Trang ChínhTrợ giúpTìm kiếmVietUniĐăng kýĐăng Nhập
Bài viết mới
Bác sĩ chuyên khoa nhắc nhở: bệnh trĩ kiêng gì và ăn gì? by yduoctaman Today at 11:11

Thơ THỬ NGHIỆM - Hansy by Hansy Today at 11:04

Thơ BÓNG ĐÁ - Hansy by Hansy Today at 11:03

BẮT GIÒ ..( Mời thầy và các huynh đệ tỉ muội ) by Ai Hoa Today at 10:29

ĐỢI ! by Ai Hoa Today at 10:19

Thơ Nguyễn Thành Sáng by Nguyễn Thành Sáng Today at 10:15

Bộ sưu tập Côn trùng by Trăng Today at 09:29

"Cai nghiện" Facebook một cách thật khoa học by Trăng Today at 09:26

BÌNH THƠ - Hansy by Hansy Yesterday at 23:22

HÀO HÙNG SỬ VIỆT by Hansy Yesterday at 23:21

THƠ TÌNH - Hansy by Hansy Yesterday at 23:19

Thơ THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN by mytutru Yesterday at 22:28

MỘT CHÚT TIẾU by lehong Yesterday at 20:13

TÌNH BUỒN by lehong Yesterday at 19:59

HÓA HỌC THẦM THÌ : BÁNH MÌ & KALI BROMAT . by Trăng Yesterday at 17:57

HOA GIEO TỨ TUYỆT 2 by buixuanphuong09 Yesterday at 15:53

Những câu châm ngôn đáng để đọc và suy ngẫm về cuộc sống của tác giả “Đắc nhân tâm” by Trà Mi Yesterday at 08:56

16 bài học làm thay đổi cuộc sống chỉ sau một năm sống tại Nhật Bản by Trà Mi Yesterday at 08:42

GÓC NHỎ LỆ HỒNG by lehong Mon 13 Aug 2018, 21:45

:" GÁNH TƯƠNG TƯ " của ƯNG BÌNH THÚC GIẠ THỊ by Trăng Mon 13 Aug 2018, 20:08

Thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn toàn tập by thanhtracnguyenvan Mon 13 Aug 2018, 18:14

Thơ Dzạ Lữ Kiều by dza lu kieu Mon 13 Aug 2018, 16:03

Thơ Nguyên Hữu by Nguyên Hữu Mon 13 Aug 2018, 14:51

VIDEO CLIPS - Cây Nhà Lá Vườn by Thiên Hùng Sun 12 Aug 2018, 05:14

TẬP THƠ : TAN VỠ TÌNH ĐẦU ! by nguoitruongphu Sat 11 Aug 2018, 12:27

Một lối vào đường thi by Ma Nu Fri 10 Aug 2018, 11:59

tiếng Việt “mới” và tiếng Việt “truyền thống” by Trăng Fri 10 Aug 2018, 10:58

" MỘNG TRÙNG LAI KHÔNG HỀ CÓ TRÊN ĐỜI " by Trăng Fri 10 Aug 2018, 10:57

TRỞ LẠI ĐÀO VIÊN . by Trăng Fri 10 Aug 2018, 10:54

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình - Ái Hoa by Trà Mi Fri 10 Aug 2018, 08:36

Tự điển
* Tự Điển Hồ Ngọc Đức



* Tự Điển Hán Việt
Hán Việt
Thư viện nhạc phổ
Tân nhạc ♫
Nghe Nhạc
Cải lương, Hài kịch
Truyện Audio
Âm Dương Lịch
Ho Ngoc Duc's Lunar Calendar
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Share | 
 

 CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7663
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT   Fri 13 Mar 2015, 09:17

Mới sưu tầm được bài viết này, hi vọng giúp ích ít nhiều cho các bạn!


CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT

NGUYỄN THỊ HAI*
* Pgs.Ts, Đại học sư phạm TP HCM


TÓM TẮT


Từ Hán – Việt là các từ gốc Hán được đọc theo âm Hán – Việt. Âm Hán – Việt là âm đọc của tất cả các từ Hán được Việt hóa theo một con đường như nhau, cho tất cả mọi chữ Hán, theo những quy luật chặt chẽ; lấy xuất phát điểm là âm Hán Trung cổ ở các thế kỷ VIII, IX (ứng với thời kỳ triều đại nhà Đường, Trung Quốc). Quá trình Việt hóa này trải qua hàng mấy thế kỷ mới hình thành ra âm Hán – Việt ngày nay.

Từ thuần Việt là lớp từ còn lại sau khi trừ: những từ Hán – Việt, những từ gốc Hán hiện nay vẫn còn in rõ dấu ấn ngoại lai (như: xủi cảo, há cảo,…), những từ in rõ dấu ấn vay mượn của tiếng Ấn – Âu (như: cà ri, xà bông,…).

Từ Hán – Việt có những đặc điểm riêng về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và phong cách. Dựa vào đó ta có thể nhận diện được từ Hán – Việt.

 

ABSTRACT

Sino – Vietnamese word indentificatinon


Sino-Vietnamese words are words which were derived from Chinese and pronounced in Sino-Vietnamese sounds. Sino-Vietnamese sounds are sounds of all Chinese words Vietnamized in the same way by strict rules in which the starting point was the old Chinese sounds in the 8th and 9th century (the period of Duong Dynasty in China). It took centuries for the Vietnamization process to take place and form Sino-Vietnamese sound system today.

The pure Vietnamese words are excluded from the Sino-Vietnamese words, words which were derived from Chinese and still remain exotic marks (for example: xui cao, ha cao…), words borrowed from Indian-European languages (for example: ca ri, xa bong…).

Sino-Vietnamese words share distinguishing characteristics of phonetics, syntax, semantics and manners, which can be used to identify such interesting type of word.

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7663
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT   Fri 13 Mar 2015, 09:28

CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT


NGUYỄN THỊ HAI

Học sinh, sinh viên thường lúng túng khi cần phân biệt từ Hán – Việt với từ thuần Việt để hiểu nghĩa cho chính xác, sử dụng cho đúng phong cách. Bài viết này có tính chất sưu tầm và đóng góp phần nào để giúp sinh viên sử dụng như một tài liệu tham khảo.

Muốn nhận diện từ Hán – Việt, trước tiên, chúng ta cần xác định khái niệm từ gốc Hán, từ Hán-Việt, từ thuần Việt, cùng những đặc điểm của từ Hán-Việt.

1. Từ Việt gốc Hán , từ thuần Việt
1.1. Từ Việt gốc Hán :
Từ Việt gốc Hán là một hiện tượng đa dạng và phức tạp. Nó thuộc các nguồn khác nhau, được du nhập vào tiếng Việt qua nhiều giai đoạn và phương thức khác nhau; có lúc lẻ tẻ, chậm chạp, theo con đường khẩu ngữ, có lúc ồ ạt mang tính hệ thống theo con đường sách vở, hànhchính, giáo dục; có lúc bị biến đổi theo sự biến đổi ngữ âm của tiếng Việt, có lúc bị biến đổi ngữ nghĩa qua thời gian sử dụng, cũng có lúc bị biến đổi cả cấu trúc. Ngaynhư ở thời kỳ sau này, cũng có những từ vay mượn theo con đường khẩu ngữ, mang tính phương ngữ, bằng cách phiênâm (như : hoành thánh, há cảo,…), tuy không nhiều. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc San quan niệm từ Việt gốc Hán bao gồm từ Tiền Hán-Việt, từ Hán-Việt, từ Hán-ViệtViệt hóa. Sự phân chia này cũng được nhiều nhà nghiên cứu khác tán đồng.
1.1.1. Từ Tiền Hán-Việt:
Đó là những từ gốc Hán được đọc mô phỏng theo âm Hán Thượng cổ, tức âm Hán thời Tiên Tần. Bên cạnh đó có một số từ bắt nguồn từ âm Hán Trung cổ, nhưng trước khi hình thành âm Hán-Việt đã bị Việt hóa về mặt ngữ âm; âm này được dùng đọc chữ Hán trước khi có âm Hán-Việt và cũng tạm được coi là âm Tiền Hán-Việt.
Các từ Tiền Hán Việt do du nhập vào tiếng Việt từ rất sớm, và không mang tính hệ thống; tuyệt đại đa số là những từ đơn tiết nên đã bị Việt hóa rất sâu; có khả năng hoạt động độc lập và có một vị trí không khác gì với các từ gốc Mon-Khme, gốc Tày-Thái. Vì vậy, theo quan điểm đương đại, các nhà nghiên cứu xem chúng như là từ thuần Việt.
1.1. 2. Từ Hán-Việt :
Ta có thể hiểu từ Hán-Việt là các từ gốc Hán được đọc theo âm Hán-Việt (được gọi tắt là từ Hán-Việt). Âm Hán-Việt là âm đọc của tất cả các từ Hán được Việt hóa theo một con đường như nhau, được hình thành cho tất cả mọi chữ Hán, theo những quy luật khá chặt chẽ; lấy xuất phát điểm là âm Hán Trung cổ ở các thế kỷ VIII, IX , trước thời tự chủ của dân tộc ta ít lâu (ứng với thời kỳ triều đại Nhà Đường của Trung Quốc)và phản ảnh khá sát cách phát âm này. Âm Hán Trung cổ này được Việt hóa từ đầu thời tự chủ (thế kỷ X) khi tiếng Hán đã mất tính cách là một sinh ngữ, do đó phải tuân theo những quy luật ngữ âm của tiếng Việt và phụ thuộc vào thói quen cấu âm của người Việt. Quá trình này chắc chắn có mầm mống từ trước thế kỷ X, và phải kéo dài hàng mấy thế kỷ mới hình thành ra âm Hán-Việt ngày nay. Cách đọc âm Hán-Việt được thực hiện cho tất cả các từ Hán nằm trong thư tịch của người Hán, kể cả các thư tịch có trước đời Đường (trước các thời Tiên Tần, Lưỡng Hán) và các thư tịch xuất hiện sau này (Nguyên, Minh, Thanh). Cho nên âm Hán-Việt vừa là một sự kiện lịch sử xảy ra ở một thời điểm, vừa là cách đọc chung và phổ biến cho mọi thời kỳ, được sử dụng để đọc và sáng tác văn thơ bằng chữ Hán, vì thế nó có tính chất ổn định. Rõ ràng, khác với từ Tiền Hán-Việt, lớp từ Hán-Việt được du nhập một cách ồ ạt và tạo thành một hệ thống ngữ âm riêng (x. 3; trang 155- 156).
1.1.3. Từ Hán-Việt Việt hóa
Đó vốn là những từ Hán-Việt, nhưng đã bị Việt hóa hoàn toàn. Sau khi cách đọc Hán-Việt hình thành, và mang tính hệ thống ổn định thì trong tiếng Việt vẫn tiếp tục xảy ra những biến đổi ngữ âm. Bởi cách đọc trên đã mang tính hệ thống ổn định, nên những biến đổi ngữ âm này chỉ tác động đến những đơn vị lẻ tẻ, nhất là ở những từ Hán-Việt được dùng hàng ngày. Trước tác động như vậy, những từ Hán-Việt này sẽ có xu hướng bị tách ra làm hai; một là giữ nguyên âm Hán-Việt cũ, hai là phát sinh một cách đọc mới. Xu hướng Hán-Việt Việt hóa này thực chất là sự biến đổi ngữ âm tạo nên từ mới, vốn cũng là một xu hướng sản sinh từ trong tiếng Việt. Những từ mới sản sinh này khác với từ Hán-Việt cũ không chỉ về mặt ngữ âm mà cả về mặt ngữ nghĩa, phong cách cũng như khả năng hoạt động ngữ pháp. Cho nên có thể nói những từ này tạo thành một lớp riêng. Cũng giống như từ Tiền Hán-Việt, chúng có đặc điểm là đã bị Việt hóa hoàn toàn về các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và phong cách, hoàn toàn giống như những từ bản địa, chúng có thể hoạt động độc lập trong cấu tạo từ cũng như trong câu. Do vậy, các nhà nghiên cứu cũng đồng tình xếp chúng vào lớp từ thuần Việt.Ví dụ:
Từ Hán-Việt                               Từ thuần Việt
1. can                                               gan
2. cẩm                                              gấm
3. (mẹ) kế                                        (mẹ) ghẻ
4. kính                                              gương
5. đình                                              dừng
6. bản                                               vốn
7. hoàn                                             vẹn
8. hoàn                                            viên (thuốc)
9. bích                                             vách
10. nguyên                                      nguồn

1.2. Từ thuần Việt

Đó là lớp từ cơ bản của từ vựng tiếng Việt; làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác. Lớp từ này biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, nên chắc chắn là tồn tại từ rất lâu. Xét về nguồn gốc, lớp từ này được hình thành từ gốc Nam phương, bao gồm cả Nam Á và Tày-Thái. Trong lớp từ thuần Việt ngày nay vẫn còn có những nhóm từ có sự tương ứng nhiều ít với từ vựng của những ngôn ngữ láng giềng như: Mường, Mon- Khme, Tày-Thái,… Hiện nay, trong vốntừ tiếng Việt, người ta thường hiểu rằng từ thuần Việt là lớp từ còn lại sau khi loại trừ : những từ Hán-Việt, những từ gốc Hán hiện nay vẫn còn in rõ dấu ấn ngoại lai (như: chấu quảy, hoành thánh, xủi cảo,…), những từ in rõ dấu ấn vay mượn tiếng Ấn-Âu (như: cà ri, xà bong,…).

2. Sơ lược đặc điểm từ Hán-Việt

2.1. Đặc điểm ngữ âm
Do đặc điểm ngữ âm của tiếng Hán Trung cổ thế kỷ VIII, IX không thật sự tương ứng cả về lượng và chất với hệ thống ngữ âm tiếng Việt thời kỳ ấy, cho nên khi bị Việt hóa, nó vẫn để lại những dấu ấn ngoại lai nhất định về mặt ngữ âm trong cách đọc âm Hán-Việt. Chẳng hạn, trong cách đọc âm Hán-Việt, không có phụ âm đầu /ɣ/ (g/ gh) và /ʐ/ (r). Sự phân bố vần và thanh điệu trong các âm tiết Hán-Việt và thuần Việt cũng không hoàn toàn như nhau. Nhờ vậy, ta có thể dựa vào những đặc điểm ngữ âm đó để nhận diện từ Hán-việt, và từ thuần Việt.

2.2.Đặc điểm ngữ pháp

Có nhiều từ đơn tiết Hán-Việt đã ăn sâu vào tiếng Việt, nên rất khó biết nó là từ ngoại lai. Đối với từ đa tiết Hán-Việt có thể thấy rõ hơn một số đặc điểm ngữ pháp ở chúng.
a) Trật tự các thành tố cấu tạo từ ghép chính-phụ Hán-Việt khác với từ ghép chính-phụ thuần Việt. Trong từ ghép Hán-Việt có quan hệ chính – phụ, thành tố phụ đứng trước, thành tố chính đứng sau; còn trong từ ghép C-P thuần Việt thì bao giờ cũng ngược lại.Ví dụ :

Từ ghép C-P Hán-Việt :

P - C
1. chính phủ
2. độc giả
3. cứ liệu
4. cưỡng đoạt
5. giám sát

Từ ghép C-P thuần Việt:

C - P
1. dưa hấu
2. cà chua
3. mát tay
4. làm lành
5. xanh um

Một số từ Hán-Việt tuy có cấu trúc C-P (thành tố chính thường chỉ hoạt động; thành tố phụ bổ sung nghĩa nào đó cho thành tố chính), nhưng các kết hợp này không bao giờ thay đổi trật tự, ví dụ: hợp lí, hiếu danh, bãi chức, thất học,…

b) Những từ ghép đẳng lập Hán-Việt, ví dụ : hạnh phúc, phú quí, khổ sở, cơ hàn, tán thưởng, phong phú, thích hợp, trang nghiêm, … khác với từ ghép đẳng lập thuần Việt ở chỗ là vị trí của các thành tố cấu tạo hầu như cố định, tức cả kết hợp có tính cố định rất cao (trừ một vài trường hợp như: đơn giản = giản đơn; tranh đấu = đấu tranh).

c) Trong vốn từ đa tiết Hán-Việt, có một số yếu tố (tiền tố hay hậu tố) có khả năng sản sinh như: sĩ, giả, viên, nhân, phi, vô, sở, bất,… Ví dụ: chiến sĩ, bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ,…; khán giả, thính giả, độc giả,…; giáo viên, thành viên, hội viên,… ; phạm nhân, tội nhân, công nhân, thương nhân, … ; phi lí, phi nghĩa, phi pháp, … ; vô lí, vô can, vô tội, vô danh, …; sở trường, sở đoản, sở hữu, sở nguyện, … ; bất công, bất động sản, bất trắc, …

d) Các nhà nghiên cứu cũng xếp vào lớp từ Hán-Việt cả những trường hợp từ được cấu tạo ở Việt Nam. Những từ đơn tiết Hán-Việt được tiếng Việt tiếp nhận từ triều đại Nhà Đường và các triều đại sau đó, nghĩa là từ rất lâu, đã được đi vào vốn từ vựng của tiếng Việt. Người Việt đã sử dụng những từ ấy để làm chất liệu tạo nên những đơn vị từ vựng mới. Có hai cách cấu tạo như sau:
d1) Sử dụng các yếu tố gốc Hán để tạo đơn vị mới, ví dụ: y sĩ, thể công, phi công, ám ảnh, an trì, tiểu đoàn, đại đội, trung đội, đại tá, thiếu tá,…
d2) Kết hợp một yếu tố Hán và một yếu tố thuần Việt để tạo nên đơn vị mới, ví dụ: binh lính, cướp đoạt, đói khổ, kẻ địch, súng trường, … (những yếu tố Hán- Việt được in đậm và có gạch chân).

2.3.Đặc điểm ngữ nghĩa

Khác với các từ Tiền Hán-Việt, các từ Hán-Việt vào tiếng Việt muộn hơn, khi mà tiếng Việt khá đủ khả năng biểu thị các sự vật , hiện tượng cụ thể trong đời sống. Vì vậy, người Việt chỉ lựa chọn những từ ngữ Hán có âm Hán-Việt nào có thể lấp chỗ trống trong vốn từ vựng tiếng Việt. Những từ này đa số mang nghĩa trừu tượng chỉ các khái niệm thuộc các lĩnh vực triết học, lịch sử, văn học, …
Ở tiếng Hán, lúc đầu, chúng là những từ mang nghĩa cụ thể. Người Hán có thể dựa vào tính hình tượng trong văn tự của họ mà hiểu được nghĩa cụ thể của chúng. Ví dụ từ tinh (chữ viết gồm bộ mễ chỉ gạo và thành tố ghi âm thanh) có nghĩa cụ thể là gạo đã được giả trắng. Về sau từ này biến chuyển . nghĩa theo phương thức mở rộng . nghĩa nên mang nghĩa trừu tượng chỉ cái cốt lõi quý giá nhất. Người Việt trước đây, khi tiếp thu từ Hán qua việc học chữ Hán, thì có khả năng nhận thức theo kiểu chiết tự nêu trên của người Hán. Nhưng từ khi chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Hán thì những người không có vốn Hán học hoàn toàn không thể có khả năng tri nhận kiểu chiết tự như đã được đề cập ở trên. Cảm thức về nghĩa của từ Hán-Việt ở đại đa số người Việt lúc này trở nên mơ hồ. Ngay cả ở những người vốn Hán học mỏng, yếu cũng khó nắm bắt chính xác nghĩa của chúng. Song, bên cạnh đó, nhờ những yếu tố đơn tiết Hán-Việt đi vào những kết hợp đa tiết mang tính cố định cao, có tính thành ngữ về nghĩa, tạo nên những loạt gần nghĩa hoặc đồng nghĩa, cho nên các từ Hán-Việt, cả những yếu tố Hán-Việt, có khả năng đa hưởng về nghĩa. Nghĩa là một từ hay một yếu tố Hán- Việt xuất hiện có khả năng kích thích ta liên tưởng đến những trường hợp gần gũi về nghĩa.

2.4. Đặc điểm phong cách

Từ Hán – Việt thường mang . nghĩa trừu tượng, khái quát cho nên thường phù hợp với phong cách sách vở.
Từ Hán – Việt có sắc thái trang trọng, cổ kính; nó không chỉ phù hợp với phong cách sách vở, với không khí giao tiếp trang trọng mà còn phù hợp với cách miêu tả tĩnh tại.

3. Nhận diện từ ngữ Hán-Việt

3.1. Căn cứ mặt ngữ âm
3.1.1.Căn cứ vào phụ âm đầu và thanh điệu: Các âm tiết sau đây thuộc từ Hán-Việt:
- Các âm tiết có phụ âm đầu l, m tắc-thanh hầu-vô thanh /ʔ/ và mang thanh điệu bổng (ngang, hỏi, sắc), ví dụ: an, án, am, ám, ôn, ổn,...;
- Các âm tiết có phụ âm đầu /z/ nhưng được viết bằng chữ cái kép gi- và mang thanh điệu bổng, ví dụ: gia, giá, giả, gian, gián, giản, giang, giáng, giảng, giam, giám, giảm, ... ;
- Các âm tiết có phụ âm đầu /C/ và mang thanh điệu bổng, ví dụ: chu, chú, chủ, chương, chướng, chưởng, ... ;
- Các âm tiết có phụ âm đầu /X/ và mang thanh điệu bổng, ví dụ: khai, khái, khải, kha, khuyển, khuyết, khoáng, ... ;
- Các âm tiết Hán-Việt có phụ âm đầu /m/, /n/, /ɲ/, /v/, /l/, /z/ (d), /ŋ/ đều mang các thanh điệu “ngang”, “ng.”, “nặng”, ví dụ: mao, mo, mạo, nơ, nỗ, nộ, nhi, nhĩ, nhị, nghiêm, nghiễm, nghiệm, ngư, ngữ, ngự, liêu, liễu, liệu, vi, vĩ, vị, dung, dũng, dụng. Để cho dễ nhớ qui tắc trên, Nguyễn Tài Cẩn đã đặt thành một câu: “Mình nên nhớ viết là dấu ngã”.
- Các âm tiết có phụ âm đầu /ʐ / và /ɣ/ là thuần Việt, không phải là âm tiết Hán-Việt;
3.1.2. Căn cứ vào vần:
- Các vần chỉ có trong từ ngữ Hán - Việt: -uyn (trừ ngoại lệ: chuyền, chuyện), -uyêt, -ưu, -uy.
- Những âm tiết có vần – êt đều là thuần Việt, trừ kết.
- Các âm tiết có vần - âm thuộc cả hai loại: thuần Việt và Hán - Việt. Cụ thể: tâm, tẩm, cẩm, lâm, khâm, trâm,…là từ Hán- Việt. Có thể dựa vào trật tự cú pháp của từ ngữ và ý nghĩa khái quát để phân biệt các từ ngữ thuần Việt và Hán - Việt trong trường hợp này.
- Các âm tiết có kết hợp âm - oa, -oan/ -uan, -oat thuộc về thuần Việt và cả Hán-Việt; nhưng khi chúng đi với phụ âm đầu /n/ thì chỉ có trong từ ngữ Hán-Việt, cụ thể: noa (thê noa), noãn (trong
noãn sào, noãn cầu,…); có vần được viết là - uan, chỉ có trong từ Hán-Việt, và chỉ gồm hai tiếng: quan, quản.

3.2.Căn cứ mặt ngữ pháp:

Các từ ngữ Hán-Việt chưa bị Việt hóa hoàn toàn thường có cấu trúc ngược cú pháp Việt, cụ thể yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau, ví dụ: lục quân, hải phận, giáo viên, ...
Đối với các từ ghép đẳng lập Hán- Việt thường thường ta không thể thay đổi trật tự giữa các thành tố, trừ một vài trường hợp ngoại lệ như: đơn giản → giản đơn, tranh đấu → đấu tranh.

3.3.Căn cứ mặt ngữ nghĩa:

Các từ ngữ Hán-Việt thường có . nghĩa khái quát, trừu tượng; có tính mơ hồ về nghĩa.

3. 4. Căn cứ mặt phong cách:

Các -từ ngữ Hán-Việt thường có sắc thái trang trọng, cổ kính, tĩnh tại; nó thường được dùng trong phong cách sách vở.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb Giáo dục.
2. Nguyễn Thiện Giáp, 1996. Từ và nhận diện từ. Nxb Giáo dục.
3. Nguyễn Thiện Giáp.1998. Từ vựng học tiếng Việt (tái bản lần thứ nhất có sửa chữa và bổ sung). Nxb Giáo dục.
4. Nguyễn Ngọc San, Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử (tái bản, có bổ sung, sửa chữa). Nxb Đại học Sư phạm.
5. Nguyễn Đức Tồn, 2001. Những vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường. Phương pháp dạy và học tiếng Việt ở bậc Trung học cơ sở. Nxb ĐHQG, H.

(ST)

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT   Sat 14 Mar 2015, 06:36

Các âm tiết có phụ âm đầu /ʐ / và /ɣ/ là thuần Việt, không phải là âm tiết Hán-Việt;

Các âm này em không biết là phụ âm gì Laughing
Về Đầu Trang Go down
Ai Hoa

avatar

Tổng số bài gửi : 7663
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT   Wed 29 Apr 2015, 17:02

Shiroi đã viết:
Các âm tiết có phụ âm đầu /ʐ / và /ɣ/ là thuần Việt, không phải là âm tiết Hán-Việt;

Các âm này em không biết là phụ âm gì Laughing
 
 
 
/ʐ / = r

/ɣ/ = g /gh

_________________________


Sông rồi cạn, núi rồi mòn
Thân về cát bụi, tình còn hư không
Về Đầu Trang Go down
Shiroi

avatar

Tổng số bài gửi : 19887
Registration date : 23/11/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT   Thu 30 Apr 2015, 03:36

Ai Hoa đã viết:
Shiroi đã viết:
Các âm tiết có phụ âm đầu /ʐ / và /ɣ/ là thuần Việt, không phải là âm tiết Hán-Việt;

Các âm này em không biết là phụ âm gì Laughing
  
 
 
/ʐ / = r

/ɣ/ = g /gh
Dạ, như vậy chữ Hán-Việt không có phụ âm đầu "R", "G" (GH)
Mai mốt gặp mấy chữ này em khỏi phải thắc mắc :-bd
Về Đầu Trang Go down
 
CÁCH NHẬN DIỆN TỪ HÁN-VIỆT
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
daovien.net :: TRÚC LÝ QUÁN :: Tài Liệu-