Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Truyện nay - Ái Hoa by Ai Hoa Today at 22:22

ĐẦU CHIM TÌM CÁNH BƯỚM by Ma Nu Today at 22:03

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 18:43

Thơ PHẠM KHANG by VẾT CHÂN CỦA NGÀY Today at 17:22

Chúc mừng Sinh Nhật Cẩn Vũ by HPNguyenPhong Today at 17:00

THƠ VUI CẨN VŨ. by Cẩn Vũ Today at 10:20

Hơn 3.000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu by phambachieu Today at 09:32

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Today at 08:40

Anh đứng trông theo by vamcodonggiang Today at 05:43

Phân ưu by Phương Nguyên Today at 00:48

Họa Thơ 2016 và 2017 by mytutru Yesterday at 13:59

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Ai Hoa Yesterday at 08:33

Thẩn thơ tứ tuyệt by thanhsingle Thu 21 Sep 2017, 20:47

HOA GIEO TỨ TUYỆT by buixuanphuong09 Thu 21 Sep 2017, 15:29

Đường Thi by Thanh Vân Wed 20 Sep 2017, 22:18

Thẩn thơ Lục bát & Song thất lục bát by thanhsingle Wed 20 Sep 2017, 21:53

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Wed 20 Sep 2017, 17:53

Hồi ký 'Một Cơn Gió Bụi' của Trần Trọng Kim by Trà Mi Wed 20 Sep 2017, 14:07

Tấm lòng cụ Trần Trọng Kim với đất nước by Trà Mi Wed 20 Sep 2017, 13:40

Người Việt hợp tác với giặc Minh by Trà Mi Wed 20 Sep 2017, 13:35

Mạc Đăng Dung và triều đại nhà Mạc (1527-1592) by Trà Mi Wed 20 Sep 2017, 13:29

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Wed 20 Sep 2017, 13:10

DẤU CHÂN TRẦN THẾ by BachVanNhi Wed 20 Sep 2017, 09:50

Trung Bộ Kinh by mytutru Wed 20 Sep 2017, 08:42

LỀU THƠ NHẠC by Thiên Hùng Wed 20 Sep 2017, 00:20

Em là tất cả trong anh ... by Thiên Hùng Tue 19 Sep 2017, 21:51

Thơ thẩn _ Thẩn thơ by thanhsingle Tue 19 Sep 2017, 21:18

Phong Vô Ảnh by HPNguyenPhong Tue 19 Sep 2017, 17:25

Những việc cần làm trong phòng ngủ để hợp phong thủy by Min Đặng Tue 19 Sep 2017, 14:12

HỎI NHỎ BÔNG HỒNG NHỎ CHÚT THÔI by mytutru Tue 19 Sep 2017, 09:11

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 Tam Tạng Pháp Số

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1 ... 20 ... 37, 38, 39, 40  Next
Tác giảThông điệp
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Thu 25 Aug 2016, 23:21

Tam Tạng Pháp Số 370
 
NGŨ LUÂN TAM MUỘI
五輪三昧 (Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn)
 
Luân có nghĩa liên tục chuyển động và nghiền nát những gì trên đường đi của nó. Tiếng Phạn là Tam muội, tiếng Hoa là chánh định.
Người tu tập thiền định Tam muội, phải dũng mãnh tinh tấn, phá tan nghiệp quả mê mờ, lầm lạc, từ cạn đến sâu, từ phàm phu vào thánh vị, giống như ý nghĩa của bánh xe chuyển động trên đường.
Một, Địa luân Tam muội Địa (đất) có hai nghĩa:
1) Đứng yên một chỗ
2) Muôn vật đều phát sanh từ đất.
Người tu tập thiền định Tam muội, vẫn chưa chứng đến địa định, mà hiểu rất nhanh tướng thân, tâm đều không, thì nhập định một cách dễ dàng.
Định giữ tâm yên như đất bất động. Do chưa đến đất để sanh ra vô vàn công đức, cũng giống như khả năng của đất sanh ra muôn vật.
Đó gọi là địa luận Tam muội.
(Chưa đến địa định nghĩa là tu thiền ở trong dục giới, tuy thân chưa đến sơ thiền mà đã chứng được sơ thiền).
Hai, Thủy luân Tam muội Thủy (nước) có hai nghĩa:
1) Thấm nhuần để sanh trưởng,
2) Tính mềm mại Người tu tập thiền định Tam muội, ở trong địa luân, nếu chứng được thủy luân Tam muội thì phát ra vô số công đức của các thiền (định).
Nước đứng yên thấm nhuần vào tâm, căn lành tăng trưởng. Đó là nghĩa của thấm nhuần.
Vì chứng được định nên thân tâm mềm dẻo, chế phục được tính cao ngạo, ngã mạn. Tùy thuận theo thiện pháp. Đó là nghĩa mềm mại. Đó gọi là thủy luân Tam muội.
Ba, Phong luân Tam muội Phong (gió) có ba nghĩa:
1) Đi đây đó trong không gian không trở ngại
2) Lay động muôn vật
3) Hay phá hoại Người tu tập thiền định Tam muội, phát sanh trí huệ tương tự, là một phương tiện vô ngại, như gió bay đây đó trong không gian, không trở ngại gì. Đã được trí huệ vô ngại làm phương tiện, thì có thể thúc dục các căn lành xuất thế, công đức sanh trưởng, như sự lay động của gió đối với vạn vật.
Do trí huệ vô ngại này làm phương tiện nên có thể phá trừ tà kiến phiền não, giống như sự phá hoại của gió đối với vạn vật.
Đó gọi là phong luân Tam muội.
(Trí huệ tương tự là đối với trí huệ đã chứng được từ sơ quả trở lên, do chưa phải thật chứng, nên gọi là tương tự).
Bốn, Kim sa luân Tam muội Kim (vàng) là ví dụ như cái gì hoàn toàn chân thật. Sa (cát) là dụ không dính mắc. Người tu tập thiền định Tam muội, nếu phá trừ kiến hoặc và tư hoặc, phát sanh trí huệ thật sự, không nhiễm ô, không dính mắc, thì chứng được đạo quả. Nếu vị đó là Bồ tát thì có thể phá hết trần sa phiền não. Đó gọi là kim sa luân Tam muội. (Quả là sơ quả, nhị quả, tam quả)
Năm, Kim cang luân Tam muội Thể của kim cang rắn chắc, sử dụng rất có lợi ích, có thể nghiền nát các vật.
Cũng như vậy người tu tập thiền định Tam muội, không bị mê mờ, lầm lạc lấn át, hay dứt trừ tất cả kiết sử, thành A la hán.
Nếu là Bồ tát thì có thể phá vô minh hoặc chứng nhất thiết chủng trí.
Đó gọi là kim cang luân Tam muội. (Kiết sử là kiến, tư hoặc trong ba cõi)
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Mon 12 Sep 2016, 22:53

Tam Tạng Pháp Số 371
 
NGŨ NHÂN
五因 (Niết bàn kinh)
 
Một, Sanh nhân Sanh nhân tức là nghiệp hoặc Chúng sanh vì nghiệp hoặc mà sanh ra thân này, như cây cỏ nương nhờ nơi đất mà mọc lên, sống còn.
Hai, Hòa hợp nhân Giống như thiện pháp và thiện tâm hòa hợp nhau; pháp bất thiện và tâm bất thiện hòa hợp nhau; pháp vô ký và tâm vô ký hòa hợp nhau.
Ba, Trí nhân Giống như nhà có chống đỡ thì không nghiêng đỗ.
Núi, sông, cây cối nhờ có đại địa mới đứng vững được; bởi vậy tất cả chúng sanh đều nương bốn đại, phiền não mà trụ vững được.
Bốn, Tăng trưởng nhân Nhờ y phục, ăn uống... mà thân thể của chúng sanh có thể tăng trưởng được; giống như những hạt giống của cây cỏ bên ngoài, không bị lửa cháy, không bị chim ăn, thì cũng tăng trưởng; lại giống như vì có cha mẹ mà con mới được tăng trưởng.
Năm, Viễn nhân Như người nhờ sức trì niệm của thần chú, mà quỷ không làm tổn thương được, độc hại không trúng đến thân được. 
Nương dựa vào vua thì không có trộm cướp.
Như muốn có bơ thì dùng nước hòa vào sữa rồi quậy lên, sau thành bơ; như danh sắc là nhân xa của thức; tinh huyết của cha mẹ là cái nhân xa của chúng sanh.
 
NGŨ CHỦNG QUẢ
五種果 (Hiển dương thánh giáo luận)
 
Một, Dị thục quả Chúng sanh đời này làm nghiệp bất thiện, thì đời sau chịu cảnh quả ác. Nếu làm nghiệp lành hữu lậu, thì đời sau chịu cảnh quả lành.
Vì đến đời khác quả mới chín, nên gọi là dị thục quả.
Hai, Đẳng lưu quả Đẳng tức là ngang nhau. Lưu tức là lưu lại: cùng một thứ, cùng một loài.
Vì chúng sanh làm điều bất thiện, ưa ở chỗ bất thiện thì bị nghiệp bất thiện chuyển biến nhiều.
Lê Hồng Sơn dịch 372
Nếu làm pháp lành, ưa ở chỗ pháp lành, thì pháp lành tăng trưởng.
Quả theo nghiệp biến đổi, nghiệp và quả giống nhau.
Đó gọi là đẳng lưu quả.
Ba, Ly hệ quả Ly hệ là xa lìa sự trói buộc.
Nhờ tu bát chánh đạo, chúng sanh xa lìa phiền não, không chịu quả báo.
Đó gọi là ly hệ quả.
Bốn, Sĩ dụng quả Sĩ dụng: những công việc người sĩ phu dùng đến.
Đối với các nghề nghiệp ở thế gian, tùy theo từng loại, người ta dùng đến như kinh doanh, nghề nông, buôn bán,... mỗi thức có công việc khác nhau.
Đó gọi là sĩ dụng quả.
Năm, Tăng thượng quả Tăng thượng là căn thân có sức vượt trội hơn lên.
Như nhãn căn tuy có thấy cảnh nếu không có nhãn thức duyên cảnh thì không có sức chiếu soi, khi căn và thức hòa hợp thì làm nên kết quả mọi việc.
Các căn và thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng do hòa hợp chiếu soi cảnh mà các sự việc được làm nên; vì thế các căn đều có sức vượt trội hơn lên.

Đó gọi là tăng thượng quả
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Mon 12 Sep 2016, 22:56

Tam Tạng Pháp Số 372
 
HIỆN TẠI NGŨ QUẢ
 現在五果 (Hoa nghiêm kinh sớ Tùy diễn nghiễn sao)
 
Lấy 12 nhân duyên chia ra nhân, quả ba đời. 
1) Vô minh và hành là nhân quá khứ. 
2) Ái, thủ, hữu là nhân hiện tại 
3) Sanh, lão, tử là quả vị lai 
4) Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là thân năm ấm hiện tại; nên gọi là năm quả ở hiện tại.
Một, Thức Thức là vừa vào thai, A lại da hiện hành là hạt giống của thức, vì do vô minh ở quá khứ làm nhân, nên thức này cùng với cha, mẹ thành ba duyên hòa hợp, mà có được sắc thân lớn dần. Đó là quả hiện tại ở trong thai.
Hai, Danh sắc Sắc tức là Yết la lam: 
Tinh cha, huyết mẹ vừa ngưng tụ được bảy ngày đầu, các căn chưa thành; chỉ là một khối thịt hình tròn năm uẩn. Đó gọi là hiện tại ở trong thai.
(Tiếng Phạn là Yết la lam, tiếng Hoa là ngưng hoạt: một khối nhờn tụ lại).
Ba, Lục nhập Lục nhập tức là sáu căn. 
Sau hai tám ngày sáu căn từ từ đầy đủ.
sáu căn này hay thu sáu trần vào, nên gọi là nhập. 
Đó là hiện tại ở trong thai.
Bốn, Xúc sáu căn thành tựu, đủ mười tháng ra khỏi thai.
Thân căn tiếp xúc với gió biết nóng, lạnh nên gọi là xúc. 
Đó là quả hiện tại ra khỏi thai.
Năm, Thọ Sau khi ra khỏi thai, các căn thu nhận cảnh tốt, xấu; nên gọi là thọ. Đó là quả hiện tại ra khỏi thai.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Mon 12 Sep 2016, 23:08

Tam Tạng Pháp Số 373
 
GIẢI THOÁT HỮU NGŨ NGHĨA
有五義 (Hoa nghiêm kinh sớ Tùy diễn nghĩa sao)
 
Một, Sanh tử bất năng phược Sanh, tử là tướng bắt đầu, tiêu diệt của năm ấm. Chúng sanh bị sanh tử trói buộc. Bồ tát không bị sanh tử trói buộc; nên gọi là sanh tử không thể trói buột.
Hai, Cảnh tướng bất năng phược.
Cảnh tướng tức là tất cả tướng của cảnh giới. Bồ tát lìa xa phàm tục, tuy thấy tất cả cảnh giới, mà không sanh chấp trước; nên gọi là cảnh giới không thể trói buộc.
Ba, Hiện hoặc bất năng phược. Hiện hoặc là kiến thức phân biệt hiện giờ. Cảnh Bồ tát đã thấy, không hề đắm nhiễm mà tâm năng kiến cũng không thấy; nên gọi là hiện hoặc không thể trói buộc.
Bốn, Hữu bất năng phược Hữu tức là tất cả các pháp hữu vi, đều là tướng được thấy; Bồ tát xa lìa phàm tục, nhận rõ tướng được thấy đều không, nên không đắm nhiễm nên gọi là hữu bất năng phược.
Năm, Hoặc bất năng phược Hoặc tức là vô minh phiền não. Bồ tát thấu đạt hết vọng tức là chân, vô minh tức là Bồ đề, không đắm nhiễm không phải không đắm nhiễm; nên gọi là hoặc bất năng nhược.
 
HIỀN THỦ NGŨ GIÁO
賢首五教 (Hoa nghiêm kinh sớ)
 
Quốc sư Hiền thủ, đời Đường, thời Tắc thiên, giảng kinh Hoa nghiêm ở trong cung vua, cảm động mây năm sắc ngưng tụ trên không trung, hoa đẹp bốn màu rơi xuống đất.
Nhân đó vua ban cho ngàu hiệu là Hiền thủ.
Ngài lấy giáo pháp Đức Phật đã nói, có cạn, sâu khác nhau mà lập ra năm loại giáo. 
Lấy kinh Hoa nghiêm là kinh xứng tánh của Phật, đem ra tuyên dương tánh viên dung của pháp giới, gọi đó là Viên giáo Nhất thừa; những kinh, luật, luận còn lại thuộc về bốn giáo là tiểu, thủy, chung, đốn gọi là Hiền thủ ngũ giáo. 
Một, Tiểu giáo Giáo này chỉ nói nhân không, không hiểu rõ pháp không; dù có đề cập một ít pháp không, cũng không được rõ ràng. Chỉ nương sáu thức, ba độc để lập ra căn bản của nhiễm và tịnh, chưa rốt ráo uyên nguyên của pháp; chỉ bàn luận về Tiểu thừa, nên gọi là tiểu giáo.
Hai, Thỉ giáo, cũng gọi là phần giáo Giáo này chưa đến tận cùng lý về vạn pháp của Đại thừa, nên gọi là thỉ; không đề cập đến định tánh của Thinh văn và vô tánh của Xiển đề thành Phật, nên cũng gọi là phần (một phần, không phải toàn thể) Trong giáo này, nói rộng về pháp tướng, nói ít về pháp tánh, xác
Lê Hồng Sơn dịch 374 định rõ ràng.
Đó là bắt đầu của Đại thừa nên gọi là thỉ giáo.
(Định tánh Thinh văn là quyết định không ưa Đại thừa)
Ba, Chung giáo, cũng gọi là thật giáo Giáo này đề cập đến định tánh Thinh văn và vô tánh Xiển đề, đều sẽ thành Phật.
Nhờ vậy mới đến được cùng cực của giáo lý Đại thừa, nên gọi là chung (cuối cùng) Giáo này đúng với thật lý, nên cũng gọi là thật; nội dung ít nói về pháp tướng mà nói nhiều về pháp tánh.
Tuy có nói pháp tướng cũng trở về với tánh.
Đó là rốt ráo của Đại thừa; nên gọi là chung giáo.
Bốn, Đốn giáo Giáo này xác định rõ: một niệm không sanh, liền gọi là Phật.
Không nương ngôi vị, thứ tự lần lượt mà nói, nên gọi là đốn.
Trong giáo này không nói pháp tướng, chỉ nói rõ chân tánh.
Tất cả sở hữu đều là vọng tưởng; tất cả pháp giới, chỉ là vô ngôn, nên gọi là đốn giáo.
Năm, Viên giáo Nội dung của giáo này, chỉ là nói về pháp giới vô tận, tánh hải viên dung, duyên khởi vô ngại, tướng tướng hỗ tương, như lưới báu vua Đế thích, trùng trùng vô tận.
Một hạt trong lưới báu chiếu sáng tức là tất cả hạt khác đều có; tức là trong một có tất cả và trong tất cả có một; nên viên mãn Thập tín thì liền thành chánh giác, gọi là Viên giáo.

(Lưới báu vua Đế thích là trước điện Đế thích có tấm lưới với hàng ngàn hạt châu, ánh sáng chiếu vào các hạt châu thì nó giao thoa nhau một cách tự nhiên không trở ngại) 
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Mon 12 Sep 2016, 23:16

Tam Tạng Pháp Số 374
 
HUỆ QUAN NGŨ GIÁO
慧觀五教 (Hoa nghiêm kinh sớ tịnh diễn nghĩa sao)
 
Rằm tháng giêng, ở chùa Đạo tràng, thầy Huệ quan, lấy giáo lý đức Phật nói trong một đời, trình bày sự giáo hóa ấy của Phật theo thứ tự, và lập nên năm loại giáo sau đây. Đó là năm giáo của Huệ quan.
Một, hữu tướng giáo Phật, 12 năm đầu, chế định các giới luật, đều là pháp thật hữu của nhân quả, Tiểu thừa nương nơi đây tu hành mà chứng đạo.
Đó gọi là hữu tướng giáo.
(12 năm đầu nói các kinh A hàm)
Hai, Vô tướng giáo Sau khi Phật nói bốn kinh A hàm, thì liền nói pháp muôn Bát nhã không huệ, không có các tướng. Tiểu thừa hiểu được tính không thì chứng đạo. Đó là vô tướng giáo.
Ba, Ức dương giáo Phật nói kinh Tịnh danh và kinh Tư ích khuất phục quả Thinh văn của Tiểu thừa và khen ngợi Bồ tát Đại thừa. Đó gọi là ức dương giáo.
Bốn, Đồng qui giáo Sau khi Phật nói kinh Bát nhã và trước khi nói kinh Niết bàn, thì Phật nói kinh Pháp hoa, để tập trung ba thừa về một thừa. Làm muôn ngàn điều thiện đều hướng về Bồ đề.
 Đó gọi là đồng qui giáo.
Năm, Thường trụ giáo Phật nói kinh Niết bàn để chúng sanh biết rõ rằng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhất Xiển đề cũng thành Phật, rộng nói Phật tánh, giảng sâu viên thường. Đó gọi là thường trụ giáo. 


Được sửa bởi mytutru ngày Mon 12 Sep 2016, 23:23; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Mon 12 Sep 2016, 23:21

Tam Tạng Pháp Số 375

BA PHA NGŨ GIÁO
波頗五教 (Hoa nghiêm kinh sớ)
 
Tiếng Phạn là ba pha, nói đủ là ba pha mật đa; tiếng Hoa là Minh chi, là vị Sa môn tên Tràm tạng ở trung Ấn độ, vào năm Trinh quán, đời Đường, ở chùa Đại hưng thiện dịch kinh Tinh Đà la ni.
Ngài lấy thánh giáo đức Phật đã nói, theo ý nghĩa cạn sâu không giống nhau, nhằm giúp cho chúng sanh tu hành có thứ lớp, mà lập thành năm giáo; nên gọi là ba pha ngũ giáo.
Một, Tứ đế giáo Trong kinh A hàm, Phật nói pháp Tứ đế: khổ, tập, diệt, đạo để bậc Thinh văn tu pháp này mà ngộ được Niết bàn chân không.
Đó là Tứ đế giáo.
Hai, Vô tướng giáo Trong kinh Bát nhã, Phật nói pháp môn không huệ, cái không của các pháp có tướng để bậc Nhị thừa ngộ pháp không của Đại thừa.
Đó là vô tướng giáo.
Ba, Quán hạnh giáo Trong kinh Hoa nghiêm, Phật nói pháp môn quán hạnh, trình bày thứ lớp các lý tu nhân, chứng quả, để cho chúng sanh quán sát theo đó mà tu hành. Đó là quán hạnh giáo.
Bốn, An lạc giáo Trong kinh Niết bàn, Phật nói bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh và lý thường trụ tịch diệt, để cho chúng sanh được an vui lớn. Đó là an lạc giáo.
Năm, Thủ hộ giáo Trong kinh Đại tập, Phật nói về việc giữ và bảo vệ chánh pháp, để cho chúng sanh giữ gìn, không để mất đi. Đó là thủ hộ giáo.
 
LƯU CẦU NGŨ GIÁO
劉虬五教 (Hoa nghiêm kinh sớ)
 
Thời đại nhà Tề có ẩn sĩ Lưu cầu lấy thánh giáo một đời đức Phật nói, từ lúc thành đạo đến Niết bàn, chia ra theo thứ tự tiệm đốn, cạn sâu để lập thành năm giáo, nên gọi là Lưu cầu năm giáo.
Một, Nhân thiên giáo Phật mới thành đạo, trước vì trưởng giả Đề vi nói ngũ giới và thập thiện để tu thành người và trời; đó là các pháp nhân duyên, quả báo.
Ấy gọi là nhân, thiên giáo.
Hai, Hữu tướng giáo Phật nói kinh A hàm, chế tác giới luật đều là pháp thật hữu nhân quả.
Người Tiểu thừa tu tập theo nội dung này thì chứng được đạo quả.
Đó là hữu tướng giáo.
Ba, Vô tướng giáo Sau khi nói bốn kinh A hàm, Phật nói kinh Bát nhã, giới thiệu pháp môn không huệ, không các hữu tướng, để cho bậc Tiểu thừa rõ được nghĩa không mà đắc đạo. Đó là vô tướng giáo.
Bốn, Đồng qui giáo Lê Hồng Sơn dịch 376 Phật nói kinh Pháp hoa để đem ba thừa về một thừa, tu muôn vàn điều thiện đều hướng về Bồ đề.
Đó là đồng qui giáo.
Năm, thường trụ giáo Phật nói kinh Niết bàn, nói rõ tất cả chúng sanh đều có tánh Phật, đến nhất Xiển đề đều thành Phật, rộng bàn về Phật tánh.
Đó là thường trụ giáo.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Fri 23 Sep 2016, 21:19

Tam Tạng Pháp Số 376
 
BẤT PHÂN GIÁO NGŨ Ý
不分教五意 (Hoa nghiêm kinh sớ)
 
Năm ý không thể phân chia giáo lý của đức Phật được.
Vào đời Đường, quốc sư Thanh nguyên nói rằng suy cho cùng giáo lý của Phật, có năm lý do, không thể phân chia được.
Một, Lý bổn nhất vị thù đồ đồng qui.
Những giáo pháp Phật đã nói ra, lý vốn không hai, tùy theo căn cơ của chúng sanh mà giải thích khác nhau, nên có nhiều đường.
Kiến thức, căn cơ tuy khác nhau, nhưng cuối cùng đều trở về một sự thật, nên không thể phân chia.
Hai, Nhất âm phổ ứng nhất vũ phổ tư.
Phật dùng một âm thanh nói pháp, rộng khắp, bình đẳng, căn cơ lớn nhỏ đều được lợi ích.
Giống như cây cỏ mọc ở mặt đất được thấm nhuần, nên không thể phân chia.
Ba, Nguyên Phật bổn ý vi nhất sự cố.
Phật chỉ có một nhân duyên lớn xuất hiện ở đời: dạy dỗ, chỉ bảo cho chúng sanh đều được thành Phật.
Kinh Pháp hoa nói: chín bộ pháp này của ta là tùy thuận chúng sanh mà nói, để thể nhập vào Đại thừa là điều cốt yếu.
Ý của Phật là như thế, nên không thể phân chia giáo lý ra được.
(chín bộ là Kế kinh, Trùng tụng, Phúng tụng, Nhân duyên, Bổn sự, Bổn sanh, Hy hữu, Thí dụ, Luân nghị) 
Bốn, Tùy nhất nhất văn chúng giải bất đồng Ví như, khi Phật nói về pháp vô thường; hoặc cho sanh, diệt là vô thường; hoặc cho không sanh, không diệt là vô thường; Pháp chỉ có một, mà tùy căn cơ giải thích khác nhau, nên gọi là không thể phân chia.
Năm, Đa chủng thuyết pháp thành chi lưu cố.
Lúc pháp của Phật sắp bị tiêu diệt, có rất nhiều dị giáo ra đời, sợ vị duy nhất của giáo pháp bị xen tạp, thành ra chi phái khác nhau, nên không thể phân chia. 
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Fri 23 Sep 2016, 21:31

Tam Tạng Pháp Số 377
 
ĐẠI THỪA NGŨ VỊ
大乘五位 (Hoa nghiêm kinh Tùy sớ diễn nghĩa sao)

Một, Tư lương vị. Các vị Bồ tát Thập trụ, Thập hạnh, 
Thập hồi hướng lấy phước đức, trí huệ làm tư lương trên đường đạo, 
nên gọi là tư lương vị. 
Hai, Gia hạnh vị.
Các vị Bồ tát tứ gia hạnh, do có tư lương phước đức, 
thêm vào công phu tu hành mà vào được kiến đạo, ở nơi tánh chân như.
Đó gọi là gia hạnh vị (Tứ gia hạnh là noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất.
Kiến đạo tức là Bồ tát ở ngôi vị hoan hỉ địa)
Ba, Thông đạt vị, cũng gọi là kiến đạo vị.
Bồ tát sơ địa thể hội chân như, trí huệ chiếu soi vào lý tánh,
thấy được trung đạo, nên gọi là thông đạt vị.
(Sơ địa tức là hoan hỉ địa)
Bốn, Tu tập vị.
Bồ tát từ địa thứ hai đến địa thứ mười thì đã chứng được kiến đạo,
dứt trừ chướng ngại và lại tu tập căn bản trí, nên gọi là tu tập vị
(Căn bản trí là Bồ tát thân chứng được trí vốn có của mình).
Năm, Cứu cánh vị.
Diệu giác là quả vị Phật chứng, thanh tịnh hoàn toàn, 
không có gì trên nữa; nên gọi là cứu cánh vị.
(Diệu giác là tự giác, giá tha, giác hạnh viên mãn, không thể nghĩ bàn)


BỒ TÁT HỮU NGŨ CHỦNG SANH
菩薩有五種生 (Địa trì kinh)
 
Một, Khổ sanh.
Bồ tát bằng nguyện lực và sức tự tại ở trong đời đói khát,
con cá lớn để lấy thịt của nó cứu giúp tất cả chúng sanh;
ở trong đời tật bệnh, làm thầy thuốc giỏi để chữa trị cho chúng sanh;
ở trong đời, đao binh, 
làm vị chúa tể có sức mạnh nhất để làm phương tiện tốt nhất, nói lời thành tín,
cứu giúp tất cả bằng tâm bình đẳng để chấm dứt chiến tranh;
ở trong xứ dân chúng mất tự do, bị cai trị giả man, bức bách,
vì muốn chấm dứt buồn khổ ấy nên sanh vào vương gia,
dùng Chánh pháp dạy dỗ chúng sanh tà kiến;
ở trong gia đình làm những điều sai trái thờ cúng thiên thần tạo vật,
thì cũng sanh vào nơi đó để chấm dứt tà kiến và ác nghiệp của họ.
Bồ tát sanh vào vô lượng nơi như thế nên gọi là khổ sanh.
Hai, Tùy loại sanh Bồ tát bằng sức tự tại và nguyện lực sanh vào trong các loài trời, 
rồng, quỷ, thần, A tu la, tà kiến ngoại đạo…
và làm người đứng đầu hướng dẫn những loài ấy vào chánh pháp 
và dùng pháp lành vì họ thuyết giảng. Đó là tùy loại sanh.
Ba, Thắng sanh. Bồ tát thị hiện thọ sanh với quả báo tốt đẹp, 
thân mạng dài lâu, hơn tất cả trời, người. Đó là thắng sanh.
Bốn, Tăng thượng sanh.
Bồ tát, từ tịnh tâm trụ đến tối thượng Bồ tát trụ, 
thọ sanh ở đó thì rất tốt đẹp; Từ Diêm phù đề thọ sanh tự tại,
cho đến địa đại tự tại cứu cánh, tất cả chỗ thọ sanh thì Bồ tát đặc biệt tốt đẹp hơn hết. 
Đó gọi là tăng thượng sanh.
(Tịnh tâm trụ là địa thứ bảy trong mười địa ở địa này, 
Bồ tát xa lìa hoặc nghiệp nên gọi là tịnh tâm.
Lê Hồng Sơn dịch 378
Tối thượng Bồ tát trụ địa thứ mười pháp vân. 
Đại tự tại cứu cánh địa là chỗ ở của chư thiên sắc giới).
Năm, Tối hậu sanh.
Bồ tát trụ tối thượng thọ sanh là cầu chứng Bồ đề, vạn hạnh đầy đủ,
sanh vào nhà sát lợi, bà la môn, 
tu chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác, làm tất cả Phật sự. 
Đó là tối hậu sanh.
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Fri 23 Sep 2016, 21:43

Tam Tạng Pháp Số 378
 
BỒ TÁT NGŨ CHỦNG TƯỚNG
菩薩五種相 (Trang nghiêm kinh luận)
 
Một, Lân mẫn tướng Bồ tát bằng tâm từ bi, thương nhớ tất cả chúng sanh, 
rộng rãi, thực hành các phương tiện, đem lại lợi ích, dạy bảo cho chúng sanh. 
Đó là tướng thương nhớ
Hai, Ái ngữ tướng Đối với tất cả pháp Phật,
Bồ tát có thể khéo léo giảng nói bằng ngôn ngữ mềm dẽo,
khiến cho chúng sanh đem lòng tin tưởng giáo pháp. Đó là tướng ái ngữ
Ba, Dũng kiện tướng Bồ tát vì chúng sanh, 
đối với những việc khó làm đều làm được hết, không hề từ nan. Đó là dũng kiện tướng
Bốn, Khai thủ tướng Khai thủ là dang tay đón tiếp mọi người
(mở rộng vòng tay).
Bồ tát bi nguyện sâu nặng, hay làm việc bố thí, giúp người nghèo, 
cứu kẻ khổ đau, nên lấy tiền của đem cho tất cả mọi người . Đó là khai thủ tướng. 
Năm, Thích nghĩa tướng Bồ tát vì chúng sanh, dạy cho ngôn ngữ vô ngại, 
đủ sức giảng giải nghĩa kinh, dùng pháp tối thượng thu nhiếp chúng. 
Đó là thích nghĩa tướng.
 

BỒ TÁT NGŨ CHỦNG TỰ TẠI
菩薩五種自在 ( Đại bảo tích kinh )
 
Bồ tát vận dụng từ bi và trí huệ, vạn hạnh đầy đủ, thọ mạng dài lâu, nên được tự tại vô ngại
Một, Thọ mạng tự tại Bồ tát thành tựu pháp thân huệ mạng thấu đạt sống, chết, thọ, yểu. 
Kéo dài vạn kiếp không là dài, rút ngắn trong một niệm không là ngắn; chỉ vì độ thoát khổ đau của chúng sanh, phải dùng phương tiện, … 
tùy cơ thị hiện tướng thọ, yểu mà thôi , trong tâm hoài toàn không quái ngại. Đó là thọ mạng tự tại
Hai, Sanh tự tại Bồ tát vì độ thoát chúng sinh,
dùng tâm đại bi, tùy loại mà thọ sanh, đem lại lợi ích cho tất cả, nên ở trên thiên cung không phải vì vui và ở dưới địa ngục cũng không thấy khổ, đi hay ở tự tại
Ba, Nghiệp tự tại Vạn hạnh của Bồ tát đầy đủ, vận dụng cả bi và trí, 
hoặc hiện thần thông, hoặc nói pháp mầu, hoặc vào thiền định, 
hoặc tu khổ hạnh; tất cả những việc ấy đều vì Tam Tạng Pháp Số 379 lợi tha,
tùy nghi không trở ngại. Đó là nghiệp tự tại
Bốn, Giác quán tự tại Tâm khởi đầu gọi là giác.
Tâm vi tế gọi là quán Bồ tát hoặc tu hạnh thiền định, 
hoặc mở lòng lợi sanh; tuy có tư duy, xa lìa các tán loạn, 
nhưng vẫn theo nguyện độ sanh, bình đẳng không trở ngại. 
Đó là giác quán tự tại
Năm, Chúng cụ quả báo tự tại Nhân và hạnh của Bồ tát đều rộng sâu, 
nên quả báo rất tốt đẹp.
Tất cả những gì cần làm thì đã làm xong, không làm bộ bề ngoài, tự nhiên đầy đủ.
Tâm không vẩn đục, không trở ngại; đó là chúng cụ quả báo tự tại
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
mytutru

avatar

Tổng số bài gửi : 7811
Registration date : 08/08/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Tam Tạng Pháp Số    Fri 23 Sep 2016, 21:58

Tam Tạng Pháp Số 379
 
NGŨ BỐ ÚY
五怖畏 (Bách pháp luận sao và Tỳ bà sa luận )
 
Một, Bất hoạt úy Bồ tát sơ học, tuy thực hành hạnh bố thí, nhưng không thể đem hết của cải của mình ra, vì sợ không thể sống được. 
Đó là bất hoạt ý 
Hai, Ố danh úy Bồ tát sơ học, tuy muốn sống hòa hợp với chúng sanh, để dạy dỗ họ nên vào trà đình, tửu quán, nhưng luôn sợ tiếng thị phi, không được vui như các bậc đại Bồ tát thực hành một cách tự nhiên. Đó là ố danh úy
Ba, Tử úy Bồ tát sơ học, tuy muốn vận dụng tâm rộng lớn, bố thí cả nội tài lẫn ngoại tài, nhưng bố thí tiền của thì được, còn đến thân mạng thì tiếc rẻ, không thể bỏ được. Đó là tử úy
Bốn, Ác đạo úy Bồ tát sơ học sợ sanh vào đường ác, vì còn phân biệt đối với pháp bất thiện, làm cho các vị này không dám sanh. Đó là sợ đường ác
Năm, Đại chủng oai đức úy Bồ tát sơ học, hoặc ở nơi triều đình tranh luận, hoặc giảng giải chánh pháp trước nhiều người và tranh cải đúng, sai và hay lo sợ sai lầm. Đó là đại chúng oai đức úy
 
TIỂU THỪA NGŨ VỊ
小乘五位 (Thiên thai tứ giáo nghi )
 
Một, Tư lương vị Như người đi xa ắt phải đem theo lương thực để ăn dọc đường Vị này có ba :
một. Ngũ đình tâm
– hai. Biệt tướng niệm
– ba. Tổng tướng niệm
Nếu muốn ra khỏi ba cõi thì phải dùng ba pháp quán này để làm tư lương.
(Ngũ đình tâm là tham dục nhiều dùng bất tịnh quán
– Sân luận nhiều dùng từ bi quán
– Tán loạn nhiều dùng sổ tức quán
– Ngu si nhiều dùng nhân duyên quán
– Chướng ngại nhiều dùng niệm phật quán.
Biệt tướng niệm; tổng tưởng niệm là tứ niệm xứ: quán thân bất tịnh
– quán thọ thị khổ
- quán tâm vô thường
– quán pháp vô ngã.
Nếu quán sát từng trường hợp thì gọi là biệt tướng niệm; nếu quán sát tổng hợp thì gọi là tổng tướng niệm )
Hai, Gia hạnh vị Vị này có bốn: 1) Noãn vị: như người dùi cây lấy lửa, lửa chưa ra, nhưng hơi ấm có trước.
Lấy đây ví dụ cho người tu gia hạnh vị, chưa thấy lửa trí huệ, nhưng đã có tướng ấm;
2) Đảnh vị: quán hạnh chuyển sang sáng tỏ, như người lên đỉnh núi, ắt thấy mọi nơi rõ ràng;
3) Nhẫn vị (Nhẫn là chịu đựng được.
Đối với bốn pháp Tứ đế: khổ, tập, diệt, đạo chịu nỗi và ưa thích tu tập );
4) Thế đệ nhất vị ( Đối với lý, tuy chưa chứng được, nhưng đối với thế gian là hơn hết ).
Bốn vị ( trong gia hạnh vị ) ra sức tu hành thì chắc chắn chứng được đạo quả.
Ba, Kiến đạo vị Là quả Tu đà hoàn của Thinh văn thừa, dứt kiến hoặc trong ba cõi mà thấy được lý chân không, nên gọi là kiến đạo 
Bốn, Tu đạo vị Tu pháp từ đế, dứt tư hoặc cõi dục mà chứng được quả Tư đà hàm và quả A na hàm
Năm, Vô học vị Là quả A la hán của Thinh văn.
Ở vị này đã dứt hết kiến hoặc, tư hoặc ở trong ba cõi, đạt đến cứu cánh của chân lý, không còn pháp gì học nữa, nên gọi là vô học
Về Đầu Trang Go down
http://<marquee>mytutru_welcome.. tứ trụ kính chúc T
 
Tam Tạng Pháp Số
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 38 trong tổng số 40 trangChuyển đến trang : Previous  1 ... 20 ... 37, 38, 39, 40  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: VƯỜN VĂN :: Truyện sáng tác, truyện kể ::   :: mytutru-