Tạp Kỹ - Đồng Bằng Nam Bộ by Thiên Hùng Today at 02:38

ĐẦU CHIM TÌM CÁNH BƯỚM by Ma Nu Yesterday at 21:27

Thơ viết vội! by HPNguyenPhong Yesterday at 20:36

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Yesterday at 18:47

BÃO LỤT MIỀN TRUNG by Cẩn Vũ Yesterday at 08:16

TÌNH CỜ ĐỌC LẠI BÀI THƠ CŨ by Ma Nu Yesterday at 03:20

Phân ưu by Phương Nguyên Fri 20 Oct 2017, 23:38

Góc Vườn Đào 2016 - 2017 by mytutru Fri 20 Oct 2017, 22:26

DIỄN ĐÀN CỦA TÔI by mytutru Fri 20 Oct 2017, 22:13

HOA GIEO TỨ TUYỆT by buixuanphuong09 Fri 20 Oct 2017, 14:23

Nguyên Sa - Thuỵ Khuê by Trà Mi Fri 20 Oct 2017, 11:56

KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI - VŨ ĐỨC SAO BIỂN by Trà Mi Fri 20 Oct 2017, 11:34

Tản mạn by Tú_Yên tv Fri 20 Oct 2017, 10:28

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Fri 20 Oct 2017, 05:57

NGÀY MÙA by buixuanphuong09 Thu 19 Oct 2017, 20:56

KIẾP DÃ TRÀNG (MT-150) by Ntd Thu 19 Oct 2017, 17:05

Thơ PHẠM KHANG by VẾT CHÂN CỦA NGÀY Thu 19 Oct 2017, 16:27

HẠN HÁN by buixuanphuong09 Thu 19 Oct 2017, 10:04

ÐÔI MẮT NGỌC by BachVanNhi Thu 19 Oct 2017, 09:02

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Thu 19 Oct 2017, 07:22

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Thu 19 Oct 2017, 02:41

Những vật phẩm phong thủy cho giới daonh nhân by Min Đặng Tue 17 Oct 2017, 13:47

Phong Vô Ảnh by HPNguyenPhong Tue 17 Oct 2017, 13:08

Hot girl Biên Hòa gây "sốc" với phát ngôn về bằng đại học by Ai Hoa Tue 17 Oct 2017, 09:54

Mừng Tỷ Shiroi Về by mytutru Tue 17 Oct 2017, 00:00

Giảm Stress bằng thơ by Tú_Yên tv Sun 15 Oct 2017, 11:31

ĐƯỜNG CHIỀU HOÀI NIỆM by HPNguyenPhong Sun 15 Oct 2017, 10:28

LÃO PHƯỢNG CÒM by buixuanphuong09 Fri 13 Oct 2017, 20:38

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Giác quan thứ 6

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2  Next
Tác giảThông điệp
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Giác quan thứ 6   Fri 28 Aug 2015, 21:23

Lời đầu tâm sự

Tuổi trẻ của tôi gắn liền với thời mà người ta "phá đình chùa để xây sân phơi, nhà kho", những vấn đề về tâm linh thường bị quy là "duy tâm", "mê tín dị đoan"... Quan niệm của tôi lúc đó cũng nặng về cái "Duy vật biện chứng", những điều không giải thích được đều cho là "duy tâm", "mê tín dị đoan". Mãi đến năm 2000, cơ duyên đưa tôi đến với đạo Phật và cũng nhờ nhân duyên tiền kiếp, suốt 10 năm tôi đã say sưa đọc, nghiền ngẫm kinh sách của đạo Phật trong điều kiện không thày, không bạn, rồi "mưa dầm thấm đất" tôi cũng hiểu được đôi điều. Ngày nay, quan điểm của tôi là: "Cái gì biết thì đó là đã biết, cái gì không biết thì đó là chưa biết chứ không phủ nhận, không bài bác". Đại đức Rahula đã viết trong tác phẩm "Con đường thoát khổ" (Sách viết cho đối tượng là giới trí thức Âu Mỹ): "Một đứa trẻ còn đang học mẫu giáo không nên gây gổ về "thuyết tương đối của Anhxtanh", thay vào đó, nếu nó cứ kiên nhẫn học tập thì một ngày kia nó sẽ hiểu được". "Vũ trụ mênh mông, vô cùng vô tận mà hiểu biết của con người thì hữu hạn, không thể mang cái hữu hạn phủ nhận cái vô tận, vô biên".
Ngày nay vấn đề tâm linh đã được các nhà khoa học quan tâm, có cả một HĐKH Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người.
Topic “Giác quan thứ sáu” tôi lập đầu tiên ở VNTH mở đầu đăng một số bài về tâm linh :
1- Con lộn ở Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn (Hoà Bình)
2- Chuyện tìm mộ của cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập
3- Khả năng chịu lửa của con người
4- Những nơi đất có ma nhà có quỷ!
5- Đằng sau của sự chết là gì?
6- Thiền làm cho con người đạt trí siêu việt
 
Vì nó đã rất lâu rồi, nhiều người chắc cũng đã đọc, hơn nữa nó rất dài nên tôi không đăng lại ở đây.
Topic này tôi đăng chủ yếu bài "LỰC HỌC THÍCH CA...." của tác giả Truyền Bình và những cảm nghĩ của tôi xung quanh bài viết này.

Kiến thức tôi rất hạn hẹp nhưng tôi thích mò mẫm, tự mình lý giải những điều đã đọc, nó có thể đúng, có thể sai, nhưng hiểu sao thì nói vậy. Rất mong được các vị trí thức ở ĐVTC đọc và chỉ cho những chỗ tôi hiểu chưa đúng.
Trước khi đi vào bài "LỰC HỌC THÍCH CA...."  xin giới thiệu bài viết HIỆN TƯỢNG LUÂN HỒI DƯỚI QUAN ĐIỂM KHOA HỌC của Tiến sỹ Đỗ Kiên Cường
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Fri 28 Aug 2015, 21:29

HIỆN TƯỢNG LUÂN HỒI DƯỚI QUAN ĐIỂM KHOA HỌC
TS Đỗ Kiên Cường
09:05' AM - Thứ bảy, 08/01/2011

Luân hồi là hiện tượng được nhiều nền văn hóa quan tâm, nhất là tại vùng Tiểu Ấn. Và cho đến tận hôm nay khoa học vẫn còn nợ một lời giải đáp thỏa đáng.

Luân hồi là quan niệm con người có thể sống không chỉ một, mà nhiều lần, thậm chí vô số lần, với một cơ thể mới cho mỗi cuộc sống mới. Theo quan niệm luân hồi của một số nền văn hóa phương Đông, cơ thể mới đó không chỉ là cơ thể người khác, mà có thể là cơ thể động hay thực vật, thậm chí cả đồ vật. Nhà nhân chủng học Oscar Lewis, Đại học Harvard, từng được nông dân tại một ngôi làng Ấn Độ kể rằng, ai phạm nhiều trọng tội kiếp sau sẽ biến thành chai lọ! Quan niệm luân hồi thường đi kèm với quan niệm linh hồn bất tử, tuy không phải lúc nào cũng vậy.

Để giải thích các hiện tượng lạ liên quan với luân hồi, như báo viết và báo mạng đã đăng tải trong thời gian vừa qua, cần quan tâm tới các vấn đề sau:

1) Linh hồn có thật hay không?;
2) Tại sao em bé luân hồi “biết” thông tin về kiếp trước? và
3) Bằng chứng về luân hồi có đáng tin cậy hay không?

Quan niệm linh hồn:

Khoảng một tháng trước, trong một buổi lên lớp với 200 sinh viên năm thứ nhất tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP Hồ Chí Minh, người viết tiến hành một cuộc thăm dò nhỏ. Kết quả khoảng 85% tin linh hồn có thật, 10% không tin và 5% có ý kiến khác. Kết quả đó phù hợp với những thăm dò chính thức trên thế giới. Và thật thú vị khi không một sinh viên nào định nghĩa được linh hồn, cho thấy một thực tế rất đáng quan tâm là chúng ta có thể tin vào một quan niệm mà thực ra chúng ta chưa hiểu!

Hầu hết các nền văn hóa và các tôn giáo đều công nhận linh hồn, tuy quan niệm cụ thể có thể khác nhau. Chẳng hạn Aristotle không tin phụ nữ có linh hồn, chí ít là với chất lượng như đàn ông. Thú vật có linh hồn hay không cũng là chủ đề gây tranh cãi khác (một truyện cười kể rằng giới triết học chia thành hai phe, ai nuôi chó thì tin chó có linh hồn, còn người không nuôi thì phản bác!). Bào thai có linh hồn hay không cũng là một bài toán rất nan giải.

Vậy linh hồn là gì? Dẫn theo nhà vật lí Crick lừng danh, giải Nobel về cấu trúc ADN, trong cuốn Giả thuyết ngạc nhiên: Tìm kiếm khoa học về bản chất linh hồn, do NXB Simon & Schuster in năm 1994, người viết xin đưa ra quan niệm trong giáo lí Công giáo La Mã như sau: “Linh hồn là vật sống không cơ thể, có lí trí và ý chí tự do”. Đó là lí do trong luân hồi, linh hồn luôn được “cấy” vào một cơ thể mới để bắt đầu một cuộc sống mới. Do đó các em bé “đầu thai” đều phải “mượn xác” của người khác (tốt nhất là của người đã chết, để khỏi tranh chấp lôi thôi!).

Vậy có thể có sự sống mà không cần cơ thể hay không? Để trả lời, cần tìm hiểu bản chất sự sống. Theo từ điển mở wikipedia, sự sống là đặc trưng phân biệt các vật có khả năng tín hiệu hóa và các quá trình tự duy trì với các vật không có khả năng đó, hoặc đã mất đi (khi chết) hoặc vốn không có (vật vô cơ). Các nhà sinh học cũng quan niệm sự sống không khác biệt và không chia tách với các cấu trúc và các chức năng được tổ chức trong một cơ thể sống (cặp phạm trù cấu trúc - chức năng nổi tiếng trong sinh học). Chỉ cần một mạch máu nhỏ trong não trục trặc là ta có thể mất trí là vì vậy. Nói cách khác, theo quan điểm khoa học, “hồn” và “xác” không thể tách rời nhau (ta có thể thấy một phần mềm máy tính, trong vai trò “hồn”, tồn tại ngoài máy tính và các phương tiện lưu trữ, trong vai trò “xác”, hay không?). Do đó không thể có linh hồn với tư cách một tồn tại sau cái chết của cơ thể được
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Fri 28 Aug 2015, 21:33

Tại sao biết thông tin kiếp trước?

Chính việc bé Bình (và các bé “đầu thai” khác) “biết” một số thông tin về bé Tiến (và các bé đã mất được “mượn xác” khác) là nguyên nhân khiến một số người tin sự đầu thai có thật. Nếu không thì tại sao Bình lại biết? Tuy nhiên khoa học có thể có cách giải thích khác. Đó là kí ức ẩn giấu, đọc nguội và sự phân li nhân cách, các hiện tượng vốn rất kì lạ ngay cả với giới chuyên môn.

Kí ức ẩn giấu:

Kí ức ẩn giấu (hidden memories), thuật ngữ chuyên môn là cryptomnesia, là hiện tượng tâm lí đặc biệt, khi ta nhìn, nghe, đọc hay biết một số thông tin mà ta không biết là đã biết chúng. Vì ta không biết nên chúng ẩn giấu trong vô thức (hoặc vì chúng ẩn giấu nên ta không biết). Khi chúng phát lộ ở tầng ý thức, ta rất ngạc nhiên không biết tự bao giờ và tại sao ta lại biết chúng.

Thuật ngữ cryptomnesia do nhà tâm lí Flournoy đưa ra năm 1963 khi nghiên cứu các hiện tượng thần giao cách cảm và luân hồi. Khi sinh ông, trong cơn ảo giác, mẹ ông thấy một người đàn ông trung niên mặc áo xanh đứng ở đầu giường động viên mình. Khi được kể lại, bà nội Flournoy cho biết đó chính là hình ảnh hoàn hảo của ông nội, người mà mẹ ông chưa từng thấy mặt vì đã mất. Giới tâm linh cho rằng người chết đã hiện về để giúp con gái lúc lâm bồn; trong khi tâm lí học chỉ xem đó là sự kết hợp kì lạ của các kí ức âm thanh (tức qua lời kể) đã bị lãng quên (ẩn giấu).

Đọc nguội:

Trên tạp chí chính thức Người yêu cầu nghi ngờ (Skeptic Inquirer) của Ủy ban điều tra khoa học về các tuyên bố dị thường CSICOP, nay đổi tên thành Ủy ban yêu cầu nghi ngờ CSI, số Xuân Hè 1977, trong bài báo được yêu cầu nhiều nhất “Thuyết phục người lạ rằng bạn biết hết mọi thứ về họ như thế nào”, nhà tâm lý Ray Hyman đã khám phá kĩ thuật đọc nguội (cold reading), là nhóm kĩ thuật mà các nhà tâm linh, giới bói toán, người xem chỉ tay… thường dùng để lòe thiên hạ. Đó là các kĩ thuật đọc ngôn ngữ cơ thể, qua hiệu ứng Hans thông minh. Xin lưu ý bạn đọc, CSI được các nhà khoa học quốc tế lừng danh thành lập tại Mỹ năm 1976 nhằm phản biện các tuyên bố về hiện tượng dị thường và sự tin tưởng thiếu phê phán đối với chúng. Ban đọc quan tâm có thể vào trang mạng của tổ chức này (www.csicop.org) để tìm hiểu thêm. Nhà vật lý Anh Crick (giải Nobel vì cấu trúc ADN), nhà vật lý Nga Kapitxa (giải Nobel), nhà tâm lí Mỹ Skinner (cha đẻ thuyết hành vi), nhà sinh học tiến hóa Gould (cha đẻ thuyết tiến hóa hiện đại hóa), nhà thiên văn Sagan (người cha của chương trình tìm kiếm các nền văn minh ngoài trái đất SETI)… chỉ là số ít các nhà khoa học nổi danh tham gia sáng lập CSI.

Hans thông minh là một chú ngựa tại Đức đầu thế kỉ XX từng khiến báo chí thế giới tốn rất nhiều giấy mực, khi chú biết làm toán, biết tên của các nguyên thủ quốc gia... bằng cách gõ hay rà móng trên một cái bảng (do người chủ thiết kế riêng cho chú) để chọn đúng con số (khi làm toán) hay chữ cái (để ghép thành tên người). Một ủy ban khoa học được thành lập mà thất bại trong việc tìm hiểu khả năng của Hans (vì có xu hướng muốn tin khả năng của Hans); trong khi một sinh viên tâm lí mới ra trường phát hiện sự thật (vì nghi ngờ đúng đắn rằng ngựa thì không có khả năng trí tuệ như vậy). Hans gõ đúng kết quả hay rà móng đúng chữ cần tìm vì chú đọc được ngôn ngữ cơ thể người đối diện (chẳng hạn khi chú rà đến chữ cần tìm, người đối diện nhăn mày hay thở nhẹ, và chú dừng ngay lại).
Ngựa Hans và bảng trả lời thiết kế riêng cho chú


Đó là lí do thày bói hay cô đồng thường nói tràng giang đại hải và chăm chú quan sát thân chủ để đọc ngôn ngữ cơ thể (cô đồng Ph. tại Thanh Hóa còn nắm tay người gọi vong để phát hiện sự co cơ vô thức trước một thông tin trùng hợp). Nhờ đó mà họ dần dần biết nhiều thông tin về thân chủ. Ở đây câu ngạn ngữ Tây Ban Nha tỏ ra thích hợp: “Người nói nhiều đôi khi cũng đúng”!

Phân li nhân cách:

Đa nhân cách và nhân cách phân li là các rối loạn tâm thần rất hiếm gặp. Chúng thường đi liền với các hiện tượng ma nhập, cầu hồn, thoát xác, đầu thai hay luân hồi.

Đa nhân cách là hiện tượng một người có thể có nhiều nhân cách, với tên tuổi, quê quán, phương ngữ, gia cảnh… khác nhau. Các nhân cách đó có thể nổi lên đồng thời hoặc xen kẽ nhau. Ngành tư pháp Mỹ từng gặp người có tới hơn 10 nhân cách, trong đó có “tính cách” của một con chó! Với người không có kiến thức về cấu trúc và hoạt động của bộ não và tâm trí, đó chính là các trường hợp “ma nhập” hay “đầu thai”.

Phân li nhân cách là hiện tượng một người khăng khăng mình là một người khác, như một cách thoát li thực tại, thường là kém mong muốn. Đó là lí do một cô gái tự nhiên xưng là một chàng trai và bắt đầu nói giọng khàn, hút thuốc thật điệu nghệ hay uống rượu như hũ chìm. Dân gian nói rằng cô gái bị ma nhập.

Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Fri 28 Aug 2015, 21:47

Bằng chứng về luân hồi qua trường hợp Bình - Tiến:

Để khảo sát độ tin cậy của các bằng chứng luân hồi, hãy tìm hiểu nguyên nhân tại sao bé Bùi Lạc Bình cứ nhận mình là Nguyễn Phú Quyết Tiến và tại sao Bình lại biết một số thông tin về Tiến và gia đình.
Áp phích quảng cáo của “Ba khuôn mặt của Eva”,
bộ phim Hollywoods đầu tiên về đa nhân cách



Đầu tiên người viết cho rằng do phân li nhân cách mà Bình tự nhận mình là Tiến, như một cách để thoát li thực tế không mong muốn. Xin lưu ý bạn đọc rằng, Bình ở miền ngược với gia cảnh khó khăn hơn, trong khi Tiến ở dưới xuôi với gia cảnh thuận lợi hơn. Ta thường thấy sự đầu thai theo chiều như vậy hơn là theo chiều ngược lại. Và khi đạt được mong muốn thì “em bé đầu thai” ít nhắc tới gia cảnh khó khăn lúc trước. Đó là lí do Bình ít nhắc tới bản Cọi, khiến phóng viên một tờ báo cũng phải thắc mắc “không biết vì sao”. Nếu đầu thai đúng là sự thật, em bé đầu thai vô cùng biết ơn nơi chốn đã sinh ra mình lần thứ hai mới là hợp lẽ.

Tại sao Bình biết thông tin về Tiến, chẳng hạn: Mẹ cháu ở nhà tầng cơ. Mẹ cháu làm việc còn đánh đánh như thế này này (tức đánh máy)? Người viết cho rằng đó là kết quả của hiện tượng kí ức ẩn giấu: Bình từng tình cờ nghe một số thông tin về Tiến. Và bộ não con người, dù chỉ của em bé dăm ba tuổi, cũng đủ khả năng ghép nối chúng thành một câu chuyện có lớp lang.

Tại sao trên đường về nhà Tiến, Bình biết đường đi lối rẽ, về đến nhà biết chỗ nằm…? Đó là do đọc ngôn ngữ cơ thể người đi cùng qua hiệu ứng Hans thông minh. Một con ngựa còn biết làm nhiều phép toán hay tổng thống Mỹ là ai, chẳng có lí do gì để một chú bé khôn như Bình lại không biết cách hành xử thích hợp để mọi người và bản thân đều hài lòng.

Theo bài viết thì anh Tân, gia đình và hàng xóm đã thử thách nhiều lần mà Bình đều vượt qua nên mọi người mới tin Bình đúng là Tiến đầu thai. Tuy nhiên những phép thử đó không thể khách quan vì ước vọng muốn tin của vợ chồng anh Tân quá mạnh, nên mọi người có thể tạo ra nhiều ám hiệu, cả vô tình và cố ý, giúp Bình dễ dàng vượt qua. Về mặt khoa học, chỉ những người trung gian, hoàn toàn khách quan và không biết câu trả lời (để không thể tạo ám hiệu hay ngôn ngữ cơ thể), mới đủ thẩm quyền thử nghiệm. Các trường hợp “con lặn”, “con lội” khác cũng được giải thích tương tự.

Tại sao chỉ em bé dăm bảy tuổi mới thể hiện ước muốn đầu thai? Câu trả lời khá đơn giản theo quan điểm phân li nhân cách. Trước tuổi này, nhân cách chưa phát triển đến một mức nào đó, nên em bé không thể “phân li”. Còn khi đã lớn, khoảng 10-12 tuổi, nhân cách gốc đủ vững, nên bé không muốn hay không thể phân li được nữa. Thậm chí nếu cố thì cũng chỉ phân li được trong một thời gian ngắn, như trong hiện tượng “ma nhập”, mà thôi.

Để giúp bạn đọc tự đánh giá, xin nhấn mạnh hai điểm. Thứ nhất, trong các trường hợp “đầu thai” hay “ma nhập”, các “hồn ma” đều hành xử sao cho người cho “mượn xác” thu được lợi ích tối đa. Hầu như không thấy một em bé lỡ “đầu thai” vào nhà giầu mà lại khăng khăng đòi về nhà nghèo. Thứ hai, các hiện tượng đó thường được ghi nhận tại các địa phương kém phát triển hơn. Người viết chưa thấy các trường hợp đầu thai tại Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh, là những nơi có dân trí cao. Người viết tin rằng, bạn đọc đủ sáng suốt để có thể rút ra kết luận cho riêng mình.

Tạm thời kết luận:

Với kinh nghiệm hơn 30 năm quan tâm tới các hiện tượng dị thường, người viết cho rằng, khoa học có thế lí giải trường hợp bé Bùi Lạc Bình tự nhận mình là Nguyễn Phú Quyết Tiến và các trường hợp tương tự khác. Theo quan điểm cá nhân, đó không phải là sự đầu thai, mà chỉ là các trường hợp phân li nhân cách. Đề nghị mọi người hãy theo dõi và chăm sóc các em bé “đầu thai” như những người rối loạn kiểu phân li, một loại rối loạn tâm thần vô cùng hiếm gặp.

TP Hồ Chí Minh, 18-12-2010
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Sat 29 Aug 2015, 07:17

CẢM NGHĨ ĐỌC BÀI
" HIỆN TƯỢNG LUÂN HỒI DƯỚI QUAN ĐIỂM KHOA HỌC"
 
Tôi không đủ trình độ, không dám có ý kiến về bài viết của một vị Tiến sỹ, nhưng là bạn đọc, tôi xin được nói nên những cảm nhận của mình, có thể đúng, có thể sai, nhưng hiểu thế thì nói thế, mong mọi người cảm thông.
Trước hết, về cụm từ: "kí ức ẩn giấu, đọc nguội và sự phân li nhân cách", tôi không đủ hiểu, không thắc mắc. Nhưng về câu: “không thể có linh hồn với tư cách một tồn tại sau cái chết của cơ thể được.” thì tôi thấy không thông, tôi cho rằng linh hồn là có thật. Mở đầu bài thơ "Nhân duyên" tôi viết thế này:

“Vụ nổ Bicbang tạo ra Vũ trụ.
Ta được tạo ra từ giọt đầu Hợp tử:
Tinh trùng của Cha
Noãn cầu của Mẹ
Và cái phần Hồn nhỏ bé
Nhưng không có nó - không thành”....

Theo ý hiểu của tôi, tôi tin là có linh hồn, linh hồn nhập thai ngay từ khi trứng được thụ tinh và trở thành một giọt cơ thể sống, nếu không có cái phần hồn nhỏ bé ấy thì hợp tử không thể hợp thành một giọt cơ thể sống. Ngoài đời và các tôn giáo khác gọi là Linh hồn, đạo Phật gọi là Thần thức. "Thần thức" giống "Linh hồn" ở chỗ nó cùng chỉ về cái phần Linh ngoài thể xác, nhưng có chỗ khác "Linh hồn", "Linh hồn" thì bất tử và bất biến, còn "Thần thức" thì thay đổi theo môi trường mà nó đến. "Thần thức" ví như nước, khi ta đựng vào chum, vaị, bình, bát... thì có hình dạng theo vật chứa nó. "Thần thức" tôi hiểu là dòng Nghiệp lực trong không gian, tạm ví như dòng điện, tôi và các bạn tạm ví như những bóng đèn. Khi bóng còn dây tóc thì đèn sáng, ta biết có điện, khi đứt dây tóc, đèn tắt, ta tưởng dòng điện mất, nhưng khi lắp bóng mới đèn lại sáng, ta lại thấy có điện. Về Thần thức, Nghiệp, Luân hồi ... thì nó rất mênh mông, tôi hiểu được chút ít nhưng không đủ trình độ diễn đạt.
Ta thường quan niệm chỉ có 5 giác quan: Mắt cảm nhận hình dạng, màu sắc; Tai cảm nhận âm thanh; Mũi cảm nhận mùi hương; Lưỡi cảm nhận vị; Tay hay Thân cảm nhận xúc chạm. Nhưng trên 2500 năm trước Đức Phật đã nói đến 6 căn, tức 6 giác quan: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý, thêm giác quan thứ sáu: Ý. Ý là giác quan không hình tướng nhưng lại tối quan trọng của con người. Nó tổng hợp sự cảm nhận của 5 giác quan kia. Đối tượng cảm nhận của Ý là Pháp, tức vạn sự, vạn vật trên thế gian này. 6 Căn: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý đối với 6 Trần là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp thành 6 Thức: Nhãn (mắt) thức, Nhĩ (tai) thức, Tỵ (mũi) thức, Thiệt (lưỡi) thức, Thân thức và Ý thức. Ý thức phát triển ở tầng sâu còn có Mạt na thức và A lại da thức tức Tạng thức. Tạng thức là cái kho tổng hợp chứa mọi thứ, ví như mạng vi tính. Tôi không đủ trình độ diễn đạt, chỉ xin nói sơ lược vài điều.
Sắp tới đây tôi sẽ giới thiệu với bạn đọc bài viết dài nói về ba cấp độ lực:
I- Cấp độ I, lực học Newton (1643-1727): Cấp độ này gồm ba Định luật Newton 1, 2. 3.
II- Cấp độ II, Lực học Einstein (1879-1955) : gồm thuyết Tương đối hẹp, Tương đối rộng.
III- Cấp độ III, Lực học Thích Ca (623-543 Trước Công nguyên).
Để tạm kết thúc bài viết này, mời các bạn đọc lại bài thơ "Nhân duyên" tôi đăng từ năm 2012.

NHÂN DUYÊN

Vụ nổ Bicbang tạo ra Vũ trụ.
Ta được tạo ra từ giọt đầu-Hợp tử:
Tinh trùng của Cha
Noãn cầu của Mẹ
Và cái phần Hồn nhỏ bé
Nhưng không có nó - không thành.

Trước vụ nổ Bicbang
Là gì? - Ai biết?
Trước khi vào thai
Ta ở đâu?
Mù mịt.....!
Bảo rằng Thượng Đế tạo ra con người
Vậy ai sinh ra Thượng đế?
Cha mẹ sinh ra ta
Ông bà sinh ra cha mẹ....
Cứ thế....đến ...Vô cùng..
Ta sinh ra con ta
Con ta sinh cháu ta....
Nối truyền vĩnh viễn....

Mọi sự, mọi vật
Trên thế gian này
Đều do NHÂN DUYÊN hội tụ
Không có cái gì TỰ NÓ LÀ NÓ!
Từ KHÔNG - đủ duyên - thành CÓ
Từ CÓ - duyên hết - lại KHÔNG.
Như cái nhà vốn trước là Không
Nhờ duyên gạch, cát, xi măng,
Sắt thép...và công thợ...
Khi hội đủ thì có cái nhà.
Rồi thời gian dần qua
Cái nhà tan hoại
Nó lại trở về Không.

Vũ trụ mênh mông
Vô cùng, vô tận
Mà hiểu biết của con người thì hữu hạn
Không thể mang cái Hữu hạn
Phủ nhận cái VÔ TẬN VÔ BIÊN!

BXP
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Sat 29 Aug 2015, 20:25

LỰC HỌC THÍCH CA ĐỐI CHIẾU VỚI
CƠ HỌC NEWTON VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI CỦA EINSTEIN
 
Lực học là môn nghiên cứu tác động của lực đối với vật chất, thuật ngữ thông dụng gọi là Cơ học (Mechanics) hoặc có khi gọi là Động lực học (Dynamics). Cơ học cổ điển của Newton, ta tạm gọi là cấp độ I của lực học, hay lực học Newton, chủ yếu nghiên cứu tác dụng của lực đối với cố thể vật chất. Cố thể vật chất là vật chất ở thể rắn có một khối lượng đủ lớn để con người có thể cảm nhận được, còn đối với vật chất cực vi như nguyên tử (atom) hay các hạt hạ nguyên tử (subatomic particles) thì Newton chưa có điều kiện nghiên cứu tới. Đối với các hạt vật chất cực vi này thì có môn Cơ học lượng tử (Quantum mechanics) nghiên cứu chúng. Cơ học lượng tử có 3 vấn đề khác hẳn cơ học cổ điển :
 
1/Lượng tử là một khái niệm mới về vật chất chỉ mới được quan niệm từ đầu thế kỷ 20. Trước kia người ta cho rằng ánh sáng hay năng lượng là một thực thể liên lục nhưng Max Planck khám phá rằng ánh sáng hay năng lượng cũng chỉ là tập hợp các lượng tử rời rạc chứ không phải liên tục. Cơ học lượng tử được thành lập chủ yếu bởi các nhà khoa học sau : Max Planck, Albert Einstein, Niels Bohr, Werner Heisenberg, Erwin Schrödinger, Max Born, John Von Neumann, Paul Dirac, Wolfgang Pauli, De Broglie… Trong các vị này, Einstein là người nổi tiếng nhất nên xin lấy tên ông làm đại diện cho cấp độ II của lực học, tức là lực học Einstein.

2/ Lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng và năng lượng. Người ta thường quan niệm rằng hạt là vật chất, còn sóng là sự dao động của vật chất chứ bản thân sóng không phải là vật chất. Nhưng với lưỡng tính sóng hạt, sóng cũng là vật chất nhưng ở dạng năng lượng. Năng lượng đó không liên tục mà rời rạc cho nên từng hạt năng lượng gọi là lượng tử (quantum). Lưỡng tính sóng hạt do nhà khoa học Pháp Louis de Broglie khám phá và trình bày trong tác phẩm Recherches sur la théorie des quanta (Nghiên cứu về lý thuyết lượng tử). Nghiên cứu này đem đến cho ông giải Nobel Vật lý năm 1929.

3/ Hiện tượng rối lượng tử (Quantum Entanglement) là một hiện tượng vô cùng khó hiểu đối với các nhà khoa học. Thiên nhiên có thể tạo ra nhiều sự vật đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau nhưng các sự vật đó quan hệ chặt chẽ với nhau, khiến người ta không thể hiểu được rằng đó là một sự vật duy nhất xuất hiện đồng thời tại nhiều vị trí khác nhau trong không gian, hay nhiều sự vật giống hệt nhau xuất hiện đồng thời tại nhiều vị trí, nhưng liên kết với nhau chặt chẽ, khi một sự vật bị tác động thì tất cả các sự vật kia bị tác động tức thời và y hệt. Nếu cho rằng khi tác động lên một vật, thông tin sẽ được truyền đến các vật kia, thì tốc độ truyền sẽ là con số không tưởng, gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng. Sinh thời Einstein bối rối trước hiện tượng này, ông gọi đó là tác động ma quái từ xa (Spooky action at a distance). Hiện tượng rối lượng tử phải dẫn đến kết luận chắc chắn rằng số lượng, không gian, thời gian đều không có thực, đó chỉ là sự biến hiện của tâm thức. Tác động tức thời không mất chút thời gian nào là vì không gian không có thực. Một sự vật xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau là vì số lượng không có thực, số lượng một hay nhiều là do tâm thức cảm nhận. Không gian không có thực thì thời gian cũng không có thực, bởi vì thời gian là một chiều kích của không gian. Đây không phải chỉ là lý thuyết suông mà ngày nay đã có ứng dụng. Mạng internet cho phép chúng ta có thể đồng thời nói chuyện, gặp gỡ cùng lúc với bạn bè, người thân ở nhiều nơi xa xôi trên thế giới vì khoảng cách không gian trên địa cầu đã bị triệt tiêu với thông tin truyền đi bằng vận tốc ánh sáng. Giả sử chúng ta có thể đạt tới tốc độ của ý niệm, thì khoảng cách không gian vũ trụ hàng tỉ quang niên không còn nữa, chỉ một niệm là đến. Lực học trong nền tảng vận tốc vô hạn, ta tạm gọi là cấp độ III của lực học hay là lực học Thích Ca vì những khái niệm này do Đức Phật Thích Ca khai thị.
 
Cảm nghĩ cá nhân:
 
Một nông dân như tôi mà sía vào những kiến thức khoa học cao siêu thì thật ngông cuồng. Nhưng, mong bạn đọc cảm thông, nhờ vận dụng những kiến thức Phật pháp mà tôi cũng hiểu được chút ít, mặt khác, liên hệ những điều đã đọc này với Phật pháp tôi càng hiểu sâu chữ KHÔNG trong Phật pháp hơn.
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Sun 30 Aug 2015, 09:15

LỰC HỌC THÍCH CA …(tiếp)


Trước khi đi sâu vào từng cấp độ lực học, ta hãy tự hỏi tại sao lực học có tầm quan trọng rất lớn đối với vũ trụ và thế giới. Xin liệt kê mấy ý kiến như sau :
a) Lực học quan trọng vì thế giới cấu tạo bằng những phần tử rời rạc như hạt quark, electron. Phải có lực kết nối chúng lại với nhau. Ba hạt quark (2up+1down) kết hợp thành hạt proton. Ba hạt khác (1up+2down) kết hợp thành hạt neutron. Proton và neutron tạo thành hạt nhân nguyên tử. Hạt nhân nguyên tử kết hợp với electron tạo thành nguyên tử vật chất. Nguyên tử kết nối với nhau thành phân tử hoặc thành cố thể vật chất. Phân tử hữu cơ kết nối với nhau thành chất sống, tế bào sinh vật. Tế bào kết nối với nhau thành sinh vật, con người. Ở tầm vĩ mô lực hấp dẫn liên kết mặt trời và các hành tinh thành thái dương hệ. Các thái dương hệ lại xoay quanh dải ngân hà, các thiên hà tương tác với nhau trong vũ trụ bao la.
b) Trong vũ trụ, chỉ có 4 loại lực tương tác cơ bản, đó là :
+ Lực hấp dẫn (force de gravité, gravitation) là lực hút giữa vật chất với nhau, có tác dụng ở mặt vĩ mô.
+ Lực điện từ (force électromagnétique, electromagnetism) tạo ra từ trường trong đó điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, khác dấu thì hút nhau.
+ Lực tương tác mạnh (force interactive forte, the strong interaction) là lực liên kết các hạt quark tạo ra hạt proton và hạt neutron, tạo ra sự vững bền của hạt nhân nguyên tử và giữ cho electron chuyển động theo quỹ đạo nhất định.
+ Lực tương tác yếu (force interactive faible, the weak interaction) tạo ra hiện tượng phóng xạ của các nguyên tố nặng (như uranium) tức là giải phóng một số proton và neutron khiến nguyên tử dần dần bị phân rã.
Lực điện từ và lực tương tác yếu, từ năm 1983 khi khám phá hạt tương tác boson W và boson Z thì có thể gom thành một lực chung gọi là lực tương tác điện yếu (interaction of weak electromagnetic fields)
c) Thành phần cơ bản nhất của vật chất là lượng tử thật ra chỉ là hạt ảo, không có thật, lượng tử chỉ là khái niệm trừu tượng. Nhưng lượng tử được lực kết nối thành các hạt cụ thể như quark, electron. Ta có thể thấy, cảm nhận được chúng, cũng như cảm nhận nguyên tử. Thật ra nguyên tử không có thật, nguyên tử chỉ là giả danh, nguyên tử chỉ là mối quan hệ tổng quan giữa quark, proton, neutron và electron mà thôi, nghĩa là nguyên tử thật ra chỉ là lực kết nối các hạt quark, proton, neutron và electron lại với nhau. Chúng ta thấy và cảm nhận cái hình tướng là nguyện tử, thật ra chỉ là lực tương tác giữa các hình tướng ảo khác là quark, proton, neutron, electron. Ngay cả lực cũng không có thật, lực chỉ có trong tâm thức. Chính vì lẽ này mà Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).
d) Lực có thể chuyển hóa thành năng lượng và ngược lại. Năng lượng của các nhà máy điện nguyên tử chính là lực tương tác hạt nhân mạnh được giải phóng do sự phân rã của nguyên tử uranium U235 hoặc plutonium Pn239.
Cụ thể như sau : Để tạo ra sự phân hạch của U -235, cần phải làm cho nơtron đi vào hạt nhân của nó. Vì hạt nhân nguyên tử rất nhỏ nên nơtron có tốc độ cao mặc dù có thể đến gần hạt nhân nhưng nhiều khi lại bay qua bên cạnh mà không trúng hạt nhân và cơ hội xâm nhập vào bên trong hạt nhân rất ít. Nếu làm giảm tốc độ của nơtron và kéo dài thời gian tồn tại của nó ở bên cạnh hạt nhân thì xác suất va chạm với hạt nhân sẽ trở nên cao hơn. Người ta gọi nơtron đã bị giảm tốc độ là nơtron nhiệt (Thermal Neutron). Nơtron nhiệt sẽ gây ra phản ứng phân hạch (Nuclear Fission) khi va chạm với một hạt nhân nguyên tử U -235, các mảnh vỡ đó bay phân tán với tốc độ cao. Phản ứng sinh ra một năng lượng khổng lồ được gọi là năng lượng nguyên tử, phát ra dưới dạng nhiệt, ánh sáng với các tia gama, beta, alpha mà nguồn gốc phát sinh là các proton, neutron, electron tự do tức là không bị kết hợp trong các nguyên tử của các nguyên tố mới. Các tia này là phóng xạ độc hại gây ra bệnh tật lâu dài cho sinh vật. Phản ứng ngoài việc giải phóng ra một năng lượng cực lớn, đồng thời sinh ra 2~3 nơtron mới. Các neutron này tiếp tục bắn phá hạt nhân U235 khác tạo ra phản ứng dây chuyền ngày càng tăng, đó là nguyên lý của bom nguyên tử, còn trong nhà máy điện nguyên tử, người ta kiểm soát quá trình này để chỉ duy trì phản ứng ở một mức nhất định. Người ta gọi mảnh vỡ phát sinh do phân hạch là sản phẩm phân hạch (Fission Product). Phần lớn sản phẩm phân hạch có tính phóng xạ.
Sau đây là một số sản phẩm phân hạch tiêu biểu:
-Strontium-90 (Sr-90) Chu kỳ bán rã khoảng 30 năm, khi hấp thụ vào cơ thể sẽ đọng ở xương và việc loại bỏ ra ngoài là khá khó khăn.
-Iodine-131 (I-131) Chu kỳ bán rã khoảng 8 ngày, khi hấp thụ vào cơ thể sẽ tập trung ở tuyến giáp trạng.
-Cesium-137(Cs-137) Chu kỳ bán rã khoảng 30 năm, dù có hấp thụ vào cơ thể cũng sẽ bài tiết tương đối sớm ra ngoài qua đường tiêu hoá.
 
Biểu đồ phản ứng phân hạch Uranium 235. Trong biểu đồ, hạt nhân U235 bị phân rã thành 3 nguyên tố mới là : U236, Kripton và Barium (không lấy được hình ảnh)
 
Năng lượng chuyển hóa thành lực thì chúng ta thấy rất nhiều trong đời sống hàng ngày. Chẳng hạn động cơ nổ chuyển hóa từ nhiệt năng do đốt nhiên liệu thành cơ năng tức là lực đẩy chiếc xe chạy tới, hoặc đẩy chiếc phi cơ bay tới. Hoặc năng lượng điện biến thành cơ năng chạy các máy móc, động cơ điện, đồ điện gia dụng và đồ điện tử. Thế năng của nước biến thành điện năng với các đập thủy điện. Quang năng của ánh sáng, Phong năng của gió đều có thể biến thành điện năng với các tấm pa-nô mặt trời (panneaux solaires) hoặc tua-bin gió.
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Mon 31 Aug 2015, 07:36

LỰC HỌC THÍCH CA …(tiếp)
 
Sau khi đã khảo sát các khái niệm về lực, ta bắt đầu đi vào xác định 3 cấp độ của lực học :
I- Cấp độ I, lực học Newton (1643-1727) : Lực chủ đạo là lực hấp dẫn và lực quán tính, đối tượng nghiên cứu là các thiên thể vĩ mô trong vũ trụ và các vật thể trung mô trong cuộc sống quanh ta. Khảo sát mang tính định lượng, công cụ chủ yếu là toán học và tư duy. Newton phát biểu 3 định luật cơ học :
Định luật 1 Newton (còn gọi là định luật quán tính): Một vật đang đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều sẽ đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều mãi mãi nếu không bị buộc phải thay đổi trạng thái đó bởi ngoại lực tác dụng lên vật.
Định luật 2 Newton: Biến thiên động lượng của một vật theo thời gian tỉ lệ với tổng lực tác dụng lên vật, và có hướng là hướng của tổng lực.
Định luật 3 Newton: Đối với mỗi lực tác động bao giờ cũng có một phản lực cùng độ lớn, nói cách khác, các lực tương tác giữa hai vật bao giờ cũng là những cặp lực cùng độ lớn và ngược chiều.
Ngoài ra ông còn tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn: Hai vật có khối lượng M và m sẽ hút lẫn nhau bằng một lực F, tỉ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách r , vật có khối lượng nhỏ m sẽ bị kéo về phía vật có khối lượng lớn M với gia tốc G. Công thức toán học là :
F=GMm/r2 (r bình phương)
Theo công thức này thì khoảng cách càng gần thì lực hút càng lớn, khoảng cách càng xa thì lực hút sẽ giảm rất nhanh. Một vệ tinh ở cách xa Trái đất khoảng 400 km thì lực hút cùa Trái đất sẽ rất yếu, nó sẽ không rớt xuống đất nữa mà bay quanh Trái đất theo quỹ đạo nhất định tùy thuộc vào lực phóng vệ tinh và hướng tác dụng của lực. Khi đó vệ tinh ở trong tình trạng vô trọng lực tức không bị lực hút của Trái đất chi phối nữa.
Xem xét hiện tượng gió thổi trên bề mặt nước, gió sẽ tác động lên bề mặt nước một lực nhất định và làm bề mặt nước chuyển động với vận tốc cố định u. dưới tác dụng của độ nhớt, lớp liền kề phía dưới sẽ bị kéo theo chuyển động của lớp trên, Newton còn đưa ra định luật về các lưu chất (chất lỏng và chất khí). Nhưng định luật này phức tạp, liên quan tới độ nhớt của lưu chất, công thức tính toán bằng vi phân phức tạp và ít có ý nghĩa triết học nên ta không đi sâu.

Lực học Newton chưa hoàn thiện, nó chỉ đúng với vật thể có khối lượng lớn và vận tốc nhỏ. Tuy nhiên nó được ứng dụng rất nhiều trong đời thường, trong các phép tính thông thường về chuyển động.
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Mon 31 Aug 2015, 16:20

LỰC HỌC THÍCH CA …(tiếp)
 
II- Cấp độ II, Lực học Einstein (1879-1955) : Lực chủ đạo là 4 lực cơ bản đã nói ở phần trên. Đối tượng nghiên cứu là thế giới vi mô dưới nguyên tử và thế giới vĩ mô của các thiên thể. Công cụ là toán học, các thiết bị như máy gia tốc, các loại máy đo tối tân và khả năng tư duy của trí não, đặc biệt là các thí nghiệm tưởng tượng. Lực học Einstein có nhiều điểm khác cơ bản so với lực học Newton như đã nói trên. Ở đây xin nhấn mạnh một số điểm chính yếu :
1/ Quan niệm về không gian, thời gian, khối lượng vật chất đã có thay đổi. 
Đối với Newton, những đại lượng đó là bất biến, còn với Einstein, không gian, thời gian, khối lượng là khả biến, có thể thay đổi theo vận tốc, theo hệ qui chiếu. Với Einstein, không có hệ qui chiếu chuẩn, một vật đứng yên hay chuyển động là tương đối với hệ qui chiếu hoặc đối với vật khác. Thí dụ ta đang ngồi trên đoàn tàu hỏa đang chạy. Đối với tàu hỏa, ta ngồi yên bất động, nhưng đối với nhà ga, cảnh vật dưới đất thì ta đang chuyển động. Dù cho ta đang nằm ngủ trong nhà mình, ta cũng đang chuyển động với vận tốc rất lớn theo Trái đất. Rồi cả thái dương hệ cũng đang chuyển động trong dải Ngân hà. Rồi cả dải Ngân hà cũng đang chuyển động trong vũ trụ. Tất cả đều là tương đối.
Độ dài của cây thước mẫu sẽ thay đổi, rút ngắn lại khi nó di chuyển với vận tốc gần bằng ánh sáng. Thời gian vật lý cũng thay đổi rút ngắn lại khi di chuyển với vận tốc lớn gần bằng ánh sáng, cụ thể hóa bằng câu chuyện về hai anh em song sinh, người anh ngồi phi thuyền bay với vận tốc cực cao trong một buổi, thì trên địa cầu đã trải qua mấy chục năm, người em trở nên già hơn người anh rất nhiều. Như vậy thời gian không giống nhau đối với hai anh em vì họ ở trong hai hệ qui chiếu khác nhau. Khối lượng vật chất cũng không cố định, nó sẽ tăng lên nhiều khi vận tốc cực cao, cụ thể hạt proton khi di chuyển gần bằng ánh sáng trong máy gia tốc thì khối lượng của nó tăng lên gấp 4 lần. Nếu nó di chuyển bằng tốc độ ánh sáng thì khối lượng sẽ tăng lên vô hạn, nhưng trong thực tế, vật có khối lượng không thể di chuyển bằng tốc độ ánh sáng vì nó đòi hỏi một lực vô cùng lớn mà người ta không thể đáp ứng được.
2/ Trong lực học Einstein thì lực hấp dẫn được thay bằng khái niệm sự biến dạng của thời không. 
Nên nhớ rằng trong lực học Newton, thời gian và không gian là hai đại lượng riêng biệt độc lập với nhau. Còn trong lực học Einstein, hai đại lượng này không độc lập, không thể tách rời và được gọi chung là thời không (space-time). Vật chất làm cho thời không biến dạng, mật độ vật chất càng lớn, thời không càng bị cong nhiều. Ánh sáng không có khối lượng và chuyển động theo đường thẳng. Lực học Newton không thể giải thích được tia sáng khi đi qua gần mặt trời thì bị cong đi, bởi vì không có khối lượng thì ánh sáng không bị chi phối bởi lực hấp dẫn. Nhân dịp nhật thực năm 1919, người ta đã chụp hình được mặt trời, chứng minh được tia sáng bị cong, Einstein giải thích rằng chính vì mật độ vật chất cao của mặt trời đã làm thời không chung quanh nó bị biến dạng cong đi nên ánh sáng đi qua đó phải cong theo.
3/ Khái niệm tương đối trở thành ý tưởng chủ đạo trong lực học Einstein. 
Không gian, thời gian, khối lượng vật chất đều là tương đối. Tương đối nghĩa là không độc lập, mọi sự vật đều tùy thuộc lẫn nhau và có thể thay đổi. Khái niệm tương đối được Einstein nêu ra hai lần. Lần đầu vào năm 1905, ông gọi đó là Thuyết tương đối đặc biệt hoặc tương đối hẹp (Special or Simply Relativity). Lý thuyết này xác định tính tương đối của không gian, thời gian và khối lượng vật chất, xác định tốc độ ánh sáng là một hằng số gần bằng 300.000km/giây, xác định sự tương đương giữa vật chất và năng lượng với công thức nổi tiếng E=mc2. Lần hai vào năm 1915, ông gọi đó là Thuyết tương đối tổng quát (General Relativity), đặc biệt luận về trường hấp dẫn trên bình diện vĩ mô của vũ trụ. Thuyết này tiên đoán sự dãn nở của vũ trụ, tương ứng với sự dịch chuyển về phía hồng ngoại của quang phổ; tiên đoán sự hiện hữu của các lỗ đen vũ trụ nơi mật độ vật chất tập trung quá lớn đến mức ánh sáng không thể thoát ra, không phải vì lực hấp dẫn mà vì trường hấp dẫn có độ cong quá lớn. Tia sáng bị cong trong trường hấp dẫn dẫn đến hiệu ứng thấu kính hấp dẫn, nhiều hình ảnh của cùng một thiên thể được nhìn thấy đồng thời trên bầu trời.

Tuy rất thành công nhưng thuyết Tương đối của Einstein vẫn còn những vấn đề chưa giải quyết được. Chẳng hạn thuyết Tương đối chưa bao gồm Cơ học lượng tử. Einstein đã nỗ lực trong 30 năm cuối đời, tìm cách thống nhất thuyết Tương đối và Cơ học lượng tử thành một TOE (Theory Of Everything_Lý thuyết có thể giải thích được tất cả) mà ông gọi là Lý thuyết trường thống nhất (Unified Field Theory) nhưng cuối cùng thất bại, ông qua đời năm 1955 mà không giải quyết được vấn đề, và cho đến nay (2011) cũng chưa ai giải quyết được.

Chính vì vậy, chúng ta phải trở lại với đạo lý xa xưa hơn rất nhiều, có thể giải quyết được vấn đề này bằng một cách khác hẳn.
Về Đầu Trang Go down
buixuanphuong09



Tổng số bài gửi : 5593
Age : 79
Registration date : 28/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Giác quan thứ 6   Tue 01 Sep 2015, 08:21

LỰC HỌC THÍCH CA …(tiếp)
 
III- Cấp độ III, Lực học Thích Ca (623-543 Trước Công nguyên) : 
Có lẽ chưa ai nghe nói đến lực học Thích Ca bao giờ, chỉ có Thầy Duy Lực có đề cập sơ qua nhưng chưa kịp triển khai. Nay tôi mạo muội và cả gan bàn đến lực học Thích Ca dựa vào Kinh điển Phật giáo, nếu có sai sót, xin các bậc cao minh chỉ giáo.
Lực học Thích Ca chỉ triển khai một lực duy nhất là Tâm lực, đây là tổng hợp của 4 lực cơ bản trong vũ trụ, công cụ là Thiền định. Tất cả các nhà khoa học trên thế giới đều muốn tổng hợp 4 lực cơ bản, nhưng chỉ tổng hợp được hai lực là tương tác yếu và điện từ thành tương tác điện yếu (interaction of weak electromagnetic fields). Họ không ngờ rằng Thích Ca đã tổng hợp được từ xa xưa. Thích Ca không nghiên cứu về định lượng bởi vì số lượng là không có thực nên không có ý nghĩa, cũng vì vậy Thích Ca cũng không sử dụng các phương trình toán học. Mặt khác nếu có cố dùng đến phương trình toán học thì thời đó cũng chẳng có ai hiểu. Thích Ca dùng Thiền định để có được cái thấy siêu việt không bị tâm thức làm cho méo mó, do đó không còn bị vô minh chi phối. Để đạt tới mức Thiền định như vậy, phải trì giới tinh nghiêm nhiều đời nhiều kiếp bất thối chuyển, mới giải thoát khỏi mọi tập khí (thói quen sai lầm) hình thành từ lâu đời, đạt tới cái thấy vô thượng chánh đẳng chánh giác tức trí bát nhã. Bát nhã có đủ khả năng thấy và diệu dụng thực tướng của vạn vật.
Thích Ca thấy không phải bằng mắt thường, mà bằng huệ nhãn, rằng thực tướng của vạn vật là Không (thực tướng vô tướng), tất cả chỉ là ảo hóa, là nhân duyên kết hợp. Lượng tử, quark, electron, neutrino…tất cả mưới mấy loại hạt hạ nguyên tử (subatomic particles) mà con người đã tìm thấy và hy vọng tìm thấy nhưng thực tế chưa tìm được (graviton, higgs boson) đều chỉ là hạt ảo, chúng không tồn tại độc lập, mà chỉ hiện hữu trong tâm thức của người quan sát. Điều này các khoa học gia hàng đầu thế giới ngày nay cũng nhìn nhận. Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).
Cơ học Newton thì cho là không gian, thời gian, khối lượng vật chất là thực tại khách quan, bất biến và có thật. Einstein nhận thức cao hơn một bậc, biết rằng không gian, thời gian, khối lượng vật chất không phải bất biến mà khả biến, tuy nhiên Einstein vẫn cho rằng các đại lượng đó là sự thật khách quan, nằm ngoài tâm thức (quan điểm duy vật). Thích Ca cũng không phủ nhận thế giới, nhưng thấy rằng không gian, thời gian, vật chất tuy hiện hữu nhưng đó là sự hiện hữu trong tâm thức chứ không phải thật, Thích Ca không dùng thuật ngữ khối lượng mà dùng một từ có ý nghĩa phổ quát hơn là số lượng để chỉ mức độ của vật chất. Có những vật chất không có khối lượng nhưng vẫn có số lượng, ví dụ bit thông tin, người ta không thể cân thông tin xem chúng nặng bao nhiêu nhưng vẫn đếm được số lượng nhiều ít của chúng, đơn vị tính là bit và byte. Bội số của byte là Kilobyte (KB), Megabyte (MB), Gigabyte (GB), Terabyte (TB). Các bội số sau đều lớn hơn số trước liền kề 1024 lần, trừ Terabyte chỉ lớn hơn Gigabyte 1000 lần.


Einstein tuy nhận thức cao hơn Newton nhưng vẫn còn chấp thật, nghĩa là cho rằng thế giới là có thật. Do đó ông thật sự bối rối đối với hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement ) không hiểu tại sao tín hiệu có thể truyền từ photon này sang photon kia với tốc độ gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng trong khi ông đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng tốc độ ánh sáng là cao nhất trong thế giới vật chất. Vì thế ông gọi đó là tác động ma quái từ xa (Spooky action at a distance). Ông không hiểu rằng không gian, thời gian và số lượng vật chất đều chỉ là ảo, không phải thật, chúng chỉ hiện hữu trong tâm tưởng. Cũng cần hiểu rằng tâm không phải chỉ là ý thức. Ý thức chỉ là một phần rất nhỏ, cạn cợt của tâm thức. Phật giáo mô tả tâm thức gồm có bát thức (8 thức) mà thuyết Thập nhị nhân duyên và Duy thức học đề cập chi tiết. Bát thức gồm nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Nhãn thức là cảm giác phân biệt do mắt (thị giác) đưa vào não. Các thức kia lần lượt là cảm giác phân biệt của tai (thính giác), của mũi (khứu giác), của lưỡi (vị giác), của thân thể (xúc giác). Các cảm giác khác nhau được đưa vào não để so sánh, nhận biết và phát sinh ý thức. Ý thức là nhận thức tổng hợp của 5 thức trước, nó ghi nhớ trong ký ức và có khả năng tái hiện mà không cần tiếp xúc với ngoại cảnh. Ngoài ra còn hai thức rất quan trọng mà khoa học chưa biết mấy, là mạt-na thức và a-lại-da thức. Mạt-na chấp 6 thức trước và a-lại-da là của riêng nó. Còn a-lại-da là kho chứa dữ liệu thông tin cực kỳ lớn, để hình dung nó ta hãy tạm so sánh nó với internet. Tất cả dữ liệu của internet đều có thể hiển thị trên máy tính cá nhân khi có đủ điều kiện. Cả vũ trụ vạn vật mà ta tưởng là khách quan, ở bên ngoài ý thức, đều có thể hiện ra khi có đủ nhân duyên theo cơ chế tương tự như thế giới ảo của máy vi tính.
Về Đầu Trang Go down
 
Giác quan thứ 6
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : 1, 2  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN THƠ :: THƠ TRỮ TÌNH SÁNG TÁC ::  Góc thơ :: BùiXuânPhượng-