Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Giới Định Huệ by thichvui78 Today at 10:24

Chưa “về” còn quậy by buixuanphuong09 Today at 08:54

MỪNG SINH NHẬT 80 by buixuanphuong09 Today at 06:55

Những Đoá Từ Tâm - Thơ Tình Yêu, Tình Nước by Việt Đường Yesterday at 23:33

Chúc Mừng Sinh Nhật Bác Bùi Xuân Phượng by buixuanphuong09 Yesterday at 21:51

Đặc Khu Kinh Tế? by tvqm Yesterday at 20:59

TÌNH BUỒN by lehong Yesterday at 19:48

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Yesterday at 19:30

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Yesterday at 17:42

5 trái Mận by HPNguyenPhong Yesterday at 14:08

Rương kho tàng by Phương Nguyên Yesterday at 12:38

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Yesterday at 12:23

BÀI THƠ VỀ CÁC ĐỊA DANH QUÊ HƯƠNG TÔI by mayngan2 Yesterday at 12:03

HOA GIEO TỨ TUYỆT 2 by buixuanphuong09 Yesterday at 10:23

Người mù uống thuốc by Ai Hoa Yesterday at 08:47

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Ai Hoa Yesterday at 08:40

Giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa by Ai Hoa Yesterday at 08:30

Bao nhiêu tuổi? by Trà Mi Fri 22 Jun 2018, 11:13

ĐỐ BẠN NHẬN RA NGƯỜI MẨU TRONG TRANH ! by Trà Mi Fri 22 Jun 2018, 10:15

Chiếc nón bài thơ by Gió Bụi Fri 22 Jun 2018, 04:47

THƠ THỬ NGHIỆM - Hansy by Hansy Thu 21 Jun 2018, 19:44

NHỮNG ÁNG BÌNH THƠ - Hansy by Hansy Thu 21 Jun 2018, 19:39

HÀO HÙNG SỬ VIỆT by Hansy Thu 21 Jun 2018, 19:32

Thế giới Tình yêu by nguoidienviyeunguoi Thu 21 Jun 2018, 12:56

Con ruồi và chiếc xe vận tải by Ai Hoa Thu 21 Jun 2018, 09:09

10 loài hoa hiếm và đẹp nhất thế giới by Ai Hoa Thu 21 Jun 2018, 09:06

Bài toán vui by Ai Hoa Thu 21 Jun 2018, 08:59

Ở không by Ai Hoa Thu 21 Jun 2018, 08:46

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Wed 20 Jun 2018, 16:54

Thử tài quan sát by Trà Mi Wed 20 Jun 2018, 11:04

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next
Tác giảThông điệp
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1407
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Fri 31 Jul 2015, 11:59

Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 2)

Tác giả: Lại Nguyên Ân

Cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc

Trong chín tháng giữ vai trò cầm lái tờ Văn nghệ, từ ngày mồng 1 tháng Mười một năm 1954 đến ngày mồng 4 tháng Tám năm 1955, Xuân Diệu trải qua một giai đoạn có thể coi là ly kỳ nhất trong cuộc đời tham gia cách mạng của ông. Với chức vụ thư ký tòa soạn, Xuân Diệu cầm trịch cuộc tranh luận văn học quan trọng về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, người đã được lãnh đạo đảng chọn để đứng đầu mặt trận văn hóa. Cách Xuân Diệu xử lý cuộc tranh luận có vẻ đã làm lãnh đạo đảng không hài lòng, và có thể chính điều đó đã dẫn đến quyết định phải thay người khác vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn nghệ.

Trong hai tháng đầu tiên, Xuân Diệu đã để cho cuộc tranh luận diễn ra như một sự kiện tranh luận văn học thực sự, cho in một số bài phê bình Việt Bắc khá nặng cùng với những bài khen ngợi.[1] Nhưng dưới quan điểm “văn học không thể tách rời chính trị” của chế độ, tranh luận công khai về thơ của Tố Hữu cũng có nghĩa là tranh luận về quan điểm chính trị của ông ta. Và đương nhiên, phe phê phán chẳng bao lâu sau bắt đầu đặt câu hỏi về lập trường của Tố Hữu theo hệ tư tưởng Mác-Lê, ngầm ý chất vấn quyết định của lãnh đạo khi giao trọng trách cho Tố Hữu ở vị trí quyền lực nhất trong lĩnh vực văn hóa. Nguyên nhân vì sao lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để cho cuộc tranh luận kéo dài đến thế vẫn là điều chưa được giải đáp. Một cách giải thích khả dĩ là cuộc tranh luận diễn ra trong thời điểm còn nhiều căng thẳng đối với giới lãnh đạo chế độ mới, khiến họ e ngại nếu can thiệp không khéo sẽ làm bất bình số đông trí thức cách mạng, những người coi việc tranh luận chuyên môn là một phần bình thường của đời sống trí thức.

Trong thời gian đó, nạn đói xảy ra ở hầu khắp các vùng nông thôn miền Bắc. Lúc đó đang là tháng Tư, một tháng trước vụ chiêm. Ngay cả trong những năm được mùa, người nông dân Bắc Việt vẫn thường thiếu ăn vào thời điểm này. Ba văn bản liên tiếp của Bộ Chính trị kêu gọi cứu đói trên toàn miền Bắc (vào các ngày mồng 9, 16 và 29 tháng Tư năm 1955) cho thấy tình hình căng thẳng đến mức nào.[2] Một vấn đề lớn nữa thu hút sự quan tâm của giới lãnh đạo vào thời điểm này là cuộc di cư lớn của người dân miền Bắc vào Nam. Hiệp định Geneva đã ấn định khung thời gian ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam – Bắc từ tháng Bảy năm 1954 đến tận tháng Năm năm 1955. Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những người tự gọi chế độ của mình là “dân chủ nhân dân”, việc gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam được coi là một thất bại lớn về thể diện. Đoạn văn dưới đây, trích từ Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị ban hành ngày 16 tháng Hai năm 1955 cho thấy phần nào mối quan ngại của lãnh đạo đảng về vấn đề di cư và tác động của nó đối với hình ảnh quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:

“Chọn một vài địa điểm điển hình để tổ chức cho đồng bào đi (khu chọn rồi đề nghị với Trung ương). Nếu mờ cả Ủy Ban quốc tế đến để chứng kiến việc đó. Những nơi này phải là nơi có cơ sở quần chúng của ta, khi tổ chức cho quần chúng đi thì chỉ có số ít xin đi, như thế mới có lợi cho ta. Khi làm việc này phải chuẩn bị chu đáo, giải quyết thật nhanh.

Phải có kế hoạch trấn áp phản động, tăng cường canh gác, kiểm soát, đề phòng địch lợi dụng dịp này thúc đẩy quần chúng tập trung, gây khó khăn cho ta.”[3]

Tố Hữu, tác giả của tập thơ Việt Bắc, lúc đó mới ba mươi lăm tuổi, là một người gốc Huế gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương từ năm 1938 và thăng tiến rất nhanh qua các cấp ủy. Khi tập thơ được xuất bản, ông ta đang được cân nhắc vào vị trí ủy viên Trung ương  Đảng Lao động Việt Nam, một việc sẽ xảy ra trong năm 1955.[4] Một biểu hiện nhỏ cho thấy lãnh đạo đảng đánh giá tập thơ Việt Bắc cao đến thế nào là quyết định trích ngân sách hẹp hòi để cho in tập thơ với số lượng hai mươi nghìn bản, một con số ấn bản lớn chưa từng có.[5] Về nội dung, Việt Bắc là sự thể hiện bằng thơ quan điểm của Mao về “chiến tranh nhân dân”.[6] Tố Hữu tả toàn thể dân tộc Việt Nam đều cống hiến trọn vẹn tâm hồn và lý trí cho công tác đấu tranh cách mạng: từ người nông dân đi phá đường cho đến người lính pháo binh công tập đồn Pháp, từ người phụ nữ tải đạn ra chiến trường đến em nhỏ làm giao liên cho du kích Việt Minh. Ông ta nồng nhiệt ca ngợi Hồ Chí Minh, Stalin, Mao và Đảng Lao động Việt Nam. Việt Bắc còn bao gồm các bài dịch từ dân ca Nam Tư và một số bài thơ nước ngoài khác – hai bài của nhà thơ Liên Xô Konstantin Simonov, một của nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon, và một của nhà thơ cộng sản Mỹ Ethel Rosenberg, đã bị tử hình với tội danh gián điệp vào năm 1953.

Bài báo đầu tiên giới thiệu tập thơ của Tố Hữu với công chúng do một cán bộ chính trị xuất thân từ tỉnh Nghệ An tên là Xuân Trường viết được đăng trên số Tết (ngày 24 tháng Giêng năm 1955) của tờ báo chính thống của đảng –Nhân dân.[7] Bài báo được viết theo dàn bài tiêu chuẩn của một văn kiện báo cáo đảng: giới thiệu, ưu điểm, khuyết điểm và kết luận. Trong suốt cả bài gồm hai mươi chín đoạn văn, chỉ có hai đoạn bàn về khuyết điểm của tập thơ Việt Bắc. Hai đoạn đó chủ yếu vạch ra rằng Tố Hữu cần phải “cụ thể” hơn khi tả “người nông dân tham gia cách mạng” và “đảng Tiên Phong của dân tộc”. Xuân Trường viết “chúng ta rất tiếc rằng Tố Hữu chưa nói lên hộ lòng biết ơn, sức tin tưởng của hàng chục triệu con người đảng viên và quần chúng đối với Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.”[8]

Ba tuần sau, vào ngày 15 tháng Hai năm 1955, Xuân Diệu cho đăng trên Văn nghệ phần đầu của bài nhận xét dài của chính ông về tập thơ của Tố Hữu. Cũng như bài viết của Xuân Trường, ông giữ đúng cấu trúc tiêu chuẩn của một bản báo cáo chính trị. Trong bài viết gồm bảy mươi đoạn văn, Xuân Diệu dành sáu mươi đoạn để ca ngợi ưu điểm của tập thơ:

“Từ 1932 đến 1945, trong khi các nhà thơ khác đắm chìm trong phong trào “thơ mới” mơ mộng, than khóc, u sầu, Tố Hữu đã đi tiên phong, hát những bài ca tranh đấu.”…

Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh quang, kỳ diệu. Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng, và nhà cách mạng làm thơ, và thơ rất thành công…

Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng to lớn, đồng thời cũng đưa tài thơ của Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng lẫy. Đó là sự tương quan mật thiết giữa hành động và văn chương, và Tố Hữu là điển hình đẹp nhất.”[9]

Trong phần đầu của đoạn trích nêu trên, Xuân Diệu dường như đang xưng tội về quá khứ của chính mình khi tham gia Thơ mới. Phải chăng mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng đã chuyển hóa hoàn toàn nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Xuân Diệu? Có vẻ là như vậy, cho đến khi chúng ta đọc đoạn thứ mười của bài với những dòng Xuân Diệu viết về nhược điểm của tập thơ. Tại đó, nhà thơ nhẹ nhàng chỉ ra rằng tập thơ Việt Bắc “nặng về tình cảm xã hội mà gần như bỏ qua tình cảm cá nhân”. Trong một khổ khác, ông viết, “Con người cán bộ trong Tố Hữu bao trùm con người thường”. Ở đây, những lời phê bình của Xuân Diệu dường như có hàm ý đề cao tính chủ quan – cho phép con người ta có thể thay đổi bản chất để phù hợp với hoàn cảnh. Không một bài viết nào khác về Việt Bắc đưa ra một ý kiến tương tự như thế. Từ đó, người đọc có thể suy diễn một cách hợp lý rằng, theo Xuân Diệu, tính chủ quan của con người rất phức tạp, không thể đánh giá theo một yếu tố chung nào hết – như giai cấp chẳng hạn. Trong phần sau của bài viết, Xuân Diệu bổ sung thêm rằng thơ Tố Hữu “nặng về tình cảm xã hội, tình cảm tập thể ” mà “hầu như không nói đến những tình cảm của cá nhân”.[10] Không rõ Xuân Diệu có ý thức được điều này không, nhưng rõ ràng việc ông chiếu tướng Tố Hữu về tình cảm cá nhân và khả năng một con người có thể mang nhiều diện mạo tiềm ẩn nguy cơ thách thức học thuyết chính thống cao hơn rất nhiều so với yêu cầu của Xuân Trường về việc cần tả cụ thể về đảng tiên phong và quần chúng hàm ơn.

Ngày 11 tháng Ba năm 1955, hai tuần sau khi đăng bài bình luận của chính mình, Xuân Diệu duyệt và cho đăng bài phê bình Việt Bắc của Hoàng Yến, một nhà phê bình văn học trong quân đội gần như chưa được ai biết đến. Với nhan đề “Tập thơ Việt Bắc có tính hiện thực hay không?”, bài phê bình phân tích năm bài trong tập thơ để đi đến kết luận chung rằng những suy nghĩ, từ ngữ và hành động của các nhân vật trong Việt Bắc trong những tình huống quan trọng có vẻ không hiện thực và không thể hiện được tính phong phú và vĩ đại của cách mạng.[11] Ngoài bài viết của Hoàng Yến, Văn nghệ còn mời độc giả viết thư để đóng góp phản hồi về tập thơ Việt Bắc đồng nghĩa với việc mở rộng diễn đàn tranh luận cho công chúng.

Trong một tháng rưỡi sau đó, Xuân Diệu, trong vai trò thư ký tòa soạn Văn nghệ, đã cho đăng tiếp năm bài phê bình Tố Hữu, có nhiều điểm cho rằng ông ta kém về năng lực lãnh đạo, thơ thì tầm thường và quan điểm cách mạng “tiểu tư sản có hệ thống”.[12] Chắc chính lời phê về “tiểu tư sản” đó đã làm lãnh đạo đảng nhức nhối nhất vì họ đã chọn Tố Hữu, cùng với các Ủy viên Trung ương là Lê Văn Lương và Hoàng Quốc Việt giám sát công tác chỉnh huấn tư tưởng, với mục tiêu chính là gạt bỏ những “tư tưởng tiểu tư sản” khỏi đầu óc các đảng viên.[13]

Trong suốt năm tuần, Xuân Diệu đã duy trì gần như cân bằng những bài viết theo hai hướng khen và chê tập thơ của Tố Hữu, như thể ông đang trở lại làm việc cho tờ Ngày Nay của Tự lực Văn đoàn vậy. Rồi bỗng nhiên, sau số Văn nghệ ra ngày 1 tháng Năm năm 1955, ông xoay ngược một trăm tám mươi độ, cho đăng toàn những bài khen ngợi tập thơ hết lời. Sự trùng hợp về thời gian giữa việc thay đổi đường lối nói trên và cái mốc ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam Bắc (đến 18 tháng Năm 1955) gợi cho ta thấy hình như việc tự do đi lại cũng là một yếu tố quyết định cách chính quyền xử lý cuộc tranh luận. Những bài viết phê phán Việt Bắc bị ngừng đăng kể từ số Văn nghệ ngày 10 tháng Năm 1955, nhưng đến thời điểm đó, đã quá muộn để biến cuộc tranh luận thành đợt tuyên truyền cho thơ Tố Hữu – những nhà phê bình trẻ đã gây tổn thất nặng nề cho danh tiếng tập thơ Việt Bắc. Không một bài bình luận tiếp theo nào, dù ca ngợi không tiếc lời về lòng yêu nước và văn tài của Tố Hữu, có thể đảo ngược lại được những lời phê bình về nhược điểm của Việt Bắc mà Xuân Diệu đã cho đăng trên những trang báo trước đó của tờ Văn nghệ.

Ngoài quyết định chuyển hướng đột ngột trong cuộc tranh luận về Việt Bắc, có ba điểm khác cho thấy hình như cách xử lý vấn đề của Xuân Diệu lúc ban đầu không theo quan điểm của lãnh đạo đảng. Một là, không một tờ báo nào khác của đảng ngoài tờ Văn nghệ đăng bài chê tập thơ Việt Bắc.[14] Các tổng biên tập của những tờ báo khác dường như hiểu được ý của lãnh đạo đảng muốn họ giữ vai trò gì trong cuộc tranh luận: đăng các bài khen Việt Bắc để bài chê của Hoàng Yến trở thành hiện tượng cá biệt, qua đó cho thấy Tố Hữu được sự ủng hộ của đa số quần chúng Việt Nam. Hai là, không bao lâu sau, lãnh đạo quyết định thay Xuân Diệu và đưa Nguyễn Đình Thi, một quan chức văn hóa cứng rắn vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn nghệ, người đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận về Việt Bắc một thời gian ngắn sau đó.[15] Bằng chứng thứ ba là ý kiến nhận định về cuộc tranh luận của một quan chức văn hóa cao cấp, Hoài Thanh (tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam: 1932 – 1941 đã được nhắc đến ở phần trên). Trong một bài nhận xét về hoạt động văn học năm 1955, ông ta viết: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót. Công tác phê bình ít được chú ý. Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu mục đích rõ ràng, thiếu kết hợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng.”[16]

Ý của Hoài Thanh là, Xuân Diệu, với vai trò thư ký tòa soạn Văn nghệ đã không quan tâm đầy đủ đến những bài phê bình Việt Bắc, cho đăng những bài không phù hợp với “yêu cầu của cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng”. Nói cách khác, ông không hiểu được rằng Văn nghệ đúng ra phải đóng vai trò là một cơ quan văn hóa của đảng. Đặt trong hoàn cảnh đất nước ba năm rưỡi sau đó, cách ông xử lý cuộc tranh luận – nhất là để cho mọi tầng lớp trí thức trong nước công khai và trực tiếp chất vấn năng lực chuyên môn của một quan chức cao cấp của đảng như Tố Hữu – là điều không thể tưởng tượng được.[17]

(còn tiếp)

________________________________________

[1] Là thư ký tòa soạn, Xuân Diệu chịu trách nhiệm cuối cùng về tất cả các bài đăng trên tờ báo. Tuy nhiên, theo chính thành viên Nhân văn – Giai phẩm Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn Thụy Khuê ngày 5/5/2997, nhân vật trong ban biên tập Văn nghệ tích cực nhất trong cuộc tranh luận (http://thuykhue.free.fr/rfi/2007/20070519-HoangCam.mp3 ) là con người đầy sức thu hút Nguyễn Hữu Đang. Sau đó, ông Đang trở thành một thành viên có thể gọi là quan trọng nhất của phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Ta không thể không thắc mắc liệu có phải, trong chừng mực nào đó, Xuân Diệu đã nghe theo ý của Nguyễn Hữu Đang thuyết phục về cách thức báo Văn nghệ tổ chức và điều hành cuộc tranh luận.

[2] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của trung ương số 12-CT/TW, 9/4/55: Tăng cường lãnh đạo chống đói và giải quyết nạn đói”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:241; Ban bí thư, “Điện của ban bí thư ngày 16 tháng 4 năm 1955 gửi các khu”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:252; Nguyễn Duy Trinh, “Thông tri của ban bí thư số 30-TT/TW ngày 29 tháng 4 năm 1955: về việc tích cực thi hành Chỉ thị số 12 của TW gấp rút tăng cường lãnh đạo công tác chống đói”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:279.

[3] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của bộ chính trị số 07-CT/TW ngày 16 tháng 2 năm 1955: Đẩy mạnh đấu tranh phá âm mưu mới của địch trong việc dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:74.

[4] Từ điển Văn học (Hà Nội, KHXH, 1984), 405-406.

[5] Boudarel, Cent fleurs, 119.

[6] Về chất lượng và phong cách, thơ Tố Hữu có thể so sánh, đại loại như với bài “Paul Revere’s Ride” của Henry Wadsworth Longfellow.

[7] Báo Nhân Dân thành lập năm 1951, là cơ quan chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Có thể tờ báo được lấy ý tưởng từ ấn phẩm cùng tên của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

[8] Xuân Trường, “Vài ý kiến sau khi đọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu”, Nhân Dân, số 329, 24/1/1955.

[9] Xuân Diệu, “Đọc tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệ, số 63, 15-22/2/1955.

[10] Sđd, số 64, 28/2-10/3/1955.

[11] Hoàng Yến, “Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không?”, Văn nghệ, số 65, 11/3/1955. Bài này sau đó được đăng lại trên báo Nhân Dân hai số ra ngày 3-4/4/1955. Bài báo được đăng lần đầu trên tạp chí văn học quân đội Sinh Hoạt Văn nghệ.

[12] Về khả năng lãnh đạo yếu kém, xem Lê Đạt, “Học tập Maikovski, phát huy sức sống mới của thi ca Việt Nam (kỳ 1 và kỳ 2), Văn nghệ, số 69 và 70, 21/4/1955 và 1/5/1955. Về chất lượng thơ tầm thường, xem Hoàng Cầm “Tập thơ Việt Bắc ít chất sống thực tế”, Văn nghệ, số 67, 1/4/1955; và Nguyễn Văn Phú, “Vài điểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt Bắc, Văn nghệ, số 68 11/4/1955; và Hoàng Cầm, “Bổ sung ý kiến của tôi về tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệ số 70, 1/5/1955.

[13] Xem Lê Văn Lương, “Vấn đề chỉnh huấn”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 13:101-106.

[14] Có thể kể các tờ báo Nhân Dân, Tổ Quốc, Độc Lập và Nói Thật. Ngoại lệ duy nhất là báo Nhân Dân có đăng lại bài của Hoàng Yến, được coi như bài mở màn cho cuộc tranh luận. Ngoài ra, không có một bài phê bình (chê) nào xuất hiện ngoài mặt báo Văn nghệ.

[15] Sau khi Nguyễn Đình Thi thay Xuân Diệu làm thư ký tòa soạn, màu ma-két báo Văn nghệ đổi từ xanh lá cây sang đỏ cờ. Thông tin về ban biên tập, vốn được đăng ngay trang bìa trong thời gian Xuân Diệu làm thư ký tòa soạn, bị đưa về trang cuối.

[16] Hoài Thanh, “Nhìn lại hoạt động văn nghệ một năm qua”, Nhân Dân, số 697, 29/1/1956.

[17] Phê bình công khai lãnh đạo cao cấp cỡ như Tố Hữu trong cuộc tranh luận về Việt Bắc vẫn còn là điều cấm kỵ ở Việt Nam.

Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Sat 01 Aug 2015, 04:17

Shiroi thắc mắc sao lại dùng chữ "quan chức" để chỉ các cán sự đang làm việc nhỉ ? :lulan:
Phải chăng chính quyền hiện tại không phải là chế độ dân chủ mà là chế độ phong kiến thực dân trá hình ?
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1407
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Tue 04 Aug 2015, 13:00

Shiroi đã viết:
Shiroi thắc mắc sao lại dùng chữ "quan chức" để chỉ các cán sự đang làm việc nhỉ ?  :lulan:
Phải chăng chính quyền hiện tại không phải là chế độ dân chủ mà là chế độ phong kiến thực dân trá hình ?  
 
Dạ, dân chủ nghĩa là ... chủ của dân :bitchitlin:
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1407
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Tue 04 Aug 2015, 13:18

Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 2)

Tác giả: Lại Nguyên Ân

Xuân Diệu và Walt Whitman

Như đã đề cập ở phần trước, trong hai đêm Xuân Diệu tham gia chỉnh huấn vào năm 1952, vấn đề lang chạ đồng tính của Xuân Diệu bị đem ra để “phê và tự phê”. Theo nhà văn Tô Hoài, những người tham gia buổi chỉnh huấn đêm đó đã liên hệ xu hướng luyến ái đồng tính của nhà văn lãng mạn nổi tiếng với “tư tưởng tiểu tư sản xấu xa” của ông – điều mà Xuân Diệu nhất quyết từ chối trong nước mắt. Sau đợt chỉnh huấn, ông bị đưa ra khỏi Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, một tai nạn nghề nghiệp vẫn làm ông nhức nhối nhiều năm sau đó.[18] Vì quá nhiều bài thơ lãng mạn nổi tiếng của ông có cảm hứng từ đề tài luyến ái đồng tính, và vì ông có biểu hiện coi đó là một phần của chính mình, không thể thay đổi ngay cả với quyền năng chuyển hóa của cách mạng, bài tiểu luận được ít người biết  của Xuân Diệu viết về Walt Whitman đăng trên số ra ngày 5 tháng Giêng năm 1956 của tờ Văn nghệ cần được nghiên cứu kỹ.[19]

Quyết định viết về nhà thơ Mỹ không phải là một lựa chọn liều lĩnh về mặt chính trị, vì chính những người gác cửa văn học chính thống của Liên Xô cũng đã tặng cho Whitman danh hiệu “nhà thơ cách mạng” từ trước đó rất lâu. Dù đã tạ thế, sự nghiệp cách mạng của nhà thơ Mỹ này có thể coi như được khởi đầu ở Nga vào năm 1905, khi những nhà cách mạng Nga tại hải ngoại phụ trách tờ Tia lửa (Iksra), cơ quan của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (lúc đó đặt trụ sở tại Geneva-Thụy Sỹ), chọn một bài thơ của ông vào “tuyển tập thi ca cách mạng”. Hơn thế nữa, Whitman còn được nhân vật nổi tiếng nhất trong văn giới Liên Xô – nhà biên dịch, viết tiểu luận và thơ thiếu nhi Kornei Chukovsky (1882-1969) chọn làm đề tài nghiên cứu chuyên sâu.[20] Chukovsky đã đăng bài viết đầu tiên về nhà thơ Mỹ “Phong trào hâm mộ Whitman ở Nga” trong tạp chí của trường phái Tượng trưng Vesy vào năm 1906. Phần lớn nội dung bài viết đó được Chukovsky dành để phê phán những bài dịch thơ Whitman của Konstantin Balmont, một nhà thơ Tượng trưng. Sự công kích của Chukovsky đã khơi mào cho một cuộc tranh luận sôi nổi về nghệ thuật biên dịch giữa hai người yêu thơ Whitman trên các trang báo của tờ Vesy. Sau đó, giới lãnh đạo văn hóa Liên Xô ủng hộ Chukovsky, giúp ông đủ quyền lực để nâng quan điểm về dịch thuật của mình trong cuộc tranh luận trước đó về Whitman thành tiêu chuẩn chính thống, thành các nguyên tắc chung cho mọi hoạt động dịch thuật của Liên Xô.[21]

Vì Whitman vừa sử dụng thể thơ tự do vừa có quan điểm triết học duy tâm giống như các nhà thơ trường phái Tượng trưng của Pháp – những người có ảnh hưởng quan trọng đến dòng thơ lãng mạn của Xuân Diệu, có thể ông đã biết rõ về tác giả của tập Lá cỏ từ trước khi tham gia cách mạng.[22] Không biết ông có biết về Whitman sớm đến thế không, nhưng ít nhất Xuân Diệu hẳn phải nghe nói đến nhà thơ này vào cuối năm 1945, khi một bài báo đăng trên Tiên Phong vào tháng 12 năm 1945 có nhắc đến nhà thơ Mỹ này. Với tiêu đề “Một lá thư ngỏ của Hội Văn hóa Cứu quốc gửi các trí thức Mỹ”, bài báo được công bố là bản sao nguyên văn lá thư thật được đưa cho một nhà báo Mỹ đến Hà Nội để đưa tin sự kiện Nhật Bản đầu hàng. Theo lời kể, nhà báo bí ẩn này đến trụ sở hội vào ngày 21 tháng Mười năm 1945, trước khi về Mỹ. Người ta kể rằng vì cảm tình với sự nghiệp ái quốc của Hội Văn hóa Cứu quốc, ông nhà báo này tình nguyện nhận chuyển thư của hội đến các nhà trí thức Mỹ.[23] Lá thư của hội, được in lại trên báo Tiên Phong bày tỏ lòng tin rằng “…mối thiện cảm của những người đồng chí của Phan-cờ-in (Franklin), Bít-sơ Xít-tao (Beecher Stowe), I-mớc-sơn (Emerson), Oan-tờ Huýt-man (Walt Whitman), Ê-đi-sơn (Edison), những người như Giấc-cờ Lân-đơn (Jack London), Xin-co-le Liu-ít-xờ (Sinclair Lewis), Pớc Bấc-cờ (Pearl Buck)… ở giữa một nước lớn như dân tộc Hoa-kỳ, sẽ làm rung chuyển dư luận hoàn cầu để giúp cho cuộc giải phóng của chúng tôi.”[24]

Cũng có thể Xuân Diệu đã tìm hiểu thêm về Whitman khi đi Liên Xô và Đông Âu năm 1955, vì chuyến đi của ông trùng với thời gian kỷ niệm 100 năm tập thơ Lá Cỏ nổi tiếng của nhà thơ Mỹ này. Trong chuyến đi, có thể Xuân Diệu đã thấy những cuốn sách về Whitman bày trên giá các hiệu sách nơi ông đến thăm, với hy vọng thu hút được mối quan tâm về tác giả đang được hâm nóng lại trong đợt kỷ niệm. Điều này có thể lý giải được thời điểm Xuân Diệu viết bài về Whitman, vì bài báo được đăng trên Tiên Phong một thời gian ngắn sau khi ông đi Liên Xô và Đông Âu về. Tuy nhiên, chi tiết thú vị nhất là Xuân Diệu biết Whitman là người đồng tính luyến ái từ khi nào và bằng cách nào, vẫn còn là câu hỏi bí ẩn. Chỉ biết trong các bài thơ lãng mạn của ông, không thấy có điểm liên hệ nào tới nhà thơ Mỹ này.

Bài của Xuân Diệu giới thiệu Whitman trên báo Văn nghệ thể hiện quan điểm chính trị của chế độ đương thời, với yêu cầu phải xác định rõ mối đồng cảm của nhà thơ Mỹ với giai cấp vô sản. Vì thế, bài báo bắt đầu bằng những dòng kể lể tỉ mẩn về xuất thân bình dân của Whitman, là con trai một di dân, làm nghề đóng khung nhà, và thời trẻ ông ta cũng làm những công việc “tay làm hàm nhai” – thợ in, giáo viên, nhà báo, thợ gặt. Bài báo cũng trích nguyên nhiều câu trong bài “Thơ Tự do cho châu Á, Phi, Mỹ, Úc, Cuba và các Quần đảo ở Đại Dương” của Whitman. Trong những lời kêu gọi chung chung tranh đấu chống cường quyền trên khắp thế giới, bài thơ đó của Whitman phảng phất những nét hao hao giống lý thuyết Mác-xít về cách mạng vô sản thế giới. Có lẽ để tô đậm thêm mối liên hệ này, tiêu đề của bài thơ được đổi thành “Tặng một nhà cách mạng châu Âu thất bại”. Không rõ Xuân Diệu tự đổi hay chỉ đơn thuần sao chép lại cách đặt tiêu đề của một dịch giả trước đó. Ngay dưới tiêu đề bài thơ, Xuân Diệu giải thích rằng bài thơ lấy cảm hứng từ cuộc cách mạng bị thất bại năm 1848. Trong bài viết, Xuân Diệu còn khai thác sâu thêm cảm tình vô sản của Whitman bằng cách dẫn nhiều khổ thơ trong bài “Bài ca đời tôi”, tất cả đều nhằm minh chứng rằng nhà thơ Mỹ thực sự đã “đi sâu vào thực tế của quần chúng lao khổ”.[25]

Tuy nhiên, bài báo có đôi chỗ mang dấu hiệu cho thấy Xuân Diệu đang sử dụng quan điểm chính trị của chế độ đương thời làm bình phong để khoe một cách kín đáo về đời sống luyến ái đồng tính của Whitman. Ví dụ, bài báo có kể rằng “… lúc đã nổi tiếng, nhiều khi ông (Whitman) thay các bạn ông làm người đánh xe ngựa, làm người bán vé xe hàng”. Chi tiết này có vẻ như đơn thuần là một động tác nhấn mạnh sự gần gũi của nhà thơ Mỹ với quần chúng cách mạng. Nhưng trên thực tế, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nữa, vì người bán vé xe hàng mà Xuân Diệu nhắc đến chính là Peter Doyle, người đàn ông được coi là người tình suốt đời của Whitman.

Đọc kỹ bài báo, ta thấy có nhiều chỗ Xuân Diệu dường như đang muốn liên hệ những nét giống nhau giữa cuộc đời của chính mình với nhà thơ Mỹ này. Ví dụ, ông viết rằng Whitman “lúc hai mươi tuổi, đọc rất nhiều sách Âu và Mỹ” (ai cũng biết Xuân Diệu là nhà Thơ mới chịu ảnh hưởng nhiều nhất của thơ Tây phương, nhất là thơ trường phái Biểu tượng của Pháp). Ông còn kể rằng, từ năm mười chín đến hai mươi hai tuổi, nhà thơ trẻ Whitman “làm một số bài buồn thảm và tiêu cực” (theo cách phân tích chính thống về bước chuyển hóa cách mạng của Xuân Diệu, văn nghiệp của ông bắt đầu từ những năm mười mấy, hai mươi tuổi với những bài thơ lãng mạn “buồn thảm” và “tiêu cực”). Bài báo viết tiếp rằng, trong những năm từ 1846 đến 1848, Whitman làm tổng biên tập báo Brooklyn Daily Eagle (tương tự như chức vụ thư ký tòa soạn báo Tiên Phong của Xuân Diệu từ năm 1945 đến 1946) trong thời gian Mỹ đang có chiến tranh với Mexico. Xuân Diệu viết trong bài báo rằng “từ lúc đó, một luồng gió cách mạng thổi vào trong các bài báo của ông. Và chính lúc ông đầy một tinh thần chống dùng nô lệ và đấu tranh cho lý tưởng dân chủ, là lúc ông thấy dồi dào hồn thơ trở lại”. Phải chăng “luồng gió cách mạng” này cũng tương tự như luồng gió đã thực sự thổi vào Xuân Diệu trong năm 1945, và góp phần hình thành những vần thơ cách mạng của ông?

Sau khi khai thác mọi chi tiết có thể để tạo cho Whitman căn cước của một người vô sản với tư tưởng tiến bộ, hàm ý nhà văn Mỹ vĩ đại này hội đủ điều kiện để đi theo đảng Tiên Phong nếu có được cơ hội, Xuân Diệu đi vào phần kết của bài luận dài. Đến đây, ông tự nhiên mất cảnh giác và dẫn một đoạn trong bài thơ cuối cùng của tập Lá Cỏ, bài “Chia tay”, không liên quan gì đến chủ đề cách mạng:

Bạn ơi, đây không phải là một quyển sách.
Ai cầm đến sách này là động đến một con người.
Có phải giữa đêm chăng?
Có phải chỉ có hai chúng ta mà thôi chăng?
Bạn cầm lấy tôi và tôi đang cầm lấy bạn.
Từ giữa những trang sách tôi vọt ra giữa vòng tay bạn ôm…
… Bạn thân hỡi, dù bạn là ai, bạn cũng nhận cái hôn này
Cái hôn tôi riêng tặng bạn,
Bạn đừng quên tôi…


Dù không ai biết chắc trăm phần trăm, nhưng có vẻ Xuân Diệu chọn những câu thơ này vì chúng gợi tả một tình cảm đồng tính và lãng mạn, nhất là với những người hiểu biết về đời tư của Whitman. Lời bình đầy cảm xúc của Xuân Diệu về bài thơ là bằng chứng rõ ràng cho cách suy luận nêu trên: “Đọc đến bài thơ này, tôi có thể nào không nhận thấy hơi thở của nhà thi sĩ còn tinh anh ở trong câu thơ? Tôi có thể đọc qua loa, hờ hững?” Ông còn viết thêm “Thơ viết hàng trăm năm trước, bây giờ vẫn còn tươi nguyên. Đó là mãnh lực của văn chương, của thơ”.[26]

Giai Phẩm Mùa Xuân 1956

Làm một trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cần phải có nhiều kỹ năng, vừa phải biết điều chỉnh ngòi bút, cây cọ vẽ, nét nhạc hay bài nghiên cứu so cho phù hợp với yêu cầu chính trị mới nhất do lãnh đạo đảng đưa ra, vừa phải đảm bảo chất lượng chuyên môn để không bị đồng nghiệp phê phán. Đồng thời, phải theo dõi những sự kiện lớn trong khối xã hội chủ nghĩa và lường trước được những ảnh hưởng đến chính trị trong nước. Và cuối cùng, ở mức độ cá nhân, một trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải biết duy trì quan hệ trên – dưới và biết nên kết bạn với ai (và cần phải gạt bỏ ai). Trong cuộc tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu đã để cho các nhà thơ trẻ Hoàng Cầm và Lê Đạt đăng các bài viết phê bình nặng nề Tố Hữu, quan chức văn hóa quyền lực nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Không biết ông có đồng tình hay không với quan điểm chỉ trích của họ, nhưng kể từ thời điểm đó, Xuân Diệu bị coi là có liên quan với hai người nổi loạn này. Trong suốt hai năm rưỡi sau đó, ông nhiều lần tìm cách để tách mình khỏi hai người đó. Như chúng ta sẽ thấy, để đạt mục đích nói trên, Xuân Diệu dùng những biện pháp càng ngày càng xấu xa, thậm chí đến mức gần như tự hủy diệt cá tính của mình.

Động thái đầu tiên là vào tháng Hai năm 1956, khi Hoàng Cầm và Lê Đạt cộng tác với bảy nhà văn khác cho ra đời một tuyển tập văn học, xuất bản riêng, có tiêu đề Giai Phẩm mùa Xuân 1956.[27] Dù có quan điểm chính trị riêng, về cơ bản tuyển tập vẫn đồng điệu với lãnh đạo đảng, thậm chí còn thể hiện nhiệt tình hưởng ứng chiến dịch cải cách ruộng đất – thiết nghĩ không cần nhắc lại rằng chỉ sáu tháng sau đó, chiến dịch cải cách ruộng đất này bắt đầu bị phê phán và các nhà trí thức bất bình phản đối gay gắt.[28] Hình như Giai Phẩm mùa Xuân 1956 ra đời nhằm hai mục tiêu chính. Thứ nhất là để chứng tỏ với lãnh đạo đảng rằng, nếu để cho các trí thức trẻ tự thân vận động, họ vẫn sẽ ủng hộ chương trình chính trị của Đảng Lao động Việt Nam một cách trung thành, và chính vì thế, họ đáng được tin tưởng nhiều hơn. Nói cách khác, đảng mất gì mà không cho tự do ngôn luận? Mục tiêu thứ hai là thể hiện cho lãnh đạo đảng và những thành viên khác của giới trí thức thấy có những sáng tác văn chương thực sự cách mạng hơn, hay hơn so với loại thơ “tiểu tư sản” của Tố Hữu. Cứ để tự do ngôn luận, chế độ sẽ dễ dàng phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ.

Không thấy rung động trước nỗ lực ve vãn cảm tình của mình theo cách này, lãnh đạo đảng lập tức ra lệnh tịch thu tuyển tập. Tuy nhiên, một điều quan trọng cần lưu ý là họ (lãnh đạo đảng) giải quyết vấn đề Giai Phẩm mùa Xuân 1956 hoàn toàn qua kênh quản lý văn hóa. Xem cả hai ấn phẩm nặng ký nhất của đảng, báo Nhân Dân và Học Tập – một tạp chí lý luận mới ra đời trước đó không lâu, không có một bài báo nào “đánh” ấn phẩm này. Chính vị quan chức văn hóa sắt đá Hoài Thanh đứng ra triệu tập cuộc họp các nhà văn để phê bình bài thơ “Nhất định thắng” của nhà thơ quân đội trẻ nóng tính Trần Dần đăng trong tập Giai Phẩm mùa Xuân 1956.[29] Có chân trong ban lãnh đạo Hội Văn nghệ, đương nhiên Xuân Diệu cũng phải phát biểu ý kiến về việc này, mà hình như ai cũng biết là có liên quan đến vấn đề tự do ngôn luận trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bài báo ông viết trên báo Văn nghệ không bao lâu sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 bị tịch thu là lời minh định rõ ràng, khó có thể hiểu khác đi được. Dưới tiêu đề “Vai trò lãnh đạo của Đảng”, bài báo thực chất là bản dịch rút gọn lời phát biểu của Nikolai Fadeyev – một quan chức văn học Liên Xô tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ hai mươi tổ chức vào tháng Hai năm 1956 “Đối với chúng ta, những nhà văn trong Đảng hay ngoài Đảng, khía cạnh quan trọng nhất của quan niệm chúng ta về một nền văn học tự do, tức là thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống và trong lĩnh vực văn học. Những nhà văn tư sản thì phụ thuộc vào các đảng tư sản, mà cầm đầu là bọn trùm của giới kỹ nghệ và tài chính, nhà văn phải phụ thuộc vào các nhà xuất bản của chúng, vào báo chí của chúng. Thuật ngữ ‘phi chính trị’ của các nhà văn tư sản chỉ là ảo tưởng”.[30]

Đợt công kích của Văn nghệ vào Giai Phẩm mùa Xuân 1956 sử dụng chiến thuật hai gọng kìm. Trước hết, Xuân Diệu biện luận rằng đảng không thể tha thứ cho hành động thách thức vị thế độc quyền của mình trong lĩnh vực văn hóa. Việc xuất bản riêng, không qua tổ chức đảng tức là Giai Phẩm mùa Xuân 1956 đã không chịu phục tùng yêu cầu bắt buộc về kiểm duyệt của chế độ. Một điềm xấu hơn nữa đối với những trí thức nhiều ưu tư về tình trạng chế độ ngày càng gia tăng kiểm soát, phần nội dung bài phát biểu được Xuân Diệu chọn dịch thừa nhận “vai trò lãnh đạo” của đảng không chỉ trong lĩnh vực văn học mà còn trong “tất cả mọi lĩnh vực của đời sống”. Hoài Thanh đảm nhận mũi tấn công thứ hai bằng bài viết in ngay sau bài của Xuân Diệu với nhan đề “Vạch tính chất phản động của bài thơ ‘Nhất định thắng’ của Trần Dần”[31]. Trong bài viết, Hoài Thanh dùng một loạt đòn bẩy tư tưởng và hùng biện để bẻ cong bài thơ yêu nước và đầy tính chiến đấu của Trần Dần thành “phản động” và nổi loạn.[32] Hơn một tháng rưỡi sau, một quan chức văn hóa cốt cán khác – Nguyễn Đình Thi, đột nhiên đào xới lại việc này, đăng liên tiếp trên hai số Văn nghệ ngày 19 và 27 tháng Tư năm 1956 bài viết dài hai phần với tiêu đề “Những sai lầm tư tưởng trong tập sách Giai Phẩm”.[33]
Ngay sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 được phát hành, Xuân Diệu đã có những bước dứt khoát để tách mình ra khỏi Trần Dần và Lê Đạt. Tuy nhiên, điều quan trọng ta cần lưu ý là bài viết của Xuân Diệu đánh Giai Phẩm không hề động chạm tới nội dung tuyển tập. Nếu lấy lời phê bình của Xuân Diệu đối với Việt Bắc làm thước đo, những bài thơ của Trần Dần, Lê Đạt và các tác giả khác trong tuyển tập Giai Phẩm mùa Xuân 1956 có lẽ đã được Xuân Diệu duyệt về chất lượng. Trong khi, theo con mắt của Xuân Diệu, Tố Hữu còn nhiều thiếu sót – như không thể hiện được một “Tố Hữu, con người bình thường” hay “gần như bỏ qua tình cảm cá nhân”, thật ra các tác giả trẻ của Giai Phẩm mùa Xuân 1956 đã thành công.[34] Có lẽ Xuân Diệu chọn cách dịch bài diễn văn mới của quan chức văn hóa Liên Xô phần nào để tránh công việc khó khăn là bới móc những nội dung nguy hiểm và phản động trong Giai Phẩm mùa Xuân 1956 – một tuyển tập thể hiện rõ ràng sự ủng hộ đối với Đảng Lao động Việt Nam và những mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất là khi Xuân Diệu quyết định sử dụng bài diễn văn của Fadeyev, các trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như được bật đèn xanh để khai thác các thông tin, văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20 làm dẫn chứng cho tính chính thống của quan điểm của mình đối với các sự kiện trong nước. Những người thấy thất vọng với Xuân Diệu khi ông công khai viện dẫn quyền lực của Fadeyev đã không thể ngờ được rằng chính chiến thuật khôn ngoan đó lại nổ ngược một cách ngoạn mục làm điêu đứng nhà thơ và các lãnh đạo bảo thủ khác của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là vì có một bài diễn văn “bí mật” khác, mà đến giờ ai cũng rõ, cũng được đọc ngay tại Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô – bản báo cáo nổi tiếng của Khrushchev lên án Stalin. Từ bài diễn văn đó, các nhà trí thức bất bình trong đội ngũ nhà văn có thể khai thác được không biết bao nhiêu lời biện hộ ở cấp cao nhất cho kế hoạch cải cách của họ – trên thực tế những thành viên Nhân văn – Giai phẩm sẽ coi Khrushchev như một ông thánh bảo hộ.

Quyết định chậm công bố bài của Khrushchev vạch mặt những tội ác của Stalin của Đảng Lao động Việt Nam đã làm cho chàng thi sĩ cả tin Xuân Diệu bị việt vị. Nếu được biết về bản báo cáo bí mật đó, chắc ông đã chọn cách khác để tấn công Giai Phẩm mùa Xuân 1956. Tuy nhiên, cũng phải thấy sự cân nhắc, lưỡng lự xem có nên công bố nội dung bản báo cáo của Khrushchev hay không từ phía các nhà lãnh đạo là có nguyên cớ, vì từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh đến các quan chức khác của Đảng Lao động Việt Nam đã mất rất nhiều công sức khuếch trương hình ảnh của Stalin ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[35] Họ sẽ phải giải thích thế nào về một ông Stalin khát máu, cố chấp, đôi khi bất tài đến mức làm hỏng việc như Khrushchev đã tả trong bản báo cáo bí mật? Giống như những nhà lãnh đạo khác trong khối xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cũng lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải lên tiếng về những điểm xấu của thói “sùng bái cá nhân”, vì ông rõ ràng đã khuyến khích xây dựng một vòng hào quang sùng bái quanh hình ảnh chính mình ở Việt Nam.[36] Hơn thế nữa, nội dung bản báo cáo của Khrushchev còn có vấn đề ở chỗ, phần dài nhất được tác giả dành để kể về những năm tháng chuẩn bị và giai đoạn chính của cuộc Đại Thanh trừng do Stalin tiến hành, từ năm 1934 đến 1938. Đối với Hồ Chí Minh, đây quả là một vấn đề khó khăn, vì những năm tháng đó cũng trùng với thời gian ông đang ở Moscow (tháng Bảy năm 1934 đến mùa xuân 1938).[37] Nếu đây là quá trình Stalin thể hiện bộ mặt xấu xa nhất và Hồ Chí Minh đang ở ngay tại Moscow trong suốt thời gian đó, thì tại sao ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Stalin lại (và vẫn đang) được mô tả như một ông thánh trong suốt mấy thập kỷ qua? Tại sao Hồ Chí Minh, lãnh tụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nikita Khrushchev, lãnh tụ mới của khối xã hội chủ nghĩa, lại đi đến những kết luận trái ngược đến như vậy về di sản của Stalin?

Những yếu tố nói trên giúp giải thích vì sao lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam chậm tiết lộ thông tin về bản báo cáo của Khrushchev về Stalin. Những bằng chứng từ hồi ký của nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng cho thấy, mãi tới tận ngày mồng Một tháng Tư năm 1956, tức là ba mươi tư ngày sau khi bản báo cáo được công bố, những trí thức cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới bắt đầu hiểu thuật ngữ “tệ sùng bái cá nhân” là để chỉ Stalin.[38] Ngày 24 tháng Tư năm 1956, Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết 9, với nội dung, theo tinh thần Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, kêu gọi các cấp ủy “đấu tranh chống tệ sùng bái cá nhân, tăng cường lãnh đạo tập thể, tích cực tham gia phê bình và tự phê bình”.[39] Đợt hóa giải ảnh hưởng của Stalin đã chính thức bắt đầu tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(còn tiếp)

________________________________________

[18] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 198-199.

[19] Tình yêu đồng tính của Whitman đã được người nghiên cứu và viết tiểu sử ông trình bày trong một bài phân tích thú vị. Xem Jeffrey Meyers, “Whitman’s Life” (Cuộc đời của Whitman), The Antioch Review, số 4 (Autumn 2005): 755-787.

[20] Muốn biết về ảnh hưởng của Whitman đối với các nhà văn Biểu tượng Pháp, xem P.M. Jones, “Whitman in France” (Whitman ở Pháp), Modern Language Review 10, số 1 (tháng 1/1915): 1-22. Về ảnh hưởng của Whitman đối với nhà văn Liên Xô nổi tiếng Vladimir Mayakovsky, xem Dale E. Peterson, “Mayakovsky and Whitman: The Icon and the Mosaic” (Mayakovsky và Whitman: Biểu tượng đơn icon và hình ghép mosaic), Slavic Review 28, số 3 (tháng 9/1969): 416-425. Nghiên cứu về Chokovsky vừa với vai trò dịch giả của thơ Whitman vừa làm chính trị, xem Rachel Polonsky, “Translating Whitman, Mistranslating Bal’mont” (Dịch Whitman, dịch nhầm Bal’mont), Slavonik and Eastern Europe Review 75, số 3 (tháng 7/1997):401-425. Trong bài viết thú vị này, Polonsky đã ghi nhận rằng “Whitman đã từng được Max Nordau nhắc đến trong nghiên cứu gây nhiều tiếng vang về căn bệnh mà ông cho là ‘bệnh đồi trụy’ Entartung [Sa đọa, 1892], trong đó Whitman bị miêu tả là ‘bụi đời và phóng đãng’ và xếp đồng hạng với Verlaine và Rimbaud và những kẻ giống như họ”.

[21] Polansky, “Translating Whitman”, 402-404.

[22] Jones, “Whitman in France”, 4. Tác giả ghi nhận ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu văn học suy đoán rằng các nhà thơ Pháp đã học thể thơ tự do của Whitman sau khi tác phẩm của nhà thơ Mỹ này được dịch lần đầu tiên và xuất hiện ở Pháp vào năm 1886, tức là một năm trước khi Pháp bắt đầu có lối làm thơ tự do.

[23] Chúng tôi chưa tìm được bất kỳ bằng chứng nào về việc một nhà báo Mỹ đến trụ sở Hội Văn hóa Cứu quốc. Có thể câu chuyện được dựng lên hoàn toàn (hoặc một phần nào) nhằm mục đích tuyên truyền, tạo ấn tượng cho công chúng Việt Nam rằng khi đó nhà báo nước ngoài đã nhìn nhận Hội là tiếng nói chính thức của văn hóa Việt Nam. Tại thời điểm cuối năm 1945, thực ra Hội Văn hóa Cứu quốc, dù khá quan trọng, cũng chỉ là một trong nhiều tiếng nói văn hóa ở Việt Nam.

[24] “Một bức thư của Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam trao tận tay cho các nhà văn hóa Hoa Kỳ”, Tiên Phong, số 2, tháng 12/1945, 5.

[25] Xuân Diệu, “Uýt-man: Nhà thi hào tiến bộ của nhân dân Mỹ”, Văn nghệ, số 102, 5/1/1956.

[26] Sđd

[27] Giai phẩm Mùa xuân 1956 (Hà Nội, NXB Minh Đức, tháng 2/1956). Các tác giả khác là Văn Cao, Trần Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Sáng và Tô Vũ.

[28] George Boudarel và Kim Ninh đều đi đến kết luận giống nhau. Xem Boudarel, Cent fleurs, 134-138 và “Intellectual Dissidence”, 159; và Kim Ninh, A World Transformed, 137. Chúng tôi dùng từ “về cơ bản” chứ không phải “hoàn toàn” vì tuyển tập có nhiều bài viết về nhân vật chính là người dẫn chuyện ở ngôi thứ nhất (chứ không phải là quần chúng). Lãnh đạo đảng đương nhiên không muốn các trí thức tiểu tư sản viết về bản thân mình. Để biết thêm một ý kiến phân tích mới lạ về hiện tượng này, xem Chương bảy của Nguyễn-võ Thu-hương The Ironies of Freedom. Kuriharu đưa ra ý kiến rằng bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần có những dòng “có thể hiểu như lời kêu gọi thống nhất đất nước bằng cách đưa quân đội tiến chiếm miền Nam”, điều trái ngược với chính sách công khai được Đảng Lao động Việt Nam công bố lúc bấy giờ là thống nhất bằng biện pháp hòa bình. Xem Kuriharu “Changes in the Literary Policy”, 168. Cảm giác của chúng tôi là ý kiến trên có vẻ mang tính suy đoán hơi quá, nhưng rất mong độc giả quan tâm tìm hiểu thêm (xem khổ thơ thứ bảy).

[29] Trần Dần là một trong những trí thức đầu tiên lên tiếng về chính sách văn nghệ gò bó của đảng. Việc bày tỏ ý kiến công khai về vấn đề trên là một nguyên nhân khiến ông bị quản chế hai lần (tháng 6/1955 và tháng 4/1956). Boudarel gọi ông là người châm ngòi cho phong trào trí thức bất đồng chính kiến ở miền Bắc. Xem Boudarel, Cent fleurs, 143.

[30] Xuân Diệu, “Vai trò lãnh đạo của Đảng”, Văn nghệ số 110, 1/3/1956.

[31] Hoài Thanh, “Vạch tính chất phản động của bài ‘Nhất định thắng’ của Trần Dần”, Văn nghệ, số 110, 1/3/1956.

[32] Một ví dụ là suy luận của ông này chụp mũ Trần Dần dùng hình ảnh mưa ở Hà Nội để vu khống miền Bắc. Một ví dụ nữa là suy luận (theo đường lối chính thống của đảng) rằng Trần Dần nói xấu miền Bắc khi thể hiện rằng đồng bào tự ý quyết định di cư vào Nam. Quan điểm chính thức của Đảng Lao động Việt Nam là, những người di cư là nạn nhân bị Mỹ, Diệm ép buộc phải đi.

[33] Nguyễn Đình Thi, “Những sai lầm về tư tưởng trong tập sách Giai Phẩm”, Văn nghệ, số 117 & 118, 19 và 27/4/1956.

[34] Xem các tác phẩm, ví dụ như, Lê Đạt, hai bài thơ “Làm thơ” và “Mới”; Trần Dần, thơ “Nhất định thắng”, Hoàng Cầm “Thơ qua đài phát thanh”; hay bài hát “Mưa Xuân” của Tử Phác và Văn Cao.

[35] Các nghiên cứu của Ilya V. Gaiduk và Christopher E. Goscha nhấn mạnh sự ngờ vực ban đầu của Stalin cho rằng Hồ Chí Minh thiên về chủ nghĩa dân tộc hơn là chủ nghĩa cộng sản và hậu quả của nó là sự khó khăn cho Đảng Cộng sản Đông Dương tái hòa nhập với phong trào cộng sản thế giới sau Chiến tranh Thế giới lần II. Tuy nhiên, có phải chính vì nguyên nhân này mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiệt tình lăng-xê Stalin hơn so với các quốc gia khác trong khối xã hội chủ nghĩa vẫn là giải thuyết cần nghiên cứu thêm. Xem Ilya V. Gaiduk Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1964 [Đối phó với Việt Nam: Chính sách của Liên Xô về xung đột ở Đông Dương, 1954-1964] (Standford: Stanford University Press, 2003); và Christopher E. Goscha “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the International Communist Movement (1945-1950) “Journal of Vietnamese Studies 1, số 1-2 (tháng 2-tháng 8/2006): 59-103 (Bài này đã được dịch và đăng trên talawas).

[36] Bằng chứng rõ nhất về sự đóng góp của Hồ Chí Minh vào việc xây dựng hình ảnh lý tưởng hóa chính  mình ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau cách mạng tháng Tám là tự viết tiểu sử bản thân tự thuật (dưới dạng tiểu sử thông thường – dùng bút danh Trần Dân Tiên).

[37] Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh-The missing years, 1919-1941 [Hồ Chí Minh - những năm tháng biệt tăm: 1919 – 1941] (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 2002).

[38] “Vì sao sùng bái cá nhân lại trái với tinh thần chủ nghĩa Mác-Lê nin?”, Nhân Dân, số 759, 1/4/1956.

[39] “Nghị quyết của hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam lần thứ 9 (mở rộng) (19-24/4/1956), Nhân Dân, số 785, 27/4/1956.


Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Wed 05 Aug 2015, 04:21

Trà Mi đã viết:
Shiroi đã viết:
Shiroi thắc mắc sao lại dùng chữ "quan chức" để chỉ các cán sự đang làm việc nhỉ ?  :lulan:
Phải chăng chính quyền hiện tại không phải là chế độ dân chủ mà là chế độ phong kiến thực dân trá hình ?  
  
Dạ, dân chủ nghĩa là ... chủ của dân :bitchitlin:
Đúng đúng, Trà Mi nói đúng đó :-bd
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1407
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Mon 31 Aug 2015, 16:00

Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 3)

Đông Hiến

Hóa giải ảnh hưởng của Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Những lời lên án mạnh mẽ đến mức gây sốc về tội ác của Stalin do Khrushchev phát biểu khiến những phần tử bất mãn trong đội ngũ trí thức ở Việt Nam phấn khởi. Nhiều người còn đang giận dữ về cách xử lý của lãnh đạo văn hóa đối với các giải thưởng văn học giai đoạn 1954 – 1955, mới công bố kết quả trên báo Văn nghệ số ra ngày 15 tháng Ba năm 1956. Gần như đúng tròn một năm sau vụ tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu lại rơi vào vị trí trung tâm của rắc rối. Vì chính quyết định trao giải nhì cho tập thơ cách mạng Ngôi sao của ông đã làm dấy lên làn sóng phản ứng mạnh mẽ nhất, với sự xuất hiện của ba bài phê bình trên tờ báo văn học tư nhân Trăm Hoa.[1]

Khi mọi chuyện đã qua, bây giờ nhìn lại mới thấy ba bài này quả thực là phát súng mở màn cho một trận chiến về công tác cách mạng của Xuân Diệu. Vấn đề cốt yếu vẫn là chất lượng những bài thơ cách mạng của ông. Liệu Ngôi sao, tập trung tất cả những sáng tác của nhà thơ trong mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng có so được với Thơ thơ và Gửi hương cho gió không? Nếu Ngôi sao quả là ưu việt hơn, điều đó có nghĩa là chính sách văn hóa của đảng và sự chỉ đạo của các quan chức văn hóa là hợp lý. Nếu không, có thể đã đến lúc phải cân nhắc những thay đổi lớn về chính sách và nhân sự. Trong hoàn cảnh bình thường, ba bài phê bình trên Trăm Hoa và tiếp theo là việc tờ báo phải đóng cửa vì phá sản sẽ đặt dấu chấm hết cho vụ việc này, và các trí thức bất mãn sẽ hướng mối quan tâm của mình sang những thứ khác.

Nhưng lời kêu gọi của Khrushchev đã mang lại những thay đổi lớn lao cho bầu không khí trí thức ở Hà Nội. Đối với những người đang bất mãn, nhà lãnh đạo Liên Xô này đã tạo cho họ ấn tượng rằng, nếu kiên trì bày tỏ những nỗi bất bình và đấu tranh cho những yêu cầu của mình, có thể mang lại những thay đổi. Đối với lãnh đạo đảng, yêu cầu phải hòa nhịp với những biến động thời sự về tư tưởng ở Moscow có thể buộc họ thấy rằng cần phải áp dụng một thái độ dung hòa hơn đối với những yêu cầu của đội ngũ trí thức, nhất là khi họ đang trong tầm quan sát của các đại sứ quán của khối xã hội chủ nghĩa đặt tại Hà Nội.

Bên cạnh đó, với một động thái chắc là có chủ ý đánh lạc hướng sự quan tâm dư luận khỏi vầng hào quang sùng bái cá nhân đã và đang tồn tại quanh Hồ Chí Minh, lãnh đạo đảng thận trọng đưa ra thuật ngữ “sùng bái cá nhân” sao cho nghe có vẻ như một cấp độ hơi nặng hơn của các căn bệnh cũ như “cá nhân chủ nghĩa”, “quan liêu”, “cửa quyền”. Đây là những thuật ngữ lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam thường dùng trong suốt mấy thập kỷ trước để phê bình những đảng viên không làm tốt công tác được giao.[2] Trên thực tế, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ về các lỗi lầm và căn bệnh (chính ông gọi như vậy) thường mắc này cho đội ngũ đảng viên trong cuốn sách Sửa đổi lề lối làm việc ông viết năm 1948.[3] Các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hẳn thấy nhẹ người khi biết rằng các trí thức bất mãn ban đầu chỉ dừng ở mức áp dụng thuật ngữ “sùng bái cá nhân” đối với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của mình trong lĩnh vực văn hóa. Chừng nào mà sự chỉ trích chỉ dừng lại trong giới hạn an toàn với những mối ưu tư nhỏ hẹp về công tác văn hóa, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam tỏ ra sẵn lòng để cho đội ngũ trí thức cạo gáy các lãnh đạo chuyên môn của mình.

Tất cả những điều đó là dấu hiệu xấu báo trước một thời kỳ sóng gió sắp đến với Xuân Diệu, khi những lời bàn sôi nổi về quá trình tham gia cách mạng của ông lan sang tới các trang báo Văn nghệ. Trên tờ báo này, quan chức văn hóa cao cấp Hoài Thanh, người đã tham gia ban giám khảo, buộc phải bảo vệ quyết định trao giải nhì cho Ngôi Sao với những lời khẳng định công khai về tác phẩm của Xuân Diệu:

“Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời. Và đã có lúc chúng ta tưởng như gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều. Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy. Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn, chân thành trong thơ Xuân Diệu.”[4]

Tuy dành phần lớn bài viết để khen ngợi những phần đúng đường lối của Ngôi Sao, chính Hoài Thanh đã công nhận những nhược điểm của tập thơ này. Tuy vậy, ông ta quy nguyên nhân cho quá khứ tiểu tư sản của Xuân Diệu, chứ không phải vì những giá trị và sự dẫn dắt tác giả mới tiếp nhận trong mười năm phục vụ cách mạng.[5]

Dù được sự tiếp ứng nói trên, tình hình vẫn ngày càng xấu đi cho Xuân Diệu. Một tuần sau bài viết của Hoài Thanh, Văn nghệ đăng một bài ngắn của nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Nguyễn Bính, lớn tiếng phản đối sự thiên vị của ban giám khảo dành cho Ngôi Sao và phủ nhận những lời bào chữa của Hoài Thanh, cho rằng đó chỉ là nỗ lực xoa dịu dư luận một cách vụng về:

“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi sao thực là nhiều và sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong anh em Văn nghệ, có những thắc mắc của bạn đọc. Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng, ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau. Nói chung, phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến. Tập thơ Ngôi sao lại đã xuất bản trước khi công bố giải thưởng. Ngay khi chưa biết nó được giải cũng đã nhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó. Sao không có một cuộc thăm dò dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiết lắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần chúng? Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tác phẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân tách của một số nhỏ người.

[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa của Hoài Thanh trong Văn nghệ số 122. Một vài anh em không bằng lòng ra mặt những bài phê bình tập Ngôi sao trên báo Trăm hoa, cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác như bài của Nguyễn Đình Thi phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của cái thói “lỗi người để túi trước, lỗi mình để túi sau?”[6]

Ngày 21 tháng Sáu năm 1956, Văn nghệ đăng tiếp bài viết thứ ba về Ngôi sao, của một nhà văn khác tên là Huy Phương.[7] Tác giả lập luận rằng, mặc dù thơ cách mạng của Xuân Diệu nói chung có biểu hiện một lòng thiết tha với dân tộc, nhân dân và cách mạng, nhưng tình cảm cao quý ấy chỉ hiện lên rất “yếu đuối” trong tập Ngôi sao. Huy Phương viết, “Nhưng những lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi sâu vào thực tế, được chất chiến đấu của thực tế tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết được những bài thơ thành công”. Tuy nhiên, Huy Phương viết tiếp, “nhưng những khi Xuân Diệu trở về với ‘hồn thơ’ của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.” Do vậy, tác giả kết luận trong bài, những vần thơ cách mạng hay nhất của Xuân Diệu là nhờ cảm hứng trong quá trình Xuân Diệu tham gia cải cách ruộng đất.[8]

Phần còn lại của bài viết là sự khai triển lập luận trên, khi tác giả cố chứng minh những điểm mạnh của thơ cách mạng Xuân Diệu là kết quả của quá trình học hỏi theo chỉ dẫn của đảng (nhất là những phần lấy cảm hứng từ cuộc đấu tranh thực sự của quần chúng lao động). Trái lại, tất cả những điểm yếu là kết quả của sự chệch hướng khi tác giả không theo sự dẫn dắt của đảng, để cái tôi cá nhân của quá khứ tư sản xen vào gây tác hại. Ngay cả những vần thơ tuyệt đẹp tả thiên nhiên đã góp phần mang lại sự nổi tiếng cho thơ lãng mạn Xuân Diệu (và Hoài Thanh đã gồng mình thuyết phục mọi người rằng trong Ngôi sao vẫn có những vần thơ như vậy) cũng không làm Huy Phương hài lòng: “…Xuân Diệu nhìn quanh mình chỉ thấy những màu sắc lung linh, óng ả của núi sông, mây gió, cờ sao… Anh ngợp đi trong những lạc thú về thị giác và vị giác, cuộc đời biến diễn trước mắt, anh thấy như một bữa tiệc ngon của mắt và mồm.”

Một trong những nội dung thú vị nhất của bài viết là những lời bàn của Huy Phương về cách Xuân Diệu tả chiến tranh. Hiển nhiên đây là phần khó đổi lỗi cho quá khứ tư sản của nhà thơ nhất trong cả tập Ngôi sao, vì đương nhiên những tập thơ lãng mạn nổi tiếng của Xuân Diệu Thơ thơ và Gửi hương cho gió không hề có chỗ cho bạo lực. Vậy phải giải thích những câu thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, Xuân Diệu viết:

Rượu mồi hôi, bánh xương tủy tim gan,
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn.




Óc đã vỡ máu lộn cùng xương tủy
Tay lìa chân, đầu rụng tiệc đau thương.


Tả người lính Việt Minh, Xuân Diệu viết:

Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê
Lấy máu tủy đổ ra đời bát ngát
Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt
Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng.
[9]

Điều khiến Huy Phương thấy khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại những máu huyết” này là “bệnh khoái cảm” (khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương tin là Xuân Diệu đã đạt được khi viết những dòng thơ đó. “Những câu như vậy, cái lối nhìn như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả”. Tình cảm, theo Huy Phương, là “một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế” và vì thế phải có một vị trí quan trọng trong thơ. “Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản”.[10] Huy Phương lập luận rằng, trong những vũng máu huyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không thể đến được với người đọc. Cùng với những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ này cho là Ngôi sao mắc phải, Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có khoái cảm trước cảnh bạo lực rùng rợn và quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản của nhà thơ.

(còn tiếp)
_____________________________________________________________
[1] Tiêu đề của tập thơ Ngôi sao gợi hình ảnh Đảng Lao động Việt Nam, với đảng kỳ có ngôi sao vàng trên nền đỏ. Nhưng cũng có thể tác giả muốn chuyển tải cảm nghĩ về đảng như một ngôi sao dẫn đường. Chúng tôi vẫn chưa tìm lại được tư liệu những số Trăm Hoa có đăng bài phê phán tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu. Hình như tác giả của các bài phê bình đó là nhà thơ Trần Lê Văn.

[2] Xã luận, “Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-Xô đã thành công rực rỡ”, Nhân Dân, số 726, 28/2/1956. Xem thêm bài “Đồng chí Trường Chinh trả lời phỏng vấn của phóng viên đài phát thanh Mạc-Tư-Khoa”, Nhân Dân số 733, 6/3/1956.

[3] X.Y.Z., Sửa Đổi Lề Lối Làm Việc (Hà Nội, Sự Thật, 1950).

[4] Hoài Thanh, “Một vài ý kiến về tập thơ ‘Ngôi sao’ của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 122, 24/5/1956.

[5] Sđd. So sánh những ý kiến đánh giá thơ lãng mạn Xuân Diệu trong bài này với tác phẩm Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 để thấy giọng văn Hoài Thanh đã thay đổi như thế nào.

[6] Nguyễn Bính, “Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình”, Văn nghệ, số 125, 14/6/1956.

[7] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21/6/1956.

[8] Một chi tiết thú vị đáng lưu ý là, đến tận tháng 6/1956, Huy Phương – một người sắp tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm vẫn có nhận xét tích cực về cải cách ruộng đất.

[9] Huy Phương, trong “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao”, dẫn bài “Xuân Việt Nam” và “Đêm Mười Chín” của Xuân Diệu.

[10] Sđd.


Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Tue 01 Sep 2015, 03:31

Trà Mi đã viết:
Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 3)

Đông Hiến

Hóa giải ảnh hưởng của Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
...


Vậy phải giải thích những câu thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, Xuân Diệu viết:

Rượu mồi hôi, bánh xương tủy tim gan,
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn.




Óc đã vỡ máu lộn cùng xương tủy
Tay lìa chân, đầu rụng tiệc đau thương.


Tả người lính Việt Minh, Xuân Diệu viết:

Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê
Lấy máu tủy đổ ra đời bát ngát
Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt
Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng.
[9]

Điều khiến Huy Phương thấy khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại những máu huyết” này là “bệnh khoái cảm” (khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương tin là Xuân Diệu đã đạt được khi viết những dòng thơ đó. “Những câu như vậy, cái lối nhìn như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả”. Tình cảm, theo Huy Phương, là “một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế” và vì thế phải có một vị trí quan trọng trong thơ. “Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản”.[10] Huy Phương lập luận rằng, trong những vũng máu huyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không thể đến được với người đọc. Cùng với những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ này cho là Ngôi sao mắc phải, Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có khoái cảm trước cảnh bạo lực rùng rợn và quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản của nhà thơ.

(còn tiếp)
_____________________________________________________________
....



Mấy câu thơ của Xuân Diệu sao mà kinh thế Trà Mi ơi, ai nhạy cảm đọc chắc xỉu luôn :ae_001:
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7574
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Tue 01 Sep 2015, 08:23

Shiroi đã viết:
Trà Mi đã viết:
Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 3)

Đông Hiến

Hóa giải ảnh hưởng của Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
...


Vậy phải giải thích những câu thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, Xuân Diệu viết:

Rượu mồi hôi, bánh xương tủy tim gan,
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn.




Óc đã vỡ máu lộn cùng xương tủy
Tay lìa chân, đầu rụng tiệc đau thương.


Tả người lính Việt Minh, Xuân Diệu viết:

Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê
Lấy máu tủy đổ ra đời bát ngát
Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt
Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng.
[9]

Điều khiến Huy Phương thấy khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại những máu huyết” này là “bệnh khoái cảm” (khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương tin là Xuân Diệu đã đạt được khi viết những dòng thơ đó. “Những câu như vậy, cái lối nhìn như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả”. Tình cảm, theo Huy Phương, là “một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế” và vì thế phải có một vị trí quan trọng trong thơ. “Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản”.[10] Huy Phương lập luận rằng, trong những vũng máu huyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không thể đến được với người đọc. Cùng với những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ này cho là Ngôi sao mắc phải, Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có khoái cảm trước cảnh bạo lực rùng rợn và quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản của nhà thơ.

(còn tiếp)
_____________________________________________________________
....


  
Mấy câu thơ của Xuân Diệu sao mà kinh thế Trà Mi ơi, ai nhạy cảm đọc chắc xỉu luôn  :ae_001:
 
Nhờ vậy mới được hạng nhì giải thưởng văn học 1954-1955 ở miền Bắc, chỉ đứng sau Tố Hữu, dĩ nhiên!  :cuoi2:

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1407
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Thu 17 Sep 2015, 13:12

Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 3)

Đông Hiến

Thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm: tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956

Suốt bốn tháng liền từ tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956, thời kỳ của phong trào Nhân văn – Giai phẩm, công tác kiểm soát báo chí của đảng trở nên dễ dãi hơn bao giờ hết trong suốt lịch sử của chế độ. Vì sao, mới ra lệnh tịch thu Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào tháng Hai, lãnh đạo đảng lại đột ngột chuyển hướng và cho phép tự do báo chí vào những tháng cuối năm 1956? Trước hết, vì nhu cầu viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc là rất cấp bách, khiến giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấy buộc phải hòa nhịp với những diễn biến chính trị tư tưởng ở hai nước đồng minh này. Ở Moscow, đó là phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin, ở Bắc Kinh, đó là chính sách Trăm Hoa. Một yếu tố bên ngoài nữa là cuộc nổi dậy Poznan ở Ba Lan vào tháng Sáu. Một chị thỉ của ban bí thư đảng ban hành tháng Tám nhận định: “Bọn tay sai của Mỹ – Diệm còn lại ở miền Bắc có thể lợi dụng những sai lầm và khó khăn tạm thời của ta để phá hoại ta. Vụ lộn xộn xảy ra ở Pôdơnan (Poznan) thuộc Ba Lan gần đây là một bài học cảnh giác lớn cho ta”.[11] Một yếu tố quan trọng của hoàn cảnh trong nước có tác động đến quyết định nhân nhượng đột ngột của đảng là dư chấn còn nóng hổi của chiến dịch cải cách ruộng đất đầy bạo lực, mới kết thúc vào tháng Sáu năm 1956. Những người được tiếp cận bản báo cáo bí mật của Khrushchev không thể không nhận thấy sự tương đồng giữa những sự kiện tiêu cực được nêu trong văn bản đó với những cái gọi là “sai lầm” trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (giết người không cần xét xử, tra tấn để cưỡng bức nhận tội hoặc tố cáo người khác, cùng với hàng loạt biểu hiện bất chấp nhân quyền trong chiến dịch).

Một biểu hiện của cảm giác lo lắng của giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này có thể thấy qua Chỉ thị 45 của ban bí thư Đảng Lao động Việt Nam, ban hành ngày 23 tháng Tám năm 1956: “Về tăng cường vận động quần chúng để đề phòng bọn phản động gây ra tình trạng cưỡng bức di cư vào Nam hay kích động gây hấn hoặc phá hoại.” Lúc đó đã hơn một năm sau ngày biên giới Nam Bắc khép lại, lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn e ngại nguy cơ di dân hàng loạt. Một phần khác của chỉ thị, chủ yếu nói về các cộng đồng Công giáo, viết rằng “trong số người có tư tưởng muốn đi Nam thì phần lớn là nông dân lao động, nhiều người được chia quả thực trong cải cách ruộng đất[12], có nơi cả cốt cán và cán bộ xóm cũng muốn đi”.[13] Nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng ghi trong nhật ký ngày 21 tháng Tám năm 1956 về tình hình lúc bấy giờ như sau: “Nông dân sau cải cách ruộng đất, đánh nhau vì tranh tháo nước, để cứu úng thủy. Có hiện tượng Diệm nó phát động một phong trào di cư mới. Mà lần này có thể cả quần chúng cơ bản đi”.[14]

Giai đoạn đầu của thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm có thể được đánh dấu bằng hội nghị do lãnh đạo Hội Văn nghệ triệu tập từ ngày mồng một đến ngày mười tám tháng Tám năm 1956. Hơn ba trăm trí thức đủ mọi thành phần đang làm việc ở Hà Nội đã tới dự hội nghị, nhiều người đã tận dụng ngọn gió “dân chủ” do Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô đưa đến (đến lúc đó đã được thể hiện trong Nghị quyết 9 Đảng Lao động Việt Nam) để bày tỏ những bức xúc bị dồn nén lại trong một thời gian dài.[15] Trong thời gian diễn ra hội nghị, cả Văn nghệ và Nhân Dân cùng đăng trích đoạn bài báo viết bằng tiếng Trung của Lục Định Nhất “Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nhà Đua Tiếng”, mở đường cho luồng gió dân chủ thứ hai đến từ Bắc Kinh.[16] Như chúng ta đều biết, trong vòng ba tháng sau hội nghị học tập nói trên, những trí thức cách mạng bất mãn ở Hà Nội rủ nhau lần lượt xuất bản bốn ấn phẩm mới: báo Nhân Văn và ba tạp chí văn hóa Đất Mới, Sáng Tạo và Nói Thật, đồng thời tái bản hai tờ báo Giai Phẩm và Trăm Hoa.[17]

Những bài vở trong các ấn phẩm này đề cập đến hàng loạt vấn đề và không dừng lại ở lĩnh vực văn nghệ: tự do, dân chủ, tham nhũng, bạo lực cách mạng, hóa giải ảnh hưởng của Stalin, cải cách tư pháp, chủ nghĩa Mác, nhân quyền, giá trị truyền thống và nhiều chủ đề bức thiết khác. Chung quy, phần lớn các chủ đề trên, bằng cách này hay cách khác, đều quy về vấn đề cơ bản nhất: tự do. Trên thực tế, hai từ “tự do” và “dân chủ” xuất hiện ít nhất 360 lần trong ba mươi trang của năm số báo Nhân Văn. Các báo chí tư nhân thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm kêu gọi lãnh đạo đảng tiến hành cải tổ nhiều lĩnh vực, tuân thủ các tiêu chuẩn mà đảng áp dụng cho mọi người khác, và công nhận rằng việc lý tưởng hóa Liên Xô như một thiên đường xã hội chủ nghĩa không một tỳ vết là không còn hợp thời nữa. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, dù các thành viên phong trào Nhân văn – Giai phẩm yêu cầu phải đánh giá lại hình ảnh của Liên Xô và của chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phù hợp thực tế hơn, điều này không hề dẫn tới yêu cầu tương tự về việc xem xét lại nhận định tiêu cực của chế độ miền Bắc đối với Cộng Hòa miền Nam Việt Nam hay đồng minh Hoa Kỳ.[18]
Trong thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm, có bảy bài báo về Xuân Diệu gây nhiều chú ý (ba bài trên báo chí của nhà nước và bốn bài trên báo tư nhân). Cả bảy bài báo đều tập trung vào quá trình tuyển tập thơ cách mạng của Xuân Diệu Ngôi sao được xét trao giải nhì của giải thưởng văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1954 – 1955, và chất lượng chung của tuyển tập này có xứng đáng hay không.

Phan Khôi


Có lẽ để bộc lộ rằng sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu đã trở thành một đề tài căng thẳng đến thế nào, bài báo đầu tiên trên ấn phẩm đầu tiên của thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm, Giai Phẩm Mùa Thu tập 1 dành hẳn một đoạn nói về nhà thơ. Bài báo của Phan Khôi nhan đề “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” có thể coi là bài luận nổi tiếng nhất trong suốt bốn tháng sôi động với rất nhiều tranh luận học thuật.[19] Khi Phan Khôi viết bài này năm 1956, ông đã 69 tuổi (hơn Hồ Chí Minh ba tuổi). Nhà trí thức lão thành khó tính và bộc trực này có uy tín cao trong văn giới, và đã tham gia nhiều công tác yêu nước, từng viết báo, dạy học và viết văn. Đã sống và làm báo ở tất cả ba trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, ông hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam không kém gì ai. Về quan hệ của ông với Xuân Diệu, Phan Khôi là người đã phát động và ủng hộ Phong trào Thơ mới từ đầu thập kỷ 1930. Ngoài những thành tích đáng nể về chuyên môn, Phan Khôi còn xuất thân từ một dòng họ hoàn hảo, có truyền thống ái quốc. Ông ngoại Phan Khôi là vị tướng huyền thoại Hoàng Diệu, người được giao trọng trách trấn thủ thành Hà Nội trước đợt tấn công của Pháp năm 1882. Khi tất cả mọi kế sách đều thất bại, theo lời kể lại, Hoàng Diệu đã tự vẫn để tỏ rõ trách nhiệm của bản thân với tư cách một viên tướng đã không thể làm tròn trọng trách giữ thành vốn đã hứa với đức vua và triều đình.[20]

Bài báo của Phan Khôi dài mười trang và gồm bốn phần. Trong phần mở đầu, nhà báo lão thành tuyên bố ông sẽ nói sự thật, với ngôn ngữ không úp mở để tất cả mọi người đều hiểu. (Việc tác giả thấy có nhu cầu tuyên bố điều này có thể gợi cho ta thấy, vào thời điểm đó ngôn ngữ Bôn-sê-vích đã trở nên rối rắm khó hiểu đến thế nào). Ông cũng thông báo rằng có một phe “đối lập” trong lĩnh vực văn nghệ, gồm nhiều trí thức ở gần như tất cả mọi cấp, mọi lĩnh vực, là những người không bằng lòng với các lãnh đạo văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[21] Phan Khôi dành phần hai của bài báo để nói về vấn đề tự do sáng tác, lập luận rằng thái độ nghi ngờ của lãnh đạo đảng đối với các văn nghệ sĩ cách mạng trẻ là không hợp tình hợp lý. Theo ước tính của Phan Khôi, những trí thức cách mạng đã làm vượt yêu cầu để chứng tỏ được lòng trung thành trong suốt tám năm kháng chiến. Phần thứ ba của bài báo ông phê phán sự thái quá trong cách xử lý của các lãnh đạo văn hóa đối với Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 và tác giả Trần Dần trong tháng Hai vừa qua.

Phần bốn và cũng là phần cuối cùng của bài báo là nơi bắt đầu có những rắc rối cho Xuân Diệu. Trong phần này, Phan Khôi kể lại kinh nghiệm bản thân trong thời gian làm thành viên ban giám khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955, xoáy sâu vào những lời bàn của ban giám khảo về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu:

“Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu?”[22]

Sau đó, Phan Khôi tả lại lúc ông chỉ ra một vài câu thơ không hẳn khó hiểu, nhưng “không đáng gọi là thơ”, ý muốn nói thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn. Ông kể rằng, đáp lại lời ông, “một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao?” Hình ảnh Xuân Diệu được tả trong bài báo của Phan Khôi là một người ích kỷ và cá nhân không khác gì ấn tượng chung về tính cách cũ nhà thơ trước khi tham gia cách mạng, điều này đã phủ nhận mạnh mẽ diễn ngôn chính thống rằng cách mạng đã hoán cải Xuân Diệu. Theo những thông tin Phan Khôi được biết, Xuân Diệu đã dùng quyền lực và ảnh hưởng từ nội bộ đảng để để cao tập thơ của mình: “Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào.”

Nhưng điều mà Phan Khôi thấy “quái đản” nhất về giải thưởng văn học nói trên là việc ba người trong ban giám khảo lại nộp tác phẩm dự giải:

“Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung Khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử cũng phải ‘hồi tị’, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không ‘hồi tị’: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ là trắng trợn vì thấy mọi cái ‘miệng’ đã bị ‘vú lấp’”.[23]

Để giải thích ý “vú lấp miệng” của mình, Phan Khôi tả lại một vụ rõ ràng là cố tình che giấu thông tin trong một cuộc họp đột xuất của ban giám khảo giải thưởng văn học 1954-1955 vào ngày 8 tháng Tám năn 1956. Trong buổi họp đó, ông được đọc biên bản thảo luận của ban giám khảo: “Tất cả những ý phản đối tập thơ Ngôi sao của tôi đều không được ghi vào biên bản. Tôi lập tức viết thư cho ông (Trường Chinh) tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam để kể rõ sự việc.”

Vì chính quyền đã không làm gì tiếp để giải quyết thắc mắc của ông Phan Khôi, giờ đây khi mọi việc sáng tỏ trên mặt báo, mọi người có thể suy luận là Trường Chinh và lãnh đạo đảng đã phớt lờ ý kiến của ông Phan Khôi. Có ba cách lựa chọn cho các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để giải quyết vấn đề này, tất cả đều không dễ dàng trong hoàn cảnh hiện tại. Một là, họ có thể tiếp tục làm ngơ trước lời yêu cầu xóa bỏ tham nhũng trong lĩnh vực văn hóa của Phan Khôi. Nhưng điều này có nguy cơ khiến họ bị đánh giá là không quan tâm đến tình trạng tham nhũng, và không theo đường lối của Khrushchev mới đưa ra về tăng cường dân chủ trong đảng và lãnh đạo tập thể (có nghĩa là phải lắng nghe ý kiến từ bên dưới). Hai là, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam có thể nghe theo đề nghị của Phan Khôi là tiến hành một số biện pháp kỷ luật đối với các lãnh đạo văn hóa. Nhưng làm như thế chẳng khác gì gửi một thông điệp cho các trí thức rằng họ có thể giữ vai trò cảnh sát đạo đức ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có chức năng giám sát chính quyền và buộc lãnh đạo đảng phải giải quyết những bất công mà trí thức phát hiện. Lựa chọn thứ ba là tránh phải giải quyết những yêu cầu của Phan Khôi là bằng cách làm thế nào đó để hạ uy tín của ông. Nhưng vì đảng đang cho phép tự do báo chí trở lại, chắc chắn một chiến dịch bôi nhọ nhà báo lão thành và nhiều uy tín này trên các cơ quan ngôn luận của đảng sẽ kéo theo những phản hồi từ những người ủng hộ Phan Khôi trên báo chí tư nhân. Điều này sẽ thu hút sự quan tâm rộng rãi hơn của quần chúng đối với Phan Khôi và các ấn phẩm tự do trong thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm.

Yến Lan


Khi đã xác định rằng không thể phớt lờ những yêu cầu công khai của Phan Khôi, lãnh đạo đảng thử nghiệm một giải pháp kết hợp cả hai lựa chọn còn lại, một mặt buộc ba quan chức văn hóa (Hoài Thanh, Nguyễn Tuân và Nguyễn Đình Thi) công bố bài tự phê bình, mặt khác bật đèn xanh cho đăng những bài viết hạ uy tín Phan Khôi. Bài đầu tiên của dạng này xuất hiện trên Văn nghệ số ra ngày 20 tháng Chín năm 1956, tập trung đả kích bài của Phan Khôi ở khía cạnh phê phán sai rằng lãnh đạo đảng đã phớt lờ một vụ gian lận hiển nhiên. Tác giả của nó là nhà thơ, nhà biên kịch 40 tuổi, Yến Lan, người đã ghi biên bản cuộc họp của ban giám khảo. Ông nhận rằng đó là quyết định cá nhân của một mình ông khi loại bỏ ý kiến của Phan Khôi về tập Ngôi sao của Xuân Diệu, chứ không phải là âm mưu chung của Ban như nhà báo Phan Khôi đã áp đặt: “Biên bản là để ghi lại những ý chính của cuộc họp. Những nhận xét đó (của ông Phan Khôi) đều lạc khỏi đề tài đang thảo luận, hoặc đưa ra trong lúc giải lao, giữa hai ba người với nhau (nhiều lúc tranh luận rất sôi nổi, đôi khi gay gắt nữa) và không được đưa vào biên bản vì thư ký lúc đó đang nghỉ giải lao”.

Tiếp theo, Yến Lan trả lời thắc mắc của Phan Khôi đối với việc ba người trong ban giám khảo (trong đó có Xuân Diệu) gửi tác phẩm và được trao giải:

“Ông [Phan Khôi] đã vạch ra ba ông Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu có tác phẩm dự thi mà cùng đều ở trong ban chấm thi từ lúc sơ khảo đến chung khảo. Cũng như những người khác, ông Phan Khôi có quyền nghi như thế sẽ có điều ám muộn, nhưng trên thế giới việc đó không có gì là quái, miễn là người ta phải làm việc đúng với nguyên tắc: những người ở ban chấm thi mà có tác phẩm dự giải thì không có quyền biểu quyết tác phẩm của mình. Nguyên tắc ấy ở đây xin chứng thực là luôn luôn được nhắc đến và làm đúng, còn ra có vị nể hay không thì không thuộc phạm vi bài này.”[24]

(còn tiếp)
_____________________________________________________________
[11] Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.

[12] “Quả thực” là thuật ngữ của đảng dùng để chỉ những tài sản tịch thu từ những người bị coi là kẻ thù giai cấp trong chiến dịch cải cách ruộng đất, đem chia cho những người nghèo để chứng tỏ rằng đảng quan tâm đến lợi ích của họ.

[13] “Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374.

[14] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng: Tập 3, Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội: Thanh Niên, 2006), 127.

[15] Chúng tôi dùng từ “dân chủ” theo nghĩa các lãnh đạo đảng thường gán cho từ này, tức là khi cấp trên lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới. Một ví dụ cụ thể, xem “Chỉ thị của thường vụ liên khu ủy IV, 1/10/1952” trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 13: 440-443.

[16] Báo Nhân Dân đưa tin về bài viết trong “Thư Bắc Kinh” của Lê Hao (Nhân Dân, số 884, 5/8/1956) nhưng mãi đến số ngày 30/9/1956 mới đăng bài dịch.

[17] Theo nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng và hồi ký của Tô Hoài, tổng biên tập báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính cho rằng tờ báo của mình độc lập với Nhân Văn và Giai Phẩm, khách quan và trung lập hơn. Dù ý định của ông là gì chăng nữa, tờ báo Trăm Hoa cũng chia sẻ rất nhiều suy tư mang tính nhân văn được nêu trong Nhân Văn và Giai Phẩm.

[18] Một ngoại lệ là ý kiến của Nguyễn Hữu Đang kêu gọi mọi người tôn trọng pháp chế tư bản hơn: “Chúng ta quá căm ghét pháp chế tư bản chủ nghĩa đến mức, ở nhiều người, nó đã biến thành nỗi căm ghét pháp chế nói chung”. Nguyễn Hữu Đang, “Cần phải chính quy hơn nữa”, Nhân Văn, số 4, 11/11/1956.

[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai phẩm Mùa thu tập 1 (Hà Nội; NXB Minh Đức, tháng 8/1956).

[20] Hoàng Diệu được chế độ mới tôn trọng đến mức tên ông được chọn đặt cho một trong số ít những con đường ở khu có nhiều biệt thự của lãnh đạo đảng tại thủ đô Hà Nội.

[21] Trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn cách mạng này ghi nhận Phan Khôi có lần đã nói với lãnh đạo đảng rằng họ là “mensheviks” (phe nhược tiểu, ngược với bolshevik), Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký tập 3: Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội, Thanh Niên, 2006), 128.

[22] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo”.

[23] Sđd. Ở Việt Nam, câu ngạn ngữ này được dùng để tả trường hợp một người ở thế mạnh hơn dùng quyền thế để ép người dưới dưới im tiếng.

[24] Yến Lan, “Một vài sự thật chung quanh ‘vụ giải thưởng văn học 1954-1955’”, Văn nghệ, số 139. 20/9/1956.


Về Đầu Trang Go down
Trà Mi

avatar

Tổng số bài gửi : 1407
Registration date : 01/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958    Wed 30 Sep 2015, 08:17

Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958 (phần 3)

Đông Hiến

Trần Công

Ngày 20 tháng Chín năm 1956 – ngày bài viết của Yến Lan được đăng trên Văn nghệ, cũng tình cờ là ngày mà nhà trí thức cách mạng bất mãn Nguyễn Hữu Đang, với sự cộng tác chủ yếu của Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Duy và Phan Khôi, khai trương số đầu tiên của báo Nhân Văn. Cũng như số đầu tiên của tập Giai Phẩm Mùa Thu xuất bản trước đó mấy tuần, tờ báo gai góc này ngay lập tức khai thác chủ đề giải thưởng văn học 1954 – 1955. Trong bài báo “Chống bè phái trong văn nghệ”, nhà văn trẻ Trần Công viết:

“Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, đại diện cho ban Chấp hành Hội, đều có trách nhiệm lớn đối với phong trào. Thế mà tác phẩm còn non kém của ba ông lại được giải. Nếu không phải tự mình bỏ phiếu cho mình thì cũng là bè cánh ta lại bỏ phiếu cho tác phẩm tồi của bè cánh ta (cũng nên chú ý đến Huy Cận có chân trong ban chấm giải, mà ai cũng biết Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một).”[25]

Trần Công còn lục lại việc cũ trong quá khứ, đưa ra một vấn đề hóc búa khác cho Xuân Diệu:

“Tập thơ Việt Bắc cũng là một tập thơ như muôn ngàn tập thơ khác, dù có hay chăng nữa thì cũng chỉ là một tập thơ. Nhưng nó có cái đặc biệt. Đặc biệt không phải ở thơ mà ở tác giả. Giá tập thơ Việt Bắc là của người khác thì phê bình cũng chẳng sao đâu, nhưng Việt Bắc lại là của Tố Hữu. Một loạt bài của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê Đạt làm một số cán bộ lãnh đạo [Hội] Văn nghệ ngạc nhiên, tức giận thậm chí có người nói ‘Địch nó không mong gì hơn chúng ta chê thơ Tố Hữu.’ ”[26]

Nguyễn Tuân

Một tuần sau đó, vào ngày 27 tháng Chín năm 1956, một bài báo khác xuất hiện trên tờ Văn nghệ với chủ ý đáp lại những thông tin mà Phan Khôi tiết lộ xung quanh việc chấm giải nhì cho tập thơ Ngôi sao đang gây tranh cãi. Bài báo là một bản tự phê bình công khai của nhà văn nổi tiếng thời Pháp thuộc, đương kim tổng thư ký Hội Văn nghệ, Nguyễn Tuân. Ông cũng tham gia ban giám khảo, cùng với Phan Khôi, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh và năm trí thức có uy tín khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[27] Trong bản tự phê, dưới nhan đề “Những suy nghĩ về giải thưởng văn học 1954-1955”, Nguyễn Tuân thừa nhận rằng ông không đồng tình với đề xuất trao giải nhì cho tập thơ Ngôi sao (theo ông, trao giải ba thì xứng đáng hơn).[28] Tuy nhiên, theo Nguyễn Tuân, vấn đề liên quan đến việc trao giải cho tập thơ Ngôi sao không phải chỉ ở chỗ tác phẩm đáng được giải nào: “Riêng tôi muốn tác giả Ngôi sao tự nhìn mình nghiêm khắc nhiều hơn nữa, và tôi nghĩ rằng các anh Hoài Thanh, Huy Cận đã tích cực bênh vực thơ Ngôi sao, có thể giúp đỡ nhiều cho tác giả thấy rõ vấn đề. Riêng phần tôi, trong việc Ngôi sao, tôi cũng thấy mình nể nang trước những ý kiến của Hoài Thanh đối với thơ Ngôi sao.”[29]

Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam


Trong số tiếp theo, ra một tuần sau đó (ngày mồng 4 tháng Mười năm 1956), báo Văn nghệ đăng tiếp một một bài tự phê thứ hai, liên quan đến vụ Ngôi sao của Xuân Diệu: “Thông báo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ.”[30] Trong bài, hội thừa nhận đã sai lầm trong việc xử lý vụ việc Trần Dần và bài thơ “Nhất định thắng”, cũng như thiếu sót trong việc tuyển chọn giải thưởng văn học 1954-1955:

“Lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, ít chú ý liên hệ với quần chúng. Như trong khi chấm giải, đã có nhiều ý kiến về tập thơ Ngôi sao, nhưng đa số ủy viên chưa thật chú ý lắng nghe.

…Cũng trong phiên họp trên của Ban chấm giải, đa số ủy viên nhận rằng tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu xếp giải nhì là quá cao, một số cho rằng xếp Ngôi sao vào giải ba thì đúng hơn.”[31]

Nguyễn Bính

Bài báo thứ sáu trong số bảy bài liên quan tới Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm, “Phải xem xét lại tất cả các giải thưởng văn học” do Nguyễn Bính chấp bút và đăng trên hai số liền của tờ Trăm Hoa (ra ngày 20 và 28 tháng Mười năm 1956).[32] Nguyễn Bính là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng, và cũng đã viết bài trên báo Văn nghệ bốn tháng trước đó, yêu cầu các lãnh đạo văn nghệ phải “nghiêm túc tự phê” vì đã trao giải nhì cho Ngôi sao trong đợt xét giải thưởng văn học 1954-1955. Khi đó, ông đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trăm Hoa, tờ báo đã đăng ba bài phê phán tập Ngôi sao sau ngày công bố giải thưởng văn học 1954-1955, ngày 15 tháng Ba năm 1956. Không lâu sau đó, tờ báo sập tiệm vì hết tiền.[33] Bản thân Nguyễn Bính cũng là một ngôi sao (tuy không rực rỡ bằng Xuân Diệu) của Phong trào Thơ mới.[34] Về hoạt động cách mạng, ông đã từng rời Hà Nội vào Nam từ năm 1944 để du ngoạn và kiếm sống, ở đó khi cuộc cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp tái xâm lược Việt Nam nổ ra, ông tiếp tục làm việc trên mặt trận văn chương cho Việt Minh. Khi chiến tranh sắp kết thúc năm 1954, ông tập kết ra Bắc cùng với hàng ngàn cán bộ Việt Minh khác và bắt đầu làm việc tại Nhà Xuất bản Văn nghệ. Chính vì ở cương vị này mà ông nắm vững được thông tin chi tiết về quá trình xuất bản tập thơ Ngôi sao.[35]

Bên cạnh các nội dung khác, Nguyễn Bính khai triển một vấn đề do Trần Công nêu ra trong bài viết trên báo Nhân Văn cách đó một tháng, về việc lạm dụng “yêu cầu cách mạng” làm mục tiêu biện minh cho mọi hành động, thực chất là để che giấu động cơ mưu lợi cá nhân. Theo hướng này, Nguyễn Bính lật lại câu nhận xét, lúc bấy giờ đã bị nhiều người chê bai, về cuộc tranh luận Việt Bắc: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Nguyễn Bính kết luận, thật là hổ thẹn khi “Ông Hoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu”. Theo Nguyễn Bính, nguyên nhân thực sự khiến Hoài Thanh bênh vực tập thơ Việt Bắc là quan hệ công tác giữa ông ta và tác giả tập thơ – Tố Hữu là thủ trưởng của Hoài Thanh. “Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung ủy, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng…”[36]

Những lời phê của Nguyễn Bính còn trở nên trực tiếp hơn, cá nhân hơn khi ông bàn tới mối liên hệ giữa giải thưởng văn học và tiền bản quyền khi xuất bản. Ông tiết lộ rằng trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duy nhất có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, “nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền bản quyền tác giả cao nhất. (Không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc việc này hay không?)” Ở đây cần phải lưu ý rằng cụm từ “kiểm tra đôn đốc” được sử dụng rất nhiều trong các văn kiện đảng. Cũng tương tự như lời bàn của ông về việc Hoài Thanh viện tới “địch” để bênh vực tập thơ của Tố Hữu, Nguyễn Bính nhại cụm từ “tủ” này một cách mỉa mai để đánh động sự chú ý của mọi người rằng các quan chức cao cấp có thể dễ dàng lợi dụng những thuật ngữ cách mạng rất văn hoa để đánh bóng và hợp lý hóa những hành động, thực ra, có thể đơn thuần chỉ là vụ lợi cá nhân.

Nguyễn Bính cũng bật mí những chi tiết xung quanh quá trình xuất bản tập thơ Ngôi sao. Theo ông, tất cả đội ngũ cán bộ của Nhà Xuất bản Văn nghệ, nơi ông làm việc, đã đánh giá là tập thơ rất tệ, vì vậy, nó bị bỏ xó ở một góc văn phòng suốt mấy tháng, mãi đến khi “cấp trên” liên tục nhắc nhở, buộc Nguyễn Bính và đồng nghiệp phải triệu tập một cuộc họp, chọn ra những bài “đỡ tệ” nhất trong bản thảo để gửi đến Nhà in Quốc gia. “Vì lẽ Thơ Xuân Diệu không có độc giả, Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1500 quyển”. Khi các thành viên của giới văn nghệ biết được tin Ngôi sao được giải nhì, “anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn văn nghệ như thế. Anh em lạ quá là vì anh em không thể ngờ rằng ban giáo khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy”. Để kết thúc bài viết, Nguyễn Bính bày tỏ những suy nghĩ như sau:

“Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cực bênh vực cho tập thơ Ngôi sao” (lời ông Nguyễn Tuân)? Ông Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhân Việt Nam, có phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hóa, nhưng trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ Nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông Huy Cận hay không?”[37]

Phạm Tường Hạnh

Bài báo cuối cùng trong thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm liên quan đến Xuân Diệu xuất hiện trên trang bìa của tờ Trăm Hoa số ba (ra ngày mồng 4 tháng Mười một năm 1956). Tác giả là Phạm Tường Hạnh, một nhà văn cách mạng trẻ từ miền Nam ra Bắc tập kết sau kháng chiến chống Pháp, đang làm việc cho chương trình Phát thanh Thanh niên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tác giả phản đối ý kiến của Nguyễn Tuân trong bài tự phê, cho rằng đa số những nhận xét tiêu cực về tập thơ Ngôi sao xuất phát từ ác cảm với Xuân Diệu ở một số thành phần trong đội ngũ trí thức. Ông viết: “Tôi tưởng vấn đề không phải thế. Có thể có số người nào đó không ưa tác giả Ngôi sao. Nhưng không đến nỗi họ “giận cá chém thớt” để tẩy chay tác phẩm của Xuân Diệu. Vả lại còn có nhiều người xưa nay chưa biết mặt mũi Xuân Diệu ra sao như anh em miền Nam tập kết chẳng hạn, cũng nhiều người không thích tập thơ Ngôi sao chút nào”.[38]


(còn tiếp)
_____________________________________________________________
[25] Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân Văn, số 1, 20/9/1956.

[26] Trần Công, “Chống bè phái”.

[27] Năm thành viên còn lại của ban giám khảo là Đặng Thai Mai, Thế Lữ, Trương Tửu, Hoàng Xuân Nhị và Nguyễn Huy Tưởng.

[28] Nguyễn Tuân, “Về giải thưởng Văn Học 1954-1955”, Văn nghệ, số 140, 27/9/1956.

[29] Sđd.

[30] “Thông cáo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam”, Văn nghệ, số 141, 4/10/1956.

[31] Sđd.

[32] Nguyễn Bính, “Cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”, Trăm Hoa, số 1 & 2, 20 và 28/10/1956.

[33] Nguyễn Bính đã miêu tả cách chế độ làm khó dễ cho báo chí tư nhân trong bài báo thú vị “Hoa lại nở”, Trăm Hoa, số 1, 20/10/1956.

[34] Không giống như Xuân Diệu và đa số các nhà thơ khác trong phong trào, Nguyễn Bính đã khai thác cảm hứng cho thơ mình từ ca dao, dân ca Việt Nam. Thơ của ông có xu hướng miêu tả những cảnh bình dị ở thôn quê Việt Nam theo phong cách lãng mạn.

[35] Nguyễn Bính, “Cần phải xem xét lại toàn bộ giải thưởng văn học”.

[36] Sđd.

[37] Sđd.

[38] Phạm Tường Hạnh, “Một vài ý kiến của bạn đọc về bài ‘Về vụ giải thưởng 1954-1955’ của Nguyễn Tuân”, Trăm Hoa, số 3, 4/11/1956.
Về Đầu Trang Go down
 
Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe – Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 – 1958
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 3 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-